4 nhân vật dân sự xuất sắc của Việt Nam Cộng Hòa có thể bạn chưa biết

 

4 nhân vật dân sự xuất sắc của Việt Nam Cộng Hòa có thể bạn chưa biết

 
Đồ họa: Luật Khoa.

Đồ họa: Luật Khoa.

Thật vậy, ngay sau cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm năm 1963, hầu hết những cái tên đáng kể trên chính trường miền Nam Việt Nam đều có xuất thân nhà binh. Từ Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh cho đến Trần Thiện Khiêm, Lê Minh Đảo hay Nguyễn Khánh.

Việc tập trung vào những nhân vật này làm cho bức tranh về chính trị Việt Nam Cộng hòa có phần không hoàn chỉnh. Nhấn mạnh quá nhiều vào các nhóm quân sự kiểm soát chính quyền khiến góc nhìn về chính thể và môi trường chính trị của nền cộng hòa miền Nam Việt Nam có phần không lành mạnh, dễ bị bóp méo. Từ đó, bài viết, tư liệu dành cho các lãnh đạo dân sự thật sự của Việt Nam Cộng hòa cũng không còn bao nhiêu. 

Dưới đây là bốn cái tên bạn có thể cân nhắc cho các đối thoại chính trị mới mẻ hơn về Việt Nam Cộng hòa.  

Giáo sư Nguyễn Văn Bông 

Nguyễn Văn Bông từng là một cái tên đầy triển vọng của chính trường miền Nam. Ông không được mấy ai ngày nay ở Việt Nam biết đến. Nếu không có một bài báo chính thống trên tờ Dân Việt phát hành hồi năm 2011 kể về chuyện biệt động thành đã ám sát ông vào năm 1971 thì có lẽ càng ít người biết đến ông hơn nữa.

Sinh năm 1929 tại Gò Công, Tiền Giang trong một gia đình thị dân nghèo, Nguyễn Văn Bông khác biệt với hầu hết các chính trị gia có tiếng của Việt Nam Cộng hòa, vốn đều xuất thân từ các gia đình danh thế, không tư bản thì cũng đại điền chủ. Thông tin về đời tư và tuổi trẻ của Nguyễn Văn Bông hiện nay rất hiếm, và đa phần chỉ còn có thể tìm thấy trong quyển hồi ký “Autumn Cloud: Vietnam War Widow to American Activist”. Quyển này do chính bà Lê Thị Thu Vân, vợ của ông Bông viết, nên có thể xem là một văn bản đáng tham khảo.

Ông bà Giáo sư Nguyễn Văn Bông và các con - Sài Gòn 1964. Ảnh: VOA/Chưa rõ nguồn.
Ông bà Giáo sư Nguyễn Văn Bông và các con – Sài Gòn 1964. Ảnh: VOA/Chưa rõ nguồn.

Nguyễn Văn Bông tốt nghiệp loại ưu cấp cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ tại trường đại học danh tiếng của Pháp Sorbonne Université, chuyên ngành công pháp và sau đó là luật học. Ông trở về Việt Nam vào đầu năm 1963 và trước tiên tham gia vào hoạt động giảng dạy tại Học viện Quốc gia Hành chánh, trung tâm đào tạo nhân viên công quyền cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Trong quá trình giảng dạy, tầm nhìn của ông thu hút được đông đảo sự ủng hộ của sinh viên, và trở thành nền tảng cho các hoạt động chính trị của ông sau này. 

Cuối năm 1963, chính quyền hậu Ngô Đình Diệm quyết định bổ nhiệm ông làm Viện trưởng Học viện này. 

Đến năm 1968, khi cả miền Nam Việt Nam chuẩn bị cho đợt tổng tuyển cử đầu tiên của nền Đệ nhị Cộng hòa, Nguyễn Văn Bông thành lập Phong trào Quốc gia Cấp tiến (Progressive National Movement), với sự hậu thuẫn chính trị đông đảo từ sinh viên, công chức và giới trí thức miền Nam Việt Nam. 

Quan điểm chính trị của phong trào thì còn nhiều tranh cãi, song cũng thể hiện được tính độc lập của phong trào này. 

Một số ghi nhận ngắn như của New York Times thì cho rằng phong trào ủng hộ chính phủ đương quyền của Nguyễn Văn Thiệu, nhìn chung có thể vì Nguyễn Văn Bông có thái độ chính trị chống Cộng khá rõ ràng. Một số tài liệu khác, như trong Di cảo cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông ghi nhận lại, thì đường lối mà ông Bông đặt ra là gầy dựng một chính quyền nhân dân phổ quát và dân chủ, hạn chế và từ từ đi đến triệt tiêu chính quyền quân quản đang tồn tại ở miền Nam Việt Nam. Vậy nên cũng có thể xếp phong trào vào nhóm đối lập. 

GS Nguyễn Văn Bông (phía trước) GS Nguyễn Văn Tương,(bên phải) và GS Tạ Văn Tài đên trao bằng Tiến sĩ cho một sinh viên Trường Luật. Ảnh: VOA/Chưa rõ nguồn.

Dù không trực tiếp tham gia tranh cử năm 1968 – 1969, Phong trào Quốc gia Cấp tiến phát triển mạnh mẽ và trở thành một thế lực chính trị đáng nể. Đây là lần đầu tiên một phe nhóm chính trị có ảnh hưởng tại miền Nam Việt Nam không lệ thuộc quá nhiều vào tôn giáo, vùng miền hay là di sản kế thừa từ các chính đảng già cỗi từ thời kháng Pháp. 

Thành công của phong trào khiến sau đó Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mời Nguyễn Văn Bông làm thủ tướng cho nội các mới. Tại thời điểm này, sau khi thực hiện thành công chính sách “Người cày có ruộng”, Nguyễn Văn Thiệu đang mong muốn mở rộng nền tảng hậu thuẫn và tính chính danh cho chính quyền mới, dần dần dân sự hóa và ổn định môi trường chính trị Việt Nam Cộng hòa. 

Đây cũng là lý do Việt Cộng ám sát ông vào cuối năm 1971, lúc ông chỉ mới 42 tuổi. 

Một số tác phẩm mà giáo sư Nguyễn Văn Bông để lại có thể kể đến tham luận “Đảng phái và Đối lập chính trị”, và đặc biệt nhất là quyển “Luật Hiến pháp và Chính trị học” – sách gối đầu giường một thời của sinh viên Học viện Quốc gia Hành chánh VNCH, hiện đã được trang Pro&Contra của nhà văn Phạm Thị Hoài số hóa

Bộ trưởng Cao Văn Thân 

Sinh năm 1934, Cao Văn Thân là Bộ trưởng Bộ Cải cách Đất đai và Phát triển Nông nghiệp dưới thời Nguyễn Văn Thiệu. Ông gần như “tàng hình” trong sử sách chiến tranh Việt Nam, một phần vì bị lấn át bởi thông tin của giới tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa, một phần vì giới cầm quyền đương đại của Đảng Cộng sản Việt Nam tránh nói về các lãnh đạo dân sự của “Ngụy quyền”. Vì lẽ này, rất khó để thu thập đầy đủ thông tin về thân thế và lịch sử hoạt động chính trị của ông.

May mắn là trong các tài liệu rải rác tìm được, chúng ta có thể thấy dấu ấn của Cao Văn Thân trong các thành công bước đầu của chính quyền dân sự miền Nam Việt Nam. Cụ thể, Cao Văn Thân thi thoảng được báo chí phương Tây nhắc đến như là kiến trúc sư trưởng của chính sách “Người cày có ruộng” (Lands to the Tillers), cùng những nỗ lực không mệt mỏi của ông trong việc thi hành thành công chính sách quan trọng này. 

Ông Cao Văn Thân. Ảnh: Amazon.

Trong nghiên cứu có tên “Âm vang Đệ nhị Cộng hòa miền Nam Việt Nam” (Voices from the Second Republic of South Vietnam) của Giáo sư K. W. Taylor thuộc Đại học Cornell – sử gia hàng đầu về Việt Nam của Hoa Kỳ, Cao Văn Thân được ghi nhận là một trong những lứa lãnh đạo đời đầu được đào tạo luật lẫn kinh tế tại Hoa Kỳ, thay thế cho nhóm “cây đa cây đề” gốc Pháp trước đó. 

Ông cũng được khen ngợi là bộ óc sáng giá nhất trong nội các của Nguyễn Văn Thiệu thời kỳ bấy giờ. Hệ thống nhân sự, chương trình đào tạo và tiến trình thực hiện “Người cày có ruộng” là do ông chuẩn bị và soạn thảo trong gần nửa năm. Các chương trình phát triển như tăng cường xuất khẩu nông sản, bảo vệ an ninh lương thực, thử nghiệm giống lúa mới cũng như mô hình sản xuất 5 năm… đều do ông đề xướng và chịu trách nhiệm

Không phải là một nhà nghiên cứu, nhưng ông Thân có để lại quyển Agrarian reform in Vietnam, được xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội đồng Đối ngoại Việt Nam Cộng hòa. Hiện quyển này còn có thể được tìm thấy trong Thư viện Quốc gia Australia. 

Theo thông tin hồi năm 2016 từ đài VOA, Bộ trưởng Cao Văn Thân sinh sống cùng gia đình tại Canada. Tuy vậy, gần đây báo Người Việt ở Mỹ có đăng một số cáo phó nói rằng ông qua đời ngày 14/4/2020 ở Montreal, Canada.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy

Nguyễn Ngọc Huy là một nhân vật chính trị gốc gác dân sự khác bị bỏ quên trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Ông là bạn đồng chí với giáo sư Nguyễn Văn Bông từ lúc là sinh viên học tập tại Pháp, và cũng là tác giả của quyển Di cảo cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông.

Có thể gọi ông Nguyễn Ngọc Huy là một nhà nghiên cứu đi làm chính trị, do khối lượng bài viết và các công trình nghiên cứu đồ sộ của ông. Đáng tiếc là hầu hết chúng đều rơi vào lãng quên. 

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy (giữa) và ông Nguyễn Cao Kỳ (phải). Ảnh: virtual-saigon.net.

