S.T.T.D Tưởng Năng Tiến: Bác Trọng

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến: Bác Trọng

 Tưởng Năng Tiến

  • Tuong Nang Tien
    Anh đến thăm em đêm 30

    còn đêm nào vui bằng đêm 30
    anh nói với người phu quét đường
    xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em
    (“Anh Đến Thăm Em Đêm 30” nhạc: Vũ Thành An, thơ: Nguyễn Đình Toàn)Có lẽ đây là lần đầu tiên, và (không chừng) cũng là lần duy nhất, đám phu phen quét đường của miền Nam nước Việt được giới văn nghệ sĩ của vùng đất này (vô tình) đưa vào tác phẩm. Ở miền Bắc thì hoàn toàn khác, với chủ trương “văn nghệ công nông binh,” lớp người khốn cùng này được nhắc nhở đều đều, cùng với rất nhiều “ưu ái!”

    Chả những thế, sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng (Nam/Bắc hoà lời ca) một công nhân của Sở Vệ Sinh Thành Phố Hồ Chí Minh – bà Lê Thị Thêu – còn được Mặt Trận Tổ Quốc giới thiệu ra ứng cử để trở thành đại biểu Quốc Hội nữa cơ.

    Chỉ có điều đáng tiếc là nhân vật này hoàn toàn không có năng khiếu gì trong lãnh vực ăn mặc, cũng như ăn nói. Bà Thêu không biết ăn diện như bà Nguyễn Thị Kim Ngân, cũng chả dám ăn nói liều mạng như bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, và trông nhỏ thó dúm dó chứ không được cao lớn đẫy đà như bà Tòng Thị Phóng. Có thể vì những khiếm khuyết vừa kể nên công nhân Lê Thị Thêu chỉ được ngồi ghế đại biểu chỉ trong một khoá mà thôi.

    Le Thi Theu
    Lê Thị Thêu đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa VI (1976-1981)

    Từ đó, không có thêm một bà (hay ông) phu quét đường nào khác được Đảng “cơ cấu” vào quốc hội nữa. Nhà Nước, tuy thế, không quên sự đóng góp và vai trò quan trọng của giới người này. Theo nhận định của Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc (TPHCM) thì “đây là lực lượng quan trọng, là tai mắt đường phố, có thể góp phần giữ vững an ninh chính trị, phòng chống, phát hiện các đối tượng tệ nạn xã hội… được công an quận tập huấn một số kỹ năng như: hướng dẫn nắm bắt vụ việc, nhận diện hiện tượng, con người liên quan đến an ninh chính trị; về hoạt động băng nhóm hoặc nghi vấn đối tượng trộm cắp, cướp giật tài sản cũng như công tác bảo vệ hiện trường.”

  • Đã làm vệ sinh đường phố còn kiêm nhiệm luôn công việc của ngành an ninh tình báo, và bảo vệ hiện trường nữa thì quả là vô cùng vất vả. Để bù lại, trong dịp Xuân Kỷ Hợi vừa qua, các chị em quét rác đã được ông Nguyễn Phú Trọng ưu ái lì xì cho chút tiền sài tết. Nghĩa cử nhân ái, nhân văn, và vô cùng nhân hậu này của vị Chủ Tịch Nước – tiếc thay – đã không được tán dương mà còn có năm ba lời tiếng eo xèo:
    – FB Chánh Lê: “Ôi … những người quét rác đẹp xinh và sạch sẽ hơn cả diễn viên điện ảnh.”
    – FB Trần Thị Thảo: “Chỉ nhìn qua hình là biết: 2 em lao công là diễn viên đóng thế, 2 em vừa trẻ vừa xinh bởi biết trang điểm cho làn da, rồi nâng mũi, ặp long mi giả.”
    – FB Luân Lê: “Làm trò lố bịch để lừa cả ông Tổng bí thư.”
    – FB Đặng Thiện Chân: “Lừa cả TBT, chúng nghĩ ông ấy già quá không biết gì kkk.”
    – FB M T Vu Vu: “Đầu năm mới cụ Tổng bị chúng qua mặt.”
    – …

    Tôi e rằng vẫn có sự ngộ nhận rất trầm trọng, và vô cùng đáng tiếc về bác Trọng. Người không lú lẫn, và không dễ bị lừa lọc hay qua mặt như vậy đâu. Nguyễn Tiến Dân, một ngòi bút sắc sảo và khả tín, nhận xét như sau:

    “Trước hết, phải khẳng đinh một điều: Nguyễn Phú Trọng, là một con người vô cùng nhân hậu. ‘Kính trên – nhường dưới’, là cái điều, ông luôn khắc sâu trong lòng. Vinh quang và thiêng liêng, có gì sánh được với Nghĩa vụ Quân sự? Ấy thế mà, ngài cũng lui xuống phía sau, để nhường nó cho những kẻ kém hiểu biết và hiếu danh khác. Không biết đi ắc ê, cũng chưa từng ngửi mùi thuốc súng. Tuy vậy, ngài vẫn giành được chức Chính ủy của toàn Quân. Không dừng ở đó, ngài còn giành tiếp được chức Chủ tịch Nước. Hiển nhiên, thâu tóm nốt quyền Tổng Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang. Quá quắt hơn, lại nhảy tiếp vào Đảng ủy Công an Trung ương, để nắm và chỉ đạo nốt công việc nội trị. Gian hùng như Lê Duẩn, cũng không có nổi 1 trong 3 cái chức ấy và suy rộng ra, trên thế gian này, cũng chưa có ai dám nghĩ, chưa có ai dám làm và chưa có ai làm được cái điều như thế.”

    Một người “quá quắt” tới cỡ đó e khó mà bị đám hậu sinh lường gạt. Tui còn nghi là chính bác Trọng là là đạo diễn cái vụ gửi thư cho cô giáo cũ hồi cuối năm rồi. Còn cái vụ lì xì đầu năm nay, không chừng, cũng là sáng tác riêng của thằng chả chớ còn ai vô đó nữa.

    Cả hai vụ “diễn” này tuy rất vụng và ngó hơi chướng mắt thiệt nhưng nói nào ngay thì cũng không có gì là sai quấy lắm. Bác Trọng, chả qua, chỉ sống và học tập theo gương của bác Hồ thôi:

    “Một lần tôi quay cảnh ông thăm đồng bào nông dân ở Hải Dương, mùa hè năm 1957. Sáng sớm hôm ấy trời mưa to, trên đường còn lại những vũng nước lớn. Đến một đoạn đường lầy lội ông tụt dép, cúi xuống xách lên. Trong ống ngắm của máy quay phim tôi nhìn rõ hai bên vệ cỏ không bị ngập. Tôi chợt hiểu: ông không đi men vệ đường bởi vì ông muốn chưng đôi dép. Vì lòng kính trọng đối với ông, không muốn rồi đây người xem sẽ nhận ra trên màn ảnh lớn diễn xuất lộ liễu, tôi tắt máy. Nghe tiếng cái Eymo 35 đang kêu xè xè đột ngột im tiếng, ông ngẩng lên nhìn tôi, nhưng ngay đó ông hiểu ra” (Vũ Thư Hiên. Đêm Giữa Ban Ngày. California: Văn Nghệ, 1997).

