KHÔNG THỂ XOÁ MỘT NỀN VĂN HOÁ, VĂN CHƯƠNG NGHỆ THUẬT.

17 hrs

Image may contain: one or more people, people standing and outdoor

8 SÀI GÒN

KHÔNG THỂ XOÁ MỘT NỀN VĂN HOÁ, VĂN CHƯƠNG NGHỆ THUẬT.

Người ta có thể đập bỏ một di tích đã hơn 100 năm, người ta cũng có thể phá nát một ngôi chùa cổ, và người ta cũng có thể đốn hạ những hàng cây cổ thụ rợp bóng ký ức của nhiều người, xoá sạch những dinh thự, những kiến trúc đã hiện diện ở miền Nam này suốt cả thế kỷ. Tất cả sẽ biến mất nhường lại cho những khối bê tông đồ sộ, những dãy nhà chọc trời.

Năm, mười năm sau, thế hệ trẻ lớn lên sẽ không biết, không nhớ những di tích đã bị tiêu diệt. Nhiều thành phố sẽ bị đánh mất ký ức về những kiến trúc, những hàng cây, và khi những người già mất đi, sẽ còn ai nhớ đến chúng. Có chăng chỉ còn là những hình ảnh trên bưu ảnh, trong những cuốn sách ảnh đã ố vàng phủ bụi thời gian.

Nhưng văn chương, hội hoạ, thơ ca, âm nhạc thì không thế. Bởi đó là văn hoá của một vùng đất, là hơi thở của một quãng đời. Nhà thờ, dinh thự, hàng cáy có thể bị đánh mất và lụi tàn trong tâm khảm của nhiều người, nhưng văn hoá thì không. Miền Nam Việt Nam trải qua hai mươi năm chiến tranh và trong khoảng thời gian ấy tồn tại một nền văn hoá văn nghệ không thể phủ nhận. Nó là tiếng nói, là suy nghĩ của một thời đại được phản ánh trong văn học nghệ thuật. Nó mang hơi thở của chiến tranh nhưng đầy ắp tính nhân văn và cũng không thiếu những tình tự dân tộc. Và chính điều đó làm cho nó tồn tại dù đã bị nhiều lần vùi dập.

Tại sao chiến tranh đã chấm dứt gần bốn mươi lăm năm rồi, văn hoá, văn nghệ của miền Nam thất trận vẫn được người dân yêu thích và tán dương. Và không chỉ ở miền Nam, những người đã từng đọc, từng nghe, từng thấy trong suốt cuộc chiến tranh mà cả người miền Bắc sau cuộc chiến cũng bị thu phục. Lúc cuộc chiến đang diễn ra, nhạc đỏ, văn chương, thơ ca của miền Bắc có nhiệm vụ hô hào, kích động và cổ vũ chiến đấu. Khi hoà bình, văn nghệ tung hô lại trở thành lạc lõng, không còn hợp thời và chính điều đó khiến cho những tác phẩm đó không còn được yêu thích và ưa chuộng.

Nó trở thành dĩ vãng, kỷ niệm của một thời đã đi qua. Người ta nhắc lại nó, trình diễn nó trong những buổi lễ kỷ niệm, những lễ lạt. Và chúng không còn khán giả. Tất nhiên khi không còn hoặc quá ít người thưởng thức thì không có nhà đài nào, nhà xuất bản nào trong thời buổi kinh tế như thế này dám dùng nó để kiếm tiền. Bởi văn hoá văn nghệ thời nay cũng chỉ là một cách để kinh doanh. Không ai làm kinh doanh để nhận lấy lỗ trắng tay cả.

Và văn hoá, văn nghệ miền Nam trước 1975, không phải tất cả đều có giá trị, không phải tác phẩm, tác giả nào cũng hay. Thế nhưng đa số nó mang nỗi lòng của con người, của mỗi cá nhân. Nó mang tình cảm thật của một thế hệ, không lên gân, không hô hào. Ca nhạc miền Nam không phải chỉ có nhạc Boléro, phải biết rõ điều đó, chẳng qua là suốt hơn bốn mươi năm, âm nhạc của thời đại không có gì nổi bật để hấp dẫn quần chúng nên họ tìm về cái cũ, cái mang tình người, tính nhân văn, thể hiện được tình cảm của họ. Mà nhạc Boléro của miền Nam đầy ắp điều đó.

Âm nhạc của miền Nam còn có Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Phạm Thế Mỹ, Anh Việt Thu, Y Vân, Y Vũ, Dương Thiệu Tước, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Ngô Thuỵ Miên, Hoàng Thi Thơ, Từ Công Phụng, Ngô Mạnh Thu, Nguyễn Đức Quang, Phạm Đình Chương, Văn Phụng, Phạm Mạnh Cương, Lê Uyên Phương, Trần Thiện Thanh, Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang… và nhiều nhiều nữa không kể hết, nhạc của những nhạc sĩ này đâu chỉ có điệu Boléro, nhưng vẫn là những bài hát tiêu biểu của miền Nam, mang tình tự dân tộc, mang hơi thở cuộc sống và nỗi niềm riêng của mỗi con người về tình yêu, về thân phận, về cuộc đời. Không ai có thể xoá được. Và cũng chẳng thế nào xoá được.