Giáo sư Huy sinh năm 1924, tại Sài Gòn – Chợ Lớn, gốc ở Biên Hòa. Ông gia nhập Đảng Đại Việt Quốc dân Đảng thuộc xứ bộ Nam kỳ từ khi còn khá trẻ và tiếp tục trung thành với chính đảng này cho đến tận cuối thập niên 60, dù trải qua nhiều lần bị chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp và phải đi tị nạn chính trị

Sau khi lấy bằng Tiến sĩ Chính trị học ở Pháp vào năm 1963, ông trở về Việt Nam và cùng giảng dạy với GS Nguyễn Văn Bông tại Học viện Quốc gia Hành chánh, và trở thành một nhân vật lãnh đạo chủ chốt của Phong trào Quốc gia Cấp tiến. Cũng trong năm 1969, ông tự mình lập Đảng Tân Đại Việt và trở thành nhân vật chính trị đối lập với chính quyền quân quản. 

Ngoài các thành tựu chính trị mà ông gắn chung tên tuổi với GS Bông, GS Huy cũng cho thấy sức viết và khả năng đóng góp vượt trội về mặt tri thức – học thuật của mình cho phong trào dân chủ tại Việt Nam. 

GS Huy có một lượng kiến thức đáng nể về văn hóa và chính trị Trung Hoa, giúp ông có một cái nhìn đặc biệt hơn về địa chính trị, vai trò của văn hóa, chủ nghĩa dân tộc và tương lai của Việt Nam giữa hai làn đạn Chiến tranh lạnh. Một số tác phẩm của ông về Trung Quốc và văn hóa Đông phương có thể kể đến Đề tài người ưu tú trong tư tưởng chánh trị Trung quốc cổ thời, hay “Lễ trong tư tưởng chánh trị Trung Quốc cổ thời”. 

Trong quyển New Perceptions of the Vietnam War, do Tiến sĩ Nathalie Huynh Chau Nguyen làm chủ bút [Giáo sư của Trung tâm Úc học Quốc gia (National Centre for Australian Studies) của Đại học Monash, và là một trong những sử gia tiếng tăm nhất thế giới về chiến tranh Việt Nam], người ta nhận định Nguyễn Ngọc Huy là một trong những chiến lược gia lớn trong lịch sử Việt Nam đương đại, dù ông không có cơ hội biến chúng thành sự thật. 

Nguyễn Ngọc Huy là chủ bút của tờ nguyệt san Cấp tiến với hàng loạt các bài viết sắc sảo về tình hình chính trị miền Nam Việt Nam. Ông cũng là tác giả của tác phẩm “Sự tồn vong của một quốc gia” (Survival of a Nation). Tác phẩm này được ca ngợi là có thể hóa giải nhiều vấn đề của chính quyền miền Nam Việt Nam, và những cuộc đảo chính chống Ngô Đình Diệm dẫn đến sự thống trị của giới tướng lĩnh trong chính trường cũng sẽ không xảy ra nếu các nguyên tắc quản trị Việt Nam đặc trưng của ông được thừa nhận. Đáng tiếc là hiện nay chưa thể tìm ra bản thảo gốc đầy đủ của tác phẩm này. 

Sau 1975, GS Huy tị nạn ở Hoa Kỳ, và tiếp tục hoạt động đấu tranh dân chủ của mình với kỳ vọng có thể trở về Việt Nam và thúc đẩy các phong trào dân chủ bên trong Việt Nam. Tuy nhiên, ông mất sớm vào năm 1990. Quyển “The tradition of human rights in China and Vietnam, do ông cùng GS Stephen B. Young chấp bút, hiện vẫn còn được lưu hành. 

Nhà báo Từ Chung 

Từ Chung là biên tập viên, là cây bút của tạp chí Chính Luận, một trong những tờ báo độc lập được đón đọc và nể trọng nhất miền Nam Việt Nam thời điểm bấy giờ. 

Cũng như Bộ trưởng Cao Văn Thân, thông tin về thân thế và lịch sử hoạt động của Từ Chung gần như là không tồn tại. Tản mạn trong một vài bài viết trên mạng, như của Hoàng Hải Thủy nói về hai tờ Ngôn luận và Chính luận, Từ Chung có được nhắc đến như là thư ký của tờ báo, từng du học tại Thụy Sĩ. Nhưng còn thông tin về thân thế của ông thì gần như không có. 

Riêng tạp chí Chính Luận thì được bàn khá chi tiết trong nghiên cứu của tác giả Tran Nu Anh có tên  South Vietnamese Identity, American Intervention, and the Newspaper Chính Luận, đăng tải trên tạp chí khoa học Journal of Vietnamese Studies của Đại học California. Được thành lập vào năm 1963, và vận hành cho đến tận khi Sài Gòn thất thủ, Chính Luận là tờ tạp chí tồn tại lâu đời nhất và là tờ báo được đọc nhiều nhất. Trong năm 1974, tạp chí phát hành được hơn 13.000 bản mỗi ngày, cao nhất trong các báo miền Nam Việt Nam. 

Một trang báo Chính luận. Ảnh: sachhiem.net.
Một trang báo Chính luận. Ảnh: sachhiem.net.

Như nghiên cứu chỉ ra, tờ Chính Luận là diễn đàn lớn nhất bàn luận về danh tính Việt Nam giữa “cơn bão” văn hóa Mỹ và tiền Mỹ. Các bài viết đặt ra những câu hỏi về danh tính người Việt, vai trò của người Mỹ, rồi cả hình ảnh và vai trò của người phụ nữ trong sự giao thoa giữa phương Đông và phương Tây.

Song đồng thời, đây cũng là tờ báo hiếm hoi dành thời gian chỉ trích những sai lầm của chính phủ Việt Nam Cộng hòa lẫn hành vi khủng bố thường trực của phe Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam (hay Việt Cộng). 

Sự trỗi dậy của tờ báo phần lớn nhờ vào tầm nhìn và chủ trương của ông Đặng Văn Sung, một dân biểu có tiếng, và hoạt động quản trị của thư ký – biên tập viên Từ Chung. 

Cuối năm 1965, sau nhiều loạt bài chỉ trích hành vi tấn công dân thường và các hoạt động quân sự không phù hợp của phe Việt Cộng, Đặng Văn Sung và Từ Chung nhận tối hậu thư của phe này: một là im lặng – hai là chết. 

Vài ngày sau khi nhận được tối hậu thư, Từ Chung thay mặt tòa soạn viết thư trả lời phe Việt Cộng đăng trên Chính Luận. Theo ghi nhận của Vietnam Information Notes do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lưu trữ, Từ Chung khẳng định rằng Chính Luận là một tờ báo trung lập và từng vạch trần tất cả sai phạm của mọi bên trong chính trường miền Nam, song duy chỉ có Việt Cộng là đưa ra kiểu đe dọa vô pháp như vậy. Ông khẳng định: Các anh có thể giết chúng tôi, nhưng tinh thần của chúng tôi sẽ còn sống mãi. 

Ngày 30 tháng 12 năm 1965, sau hai năm quản lý tờ báo, Từ Chung bị Việt Cộng (nhiều khả năng là biệt động Sài Gòn) bắn chết ngay trước cửa nhà ông bằng bốn phát đạn.

Hết chiến tranh sao phải dạy “đả đảo”, “căm thù”?

Hết chiến tranh sao phải dạy “đả đảo”, “căm thù”?

Võ Ngọc Ánh

18-4-2020

Trước chiến tranh cha thoát ly đi làm du kích. Con về vùng tản cư tìm sự an toàn, được học hành.

Từng đêm con tránh đạn cha pháo kích từ trên núi xuống, trong căn cứ ra. Cũng lại qua màn đêm cha mò về bắn giết trong vùng tản cư. Nơi những người dân đang ngày đêm bảo vệ, dạy dỗ con. Nơi con cùng gia đình đang tìm sự an toàn.

Đâu chỉ pháo kích, phá đồn, cha còn phá cầu, phá đường, phá trường, phá tất cả những gì bên này cố gắng xây dựng lên để có một cuộc sống được bình thường.

Vì vậy, nơi con ở, dân gọi hành động của những người như cha là “giặc”.

Trường con học đêm qua vừa bị cha pháo kích. Tường đổ. Mái sập. Bàn ghế gãy chỏng chơ. Nơi con vẫn nhận được bữa ăn lót dạ mỗi buổi đến trường. Con vẫn được khen, được thưởng, có bảng danh dự hằng tháng.

Cha có biết không?! Đầu tháng 3/1974, những người phe cha đã pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy, tại thị trấn Cai Lậy, tỉnh Định Tường (nay là Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang).

Ngôi trường đó đâu có may mắn như trường con học. Khi vụ pháo kích làm hơn 30 người chết và gấp đôi con số đó bị thương. Trong đó có nhiều bạn cùng học sinh, đồng tuổi như con cha à!

***

Khi chiến thắng, cha bắt con phải quên điều Mỹ – Ngụy dạy về tinh thần nhân văn, tự do, dân chủ và lấp vào đó bằng “khí thế cách mạng”. Cha dạy con từ nay phải biết “Đả đảo Mỹ – Ngụy”, “Đời đời căm thù”.

Cha ơi, thật không dễ “đả đảo”, “căm thù” những người, chính quyền đã từng cưu mang, giúp con tránh đạn, dạy con học, trao cho con sự an toàn, cho con không phải chịu cảnh đói.

Cha chiến thắng rồi, nhiều ngày con đến trường nhưng không phải học. Thay vào đó con phải cầm cờ đi bộ dọc theo con đường chính ở xã, ở huyện hô vang: “Đả đảo Mỹ – Ngụy”, căm thù người từng cưu mang con và tung hô đảng của cha, lãnh tụ của cha.

Cha bảo, đó là nhiệm vụ chính trị của thời đại mới – thời đại XHCN con phải làm.

Chiến thắng rồi, phe cha xây dựng lên không biết bao nhiêu tượng đài của “khí thế cách mạng” chỉa súng, vung gươm, tượng mạo hung hăng, mặt đầy sát khí… vào lòng người. Cha bảo, đó là những tượng đài giáo dục cách mạng.

Liệu con có thể trở thành người tốt bởi phải học, nuôi dưỡng sự căm thù, nhìn cảnh bạo lực qua các tượng đài mỗi khi ra đường không cha?!

