Alexandre de Rhodes và sự tưởng tượng về lịch sử cận đại của nền sử học Việt Nam.



Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng.
Alexandre de Rhodes và sự tưởng tượng về lịch sử cận đại của nền sử học Việt Nam.
BY KHOIN · THÁNG MƯỜI MỘT 27, 2019
Dr. Khoi Nguyen – University of Oregon
Ảnh 1: Trần Trọng Kim, người cha của sử học hiện đại Việt Nam, 1883-1953
Ảnh 2: Giáo sỹ Alexandre de Rhodes
Ảnh 3: Pháp – Thanh ký Hiệp ước Thiên Tân 1885
Gần đây, thành phố Đà Nẵng muốn lấy tên Alexandre de Rhodes để đặt tên đường phố. Một số trí thức, trong đó có nhiều người giảng dạy lịch sử trong môi trường đại học, viết thư phản đối, cho rằng Alexandre de Rhodes là một nhà truyền giáo mang tư tưởng thực dân, là kẻ có tội với Việt Nam. Lá thư của họ khiến cho thành phố Đà Nẵng rút lại ý định.
Tuy vậy, những người phản đối ấy hoàn toàn dựa theo những niềm tin có tính tưởng tượng về Alexandre de Rhodes nói riêng và hình ảnh “Tây phương” nói chung, được kiến tạo từ trước 1975 ở miền Bắc.
Bài viết này nhắc lại một cách ngắn gọn những tưởng tượng về lịch sử ấy để gợi mở cho chúng ta suy nghĩ về sử học, giáo dục và chính trị đương đại.
Tưởng tượng về Alexandre de Rhodes
Năm 1971, Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, trong quyển “Lịch sử Việt Nam”, tập 1, trang 304, trích dẫn lời Alexandre de Rhodes thể hiện một âm mưu có tính thực dân của mình:
Alexandre de Rhodes Ảnh: Internet
“Đây là một vị trí cần được chiếm lấy và chiếm được vị trí này thì thương gia Âu châu sẽ tìm được một nguồn lợi nhuận và tài nguyên phong phú”
Uỷ ban này chú thích rằng câu trích này được trích từ sách “Divers voyages et missions en Chine et autres royaumes de l’Orient” (Những cuộc hành trình và truyền giáo ở Trung Quốc và các vương quốc khác ở phương Đông) của Alexandre de Rhodes, Paris, 1653, tr. 109-110.
Tuy vậy, người ta không thể tìm thấy câu nói ấy trong tài liệu nói trên.
Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam là một định chế nghiên cứu cấp quốc gia. Vị thế của nó bảo đảm cho uy tín học thuật của nó. Thành ra từ đó, người ta cứ trích dẫn và lan truyền niềm tin lệch lạc như vậy về Alexandre de Rhodes mà không cần kiểm tra lại. Từ lâu, những nhà nghiên cứu như Vương Đình Chữ (1996), Nguyễn Đình Đầu (2006) đã chỉ ra lỗi trích dẫn này của Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Nhưng niềm tin ấy vẫn chưa mất. Lá thư phản đối đặt tên đường của nhóm “trí thức” nói trên là một ví dụ.
Cũng trong sách này, Alexandre de Rhodes nói đến việc xin nước Pháp cung cấp nhiều “soldats” để “chinh phục toàn cõi phương Đông, đem về quy phục Chúa Jesus”. Cao Huy Thuần coi từ “soldats” là “binh lính” quân sự, từ đó kết tội Alexandre de Rhodes mở đường cho thực dân xâm lược Việt Nam, dù nhà truyền giáo ấy chết trước cuộc xâm lược ấy đến hai trăm năm, còn Nguyễn Đắc Xuyên coi “soldats” không phải là “binh lính” theo nghĩa đen mà chỉ “chiến binh Phúc âm”, tức giáo sỹ truyền đạo. Số người hiểu theo cách hiểu của Cao Huy Thuần đông hơn hẳn cách hiểu của Nguyễn Đắc Xuyên, các cuộc tranh luận, đúng hơn là cãi vã, về nghĩa của từ “soldats” hầu như không đặt từ này trong toàn bộ văn bản của “Hành trình và truyền giáo” để xem tinh thần thực sự của khái niệm cũng như của sách này là gì, có liên quan đến việc đánh chiếm thuộc địa hay không.
Trí tưởng tượng nói trên về Alexandre de Rhodes sở dĩ khó có thể nhạt phai vì nó nằm trong một tưởng tượng khác, lớn hơn, về lịch sử cận đại. Tưởng tượng về lịch sử cận đại này cũng do Uỷ Ban khoa học xã hội Việt Nam, từ tiền thân của nó là Ban nghiên cứu Văn Sử Địa, xây dựng nên từ giữa thập niên 1950, sau khi Đảng Lao động Việt Nam (tức Đảng Cộng sản Việt Nam) lấy được miền Bắc.
Tưởng tượng về thế kỷ 19
Tôi có làm “phỏng vấn” nhỏ một số bậc thức giả, bao gồm cả những người nghiên cứu và giảng dạy lịch sử, một câu hỏi duy nhất: Trước thế kỷ 20, cuộc xâm lược cuối cùng của Trung Quốc đối với Việt Nam là cuộc xâm lược nào? Trong sự kiện ấy, ai là tổng chỉ huy của quân đội Trung Quốc? Ai là người đánh bại đội quân xâm lược đó?
Hầu hết người được hỏi đều trả lời: Đó là cuộc xâm lược của Mãn Thanh thời Hoàng đế Càn Long vào năm 1789, chỉ huy đội quân xâm lược là Tôn Sỹ Nghị, người đánh bại đội quân xâm lược đó là Hoàng đế Quang Trung.
Chỉ có một học giả duy nhất trả lời đúng: Cuộc xâm lược cuối cùng là vào thế kỷ 19, thời Từ Hy thái hậu của Mãn Thanh, chỉ huy đội quân xâm lược là Phùng Tử Tài, còn người đánh bại cuộc xâm lược đó của Trung Quốc là… thực dân Pháp.
Tại sao hầu hết những người am tường sách vở ở Việt Nam mà tôi có dịp được hỏi lại hoàn toàn không nhớ gì về cuộc xâm lược trong thế kỷ 19 này của Trung Quốc? Vì nó hoàn toàn bị xoá khỏi lịch sử. Nó không được dạy trong chương trình sử ở cả bậc đại học lẫn trung học.
Câu chuyện bị lãng quên: Nước Đại Nam trước hai “gọng kìm lịch sử” Pháp – Mãn Thanh
Cuối thế kỷ 19, Việt Nam đối diện với hai siêu cường, Pháp và Mãn Thanh, một bên đến từ phương Tây, mang theo nền văn minh của chủ nghĩa tư bản, một bên là thiên triều ngàn năm vẫn đang chìm đắm trong ảo giác mình là trung tâm của thế giới.
Ngay sau khi Pháp lấy Nam Kỳ, Mãn Thanh cũng lập kế hoạch đánh chiếm miền Bắc. Mãn Thanh quyết tâm đánh chiếm Bắc Kỳ vì Việt Nam đã suy yếu, nhằm bảo vệ mô hình thiên triều – chư hầu ngàn năm, còn Pháp quyết lấy nốt phần còn lại. Hai bên tất yếu bước vào một cuộc đụng đầu lịch sử, dần dần đi đến chỗ đánh nhau ác liệt ngay trên lãnh thổ Việt Nam, qua một loạt trận đánh như Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Tuyên Quang năm 1883.