    Diễn là động tác tự giác, và tự nhiên, của cả nước chứ chả phải riêng ai:
    “Khoảng hai trăm tù binh phi công Mỹ xếp hàng đầy hết lòng đường đi tới. Quần áo bà ba mầu xám khói nhạt. Tôi giật mình: tất cả đoàn người bị trói kia sao quá giống hệt nhau? Ở chiều cao, ở khổ người, ở dáng đi, ở nét mặt, ở tư thế và thần thái. Lầm lũi ngửng đầu nhìn thẳng vào cái không gian bao quanh đằng đằng sát khí và tiếng la ó…

    Dân hai bên đường hò hét, đánh đấm, ném đá. Những cái đầu tù binh quay ngoắt tránh đá, tránh đấm rất nhanh. Những con mắt không một lúc nào cầu van, nao núng…

    Ba chúng tôi đứng lặng trên hè. Tương quan sức mạnh quá chênh nhau tự nhiên làm se lòng. Đoàn tù binh đã đến đoạn cuối, chợt Tô Hoài nhào xuống đường, nhảy vội lên đấm một cái trượt vào mặt một người tù binh đi ở ngoài cùng.

    Anh trở lại, tôi hỏi khẽ:
    – Đánh người ta làm gì?
    – Xung quanh căm thù như thế chả lẽ ba đứa mình đứng yên? ” (Trần Đĩnh. Đèn Cù, tập I. Người Việt, Westminster, CA: 2014).
    Theo bà Nguyễn Thị Kim Thanh – Trưởng Phòng GD, Sở GD-ĐT TPHCM – cho biết: “Tính ra, thu nhập của giáo viên mầm non còn thua cả người giúp việc!” Giới giáo chức sống thảm hại đến thế thì bác Trọng tiếc gì vài dòng bút mực mà không “vẽ” một cái thư cho cô giáo cũ. Báo Giáo Dục Thời Đại mô tả đây là “Bức thư được viết tay bằng mực xanh, rất ngắn gọn, giản dị nhưng sâu sắc và ân tình như chính con người của Tổng Bí thư vậy.” Nhà báo Bùi Hoàng Tám “tám” thêm:

    “Việc làm của TBT, Chủ tịch nước cũng là lời động viên, chia sẻ với các thầy, các cô, dù cuộc sống còn không ít khó khăn trong thời điểm tết đến, xuân về…khi đất nước được lãnh đạo bởi một người có nghĩa, có tình, có đạo lý thì đó là khi vận nước đang lên!”
    Thật là qúi hóa!

    Tương tự, bác Trọng cũng chả tiếc gì mấy đồng bạc lẻ để lì xì cho mấy cô công nhân quét rác. Từ bác Hồ đến bác Trọng, bác nào cũng chỉ lừa thiên hạ mà thôi chứ làm gì có chuyện ngược lại bao giờ. Vẫn còn giữ ảo tưởng về qúi bác thì còn bị đè đầu, cưỡi cổ là chuyện tất nhiên, không có gì oan uổng cả.

‘Mạ Thủ,’ những tay chửi mướn chuyên nghiệp

‘Mạ Thủ,’ những tay chửi mướn chuyên nghiệp

Huy Phương

Số đông dư luận viên làm việc ẩn danh và giấu mặt. (Hình minh họa: Getty Images)

Đọc truyện Tàu, Tam Quốc Chí hay Hán Sở Tranh Hùng, người đọc không thể không biết tới một thứ quân đặc biệt luôn luôn có trong bất cứ một đội quân nào của những phe phái khác nhau. Người xưa khi đem quân vây thành địch, mà địch quân trong thế yếu không dám mở cửa thành xung trận, thì họ chọn ra những sĩ tốt có buồng phổi to, tiếng nói khỏe và đặc biệt là có sở trường về những chuyện chửi bới, bẩn thỉu, tục tĩu nhất ra trận.

Cánh quân này có khi trần truồng, đứng trước cửa thành địch mà chửi rủa. Đám quân này được gọi là “mạ thủ” (những tay chửi,) ra trận không dùng đao thương, chỉ dùng mồm to mà chửi bới, thóa mạ kẻ địch, gọi ông cha tổ tiên của các tướng lãnh phe địch ra mà réo; một thứ chiến tranh tâm lý, chọc giận quân địch, khiêu khích… khiến cho địch hoang mang, mất khôn mà mở cửa thành trong khi hoàn cảnh chưa hẳn là thuận lợi. Lẽ cố nhiên, quân “mạ thủ” luôn đứng ở trận tiền, sát thành địch, trong tay lại không có vũ khí, nên khi xung trận, là những quân sĩ chết đầu tiên.

Mạ thủ ngày nay không ra mặt và mang một cái tên khác: “dư luận viên!”

Đây là nhóm người phục vụ cho đảng, gọi là chuyên nghề định hướng dư luận trong nhân dân theo chiều có lợi cho đảng, nhưng nói nôm na là xung trận chửi không tiếc lời những ý kiến, bài vở biên tập trên mạng không có lợi cho đảng và chính phủ của họ. Chúng không lèo lái được dư luận, nhưng dùng kỹ thuật “cả vú lấp miệng em” đánh phá địch thủ, nấp sau nhưng tên tuổi giả, tràn đầy, dày đặc để tạo cho quần chúng cái ý nghĩ là dư luận này nghiêng về đa số.

Theo một tài liệu của nhà văn Trần Trung Đạo mới đưa ra đây, ông đã nói về một lực lượng “dư luận viên” có tổ chức quy mô ở Trung Cộng: “Tại Trung Cộng, dư luận viên không chỉ chịu sự kiểm soát của Ban Tuyên Truyền Trung Ương (Việt Nam gọi là Ban Tuyên Giáo Trung Ương) về các chính sách chung của đảng Cộng Sản mà mỗi bộ trong chính phủ Trung Cộng cũng có các dư luận viên riêng để phục vụ cho chính sách riêng của bộ có trách nhiệm trả lương cho dư luận viên này.

Tháng Giêng, 2007, Hồ Cẩm Đào chỉ thị “tăng cường việc xây dựng mặt trận dư luận và tư tưởng” trong hội nghị Bộ Chính Trị lần thứ 38. Đáp lại chỉ thị của họ Hồ, một đội ngũ các “cán bộ có phẩm chất chính trị cao” tức đội ngũ dư luận viên được chính thức thành lập theo quyết định của Ban Chấp Hành Trung Ương đảng và Hội Đồng Nhà Nước.

Sở Giáo Dục Trường Sa, tỉnh Hồ Nam được biết như là cơ quan sớm nhất tuyển dụng dư luận viên vào năm 2004.

Theo Zhang Lei viết trên Global Times Tháng Hai năm 2004, cơ quan giáo dục tỉnh Cam Túc tuyển dụng bình luận viên một cách công khai. Lực lượng 650 dư luận viên tỉnh Cam Túc chỉ có một việc phải làm là ngồi đọc hết các bình luận của độc giả dưới các bài viết hay trong các diễn đàn Internet và phản biện lại đúng với đường lối của đảng, làm lạc đề hay nếu cần viết các nhận xét tiêu cực, chụp mũ, bêu xấu để chấm dứt dòng bình luận được độc giả trước đó đưa ra.