Cha mở ra cái thời, dân trong làng, trong xã đi làm không phải được tính lương, hiệu suất lao động, mà tính bằng điểm, sự có mặt. Để rồi đâu chỉ có cơm độn, con còn phải tập ăn bo bo.

Con đói hơn. Quần áo con rách nhiều hơn. Cả xã hội miền Nam mọi thứ trở nên thiếu thốn hơn thời chiến tranh con sống cha à!

Con lại phải hô cho chính mình:

“Đả đảo Mỹ – Ngụy ăn gạo bao.

Hoan hô bác Hồ ăn ‘lúa điểm’.”.

Ăn ‘lúa điểm’ – “liếm đũa”, đó là thực tế phe cha mang lại.

Con hôm nay chẳng còn trẻ để xuống đường xuống đường hô “đả đảo”, “căm thù”, nhưng nhìn những bảng đỏ, bang rôn ăn mừng chiến thắng lòng con đau thắt khi dân tộc này vẫn đầy chia rẽ cha à!

“NGẠO NGHỄ” VIỆT NAM

 
No photo description available.
Hoang Le Thanh

“NGẠO NGHỄ” VIỆT NAM

Một nửa sự thật không phải là sự thật.

Tin giả:

“Việt Nam điều máy bay đưa công dân ở Italia về nước tránh dịch Covid-19”.

Hôm nay, báo chí Việt Nam đưa tin Việt Nam điều máy bay đưa công dân ở Italia về nước tránh dịch Covid-19.

Tuy nhiên, qua tra cứu Kiểm Tin xác nhận rằng tập đoàn dầu khí ENI của Italia đã thuê máy bay của Vietnam Airlines để đưa các công dân Italia về nước, và hỗ trợ đưa công dân Việt Nam về Việt Nam ở chiều bay ngược lại mà không lấy phí.

Nguồn: Kiểm Tin

Khi các giám đốc công an bảo kê cho tội phạm… | Tiếng Dân

 

BAOTIENGDAN.COM

Khi các giám đốc công an bảo kê cho tội phạm…

Bởi  AdminTD

Thu Hà

15-4-2020

Không phải đến tận bây giờ mà từ 20 năm trước, vào những năm 2000, nạn “bảo kê” cho giang hồ, du đãng, đã gây chấn động Việt Nam. Vụ án “Năm Cam và đồng bọn” là một điển hình.

Hai ông Ủy viên Trung ương Đảng là Bùi Quốc Huy và Trần Mai Hạnh dính phốt. Góp mặt trong “danh sách đen” chạy án, bao che, bỏ lọt tội phạm, ngoài Thứ trưởng Bộ Công an, Viện phó VKS Tối cao, còn có các sĩ quan cấp tá, anh hùng Lực lượng Vũ trang, thủ trưởng cơ qua điều tra. Cho nên, dân lành không chết mới lạ.

Lực lượng công an đã trở thành nỗi khiếp đảm, kinh hoàng đối với người dân trên cả nước, phần vì luật lệ đã dành cho các cơ quan chức năng quyền hạn quá lớn. Gần như toàn bộ hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá… của gần trăm triệu dân trong nước, lẫn hàng triệu kiều bào đều nằm trong tay của lực lượng này.

Ở mỗi tỉnh, thành, giám đốc công an đều nằm trong Thường vụ tỉnh (thành) uỷ. Bí thư, dù là Ủy viên Trung ương Đảng, cũng “ớn” giám đốc công an, nói chi tới cấp UBND, vì theo ngành dọc, “sếp đại” của công an, lại là Ủy viên Bộ Chính trị.

Ông giám đốc công an làm gì, bí thư tỉnh đều biết cả và ngược lại. Cho nên, họ luôn là “cặp đôi hoàn hảo” đoàn kết với nhau, để đôi bên cùng có lợi. Từ đó, giám đốc công an trở thành trùm của các ông trùm, bảo kê cho “thế giới ngầm”.

Thiếu tướng Bùi Quốc Huy (sinh năm 1945) mất chức thứ trưởng, ra khỏi BCH Trung ương Đảng, lãnh án 5 năm tù, bởi do bảo kê cho giới xã hội đen thành Hồ như Năm Cam, Hồ Viết Sử… thời ông ta làm giám đốc Sở Công an.

Sau vụ án Năm Cam chấn động cả nước, ngỡ các giám đốc công an sẽ “nhờn”, nhưng không, họ còn táo bạo, tinh vi hơn, ăn dày hơn và ngồi xổm trên luật pháp.

***

Còn nhớ, năm 2012, Lê Bá Huy, doanh nhân Đà Nẵng, còn có biệt danh “Huy máy nổ”, đã lừa đảo chiếm đoạt của bà P.T quê Vũng Tàu, có tập đoàn ở TP HCM, số tiền 20 tỷ đồng và 500 lượng vàng SJC. Năm 2013, bà P.T ra tận Đà Nẵng gởi đơn cho công an, đòi tiền, nhưng Huy lánh mặt.

Trong khi đó, tại Đà Nẵng, Lê Bá Huy là trùm buôn bán máy nổ, xe đạp điện Trung Quốc. Huy kinh doanh hệ thống nhà hàng khách sạn SamDi, ông chủ của cafe Không gian xưa – đầu tư lên đến 650 tỷ đồng.

Tại khu nhà hàng – cafe Không Gian Xưa, bà T từ Sài Gòn ra tố cáo với Công an quận Thanh Khê (Đà Nẵng) về việc Huy “máy nổ” giựt nợ bà nhiều tỉ đồng, còn cho nhân viên bảo vệ đánh khi bà đến đòi nợ. Ảnh chụp tháng 11/2013. Nguồn: HC/ Infonet

Công an TP HCM đã khởi tố vụ án từ 2015, nhưng rồi “chìm xuồng” cho đến nay.

Ngày 1/11/2014, Lê Bá Huy bị cô N.T.M.Y, sinh năm 1993, trú tại phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, Đà Nẵng, tố cáo hiếp dâm với đầy đủ tang chứng, vật chứng. Kết cục, vụ án không được khởi tố, thiếu nữ bị cướp đời con gái, còn đại gia Huy thì… bình an vô sự.

Cô Y, nạn nhân bị hiếp dâm, với đơn tố cáo dài 3 trang, nhưng vụ án bị chìm xuồng. Photo Courtesy

Người dân Đà Nẵng đều biết, người bao che, bảo kê cho Lê Bá Huy, chính là Đại tá Nguyễn Văn Sơn, sinh năm 1961, giám đốc CA Đà Nẵng 2010-2015. Nay ông Sơn đã lên Trung tướng, Thứ trưởng Bộ công an.

Giang hồ xầm xì, tại quê nhà Hoà Tiến, “em kết nghĩa” Lê Bá Huy làm tặng đại tá Sơn một căn nhà gỗ kiểu xưa ba gian, trị giá gần 50 tỷ đồng.

Thời của Nguyễn Văn Sơn, một “suất” vào công an, con em của sĩ quan trong ngành, đã “chung” không dưới 10.000 đô; người ngoài, thì… giá khủng.

***

Những năm gần đây, sự gắn kết giữa “xã hội đen” và “xã hội đỏ” công khai, trở thành nỗi kinh hoàng cho người dân lương thiện. Bọn giang hồ, du đãng có mặt hầu hết các lĩnh vực kinh doanh, sản xuất, thương mại dịch vụ, bất động sản… đến buôn ma tuý, cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê, chém mướn.

Năm 2018, đại tá “tiến sĩ” Lê Văn Tam, sinh năm 1959, giám đốc CA Đà Nẵng, kế nhiệm Nguyễn Văn Sơn, bảo kê cho Vũ “nhôm”. Thông tin ông Tam được Vũ tặng biệt thự trăm tỷ, lan truyền khắp Đà Nẵng.

Thiếu tướng Trần Kỳ Rơi, sinh năm 1958, Giám đốc CA Đắk Lắk, được cho là trùm “bán lon, bán ghế” trong lực lượng, bao che bọn khai thác, buôn gỗ lậu, bảo kê, giang hồ chuyên thu “hụi chết”, “làm luật” với nông dân trồng tiêu, cà phê…

Nhìn cơ ngơi biệt thự toàn đồ gỗ trị giá ngàn tỷ và đưa con gái Trần Thuý Hằng, từ nhân viên ngân hàng sang, đeo lon Thượng uý, Đội trưởng chống buôn lậu, phòng Cảnh sát kinh tế, đủ thấy quyền lực của ông ta thế nào.

Năm 2019, đại tá Huỳnh Tiến Mạnh giám đốc Công an Đồng Nai để lại một “vết nhơ” đáng hổ thẹn. Xuất thân từ Trưởng phòng CSGT, nhờ “chung đủ” cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Khánh, Mạnh được Khánh chọn làm người kế nhiệm chức vụ giám đốc công an tỉnh từ năm 2015. Suốt 5 năm trên ghế “ông trùm”, Huỳnh Tiến Mạnh gây quá nhiều tội lỗi và tai tiếng.

Cặp vợ chồng đại tá Huỳnh Tiến Mạnh – phu nhân Nguyễn Thị Hồng, đã làm những việc động trời ở Đồng Nai: Bảo kê cho bọn giang hồ, du đãng; thu tóm bất động sản, cho vay nặng lãi; lập hệ thống mãi lộ, mua bán chức quyền, trù dập cán bộ…

Đỉnh điểm, ngày 12/6/2019, hàng trăm giang hồ xăm trổ do Giang “36” và Tuấn “nhóc” cầm đầu, đã tấn công các sĩ quan công an TP Biên Hoà và giam họ tại chỗ trong xe hàng giờ. Lực lượng “đầu gấu” ấy là đệ tử của vợ chồng Huỳnh Tiến Mạnh.

Đại tá Huỳnh Tiến Mạnh, từng là trùm bảo kê ở Đồng Nai. Ảnh trên mạng

Tội danh, sai phạm của Huỳnh Tiến Mạnh và vợ, lẽ ra phải bị khởi tố hình sự, chứ không phải chỉ là kỷ luật đảng và mất ghế giám đốc, rồi nghỉ hưu. Sự kiện Huỳnh Tiến Mạnh hạ cánh an toàn, gây phẫn nộ và nhức nhối ngay trong ngành công an Đồng Nai, lẫn dư luận xã hội.