Mãn Thanh đã quyết tâm đến mức dốc tổng lực đánh bại Pháp trên đất liền, chiếm toàn bộ vùng trung du phía Bắc, áp sát khu vực đồng bằng sông Hồng. Thủ tướng Pháp phải từ chức. Nhưng quân Pháp lật ngược thế cờ bằng cách mở ra chiến trường trên biển, đánh chiếm đảo Đài Loan và huỷ diệt Bắc Dương hạm đội của Mãn Thanh ở Phúc Châu.
Pháp – Thanh ký Hiệp ước Thiên Tân 1885 Ảnh: Internet
Mãn Thanh ban đầu thấy chỉ khả thi khi đặt mục tiêu giữ lại vùng Bắc Kỳ, nhưng khi phải ký vào Hiệp ước Thiên Tân 1885, Mãn Thanh buộc chấp nhận mất toàn bộ chư hầu Việt Nam.
Hiệp ước Thiên Tân 1885 giữa Pháp và Mãn Thanh đã tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho cả Mãn Thanh và Việt Nam.
Nếu như việc phải nhượng địa Hong Kong cho nước Anh chỉ khiến Mãn Thanh thức tỉnh về khả năng kỹ thuật của phương Tây nhưng vẫn giữ vững niềm tin vào hệ thống thiên triều – chư hầu, thì đến khi mất chư hầu Việt Nam vào tay Pháp, ý thức hệ và cấu trúc thiên triều – chư hầu của họ bị đánh tận gốc rễ. Việc Mãn Thanh không thể giữ Việt Nam trong cấu trúc thiên triều – chư hầu đã khiến Nhật Bản, lúc này đã trở thành một cường quốc, quyết định giành lấy một chư hầu khác của Mãn Thanh là Triều Tiên. Mãn Thanh tiếp tục mất Triều Tiên trong cuộc chiến Nhật Thanh 10 năm sau đó.
Từ đó, việc cấu trúc và ý thức hệ thiên triều – chư hầu bị sụp đổ toàn diện trong thế kỷ 19 trở thành một trong những nội dung chủ yếu của ý niệm “thế kỷ ô nhục” trong chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa hiện đại.
Còn ở Việt Nam, do cuộc chiến Pháp – Thanh ảnh hưởng quá lớn đến số phận Việt Nam, nên dù xoá cuộc chiến này khỏi Sách giáo khoa sử cho học sinh phổ thông, ngày nay, các sử gia ở Hà Nội vẫn phải dạy học sinh về một số điều liên quan đến cuộc chiến ấy: đội quân Cờ Đen của tướng Mãn Thanh là Lưu Vĩnh Phúc và Hiệp ước Thiên Tân 1885.
Đó là sự kiện không thể không dạy. Quân đội Lưu Vĩnh Phúc của Mãn Thanh đã lập hai chiến công là giết hai chỉ huy của Pháp trong hai trận ở Cầu Giấy, còn Hiệp ước Pháp – Thanh 1885 thì mở ra trang sử mới của Việt Nam. Nhưng, nói về Lưu Vĩnh Phúc và Hiệp ước Pháp – Thanh mà lại không nói gì về cuộc chiến tranh quyết định quyền kiểm soát Việt Nam của hai nước Pháp – Thanh này, các sử gia của chúng ta đã cho học sinh phổ thông học một bức tranh lịch sử cận đại theo kiểu… Pháp xâm lược Việt Nam, rồi đột nhiên Mãn Thanh xuất hiện ký một hiệp ước quyết định số phận chúng ta.
Lưu Vĩnh Phúc vốn là quân Thái Bình Thiên Quốc, bị triều đình Mãn Thanh đánh bại, chạy sang Việt Nam làm thổ phỉ, gây ra vô số tội ác cho dân chúng. Triều đình Huế không thể đánh dẹp, phải nhờ Mãn Thanh đánh giúp. Khi triều đình Mãn Thanh cử quân đội vào Việt Nam để đụng đầu với Pháp, quân đội triều đình Mãn Thanh đã thâu nạp luôn đội quân thổ phỉ Lưu Vĩnh Phúc, ban cho phẩm hàm triều đình, thay vì tiêu diệt nó.
Sách giáo khoa sử lớp 7 hiện nay ở Việt Nam dùng khái niệm “quân ta” để gọi Lưu Vĩnh Phúc. Lối giáo dục này bắt đầu từ hơn 70 năm trước, khi sử gia Trần Văn Giàu và Trần Huy Liệu ở Hà Nội bắt đầu xây dựng bức tranh “lịch sử cận đại”. Lưu Vĩnh Phúc có tờ Hịch kêu gọi binh lính của mình đánh Pháp, trong đó, đoạn đầu tiên, ông nói rõ mục đích của cuộc chiến: Việt Nam là chư hầu của Mãn Thanh, nay Pháp sang chiếm mất chư hầu của ta, ta và Pháp là kẻ thù không đội trời chung.
Sử gia Trần Văn Giàu làm gì khi trích dẫn bài Hịch này vào bộ sử “Bắc kỳ kháng Pháp”? Ông cắt bỏ đoạn mở đầu thể hiện rõ ý thức hệ và mục đích chiến tranh của họ Lưu. Nhờ thế, sử gia họ Trần dễ dàng gắn huân chương “tình hữu nghị chiến đấu của hai dân tộc Việt Trung” cho Lưu Vĩnh Phúc.
Lịch sử của sự phân đôi phải / trái
Xoá bỏ cuộc xâm lược của Mãn Thanh và cuộc chiến Pháp Thanh vào thế kỷ 19, các sử gia miền Bắc xây dựng thế kỷ 19 theo mô hình phân đôi: một bên là thực dân Pháp xâm lược, nhà Nguyễn hèn nhát hàng giặc, một bên là “dân tộc” anh hùng kháng chiến chống ngoại xâm. Trên cái nền bức tranh phân đôi con người làm hai tuyến, bên trái là “xâm lược phương Tây” và bên phải là “nhân dân anh hùng”, người ta lần lượt điêu khắc các nhân vật lịch sử sao cho ăn khớp với bức tranh ấy: Alexandre de Rhodes dĩ nhiên thuộc bên trái bức tranh, phong trào văn thân (vốn không có ý niệm về lòng ái quốc mà chỉ chống người theo đạo Thiên chúa giáo để bảo vệ hệ thống phong kiến nơi họ có thể tìm thấy vị trí xã hội của mình) được xếp vào bên phải.
Vẽ bức tranh thế kỷ 19 theo cách ấy, các sử gia của Viện Sử học ở Hà Nội từ thập niên 1950 dễ dàng tiếp tục vẽ bức tranh của giai đoạn tiếp theo như cách chúng ta thấy trong các giáo trình “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” ngày nay: “nhân dân” tuy anh hùng nhưng không có đường lối đấu tranh đúng đắn, liên tục thất bại cho đến khi Đảng Cộng sản ra đời, mang về Việt Nam vũ khí tối tân là con đường cách mạng vô sản. Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân vật trung tâm của bức tranh. Lịch sử quốc gia thế kỷ 20 được đồng nhất với lịch sử Đảng.
Cách học ấy bắt đầu từ giữa thập niên 1950, đến nay đã kéo dài khoảng 4 thế hệ.
Phục hồi ký ức?