Năm 2011, trong một bài báo trên The Sydney Morning Herald, nhà báo Pascale Trouillaud tố cáo Trung Cộng tuyển dụng gần nửa triệu dư luận viên làm việc một cách xảo quyệt nhưng hữu hiệu để bảo vệ đảng Cộng Sản. (Trần Trung Đạo- Đảng 50 xu -Dư Luận Viên tại Trung Cộng.)

Hiện nay, CSVN Việt Nam đã theo gương Bắc Hàn và Trung Cộng thành lập đơn vị 47 mở cuộc chiến tranh trên Mạng với 10,000 dư luận viên. Những bài viết của người Việt hải ngoại trên youtube thường bị tràn ngập bởi hàng ngàn lời bình phẩm chửi bới. Những đài truyền hình có tinh thần quốc gia, tổ chức thiện nguyện gây quỹ cho thương binh VNCH, các tổ chức xiển dương ưu điểm của chế độ VNCH đều bị đánh phá, vùi dập, gây ra những cái nhìn lệch lạc trong cộng đồng tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại. Chủ trương của loại tuyên truyền này là “nói mãi cũng phải tin, nhiều người nói đáng tin hơn một vài người.”

Hiện nay, trên Internet, cứ sau một youtube hay một bài báo được đưa lên có chiều hướng bất lợi cho chính thể trong nước, thì hầu như có hàng trăm “comment” bâu lại, như đàn cá tra trong cầu cá, chửi rủa không tiếc lời. Chúng vào comment với những cái tên thay đổi, lạ lẫm, nặc danh, nhưng chỉ đọc qua, chúng ta đã biết ngay chúng là ai?

Nhìn chung là lớp dư luận viên này phần lớn là vô học, không hiểu biết, thiếu lý luận, nên chỉ biết chửi rủa một chiều, không có sức thuyết phục, không có khả năng tranh luận, phân tích điều đúng, sai. Thay vì ôn tồn với chữ nghĩa, bàn luận thiệt hơn, thì dám dư luận viên trong và ngoài nước này, chỉ muốn đánh phủ đầu người khác với ngón đòn hạ tiện. Những danh từ quen thuộc chúng hay dùng để mạ lỵ, xỏ xiên người khác, nghe đến nhàm chán như “ba que,” “đu càng,” “tụt quần,” “bám đít Mỹ…”

Chỉ tiếc là những thứ chúng mạt sát như “ba que,” “đu càng,” “tụt quần,” “bám đít Mỹ…” là những thứ hiện nay, trong nước đang muốn phục hồi, vì nó là những thứ tinh hoa mà hơn 40 năm nay, chế độ trong nước đã đánh mất không tìm lại được, trong khi người dân thì tiếc đã đi qua một thời đại vàng son, không bao giờ tìm lại được, nếu bất hạnh, Cộng Sản còn thống trị đất nước như hôm nay!

Là người làm truyền thông, nguyên là một người lính của miền Nam Việt Nam, đã từng ở trong trại tập trung của Cộng Sản, từng sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, có kinh nghiệm sống và thấy hết những sự dã man hay gian trá của chế độ và con người Cộng Sản, tôi vẫn tâm nguyện dùng ngòi bút để viết hay nói lên những điều tồi tệ của chế độ này và nỗi thống khổ và mất quyền con người trong chế độ.

Thay vì, nhận được những ý kiến phân tích hay thậm chí, nếu là biện bạch của những dư luận viên phe Cộng, thì chúng tôi thường trực nhận những lời chửi rủa không liên quan gì đến những ý kiến chúng tôi đã nêu ra, mà chỉ là những lời rủa vu vơ nhắm vào cá nhân tác giả như “thằng già gần đất xa trời,” “mắc dịch,” “tâm lý chiến hết thời!” và không quên thêm những tiếng “ba que,” “tụt quần” như thường lệ!

Nhưng xét cho cùng, những bài viết, những câu chuyện, ý kiến bị các dư luận viên bâu vào, chửi bới nhiều nhất, thì đó là những tài liệu xác đáng, có khả năng đánh thẳng vào chế độ, khiến cho chúng phải sợ hãi. Vậy thì khi một bài báo được đưa lên net, bị các dư luận viên xúm vào đánh phá hung hãn nhất, thì bài tham luận đó coi như đã thành công.

Bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, là một nhà đấu tranh về môi trường, tham gia vào các hoạt động biểu tình phản đối Formosa, đòi chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam, đã bị bắt giam từ Tháng  Mười, 2016 vì tội tuyên truyền chống Nhà Nước CHXHCN Việt Nam và bị kết án 10 năm tù, theo Điều 88 Bộ Luật Hình Sự.

Năm 2010, bà được trao giải Hellman/Hammett của Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền.

Năm 2015, bà được trao giải Người Bảo Vệ Quyền Dân Sự của Tổ Chức Civil Rights Defenders.

Năm 2017, bà được trao giải Phụ Nữ Dũng Cảm Quốc Tế của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.

Tháng 6/2018, blogger Mẹ Nấm đoạt giải Tự Do Báo Chí Quốc Tế của Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả và được đề cử giải Nobel Hòa Bình.

Được sự can thiệp của Đệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ, Mẹ Nấm đã được phóng thích khỏi nhà tù ở Thanh Hóa và rời khỏi Việt Nam vào trưa ngày 17 Tháng Mười, 2018.

Ngày 7 Tháng Mười Một, 2019, với tư cách là nhân chứng sống của tội ác Cộng Sản Việt Nam, blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã được mời vào Tòa Bạch Ốc, cùng với 4 chứng nhân khác từ các quốc gia Ba Lan, Cuba, Venezuela, và Bắc Hàn, để trình bày trực tiếp với TT Trump về những kinh nghiệm hãi hùng mà họ đã từng trải qua dưới sự thống trị dã man của xã hội chủ nghĩa. Tại đây, Mẹ Nấm đã có một bài phát biểu bằng Anh Ngữ lưu loát và và hùng hồn lên án chế độ Cộng Sản.

Tất cả những vinh dự và hoạt động của Mẹ Nấm đều làm bỉ mặt Hà Nội, và tất nhiên bị Bộ Ngoại Giao CSVN lên án, nhất là sau khi bà được tổng thống Hoa Kỳ tiếp kiến và sau bài phát biểu nhân ngày Tưởng Niệm Các Nạn Nhân Cộng Sản Trên Toàn Thế Giới, bà bắt đầu bị bọn “mạ thủ” chụp mũ và bêu rếu.

Mới đây thôi, trên Internet loan truyền một bài viết lên án Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là loài “nấm đỏ, nấm độc,” “hình mẫu của loài nhộng đỏ được cài cắm vào Việt Tân.”

Không ai lạ gì với lối đánh “chiến thuật biển người” của sư đoàn dư luận viên, nghĩa là chúng ta sẽ thấy Cộng Sản dốc toàn lực đánh, chửi những nhân vật đối kháng và những gì đang làm chúng sợ hãi.