Thế mà ở hội nghị giao ban quý III/2019 của Hội đồng lý luận phê bình văn học, nghệ thuật TP.HCM ngày 10/11, nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên nhận định sáng tác văn học, nghệ thuật đang xuống thấp một cách không tưởng và ông phát biểu:

“Giữ chế độ này là giữ thành quả cách mạng, nhưng giờ bỏ qua hết, chạy theo giải trí, game show… Trong khi để kế thừa cái đã có thì làm không tốt, mà lại ca ngợi boléro của chế độ cũ thì chính là ca ngợi luôn đời sống của giai đoạn đó… Cũng từ khi đi vào thị trường, hội nhập, chúng ta lại quên đi biến động vô cùng phức tạp. Chương trình Âm nhạc Việt Nam – Những chặng đường trên VTV không biết chủ trương của Bộ Chính trị hay của ai, vì cái này ca ngợi nhạc của Sài Gòn cũ bằng những lời có cánh”

Đồng thời, Nhạc sĩ Trần Long Ẩn với tư cách Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TPHCM cũng cho rằng, nói chua cay, mỉa mai như báo chí thì nhạc cách mạng hiện nay gần như đã “rút lui vào hoạt động bí mật”. Các chương trình chính thống muốn lên đài truyền hình vào giờ vàng thì khó lắm.

Cũng theo ông Ẩn, nhạc ca ngợi Việt Nam Cộng hòa mà giờ cũng cho là ca ngợi nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì không được: “Chúng tôi đề xuất phải hết sức thận trọng với trang sử đen tối của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là bị xâm lược. Văn học, nghệ thuật độc hại của nó xuyên tạc đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ở miền Nam và hiện nay không thể tẩy xóa. Vậy mà đồng thời, phong trào cách mạng ở miền Nam trong văn học, nghệ thuật rất dữ dội, rất lớn thì không biểu dương, không tôn vinh, không học tập, không nhân rộng mà lại đòi xóa nhòa không còn khái niệm âm nhạc cũ trước giải phóng nữa”.(Trích báo Phụ Nữ)

Đó là những quan niệm quá lạc hậu và lỗi thời. Và theo ý ông Liên và ông Ẩn thì không nên phổ biến và nên xoá sạch loại văn hoá độc hại của miền Nam trước 1975. Sau 75, chế độ mới đã phát động đốt sạch cái họ gọi là văn hoá đồi truỵ, phản động. Hàng ngàn tấn sách đã bị đốt, nhưng không đốt được văn hoá trong tim của người miền Nam.

Đó là điều bất khả thi, vì những thứ mà các ông cho là độc hại đó là tinh hoa của miền Nam đã thấm đẫm trong lòng người, mà như trên đã nói, có thể xoá bỏ một ngôi chùa, một dinh thự, một con đường, đập phá nát bia mộ, lăng tẩm, chứ không thể xoá bỏ được một nền văn hoá. Người nào kêu gọi và thực thi việc xoá nhoà, tấy sạch một nền văn hoá thì kẻ đó đi ngược lại với lịch sử, là kẻ mọi rợ, là kẻ vô văn hoá. Bỏ quên văn chương nghệ thuật miền Nam trước 1975 trong văn học sử hiện đại đã là một sai lầm, đòi xoá sạch nó lại là một tội lỗi khó bào chữa.

Đã qua rồi thời đốt sách, đã không còn là thời đấu tố, đã không còn có thể cấm hát, cấm đọc. Bởi cấm cũng không được khi lòng người còn luyến tiếc mà chẳng có gì để thế chỗ. Đừng dao to búa lớn làm chi, các ông có những sáng tác hay hơn cái cũ của miền Nam thì tất nhiên cái cũ đấy sẽ bị lãng quên, chẳng cần chi kêu gào xoá sạch làm gì. Nhưng các ông lại không đủ tài năng để làm điều đó.

Saigon.16/11/2019
DODUYNGOC

BÓP CHẾT ƯỚC MƠ

Image may contain: 1 person, sitting and indoor
8 SÀI GÒN

BÓP CHẾT ƯỚC MƠ

PHẠM ĐOAN TRANG

Tôi học cấp III ở Trường PTTH Hà Nội-Amsterdam và tốt nghiệp cử nhân kinh tế Đại học Ngoại thương. Thế hệ của tôi là thế hệ chứng kiến Việt Nam mở cửa; HIV/AIDS tràn vào (1989); tiếng Anh lên ngôi, tiếng Nga thoái trào (đầu những năm 90); Internet vào Việt Nam (1997); báo điện tử xuất hiện (VnExpress 2001); mạng xã hội bùng nổ (Yahoo!360, giữa năm 2005)…

Hơn ai hết, tôi thấy thế hệ của tôi, những bạn bè sống quanh tôi luôn dằn vặt với hai câu hỏi lớn: Đi (du học) hay ở lại Việt Nam? Học xong trở về Việt Nam hay kiếm đường ở lại nước ngoài?