Trần Trọng Kim, người cha của sử học hiện đại Việt Nam, 1883-1953
Cuộc chiến Pháp – Thanh và sự thất bại của Việt Nam khi bị kẹt giữa hai siêu cường ấy đã được sử gia hiện đại đầu tiên của Việt Nam, Trần Trọng Kim, phân tích kỹ lưỡng trong “Việt Nam sử lược”, bộ sách giáo khoa lịch sử đầu tiên của nước Việt Nam, xuất bản vào 1919-1920. Cuốn sách đã bị cấm ở miền Bắc sau 1954 và toàn quốc sau 1975. Nếu chấp nhận phục hồi ký ức về cuộc xâm lược của Mãn Thanh và cuộc chiến Pháp Thanh thế kỷ 19, chúng ta sẽ phải chấp nhận bức tranh thế kỷ ấy như người cha của nền sử học Việt Nam đã khắc họa một cách khách quan: Đó là thế kỷ mà Việt Nam bị mắc kẹt vào hai gọng kìm Pháp – Thanh, bị giằng xé giữa hai mô hình “chư hầu của thiên triều phương Bắc” và “thuộc địa của thực dân phương Tây”, bị buộc phải lựa chọn giữa hai con đường “Tây phương hoá” hay “tiếp tục nằm trong vòng ảnh hưởng của vùng văn hoá chữ Hán”.
Điều đó có nghĩa là bức tranh lịch sử từ đầu thế kỷ 20 cũng cần được vẽ lại toàn bộ. Trong bức tranh này, vị trí của các lực lựợng chính trị, các phong trào xã hội, các vấn đề thuộc phạm vi tinh thần như lịch sử tư tưởng, văn hoá, văn học nghệ thuật… cũng sẽ được tái định vị một cách căn bản.
Năm 1987, sử gia Nhật Bản Tsuboi Yoshiharu xuất bản “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa”, phân tích thế kỷ 19, trọng tâm là thời Tự Đức, như là thời đại Việt Nam mắc kẹt giữa hai siêu cường. Cuốn sách được các học giả Nguyễn Đình Đầu, Bùi Trân Phượng, Tăng Văn Hỷ, Vũ Văn Kính dịch ra tiếng Việt và Trần Văn Giàu là người viết lời giới thiệu. Trần Văn Giàu đã đánh giá cách tiếp cận của Tsuboi là “mới mẻ” mà “quên” mất rằng, cách hiểu ấy về thế kỷ 19 đã ra đời ngay từ đầu thế kỷ 20, trước sử gia Nhật Bản ấy đến bảy thập niên, trong “Việt Nam sử lược”, cuốn sách mà chính các sử gia kiêm chính trị gia ở Hà Nội đã cấm đoán từ thập niên 1950 để độc quyền một cách kể chuyện lịch sử duy nhất.
Nhận thức về lịch sử (trả lời câu hỏi “chúng ta đến đây từ đâu và như thế nào?”) và lựa chọn chính trị (trả lời câu hỏi “chúng ta làm gì bây giờ?”) chỉ là hai mặt của một tờ giấy. Hiểu theo cách đó, như ta thấy qua câu chuyện phản đối đặt tên đường cho Alexandre de Rhodes nói trên, những lựa chọn của người Việt Nam hôm nay vẫn chìm đắm trong một màn sương mù của tư duy được đình hình từ giữa thế kỷ trước bởi Ban nghiên cứu Văn Sử Địa.
Lãng quên bài học thất bại khi đối diện yêu cầu lịch sử phải lựa chọn giữa Pháp – Thanh với tư cách là hai mô hình, hai thế giới, Việt Nam ngày nay tiếp tục đối diện câu hỏi ấy một lần nữa.
Khôi Nguyễn, Đại học Oregon
Nguồn: US-Vietnam Research Center
https://usvietnam.uoregon.edu/…/alexandre-de-rhodes-va-su…/…
Hiệu phó Trường Chính trị Bình Thuận dùng bằng giả, chưa học hết lớp 3.
Vua triều Nguyễn dùng Quốc ngữ để ‘thoát Hán’
Minh Le and Tai Nguyen shared a link.
Thành Đô – Đặc khu – Sách trắng Quốc phòng
Thành Đô – Đặc khu – Sách trắng Quốc phòng
Đặng Xương Hùng
Cựu Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Thụy Sĩ
Mới đây, một anh bạn của tôi tỏ ý không tin là có Thành Đô. Anh lập luận, chỉ còn một tháng rưỡi nữa là đến năm 2020, đâu thấy có dấu hiệu gì Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Quốc đâu?
Tôi không hẳn chỉ muốn phản bác lại anh, mà là cố gắng xâu chuỗi lại các sự kiện để cùng anh đi đến kết luận: Nguy cơ mất nước đang hiển hiện 100% và đảng cộng sản Việt Nam phải chịu tội này trước dân tộc Việt Nam.
Tôi đã nhắc lại với anh:
– Cuộc gặp bí mật tại Thành Đô – Trung Quốc là có thật 100%. Họ đến đó để cầu xin, quy phục cộng sản Trung Quốc. (Tôi muốn anh tìm đọc Hồi ký của Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ).
– Khi nhắc đến Hiệp ước Thành Đô thì ta không nên hiểu đó chỉ là một văn bản Hiệp ước được ký kết ngay cuộc gặp này, mà phải hiểu là tổng hợp tất cả những cam kết bằng miệng và bằng giấy tờ tại Thành Đô và tại những cuộc trao đổi giữa hai bên những năm sau đó trong quá trình đạt được bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.
– Bức tường Berlin sụp đổ. Đảng cộng sản Việt Nam thấy rõ nguy cơ đe dọa. Họ đã chọn giải pháp quy hàng cộng sản Trung Quốc để có thể tiếp tục tồn tại. Trong ngoại giao chúng tôi gọi đó là giải pháp đỏ (hợp tác giữa những người cộng sản tại Campuchia và giữa TQ – VN).
– Họ chả có gì đủ mạnh để hy vọng đổi được sự che trở của TQ ngoài việc hứa đưa Việt Nam về chung ngôi nhà với Trung Quốc, tiến tới một thế giới cộng sản đại đồng. (Tôi khẳng định 100% đây là suy tính của những người lãnh đạo chóp bu lúc bấy giờ).
Tôi cũng chia sẻ thêm với anh:
– Lãnh đạo Việt Nam là những kẻ tiểu nhân, hứa thật cao để đạt được mục đích, sau nuốt hoặc trì hoãn thực hiện lời hứa là chuyện bình thường.
– Tuy nhiên, thâm nho như Tàu thì có mà chạy đằng giời, mọi món nợ đã trói chặt VN trong vòng kiểm soát của TQ. Những sự kiện cho thấy việc dần phải quy tụ lại với TQ, trong những năm qua, là rất rõ ràng:
+ Nhượng đất, nhượng biển đảo.
+ Cờ 6 sao (cố tình hay nhầm lẫn mà những ba bốn lần)
+ Chuyển đổi quân phục quân đội giống y TQ.
+ Bắt buộc học tiếng Trung.
+ Liên minh ngân hàng, tiêu tiền TQ trên lãnh thổ VN.
+ Hợp tác truyền hình, phát sóng tiếng Trung.
+ Hiệp định dẫn độ.
+ Người TQ tự do tràn ngập, có cả khu tự trị của người TQ, người VN không được vào.
+ Mọi dự án quan trọng đều lọt vào tay TQ.
(Danh sách này vẫn còn chưa đủ, mời quý độc giả bổ sung)
Bây giờ, tôi mới quay lại chủ đề chính của bài viết: Thành Đô – Đặc khu – Sách trắng quốc phòng.