Như vậy, chúng ta nên phải tiếp tục lên tiếng hay hành động những gì mà Cộng Sản đang lo sợ! (Huy Phương)

Nữ phó phòng ở Cà Mau du học Úc rồi trốn lại


Nữ phó phòng ở Cà Mau du học Úc rồi trốn lại

Ngày 21 Tháng Mười Một, 2019, xác nhận với báo Người Lao Động, ông Nguyễn Trường An, chi cục trưởng Chi Cục Biển và Hải Đảo tỉnh Cà Mau, cho biết bà Dương Hồng Thắm, phó Phòng Quản Lý Tổng Hợp Tài Nguyên Môi Trường Biển, “đi du học ở ngoại quốc quá hạn cho phép vẫn chưa về đơn vị nhận nhiệm vụ.”

Giá trị của Việt Nam Cộng Hòa

SỰ THẬT MÃI TRƯỜNG TỒN…

Giá trị của Việt Nam Cộng Hòa

TRẦN TRUNG ĐẠO

Từ 1954 tại miền Bắc và sau 1975 trên phạm vi cả nước, bộ máy tuyên truyền của đảng CS đã không ngừng vẽ trong nhận thức của bao nhiêu thế hệ Việt Nam một VNCH chẳng khác gì một con ma, ghê sợ, hung dữ và tội lỗi nhất trong thế gian này. VNCH là hiện thân của mọi thứ tội ác. Trong nhận thức không chỉ tuổi trẻ Việt Nam sinh sau 1975 mà ngay cả các tầng lớp cán bộ, đảng viên, nhà văn, nhà thơ thì VNCH có ba đặc điểm lớn là “tham nhũng”, “trấn áp” và “ôm chân đế quốc Mỹ”.

Trong tiểu luận “Khám nghiệm một hồn ma” trên Talawas hơn mười năm trước người viết đã có dịp phân tích thể chế cộng hòa tại miền Nam. Xin trích một phần bài viết đó ở đây để chia sẻ với các độc giả chưa đọc.

Miền Nam trước 1975 có tham nhũng không? Có.

Miền Nam có đàn áp biểu tình, đối lập không? Có.

Miền Nam trước 1975 có lệ thuộc vào viện trợ Mỹ không? Có.

Nhưng các đặc điểm đó có đại diện cho Việt Nam Cộng hoà (VNCH) không? Không.

Cho đến nay, một số người hoặc vì không có cơ hội nghiên cứu sinh hoạt chính trị tại miền Nam, không phân biệt được sự khác nhau giữa chính quyền và chế độ chính trị hoặc vì nghe riết những lời tuyên truyền của đảng đến độ nhập tâm, đã đồng hoá chính quyền của các ông Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh với VNCH.

Như một viên ngọc nằm trong lòng lớp rong rêu của vỏ con trai, trên tất cả, giá trị đích thực của VNCH không nằm trong tham nhũng, trấn áp và đồng đô la Mỹ mà nằm trong Hiến pháp VNCH đặt nền tảng trên một thể chế dân chủ do dân và vì dân.

Lời mở đầu của Hiến pháp 1967 do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967, xác định Việt Nam là một chế độ cộng hòa “Dân chủ độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân” phát xuất từ:

“Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.”

Ngoài phần mở đầu hùng hồn nêu trên, chuyên chở trong suốt 9 chương và 117 điều của Hiến pháp 1967 là nền tảng của chế độ cộng hòa, qua đó, quyền lãnh đạo đất nước như chỉ rõ trong điều 3, được phân quyền rõ rệt: ”Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự do, Dân chủ và Công bằng xã hội”.

Hiến pháp 1967 tốt đẹp đến nỗi ông Lý Quý Chung, trong Hồi ký không tên, xuất bản tại Sài Gòn trước ngày ông qua đời, dù chê bai các chính quyền miền Nam tàn tệ, cũng không thể nói xấu bộ luật tối thượng của chế độ cộng hoà như một diễn đàn để ông ta thực thi dân chủ: “Quốc hội lập hiến kéo dài một năm đã cung cấp cho tôi một môi trường học tập đấu tranh chính trị tại nghị trường và từ diễn đàn này, tôi cũng có cơ hội bày tỏ công khai qua mạng lưới báo chí Sài Gòn các quan điểm của mình đối với chính quyền, đối với các vấn đề dân chủ, chiến tranh, hoà bình v.v…”

Về căn bản, không có nhiều khác biệt giữa Hiến pháp VNCH 1967 và Hiến pháp Nam Hàn 1948 được tu chỉnh lần cuối vào năm 1987. Cả hai hiến pháp đều dựa trên chế độ cộng hoà, phân quyền rõ rệt, thích hợp với đà tiến hoá của văn minh nhân loại.

Dân chủ không phải là món quà của ông thần tài đem đặt ngay trước cửa nhà mà là chiếc máy lọc từ nước đục sang nước trong, từ phong kiến lạc hậu đến văn minh tiên tiến, và trong quá trình đó hai quốc gia VNCH và Nam Hàn, đều phải trải qua những kinh nghiệm máu xương trên con đường dân chủ hoá đất nước. Giống như người dân Nam Hàn, người dân miền Nam Việt Nam cũng vừa học dân chủ và vừa tập sống dân chủ với tất cả những khó khăn thử thách.

Điểm khác nhau chính giữa Nam Hàn và Nam Việt Nam là cơ hội.

Nam Hàn có cơ hội để biến những ước mơ của dân tộc Triều Tiên gói ghém trong hiến pháp của họ để ngày nay là nước giàu mạnh nhất nhì châu Á. Miền Nam Việt Nam thì không. Chế độ cộng hoà tại miền Nam Việt Nam ra đời và lớn lên trong một hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc, trong đó các nguyên tắc dân chủ đã trở thành con dao hai lưỡi. Chính con dao dân chủ hai lưỡi đó đã đâm vào thân thể của chế độ cộng hoà hàng trăm vết thương đau đớn từ ngày mới ra đời cho đến gục xuống trong tức tưởi.

Ngay cả những quốc gia tiên tiến như Pháp, Mỹ cũng phải bước qua con đường đầy máu nhuộm để có được nền dân chủ như hôm nay.

VNCH cũng vậy. Miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính.

Nếu trước 1975, vì thiếu cái nhìn về cả hai bên của cuộc chiến và bất mãn trước xã hội nhiễu nhương, việc kết án chính quyền là “trấn áp” có thể còn thông cảm được, thế nhưng sau 42 năm sống dưới chế độ độc tài đảng trị vẫn có kẻ biện minh cho hành động đốt xe, bắt cóc, ném bom xăng vào thương xá, ném lựu đạn vào nhà hàng ăn uống trước đây thì quả thật là vô cảm.

Đặc điểm thứ ba đảng tuyên truyền là miền Nam chỉ biết “ôm chân Mỹ”.

Thật mệt mỏi nếu lại phải lần nữa đem so sự lệ thuộc vào Mỹ của chính quyền miền Nam và sự lệ thuộc vào Liên Xô, Trung Cộng của đảng CSVN và cũng chẳng sướng ích gì khi phải đọc lại bảng kê khai vũ khí, quân trang, quân dụng mà hai đế quốc cộng sản đổ xuống Việt Nam.

Cho dù sự lệ thuộc vào cường quốc là điều không tránh khỏi trong thế giới phân cực của thời kỳ Chiến tranh Lạnh vừa qua thì chọn lựa cường quốc nào sẽ mang lại nhiều lợi ích cho đất nước hơn?

