THÀNH KÍNH TIẾC THƯƠNG ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỘ

Hoang Le Thanh

ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỘ
ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT THỐNG NHẤT

Nhạc sĩ Tuấn Khanh
Nguyen Khanh

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, Đệ ngũ Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (PGVNTN) viên tịch vào lúc 21 giờ 20 phút ngày 22/2/2020 nhằm ngày 29/1 năm Canh Tý, Phật lịch 2563 tại Chùa Từ Hiếu, Phường 1, Quận 8, Sài Gòn. Hưởng thọ 92 tuổi.

Hoà thượng Thích Quảng Độ là người đứng đầu Giáo hội PGVNTN, một giáo hội không được nhà nước Việt Nam thừa nhận vì luôn khẳng định sự độc lập trong tinh thần tín ngưỡng và từ chối mọi sự thỏa hiệp với nhà nước vô thần.

Ngài đã bị chính quyền Việt Nam sau 1975 bỏ tù nhiều năm, bị lưu giam ở Thái Bình trong giai đoạn 1970 – 1980. Vào năm 1995 hòa thượng bị Công an thành phố Hồ Chí Minh bắt giam và bị phạt tù 5 năm và 5 năm quản chế với cáo buộc “phá hoại chính sách đoàn kết và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước”.

Ngài cũng từng bị bắt giam trở lại sau khi phát động các hoạt động nhân đạo cứu trợ cho đồng bào sông Cửu Long bị bão lụt vào năm 2007.

Năm 2018 có tin ngài không còn được lưu trú ở Thanh Minh Thiền Viện, Sài Gòn và phải quay về lại Thái Bình. Nhưng rồi ít lâu sau đó, ngài bí mật quay lại bằng xe lửa đường dài (do không được nhà nước cấp bất kỳ giấy tờ nào) và đến an trú tại chùa Từ Hiếu, cho đến khi viên tịch.

Với người dân miền Nam, Hòa thượng Thích Quảng Độ là biểu tượng của một nhà hoạt động vì quyền tự do tôn giáo, và con người.

Lý do chính giới quốc tế nhiều lần đề cử giải Nobel Hòa Bình cho hòa thượng Thích Quảng Độ, vì ngài đã dành cả cuộc đời tranh đấu bất bạo động cho công lý, hoà bình, nhân quyền, dân chủ.

Hòa thượng Thích Quảng Độ từng được trao Giải tưởng niệm Thorolf Rafto vinh danh các nhà hoạt động nhân quyền năm 2006. Cùng năm, Ngài được nhận giải Can Đảm vì Dân Chủ do Phong Trào Dân Chủ Thế Giới trao tặng. Trước đó, năm 2003, Ngài từng lãnh giải thưởng nhân quyền quốc tế Homo Homini cùng với Hòa thượng Thích Huyền Quang và linh mục Nguyễn Văn Lý.

Hòa thượng Thích Quảng Độ từng là giảng sư đại học, một nhà văn, một dịch giả với một kho tác phẩm rất đáng kính nể:

– Kinh Mục Liên Sám Pháp;
– Kinh Đại Phương tiện Phật Báo Ân;
– Thoát vòng tục lụy, Sài Gòn 1962 (truyện dịch từ Hán văn của Tinh Vân);
– Dưới mái chùa hoang, Sài Gòn 1962 (truyện);
– Truyện cổ Phật giáo, Sài Gòn 1964;
– Ðại thừa Phật giáo tư tưởng luận;
– Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận;
– Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận;
– Từ điển Phật học Hán Việt (2 tập);
– Phật Quang Đại Từ điển (9 tập);
– Chiến tranh và bất bạo động;
– Thơ trong tù (tháng 3 năm Đinh Tỵ đến tháng 11 Mậu Ngọ);
– Thơ lưu đày (tháng 2 năm Nhâm Tuất đến tháng 2 năm Nhâm Thân);
– …

Sự ra đi của hòa thượng Thích Quảng Độ, là sự mất mát lớn của Phật giáo Việt Nam, giữa lúc các hoạt động giả tôn giáo được tổ chức mạnh mẽ để huyễn hoặc dân chúng từ sự yểm trợ của nhà nước vô thần.

Nguồn: Nhạc sĩ Tuấn Khanh
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10157063576038181&id=718643180

Image may contain: 1 person, beard

Hoà thượng Thích Quảng Độ viên tịch, thọ 92 tuổi

Thuy Nhien Nguyen and Trung Khang Rfa shared a link.

Hoà thượng Thích Quảng Độ là người đứng đầu Giáo hội PGVNTN, một giáo hội không được nhà nước Việt Nam thừa nhận vì luôn khẳng định sự độc lập trong tinh thần tín ngưỡng và từ chối mọi sự thỏa hiệp với nhà nước vô th….
About this website

RFA.ORG

Hoà thượng Thích Quảng Độ viên tịch, thọ 92 tuổi

Hoà thượng Thích Quảng Độ là người đứng đầu Giáo hội PGVNTN, một giáo hội không được nhà nước Việt Nam thừa nhận vì luôn khẳng định sự độc lập trong tinh thần tín ngưỡng và từ chối mọi sự thỏa hiệp với nhà nước vô th….

NXB Tự Do ra mắt ‘Cánh Đồng Sênh: Báo Cáo Về Vụ Tấn Công vào xã Đồng Tâm’

NXB Tự Do ra mắt ‘Cánh Đồng Sênh: Báo Cáo Về Vụ Tấn Công vào xã Đồng Tâm’

On Feb 10, 2020

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Nhóm chủ trương Nhà Xuất Bản Tự Do công bố “Báo cáo Đồng Tâm” bằng song ngữ Anh – Việt để mọi người hiểu một cách tương đối khách quan về bản chất cuộc đàn áp đẫm máu đầu năm nay.