Như chúng ta đều biết, vào năm ngoái Luật đặc khu bị người dân phản đối kịch liệt. Người dân chả cần phải cao siêu gì người ta cũng đều nhận xét, ký luật đặc khu là bán nước. Và mọi người đều biết suy luận, đó là hậu quả của Thành Đô.
Tưởng chừng trước sức ép của người dân như vậy lãnh đạo Việt Nam cũng phải dè chừng trong câu chuyện đặc khu. Nhưng không, với bản chất của những kẻ tiểu nhân, chẳng bao giờ biết thành thật, chỉ biết dối trá, lừa dối cả chính nhân dân mình, họ đã đánh tráo khái niệm, thay đổi câu chữ, thay đổi quy trình, giữa tháng 11/2019, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã lấp liếm ký rất “nhanh lẹ”, “kín đáo” câu chuyện đặc khu.
Cùng với nó, Quốc hội VN, ngày 25/11/2019, đã thông qua luật sửa đổi cho phép người nước ngoài được miễn thị thực khi họ đến các “khu kinh tế đặc biệt trên biển”. Thật là một sự phối hợp “nhịp nhàng” và thông điệp cũng khá dễ để suy luận: Những đặc khu này chỉ là dành cho Trung Quốc.
Câu hỏi đặt ra là tại sao họ phải làm mọi cách để thông qua câu chuyện đặc khu một cách mau lẹ như vậy, câu trả lời chỉ có thể là, đặc khu là thành tố rất quan trọng trong quy trình quy tụ VN về với TQ và với sức ép từ phía TQ, nó không thể chần chừ thêm được nữa.
Như chúng ta đều biết, một hai tháng trước đây, câu chuyện TQ xâm phạm lãnh hải VN ở bãi Tư Chính đẩy quan hệ hai nước căng như dây đàn, tưởng chừng như sắp có chiến tranh đến nơi giữa VN và TQ. Nhưng rốt cuộc rồi mọi chuyện lại đâu vào đấy. Quan hệ hai nước lại quay về chỗ cũ như thể “chưa từng có một cuộc… ra tay”.
Tại sao lại như vậy? Rất khó hiểu và cũng rất dễ hiểu. Thông điệp dằn mặt, nắn gân của TQ với VN thì chỉ có người VN hiểu, hoặc phải cam chịu mà hiểu. Thông điệp phản đối, đáp trả của phía VN thì cũng rất “khôn khéo” chỉ đủ để cho người TQ hiểu là được. Tóm lại, VN đã rất hài lòng chấp nhận với chính sách “gác tranh chấp cùng khai thác” mà TQ từng đưa ra, có thể bỏ qua câu chuyện chủ quyền.
Những phản ứng của ngoại trưởng Phạm Bình Minh tại LHQ thực chất cũng chỉ để nhằm đối phó với nhân dân mà thôi. Đại diện phía TQ vẫn ngồi nguyên trong diễn đàn để nghe phản ứng của ngoại trưởng Phạm Bình Minh cơ mà. Phải chăng thông điệp chính thức của phía VN muốn gửi cho phía TQ đã đi đêm qua kênh khác rồi.
Kế tiếp, cũng trong ngày 25/11/2019, Bộ quốc phòng VN cho công bố sách trắng quốc phòng. Người quan sát tình hình, chả cần phải quá thông thái mới nhận ra rằng: Công bố sách trắng khẳng định chính sách 4 không lúc này là không đúng lúc. Trong khi TQ ngang ngược phản đối VN xâm phạm chủ quyền của TQ tại bãi Tư Chính, trong khi TQ đang làm hết sức, khiêu khích công khai, để khẳng định đường lưỡi bò của mình, thì VN lại ra sách trắng công khai tuyên bố chính sách 4 không, khẳng định không liên minh quận sự.
Tại sao từ chính sách ba không chuyển thành bốn không, chả có gì thật sự là mới mà VN lại phải ra sách trắng vào thời điểm này? Câu trả lời chỉ có thể là họ muốn chính thức chuyển một thông điệp làm yên lòng TQ: Chúng tôi chấp nhận không liên minh với Mỹ để chống TQ, Hiểu một cách khác, chúng tôi sẽ không làm gì với những tranh chấp chủ quyền mà TQ mới tuyên bố tại biển Đông, chúng tôi gác vấn đề chủ quyền để cùng TQ khai thác hưởng lợi tại biển Đông.
Cuối cùng, tại sao VN phải hối hả làm cùng một lúc một loạt những việc liên quan đến TQ như kiểu “cưới chạy tang” vào thời điểm cuối năm 2019 như vậy?
Câu trả lời dễ chỉ có thể là năm 2020 đã quá gần, sức ép ông chủ TQ ngày càng lớn. Những gì thuộc quy trình Thành Đô như: Đặc khu kinh tế trên biển, miễn thị thực, cam kết lời hứa năm xưa phải được thực hiện, để chứng minh sự trung thành với TQ.
Tóm lại, tôi và anh bạn của tôi thống nhất khẳng định: Nói về Thành Đô là nói đến việc, đảng cộng sản VN vì sự tồn tại của mình, đã lấy đất nước VN ra để ngã giá, đổi lại sự che trở của đảng cộng sản TQ.
Tôi đoán biết, các bạn tôi tại Bộ Ngoại giao, trước sau cũng sẽ đọc được bài viết này của tôi. Tôi thiển nghĩ, các bạn nên đưa những gì tôi viết ở trên ra mổ xẻ, phân tích, tìm ra lối tránh vết xe đổ mù quáng của lớp lãnh đạo trước đây.
Nếu để đất nước chìm sâu vào sự lệ thuộc TQ, chính các bạn là người có lỗi đầu tiên, như tướng Lê Mã Lương nhận định, vì các bạn là những người hiểu biết, tỉnh táo và sáng sủa nhất trong giới lãnh đạo hiện nay.
Đặng Xương Hùng
Cựu Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Thụy Sĩ
Nguồn: Báo Tiếng Dân https://baotiengdan.com/…/thanh-do-dac-khu-sach-trang-quo…/…

14 năm tù cho hai anh em về tội tuyên truyền chống Nhà nước
NẾU KHÔNG CÓ CHA ĐẮC LỘ, SỐ PHẬN CHỮ QUỐC NGỮ RA SAO?

Hoàng Mạnh Hà is with Vũ Xuân Tràng and 7 others.
NẾU KHÔNG CÓ CHA ĐẮC LỘ, SỐ PHẬN CHỮ QUỐC NGỮ RA SAO?
Một trong những luận điệu mà 12 “nhà nghiên cứu” đưa ra để phủ nhận vai trò của Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) là “Đắc Lộ không phải là người Âu châu đầu tiên học tiếng Việt, cũng không phải người đầu tiên sáng tác chữ Quốc ngữ…”. Nói như thế, nhóm 12 “học giả” (hầu hết từ đất Thần Kinh) có thể do hoặc không đọc sách, hoặc cố tình giả ngu để phủ nhận vai trò của Cha Đắc Lộ.
Nhóm 12 này còn cho rằng, “sở dĩ Đắc Lộ về sau này được lịch sử nhắc nhở đến nhiều, có lẽ không phải vì ông đã có công kiện toàn chữ Quốc ngữ cho bằng ông đã để lại hai quyển sách”.
Đây chính là mấu chốt của vấn đề. Các ông đang cố tình xem nhẹ việc xuất bản và công bố những cuốn sách bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên của Cha Đắc Lộ. Thử hỏi, nếu những cuốn sách đó không được xuất bản thì số phận của chữ Quốc ngữ sau đó sẽ ra sao?