Lịch sử đã chứng minh một cách hùng hồn, hầu hết các nước chọn lựa hay do điều kiện chính trị thế giới đẩy đưa, đã đứng về phía tự do dân chủ như Nhật Bản, Tây Đức, Nam Hàn, Đài Loan, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ v.v. đều trở nên các quốc gia ổn định và phát triển nhờ chính sách đối ngoại thân Mỹ một cách khôn khéo, trong lúc các nước theo chân Liên Xô, Trung Cộng như Bắc Việt, Cu Ba, Bắc Hàn thì kết quả ra sao không cần phải phân tích.

Không ai từng chống Mỹ quyết liệt hơn cố tổng thống Anwar Sadat nhưng để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân Ai Cập, năm 1976, ông đã bỏ đồng minh Liên Xô để bước sang phía thế giới tự do cho dù ông biết trước sự chọn lựa đó có thể trả giá bằng nhiều rủi ro như ông tiên đoán trong diễn văn đọc trước Quốc hội Israel ngày 20 tháng 11 năm 1967.

Một số người có thể cho rằng Hiến pháp VNCH cũng do người Mỹ nhúng tay vào. Dù điều đó đúng thì đã sao. Hiến pháp của quốc gia Nhật Bản hiện đại cũng do bàn tay của Mỹ nhưng ngày nay tướng McArthur chẳng những không bị oán ghét mà còn được nhân dân Nhật xem như là một trong những người có công lớn trong việc xây dựng nước Nhật hiện đại.

Dân chủ là một kỳ quan được nhân loại bồi đắp qua nhiều thời đại chứ không phải là tài sản riêng của quốc gia nào.

Học hỏi cái hay cái đẹp của các nước tiên tiến để áp dụng vào cuộc cách mạng dân tộc và phát triển đất nước như cụ Phan Chu Trinh từng thống thiết kêu gào gần trăm năm trước, luôn luôn là điều đáng khuyến khích.

Phân tích để thấy, chế độ cộng hoà tuy không còn hiện diện tại miền Nam nhưng các giá trị dân tộc, nhân bản và khai phóng thể hiện trong Hiến pháp VNCH vẫn còn đó. Gia tài quý giá đó chẳng những không rã mục theo chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, Dương Văn Minh mà ngày nay đã vượt ra khỏi biên giới Bắc Nam để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc.

Nếu ai cho người viết cường điệu hãy tạm gác qua bên các định kiến Bắc Nam, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hoà trên trang đầu của Hiến pháp mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung của Hiến pháp VNCH 1967 thôi, người đọc sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến.

Việc lặp lại những lời tuyên truyền cũ mèm của đảng cho rằng chế độ cộng hoà tại miền Nam là “sản phẩm do chính quyền Mỹ tạo ra trong Chiến tranh Lạnh” chẳng khác gì chê lớp rong rêu ngoài vỏ một con trai.

Hiến pháp VNCH có thể chưa hoàn chỉnh nhưng là một văn kiện tham khảo cần thiết để kiến tạo một Việt Nam dân chủ cường thịnh. Hạt giống dân chủ khơi mầm tại miền Nam cũng không chỉ bắt đầu sau khi đất nước bị chia đôi mà đã có từ hàng trăm năm trước.

Lợi dụng chính sách Nam kỳ tự trị của thực dân, các nhà cách mạng tại miền Nam có cơ hội học hỏi và áp dụng phương pháp đấu tranh nghị trường, tiếp cận các tư tưởng dân chủ Tây phương, mở mang dân trí làm nền tảng cho chế độ cộng hoà sau này.

Đó không phải là sản phẩm của Tây hay Mỹ mà là vốn quý của dân tộc đã được đổi bằng mồ hôi nước mắt của nhiều người. Những ai biết gạt bỏ định kiến Bắc Nam, gạt bỏ lòng “căm thù Mỹ Ngụy”, sẽ thấy đó chính là hành trang cần thiết cho nỗ lực mưu cầu một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau.

Tiếc thay, viên ngọc và viên sỏi khác nhau khi nằm trong tay người thợ bạc nhưng lại giống nhau khi nằm trong tay mấy cậu bé bắn chim.

Do đó, phục hưng VNCH không có nghĩa là phục hưng chính quyền miền Nam. Chính thể không đồng nghĩa với một chính quyền và do đó không sống hay chết theo một chính quyền.

Giá trị của VNCH được xây bằng xương máu của bao nhiêu người và ngày nay đã vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc.

Lịch sử Việt Nam như một dòng sông, có khi cuồn cuộn lúc âm thầm, có chỗ sâu chỗ cạn nhưng chưa bao giờ ngưng chảy.

Đó là sự thật. Khoảng thời gian từ khi Mã Viện, danh tướng nhà Đông Hán, đánh bại Hai Bà Trưng (năm 43) đến khi Lý Nam Đế đánh bại quân Lương Vũ Đế và dựng nước Vạn Xuân (năm 543) là tròn 500 năm. Biết bao nhiêu lớp người đã sinh ra và chết đi trong suốt 5 thế kỷ sống trong bóng tối nô lệ nhưng sức sống Việt Nam vẫn tồn tại và lớn lên.

Đối mặt với một kẻ thù Trung Cộng đông hơn nhiều và mạnh hơn nhiều, chưa bao giờ sức mạnh tổng hợp của 90 triệu người Việt trong nước và 3 triệu người Việt ở hải ngoại cần thiết như hôm nay.

Chỉ có sức mạnh toàn dân tộc phát triển trên cơ chế dân chủ tự do mới mong thắng được Trung Cộng và mọi kẻ thù có âm mưu xâm lược Việt Nam. Tổ tiên Việt Nam đã làm được rồi các thế hệ Việt Nam ngày nay cũng sẽ làm được.

Người viết biết rằng, đối với một số người Việt đã bị bộ máy tuyên truyền đầu độc quá lâu và các bạn trẻ bị nhào nặn hoàn toàn trong hệ thống giáo dục một chiều CS, để có một nhận thức đúng về lịch sử là một quá trình đấu tranh tư tưởng khó khăn.

Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn thẳng vào thực tế đất nước sau 42 năm vẫn là một nước lạc hậu về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, quốc phòng và đời sống. Việt Nam còn thua xa những nước ở châu Phi như Ghana, Sierra Leone, Namibia vì những quốc gia đó còn nghèo nhưng hãnh diện vì chính phủ họ do nhân dân họ bầu lên.

Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn vào cách giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Cộng của lãnh đạo CSVN. Ngoài những lời phản đối đọc như kinh nhật tụng họ không có và cũng không thể có một chọn lựa dứt khoát nào chỉ vì quyền lợi trước mắt của một nhóm người cầm quyền được đặt lên trên quyền lợi lâu dài của đất nước.

Sau mỗi cơn giận hờn, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy.

Thảm trạng xã hội Việt Nam hôm nay, những lạc hậu kinh tế hôm nay, những yếu kém về quốc phòng hôm nay, những cô đơn trong bang giao quốc tế hôm nay là những câu trả lời cho những ai còn do dự, còn một chút tin tưởng nào đó ở lãnh đạo đảng CSVN.

Giống như hầu hết các nước cựu CS ở Đông Âu và khối Liên Xô, thể chế Cộng Hòa là chọn lựa đương nhiên và dứt khoát.

