NGƯỜI MẸ CỦA TỬ TÙ

NGƯỜI MẸ CỦA TỬ TÙ

Fb Nguyen Xuan Dien

Khi xảy ra vụ án, công an khám nhà lấy đi 4 nhẫn vàng của con gái bà. Khi đã có án, phải đi kêu oan, bà phải bán đất và bán nhà để trang trải lộ phí.

Bà còn cùng bố mẹ vợ con các tử tù Nguyễn Văn Chưởng, Lê Văn Mạnh, Đặng Văn Hiến đi kêu oan khắp các quảng trường, nơi công cộng có đông người qua lại để hy vọng được mọi người chú ý và cảm thông sâu sắc.

Mười hai năm đi kêu oan cho con, bà đã đội 2000 bộ đơn, gõ cửa hết thảy các cơ quan từ Toà tối cao, Quốc hội, VP Chủ tịch nước, Chính phủ, Viện KSND tối cao và tư gia các ông bà lớn.

Bà còn kêu đến các Nhà thờ Công giáo và Chùa Phật để hy vọng Các đấng bề trên trong thế giới tâm linh chở che cho con bà và giữ gìn nó đến ngày được minh oan.

Ngày mai 6/5/2020, vụ án oan của con trai bà sẽ được xét xử Giám đốc thẩm tại Trụ sở Toà án Tối cao, số 48 Lý Thường Kiệt, Hà Nội. Xin cầu nguyện Chư Phật Mười Phương và Bách Thần cùng các đấng tối cao phù hộ và khai quang cho phiên toà được sáng láng để đứa con ngoan của bà được trở về trong vòng tay của bà!

Image may contain: 1 person, standing and outdoor
Image may contain: 1 person

Cập nhật phiên tòa giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải

Liên Trà

Từ sáng sớm, lực lượng an ninh bảo vệ bên ngoài trụ sở Tòa án Nhân dân Tối cao (48 Lý Thường Kiệt, Hà Nội) và phong tỏa khu vực bên ngoài. Người dân không thể tiếp cận cổng tòa án. (Hình 1)

Theo gia đình của Hồ Duy Hải, luật sư Trần Hồng Phong đã vào bên trong tòa án và phiên tòa dự kiến bắt đầu theo lịch lúc 8:00.

Gia đình của Hồ Duy Hải ở bên ngoài trụ sở Tòa án Nhân dân Tối cao (từ trái sang): bà Nguyễn Thị Rưởi (dì ruột), bà Nguyễn Thị Loan (mẹ), cô Hồ Thị Thu Thuỷ (em gái).(Hình 2)

(Luật Khoa)

Image may contain: tree, house, sky and outdoor
Image may contain: 3 people, people standing

NGƯỜI MẸ ĐI TÌM CON…

NGƯỜI MẸ ĐI TÌM CON…

Sáng nay, Mẹ của Hồ Duy Hải không được vào sân tòa.

Bà cũng không được đứng gần cổng.

Trong sân tòa chưa có tượng đài cố chánh án.
Nhưng ngoài sân tòa đã có tượng sống dân oan.

Mẹ Hải không còn cầm băng rôn biểu ngữ nữa – vì 13 năm đi giữ mạng cho con, bản thân bà đã là một biểu ngữ vĩ đại.

Giám đốc thẩm là một thủ tục xem xét, đánh giá lại bản án đã tuyên – sẽ không có bị cáo. Nên người nhà không được dự là bình thường. Tuy nhiên, nếu tòa có tình người, có thể cho phép gia đình Hải được vào cổng đứng trong sân cho an toàn – vì tòa xưa nay không cấm dân đi qua cổng.

Cách ngăn sông cấm chợ như thế này, chỉ gây chú ý và làm xấu thêm hình ảnh tòa án mà thôi.

Ảnh: Thắng Thế Lê / Báo Sạch (Bà con sử dụng ảnh thoải mái, không cần hỏi ạ)

Image may contain: 1 person, standing, hat and outdoor

Sau 30/4 – Góc gói mì tôm ba người xong bữa tối

Sau 30/4 – Góc gói mì tôm ba người xong bữa tối (VOA)

(Hình: Trích xuất từ YouTube)
(Hình: Trích xuất từ YouTube)

Những ngày này 45 năm về trước, địa ngục dần thay thế thiên đường đối với hàng triệu người Việt Nam trong đó có cô Hoàng Thị Oanh Oanh, khi đó mới 12. Cha cô bị đưa đi ‘cải tạo’ mà không hề có bất kỳ bản án nào. Phải tới 14 năm sau ông mới được tự do bán phần. Ông lão già yếu và gày đét còn tiếp tục bị quản thúc tại gia thêm nhiều năm nữa. Trong lúc ông ở tù, năm trong số sáu người con đã vượt biên bằng thuyền. Hai người đầu đi năm 1978 và may mắn tới Philadelphia, Hoa Kỳ từ Malaysia, nơi thuyền họ cập bến. Cô Oanh Oanh rời đi năm 1979 khi cô 16 và được mẹ giao mang theo hai em nữa, một em 12 và một em 10 tuổi, trong khi bà ở lại cùng cô con gái duy nhất còn lại để đợi ngày chồng ra tù.