Vụ nhà cầm quyền CSVN đưa một lực lượng đông đảo nhiều ngàn công an, cảnh sát cơ động trang bị nhiều loại võ khí tấn công xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội đêm 9 Tháng Giêng, 2020 nhằm giải quyết dứt điểm những chống đối cưỡng chế đất đai tại địa phương gây chấn động dư luận trong ngoài nước, chỉ hơn hai tuần lễ trước tết nguyên đán Canh Tý.

Tin tức về cuộc tấn công được guồng máy tuyên truyền của chế độ Hà Nội tô vẽ ngược lại những gì người ta thấy “lề trái” phổ biến nhanh chóng trên các trang Facebook cá nhân. Người cho là cầm đầu dân làng chống đối cưỡng chế là cụ Lê Đình Kình đã bị bắn chết với nhiều vết đạn trên người trong khi phía nhà nước nói 3 sĩ quan cảnh sát cơ động cũng chết với những thông tin mỗi lúc một khác.

Để dư luận trong và ngoài nước có được tài liệu lưu trữ cũng như có cái nhìn đa chiều về vụ việc mà người ta thấy không ít Facebooker gọi là trò “cướp của giết người” nhân danh nhà nước, nhóm chủ trương Nhà Xuất Bản Tự Do công bố tài liệu tuy ngắn nhưng đầy đủ, với 64 trang bằng hai thứ tiếng Anh – Việt mà phần Việt ngữ có tựa đề “Cánh Đồng Sênh: Báo Cáo Về Vụ Tấn Công vào xã Đồng Tâm.”

Trong phần mở đầu bản báo cáo, Nhà Xuất Bản Tự Do viết: “Bản báo cáo đưa ra kết luận rằng đây có thể là vụ cưỡng chế đất đai đẫm máu và có quy mô lớn nhất tại Việt Nam suốt 10 năm trở lại đây; đồng thời cũng nêu bật lên tình trạng bạo hành và lộng quyền của lực lượng công an, cũng như khái niệm đầy mâu thuẫn – quyền sở hữu toàn dân về đất đai” tại Việt Nam.”

Nội dung bản báo cáo gồm:

  1. Tóm tắt sự kiện
  2. Bối cảnh tranh chấp đất đai ở Đồng Tâm

III. Các mốc thời gian trong vụ tranh chấp đất tại Đồng Tâm

  1. Các điểm gây tranh cãi xung quanh vụ tấn công 9 Tháng Giêng
  2. Bình luận và lời chứng về vụ tấn công 9 Tháng Giêng
  3. Các vi phạm đối với chính luật pháp của Việt Nam

VII. Các vi phạm pháp lý xét theo tiêu chuẩn quốc tế

Khuyến nghị

Độc giả có thể tải xuống báo cáo qua: https://nhaxuatbantudo.com/…/2020/02/dongtam-full-final-.pdf

Hoặc có thể đọc online: https://nhaxuatbantudo.com/3d-flip-book/canh-dong-senh/

Nhà Xuất Bản Tự Do là một tổ chức phi lợi nhuận, được thành lập ngày 14 Tháng Hai, 2019 tại Việt Nam. Họ là một tổ chức hoạt động độc lập duy nhất tại Việt Nam ở thời điểm hiện nay. “Với tinh thần Lan tỏa tri thức – Tự do thông tin,” các hoạt động chính của Nhà Xuất Bản Tự Do là xuất bản, in và phát hành các ấn phẩm không chịu sự kiểm duyệt của chính quyền Việt Nam, thông qua hình thức bán hoặc cho/tặng sách in miễn phí; đăng tải các bản ebook công khai và miễn phí.”

Cho đến nay, theo lời nhà xuất bản họ “đã phát hành được hàng chục ngàn quyển sách in qua các hình thức bán và cho/tặng miễn phí.” (TN)

Tủ sách Kim Định

http://www.vietnamvanhien.net/kimdinh.html


Năm Thứ 4889
TỦ SÁCH KIM ĐỊNH
Bộ Kinh-Triết-Sử-Văn với 33 tác phẩm

( ảnh cand.com.vn)

TIỂU SỬ TRIẾT GIA LƯƠNG KIM ĐỊNH


Lương Kim Định (1914-1997)

  Triết gia KIM ĐỊNH sinh ngày 15.6.1914 tại Trung Thành, Nam Định. Sau khi tốt nghiệp triết học tại Giáo Hoàng Chủng
Viện Sait Albert Le Grand, ông dạy triết tại Đại Chủng Viện Bùi Chu (1943-1946). Năm 1947, ngài sang Pháp 10 năm nghiên
cứu về  triết học  tại Institut des Hautes Etudes Chinoise để thâu thập tài liệu xây đắp nền triết lý Việt Nam. Trở về nước năm 1957, ngài dạy  triết Đông tại Học Viện Lê Bảo Tịnh, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh và Đại Học Đà Lạt.

Từ năm 1960, triết gia bắt đầu cho ra mắt một loạt những cuốn sách về triết Việt, mở đầu là cuốn Cửa Khổng, Triết Lý Giáo Dục,
Nhân Bản, Căn Bản Triết Lý Trong Văn Hóa Việt Nam . . . Học giả Linh Mục Vũ Đình Trác viết về công trình của ngài như sau:

“Nhờ công phu mở đường trở về triết Đông của Giáo Sư Bửu Dưỡng và Nguyễn Văn Thích cũng như tâm huyết của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, chương trình triết học Đông Phương được khai giảng tại Đại Học Văn Khoa Sàigòn năm 1958. Sẵn đường trở về Đông Phương, triết gia Kim Định tiện đường, đơn thương độc mã, ông lên một nước táo bạo, mở đường đi vào Triết Lâm Việt Nam. Trong suốt 16 năm trời tại giảng đường Đại Học Văn Khoa Sàigòn, giáo sư đã ảnh hưởng sâu rộng cho cả một thế hệ thanh niên và sinh viên. Mặc dầu bao chống đối, ông đã im lặng xây dựng một hệ thống Việt Nho khá trung thực và hấp dẫn. Không ai có thể chối cãi công phu xây dựng và ảnh hưởng sâu rộng của ông trong lãnh vực văn hóa dân tộc. Từ Đại Học Văn Khoa Sàigòn, ông mở rộng mặt trận tới các Đại Học khác: Đại học Đà Lạt, Vạn Hạnh, Minh Đức, Thành Nhân và An Giang. Chính trong giai đoạn này ông đã sáng lập chủ thuyết AI VI và ViỆT NHO”.
 