Rất nhiều người đã từng hỏi tôi hai câu ấy. Trong số đó có T. T. Hồng – nếu bạn nào tình cờ xem một kênh truyền hình có tên VietNamNet TV vào những năm 2005-2006 thì có thể còn nhớ cô gái dẫn chương trình có phong cách rất Tây này. Hồng là một biên tập viên truyền hình, một nhà báo có tài, và Hồng từng dằn vặt dữ dội với câu hỏi lớn “Đi hay ở”, “Về hay ở lại”. Khoảng cuối 2006, Hồng nhận được học bổng đi Anh học thạc sĩ, và từ đó cô không trở về Việt Nam nữa; nói đúng hơn, trong mắt tôi, cô chỉ về như một khách trọ, mỗi lần về vài tuần rồi lại bay đi ngay.

Trước khi quyết định tìm đường du học, Hồng từng hỏi tôi hai câu hỏi ấy, và tôi trả lời: “Gì cũng được, nhưng không kỳ vọng, không thất vọng, không nản”.

Tôi nói thế, bởi tôi biết Việt Nam dưới chế độ cộng sản là xứ sở vô địch về bỏ lỡ cơ hội, về vùi dập nhân tài và bóp chết ước mơ của người trẻ.

Tôi biết đã có bao nhiêu thanh niên Việt Nam du học, mê say với những kiến thức mình thu nhận được ở trời Tây, rồi ôm cả một bầu trời mơ ước, hy vọng về Việt Nam, những mong có thể “áp dụng kiến thức mình học được”, “xây dựng lại ngành của mình”, “thay đổi đất nước”…

Tôi biết họ đã vỡ mộng nhanh như thế nào, chỉ sau vài tháng.

Trước Hồng, anh trai tôi, một bác sĩ nhi khoa, trước khi từ châu Âu trở về Việt Nam còn đi mua ít đồ chơi để “về tặng bệnh viện”, vì anh thấy bên đó, các bệnh viện nhi đẹp quá, nhiều đồ chơi cho bệnh nhân quá, như vườn trẻ (điều đó giúp các bé giảm rất nhiều nỗi đau, nỗi sợ). Anh mua cả thùng sách chuyên môn, hàng trăm cuốn, trị giá vài ngàn euro, về nước. Anh ôm một trời khao khát, hy vọng, đam mê nghề…

Tiếc rằng, thực tế Việt Nam không có gì đáp lại tấm lòng của những bác sĩ yêu nghề, yêu con người, như anh. Cũng may, cả anh và T. T. Hồng bạn tôi đều không ai cảm thấy sốc hay đau khổ khi trở về nước, đối diện với thực tế phũ phàng và đáng ngán ngẩm.

Cho nên tôi luôn thấy quan niệm của mình – “gì cũng được, nhưng không kỳ vọng, không thất vọng, không nản” – là một quan niệm đúng, thậm chí còn là một cách để mình tự vệ trong hoàn cảnh Việt Nam.

* * *

Câu chuyện của T. T. Hồng, của anh trai tôi, là vào thập niên 2000. Bây giờ đã là cuối thập niên 2010, và dường như xung quanh tôi, chẳng còn nhiều người dằn vặt vì hai câu hỏi kia nữa. Câu trả lời đã quá rõ ràng, với số đông: Có cơ hội là đi khỏi Việt Nam, và tìm đường ở lại nước ngoài. Đừng về. Về làm gì?

Nhưng so với thập niên trước, thập niên này lại có thêm sự xuất hiện của một “cộng đồng” nho nhỏ, là những nhà hoạt động dân chủ-nhân quyền. Họ ra nước ngoài chủ yếu theo các học bổng ngắn hạn do các tổ chức quốc tế cung cấp, học về xã hội dân sự. Họ không hẳn là du học sinh, theo nghĩa họ không tham gia vào thế giới học thuật, hàn lâm của các trí thức; họ là nhà hoạt động.

Và tôi không biết họ có đối diện với hai câu hỏi lớn kia, như thế hệ của tôi từng dằn vặt không.

Có một điều tôi biết chắc chắn: Việt Nam vẫn không hề thay đổi, Việt Nam vẫn nằm dưới chế độ cộng sản, và vẫn là xứ sở vô địch về bỏ lỡ cơ hội, về vùi dập nhân tài và bóp chết ước mơ của người trẻ.