Các tác phẩm xuất bản của Linh mục Đỗ Quang Chính, cũng là tu sĩ Dòng Tên, đã lý giải khá cặn kẽ vấn đề này. Đó là cuốn “Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659” và cuốn “Tản mạn lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam”.
Xin nói thêm, Linh mục Đỗ Quang Chính là tiến sĩ sử học ĐH Sorbonne, Pháp. Tuy nhiên, trên các sách của ngài, chúng ta sẽ không bao giờ thấy ghi học vị. Mà tôi thấy hầu hết các vị chân tu đều chẳng bao giờ in học hàm, học vị trên các trước tác, hoặc danh thiếp của họ.
NHỮNG CUỐN SÁCH QUỐC NGỮ ĐẦU TIÊN BỊ THẤT TRUYỀN
Trở lại chuyện chữ Quốc ngữ, chẳng những Cha Francisco de Pina là người học tiếng Việt đầu tiên, là thầy dạy tiếng Việt cho Cha Đắc Lộ mà ngài còn là đầu tiên soạn ra cuốn sách CHÍNH TẢ VIỆT NGỮ. Cuốn này Cha Pina viết tại Hội An khoảng năm 1622. Đến năm 1623, Cha Francisco de Pina lại viết cuốn NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT. Cuốn này viết tại Hội An hoặc Thành Chiêm.
Ngoài ra, còn khoảng ba cuốn sách do các giáo sĩ khác viết trong thời kỳ từ 1625 – 1642. Có cuốn thì viết ở Đàng Trong, có cuốn viết ở Đàng Ngoài.
Theo Cha Đỗ Quang Chính, sở dĩ chúng ta biết có những cuốn sách viết tay đã xuất hiện ở giai đoạn này là vì các tu sĩ Dòng Tên khi đi truyền giáo ở các nước, phải thường xuyên viết bản trường trình cho các bề trên ở Macao, Roma. Ngoài nội dung nói về công việc truyền giáo, các giáo sĩ cũng đề cập đến các tác phẩm của mình. Trong quá trình nghiên cứu, Cha Đỗ Quang Chính đã tìm tòi trong các văn khố và thư viện ở La Mã, Madrid, Lisboa, Paris, Lyon, Avignon nhưng rất tiếc là không tìm được những cuốn sách này.
Sau những tác phẩm trên, đến năm 1651 Cha Đắc Lộ đã cho xuất bản cuốn “Tự điển Việt – Bồ – La” và cuốn “Phép giảng tám ngày” bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên. Hai cuốn sách này được Bề trên cả Dòng Tên cho xuất bản tại La Mã. Ngày 2-10-1651, trong một phiên họp, các hồng y và Giáo chủ đã ra lệnh cho nhà in của Bộ Truyền giáo ngừng mọi công việc để in cho xong. Hai cuốn này về sau đã được dịch và xuất bản nhiều ở Việt Nam. Hiện nay, ở Nhà thờ Mằng Lăng, Giáo phận Qui Nhơn còn lưu giữ cuốn Phép giảng tám ngày, xuất bản đầu tiên tại La Mã.
NẾU CHA ĐẮC LỘ KHÔNG XUẤT BẢN…
Nếu hai cuốn sách của Cha Đắc Lộ không được xuất bản mà chỉ là bản viết tay như của Cha Pina hay các giáo sĩ kể trên, theo Cha Đỗ Quang Chính, có thể xảy ra các trường hợp sau:
– Bị tiêu huỷ hay nằm ở một xó nào đó, giống như hai cuốn Chính tả và Ngữ pháp của Cha Pina hay các cuốn sách của giáo sĩ khác.
– Ngày nay chúng ta không có một bản văn dài và Từ điển vào giữa thế kỷ XVII để biết được khá rõ về thời điểm khai sinh chữ Quốc ngữ. Cũng vì nhiều tài liệu của các tác giả khác không còn nữa nên chúng ta chỉ biết sơ sài tình hình chữ Quốc ngữ trước năm 1651.
– Sẽ làm chậm lại công cuộc bổ sung và phổ biến chữ Quốc ngữ. Nếu không xuất bản hai cuốn sách trên, chưa chắc năm 1659 Thầy giảng Bento Thiện đã soạn được tập Lịch sử nước An Nam chẳng những có rất nhiều giá trị về mặt ngôn ngữ mà còn về mặt lịch sử. Đằng khác, chưa chắc vào năm 1773 Đức cha Bá Đa Lộc cùng cha Phao-lô Nghị đã soạn xong cuốn Tự điển.
– Ngày nay không thể biết được công trình của Cha Đắc Lộ. Cha Đắc Lộ đã cho xuất bản nhiều sách khác về Việt Nam, nhưng nếu bỏ qua hai cuốn này thì ai dám đánh giá rất cao về mặt tiếng Việt của ông. Lúc ấy người ta chỉ coi ông là nhà truyền giáo số 1 ở Việt Nam vì nhiệt tình, can đảm, yêu mến, gắn bó với con người và xứ sở nơi ông phục vụ…
CÔNG BỐ CHỮ QUỐC NGỮ CHO CẢ THẾ GIỚI
Hai tác phẩm bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên được công bố tại Roma, trung tâm của Giáo hội Công giáo. Uy tín của Roma đối với châu Âu hồi đó nổi bật hơn ngày nay. Toàn thành phố Roma và các vùng xung quanh thời ấy là đất của Toà thánh, dưới quyền của Đức Thánh cha về thần quyền và thế quyền. Vì vậy, việc in ấn do Thánh bộ Truyền bá Đức Tin, rồi phát hành đi các nơi, mang ý nghĩa chính thức được Roma công nhận và đề cao.
Để công bố cho toàn thế giới biết công trình sáng tác chữ Quốc ngữ, Cha Đắc Lộ đã phải vượt qua bao khó khăn. Muốn có công trình này, ngoài tài năng về ngôn ngữ và kiên trì học hỏi, Cha Đắc Lộ còn phải nhờ đến công trình của các vị đi trước, đề cao công lao của người thầy Francisco de Pina và sự đóng góp của các thầy giảng người Việt nữa.
Công là vậy, mà nỡ sao các vị được cho là có ăn có học, hậu duệ của nước Đại Việt xưa, không những phủi tay mà còn bảo Đắc Lộ có tội!
(Còn tiếp)
HOÀNG MẠNH HÀ
——
Ảnh: Cuốn Phép giảng tám ngày, bản in chữ Quốc ngữ đầu tiên xuất bản tại Roma, hiện đang được lưu giữ ở Nhà thờ Mằng Lăng, Giáo phận Qui Nhơn
TĂNG MINH PHỤNG: THIÊN TÀI CHẾT BỞI NHÂN TAI
TĂNG MINH PHỤNG: THIÊN TÀI CHẾT BỞI NHÂN TAI
Một ngày đầu năm, tôi bước vào phòng bệnh viện chăm sóc người nhà. Vừa mới ngồi xuống giường thì một bà cụ tầm trạc hơn tám mươi ngồi ở giường đối diện phía trong nhìn tôi chằm chằm, đoạn bà buột miệng bằng một giọng quê Quảng Nam đã pha ít nhiều tiếng Sài gòn: “Tao nhìn mày có gương mặt hao hao thằng Minh Phụng hồi trẻ, hè!”. Tôi cứ tưởng bà bảo tôi giống nghệ sĩ Minh Phụng, nào ngờ bà chẹp miệng:
– Tội nghiệp thằng có tài mà vắn số, nó chết oan thay cho mấy ổng…
– Ẹc ẹc (lúc này tôi đã mường tượng ra Minh Phụng nào rồi)…
Lúc nhỏ tôi có nghe đến vụ án Minh Phụng – Epco rúng động cả Việt Nam thời bấy giờ. Báo chí còn thêu dệt nên một tay chơi Minh Phụng có tiếng khi sáng ăn sáng ở Singapore, chiều uống cà phê ở Hongkong đọc báo về bất động sản. Sau này trên đường run rủi, tình cờ tôi gặp nhiều người ngày trước mang ơn ông, những công nhân của ông, tôi mới biết đó là những điều hoàn toàn bịa đặt.