Nhận định về địa vị của triết gia Kim Định trên trường Việt Nho, Việt Triết – học giả Linh Mục Vũ Đình Trác còn viết như sau:

“Nhờ công khai thác và biên khảo, sáng tác của giáo sư, những bậc thức giả khắp nơi đã suy tôn ông là Triết Gia Việt Nam.
Ảnh hưởng Việt Triết và Việt Nho của ông đã gây ý thức cho người Việt khắp nơi nhìn lại thực tại văn hóa của mình. Các đồ đệ
của ông đã đáp ứng nguyện vọng của Thầy để khai thác và phổ biến Việt Lý của Thầy qua tổ chức AN VIỆT. Các nhóm
An Việt được thành lập khắp nơi: San Jose, Orange, Houston, Louisiana, Washington DC, Philadelphia, Seattle, và tại
Canada, Uùc Châu, Anh, Pháp, Đức v.v … An Vi đã như một luồng gió dân tộc bùng lên khắp nơi có người Việt định cư.
Các nhóm này coi Triết Gia Kim Định như bậc Đại Sư, mà họ tôn làm Tổ: TỔ SƯ AN VI, TỘC PHỤ AN VIỆT. Aûnh hưởng
của Triết Gia không những thế mà còn lan rộng tới các học giả, triết gia ngoại quốc: Âu Mỹ và khối Viễn Đông”.

 
Năm 1987 hội nghị Quốc Tế về “Khổng Học Với Thế Giới Ngày Nay” (International Symposium on Confucianism and the Modern World) tổ chức tại Đài Bắc, Đài Loan, qui tụ 400 học giả khắp thế giới. Triết gia Kim Định cùng với Lm Vũ Đình Trác đã thuyết
trình đề tài “Đạo Trường Chung Cho Đông Nam Á” (A Tao-Field for South East Asia). Bài tham luận do Giáo Sư Trần Văn Đoàn, Giáo Sư Đại Học Quốc Gia Đài Loan trình bày (Professor of Philosophy at Taiwain National University). Đề tài này đã gây tiếng
vang rất lớn trong giới Nho Lâm Á Châu.

Sau đó ngài còn tham dự Hội Nghị Triết Học tại Brighton Anh Quốc năm 1988 (The World Congress of Philosophy) – Hội Nghị
Triết Học Á Châu và Bắc Phi lần thứ 33 tại Toronto Canada năm 1990 (The XXXIII International Conference on Asian and North African Studies). Ngài nói với các đồ đệ; “Thầy phải đi để nói cho thế giới biết con người, tư duy và đạo sống cao đẹp của
dân tộc Việt Nam”.

 
   Nguyễn Ngọc Bích, giáo sư Đại Học Georgetown, Washington DC, viết về triết gia Kim Định trong báo Ngày Nay, số 121:

“Trong nỗ lực đi tìm một con đường Việt Tộc, Nhân Chủ, Tự Do, thì chúng ta phải kể ở hàng đầu công trình đồ sộ của triết gia Kim Định. Ở đâu ông cũng thế, không phải sang Mỹ ông mới tìm “về nguồn”. Việc làm của ông trong một tình cảnh mất mát vô biên, chẳng qua cũng chỉ là nối tiếp công việc của ông đã bắt đầu khi còn ở trong nước, khi còn ở Miền Nam tự do. Từ năm 1962 tới nay, ông đã hoàn tất được 23 cuốn triết học, tương đương với 7000 trang, một mảng tư tưởng mà không dễ mấy triết gia
có thể so sánh được. Sự độc đáo ở nơi ông cũng đã là một truyện quá rõ – dầu ta có đồng ý với ông hay không, thì ta cũng không thể phủ nhận được tính cách độc đáo của tư tưởng ông. Ngày nay tham vọng cuối cùng của triết gia Kim Định là sẽ dựng
xong một bộ Kinh (hiểu theo nghĩa Bible) cho dân tộc ta. Để thực hiện tham vọng này, ông đã cho in hoặc đang in năm cuốn thuộc bộ “Ngũ Kinh Khải Triết”, đó là: Hùng Việt Sử Ca, Kinh Hùng Khải Triết, Pho Tượng Đẹp Nhất Của Việt Tộc, Sứ Điệp Trống Đồng, Văn Lang Vũ Bộ (số lớn do nhà in H.T KELTON xuất bản). Nếu ai hỏi tôi rằng có nên đọc hay không, thì tôi xin thưa ngay: dứt khoát là có. Tại sao ? – Tại vì nếu ta không nhất thiết đồng ý với hết cả ý kiến của ông, ta cũng sẽ được làm thân với một trong những bộ óc triết lý lớn nhất nếu không của nhân loại thì cũng của Việt Nam. Tôi nói điều này trong sự cân nhắc, cũng không khác gì câu tôi sẽ trả lời cho người nào hỏi: Có nên đọc Platon hay Aristote không ? Đã nhất thiết gì ta đồng ý với Platon trong tác phẩm La République, nhưng ai không đọc tác phẩm đó, thì chắc chắn mất đi một mảng hiểu biết rộng lớn
về triết học Tây Phương. Cũng như vậy, ai không đọc Kim Định cũng không sao, ông sẽ từ tốn mà “an vi”, để chờ một
ngày kia người nọ sẽ tỉnh mộng mà trông thấy hết cả cái mất mát của mình”.