Đối với những du học sinh tràn đầy tâm huyết trở về năm xưa, thể chế ở Việt Nam dội nước lạnh vào họ, gò nặn cho họ vào guồng, gọt họ tròn như bi, đặt họ đối diện với bao nhiêu thứ tồi tệ và đáng chán nản. Không biết nịnh sếp thì về Việt Nam sẽ biết nịnh. Không biết đấu đá, tranh giành thì về Việt Nam sẽ biết đấu đá, tranh giành. Muốn phục vụ, cống hiến thì về Việt Nam sẽ hết muốn, hết ước mơ luôn.

Đối với những nhà hoạt động trẻ thời nay, tình hình còn thảm hơn. Việt Nam đón nhận họ với hàng chục nhân viên an ninh tại sân bay, câu lưu, thẩm vấn, đe nẹt và không quên dạy đời họ. (Thật khủng khiếp, khi những con ếch ngồi đáy giếng, nhìn thế giới bằng cặp mắt hằn học và “cảnh giác với thế lực thù địch”, lại có thể lải nhải răn dạy những thanh niên yêu nước, đầy nhiệt huyết đổi thay và hội nhập). Và cuộc sống của họ sau đó sẽ là những ngày tháng đối diện với việc bị truy đuổi, mất nhà cửa, thất nghiệp, bị theo dõi, canh giữ, nặng hơn thì bị đánh đập, bắt bớ, tù đày…

Đó là những gì đang và sẽ xảy đến với Đinh Phương Thảo (Thảo Gạo) kể từ hôm nay, 15/11/2019, khi cô trở về nước sau gần bốn năm ở nước ngoài, tham gia vận động nhân quyền cho Việt Nam.

Tôi nhìn thấy tất cả những điều ấy, và bình thản. Nhưng không thể không có chút buồn.

Yêu nước, khao khát thay đổi, dấn thân, cống hiến… để bị chế độ công an trị đối xử như vậy sao?

PHẠM ĐOAN TRANG

Cơ hội làm giàu trên quê hương có đồng đều cho tất cả?

Nguyễn Kim Chi
Vị bác sĩ ẩn danh này cho biết giới y, bác sĩ ở Việt Nam có 3 lựa chọn là làm việc ở bệnh viện tư hoặc bệnh viện công; tuy nhiên khâu đầu tiên vẫn là phải có tiền, bởi vì:

“Có giá chung cả rồi. Vào Bệnh viện Bạch Mai thì 700 triệu đồng. Vào Bệnh viện 108 là 1 tỷ. Vào Bệnh viện Quân Đội (103) bây giờ là 1 tỷ. Còn vào bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh thì tùy, nhưng cũng phải vài trăm triệu.”

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại buổi trả lời chất vấn của Quốc hội chiều ngày 08/11/19.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại buổi trả lời chất vấn của Quốc hội chiều ngày 08/11/19.

 Courtesy: VGP News

Tiếp tục đi nước ngoài vì kinh tế

Nền kinh tế Việt Nam được đánh giá có nhiều thay đổi kể từ khi Chính phủ Hà Nội áp dụng chính sách “Đổi mới” vào năm 1986, dù vẫn theo cơ chế “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Và sau hơn 3 thập niên phát triển cũng như mở rộng hợp tác trong nhiều lĩnh vực với cộng đồng quốc tế, xu hướng người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống và làm việc được thế giới ghi nhận là ngày càng gia tăng.

Một thành phần di dân là giới du học sinh và trí thức Việt Nam, mà hiện tượng này được gọi là “tình trạng chảy máu chất xám” không có chiều hướng giảm sút.

Thông cáo báo chí của Đại sứ quán Việt Nam đăng tải hồi trung tuần tháng 11 năm 2018 cho thấy số lượng du học Việt Nam ở Mỹ tăng năm thứ 17 liên tiếp, tiếp tục đứng thứ sáu trong danh sách những nước dẫn đầu về số lượng sinh viên du học với hơn 24 ngàn sinh viên.

Còn Chính phủ Canada thống kê đến cuối năm 2018, sinh viên Việt Nam sang du học ở nước này riêng trong năm ngoái đã tăng 46% với hơn 20.000 người, đứng vị trí thứ 5 trong số những nước có nhiều học sinh đến học ở Canada nhất.

Đài RFA ghi nhận kết quả một nghiên cứu của Tiễn sĩ Phạm Thị Liên, thuộc Đại học Công nghệ Sydney, Australia được Nhà xuất bản Springer phát hành trong năm 2019, có tựa đề “International Graduates Returning to Vietnam: Experiences of the Local Economies, Universities and Communities”, cho thấy năm 2016 có khoảng 130 du học sinh Việt Nam ở nước ngoài. Và Đài BBC Việt ngữ, vào ngày 20 tháng 9 dẫn lời của Tiến sĩ Phạm Thị Liên cho biết qua khảo sát thì 100% du học sinh Việt Nam đều mong muốn ở lại nước họ đến học để làm việc vì cơ hội việc làm, chưa nói đến tiền lương và các mối quan hệ xã hội.