Mới đây, vụ án vợ chồng Đường Nhuệ ở Thái Bình, lộ ra “mặt thật” của nhiều vấn nạn. Xã hội đen lộng hành, “đội lốt” doanh nhân, hà hiếp dân, cướp của, thu tóm đất đai, đòi nợ thuê, cho vay nặng lãi, đánh người ngay tại đồn công an… xảy ra giữa thanh thiên bạch nhật, vô hiệu hóa cả hệ thống chính trị ở tỉnh Thái Bình.

Người dân Thái Bình rên xiết gần hai mươi năm qua, trước tệ nạn lộng hành của “xã hội đen”, họ khiếp sợ khi những người đại diện pháp luật lại đi bảo kê cho chúng. Dân kêu cứu vô vọng, tội phạm không bị khởi tố trong suốt nhiều năm, trách nhiệm không chỉ ở công an, mà cả các cấp uỷ, chính quyền và đoàn thể ở tỉnh này.

Bốn đời giám đốc Sở Công an đỡ đầu cho “xã hội đen” ở Thái Bình, gồm:

– Trần Văn Vệ, từ năm 2004- 2010

– Trần Xuân Tuyết, từ năm 2010- 2014

– Lê Đình Nhường, từ năm 2014-2016

– Nguyễn Văn Minh, từ năm 2016-2019

Ba đời Bí thư Tỉnh ủy phải chịu trách nhiệm liên đới, gồm:

– Trần Cẩm Tú, từ năm 2011-2015

– Phạm Văn Sinh, từ năm 2015-2018

– Nguyễn Hồng Diên, từ năm 2018 đến nay.

Bọn bất lương chẳng từ thủ đoạn kiếm tiền nào, không chỉ riêng ở Thái Bình. Đi khắp 63 tỉnh thành, sẽ nghe những câu chuyện “kinh khủng” về những ông thần cầm “thanh gươm và lá chắn” này.

Nhân quả, công lý, đền tội… là khái niệm giễu cợt với bọn tội phạm. Ở triều đại cộng sản, bất công luôn ở mức cao nhất. Công lý hoặc nhân quả là thứ mà ai đó cao hơn Năm Cam, Vũ “nhôm”, Đường Nhuệ tạo ra và hoàn toàn thao túng được. Họ tạo ra thang bậc giang hồ trắng trợn và đê tiện, tạo ra những hung thần nhởn nhơ trên phố.

Thứ công lý tuỳ tiện ấy, có thể ập lên đầu ai vì bất cứ lý do gì. Các giang hồ thật sự đang ở trong bóng tối, mặc vest đẹp, nâng rượu vang và nghĩ về việc chọn lại màu sơn cho thành phố tội lỗi của chúng. Còn nhân dân, như mọi khi, vẫn là một cục đất sét, họ thích nặn như thế nào thì cũng phải chịu.

Ai đã tạo ra cặp vợ chồng giang hồ trọc phú Đường Nhuệ ở Thái Bình này?

Rất nhiều tội phạm, lưu manh, giang hồ vô học, nhờ bảo kê, “ngủ một đêm thức dậy”, hoá thân thành doanh nhân thành đạt, vua biết mặt, chúa biết tên. Số ấy nhiều, kể không hết.

Nếu không có Phạm Quý Ngọ nhận 2 triệu đô la, thì kẻ bị truy nã “giết người và tàng trữ vũ khí” đã mọt gông trong tù, làm gì trở thành Chủ tịch HĐQT Tổng cty DHC Group, Lê Minh Đức hôm nay.

Không có ông Ngọ cứu, Trần Văn Vệ đã mất chức từ thuở Đại tá, Giám đốc Công an, đừng mơ hàm Trung tướng ở Bộ Công an.

Không có Trần Đại Quang, thì không có Vũ “nhôm” lẫn Út “trọc”. Không có Lê Đình Nhường, thì không có Đường Nhuệ. Thế mà ông Nhường vẫn leo đến Thiếu tướng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội.

***

Năm năm một nhiệm kỳ, hệ thống chính trị lại cho ra các “trùm của những ông trùm” tại mỗi địa phương. Những Vũ “nhôm”, Út “trọc”, Đường Nhuệ… khác, lại xuất hiện. Vây cánh giang hồ của “đại ca” thất thời, sẽ bị trừng phạt để ghi điểm.

Nhân dân lại vô tư, hả hê, trút bỏ phẫn uất của ngày hôm qua, để rồi sau đó tiếp tục tự nguyện làm những con lừa cho chế độ.

Nhìn lũ du côn đang “chăn dân”, tự nhiên, thấy thương những chàng trai Thái Bình nói riêng, miền Bắc nói chung, đã phải ra đi ở tuổi mới đôi mươi. Họ vĩnh viễn nằm lại ở chiến trường miền Nam, bởi tham vọng của những kẻ điên rồ trong cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn năm xưa.

Khi các giám đốc công an bảo kê cho tội phạm… | Tiếng Dân

Khi các giám đốc công an bảo kê cho tội phạm… Bởi AdminTD – 15/04/2020 Thu Hà 15-4-2020 Không phải đến tận bây giờ mà từ 20 năm trước, vào những năm 2000, nạn “bảo kê” cho giang hồ, du đãng, đã gây chấn động Việt Nam. Vụ án “Năm Cam…

Hình ảnh …đau lòng!

Image may contain: one or more people, tree, child, sky, shoes and outdoor

Đinh Nguyên Kha

Dân ta đi cày đóng thuế để nuôi đảng bấy lâu nay, khi có biến cố thì chúng để dân ta lê lết ngoài đường dầm mưa dãi nắng để xin lại vài kg gạo của họ như vầy sao? Thật nhục nhã cho cái thiên đường xã hội chủ nghĩa mà chúng luôn rêu rao.

Nhận định của lứa thiếu niên vào thời 1975 về cuộc xoay vần chế độ!

Đài Á Châu Tự Do
17 hrs ·
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 được Nhà nước Việt Nam gọi là Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước trong khi báo chí nước ngoài thì gọi đây là Ngày Sài Gòn sụp đổ (Fall of Saigon).

Sáng hôm đó, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (VNCH) Dương Văn Minh và chính phủ của ông tuyên bố đầu hàng vô điều kiện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, chấm dứt chiến tranh.

Sau chiến tranh, có khoảng 250.000 người chết trong các trại cải tạo; không biết bao nhiêu người chết trên đường vượt biển; khoảng hai triệu người phải bỏ nước ra đi và cuộc sống nhiều người miền Nam lâm vào cảnh lầm than tăm tối!

Những thanh thiếu niên đang tuổi lớn với nhiều hoài bão, ước vọng bỗng chốc đổi đời, buộc phải hòa nhập vào xã hội mới, chứng kiến biến cố 30 tháng 4 với sự ngơ ngác. Có người hòa nhập được, có người không, nhưng đa số họ bị hụt hẫng.

 

 

RFA.ORG
Biến cố 1975 ảnh hưởng đến biết bao gia đình người miền Nam nhiều thế hệ. Những thiếu niên tuổi từ 14 đến 18 vào thời điểm năm 1975 nghĩ gì về thời cuộc khi họ đủ tuổi để so sánh và nhận thức sau biến cố lịch sử đó?

Sổ Tay Cư Sỹ Tưởng Năng Tiến – Tu Tịnh Khẩu

Sổ Tay Cư Sỹ Tưởng Năng Tiến – Tu Tịnh Khẩu

12/04/2020

Tưởng Năng Tiến


Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng! Tinh thần này cần được vận dụng công cuộc phòng chống dịch bệnh hiện nay của nước ta.

T.T. Nguyễn Xuân Phúc

Sống giữa thời mắc dịch – thỉnh thoảng – tôi vẫn nghĩ đến chuyện bị Cô Vy (đột ngột) đến thăm, với đôi chút băn khoăn. Chết thì cũng chả oan uổng gì nữa nhưng mang cuộc đời về không thì kể cũng hơi buồn. Không công danh, sự nghiệp (gì ráo) đã đành; chút hư danh (liệt sỹ, thạc sỹ, tiến sỹ, kẻ sỹ, chiến sỹ, đấu sỹ, dũng sỹ, hàn sỹ, thi sỹ, văn sỹ, họa sỹ … ) cũng không luôn. Bia mộ chỉ ghi vỏn vẹn là “thường dân” ngó cũng kỳ. 

Loay hoay mãi rồi cũng tìm ra được một giải pháp khả thi: tôi sẽ tu tại gia để mộ bia có thể ghi mình là … cư sỹ! Cạo trọc đầu vô chùa tu với mệt, chớ tu tại gia thì khoẻ re. Chỉ cần giữ ngũ giới thôi là cũng đủ ngon rồi:

  1. Pànàtipàtà veramanì: Tránh xa sát sinh.
  2. Adinnàdàna veramanì: Tránh xa sự trộm cắp.
  3. Kàmesu micchàcàrà veramanì: Tránh xa sự tà dâm.
  4. Musà vàdà veramanì: tránh xa sự nói dối.
  5. Không nói gì ráo trọi cho tới chết luôn.

Đúng ra giới luật thứ 5 là không rượu chè (suràmeraya majjappamàdatthàna veramanì: Tránh xa sự dễ dãi uống rượu và các chất say) nhưng ngưng uống là tui sẽ ngưng thở luôn tức khắc nên phải lật đật thay thế bằng một giới luật khác, cũng nghiêm khắc không kém: tịnh khẩu.