 
    Triết gia Kim Định từ trần ngày 25 tháng 3 năm 1997 tại dòng Đồng Công hải ngoại, Carthage, Missouri, Hoa Kỳ, hưởng thọ 83 tuổi. Ngài để lại cho đời bộ triết Việt Nho và An Vi, gồm 42 cuốn để giúp cho dân tộc có Chủ Đạo để tránh cảnh vô hướng vô hồn và giúp cho dân tộc có một Minh Triết để sống an vui hạnh phúc giữa Trời và Đất.


Triết Gia Lương Kim Định (1914-1997)
( ảnh minhtrietviet.net)
Danh Sách Tác Phẩm của Kim Định

(bấm vào tựa sách đọc tiếp)

Cửu Khâu
(9 đồi nhỏ – Những vấn đề thiết yếu)
1 – 1 .Nguyên Nho (Cửa Khổng)
2 – 2. Triết Lý Giáo Dục
3 – 3. Nhân Chủ
4 – 4. Hồn Nước Với Lễ Gia Tiên
5 – 5. Chữ Thời
6 – 6  Vũ Trụ Nhân Linh
7 -7. Lạc Thư Minh Triết
8 – 7. Định Hướng Văn Học
9 – 8. Loa Thành Đồ Thuyết
10- 9. Tâm Tư
278 trang
190 trang
306 trang
321 trang
700 trang
230 trang
149 trang
237 trang
187 trang
348 trang
Ra khơi
Ca Dao
Thanh Niên QG
Nam Cung USA
Thanh Bình
Khai Trí
Nguồn Sáng
Ra Khơi
Thanh Bình
Khai Trí
1965
1975
USA
1979
1967
1969
1971
1969
1973
1970
Bát Sách
(8 quẻ – nền tảng cho nhiều sách sau này)
11 – 1.Việt Lý Tố Nguyên
12 – 2. Dịch Kinh Linh Thể
13 – 3. Triết Lý Cái Đình
14 – 4. Vấn đề Nguồn Gốc Văn Hóa VN
15 – 5. Vấn Đề Quốc Học
16 – 6. Hiến Chương Giáo Dục
17 – 7. Cơ cấu Việt Nho
18 – 8. Tinh Hoa Ngũ Điển
430 trang
170 trang
188 trang
139 trang
157 trang
155 trang
285 trang
192 trang
An Tiêm
Ra Khơi
Nguồn Sáng
Nguồn Sáng
Nguồn Sáng
An Tiêm
Nguồn Sáng
Nguồn Sáng
1970
1970
1971
1973
1973
1970
1972
1973
Ngũ Luận
(Kinh điển – Minh Triết Việt)
19 – 1. Hùng Việt Sử Ca
20 – 2. Kinh Hùng Khải Triết
21 – 3. Pho Tượng Đẹp Nhất Của Việt Tộc
22 – 4. Sứ Điệp Trống Đồng
23 – 5. Văn Lang Vũ Bộ
272 trang
241 trang
226 trang
431 trang
251 trang
Thằng Mõ San Jose
Thanh Niên QG
HT Kelton
Thanh Niên QG USA
H.T Kelton USA
1984
USA
USA
1984
1982
Tam Phần
(Chơn dấu bảo vật dân tộc)
24 – 1 .Đạo Trường Chung Cho Đông Á
25 – 2. Phong Thái An Vi
26 – 3. Trùng Phùng Đạo Nội
111 trang
230 trang
174 trang
An Việt Houston
An Việt Houston
Vienamvanhien.net
1987
2000
Thái Bình
(Mở rộng khắp Thái Bình Dương)
27 – 1 .Những Dị Biệt Triết Lý Đông Tây
28 – 2. Hoa Kỳ &Thế Chiến LượcToàn Cầu
29 – 3. Cẩm Nang Triết Việt
30 – 4. Hưng Việt
31 – 5. Thái Bình Minh Triết
32 – 6. Gốc Rễ Triết Việt33 – 7Việt Triết Nhập Môn
222 trang
185 trang
80 trang
125 trang
225 trang
180 trang174 trang
Ra Khơi
An Việt Úc Châu
An Việt Houston
An Việt Houston
Thời Điểm
An Việt HoustonAn Việt Houston
1969
1986
1987
1987
1997
19881988
Chưa in
34. Tập Tranh Nước Việt
35. Nguyên lý Mẹ
36. Gia Tài Của Mẹ
37. Triết Lý Nghệ Thuật Việt
38. Quốc Phả Sử Trình
39. Triết Lý Thái Hòa
40. Cẩm Nang An Vi
41. Hội Nghị Triết Học Thế Giới
Các sách bị thất lạc
42. Duy Vật Và Duy Thực
43. Tự Chiêu Minh Đức
44. Tâm Đạo
45. Triết Lý Hòa Giải
46. Huyền Sử Nước Việt
1945
1957
1957
1975
1975
Những Sách Lưu Trữ Dạng HTML
(Có thể sao chép được)

 Hùng Việt Sử Ca

Kinh Hùng Khải Triết

Văn Lang Vũ Bộ

Phong Thái An Vi

Trùng Phùng Đạo Nội

Cẩm Nang Triết Việt

Việt Triết Nhập Môn

Hưng Việt

Cửa Khổng (Nguyên Nho)

Nhân Chủ

Hồn Nước Với Lễ Gia Tiên

ViệPhổ Biến Sách Của Thầy Kim Định – Việt Nhân (bấm vào đọc tiếp)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Tiếng Pháo & Tiếng Cú

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Tiếng Pháo & Tiếng Cú

RFA

Ảnh của tuongnangtien

 tuongnangtien

Ngày ngắn đêm dài đêm lại sáng
Đêm qua ai có bạc đầu không?