Qua trao đổi với một số các du học sinh đang làm việc ở nước ngoài, họ cũng bày tỏ với RFA rằng trở về nước thì họ không có môi trường làm việc thích hợp, nhất là trong lĩnh vực khoa học kỷ thuật và mức tiền lương không đáp ứng đủ cho một cuộc sống tốt ở quê nhà.

Một bác sĩ trẻ đang làm việc tại Lào chia sẻ với Đài Á Châu Tự Do trong hai năm vừa qua có khoảng vài chục bác sĩ người Việt làm việc tại Lào giống như anh. Người bác sĩ không muốn nêu tên giải bày lý do vì sao không chọn làm việc tại Việt Nam:

Đồng lương của Việt Nam hiện nay không phải là lương, mà là ‘bất lương’. Cứ tưởng tượng lương của những cán bộ với mức lương từ 15 đến 20 thì làm gì có thể xây những biệt thự, lâu đài nguy nga? Bọn quan chức từ trong Trung ương Đảng cho đến Chính phủ, cho đến Quốc hội, cho đến Bí thư, cho đến giám đốc ở các tỉnh có thể nói rằng là ‘cả đám ăn cướp trắng trợn của dân, của nước’
-Ông Nguyễn Khắc Mai

“Như tụi em học y ở Việt Nam, nhưng học xong ra trường thì chỉ có bằng đại học mà không được cấp chứng chỉ hành nghề. Không có chứng chỉ hành nghề mà làm việc thì khác nào là làm bất hợp pháp. Ra trường thì phải đi thực tập (không lương) 18 tháng ở những cơ sở có giường bệnh nội trú hoặc bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh trở lên. Thực tập xong mới được xin cấp phép hành nghề. Chỉ mới cấp giấy hành nghề thôi mà đã ‘hành’ giới y, bác sĩ như thế rồi.”

Vị bác sĩ ẩn danh này cho biết giới y, bác sĩ ở Việt Nam có 3 lựa chọn là làm việc ở bệnh viện tư hoặc bệnh viện công; tuy nhiên khâu đầu tiên vẫn là phải có tiền, bởi vì:

“Có giá chung cả rồi. Vào Bệnh viện Bạch Mai thì 700 triệu đồng. Vào Bệnh viện 108 là 1 tỷ. Vào Bệnh viện Quân Đội (103) bây giờ là 1 tỷ. Còn vào bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh thì tùy, nhưng cũng phải vài trăm triệu.”

Còn một lựa chọn thứ 3 là mở phòng mạch thì:

“Nếu khởi nghiệp ở Việt Nam thì phải có thế lực, phải có quan hệ thì mới khởi nghiệp được. Thêm nữa là quá nhiều thủ tục và cơ quan, đoàn thể mà người ta gọi là ‘hành’ và tìm cách làm tiền. Doanh nghiệp Việt Nam khổ lắm vì hầu như các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh hay buôn bán…đều phải chung chi.”

Đối nghịch lại với giới trí thức Việt Nam là một làn sóng di dân của các “cô dâu Việt”. Những phụ nữ Việt Nam trong hai thập niên qua ồ ạt chọn giải pháp lấy chồng nước ngoài để đổi đời, mà chủ yếu là vì mục đích giúp đỡ cho gia đình về kinh tế.

Mặc cho truyền thông trong nước loan tin không ít những câu chuyện thương tâm và đau buồn của một số hoàn cảnh phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài bị bạc đãi, hay thậm chí bị thiệt mạng, nhưng những cô gái Việt Nam vẫn chấp nhận ra đi vì không còn chọn lựa nào khác với hy vọng cho một cuộc sống sung túc hơn.

Vào năm 2016, Cơ quan Thống kê Hàn Quốc công bố số liệu phụ nữ Việt Nam, lần đầu trở thành nhóm cô dâu ngoại quốc đông nhất ở Nam Hàn, chiếm 27,9% vượt qua các nước Trung Quốc và Philippines.