– Tội nghiệp thằng nhỏ, từ một tay giao hàng dầu ăn đã thành một ông chủ lớn nhưng vẫn lễ phép với người lớn mỗi khi về nhà. Nhà nó ở ngay sau nhà tao, ở đường Hoàng Diệu 2 nè – giọng bà lão chùng xuống – hôm người ta bắn nó là đem đi chôn luôn, không ai được đến gần…
Vừa lúc đó, chị con gái út bà bước vào. Bà lại bảo
– Nè, Trinh..nhìn nó giống thằng Minh Phụng he!
Cô con gái nhìn một hồi, lắc đầu:
– Hông giống!
– Trời, cái thằng Minh Phụng ở gần nhà mình đó mậy!
– Ờ, vậy mà con tưởng Minh Phụng nghệ sĩ!
Hic, bị quê xệ lần 2 😭😭
……
Sở dĩ cho đến bây giờ tôi mới nhắc lại vụ này vì còn phải tìm đọc nhiều tài liệu liên quan, càng đọc tôi càng ngậm ngùi cho một người tài hoa nhưng bạc mệnh. Nhưng không, cho dù là Bill Gates đi chăng nữa thì ở cơ chế này cũng không thoát khỏi kết cục như Minh Phụng. Lỗi của Minh Phụng là dám lớn, lớn hơn cái áo cơ chế, lớn hơn sự hiểu biết về kinh tế của các quan chức ở đất nước này – nơi mà pháp luật chỉ mang tính hợp thức hóa cho mục đích của một số người mà thôi.
Đành rằng việc Minh Phụng mất khả năng chi trả bằng tiền mặt cho Ngân hàng do khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới năm 1997, nhưng việc cho vay và thế chấp tài sản tương ứng để được vay là hoàn toàn hợp pháp. Nếu có sai, thì trách nhiệm phải thuộc về phía thẩm định tài sản do Ngân hàng trước khi cho vay, tại sao lại quy trách nhiệm cho người vay? Hơn nữa với khối tài sản gồm có “169 biệt thự, nhà ở, văn phòng các loại. Hệ thống nhà xưởng, kho hàng tại các khu công nghiệp có 78 cái với tổng diện tích hơn 1,2 triệu m2. Đất chuyên dùng hơn 2,6 triệu m2. Nhà đất của Minh Phụng và Liên Khui Thìn có mặt khắp nơi, từ TPHCM đến các tỉnh Lâm Đồng, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu…” thì nếu như định đúng giá thị trường, Minh Phụng hoàn toàn thừa khả năng chi trả các khoản nợ đã vay sau khi phát mãi; bằng chứng là với tài sản gồm biệt thự, văn phòng, nhà xưởng tại khu vực TP Hồ Chí Minh, phần lớn giá bán thực tế đều cao hơn rất nhiều so với giá Tòa án định khi xét xử. Riêng đối với các lô đất mà Minh Phụng đã lập các dự án tại khu vực Thủ Đức trước đây (nay thuộc quận 2), theo quy hoạch của TP Hồ Chí Minh, hầu hết số này nằm ở các vị trí rất đắc địa, lợi nhuận chắc chắn sẽ rất lớn. Do vậy, có ngân hàng được Tòa án giao cho một số lô đất tại khu vực quận 2, chưa cần phải triển khai xây dựng dự án, cũng không cần đầu tư hạ tầng, qua phiên đấu giá một lô thôi đã thu đủ toàn bộ số nợ trên 15 triệu USD, ngoài ra đơn vị này còn dư ra được số tiền và tài sản trị giá cả chục triệu USD. Thực tế khi xử lý tài sản thế chấp sau này cho thấy, các danh mục tài sản thế chấp là nhà xưởng, kho tàng tại các khu công nghiệp đều có giá khá cao, với thời gian thuê khoảng 40-50 năm, chỉ tính riêng tiền khai thác có ngân hàng đã thu được hàng trăm tỷ đồng. Nhưng trong phiên xét xử, vị luật sư bào chữa cho bị cáo đã phải ngậm ngùi thốt lên: “mỗi m2 đất được Tòa định giá bằng ba cây kem Tràng Tiền”!
…
Vậy thì mọi người có quyền đặt câu hỏi: phải chăng Minh Phụng phải chết để không còn ai kiện cáo số tài sản trên, để nó được “toàn dân sở hữu”?
Mấy hôm trước, đọc thông tin về tập đoàn Quốc Cường Gia Lai, thú thật tôi không ưa gì gã công tử này, cũng như các thủ đoạn làm ăn của họ, nhưng việc Nhà nước thu hồi phần BĐS đã bán cho họ thì một lần nữa cho thấy Nhà nước này làm ăn kiểu con nít, thích bán là bán, thích lấy lại là lấy lại! Mặc dầu trước đây họ gian dối hay hối lộ để quan chức bán cho họ với giá rẻ mạt đi chăng nữa thì với quy luật thị trường, khi anh đồng ý bán thì không có quyền gì tố người khác lừa gạt, có chăng là cái tội ngu và tham của cán bộ cần phải xử lý mà thôi! Muốn xử lý doanh nghiệp trên thì Nhà nước chỉ có thể xử lý tội hối lộ (nếu có). Chợt nhớ vụ bầu Kiên cũng vậy, trách nhiệm thuộc về Ngân hàng, họ có quyền thẩm định giá tài sản để cho vay hay không thì lại quy tội cho kẻ đi vay, ai ép anh? Nếu muốn bắt thì căn cứ vào việc có thu hồi được nợ để buộc tội người ta, kiểu thiếu nợ thì ở tù chứ sao lại can tội chiếm đoạt tài sản? Thế mới biết, kẻ cầm cương nảy mực còn không biết Pháp luật là gì, làm sao có thể hô hào người dân “sống và làm việc theo pháp luật”?
Suy cho cùng, Nhà nước ta chỉ thua lỗ khi làm ăn với nước ngoài thôi, còn làm ăn với dân thì đến bao giờ mới lỗ? Luật hả? Hãy điền vào chỗ trống …. những câu thích hợp! Dễ thôi mà…
Fb Nhật Huỳnh

12 tên tiến sỹ đứng dưới danh nghĩa nhà trí thức cộng sản ở Huế.
Hoang Le Thanh is with Phạm Thành.
12 tên tiến sĩ, trí thức cộng sản kiến nghị phản đối đặt tên đường:
– Alexandre de Rhodes và
– Francisco De Pina
hai ông TỔ của chữ QUỐC NGỮ VIỆT NAM:
Trước khi có chữ Quốc ngữ tiếng Việt bằng các mẫu tự Latin thì người Việt sử dụng âm Hán Việt, viết bằng Chữ Nôm
Chữ Nôm sử dụng các kí tự tiếng Hán của Tàu cộng.
Chúng nó che giấu mưu đồ ghê tởm: Hán hóa chữ Quốc ngữ, muốn nhanh chóng triển khai dạy tiếng Hán ở bâc Tiểu học.