Tản Đà

Tôi nghe nhà báo Du Uyên kể chuyện pháo từ hôm trong Tết mà mãi tới bữa nay vẫn còn hơi bị ù tai:

“Nguyễn Đức Khánh, 31tuổi, quê ở Nghệ An, làm việc tại một công ty kính cường lực ở Saigon hơn 10 năm nay. Vài năm nay, kinh tế vợ chồng anh ổn định hơn, nhất là khi  mua được căn chung cư trả góp 15 năm. Để gia đình tự hào, anh hay… ‘chém gió’ vui vui mình lương cao, vài ba lần lỡ lời mình là giám đốc kinh doanh của công ty.

Tiền vé đắt đỏ, năm rồi gia đình đi tàu lửa về quê, anh phải chống chế với mẹ ‘Con lu bu không đặt kịp nên vé máy bay hết sạch’. Anh nhờ mẹ đặt xe ra ga đón mình. Anh nghĩ là xe khách như trước đây, không ngờ mẹ lo con cháu mệt, có tiền phải sướng tấm thân, nhất là ‘oai’ với hàng xóm nên đặt hẳn taxi đón con cho đoạn đường về quê hơn 120 cây số.

Vợ chồng anh méo mặt! Chưa hết, bố mẹ còn sắm sanh đủ thứ từ tivi mới, bàn ghế mới, mua hẳn cây mai gần 2 triệu đồng về chưng… Mẹ anh đồng bóng, phô trương, thích khoe con kiếm được nhiều tiền còn đi mua hai chỉ vàng đeo khoe hàng xóm.

Bà hớn hở nói, năm nay con về Tết, bỏ lì xì cho con cháu nhiều chút cho mát mày mát mặt. Bao lì xì con cháu, bà toàn bỏ 200.000 – 500.000 đồng, mấy đứa hàng xóm cũng phải bỏ tờ 100.000 mới được. Mẹ anh mượn tạm của bác Tám hàng  xóm 30 triệu đồng sắm sanh, chuẩn bị trước cho kịp, giờ nói con sang trả. Đúng toàn bộ số tiền mặt anh mang theo.

Chưa hết, mấy ngày Tết, tốp bạn này đến nhóm bạn khác, đi nhậu, hát hò là… ưu tiên anh Khánh thanh toán với tâm lý, nó làm ‘to’ ở thành phố. Vài ba người biết ý mới góp tiền trả cùng anh. Rồi ở thôn còn đến nhà vận động những gia đình có con đi làm xa ủng hộ tiền làm đường, làm sân bóng hay là ủng hộ mừng thọ cho các vị cao tuổi…

Anh Khánh phải gọi vào cho bạn thân là chủ công ty, ứng tạm vài chục triệu để ‘xử lý khủng hoảng’. Sau đó, trở lại thành phố với sự căng thẳng của vợ con và vào cày ‘bục mặt’ để trả nợ. Năm nay, anh không dám về quê…!”

Anh Khánh, tất nhiên, không phải là người Việt Nam duy nhất sống gần kho đạn. Ở một đất nước đã từng đánh thắng liên tiếp mấy đế quốc to thì đạn dược chỗ nào mà không có nên dân nổ, chắc chắn, hơi nhiều. Tuy đông nhưng được cái là đám dân đen VN thường chỉ nổ vừa đủ nghe, cho anh em hay hàng xóm láng giềng giật mình chơi (thôi) chớ không vang dội tới bốn phương/tám hướng như giới lãnh đạo của xứ sở này. Họ nổ tưng bừng, và nổ không ngừng, khiến cho cả nước đều bị lùng bùng ráo trọi:

  • Nguyễn Thị Kim Ngân: “Đất nước này được như thế này, ngẩng mặt lên nhìn với bạn bè năm châu bốn biển như thế này, vai trò vị thế như thế này đó là do chúng ta duy trì được sự ổn định chính trị và trật tự an toàn trong cả nước.”
  • Nguyễn Chí Vịnh: “Bộ đội ta có những kỹ năng đặc biệt khiến Liên Hợp Quốc khâm phục.”
  • Nguyễn Mạnh Tiến: “Người bán trà đá tại Việt Nam có tỷ suất lợi nhuận cao nhất thế giới.”
  • Nguyễn Xuân Phúc: “Đưa rồng việt nam bay cao trên bản đồ công nghệ vũ trụ.”
  • Nguyễn Mạnh Hùng: “Việt Nam có thể đi đầu cách mạng công nghiệp 4.0.”
  • Nguyễn Xuân Thắng: “Việt Nam giúp Đức ‘tìm lại những mặt ưu việt’ của CNXH hiện thực trước đây.”
  • Nguyễn Trường Sơn: “Ngành y tế Việt Nam hoàn toàn có khả năng phát hiện, điều trị thành công các ca bệnh nhiễm nCoV.”   
  • Nguyễn Đức Chung: “Phấn đấu không có trường hợp nào mắc bệnh do virus Corona.”

Đó là mới điểm sơ qua năm bẩy ông bà quan chức họ “NGUYỄN” thôi, chớ gộp chung tất cả rồi ngồi ghi chép lại hết chắc phải tới Tết (sang năm) hoặc dám cho tới chết luôn. Ngoài sự khác biệt về cường độ âm thanh, giữa dân pháo và quan pháo, còn có sự dị biệt lớn lao về ảnh hưởng của tiếng nổ nữa. Anh Khánh chỉ mới lạch tạch vài tiếng (“lương cao, nhà rộng”) mà đã “phải cầy bục mặt để trả nợ” suốt năm còn qúi vị lãnh đạo cấp cao thì cứ thi nhau nổ (lớn) vang trời mà chả ai bị hề hấn gì ráo trọi.