Hình hai người được cho là nạn nhân trên chiếc xe chở người lậu từ Pháp sang Anh hôm 23/10/2019.
Hình hai người được cho là nạn nhân trên chiếc xe chở người lậu từ Pháp sang Anh hôm 23/10/2019. Courtesy of Reuters, Facebook, RFA edit

Lao động xuất khẩu Việt

Một thành phần đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam, đó là lao động Việt ở nước ngoài. Cục Quản lý Lao động Ngoài nước thuộc Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội vào hạ tuần tháng 6 năm 2018 cho biết tính đến thời điểm đó, Việt Nam có khoảng 500 ngàn người Việt đang làm việc ở nước ngoài và tổng số tiền mà các lao động này gửi về nước mỗi năm khoảng 3 tỷ USD (tương đương hơn 76 ngàn tỷ đồng). Thế nhưng, tỷ lệ lao động Việt Nam bỏ trốn, kết thúc hợp đồng không quay về nước hoặc ở lại lao động bất hợp pháp đang xảy ra ở một số quốc gia. Đặc biệt là Hàn Quốc với tỷ lệ bỏ trốn lên đến 50%, dẫn đến hậu quả Hàn Quốc ra thông báo tạm thời ngưng chương trình tuyển chọn công nhân Việt Nam ở 40/100 quận/huyện sang nước này làm việc trong năm 2019.

Một lao động Việt ở Nhật, không muốn nêu tên nói với RFA về tình trạng người Việt Nam vẫn chọn ở Nhật để kiếm sống, dù làm việc ở xứ sở Mặt Trời Mọc bị đối xử bất công:

“Sau một quá trình làm thì họ sẽ thấy ở đây làm có dư hơn ở Việt Nam, dễ sống hơn ở Việt Nam, có thể chu cấp cho gia đình ở Việt Nam thì hầu hết họ muốn ở lại hơn là đi về.”

Và mới nhất, tình trạng người Việt ra nước ngoài lao động chui bằng nhiều hình thức ở mức báo động, qua vụ việc 39 người Việt Nam tử nạn trong xe container nhập cư lậu vào Anh hồi ngày 23 tháng 10 vừa qua. Sau khi thảm kịch xảy ra, lần lượt nhiều thông tin của gia đình các nạn nhân cho biết thân nhân của họ bị thiệt mạng trong hành trình tìm kiếm kế sinh nhai bất hợp pháp nơi xứ người với mưu cầu được thịnh vượng.

Lời tuyên bố của ông Thủ tướng

Tại buổi trả lời chất vấn của Quốc hội vào chiều ngày 8 tháng 11, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói rằng “nguồn nhân lực phát triển lớn nhất của đất nước là gần 100 triệu người dân Việt Nam và phải làm sao để mỗi người dân có cơ hội thực hiện khát vọng làm giàu hợp pháp, phát triển khả năng trên chính mảnh đất quê hương mình”. Người đứng đầu Chính phủ Việt Nam còn nhấn mạnh không được để thảm kịch như vừa xảy ra tại Anh tái diễn.

Lời tuyên bố vừa nêu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc được dư luận trong và ngoài nước quan tâm. Chuyên gia Kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng chủ trương của Chính phủ Việt Nam luôn nhắm đến “dân giàu, nước mạnh”; tuy nhiên:

“Nhiều việc khi họ làm, thực hiện các chính sách tốt thường là triển khai rất chậm chạp và không tới nơi tới chốn. Nhiều khi thể hiện có lẽ nhiều nhất ở chỗ là họ lại muốn những cơ hội kinh doanh của người dân để người dân làm giàu thì cũng phải là cơ hội cho họ kiếm chác được ở đấy.”

Còn chính người “trong cuộc” là những người Việt đang làm việc ở nước ngoài lên tiếng rằng họ luôn trông chờ một cơ hội để trở về nước, nhưng thời gian chờ đợi cho các cơ hội tốt đối với người dân như họ sẽ là bao lâu? Một lao động Việt không muốn nêu tên ở Hàn Quốc bày tỏ:

Thật tình thì chả ai muốn tha phương cầu thực cả, vì hoàn cảnh và cuộc sống đường cùng mà phải ra đi thôi. Tôi nghĩ nếu thay đổi chế độ Việt Nam thì phải mất hàng chục năm bởi vì phải thay đổi từ tư duy nhận thức con người và phải thay đổi về chế độ, thay đổi chính sách. Người Hàn (Hàn Quốc) phải mất mấy chục năm để biến đổi được nền kinh tế như ngày hôm nay. Kể cả Việt Nam cũng vậy. Đâu thể nói là làm được liền đâu
-Lao động Việt ở Hàn Quốc

“Thực tình thì chả ai muốn tha phương cầu thực cả, vì hoàn cảnh và cuộc sống đường cùng mà phải ra đi thôi. Tôi nghĩ nếu thay đổi chế độ Việt Nam thì phải mất hàng chục năm bởi vì phải thay đổi từ tư duy nhận thức con người và phải thay đổi về chế độ, thay đổi chính sách. Người Hàn (Hàn Quốc) phải mất mấy chục năm để biến đổi được nền kinh tế như ngày hôm nay. Kể cả Việt Nam cũng vậy. Đâu thể nói là làm được liền đâu.”