Câu chuyện hãi hùng của bà Oanh Oanh, nay là Tiến sỹ Carina Hoàng và là một trong 100 phụ nữ tiêu biểu tại Úc, đất nước bà theo chồng tới từ năm 2007, được phát hôm 3/5/2020 trong chương trình Outlook của BBC World Service.

Bà Oanh Oanh nói trong câu chuyện mang tên ‘Ba trẻ nhỏ trên đảo hoang’ rằng con thuyền mang theo gần 400 người vượt biên đã gặp bão sau vài tiếng ra khơi. Bão lớn tới mức các con sóng tưởng như có thể nuốt chửng chiếc thuyền dài 25 mét, rộng 4,5 mét và chật cứng người.

Bà Oanh Oanh nói: “Con thuyền bắt đầu lắc và mọi người bị say sóng. Rồi mọi chuyện còn tệ nữa. Mỗi lần sóng đánh vào thuyền mọi người lại hét lên và khóc. Tất cả chúng tôi đều cầu nguyện với âm giọng từ các vùng khác nhau, cầu Thượng đế, Đức Mẹ Maria, Đức Chúa Giê-su, Đức Phật, Tổ Tiên… Mọi người đều cầu Người cứu giúp. Những âm thanh đậm sự hỗn loạn và tuyệt vọng. Chúng tôi ngồi trên đống hỗn độn những thứ người ta nôn ra, phân, nước tiểu pha với nước biển.”

Thuyền còn bị cướp biển Thái Lan rượt đuổi và mọi người đối mặt với khả năng bị cướp và hãm hiếp trong ba ngày trước khi họ tới Malaysia. Hàng trăm người trên thuyền không hề biết rằng Malaysia đã thay đổi chính sách và xua đuổi tất cả các thuyền mang theo người tị nạn cộng sản từ Việt Nam. Hải quân Malaysia đã lên thuyền cướp những gì quý báu mà thuyền nhân mang theo, thậm chí lấy cả la bàn định hướng trước khi kéo thuyền ra giữa biển và đuổi đi.

Thêm vài ngày nữa các thuyền nhân tới một hòn đảo ở Indonesia và gần 400 người lên đảo nơi chỉ có chừng 100 người bản xứ. Chẳng bao lâu sau chính quyền Indonesia đưa tàu tới đón thuyền nhân và ai cũng nghĩ rằng họ sẽ được đưa tới trại tị nạn. Thay vào đó họ được đưa tới đảo hoang không người ở.

“Trưởng tàu không thể nào vào sát bờ nên ông ấy dừng lại, ký giấy cho mọi người xuống, hàng trăm người chúng tôi,” bà Oanh Oanh kể lại với BBC.

“Mọi người xuống tàu, mang theo đồ vật cá nhân và bơi vào bờ. [Chúng tôi] ngồi trên bãi cát, mọi thứ đều ướt hết, rối tung và hỗn loạn.”

Trong ba tháng sau đó, mọi người sống trên bãi biển Kuku của Indonesia với những gì mang theo cùng với bắt cá biển và bất cứ thứ gì có thể ăn được. Tình trạng ăn và vệ sinh tại chỗ khiến hòn đảo bị ruồi bu kín. Bà Oanh Oanh nói khi người ta ngủ ruồi có thể bu đen từ đầu tới chân. Thế rồi dịch bệnh kéo tới trong đó có sốt rét và tiêu chảy. Một trong những người đi cùng ba chị em bà Oanh Oanh có bé gái mới tám tháng tuổi và bà Oanh Oanh nói chính tay bà đã mặc quần áo cho cháu sau khi cháu chết vì tiêu chảy: “Lúc đầu cháu còn ấm, sau lạnh dần và cứng như búp bê.” Cháu bé nằm trong số khoảng 200 người chết trong mấy tháng sau đó trước khi thế giới biết tới sự tồn tại của thuyền nhân Việt Nam trên đảo hoang.

Bà Oanh Oanh nói bà rất lo sợ khi hai đứa em đổ bệnh, sốt cao và còn sợ hơn khi nghĩ tới chuyện nếu không may bà ốm không qua khỏi thì hai em sẽ ra sao. Bà kể ba chị em còn mì tôm mang theo và phải bẻ gói mì tôm ra làm bốn, mỗi bữa ba chị em chỉ dám ăn một miếng. Ba tháng sau trực thăng của Hội Chữ Thập Đỏ và Cao uỷ Tị nạn Liên Hiệp Quốc mới tới giúp những người trên đảo mà lúc đó đã lên tới cả ngàn vì Indonesia tiếp tục đổ thuyền nhân lên đảo hoang.