  • Lê Duẩn“Chúng ta sẽ đuổi kịp Nhật trong 15, 20 năm và nhân dân ta sẽ đi trên thảm vàng.”
  • Nông Đức Mạnh: “Năm 2020 Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại.”
  • Nguyễn Phú Trọng: “Không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn…”

FB Nhân Tuấn Trương bàn ra: “Lời nói của ông Trọng ‘nổ’ lớn tới đâu rồi cũng ‘bay’ đi. Thực tế sẽ mãi mãi ở lại.”

Thực tế ra sao?

FB Ngô Trường An ghi vội, qua loa, vài ba con số:

– Lương thấp nhất trong khu vực (thua các nước đến 10 lần)
– Thuế cao nhất so với các nước trong khu vực (cao hơn họ gấp 3 lần)
– Xuất khẩu lao động nhiều nhất so với cả Thế Giới (chấp luôn các nước nghèo châu Phi)
– Gái mại dâm VN ra nước ngoài bán dâm nhiều nhất.
– Bệnh ung thư cao nhất trong khu vực
– Chết vì tngt nhiều nhất
– Số hộ nghèo nhiều nhất
– Đi ra nước ngoài ăn cắp nhiều nhất
– Tệ nạn rượu bia cao nhất
– GS-TS nhiều nhất nhưng không có một phát minh, sáng chế nào.
– Tỷ lệ Tướng, Tá trong ngành công an, quân đội nhiều nhất so với cả Thế Giới.
– Tham nhũng nhiều nhất
–  Chỉ số đáng sống thấp nhất 124/125…

Hệ quả của những lời hoa mỹ từ mồm miệng của qúi vị lãnh đạo quốc gia và thực tế (phũ phàng) của đất nước là “niềm tin đổ vỡ gần như sạch sẽ,” theo như nguyên văn lời của dân oan Nguyễn Thùy Dương:

“Trong vòng một tháng đầu tiên của năm 2020, tôi đã chứng kiến quá nhiều sự đổ vỡ, quá nhiều tấm mặt nạ bị lật ra, quá nhiều sự phân hoá. Qua hai sự kiện nổi bật là Đồng Tâm và virus Corona, niềm tin của một bộ phận không nhỏ người dân đối với Chính Quyền đã đỗ vỡ gần như sạch sẽ.”

Cùng thời điểm này, FB Trung Nguyễn còn chỉ ra một sự thực não lòng khác nữa liên quan đến chủ quyền của quốc gia:

“Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng đầu năm 2020 mà người dân Việt Nam đi từ cái sốc này đến cái sốc khác về đảng cộng sản cầm quyền. Cú sốc đầu tiên là ‘ác với dân’ qua thảm sát Đồng Tâm vào rạng sáng ngày 9/1/2020; còn cú sốc thứ hai là ‘hèn với giặc’ khi ngày 30/1/2020, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh tuyên bố Việt Nam chỉ có thể đóng cửa biên giới ngăn dịch viêm phổi cấp Vũ Hán khi được cộng sản Trung Quốc đồng ý.”

     Trái: Trần Quốc Vượng. Ảnh QĐNDVN. Phải: Trần Đại Quang. Ảnh: PGNT

Điều đáng quan ngại hơn hết là hiện tượng “vỡ đê đạo đức, hệ thống đức tin sụp đổ… Bây giờ, lúc rạp mình trước đức Phật là lúc tâm chúng sinh bất an nhất” –  theo nhận xét của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

Thảo nào T.T.B.B.T Trần Quốc Vượng không dấu được nỗi bi quan về “nguy cơ sụp đổ.” Không đổ thì mới là chuyện lạ nhưng nó đổ rồi sao?

What’s next?

Ngày ngắn đêm dài đêm lại sáng.

Đêm qua có ai bạc đầu không?

Tưởng Năng Tiến

‘Bến Không Chồng,’ ‘Làng Không Vợ’

 

‘Bến Không Chồng,’ ‘Làng Không Vợ’

Huy Phương

Những người đàn ông làm công việc vá lưới tại một ngôi làng ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. (Hình: Getty Images)

Những ngôi làng vắng tiếng cười,
mà chỉ nghe tiếng khóc trẻ thơ!

Vào cuối năm 1975, khi những người tù miền Nam được Cộng Sản chuyển ra Bắc, từ bến tàu Hải Phòng vào đêm, cho đến lúc trời sáng rõ khi con tàu cổ lỗ, cọc cạch dừng lại sân ga Yên Bái, chúng tôi quan sát thấy rất ít bóng dáng đàn ông. Trên cánh đồng, qua những công trình xây dựng ven đường, và ngay cả trên sân ga chỉ thấy toàn đàn bà, lác đác mới thấy vài nam công an mặc áo vàng. Hầu như tất cả đàn ông, dù là sau ngày chấm dứt chiến tranh năm ấy, đã biến mất. Họ đã đi xa chưa về, hoặc đã chết vì bom đạn, để lại trên miền đất này những người phụ nữ đảm đang hay bắt buộc phải đảm đang, cáng đáng nhiều công việc trước kia là của đàn ông.

Theo thống kê của Bắc Việt, kể từ sau năm 1945 đến năm 2012, toàn quốc có 1,146,250 binh sĩ tử trận, khoảng 600,000 thương binh, trong đó có 849,018 người lính chết trong giai đoạn “chống Mỹ.” Con số người mất tích, bị vùi dập vì bom đạn không sao kể xiết.

Chủ trương của Bắc Việt là tận dụng hết nhân lực, tài nguyên cho mục đích thôn tính miền Nam, có khi đóng nguyên cả trường đại học, lùa tất cả sinh viên, giảng viên và công nhân cầm súng vào Nam, mà không cần qua giai đoạn huấn luyện!