Còn không ít ý kiến trong giới quan sát tình hình Việt Nam quả quyết rằng lời tuyên bố của Thủ tướng tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng là thêm một khẩu hiệu hô hào của Chính phủ Việt Nam mà thôi, như ông Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu-Ban Dân vận Trung ương nhận định chỉ có đảng viên và cán bộ mới là thành phần giàu có ở Việt Nam:

“Đồng lương của Việt Nam hiện nay không phải là lương, mà là ‘bất lương’. Cứ tưởng tượng lương của những cán bộ với mức lương từ 15 đến 20 thì làm gì có thể xây những biệt thự, lâu đài nguy nga? Bọn quan chức từ trong Trung ương Đảng cho đến Chính phủ, cho đến Quốc hội, cho đến Bí thư, cho đến giám đốc ở các tỉnh có thể nói rằng là ‘cả đám ăn cướp trắng trợn của dân, của nước’.”

ÔNG TRẦN LONG ẨN PHỦ NHẬN TOÀN BỘ NỀN VĂN HỌC NGHỆ THUẬT MIỀN NAM TRƯỚC 75, MUỐN TẨY XÓA HẾT ĐI VÌ “ĐỘC HẠI”!

Image may contain: 1 person, text

Nguyễn Quốc Kiên

ÔNG TRẦN LONG ẨN PHỦ NHẬN TOÀN BỘ NỀN VĂN HỌC NGHỆ THUẬT MIỀN NAM TRƯỚC 75, MUỐN TẨY XÓA HẾT ĐI VÌ “ĐỘC HẠI”!

Không chỉ nói đến nhạc, ông Trần Long Ẩn còn phủ nhận cả một nền văn học nghệ thuật của miền Nam trước năm 1975. Trong cuộc họp giao ban quý III/2019 của Hội đồng lý luận phê bình văn học, nghệ thuật TP.HCM ngày 10/11, ông Trần Long Ẩn phát biểu:

“Chúng tôi đề xuất phải hết sức thận trọng với trang sử đen tối của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là bị xâm lược. Văn học, nghệ thuật độc hại của nó xuyên tạc đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ở miền Nam và hiện nay không thể tẩy xóa”. Ông Ẩn lớn tiếng: “63 tỉnh, thành thì có được bao nhiêu đài có phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch? Ít lắm”.

Nói như ông Ẩn thì hiện nay nền văn học nghệ thuật Hàn quốc đều là độc hại vì Hàn quốc là đồng minh của Mỹ và Hàn quốc đang chống lại Bắc Hàn xã hội chủ nghĩa kìa. Có ai biết con cháu ông Ẩn có xem phim Hàn quốc không nhỉ!

Sinh ra một cái Hội đồng phê bình văn học, nghệ thuật kiểu như vậy rồi hàng tháng tổ chức họp, chi tiêu bằng thuế máu của nhân dân rồi có những kẻ như vậy ngồi phát biểu những điều như vậy chăng?

Trần Đình Thu

VỊ LINH MỤC VIỆT NAM RẤT ĐẶC BIỆT VÌ CÓ CHA THUỘC ĐẠO CAO ĐÀI VÀ CÓ MẸ THUỘC ĐẠO PHẬT

Image may contain: 1 person, smiling, text

Lm Jos Trần Chính Trực

VỊ LINH MỤC VIỆT NAM RẤT ĐẶC BIỆT VÌ CÓ CHA THUỘC ĐẠO CAO ĐÀI VÀ CÓ MẸ THUỘC ĐẠO PHẬT

Nhất gia tam Đạo. Tam nhân tam Tôn. Một gia đình ba Tôn giáo. Ba con người ba Tôn giáo.

Chuyện lạ không tưởng này đã xảy ra trong gia đình cha Phêrô Giuse Maria HÀ THIÊN TRÚC, đương kim Chánh xứ Martinô thuộc Tổng Giáo phận Sài Gòn.

Quả vậy, cha Trúc đã xuất thân trong một gia đình có thân phụ là một tín đồ thuộc Đạo Cao Đài và thân mẫu thuộc Đạo Phật.

Ngài nguyên là một bác sĩ y khoa có tâm và kiêm là một ca sĩ hát rất tâm tình.

Cha ngài vì muốn ngài trưởng thành về tâm linh và vững mạnh về kiến thức nên đã đặt tên ngài là Thiên Trúc, tên cũ của Ấn Độ, một quốc gia Phật Giáo.

Cả ông cố và bà cố đều tôn trọng niềm tin của nhau, cùng sùng Đạo của riêng mình và đã tôn trọng sự chọn lựa tâm linh của các con, và đã chấp nhận cho con trai mình là Hà Thiên Trúc được lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội để gia nhập Giáo Hội Công Giáo.

Cha Trúc đã từng sống bên những người Công giáo đạo đức thánh thiện, đã được nghe biết về Chúa Giêsu cách sâu xa ấn tượng thuyết phục.