Dù có cái thói xấu hễ rượu vào là lời ra nhưng bắt đầu từ hôm nay tôi nhất định  chỉ uống (tì tì) và đọc với viết thôi, chớ sẽ không nói năng chi nữa. Sáng sớm, mới vô mạng đã thấy ngay một bài viết hấp dẫn (“Chống Dịch Là Khát Vọng Của Giới Trẻ Lúc Này”) trên báo Thanh Niên.” Mà nào có riêng chi “giới trẻ.” Xem ra thì đây là “khát vọng” của cả nước luôn – bất kể già trẻ, thành phần, giới tính … Coi nè:


Thiệt là quá đã, và quá đáng nên không tránh được nhiều điều tiếng eo xèo, xin ghi lại dăm ba – theo thứ tự alphabetique:

  • Hoàng Bùi: “Nếu mà việc này là thật, thì mình bảo anh em đảng viên cộng sản này, mình bảo thật nhé, anh chị em đảng viên lãnh đạo ấy, nhất là lãnh đạo cao cấp ấy, mình bảo thật nhé… Anh chị hãy đâm đầu vào nắp cống mà chết đi.” 
  • Thảo Dân: “Nhục lắm. Mà giả như có định đem cá thính chim mồi ra thì cũng nên chọn lựa và đạo diễn cho cẩn thận. Dân giờ nó không còn ngu như thời bà Cát Hanh Long nữa đâu.”
  • Hoàng Dũng: “Mẹ kiếp bọn Tuyên giáo đảng cộng sản vô liêm sỉ. Chúng suỵt cho các nhà mạng nã tin nhắn xin tiền dân, suỵt nhà báo dựng lên những ví dụ về người nghèo mà vẫn ủng hộ tiền vàng cho nhà nước chống dịch… Mả bố chúng nó, gương bà Cát Hanh Long còn sờ sờ kia kìa.”
  • Mạc Việt Hồng: “Việt Nam nên thôi cái bài lải nhải kiểu này đi. Nghe chướng lắm, chối lắm. Muốn nêu gương tốt thì các quan chức hiến xe, hiến nhà, góp vàng, góp usd chống Covid đi, đừng ‘bòn khố rách sắm dù sơn kiệu/ Hút máu dân làm rượu làm trà’ kiểu này nữa.”
  • Dinh Huong: “Trẻ không tha già không thương. Hút hết tủy bào tận xương.”
  • Lương Thị Huyền: “Tôi ngả nón trước những việc thiện lành, nhường cơm sẻ áo cho nhau mà mọi người đang làm trong cơn dịch bệnh này… Ngược lại, không có hành động nào khiến tôi khinh bỉ bằng cái việc cả một nhà nước, đã không lo cho dân thì thôi, mặt mũi nào, nỡ lòng nào nhận lấy từng xu lẻ tiền ‘bán con gà’ của một cụ già nghèo, rồi ‘tiền con cháu cho tích cóp lại’, ‘tiền tiết kiệm của bà mẹ Việt Nam anh hùng’… nhân danh quyên góp chống dịch. Đã thế không cảm thấy bẽ mặt lại còn đăng báo khoe.”
  • Luân Lê:“Không còn bất cứ ngôn từ nào để nói nữa! Một người Mẹ Việt Nam anh hùng già cả đập lợn góp toàn bộ số tiền vài triệu đồng tiết kiệm được. Một người phụ nữ già sống một mình trong cảnh nghèo khó bán con gà duy nhất để quyên góp.Và giờ thì tới tận 5 người phụ nữ già không nơi nương tựa quyên góp tới 23 triệu đồng.”
  • Bùi Văn Thuận: “Lãnh đạo quốc gia mà để cho dân nghèo nhan nhản đã không ra gì, đằng này lại còn chìa tay vui vẻ và ca tụng khi nhận ‘đóng góp’ từ một bà già ‘không còn lai quần’ thì quả thực rất khốn nạn!”
  • Từ Thức: “Dụ các cụ già ăn phân gà hoài… Bao giờ tới lượt các đầy tớ lớn, các đại gia cúng lều, cúng vàng, cúng xe hơi, cúng dinh cơ ở ngoại quốc để làm gương cho trăm họ ?”
  • Phuong Tran: “Quyên góp gom tiền của trẻ em, cụ già, những người già neo đơn là một việc làm quá tệ hại và ngược đời.Vậy mà bọn phóng viên cò mồi còn bày trò làm truyền thông rùm beng. Điều này chỉ gây hiệu ứng ngược.”
  • Phạm Minh Vũ: “Giá như, chủ tịch quốc hội Kim Ngân bán bớt một nửa số áo dài đang có để ủng hộ cho chính phủ, thì 2 học sinh đâu phải đập heo tận 200 trăm triệu, số tiền để vào đại học, để chuẩn bị hành trang cho tương lai phía trước, sao đảng nỡ lấy tương cái của các em để quyên góp? Đáng lý ra đó là việc của chính phủ, của người lớn chứ? Và giá như, đảng, chính phủ yêu nước và thương dân thật thì hay biết mấy!”


Đảng & chính phủ có yêu nước yêu dân (thật) không là điều mà tôi không dám quyết, và cũng chả bận lòng. Đã là người tu hành nên tôi không còn muốn quan tâm quá nhiều đến chuyện thế tục nữa. 

Nẫy giờ, có mọi người làm chứng, tôi không có khen chê hay phê phán ai ráo trọi. Những lời chỉ trích, mỉa mai, xỉa xói, rỉa rói, rủa xả (rất khốn nạn/ mả bố chúng nó/ hút máu dân làm rượu làm trà/ đâm đầu vào nắp cống mà chết đi/ nhục lắm) đều là của thiên hạ cả hết trơn. 

Những qúi vị có tên tuổi thượng dẫn (Hoàng Bùi, Thảo Dân, Hoàng Dũng, Mạc Việt Hồng, Đinh Hương, Lương Thị Huyền, Luân Lê, Bùi Văn Thuận, Từ Thức, Phương Trần, Phạm Minh Vũ) sẽ bị mang khẩu nghiệp nặng, và rất có thể sẽ bị công an phường mời lên làm việc vì đã xúc phạm đến lãnh đạo nước ta, chớ riêng tui thì hoàn toàn và tuyệt đối vô can đó nha. Nói trước cho mà biết như vậy để khỏi mất công gửi giấy triệu tập. Tui nhứt định tu tại gia, và cương quyết sẽ không rời nhà – trừ trường hợp rượu bia đều cạn!

NGƯỜI VIỆT NAM GIAN VÀ THAM

Mạc Van Trang

Trần Thành Nam

Tôi năm nay 60, sinh ra và lớn lên dưới mái trường XHCN, đã du học ở Đông Âu trên chục năm. Luôn tự hào mình là người Việt Nam trong suốt khoảng hơn bốn mươi năm đầu cuộc đời mình. Chưa bao giờ nghi ngờ đạo đức nhân đạo và tính hướng thiện của người Việt, tức của tổ tiên mình. Thời thanh niên bên trời Âu tôi luôn từng tự hào tự gọi mình là Việt Cộng, từng là chủ tịch Hội sinh viên Quốc tế toàn Balan nơi tôi học được khoảng 1 tháng trước khi bị Đại sứ quán VN tại Vacsava gọi lên bắt từ chức xuống thành Phó CT phụ trách Học tập … Nói thế chỉ để biết gốc gác chính trị của tôi rất cộng sản và trong sáng, bởi vì cha ông tôi cũng rất trong sáng và theo cộng sản suốt đời.

Về nước, tôi làm việc cho các tập đoàn nhà nước lớn và tiếp tục có điều kiện đi công tác nước ngoài nhiều, làm việc với người nước ngoài rất nhiều. Được đọc và tiếp xúc nhiều, tôi nhận thấy là nước nào họ cũng có những tác giả và tác phẩm nổi tiếng và được nhân dân quý trọng vì đã nói lên những thói hư tính xấu của dân tộc mình, trong khi người Việt chỉ thích tự khen mình: Người Việt cao quý, là Lương tâm Nhân loại …(!) và luôn ép người khác khen mình. Hôm nay, trên Vietnamnet ông Vũ – một chủ hãng cafe Việt, còn đề nghị : Mỹ và Tàu lãnh đạo thế giới về chính trị và kinh tế rồi, còn “lá cờ nhân văn” chưa ai nắm và Việt Nam hãy nắm lấy lá cờ nhân văn đó của thế giới để sánh ngang với Tàu và Mỹ (!)… thì ngoài sức tưởng tượng và chịu đựng của tôi rồi !

Đấy là lý do trực tiếp làm tôi viết bài này, nên trước khi nói về người Việt như tiêu đề, xin cho tôi có một hai câu về “Lá cờ Nhân văn” thế giới, như sau :
Ông Vũ đã đúng khi nói có Lá cờ Nhân văn thế giới. Nhưng ông đã sai khi nói chưa có ai nắm lá cờ đó, và ông càng sai nữa khi nói Việt Nam có thể nắm lấy lá cờ đó và lãnh đạo thế giới !
– Thứ nhất, nếu đã tồn tại một lá cờ nhân văn thế giới, thì nhất định nó cũng đang tồn tại chủ nhân tương xứng, cả hai đều chỉ là khái niệm. Chủ đó phải là dân tộc có tính nhân văn nhất thế giới và được các dân tộc khác công nhận, bởi lá cờ này không thể cướp được, đúng không ạ ? Ông Vũ nói nó vô chủ là rất cơ hội (hèn chi ông được tham dự ĐH Đảng XI với tư cách doanh nhân, nếu tôi không nhầm ?).
Nhưng theo tôi, nó đang ở trong tay dân tộc nào, đất nước nào đang có nền văn hóa nhân văn nhất (ở thời điểm này) thu hút được nhân tài và thế hệ trẻ được cả thế giới đến học, làm việc và ở lại sống nhiều nhất, sinh ra nhiều người tài năng và thành công nhất cho thế giới. Theo ông Vũ, đó sẽ là Việt Nam ? Nước ta đang và sẽ thu hút được bao nhiêu người nước ngoài đến học ? Ông hãy góp ý thế cho Đại Hội XI nhé ! Chúc mừng ông.