Điển hình trong trận Cổ Thành, Quảng Trị 1972, một tiểu đoàn Bắc Việt vào cổ thành với quân số đầy đủ, 67 đảng viên và nhiều vũ khí tối tân; đã chết trên 100 người, bị thương trên 700 (tính cả số bổ sung từng ngày) và lúc rút ra chỉ còn 12 người! Mỗi ngày có một đại đội vượt sông Thạch Hãn để tiếp viện quân số, nhưng đêm nay một đại đội tiến vào thì ngày mai chỉ còn lại vài người sống sót.” Do mật độ bom đạn rất cao và kéo dài nên hầu hết bộ đội Bắc Việt tử trận trong cổ thành đều bị vùi lấp. (QĐND 9/8/1972)

Thời gian chiến tranh, miền Bắc trở thành một miền đất vắng bóng đàn ông. Hình ảnh này được thể hiện trong “bến không chồng,” tiểu thuyết của tác giả Dương Hướng xuất bản lần đầu tiên năm 1990 tại Hà Nội, được giải thưởng của Hội Nhà Văn năm 1991.

Tập truyện được coi là một câu chuyện “hòn vọng phu” thời hiện đại. Toàn xã đã sống qua những ngày buồn thảm với những tờ giấy báo tử vô hồn, một vùng đất không có súng đạn nhưng chứa đựng nhiều mảnh đời cô phụ, đầy nước mắt. “Bến không chồng” là một bức tranh mô tả một làng quê quạnh quẽ thiếu bóng dáng đàn ông, chỉ còn lại những thiếu nữ lỡ làng, những chinh phụ mòn mỏi.

Cuộc chiến nào cũng để lại những điều đau xót, bất hạnh cho con người, nhưng sao thời bình, trong một xã hội hiện nay như làng xóm Việt Nam, lại xẩy ra những điều, mới nghe qua, quả là khó tin. Đó là ngày nay, cũng ở Bắc Việt, nhiều ngôi làng được mệnh danh là “những ngôi làng không vợ,” vắng hẳn bóng đàn bà, ở đó chỉ có những người đàn ông, sống cảnh “gà trống nuôi con.

Ngày xưa, những “bến không chồng,” dân làng giật gấu, vá vai, nhà cửa dột nát, nghèo nàn, cơm không đủ no, trái lại ngày này “làng không chồng” được gọi là những ngôi làng tỷ phú vì nhà cửa nguy nga, phương tiện của đời sống không những đầy đủ mà còn được coi là giàu có.

Theo thống kê của xã Hồng Long, huyện Nam Đàn (Nghệ An) cứ ba gia đình, thì có hai gia đình có người đi xuất khẩu lao động. Cả ba xóm có tới 165 phụ nữ đi làm việc ở Đài Loan, Mã Lai. Nhiều gia đình có vợ đi “xuất khẩu” từ hơn 10 năm qua, mọi việc lớn nhỏ trong gia đình, từ chăm sóc con cái, dọn dẹp nhà cửa đến việc đồng áng đều do giới đàn ông đảm nhận.

Những người đàn ông có vợ vắng nhà đều có những công việc “tần tảo” như nhau. Trời chưa hừng sáng, khi các con còn ngon giấc, đàn ông trong làng dậy lọ mọ nhen lửa, nấu cơm, nấu cám lợn, giặt giũ đống quần áo. Đến sáng, khi các con ngủ dậy, đàn ông lại chăm cho con ăn sáng, để còn đến trường, còn mình ở nhà thì thái rau, bưng cám cho đàn lợn đang kêu. Xong xuôi mọi việc trâu bò, lợn gà, có người còn phải lo cho cha mẹ già. Những ngày mùa, trong khi ngày xưa, đàn ông tuốt lúa, đàn bà rủ rơm, phơi rạ thì bây giờ ở đây, chỉ toàn là đàn ông, các ông bà già và trẻ nhỏ lo việc đồng áng.

Cho vợ đi làm lao động ngoại quốc như là một cơn sốt, hay nói đúng là một cơn dịch nhanh chóng lan rộng trong làng trên xóm dưới. Vì đồng tiền, người ta bỏ cả hạnh phúc gia đình, dứt bỏ tình cảm để ra đi.

Không thiếu những phụ nữ đành đoạn từ giã mái ấm gia đình, khi đứa con mới sinh đầy năm, chưa dứt sữa mẹ và hai đứa con khác chỉ mới lên năm và lên ba! Đó là trường hợp của nông dân tên Cách, tâm sự ngày vợ lên đường sang Đài Loan, ngày đầu tiên xa mẹ, bé út khóc suốt ngày vì thèm sữa mẹ, những đứa khác cũng bỏ ăn vì vắng mẹ. Những ngày đầu tiên vợ vắng nhà là những ngày hết sức khổ sở, con khóc đòi mẹ, thì phải nói với con “là sáng mai mẹ sẽ về, đến sáng không thấy mẹ đâu, con lại khóc, cha lại loanh quanh rằng mẹ đã về rồi, nhưng thấy con đang ngủ say nên lại đi rồi!”

Mãnh lực đồng tiền thời bình đã làm cho vợ chồng chia cách, ruột thịt chia lìa.

Câu chuyện bắt đầu từ những năm 1990, xã Đông Tân có người làm nhân viên cho một công ty xuất cảng lao động về làng tuyển người. Ban đầu, chỉ 4-5 người đi nhưng sau đó đồng tiền do họ gửi về đã làm “thay da, đổi thịt” cho gia đình, những ngôi nhà gạch bạc tỷ khang trang được dựng lên, nhà nào cũng có TV, dàn nhạc, xe gắn máy, có khi còn cả xe hơi. Cả làng đổi đời nhờ cuộc sống ly hương. Phong trào phụ nữ sang Đài Loan nở rộ, sau này còn cả số phụ nữ đi làm việc trong các sòng bài ở Macau.