Bà Oanh Oanh và hai người em cuối cùng cũng may mắn thoát nạn và đoàn tụ với hai người anh chị ở Philadelphia Hoa Kỳ trong năm 1980. Bà nói do quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ còn xấu trong thời gian đó, họ không thể gọi về nhà. Vài năm sau họ mới biết có thể gọi về Việt Nam từ Canada. Lần đầu họ bay sang Montreal để gọi thì điện thoại ở nhà bị hỏng. Vài năm sau họ lại tới Vancouver và may mắn nói chuyện được với gia đình trong đó có cả người cha lúc đó vừa ra tù. Bà Oanh Oanh nhớ lại khi đó gọi về Việt Nam mất 10 đô la một phút trong khi lương tối tiểu khi đó là bốn đô la mỗi giờ và nói:

“Chúa ôi, khó mà có thể tin nổi [khi được nói chuyện với gia đình]. Chúng tôi cứ khóc. Mẹ tôi khóc và tôi khóc mất vài phút. Tôi không nhớ khi đó là bố tôi hay người họ hàng tôi đang ở cùng nói ‘Đừng khóc, đừng khóc, đắt lắm đó’.

Nhớ lại tình trạng thê thảm của người cha sau khi ra tù, bà nói: “Tôi thấy đau đớn và tức giận. Tôi cứ nghĩ mọi chuyện thật bất công và sai trái.”

Sau lần đó bà về lại Hoa Kỳ và tới thăm bà cô họ, người có con trai mất trên đảo ở Indonesia trên đường tìm tự do. Bà Oanh Oanh kể bữa ăn chỉ có hai người nhưng cô bày ba miếng lót bàn, ba chiếc bát và ba đôi đũa. Rồi bà cô nói: “Cháu thân với anh thì sang ngồi gần anh đi.” Ít lâu sau bà Oanh Oanh mới hiểu đã 18 năm nay người cô vẫn không thể quên người con trai nằm lại trên đảo. Hàng trăm ngàn người thiệt mạng khi rời Việt Nam bằng thuyền trong giai đoạn 1975-1996, nhiều người chết mất xác hoặc chết trên thuyền và xác bị vứt xuống biển.

Nhiều năm sau bà Oanh Oanh nói trong video trên YouTube về tình trạng của những người tị nạn như bà và cả triệu người Việt khác: “Là người tị nạn, bạn mất tất cả. Bạn mất người thân, mất văn hoá, mất bản sắc, mất những gì thân thuộc. Bạn sống với nỗi sợ thường trực, luôn cảm thấy tuyệt vọng và bạn ước gì mình không phải là người tị nạn.” Bà cũng nói khi đó bà không biết rằng cơ hội sống của bà và hai người em trong chuyến đi đó chỉ chừng 10%.

Cho tới nay chính quyền Việt Nam coi như chưa bao giờ có vấn nạn thuyền nhân với số lượng người Việt bỏ nước ra đi lớn chưa từng có trong lịch sử. Hà Nội thậm chí còn muốn xoá mọi dấu vết nhắc nhở tới giai đoạn 20 năm sau cuộc chiến và từng nhiều lần phản đối khi thuyền nhân muốn xây đài tưởng niệm trên các đảo từng cưu mang họ, nơi nhiều người đã mất vợ, mất chồng, mất cha, mất mẹ, mất con, mất anh chị em và người thân. Bà Oanh Oanh đã nhiều lần quay lại đảo ở Indonesia để giúp các cựu thuyền nhân tìm mộ tạm của người thân bắt đầu bằng chuyến đi tìm mộ người anh họ con bà cô như VOA từng đưa tin.

45 năm đã qua đi kể từ ngày cuộc chiến huynh đệ tương tàn kết thúc, bên thắng trận làm cuộc giải phóng ngược kéo lùi đất nước hiện vẫn đang chờ ngày thực sự được khai phóng và giải phóng xuôi khỏi nạn dịch cộng sản. Trong quá trình tìm tư liệu viết blog này, tôi tìm được bài viết trên BBC về một người phụ nữ tị nạn Latvia phải bỏ nước ra đi trong Thế Chiến II hồi năm 1944 và hơn 50 năm sau trở lại để tranh cử tổng thống thành công khi đã 60 tuổi. Vậy mới thấy Việt Nam thay đổi chậm chừng nào về mặt chính trị.