———————–
12 tên tiến sỹ đứng dưới danh nghĩa nhà trí thức cộng sản ở Huế.
Danh sách 12 tên ký tên vào bản kiến nghị gởi lãnh đạo Thành phố Đà Nẵng đề nghị không đặt tên đường 2 “ông tổ” chữ Quốc ngữ là Alexandre de Rhodes và Francisco De Pina
.Danh sách:
1- PGS. TS. Lê Cung, đến từ Khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Huế.
2- Nhà Nghiên cứu lịch sử và văn hoá Nguyễn Đắc Xuân.
3- PGS. TS. Trần Thuận, nguyên Phó Trưởng khoa, khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh.
4- PGS. TS. Phạm Quốc Sử, Trưởng khoa lịch sử, Trường Đại học Thủ đô, Hà Nội.
5- PGS. TS. Nguyễn Tiến Dũng, nguyên Trưởng khoa Khoa Lý luận chính trị, trường Đại học Khoa học Huế.
6- PGS. TS. Trương Công Huỳnh Kỳ, nguyên Trưởng khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Huế.
7- TS. Phan Văn Hoàng, Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh.
8- Nhà Nghiên cứu Văn học dân gian: Trần Hoàng, Nhà giáo Ưu tú, nguyên Phó Trưởng khoa Văn, Trường Đại học Sư phạm Huế.
9- Ths. Hà Văn Lưỡng, nguyên Trưởng Khoa Văn, Trưởng Đại học Khoa học Huế.
10- Nhạc sĩ Chúc Linh ở TPHCM.
12- PGS. TS. Nguyễn Tất Thắng, Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Việt Nam, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Huế.
12- TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền, Giảng viên chính, khoa Lý luận chính trị, trường Đại học Khoa học Huế.
Ông tổ chữ quốc ngữ mở đường cho Pháp xâm lược Việt Nam?
Hoa Kim Ngo
Trả lời câu hỏi có phải các ngài là người mở đường cho Pháp xâm chiếm Việt nam?
Thứ nhất: Các ngài là các nhà truyền giáo của giáo hội Công giáo. Không thể đồng hóa việc truyền giáo với việc đi xâm chiếm thuộc địa. Lịch sử truyền giáo có từ thế kỷ thứ nhất. Các nhà truyền giáo đầu tiên là những người Do Thái. Từ Jerusalem truyền giáo đến tận Roma và các vùng lân cận. Rồi sau đó đi khắp thế giới. Vậy có bao giờ người Do Thái đi xâm chiếm Roma chưa? Họ có dọn đường cho nhà nước Do Thái đi xâm chiếm nước khác không?
Đế quốc Anh cũng đi xâm chiếm thuộc địa khắp nơi đấy. Một thời người ta nói “mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước Anh” vì thuộc địa của Anh ở khắp nơi trên thế giới. Rồi ngay đến thế kỷ 20, phát xít Nhật và Đức cũng đi xâm chiếm phần lớn các quốc gia khác đấy. Hỏi có nhà truyền giáo nào đến từ các quốc gia đó không?
Suốt dòng lịch sử, có hàng trăm hàng ngàn cuộc chiến tranh xâm lược thì cũng do các nhà truyền giáo đi dọn đường sao?
Đến tận hôm nay, chúng tôi là người Việt nam. Chúng tôi đang đi truyền giáo tại Nam Mỹ đây. Chúng tôi không đi dọn đường cho cộng sản việt nam đi xâm chiếm các nước Nam Mỹ đâu nhé?
Thứ hai về quốc tịch: Cha Alexandre de Rhodes sinh tại Avignon, quốc tịch The Papal States (754–1870). Nó là vùng đất nằm trên bản đảo Ý, dưới sự quản lý của Đức Giáo Hoàng. The Papal States tồn tại từ năm 754–1870.
Mãi đến năm 1791, tức là vào thời cách mạng Pháp, vùng đất Avignon mới thuộc về Pháp. Tức là 131 năm sau khi cha Alexandre de Rhodes qua đời. Ngài không phải là Người Pháp (France) đâu nhé. Hơn nữa cha Alexandre de Rhodes lại là Người Do Thái. Còn cha Francisco de Pina là người Bồ Đào Nha. Khi soạn từ điển thì cha Alexandre de Rhodes soạn từ điển Việt-Bồ-La (tiếng Việt, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng La Tinh) chứ không phải là Việt-Pháp-La đâu nhé.
Thứ ba về thời gian: nhà truyền giáo đầu tiên đến Việt nam vào năm 1533. Cha Alexandre de Rhodes đến Việt nam vào năm 1624 và ngày 03-07-1645 thì rời Việt nam vĩnh viễn. Đến ngày 5 tháng 11 năm 1660 thì ngài qua đời và được chôn cất tại Iran thuộc Trung Đông.
Còn cha Francisco de Pina thì đến Việt nam vào khoảng năm 1617 và ngài mất vào ngày 15-12-1625. Còn Pháp xâm chiếm Việt nam mãi đến tháng 8 năm 1858. Tức là mãi tới hơn 300 năm kể từ khi các nhà truyền giáo đầu tiên đến Việt nam và gần 200 năm sau khi các ngài qua đời.
Nếu nói các ngài là kẻ dọn đường cho Pháp xâm chiếm Việt nam khác nào khi thấy một vụ tai nạn trên đường thì cũng bảo là do một người nào đó từ hơn 200 năm trước đã đi qua và gây ra sao?
Sau cùng: các nhà truyền giáo chỉ là người đi rao giảng về Nước Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa thì không có biên giới. Nó là nơi để cho Thiên Chúa hướng dẫn, yêu thương và chăm sóc. Là nơi dạy cho con người biết sống vị tha, nối kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Là nơi hướng dẫn con người thực thi bác ái, tự do, và bình đẳng. Đồng thời, dạy cho người ta từ bỏ mọi thói hư tật xấu.
Còn nước của satan là nơi để cho satan ngự trị, nơi đó có sự hận thù, ích kỷ, dối trá, lợi ích nhóm, tham ô hối lộ, chia rẽ, đàn áp, độc ác, bất công.
Vậy ai có thể nói các ngài là những người dọn đường cho Pháp đến xâm lược Việt nam? Chỉ có những kẻ chịu sự ảnh hưởng của nền giáo dục tẩy não và nhồi sọ dối trá mới có thể nói như vậy mà thôi.
Còn về việc bách hại các nhà truyền giáo thì tồn tại từ thời Chúa Giêsu cho đến ngày nay. Vì nơi đâu có các nhà truyền giáo đến thì cũng sẽ có sự đụng độ với thế lực của vương quốc satan đang thống lãnh. Nước Thiên Chúa mở rộng thì nước satan bị thu hẹp. Kẻ nào làm đồ đệ cho satan thì sẽ vu khống, bách hại và bêu xấu các nhà truyền giáo.
Một thực tế cho thấy, những nơi chịu ảnh hưởng của nền văn minh Kitô giáo thì ngay cả khi phải chi tiền tỉ để được đến đó để được làm tôi mọi thôi, thì phần lớn những người sống dưới thiên đường xã hội chủ nghĩa cũng sẵn sàng.
Xin nói thêm là khi Pháp xâm chiếm Việt nam thì họ đã xây dựng nhiều trường học nổi tiếng, nhiều bệnh viện, lâu đài, đường sá, cầu cống, những công trình giao thông thủy lợi hiện đại, diện tích Việt nam được bảo toàn và mở rộng chưa từng thấy. Những công trình giao thông hiện đại như đường sắt lên Đà Lạt hay công trình thủy lợi tại Nghệ an, hiện nay người Việt vẫn chưa có khả năng và trình độ để sửa chữa khi có sự cố hư hỏng.