Năm 2019, xã Đông Tân có 570 người xuất ngoại, trong đó 74% là phụ nữ. Xã hiện nay có tới gần 500 gia đình cùng cảnh ngộ vắng bóng đàn bà. Nhiều người đã đi Đài Loan, sau ba năm trở về với chồng, có thêm đứa con thứ hai mới ba tuổi, nhưng quê nhà chỉ có đồng ruộng khô cằn, vợ lại trao con cho chồng, ra đi lần nữa.

Một xã khác, có đến 800 phụ nữ đi làm nghề “ôsin” nước ngoài nên cánh đàn ông rơi vào thế thúc thủ.

Đàn ông phát biểu: “Nghề nông cấy được cây lúa cho trổ bông thì gạo rẻ. Sáu tháng nghề nông giỏi lắm chỉ làm được 3 triệu đồng. Đi ôsin mỗi tháng kiếm được 10 triệu đồng, nông dân nằm mơ cũng không thấy. Vì vậy, dù chẳng hay ho gì khi để vợ đi ôsin nhưng có lẽ nhờ thế mà đại đa số gia đình ở làng này các ông chồng có vợ đi ôsin đều thành công, giàu có!”

Một người khác cho biết: “Bố mẹ tôi có sáu người con trai thì năm anh em đều có vợ đi làm ôsin ở nước ngoài, chỉ trừ vợ anh cả do ốm yếu nên ở nhà! Ngoài năm chị em dâu, chị gái ruột của tôi cũng đi làm ôsin.” Ôsin vạn tuế! Thế thì thôi, còn gì để nói nữa!

Ở đây, có những cảnh người đàn ông, sống như cây tầm gửi, sáng sáng, đến nhà chị dâu lãnh thực phẩm cho hai cha con ăn đủ trong ngày, vì vợ đi Đài Loan, Macau làm ăn từ hơn 15 năm trước, không tin chồng, người đàn bà phải nhờ chị dâu mình rót thức ăn mỗi ngày. Có ông, lúc con khóc nhớ mẹ, không biết nhờ ai, lại bồng bế đi dỗ khắp làng, cười ra nước mắt khi gặp những người đàn ông cùng cảnh ngộ. Về nhà, lại lo chuyện bếp núc, tắm rửa cho con thơ. Bây giờ, trong những ngôi làng này, “đàn ông mặc váy” đã thành câu chuyện bình thường, do cái xã hội đặc biệt này tạo ra!

Nói về câu chuyện cho đàn bà đi “xuất khẩu,” để đàn ông ở lại nhà lo chuyện nội trợ, bếp núc, may vá và cả chuyện ruộng đồng, nhiều bậc cao niên trong làng có ý kiến, rằng tuy đồng tiền quý thật, nhà cao cửa rộng, ai mà không thích, nhưng đời sống quê nhà vẫn thiếu một cái gì đó. Thương nhất là những đứa trẻ có mẹ mà cũng như côi cút. Nhiều phụ nữ sau nhiều năm trở về, con không nhận ra mẹ nữa. Đêm nào cũng nghe tiếng trẻ khóc vì thiếu mẹ, quê làng vắng tiếng ru hời.

Việt Nam hiện nay, có hàng vạn khu phố văn hóa, những ngôi làng không vợ, có được gọi là những ngôi làng văn hóa không? Dù ở những nơi này, mỗi ngày mỗi thịnh vượng, giàu có, nhà lầu san sát mọc lên, nhưng ở đây, phải nói là có điều bất bình thường. Điều này, có còn để được ca tụng đây là một chế độ đầy “nhân văn” không? Nơi đây, nhìn qua, quả là có một bộ mặt thịnh vượng, cán bộ cầm quyền đang giàu lên mỗi ngày nhờ đất, con người thì đẩy vợ đi ra khỏi nước để kiếm tiền, ngẩng mặt với làng xóm, anh em.

Nhiều quốc gia trên trái đất này, chịu những nỗi đau trong chiến tranh giống nhau, nhưng vào thời bình, không biết có quốc gia nào, chịu những nỗi buồn giống như những “ngôi làng không vợ” ở miền Bắc Việt Nam hiện nay hay không? (Huy Phương)

Vợ cụ Lê Đình Kình kể chuyện công an đến nhà đòi lấy các cánh cửa

Trần Bang and 3 others shared a link.
 .

Bà Dư Thị Thành, quả phụ của cụ Lê Đình Kình kể chuyện yêu cầu công an đem các cửa kính đi xét nghiệm.

  • BBC: Bà Dư Thị Thành – quá phụ của ông Lê Đình Kình xác nhận với BBC hôm 12/02, công an xã Đồng Tâm đến nhà đòi đem các cánh cửa nhà bà đi xét nghiệm.

    Bà cho biết sau khi từ chối không cho mang cửa đi, bà từ bị công an bắt ký vào biên bản, và hôm sau nhận được giấy triệu tập.

    Bàn nghĩ vì sao công an lại muốn lấy đi những tấm cửa đầy vết đạn vào thời điểm này?

Corona làm ‘tê liệt’ chợ hoa Hồ Thị Kỷ: Lễ tình nhân ế ẩm lịch sử

Valentine’s Day in Vietnam.

‘Tôi bán hoa 17 năm ở chợ hoa Hồ Thị Kỷ nhưng đây là dịp lễ tình nhân lịch sử nhất vì vắng khách chưa từng thấy. Dịch corona làm khách mua hoa giảm nhiều”, chị Tâm ngao ngán.
About this website

Giật mình: Người Trung Quốc mang muôn vàn xấu xa đến tàn phá Việt Nam

csvn chịu trách nhiệm trước tiên và trước dân tộc

Lướt qua một số tờ báo trong nước, bạn sẽ không khỏi giật mình vì thông tin người Trung Quốc phạm tội đủ thứ loại trên đất nước Việt Nam.Dưới đây là liệt