Trở lại với tiêu đề chính, cách đây khoảng gần chục năm, trong một cuộc nói chuyện bạn bè thân, tôi đã hỏi một người Anh một câu và yêu cầu trả lời trung thực : “Nếu phải lột tả người Việt trong một hay hai từ, “mày” sẽ nói thế nào ?
Không được rắc complements !” Biết ý tôi, không ngần ngại, anh bạn người Anh nói luôn : “Câu hỏi này người nước ngoài chúng tao ở VN luôn thảo luận với nhau khi không có người Việt, và đều nhất trí có câu trả lời giống nhau, nhưng không bao giờ dám nói ra với người Việt. Mày là người VN đầu tiên hỏi tao câu này không với ý định muốn nghe một lời khen, nên tao sẽ nói thật, đó là : Greedy Vietnamese. Vâng, đó là : “Người Việt tham lam !”
Dù đã chuẩn bị cho “tình huống xấu nhất” với đầu óc cởi mở nhất, tôi đã choáng váng và cứng họng một lúc không nói được gì. Mãi sau, tôi mới thốt lên đau đớn vì biết bạn mình không nói dối : “Greedy ? Why ?” -“Tham lam ? Tại sao ?” Bạn tôi cười : “Thì người Việt chúng mày, trừ mày ra, (nó thương hại tôi !), luôn luôn cái gì cũng muốn được, không nhường cái gì cho ai bao giờ : Hợp đồng thì điều khoản ngon nhất, giá phải rẻ nhất, hàng phải tốt nhất, giao hàng phải nhanh nhất, bảo hành phải vô thời hạn, thanh toán thì chậm nhất, và … hoa hồng thì phải khủng khiếp nhất !” Tôi chết đứng ! Tôi biết nó nói đúng hoàn toàn. Nó làm thương mại với người Việt và ở VN gần hai chục năm rồi !
Nó (và đa số người nước ngoài cũng vậy) nhìn người Việt qua những gì nó thấy ở những cán bộ nhà nước hàng ngày làm việc (đàm phán thương mại) với nó ! Tôi đã từng đàm phán với nó cách đây hơn hai chục năm, và với rất nhiều người nước ngoài khác, chưa bao giờ biết đòi hỏi ai một cent (xu) nào từ vô số hợp đồng ngoại thương tôi đã đàm phán và ký kết, nhưng tôi biết tôi là ngoại lệ, nên tôi biết mình có quyền và có thể nhìn vào mắt mà hỏi nó (bạn tôi) hay bất kỳ ai (thương gia nước ngoài) đã làm việc với tôi, câu hỏi đó mà không sợ bị nó/họ cười khinh cho.
-“Vậy, tính từ thứ hai “bọn mày” (tôi đã từng cùng nó có dịp uống bia trong các câu lạc bộ doanh nhân người Singapore, Malaysia, Nhật, Anh, Mỹ, Hàn, Pháp…do các Amcham, Eurocham… tổ chức) miêu tả người Việt là gì ?” -Tôi dũng cảm tiếp tục, hy vọng lần này sẽ được nghe lời dễ chịu hơn. Câu trả lời là : “Tricky ! Tricky Vietnamese !” (Gian ! Người Việt hay gian dối !)”.
Tôi hét lên : “Không thể nào ! Mày không đang trêu tức tao đấy chứ ?!” Bạn tôi trả lời : “Mày muốn tao trung thực mà ?”
– “Vậy tại sao lại là gian ?” tôi cố gắng chịu đựng.
– “Vì chúng mày không bao giờ nói thật, nói thẳng, và có nói rồi cũng tìm cách thay đổi nếu có lợi hơn. Chúng mày luôn nghĩ rằng mình khôn hơn người và luôn luôn xoay sở để hơn người khác…” Tôi ngồi im lặng, điếng người, muốn khóc, và cố uống tiếp vại bia tự nhiên đắng ngắt. Từ đó tôi ghét uống bia. Nó nhắc tôi buổi tâm sự với phát hiện kinh hoàng trên. “Từ đó trong tôi” “tắt ngấm” “nắng hạ”… là người Việt ! Nhưng nội dung và diễn biến của cuộc nói chuyện thân tình trên thì tôi dù muốn cũng không bao giờ quên được !

Sự thực là tôi đã phải trăn trở rất nhiều, dằn vặt rất nhiều với điều này từng ngày từ đó : Đặc điểm bản chất của người Việt là gì so với người nước khác ? Tại sao người nước ngoài lại đang nhìn chúng ta tệ hại như thế : Gian và Tham ? Tôi đã không thể phản bác được ông bạn người Anh của mình dù tôi với nó “cùng ngôn ngữ”: đều mê The Beatles ! Có ăn nhằm gì đâu ! Nó vần bảo lưu quan điểm ! Một lần gần sau đó tôi trở lại đề tài với nó : “Tại sao mày nói người Việt rất tham lam, cái gì cũng muốn, và gian, cái gì cũng khôn lỏi hơn người, mà mày vẫn làm ăn với chúng tao ?”.
Bạn tôi cười bí hiểm trả lời: “Đấy chính là bi kịch của người Việt, ít nhất là của những người Việt đang không có quyền thế hiện nay”. Rồi nó tiếp : “Chính vì người Việt gian và tham nên chỉ có những người gian và tham hơn mới dám làm ăn cùng chúng mày !”
– “Ý mày nói đa số thương nhân nước ngoài làm việc với VN là gian và tham ?”
– “Gần như đúng thế !”
– “Cả mày nữa ?”
– “Gần đúng, vì lúc đầu tao cũng không gian, nhưng tao mất nhiều quá và buộc phải chơi theo cách của người Việt thôi…!”
– “Vậy mày gian thế nào ?”
Bạn tôi lại cười bí hiểm : “Nói mày đừng buồn, đa số người Việt kém tiếng Anh, và hầu hết kém luật pháp một cách thê thảm, nhất là luật thương mại. Càng to chức thì điều này càng đúng, mày là lính quèn nên khá giỏi. Hì hì, mà tiếng Anh là của bọn tao, luật pháp các nước khác cũng đều đi trước VN, nên
chúng tao chỉ có cách dùng tiếng Anh kém cỏi vô nghĩa của chính chúng mày để làm hợp đồng thương mại, và luật thương mại quốc tế nữa…thì chúng tao mới bình đẳng được !”.
Rồi nó bồi thêm : “Thế mày nghĩ bọn tao có thể cung cấp hàng tốt nhất, giá rẻ nhất, thời hạn nhanh nhất với trách nhiệm vô hạn được thật à ?!”
Đó là câu chuyện của hơn 10 năm trước.

Tôi đã kiểm tra độ khách quan của đánh giá đó suốt 10 năm qua với rất nhiều người nước ngoài từ các vùng, miền, đất nước có văn hóa và chính trị khác nhau mà tôi có thể tiếp cận. Đa số câu trả lời kiểm chứng (không phải tất cả) xác nhận sự khách quan và tính gần đúng của nhận xét của bạn tôi. Nhận xét đó đã bắt tôi suốt hơn mười năm qua phải tìm hiểu văn hóa và bản chất dân tộc ta là gì ? Tại sao chúng ta lại để đến nông nỗi này – để người khác nghĩ và đánh giá mình là dân tộc gian, tham ?! Người Việt gian tham ư ?! Đau xót lắm, nhưng tôi vẫn không phản bác được bạn mình, với những gì tôi và chúng ta vẫn thấy xung quanh trên đất nước chúng ta…!!!
Nó là cái văn hóa gì ?! Hôm nay, có lẽ tôi đã trả lời được câu hỏi đó cho mình.

Dân tộc ta không phải thế ! Có những hạt sạn đã được vô tình hay cố ý gieo vào đạo đức, lối sống dân ta mà có lẽ người gieo cũng không muốn và không biết mình đã làm gì ? Chúng ta phải đợi đến vụ gieo hạt sau thôi !

MVT xin bình thêm: Nguồn gốc GIAN và THAM từ đâu gieo rắc, sinh sôi trong dân tộc này? Cứ xem lương quan chức bao nhiêu mà xe hơi, nhà lầu, biệt phủ, tiêu xài xa hoa, cho con du học… thì rõ. Chết rồi còn mồ to mả lớn, gia sản trăm ngàn tỉ, mà không bỏ ra cứu trợ đồng bào, chỉ hối lộ thần phật để sống lâu, giàu thêm nữa! Đại họa cho dân tộc là từ lũ đó!

Sách có linh hồn không?

Trí thức Việt Nam

Trận đốt sách đầu tiên tôi chứng kiến diễn ra tại lề đường trước mặt rạp chiếu bóng Cao Đồng Hưng… #BuiBichHa #HocXa

Trân trọng cảm ơn sự ủng hộ và đồng hành của quý độc giả.

Sách có linh hồn không?

  • Bùi Bích Hà
  • Chủ Nhật, 12/04/2020 • 1.4k Lượt Xem
  • Sinh trưởng ở thành phố Huế cổ kính, những thập niên đầu và giữa thế kỷ 20, chúng tôi chịu một nền giáo dục hết sức nghiêm khắc của gia đình. Cha mẹ và cả các anh chị, kiểm soát con em rất chặt chẽ về cả hai phương diện hành vi và tư tưởng. Người lớn rất sợ chúng tôi tiêm nhiễm những điều chất chứa trong nội dung các cuốn sách, nặng nhất là sách truyện hay tiểu thuyết. Bàn học của chúng tôi không có sách nào khác ngoài tập vở liên quan đến chương trình học ở nhà trường. Vài bạn may mắn được gia đình chăm sóc kỹ thì có mấy cuốn sách hồng mỏng tang nêu cao gương đạo đức cho tuổi thiếu niên.

Phần tôi, người vô tình gợi ý cho tôi tò mò muốn đọc sách từ tuổi lên bảy là chị cả của tôi. Bố mẹ tôi vì công việc, thường vắng nhà. Khác với tôi bị một chị và một anh trên mình canh gác và trừng phạt thay bố mẹ, chị không bị ai giám sát cả nên chị tự do đọc bất cứ sách gì chị muốn. Tôi còn nhớ như in cảnh những buổi trưa mùa hè gió hây hây mát, chị ngồi dựa lưng trên cái ghế xích đu đặt ở mé hiên thấp thoáng nắng từ cái giàn thiên lý lá xanh như ngọc, quyển sách úp hờ hững trên ngực, hai mắt chị lim dim, khuôn mặt chị đằm đằm nét dịu dàng thỏa thuê của một bông hoa hé cánh. Chị ngưng đọc từng lúc như thế khiến tôi thầm đoán chắc chị đang ôn lại những gì chị vừa thấy mô tả qua mấy trang sách chị cầm trên tay. Điều này kích thích trí tưởng tượng non nớt của tôi, khiến tôi liều giấu một cuốn của chị trên cái hộp nước trong bồn cầu để tôi có chỗ đọc nó. Dần dần, bằng cách này, tôi đọc được nhiều sách lắm, của Dương thị Hạnh, Hoàng Ngọc Phách, Lê văn Trương, Phạm Cao Củng…, nhiều nhất là của Tự Lực Văn Đoàn. Có những cuốn đối thoại giữa các nhân vật rất hay và tôi bắt chước họ bằng cách một mình lần lượt đóng mấy vai, một mình đối đáp qua lại, làm đủ cử chỉ như sách mô tả đằng sau cánh cửa phòng vệ sinh tôi đã chốt kỹ. Sau này lớn lên, ăn nói trôi chảy, khẩu khiếu của tôi chắc từ đây mà ra.