Các quốc gia sẽ bình đẳng trước công pháp quốc tế. Những khẩu hiệu tuyên truyền rất sến như “16 chữ vàng”, “hữu nghị Việt Trung” sẽ bị chôn sâu theo xác của ý thức hệ CS.

Dân tộc Việt Nam sẽ vượt qua những khó khăn để phát triển thành một quốc gia hiện đại về cả kinh tế lẫn quốc phòng.

Các nhà lãnh đạo VNCH trong cuộc đấu tranh mới trên mặt trận ngoại giao sẽ hành xử xứng đáng với tư cách của một cấp lãnh đạo chính danh, thay mặt cho một nước VNCH thống nhất, dân chủ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của đại đa số con người yêu chuộng tự do, hòa bình trên thế giới. Giành lại Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa là một cuộc tranh đấu gian nan, gai góc, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng chính nghĩa và chân lý cuối cùng sẽ thắng.

TRẦN TRUNG ĐẠO

No photo description available.

Việt Nam cho phép thành lập công đoàn độc lập

RFI: Để đáp ứng đòi hỏi của các hiệp định tự do mậu dịch, Việt Nam đã buộc phải sửa đổi luật lao động, cho phép thành lập các công đoàn độc lập ở cấp cơ sở.

Bộ luật Lao động sửa đổi đã được các đại biểu Quốc Hội Việt Nam thông qua ngày 20/11/2019 và đã được đại sứ quán Mỹ ca ngợi là một “đạo luật lịch sử”, vì đây là một bước quan trọng “đưa hệ thống pháp luật của Việt Nam đến gần hơn với các tiêu chuẩn lao động quốc tế”.

Bộ luật Lao động sửa đổi, có hiệu lực vào năm 2021, cho phép thành lập các công đoàn độc lập, tức là không thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, công đoàn duy nhất hiện nay. Đây được coi là một thay đổi quan trọng nhất trong luật lao động mới. Trong thông cáo đưa ra ngày 20/11, Giám đốc Tổ chức Lao động Quốc tế ILO Việt Nam, Chang Hee Lee, nhắc lại tự do hiệp hội là một quyền cơ bản được nêu trong Tuyên bố về các Nguyên tắc và Quyền cơ bản trong Lao động năm 1998 của ILO. Đối với ông Chang Hee Lee, Bộ luật Lao động sửa đổi vừa được thông qua là « một tiến bộ quan trọng » do những sửa đổi trong luật « sẽ cải thiện đáng kể vấn đề việc làm và quan hệ lao động của Việt Nam, tạo nền tảng vững chắc cho hội nhập quốc tế và thương mại công bằng. »

Trong thông cáo đưa ra ngày 20/11, bộ Lao Động Việt Nam cũng nhấn mạnh rằng việc cho phép thành lập công đoàn độc lập chính là nhằm « bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong quan hệ lao động, phù hợp với các Công ước của ILO, các cam kết quốc tế khác và tạo thuận lợi trong quá trình hội nhập quốc tế ».

Trên thực tế, Hà Nội không thể làm khác hơn, vì đó là yêu cầu của các hiệp định tự do mậu dịch mà Việt Nam đã ký kết, như hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP và hiệp định với Liên Hiệp Châu Âu. Trong các cuộc đàm phán về các hiệp định đó, các vấn đề về lao động vẫn là những hồ sơ gay go nhất đối với Việt Nam.

Sau nhiều năm đàm phán, Liên Hiệp Châu Âu đã ký hiệp định thương mại tự do với Việt Nam vào tháng 6/2019, nhưng hiệp định này còn phải chờ sự phê chuẩn của các nghị sĩ châu Âu, vốn rất quan tâm đến vấn đề quyền lợi của người lao động và nhân quyền nói chung.

Ngoài việc cho phép lập công đoàn độc lập ở cấp cơ sở, Bộ luật Lao động sửa đổi còn cải thiện quyền thương lượng tập thể của người lao động, tăng cường bảo vệ người lao động chống phân biệt đối xử trong công việc và bảo vệ người lao động vị thành niên.

Theo tổ chức ILO, cùng với quyền tự do hiệp hội, xóa bỏ phân biệt đối xử, lao động trẻ em và lao động cưỡng bức là bốn nguyên tắc được đặt ra trong tám Công ước cơ bản của ILO trong khuôn khổ Tuyên bố 1998. Việt Nam đã phê chuẩn 6 trên 8 công ước này, hai công ước còn lại là Công ước số 105 về lao động cưỡng bức và Công ước số 87 về tự do hiệp hội dự kiến sẽ được phê chuẩn lần lượt vào năm 2020 và 2023.

Bộ luật Lao động sửa đổi đã được thông qua, nhưng còn phải chờ xem luật sẽ được áp dụng trên thực tế như thế nào. Trong thông cáo đưa ra ngày 20/11/2019, đại sứ quán Mỹ nhấn mạnh đến tầm quan trọng của « việc củng cố những cải cách trong Luật Lao động, bao gồm cải cách thông qua các văn bản pháp luật sắp được ban hành về thành lập, đăng ký và hoạt động của các tổ chức công đoàn độc lập và sự bảo vệ đầy đủ đối với quyền thương lượng tập thể và quyền đình công. »

Giám đốc ILO Việt Nam lưu ý là quyền tự do hiệp hội trong Bộ Luật Lao động sửa đổi hiện chỉ áp dụng đối với người lao động trong doanh nghiệp, nên sẽ cần phải được mở rộng phạm vi trong những năm tới đây « để song hành với những nỗ lực của chính phủ hướng tới phê chuẩn Công ước số 87 của ILO vào năm 2023 ». Tuy nhiên, theo ông, vấn đề cần chú trọng trước mắt là việc giải thích các điều khoản mới thông qua việc ban hành các nghị định hướng dẫn và thiết lập các thiết chế thực chất để áp dụng và triển khai những điều khoản mới đó.

VI.RFI.FR|BY RFI TIẾNG VIỆT
Để đáp ứng đòi hỏi của các hiệp định tự do mậu dịch, Việt Nam đã buộc phải sửa đổi luật lao động, cho phép thành lập các công đoàn độc lập ở cấp cơ sở.

Nhà báo Phạm Chí Dũng bị bắt

VOA Tiếng Việt
Ngày 21/11, Công an TP.HCM đã khởi tố hình sự, bắt tạm giam nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, cộng tác viên của VOA Tiếng Việt, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam Độc lập (IJAVN), với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước,” và các cơ quan chức năng đang tiếp tục “mở rộng điều tra vụ án.”

Ông Nguyễn Tường Thụy, Phó Chủ tịch IJAVN, nói với VOA rằng việc ông Dũng bị bắt là “một bước đi nguy hiểm” khi chính quyền gia tăng “đàn áp tự do báo chí.” Nhà báo độc lập Đường Văn Thái nhận định rằng ông Dũng có “lượng bài viết lớn, có chiều sâu.”

Cổng thông tin Bộ Công an Việt Nam loan tin rằng ông Phạm Chí Dũng “có nhiều hoạt động công khai vi phạm pháp luật nghiêm trọng và rất nguy hiểm, tác động xấu đến sự ổn định xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh trật tự.”