Trong kỳ tới, chương trình Outlook của BBC sẽ nghe về những chuyến đi của bà Oanh Oanh về lại hòn đảo nơi có mộ phần của nhiều thuyền nhân. Mong sẽ có ngày một trong những thuyền nhân trở lại lãnh đạo đất nước và thực sự mang tới thay đổi chính trị và hoà giải. Thay đổi và hoà giải cũng sẽ giúp Việt Nam mạnh lên trong cuộc đương đầu với bành trướng Trung Quốc. Chưa tới 50 năm trước Việt Nam chưa mất một phần Trường Sa, toàn đảo Hoàng Sa, và Bolsa cũng chưa tồn tại. Lấy lại những gì đã mất ở Trường Sa và Hoàng Sa có lẽ còn mất nhiều thời gian nếu có thể lấy lại được. Nhưng chính quyền nên sớm hành xử như người lớn và không chỉ nhận nhiều tỷ đô la kiều hối mỗi năm từ Bolsa mà còn nên nhìn nhận những đau thương và mất mát trong hàng chục năm để ngày nay làm ra nhiều tỷ đô la gửi về quê hương đau thương.

VOATIENGVIET.COM

Sau 30/4 – Góc gói mì tôm ba người xong bữa tối

Câu chuyện hãi hùng của bà Oanh Oanh, nay là Tiến sỹ Carina Hoàng và là một trong 100 phụ nữ tiêu biểu tại Úc, đất nước bà theo chồng tới từ năm 2007, được phát hôm 3/5/2020 trong chương trình Outlook của BBC World Service.

QUYỀN LỰC BẺ CONG CÔNG LÝ, MỘT ĐẶC SẢN CỦA “PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”…

QUYỀN LỰC BẺ CONG CÔNG LÝ, MỘT ĐẶC SẢN CỦA “PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”…

Để đưa một vụ án đến với công lý thì cần có 2 yếu tố quan trọng, đó là điều tra khách quan và xét xử công bằng. Thế nhưng dưới nền “pháp quyền XHCN” thì 2 vấn đề này không được đảm bảo. Sự bất cẩn của 1 trong 2 cơ quan trên đều đưa tới hiện tượng oan sai chứ chưa nói nến hành động cố tình bóp méo sự thật như việc làm quen thuộc của cơ quan điều tra và cơ quan xét xử trong bộ máy chính quyền CS. Vụ án Hồ Duy Hải nay đã kéo dài ròng rã 12 năm mà chưa ngã ngũ là rơi vào hoàn cảnh như vậy, quyền lực chính trị đã thọc tay vào quá trình tố tụng.

Những vụ án oan sai của ngành tư pháp Việt Nam rất nhiều, vụ Huỳnh Văn Nén, Hàn Đức Long cũng đã phơi bày tất cả. Và hôm nay là vụ án Hồ Duy Hải. Khi xem lại quá trì tố tụng, chúng ta mới thấy rõ bàn tay nhớp nhúa của thứ quyền lực chính trị nó đáng tởm như thế nào?! Từ nhân chứng đến vật chứng đều hoặc bị che giấu hoặc được ngụy tạo. Từ cơ quan điều tra đến cơ quan công tố rồi lại cơ quan xét xử, tất cả phối hợp dựng kịch bản một cách đồng lòng đến đáng sợ. May thay còn có mạng xã hội, còn có những luật sư có tâm mới giành lại sự sống cho Hải đến giờ, chứ không thì anh ta đã xanh cỏ từ lâu bởi thứ pháp quyền thổ tả thời XHCN.

Khi vụ án xảy ra, ban đầu có đến 2 nhân chứng là ông Đinh Vũ Thường và Phùng Phụng Hiếu. Trong đó Phùng Phụng Hiếu là nhân chứng đầu tiên phát hiện Nguyễn Văn Nghị xuất hiện ở bưu điện trước khi xảy ra án mạng. Nghị được xác định là người yêu của một trong hai nạn nhân. Trong đêm xảy ra vụ án, Phùng Phụng Hiếu có thấy Nghị có ghé vào Bưu điện Cầu Voi. Còn Vũ Đình Thường thì khai lúc 19 giờ 39 phút 22 giây có thấy một thanh niên ngồi phía trong bưu điện và nhìn thấy chiếc xe Dream nhưng không thấy biển số xe chứ không biết hung thủ là ai. Nói chung cả 2 nhân chứng chẳng ai thấy Hồ Duy Hải xuất hiện ở Bưu Điện trước lúc xảy ra án mạng cả. Qua lời khai của Phùng Phụng hiếu, cơ quan điều tra đã từng tạm giữ và lấy lời khai của Nghị, nhưng sau đó toàn bộ thông tin về Nghị đã bị rút khỏi hồ sơ vụ án.

Khi những lời khai của Nghị bị rút khỏi hồ sơ vụ án, thì cơ quan điều tra cũng gạt lời khai của Phùng Phụng Hiếu ra khỏi hồ sơ luôn. Chưa hết, khi xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, tòa án Nhân Dân tỉnh Long An cũng không mời Đinh Vũ Thường lên để thẩm vấn. Điều này đã được chính Đinh Vũ Thường xác định với luật sư bào chữa Hồ Duy Hải và có viết biên bản xác nhận. Như vậy là qua đây chúng ta thấy có hành động chạy án của cơ quan điều tra lẫn cơ quan xét xử. Họ chạy án cho ai thì chắc mọi người cũng cũng không khó hình dung.