Còn khi trung quốc xâm chiếm Việt nam thì họ đã làm gì ngoài sự đàn áp và giết người.
Tôi viết không phải để tranh luận hay hộ giáo. Vì Kitô giáo đã tồn tại gần 2000 năm rồi và đang tiếp tục phát triển. Những nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới, tổng thống quyền lực nhất thế giới, người giàu nhất thế giới, tổng thư ký liên hiệp quốc… đều là Kitô hữu. Và những nước văn minh trên thế giới đều chịu ảnh hưởng của nền văn minh Kitô giáo.
Tôi viết nhằm giúp cho những người lương thiện hiểu rõ hơn về các nhà truyền giáo. Và đừng để ai bị tẩy não và nhồi sọ bởi những kẻ dã tâm chia rẽ giữa các tôn giáo, và giữa những người Kitô giáo và lương dân, để rồi tạo điều kiện cho tàu cộng xâm chiếm Việt nam một cách dễ dàng hơn.
Cho đến nay thì có hàng trăm hàng ngàn kẻ đang rắt tâm dọn đường cho trung cộng xâm lược Việt nam đó, sao không bắt mà nhốt hết đi cho quê hương được yên bình.
Nguồn: Linh mục. Phong Nguyên
CÔ DƯƠNG NÉM DÉP
CÔ DƯƠNG NÉM DÉP
Hôm nay “cô gái ném dép” Nguyễn Thùy Dương bị xe tông từ phía sau. May mà cô chỉ bị chấn thương phần mềm. “Cô gái ném dép”, “chiếc giày Thủ Thiêm”, hay “Tomadep” là những từ xuất hiện sau khi Dương ném thẳng một chiếc giày về phía bà Quyết Tâm, trong một cuộc tiếp xúc cử tri.
Gia đình Nguyễn Thùy Dương là nông dân gộc, có vài chục ngàn mét vuông đất ở xung quanh Thủ Thiêm. Rồi 41.000m2 bị cán bộ lấy, bây giờ là khu dân cư Cát Lái. Thích thì lấy, lấy mà không trả xu nào.
Nhà Dương lại có 9.135m2 ở Thạnh Mỹ Lợi, năm 2006 bị lấy làm trụ sở UBND quận 2 – trụ sở đẹp nhứt TPHCM – làm chỗ cho Tất Thành Cang và nhiều anh khác ngồi. Cũng không đền xu nào. Đúng ra là có đền. Nhưng người nhận là cán bộ, chứ không phải gia đình Dương.
Ba mẹ Dương nông dân học thấp, chỉ hết cấp 1, nên kêu Dương ráng học, cho đỡ bị ăn hiếp. Năm 2010 Dương đi học ở Singapore, với dự định học Luật, về tranh luật với Cang.
Cuối năm 2010, Dương về thăm nhà, rồi qua Ủy ban Quận 2 xin gặp Cang. Hai cán bộ bảo vệ nắm lấy cô bé 20 tuổi quăng thẳng ra cổng. Đau điếng.
Thấy cha mẹ bị ức hiếp, Dương… nghỉ học luôn.
Giờ nhà Dương vẫn còn 4.500m2 ở Bình Trưng Đông, chính quyền… không cho làm giấy tờ. Ở lậu cả nhà.
Họp dân, thấy bà Quyết Tâm nói nói, Dương chơi luôn quả TomaDep.
Hôm làm biên bản trả dép, anh cán bộ hỏi: “Cô đi du học, sao khai chỉ lớp 5?” Dương trả lời tỉnh rụi: “Đất bị lấy hết nên giờ tui mất trí nhớ. Hổng nhớ mình lớp mấy nữa…”.
Nhờ hồng phúc cán bộ, Dương thành dân oan. Nếu không bị lấy đất, có lẽ giờ Dương đã học xong và đang làm việc ở một xứ giãy chết nào đó…
Ở những cuộc tiếp xúc cử tri gần đây, cán bộ quận 2 luôn cố gắng để Dương không thể phát biểu. Nhưng không vì thế mà cô và những bà con mất đất ở quận 2 im lặng.
Họ đã đấu tranh suốt 20 năm qua. Và họ vẫn đang tiếp tục cuộc chiến đòi lại mái ấm của mình.
TRƯƠNG CHÂU HỮU DANH


‘Sư quốc doanh’ phán xét Alexandre de Rhodes ‘có tội nhiều hơn công với dân tộc Việt Nam’
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Hôm 23 Tháng Mười Một, Thượng Tọa Thích Nhật Từ đã gỡ bỏ một Facebook post trên trang cá nhân được xác nhận là của ông khiến mạng xã hội dấy lên chỉ trích: “Tin vui cho Việt Nam: Thành phố Đà Nẵng đã tiếp thu ý kiến, ngưng đặt tên đường cho hai Linh Mục Alexandre de Rhodes và Francisco de Pina. Khi Ủy Ban Nhân Dân thành phố Đà Nẵng lên kế hoạch đặt tên đường cho hai vị giáo sĩ Alexandre de Rhodes và Francisco de Pina, các nhà nghiên cứu đã gửi thư kiến nghị đến thành phố Đà Nẵng, yêu cầu ngừng đặt tên đường mang tên hai giáo sĩ có tội nhiều hơn công đối với dân tộc Việt Nam…”
Công luận cho rằng ông Thích Nhật Từ là nhân vật tiêu biểu của “sư quốc doanh” thời XHCN, không có đủ tư cách để buông lời phán xét nhà truyền giáo Dòng Tên Alexandre de Rhodes thuộc thế hệ tiền nhân, là người đã góp phần quan trọng vào quá trình truyền bá đạo Công Giáo tại Việt Nam và việc hình thành chữ Quốc ngữ.
Thích Nhật Từ được ghi nhận trụ trì tại chùa Giác Ngộ từ năm 1992, du học tại Ấn Độ năm 1994 và tốt nghiệp tiến sĩ triết học năm 2001.
Hiện ông ta trụ trì tại các chùa Giác Ngộ ở Sài Gòn và Vĩnh Long, chùa Vô Ưu ở Thủ Đức, chùa Tượng Sơn ở Hà Tĩnh và chùa Linh Xứng ở tỉnh Thanh Hóa.
Hồi năm 2010, Thích Nhật Từ được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (giáo hội quốc doanh) tấn phong lên hàng giáo phẩm thượng tọa sớm hơn ba năm so với quy định của hiến chương Giáo Hội Phật Giáo. Trong vô số các danh hiệu, bằng “tiến sĩ danh dự” của các trường đại học Thái Lan và Mỹ mà ông Thích Nhật Từ ghi trong lý lịch, người ta thấy có bằng khen do nguyên Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng trao tặng hồi năm 2008.

Cũng cần nhắc lại là tại quận 1, Sài Gòn hiện có đường Alexandre de Rhodes nằm cạnh Dinh Độc Lập và Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn. Tên đường này đã có từ trước 1975, nhưng sau đó bị nhà cầm quyền CSVN đổi thành Thái Văn Lung một thời gian. Theo tiết lộ của nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc trên trang cá nhân, cố Thủ Tướng CSVN Võ Văn Kiệt là người ra lệnh khôi phục tên đường Alexandre de Rhodes theo đề nghị của học giả Hoàng Xuân Hãn mà ông Kiệt có dịp gặp trong một chuyến thăm Pháp. (T.K.)