Từ Hà Nội, ông Nguyễn Tường Thụy, Phó Chủ tịch IJAVN, nói với VOA rằng việc ông Dũng bị bắt là “một bước đi nguy hiểm” khi chính quyền gia tăng “đàn áp tự do báo chí.”

“Chúng tôi phản đối việc nhà cầm quyền Việt Nam bắt giam nhà báo Phạm Chí Dũng. Chúng tôi cho rằng đây là bước đi nguy hiểm trong việc đàn áp báo chí tự do.”

“Sau vụ bắt này khả năng phản biện của báo chí tự do sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều,” ông Thụy cho biết thêm.

Bộ Công an cho biết Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã khởi tố và bắt tạm gian ông Phạm Chí Dũng theo Điều 117 – Bộ luật Hình sự năm 2015: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Từ Bangkok, nhà báo độc lập Đường Văn Thái, từng là phóng viên của một tờ báo nhà nước, nhận định:

“Việc bắt ông Phạm Chí Dũng ngày hôm nay cho thấy nhà cầm quyền muốn bịt đường tự do ngôn luận tại Việt Nam. Mục đích của họ là không muốn có những thông tin đa chiều, thông tin độc lập mà các nguồn thông tin phải được dẫn dắt, chỉ đạo của nhà cầm quyền Việt Nam. Họ không cho phép tự do ngôn luận, tự do báo chí.”

Ông Nguyễn Tường Thụy nói rằng ông Phạm Chí Dũng không vi phạm pháp luật.

Được hỏi về việc tại sao Hội IJAVN đã hoạt động hơn 5 năm qua nhưng cho đến nay người sáng lập của hội lại bị bắt, Phó Chủ tịch IJAVN, lý giải:

“Chúng tôi đã đọc Phạm Chí Dũng và có thể nói rằng những bài viết của Phạm Chí Dũng không vi phạm pháp luật. Từ ngày thành lập Hội Nhà báo VN Độc lập năm 2014 cho đến nay, ông Dũng có một sức viết rất mạnh, khỏe, với nội dung rất thẳng thắn, bình luận các vấn đề thời sự, chính trị, xã hội.

“Ông ấy viết ráo riết hơn, mạnh mẽ hơn, nhưng Phạm Chí Dũng vẫn là như vậy! Nhưng có lẽ thời gian này là thời gian thích hợp để họ bắt ông Phạm Chí Dũng,” ông Nguyễn Tường Thụy chia sẻ.

Ông Thái nhận định về các bài báo của ông Dũng.

“Tôi rất ngưỡng mộ ông Phạm Chí Dũng. Ông có một lượng bài viết rất lớn. Đó là những bài viết có chiều sâu, có điều tra kỹ lưỡng cùng với các số liệu tiếp cận được từ các cơ quan nhà nước.”

Ông Thái cho biết rằng nhà báo Phạm Chí Dũng là một nhà báo có tài và có tâm huyết với nền tự do báo chí trong nước.

“Chính vì vậy mà ông Dũng, ông Thuỵ luôn là cái gai trong mắt của nhà cầm quyền Việt Nam,” ông Thái cho biết thêm.

Ngay sau khi ông Dũng bị bắt, trang thoibaovietnam.org của IJAVN không còn truy cập được.

Ông Phạm Chí Dũng, 53 tuổi, cựu cán bộ Ban Nội chính Thành ủy Tp. Hồ Chí Minh, từng bị tạm giam 6 tháng vào năm 2012 vì bị tình nghi biên soạn tài liệu “nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” vì bị khởi tố hai tội danh “Âm mưu lật đổ chính quyền” và “Tuyên truyền chống nhà nước.”

Báo Thanh Niên dẫn tài liệu của cơ quan chức năng cho biết ngày 4/7/2014, ông Phạm Chí Dũng ra “Tuyên bố thành lập IJAVN” với số lượng ban đầu hàng chục thành viên, nội dung Điều lệ hoạt động của Hội thể hiện rõ quan điểm là tổ chức xã hội dân sự…, là “trái với quy định của pháp luật Việt Nam.”

Sau khi tuyên bố ra khỏi đảng vào năm 2013, và thành lập Hội IJAVN, ông Dũng trở thành cộng tác viên thường xuyên trên trang Blog của VOA Tiếng Việt.

(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link vn3000.info hoặc 797879.info để vượt tường lửa)

VOATIENGVIET.COM
Ngày 21/11, Công an TP.HCM đã khởi tố hình sự bắt tạm giam nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, cộng tác viên của VOA Tiếng Việt, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam Độc lập (IJAVN), với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước,” và các cơ qua…

Trung Quốc trấn đèo Hải Vân: Trách nhiệm Thủ tướng

RFA.ORG

Trung Quốc trấn đèo Hải Vân: Trách nhiệm Thủ tướng

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-11-17
Hầm Hải vân

 Courtesy of danang.gov.vn

Thừa Thiên-Huế đẩy quả bóng trách nhiệm cho Thủ tướng về việc cho phép nhà đầu tư Trung Quốc khai thác 200 ha đất ở vị trí chiến lược trên đèo Hải Vân.

Nhà phản biện độc lập TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS cho rằng, cho dù Thủ tướng chịu trách nhiệm vì đã phê duyệt qui hoạch, thì nay cũng là lúc phải thu hồi ngay lập tức giấy chứng nhận đầu tư cấp cho doanh nghiệp Trung Quốc, trao quyền cho họ thực hiện dự án nghỉ dưỡng nằm ở vị trí chiến lược, có thể khống chế vịnh Đà Nẵng và chia cắt đất nước. Từ Hà Nội TS Nguyễn Quang A nhấn mạnh:

“Chắc chắn phải như vậy nếu ông ấy đã ký thì phải có trách nhiệm, về việc không nhìn ra thì có thể có nhiều lý do, một lý do là do sơ xuất vì sơ xuất là chuyện con người. Nếu mà là sơ xuất thì có thể bỏ qua mà chỉ có thể đánh giá là năng lực hơi kém. Còn nếu không phải là sơ xuất mà biết mà vẫn làm như thế thì trách nhiệm càng nặng hơn.”

Phát biểu gay gắt của TS Nguyễn Quang A được ghi nhận tiếp sau thông tin: ngày 14/11/2014 ông Nguyễn Văn Cao, Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên-Huế khẳng định với VnExpress rằng Thừa Thiên-Huế làm đúng qui định của Nhà nước. Suốt hai tuần qua trên báo chí, Thừa Thiên-Huế đã lập luận rằng, dự án 200 ha ở mũi cửa Khẻm, nơi núi Hải Vân vươn xa nhất ra biển Đà Nẵng là nằm trong Qui hoạch chung về xây dựng Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế đến hết năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1771 ngày 5/12/2008.