Đấy là về nhân chứng, còn với vật chứng thì cơ quan điều tra đã cố tình ngụy tạo lộ liễu không kém. Cụ thể trong kết luận của hồ sơ điều tra nó nói rằng, Hồ Duy Hải đã dùng dao cắt cổ, dùng thớt đập vào đầu nạn nhân. Thế nhưng câu hỏa đặt ra là tang vật gốc đâu thì lại không có. Bởi vì cơ quan điều tra đã vội vã hủy vật chứng ngay sau khi khám nghiệm hiện trường, và thay vào đó họ đã mua dao và thớt ở chợ để dùng để làm chứng cứ giả buộc tội Hồ Duy Hải. Còn trơ tráo hơn nữa, công an điều tra còn tự tự vẽ con dao con dao gây án rồi ép Hồ Hải xác nhận.

Chưa hết, kết luận giám định chỉ ra những dấu vân tay trên cửa kính và trên vòi nước ở lavabo đều không trùng với 10 ngón tay của Hồ Duy Hải. Mà như ta biết, khi làm Chứng Minh Nhân Dân, chính quyền đã lưu 10 dấu vân tay của mọi công dân. Với kho lưu trữ vân tay đó, chính quyền hoàn toàn có thể truy ra dấu vân tay của bất kỳ ai ai nếu họ cần, thế nhưng với 10 dấu vân tay tại hiện trường vụ án mạng này cơ quan điều tra lại ém. Họ ém để làm gì thì có trời mà biết được. Và đáng ngờ hơn nữa là hồ sơ kết quả giám định dấu vân tay đã bị rút khỏi tập hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm, Viện KSND tỉnh Long An cho rằng “dấu vân tay không giám định được” như là lời nói đỡ cho sự tắc trách của cơ quan điều tra.

Vậy câu hỏi đặt ra là, ai có thể điều khiển được cơ quan điều tra ngụy tạo bằng chứng? Ai đã thọc tay vào kho lưu trữ của cơ quan điều tra rút lấy hồ sơ về dấu vân tay đem giấu? Và ai đã điều khiển được Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Long An từ chối yêu cầu truy ra dấu vân tay thật của người gây án?

Điều mà ai cũng thấy đó là tất cả những gì liên quan đến Nguyễn Văn Nghị đều bị rút hồ sơ. Vậy câu hỏi đặt ra là, Nguyễn Văn Nghị là ai? Theo Wikipedia thì mô tả Nguyễn Văn Nghị, sinh năm 1979, cư trú tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nghiện ma túy là người theo đuổi Nguyễn Thị Ánh Hồng (một trong hai nạn nhân bị sát hai). Đêm xảy ra án mạng, Nghị có mặt tại bưu điện. Tuy nhiên, từ 20 giờ 10 phút đêm đó, Nghị uống cà phê với bạn tại một quán cà phê khu vực Cầu Voi và được chủ quán cà phê xác nhận thời gian. Tuy nhiên, bao năm qua trên mạng còn xuất hiện những tin tức không chính thống cho rằng. Nguyễn Văn Nghị là cháu của bà Trương Mỹ Hoa – cựu phó chủ tịch nước. Mà ai cũng biết Trương Mỹ Hoa là chị vợ của Lê Thanh Hải – cựu bí thư Sài Gòn. Được biết, gia tộc Lê-Trương là một gia tộc rất mạnh ở khu vực miền nam không thua gì gia tộc Nguyễn Tấn Dũng.

Thực hư gia thế của Nguyễn Văn Nghị thế nào thì chưa rõ vì chẳng có cơ quan ngôn luận chính thống nào xác nhận, và gia tộc Lê-Trương cũng im lặng. Thế nhưng có một điều ai cũng thấy là đang có một cánh tay quyền lực cực mạnh can thiệp vào vụ án để chạy tội cho đối tượng Nguyễn Văn Nghị. Nếu Nguyễn Văn Nghị là thường dân, liệu anh ta có được quyền lực che chở đến thế không? Chắc chắn là không.

Hôm nay là ngày xử đầu tiên của phiên giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải. Bằng chứng vô tội của Hồ Duy Hải thì xem như đã đủ. Thế nhưng số phận của Hồ Duy Hải như thế nào thì không thể biết trước được, vì sao? Vì bản chất của tòa án Cộng Sản là không bao giờ vì công lý mà nó chỉ vì quyền lực, thế nên dù chứng cứ vô can đã rõ mười mươi thì cũng không ai dám chắc rằng Hồ Duy hải thoát tội. Chỉ mong rằng bàn tay đen của thứ quyền lực bẩn đang điều khiển hệ thống tư pháp ép chết Hồ Duy Hải trong suốt 12 năm qua nó không thể vươn tới hà Nội. Chỉ mong thế, chứ nếu nó thọc tới thì xem như Hồ Duy Hải hết cứu.