Năm tháng trôi qua, như các bạn bè cùng trang lứa, thời mới lớn, tôi cũng có nhiều anh ngấm nghé. Có một anh du học bên Pháp về, cứ mỗi lần đến thăm tôi, anh đều cho sách, những cuốn anh chọn mua ở nhà sách Albert Portail (sau này là Xuân Thu) trên đường Catinat, Saigon. Nhờ anh, tôi đọc hết những cuốn của Francoise Sagan và rải rác trong chương trình học bên Văn khoa, vài cuốn của Jean Paul Sartre, Albert Camus, Somerset Maugham, Andre Gide (tôi bỏ nửa chừng) Alain Robbe-Grillet (tôi không mấy thích). Riêng trong số sách anh cho, có một cuốn không thuộc loại văn học nên tôi đặc biệt lưu ý, cuốn Sur Les Hauts Plateaux du Vietnam, viết về đời sống của các bộ lạc thiểu số vùng cao.

Đường sách Sài Gòn xưa.

Thấy anh qua lại đã lâu mà tôi thì lửng lơ, mẹ tôi khuyến khích: “Này con, mẹ thấy cậu Thụy được đấy. Trai gái quen nhau mà cậu ấy chỉ cho con sách. Người quý sách tính tình nho nhã, thanh lịch và sâu sắc con ạ!”

Tôi ngạc nhiên nghe nhận xét của mẹ trong cách đánh giá một con người. Nhất là bà xuất thân từ một làng quê nghèo Bắc Ninh, bản thân mù chữ, trưởng thành với công việc đồng áng lam lũ cho đến khi bước vào ngôi nhà bề thế của bố tôi để sinh con cho ông. Mãi sau này, nghĩ lại, tôi mới nghiệm ra niềm an ủi nuôi sống mẹ tôi qua suốt cuộc đời nhọc nhằn, cơ cực của bà là mấy cuốn Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc mà tôi thực sự không biết nhờ đâu bà thuộc lòng không sót một câu!

Đến đời tôi, đứa con không ai chờ đợi trong gia đình vì trên tôi đã có một chị xinh đẹp và một anh khôi ngô, tuấn tú. Từ khi lọt lòng, tôi hẩm hút trong tay người đàn bà sinh ra tôi mà tôi chỉ được gọi là chị, loanh quanh với “người chị” từ tinh mơ đến quá nửa đêm, ngày nào như ngày nấy, phải làm trăm công ngàn việc, nhiều lắm chỉ cho tôi thỉnh thoảng ngửi hơi áo đầy mùi mắm muối của chị, không có thì giờ bế ẵm, chuyện trò với tôi, bỏ mặc tôi trong cái xe đẩy bằng mây, lọc cọc bốn cái bánh gỗ trong gian bếp ám khói là nơi chị phải đánh vật suốt ngày với mấy ông đầu râu để lo cơm nước cho mấy chục nhân khẩu. Biết đi rồi, tôi vẫn một mình lủi thủi chơi với mấy con côn trùng vô hại, với cái chày giã cua quấn cái tã cũ giả bộ làm búp bê, với cái bánh xe lăn vòng quanh cái sân gạch và tôi luôn miệng mời chào, “Chị ơi, chị đi xe của em lên chợ Đông Ba không?” Lớn hơn tí nữa, tôi lăn lóc từ sáng đến chiều tối với con cái những người thợ thuyền và công nhân trong nhà, chơi đủ thứ trò chơi lảm nhảm của đám con nít không có ai giáo dục như tôi. Phước đức tổ tiên để lại, nhờ chị cả, tôi bước vào thế giới sách và học được bao nhiêu điều kỳ diệu qua ngôn ngữ và cách ứng xử của các nhân vật tác giả vẽ ra trong những cuốn sách ấy. Cũng cắp sách đi học như nhiều trẻ con khác nhưng vì có tình yêu chữ nghĩa, tôi với biển học như cá gặp nước, cha mẹ không cần roi vọt đe nẹt, thúc bách. Hơn ai hết, tôi sớm biết sách là chìa khóa mở cửa một thế giới huy hoàng, của ánh sáng, của tâm hồn, của trí tuệ, của trái tim và của trí khôn nhân loại.

Mấy tháng nay, tôi có chị bạn đang loay hoay tìm hiểu, thu góp mọi tài tiệu liên quan đến những vụ đốt sách xảy ra ở Sài Gòn những ngày đầu tiên sau biến cố 30 tháng tư 1975… Chị nói với tôi: “Tội đốt sách cũng ngang với tội diệt chủng. Lịch sử kết tội những lò hơi ngạt của Hitler, sao không ai kết tội kẻ đốt sách?” Bạn tôi không quá lời nếu chúng ta hình dung được mỗi con chữ, mỗi cuốn sách cũng có linh hồn.

Trận đốt sách đầu tiên tôi chứng kiến diễn ra tại lề đường trước mặt rạp chiếu bóng Cao Đồng Hưng, gần chợ Bà Chiểu, Gia Định. Tôi không biết có bao nhiêu cuốn sách và những loại nào được gom thành đống có ngọn, cao chừng hơn một thước, đáy tòe ra chừng thước rưỡi. Nam nữ đoàn viên đội băng đỏ xúm quanh, hăng hái diễn thuyết về nền văn hóa Mỹ Ngụy đồi trụy cần phải được đốt sạch. Họ kêu gọi dân chúng tự giác đem nộp sách cho ủy ban quân quản xử lý hay là chờ nhà cửa bị lục soát, sách bị tịch thâu và người mang tội với giải phóng và nhân dân? Hiệu triệu xong, họ cùng nhau hò hét inh ỏi rồi châm lửa vào nấm mộ sách. Ngọn lửa nhanh chóng bốc lên ngùn ngụt, khói bay khét lẹt. Tôi hơi lạ, nghĩ sao sách mới in ra thơm mùi giấy, mùi mực là thế mà khi bị đốt, sách không thơm nữa? Mỗi tờ, mỗi trang là thịt da của sách chăng?

Sau màn đốt sách này, tôi chờ đợi phải chứng kiến thêm nhiều lần nữa nhưng không! Có ai đó thông suốt về kinh tế tầm nhỏ, đã mách nước chính quyền giải phóng đừng dại dột đem sách ra đốt vì tiền đấy! Đem bán ve chai hay giấy lộn sẽ thu được khối tiền. Thế là lề đường đầy người trải những tấm bạt bày bán sách cân theo kí lô và bạn hàng chạp phô các chợ xé sách xoàn xoạt để lấy giấy gói các vật phẩm bán lẻ cho người mua.

Không đốt sách nhưng sách vẫn là một hiểm họa đáng sợ cho những kẻ không có khả năng đọc sách, hiểu sách để làm chủ sách. Sách vẫn muôn đời là ngọn đuốc soi đường, là vũ khí tranh đấu hiệu quả trong nỗ lực xây dựng tự do, dân chủ, nhân quyền và hạnh phúc cho con người chống lại bóng tối của ngu muội và của sự ác. Không triệt được sách, không bỏ tù được sách thì triệt người viết sách, bỏ tù tác giả. Sau cuộc chiến đốt sách sớm tàn lụi là cuộc chiến truy đuổi và bách hại các văn nghệ sĩ, nhà báo, học giả, trí thức kẹt lại trong nước.

Viết đến đây, tôi sực nhớ mẹ tôi xuất thân mù chữ. Rõ ràng bà không có khả năng đọc, hiểu và làm chủ sách nhưng sao mẹ tôi không hằn thù, không sợ hãi sách mà trái lại, bà quý sách và ca tụng những người quý sách? Sự khác biệt giữa mẹ tôi và các đội viên mang băng đỏ ở tay áo ngày 30 tháng tư 1975, cả những kẻ ra lệnh cho họ đốt sách, là gì? Phải chăng là trái tim của yêu thương con người, của thiện ý muốn thấy cuộc đời này tươi đẹp hơn, tiến bộ hơn, sáng sủa hơn? Phải chăng là niềm tin vào khối óc con người cần được nuôi dưỡng và phát triển thay vì triệt hạ nó?

Thi sĩ Phùng Quán hạ bút viết những câu thơ để đời: “Có những phút ngã lòng, tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.” Mẹ tôi là nhân chứng cho thơ của ông khi bà sống được như một người tử tế và đi trọn cuộc hành trình khốn khó của bà trên mặt đất này cũng chỉ nhờ những câu thơ trong Kiều, Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc, để bà vịn đứng lên và không qụy ngã. Chữ nghĩa là tường thành, là đá tảng, là gậy thép, là sức mạnh sinh tồn vượt qua mọi thử thách và đe dọa. Sợ là phải.

Mới đây, nhân chuyện con nhện giăng tơ ở vườn sau nhà tôi, chúng tôi nhớ lại bài thơ cổ đăng trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, người Việt Nam nào ra đời trong thế kỷ 20 đều thuộc: “Đêm qua ra đứng bờ ao/ Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ/ Buồn trông con nhện giăng tơ/ Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai?”… Điều bất ngờ vô cùng lý thú là một anh trong nhóm chúng tôi đang có nguyên vẹn cuốn sách này trong tay, khiến tôi ngẩn ngơ rồi kinh ngạc, tự hỏi làm sao mà một cuốn sách mỏng có thể trôi nổi gần một thế kỷ, qua biết bao tai ương, sóng gió để vẫn đường hoàng tồn tại trong tủ sách của một người suốt đời yêu sách như thế?