Chính vì thế mà cha Trúc đã gia nhập Đạo Công giáo vào năm 19 tuổi với sự chấp thuận, tôn trọng và ủng hộ rất vô tư của cả cha lẫn mẹ.

Ngài được Rửa tội ở Giáo xứ Tân Định, Sài Gòn năm 1989 và được gia nhập vào Giáo xứ này.

Không dừng lại ở đó, cha còn say mê Đạo Công Công giáo đến nỗi đã muốn trở thành một Linh mục để đem ơn cứu độ cho nhân thế.

Cha đã được cha sở Gioan Baotixita Võ Văn Ánh giới thiệu vào Đại Chủng viện dưới sự dìu dắt tận tình vô tư trước đó của cha nghĩa phụ Giuse Maria Đỗ Duy Lạn.

Chính cha Lạn đã khuyến khích, đã nâng đỡ, đã hướng dẫn bác sĩ Hà Thiên Trúc trong những bước đầu của ơn gọi linh mục.

Và cuối cùng cha đã được truyền chức Linh mục.

Vậy là cha Trúc tuy đang có một tương lai sán lạn cho mình, và cũng đang phục vụ, mang lại an ủi cho nhiều bệnh nhân, nhưng đã chọn đi tu trở thành linh mục, và có lẽ đã làm nhiều người thắc mắc, khó hiểu.

Vậy là bác sĩ Trúc từ việc chữa lành thể xác con người cách chóng qua lại trở nên “bác sĩ” chữa lành tâm linh con người cách Vĩnh cửu.

Khẩu hiệu đời linh mục mà cha đã chọn chính là những câu ca ngợi Thiên Chúa của Đức Mẹ là: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa » (Lc 1,46).

Sở dĩ cha Trúc có đến 3 tên Thánh vì cha rất yêu thích Thánh Phêrô, rất sùng kính Đức Mẹ và tri ân cha nghĩa phụ Giuse Maria Đỗ Duy Lạn nên đã chọn tên Thánh Giuse để tưởng nhớ cha cố.

Cha đã thành tâm tìm hiểu Đạo Công giáo và đã khiến cha hết sức thán phục và quyết định gia nhập Đạo.

Cha Trúc khi còn là một Chủng sinh đã từng tâm sự như sau:

“Ba con rất sùng đạo Cao Đài, ăn chay trường, đạo đức, có ước muốn con cái giúp ích cho đời (như: đặt tên chị con là “Thanh Tuyền” với ước mong phục vụ vô vị lợi cho đời như “giòng suối trong” chảy hoài không ngưng nghỉ, và hiện chị con là bác sĩ đang giúp ích rất nhiều cho các bệnh nhân và cho xã hội trong lãnh vực ngoại thần kinh và chẩn đoán hình ảnh).

“Và ba con cũng đã giác ngộ trên đường Đạo nên có ước mong các con cái sẽ được thăng tiến trong đời sống tâm linh (như đặt tên con là “Thiên Trúc”, tên cũ của Nước Ấn Độ – cái nôi của Phật giáo).

“Má con cũng là người sùng đạo Phật, đã dẫn các con cái quy y Phật. Má cũng thường đi học và nghe thuyết pháp về Phật giáo vào các chiều chủ nhật hàng tuần ở chùa Xá Lợi. Bản thân con cũng được má con dẫn quy y Phật vào năm học lớp 6, pháp danh “Thiện Tuấn”.
“Ba má con rất quan tâm, chăm sóc, giáo dục nhiều cho các con cái về tri thức và đạo đức.”

Cha Trúc chính là chứng nhân cho câu Kinh Thánh: “”Quả thật, tôi nghiệm biết rằng Thiên Chúa không thiên tư tây vị, nhưng ở bất cứ xứ nào, ai kính sợ Người và thực hành sự công chính, đều được Người đón nhận!” (Cv 10, 34-35).

Hồng ân Chúa vẫn ngày ngày tuôn đổ như nắng như mưa xuống trần gian không phân biệt.

Bất cứ ai thành tâm thiện chí mở rộng tâm hồn, thì sẽ được đón nhận dồi dào ơn Chúa.

Chúng ta cùng nhau cúi đầu tạ ơn Chúa, chúc mừng cha, cầu cho cha Thiên Trúc và chúng ta ngày càng gần trái tim Chúa hơn. Amen.

Nguồn: Giuse Kích

Bình trà đá miễn phí đầy xích giữa Sài Gòn vì sợ bị trộm lấy mất

Đau lòng cho xã hội Viêt Nam.

 

THANHNIEN.VN|BY BÁO THANH NIÊN
Bức ảnh bình trà đá miễn phí đặt bên lề đường được quấn quanh bằng dây xích và khóa lại khiến cư dân mạng chia sẻ và đặt câu hỏi: Vì sao? Phải chăng lòng tốt cũng cần được “bảo vệ” trước kẻ cắp?