ĐỖ NGÀ

Image may contain: 2 people, people standing

30-4 nhìn lại con bài “Thành Phần Thứ Ba” của cộng sản Hà Nội

30-4 nhìn lại con bài “Thành Phần Thứ Ba” của cộng sản Hà Nội

Nguyễn thị Cỏ May (Danlambao) – “30 tháng 4” thật sự là chỉ một ngày như bao nhiêu ngày khác trên tờ lịch. Nhưng từ sau 30 tháng 4 năm 1975, nó trở thành một ngày trọng đại vì nó ghi lại một biến cố lớn, đau thương, bám chặt ký ức của người Việt Nam. Nó đánh thức lòng trắc ẩn và lương tâm thế giới văn minh do những hệ quả kéo dài của nó.

Đối với người Việt Nam, đó là “Ngày Quốc hận”, “Ngày Mất nước”... Nhưng với người cộng sản Hà Nội, cũng là ngày đó, nó trở thành ngày “Giải phóng Miền Nam”, ngày “Đất nước thống nhất”… Ngày lễ hội vui mừng!

Kẻ mất buồn, người được vui! Thông thường thôi. Nói theo Võ văn Kiệt thì ngày 30 tháng 4 “Có một triệu người vui, có một triệu người buồn”. Phải chăng Ông Kiệt đã nghĩ tới những người không phải bên thắng cuộc? Nhưng thật lòng thì ông buồn hay vui? Cái nào nhiều, cái nào ít? Nhưng giờ đây chắc chắn cả nước buồn! Cả người cộng sản phản tỉnh và đông đảo thanh niên. Trừ những người cộng sản làm giàu nhờ cầm quyền. Những người này nói cách mạng, làm chính quyền cách mạng nhưng không ai có thành tích cách mạng. Du đãng mà mặt không dính thẹo thì không thể nói là du đãng hay anh chị được. Chỉ là những tên điếm đàng mà thôi. Đó là những Nguyễn Phú Trọng, những Tô Lâm, những Lê Thanh Hải… Nguyễn Tấn Dũng ít ra còn có thành tích lúc 16 tuổi làm y tá, xức thuốc đỏ cho du kích VC trong mật khu Rạch giá, Cà Mau.

Giữa hai lớp người buồn vui đó, có một ít người không thấy buồn, trái lại thấy vui vì tự “chia vui” với “Bên thắng cuộc”. Tất cả họ đều thuộc lớp khá giả trong xã hội Miền Nam nhưng lại chạy theo cộng sản, làm tay sai cộng sản chống lại chính quyền miền Nam.

Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lên Đài phát thanh Sài Gòn hát bài “Nối vòng tay lớn”. Bài hát kêu gọi và nói về ước mơ thống nhất dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968 nhưng chưa từng công bố cho tới thời điểm đó, nay được ông công bố để kỷ niệm sự kiện trọng đại mà ông mong chờ đã lâu. Trong bài phát biểu trên đài, ông kêu gọi người dân miền Nam ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam:

“Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta… Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam này… Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả kết quả đó… Hôm nay tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam, các bạn trẻ và Chính phủ Cách mạng lâm thời xem những kẻ ra đi là những kẻ phản bội đất nước… Chính phủ Cách mạng lâm thời đến đây với thái độ hòa giải, tốt đẹp. Chúng ta không có lý do gì để sợ hãi mà ra đi cả. Đây là cơ hội duy nhất và đẹp đẽ nhất để đất nước Việt Nam được thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước suốt mấy chục năm nay. Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu và cũng như những người chưa quen của tôi xin ở lại và kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng lâm thời để góp tiếng nói xây dựng miền Nam Việt Nam này…”

Những ngày sau đó, Trịnh Công Sơn cũng không có chỗ đứng. Nghe bạn khuyên nên về Huế sống yên lành hơn vì quê hương và bạn bè cũ. Nhưng ở Huế, ông thấy có nhiều khó khăn. Bạn lại khuyên ông nên trở vào Sài Gòn tốt hơn. Và ông ở Sài Gòn luôn từ đó. May mà ông không bị đi cải tạo tập trung như nhiều văn nghệ sĩ khác.

Sau gần nửa thế kỷ “thắng cuộc”, đất nước về một mối xã hội chủ nghĩa, những điều họ tranh đấu đòi hỏi ngày trước như dân chủ, tự do, xã hội công bằng, người không bóc lột người, no cơm ấm áo, không có bóng dáng ngoại bang… thì nay, những điều đó chẳng những chưa có, trái lại còn trầm trọng hơn đang trở thành thực tế xã hội Việt Nam nhưng không thấy những người đó đứng lên, biểu tình, tuyệt thực, đói hỏi như trước kia. Đó là những người của “Thành phần Thứ ba” hay của “Lực lượng Thứ ba”.