Tôi nhất định tin rằng không chỉ xương da mà sách còn có linh hồn và linh hồn ấy bất tử…

Bùi Bích Hà
16-4-2018

Đăng lại từ bài viết cùng tên trên Hocxa.com

M.TRITHUCVN.NET

Sách có linh hồn không? – Trí Thức VN

Không đốt sách nhưng sách vẫn là một hiểm họa đáng sợ cho những kẻ không có khả năng đọc sách, hiểu sách để làm chủ sách. Sách vẫn muôn đời…

TIN TỔNG HỢP (BÙI VĂN THUẬN)

TIN TỔNG HỢP (BÙI VĂN THUẬN)

‘…Giải tán đảng cộng sản, bắt giam những kẻ coi Trung Quốc là quan thầy, kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, huy động và kêu gọi mọi người dân đồng lòng cùng Tổng thống Phúc để chống thù trong (tàn dư bè lũ Nguyễn Phú Trọng)…’

1. Chiêu trò dùng chim mồi để câu tiền của ban tuyên giáo đã bị lộ tẩy. Cộng đồng mạng đã phát hiện con chim mồi “neo đơn, không nơi nương tựa” trên người đeo đầy vàng. Ngay lập tức tuyên giáo suỵt báo chí gỡ toàn bộ hình ảnh “người neo đơn” này. Cộng đồng mạng phát hiện, chim mỗi đeo vàng là bà Nguyệt, Phó Giám đốc trung tâm bảo trợ xã hội Cà Mau.

2. Trào lưu ăn xin đang trỗi dậy trong đại dịch, nhất là các công ty, hội đoàn của đảng- nhà nước:

– Mới đây, VietNam Airlines sau khi ngạo nghễ đón công dân (chủ yếu con quan chức- đảng viên đang du học ở Vũ Hán) về nước đã ngay lập tức giở bài ăn vạ: Đòi chính phủ hỗ trợ 12.000 tỷ ngay lập tức, không được chậm chễ. (Đọc xong thông tin này lại nhớ bà cụ bán con gà cuối cùng trong nhà để “quyên góp” chống dịch cúm Tàu).

– Hội nhà báo Việt Nam cũng không chịu kém miếng, hôm qua 07/4 cũng đã có văn bản xin chính phủ hỗ trợ. Hội nhà báo cũng chả khác gì cái hội của Hữu Thỉnh, toàn là những hội ăn hại và bưng bô theo định hướng của đảng. Ngân sách để nuôi các hội nhóm của đảng, toàn bộ là lấy từ ngân sách quốc gia, từ những đồng tiền từ mồ hôi háng của dân. Tuy nhiên các hội này chưa bao giờ hoạt động vì dân.

3. Cũng liên quan đến thứ rất hiếm ở đất nước này là liêm sỉ: Cộng đồng mạng, báo chí đã phản ánh chuyện nhiều người đi xe đẹp, quần là áo lượt đến các điểm phát đồ từ thiện cho dân nghèo để la liếm những phần quà dành cho người kém may mắn. Chuyện này cũng dễ hiểu khi “nhà nước” còn dám ngửa tay lấy những đồng tiền bán con gà cuối cùng, khi mà VNA, Hội nhà báo còn ăn vạ, ăn xin thì những cá nhân này không có liêm sỉ là điều dĩ nhiên và dễ hiểu.

4. Cái chết bất thường của ông Bùi Quang Tín, giảng viên khoa quản trị kinh doanh Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM làm báo chí và cộng đồng mạng xôn xao. Hầu hết các ý kiến trên mạng xã hội, từ tường trình của vợ ông Tín đều thiên về hướng: Ông Tín bị giết hại. Mục đích có thể là tranh ăn, giành ghế hoặc những bất đồng trong nội bộ.

5. Một vụ án bình thường nhưng thu hút rất nhiều quan tâm của báo chí và mạng xã hội mới xảy ra ở Thái Bình. Nữ doanh nhân Dương Đường bị bắt, khám xét nơi ở và công ty. Theo nhiều nguồn tin, nữ doanh nhân này cầm đầu nhiều đường dây cho vay nặng lãi, đòi nợ ở Thái Bình. Đặc biệt Dương Đường có quan hệ mật thiết với nhiều “nghệ sĩ” và quan chức cấp cao. (Rất có thể đây là một vụ các đồng chí ở Thái Bình cắn nhau trước mùa đại hội, nên các sân sau sẽ bị quét trước để triệt hạ nhau. Xin nói thêm là: Hầu hết các “công ty” dạng cầm đồ, cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê thường 100% có quan chức hoặc công an cấp cao bảo kê, chống lưng và ăn chia).

6. Báo PLO có bài: “Quyết định thanh tra Dự án nhiệt điện Thái Bình 2”. Đồng thời, khu “đất vàng” 69 Nguyễn Du, Hai Bà Trưng Hà Nội cũng nằm trong đợt thanh tra kỳ này. (Đây là các quyết định thanh tra nhắm và Hoàng Trung Hải, cựu phó Thủ tướng, cựu Bí thư thành ủy Hà Nội. Có lẽ Hoàng Trung Hải sẽ bị các đồng đảng- đồng chí thịt sớm thôi. Trong thời kỳ làm Bộ trưởng Bộ Công nghiệp và phó Thủ tướng, Hoàng Trung Hải đã góp phần phá hàng trăm nghìn tỷ ngân sách qua các dự án thua lỗ, đắp chiếu, mất vốn. Cũng cần nói thêm: Hoàng Trung Hải quê gốc Thái Bình và “hình như” có liên quan đến đại gia xã hội đen Dương Đường mới bị bắt tối 07/4).

7. Trên trang Zing có bài rất “giật mình” với nhan đề: “Bí thư Hà Nội tiếp nhận hơn 600 đơn tố cáo sau 2 tháng nhậm chức”. (Dự đoán là nhiều kẻ giật mình vì tin này. Trong 600 đơn tố cáo gửi trực tiếp cho Vương Đình Huệ, có bao nhiêu đơn tố cáo Hoàng Trung Hải, bao nhiêu đơn tố cáo Nguyễn Đức Chung cùng các công ty sân sau, công ty của vợ con ông Chung?).

8. Cái lò thì hoàn toàn bó tay trước bầy cộng sản gộc ở Hồ Chí Minh như Lê Thanh Hải, Tất Thành Cang, Lê Hoàng Quân… Cho đến nay, các đối tượng từng cầm đầu băng nhóm ăn cướp ở Hồ Chí Minh vẫn nhơn nhơn hưởng thụ tài sản đã cướp được trên lưng dân Sài Gòn.

9. Cũng liên quan đến các băng nhóm ở Hồ Chí Minh, mấy ngày gần đây trên mạng xã hội xuất hiện các vụ đánh đấm giữa Hoa Lâm và đám Kền- Kols. Hoa Lâm thì thông đồng cùng băng nhóm đảng viên- quan chức Hồ Chí Minh để ăn cướp khắp Sài Gòn. Bên Kền- KOLs thì chỉ cần đánh đấm sao cho Hoa Lâm vung tiền ra mua sự im lặng là xong. Tóm lại có đánh nhau là vui rồi!

10. Những ngày dịch cúm Vũ Hán hoành hành này cho thấy nhiều điều. Trong đó, năng lực của quan chức là dễ thấy nhất.

– Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc được truyền thông ca tụng nhiều nhất vì những đóng góp, những công việc đã làm suốt mấy tháng Việt Nam có dịch. Vai trò của ông Phúc lớn và lấn át hoàn toàn người cầm đầu đảng- nhà nước là Nguyễn Phú Trọng.

– Phó Thủ tướng- Bộ trưởng Bộ Y tế Vũ Đức Đam cũng làm hết sức mình suốt mấy tháng vừa qua.

– Một nhân vật nữa cũng hành động quyết liệt trong cuộc chiến chống cúm Tàu là ông Nguyễn Đức Chung, chủ tịch Hà Nội. (Ông Chung chống dịch làm lu mờ hẳn vai trò của Bí thư Vương Đình Huệ, có lẽ vì điều đó nên mới có sự đánh tiếng “hơn 600 đơn thư khiếu nại, tố cáo” ở trên chăng?).

– Dư luận mạng xã hội, báo chí đang đánh giá vai trò của bộ ba gồm: Ông Phúc, ông Đam, ông Chung rất cao. Nếu ông Phúc giải tán đảng cộng sản, bắt giam Nguyễn Phú Trọng, Trần Quốc Vượng để lên làm Tổng thống thời điểm này là quá hợp lý và hợp lòng dân. Có thêm ông Đam, ông Chung giúp sức và sự ủng hộ rộng rãi của truyền thông, dư luận nữa thì chắc chắn là thành công.

Suốt nhiều tháng nay, sau khi ông Trọng bị đột quỵ, ông Phúc cũng đã liên tục có các chuyến thăm, làm việc và gặp gỡ các tướng lĩnh đứng đầu Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Có lẽ sự ủng hộ của 2 bộ này giành cho ông Phúc là rất lớn. (Chỉ có điên hoặc đần mới theo một ông lặn suốt mấy tháng, đi lại không vững, không biết sống chết ra sao như ông Trọng).

Giải tán đảng cộng sản, bắt giam những kẻ coi Trung Quốc là quan thầy, kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, huy động và kêu gọi mọi người dân đồng lòng cùng Tổng thống Phúc để chống thù trong (tàn dư bè lũ Nguyễn Phú Trọng) cùng giặc ngoài là lũ Trung cộng xâm lược, gây hấn ngoài biển. Chắc chắn Tổng thống Phúc sẽ được nhân dân cả nước ủng hộ hết mình, cộng đồng quốc tế, các quốc gia văn minh sẽ giúp đỡ và ủng hộ nhiệt tình.

Đại dịch làm xã hội đảo lộn, cuộc sống người dân bị ảnh hưởng nặng nề, bên ngoài thì kẻ thù truyền kiếp đang hung hăng lấn tới. Đây chính là cơ hội ngàn năm cho những bậc anh hùng cái thế, kỳ tài dị tướng dùng đại trí để cứu dân, cứu nước. Trước là giải phóng ách độc tài của cộng sản, sau là chống giặc ngoại xâm. Hoặc bây giờ hoặc không bao giờ!

Cố lên bác Phúc, bác Đam!

Bùi Văn Thuận

Nguồn: facebook.com/thuan.tinchoicho/posts/2695522024013071