Những chỗ tốt đẹp có vị trí chiến lược lại cứ bán cứ để cho Trung Quốc làm dự án trong khi mình có thể làm được, như thế là các anh ấy không suy nghĩ và chỉ thấy có tiền thôi.
– Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Chính quyền Thừa Thiên – Huế không trả lời dư luận về việc Dự án mũi Cửa Khẻm giao cho nhà đầu tư Trung Quốc nằm ở vị trí chiến lược khống chế vùng trời, vùng núi, vùng biển Đà Nẵng và nếu xảy ra chiến tranh sẽ chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến 16. Chính quyền Thừa Thiên-Huế chỉ biện giải về khu vực tranh chấp địa giới giữa Thừa Thiên – Huế và Đà Nẵng. Theo các chuyên gia địa phương nào quản lý mũi Cửa Khẻm không phải là điều quan trọng, cốt lõi ở đây Thừa Thiên-Huế đã bỏ qua vấn đề an ninh quốc phòng trao quyền khai thác 200 ha cho nhà đầu tư nước ngoài trong vòng 50 năm, mà cụ thể là doanh nghiệp Trung Quốc.

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc hiện nghỉ hưu ở Hà Nội đã phản ứng mạnh mẽ về điều ông là góp phần làm tăng nguy cơ mất nước. Ông nói:

“Những chỗ tốt đẹp có vị trí chiến lược lại cứ bán cứ để cho Trung Quốc làm dự án trong khi mình có thể làm được, như thế là các anh ấy không suy nghĩ và chỉ thấy có tiền thôi. Tôi cho là chỉ thấy có tiền, nhiều tỉnh cũng thế thôi nghĩa là chỉ thấy có tiền mà không thấy cái nguy hiểm cho đất nước.”

Từ đầu tháng 11, chính quyền Đà Nẵng kiến nghị Thủ tướng rút giấy phép đầu tư mà Thừa Thiên-Huế cấp cho Công ty Thế Diệu của Trung Quốc từ năm 2013 để xây dựng một quần thể nghỉ dưỡng du lịch chiếm 200 ha ở mũi Cửa Khẻm, nơi núi Hải Vân vươn ra xa nhất trên biển Đà Nẵng. Hai lý do Đà Nẵng đưa ra là vị trí chiến lược ảnh hưởng an ninh quốc phòng và dự án nằm trên vùng tranh chấp địa giới giữa hai địa phương.

Ngày 17/11/2014, Trung tướng Lê Chiêm, Tư lệnh Quân khu 5 được VnExpress trích lời khẳng định đèo Hải Vân là khu vực trọng điểm quân sự  cấp độ 1 được Chính phủ quy định. Đất tại khu vực này muốn  làm bất cứ việc gì phải báo cáo và được sự nhất trí của Bộ Quốc Phòng để xin ý kiến của Thủ tướng. Tướng Chiêm nhấn mạnh, Thừa Thiên – Huế tự động cho doanh nghiệp nước ngoài vào xây dựng khu nghỉ dưỡng là “dứt khoát không được”.

Chuyện thu hồi giấy phép

Vị trí dự án khu nghỉ dưỡng World Shine
Vị trí dự án khu nghỉ dưỡng World Shine Vị trí dự án khu nghỉ dưỡng World Shine

Đáp câu hỏi của chúng tôi là chính quyền Việt Nam có vẻ không chú ý tới yếu tố an ninh quốc phòng khi kêu gọi đầu tư phát triển kinh tế và để đến khi dư luận lên tiếng lúc đó mới tính chuyện sửa sai. Nhà phản biện TS Nguyễn Quang A nhận định:

“Tôi nghĩ cũng không hẳn hoàn toàn như vậy. Nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam rất quan tâm tới vấn đề an ninh quốc gia, người ta có những qui trình rất chặt chẽ về những chuyện như vậy. Nhưng thực tế người ta có thể lách những qui trình ấy một cách rất ngoạn mục, hoàn toàn do ý định của người ta mà thôi. Ngay cả việc hủy một dự án, bất kỳ dự án nào cũng có hàng trăm điều kiện mà tôi tin là không có nhà đầu tư nào không vi phạm đến khoảng 30% các điều kiện qui định trong giấy phép. Nếu người ta muốn thì có thể dẫn chiếu bất kể một cái lỗi nào đấy của nhà đầu tư và người ta có thể hủy cái giấy phép ấy mà chẳng cần phải đền bù gì cả, bởi vì ông đã vi phạm qui định.”

Việt Nam có chính sách trải thảm đỏ mời gọi đầu tư để phát triển kinh tế, người Trung Quốc chọn được nhiều vị trí mà dư luận cho là nhạy cảm về an ninh quốc phòng là vì nhờ các mánh lới đặc biệt. Làm thế nào để giảm bớt tình trạng nguy hiểm này. TS Nguyễn Quang A trả lời câu hỏi này:

“Nếu chúng ta kỳ vọng vào những người cánh hẩu với Trung Quốc để người ta bớt đi thì không bao giờ cả, số người như thế ở Việt Nam không phải là ít. Chỉ có mỗi một cách như vừa rồi là dư luận của công chúng, của các giới khác nhau, kể cả những người đương quyền mà còn thực sự lo lắng cho vận mệnh đất nước. Những người ấy, các thế lực ấy phải lên tiếng và chỉ có như thế mới có thể chặn được những sự móc ngoặc với những thế lực nước ngoài mà để làm tổn hại đến đất nước mà thôi.”

Nếu người ta muốn thì có thể dẫn chiếu bất kể một cái lỗi nào đấy của nhà đầu tư và người ta có thể hủy cái giấy phép ấy mà chẳng cần phải đền bù gì cả, bởi vì ông đã vi phạm qui định.
– TS Nguyễn Quang A

Được biết, Tỉnh Thừa Thiên-Huế đã cấp giấy chứng nhận đầu tư và giao 200 ha đất ở mũi Cửa Khẻm cho Công ty Trung Quốc Thế Diệu từ tháng 10/2013 với thời hạn 50 năm. Thế Diệu đã giải ngân 80 tỷ để khởi sự thực hiện dự án khu nghỉ dưỡng du lịch có tổng vốn đầu tư 250 triệu USD. Tại Cửa Khẻm nơi núi Hải Vân vươn ra biển xa nhất, nhà đầu tư Trung Quốc sẽ xây dựng khu nghỉ mát tiêu chuẩn 5 sao với 450 phòng, một trung tâm hội nghị quốc tế 2.000 chỗ ngồi, khu nhà nghỉ dưỡng năm tầng với 220 căn hộ cao cấp, 350 biệt thự và khu du lịch, nhà hàng bãi tắm. Dự án này được triển khai theo ba giai đoạn từ 2013 đến 2023, Thế Diệu đã xây dựng trụ sở điều hành dự án tại khu vực Cửa Khẻm. Còn tỉnh Thừa Thiên-Huế cho biết đã chi 50 tỷ đồng mở con đường 5 km vào Cửa Khẻm.

Cho tới ngày 17/11/2014 chưa có thông tin về việc thu hồi giấy phép dự án đầu tư trên núi Hải Vân của doanh nghiệp Trung Quốc. Nhưng báo chí phản ứng dư luận hết sức gay gắt đòi dừng ngay dự án vì ảnh hưởng an ninh quốc phòng, đặc biệt có yếu tố Trung Quốc. Theo ý kiến chuyên gia một quyết định hợp lòng dân là điều Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ phải tính tới trong giai đoạn này.

Thừa Thiên-Huế đẩy quả bóng trách nhiệm cho Thủ tướng về việc cho phép nhà đầu tư Trung Quốc khai thác 200 ha đất ở vị trí chiến lược trên đèo Hải Vân.