Thành phần thứ ba

Tổ chức “Thành phần thứ ba” hay “Lực lượng thứ ba” ra đời trong hoàn cảnh nào, không rõ ràng lắm. Theo ký giả Pomonti của nhựt báo Le Monde, “Thành phần thứ ba” xuất hiện năm 1960 sau khi Nhóm Caravelle đưa ra bản Tuyên ngôn với 18 nhân sĩ ký tên đòi hỏi ông Tổng thống Ngô Đình Diệm cải tổ đường lối cai trị, chấm dứt tình trạng độc tài gia đình trị. Sau đó thì xuất hiện phong trào quần chúng nổi lên chống chế độ Ngô Đình Diệm độc tài, kỳ thị tôn giáo.

Nhưng theo ký giả Decornoy, cũng của Le Monde, thì vào cuối năm 1969, có một phong trào quần chúng xuất hiện ở Sài Gòn chống chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, đòi hòa bình, đi theo chủ trương “Hòa giải dân tộc” của tướng Dương Văn Minh.

“Thành phần thứ ba” gồm một số Dân biểu như Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Lý Quí Chung, Dương văn Ba, Ngô Công Đức; Sinh viên có Huỳnh Tấn Mẩm, Nguyễn Hũu Thái…; trí thức có Bà Ngô Bá Thành…; tu sĩ có Ni sư Huỳnh Liên, Linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ…

Năm 1971, Sài Gòn tổ chức bầu cử Quốc hội. Nguyễn Hũu Thái được Mặt trận Giải phóng Miền Nam bí mật móc nối đề nghị ra tranh cử với lập trường “hòa bình đứng giữa” chuẩn bị cho Thành phần thứ ba khi có Chính phủ 3 thành phần theo Hiệp định Paris tuy lúc đó Hội nghị Paris chưa kết thúc.

Nhưng “Thành phần thứ ba” trở thành một danh xưng chính thức từ khi Hà Nội đưa ra tại hòa đàm Paris đề nghị thành lập một chính phủ liên hiệp gồm 3 thành phần. Xin nhắc lại thành phần thứ ba của Hà Nội đề cập không có phong trào sinh viên, dân biểu, trí thức, tu sĩ, như trên đây.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước sau vẫn cương quyết phủ nhận thành phần thứ ba. Năm 1972, Hà Nội chính thức lên tiếng bênh vực phong trào này.

Chẳng những phủ nhận “Thành phần thứ ba” hay “Lực lượng thứ ba”, chính phủ Sài Gòn cũng từ chối đề nghị một Chính phủ Liên hiệp 3 Thành phần như phía Việt cộng đòi hỏi. Tuy nhiên, khi “Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình” ký kết tháng giêng 1973 ở Paris thì có điều 12 qui định thành lập một “Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm 3 thành phần ngang nhau”.

Hà Nội coi trọng thành phần thứ ba như là một yếu tố giúp họ thắng lợi bằng chính trị: “Việc thành lập một chính phủ hòa hợp dân tộc ở miền Nam là chìa khóa dẫn đến hòa bình, và lực lượng thứ ba là một thành phần không thể thiếu được của giải pháp này…” (Phạm văn Đồng trả lời nhà báo pháp Jean Lacouture, Etudes vietnamiennes, Paris).

Để làm áp lực ở hòa đàm Paris, Hà Nội cho thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình của Chính phủ Cách mạng Lâm thời đưa ra đề nghị “8 điểm” có đề cập thành lập một Chính phủ Liên hiệp Lâm thời gồm 3 thành phần: “những người của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời, những người yêu chuộng hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ trong chính quyền Sài Gòn, và những nhân vật của các lực lượng chính trị và tôn giáo, trong hay ngoài nước, có lập trường ủng hộ hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ phản ánh các khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam về hòa bình, độc lập, trung lập, dân chủ, và hòa giải, hòa hợp dân tộc.”

Tiếp theo, vào cuối 1973, rầm rộ xuất hiện ở Sài Gòn nhiều phong trào đều do Hà Nội thổi lên như:

– Phong trào Phụ nữ đòi Quyền sống (Bà Ngô Bá Thành sáng lập).

– Phong trào Thi hành Hiệp Định Paris.

– Mặt trận Nhân dân Cứu đói (Tổ chức lớn nhất ở Miền Nam với sự tham gia của các nhóm Công giáo, Phật giáo, Hòa Hảo và Cao Đài. Linh mục Phan Khắc Từ là một trong 3 phó chủ tịch.)

– Mặt trận các Tôn giáo vì Hòa bình, Hòa hợp, và Hòa giải (Dương Văn Minh sáng lập).

– Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Dân tộc (Một tổ chức Phật giáo do Vũ Văn Mẫu lãnh đạo).

– Tổ chức Nhân dân đòi Thi hành Hiệp định Paris (Ngô Bá Thành sáng lập).

– Ủy ban Tranh đấu cho Tự do Báo chí và Xuất Bản (Dân biểu Nguyễn Văn Binh, anh vợ Ngô Công Đức đứng đầu).

– Ủy ban đòi trả tự do cho tù Chính trị của Lực lượng thứ ba.

– Ủy ban bảo vệ quyền lợi người lao động (Linh mục Phan Khắc Từ lãnh đạo).

– Nhóm các Nhà Lập Pháp Tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Hòa bình.

Nhưng hiện tượng quần chúng này chỉ là những đòi hỏi giai đoạn của người cộng sản để chờ đợi đạt trọn vẹn mục tiêu cuối cùng. Đó là ngày 30 tháng 4/1975.

Sau 30-4-75 có hai nước Việt Nam cùng xin gia nhập LHQ?

Cuộc chiến Nam-Bắc Việt Nam kết thúc ngày 30-04-1975 thì qua tháng 4/1976 hai miền Việt Nam được thống nhất thành một nước có tên gọi là “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Không đợi thi hành Hiệp định Paris.

Nhân đây xin nhắc lại cái chết của một cựu Nam Bộ kháng chiến Khu 7 liên hệ tới quyết định thống nhất 2 Miền sớm hơn thời hạn. Trong Hội nghị Hiệp thương chính trị bàn về thống nhất, tướng Huỳnh Văn Nghệ, tức Tám Nghệ, cựu Bộ trưởng Lâm nghiệp, phản đối việc quyết định thống nhất sớm. Giận dữ, ông rút khẩu súng cá nhân dằn lên bàn, gằn giọng – “Ai quyết định thống nhất ngay, hãy bước qua xác chết của tôi”. Qua đầu năm 1977, Huỳnh Văn Nghệ một hôm bị đau bụng, Ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương đảng vội cho chở ông vào Chợ Rẩy để chữa trị. Bác sĩ ở Hà Nội phải vào để săn sóc ông theo tiêu chuẩn cán bộ đảng viên. Vài hôm sau, ông thấy tình trạng sức khỏe của mình không có gì nặng nên muốn về nhưng bác sĩ không cho. Đưa ông đi chụp hình, liền sau đó, đưa ông qua phòng mổ và mổ. Bình thường gặp bác sĩ thứ thiệt của Hà Nội mổ thì cũng khó sống. Nay ông lại được bác sĩ Hà Nội đặc biệt quan tâm mổ theo ý kiến của Ban Bảo vệ sức khoẻ Trung ương đảng thì dĩ nhiên ông không thể không ra về bằng ngỏ sau của nhà thương. Chuyện này, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa biết nên bà có lên tiếng trong nôi bộ và bà tỏ thái độ bằng cách trả thẻ đảng. Phạm văn Đồng can thiệp không được, đành chấp nhận và yêu cầu bà giữ tiếng trong 10 năm. Đúng 10 năm, bà công bố việc trả thẻ đảng của bà trên nhật báo Le Monde của Pháp. Về cái chết của Huỳnh văn Nghệ, bà chỉ nói riêng trong vòng thân mật mà thôi.

Thống nhất xong, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1977, và trở thành thành viên thứ 149 của LHQ vào ngày 20 tháng 9/1977.

Nhưng ít người biết rằng trước khi thống nhất đã từng có hai nước Việt Nam nộp đơn cùng xin gia nhập Liên Hiệp Quốc. Một là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thủ đô Hà Nội, với cờ đỏ sao vàng. Và nước Việt Nam kia là Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, thủ đô Sài Gòn, có cờ nửa đỏ trên, nửa xanh dưới, ngôi sao vàng giữa.

Lá cờ nửa đỏ nửa xanh này xuất hiện vào cuối năm 1960, khi một số trí thức miền Nam tuyên bố thành lập “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam” trong vùng rừng núi Lộc Ninh, để đối lập với chính phủ Việt Nam Cộng hòa tại Sài Gòn. Sau thời gian dài hoạt động khủng bố nhờ đó tư cách Mặt trận được thừa nhận. Và cũng từ đó Mặt trận này thành lập một chính phủ có tên là “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam”.

Trong thời gian đó, Hà Nội cứ nói lấy được cuộc chiến ở miền Nam là cuộc chiến giữa quân đội Việt Nam Cộng hòa với lực lượng võ trang của Mặt trận. Tức do nhân dân Miền nam nổi lên đòi độc lập và thống nhất chớ không do miền Bắc can thiệp. Khi chính phủ Sài Gòn đưa bằng chứng cán binh của Hà Nội xâm nhập vào Nam thì Nguyễn Thị Bình trả lời “Họ là người Việt Nam thì dĩ nhiên họ có quyền đi trong vùng lãnh thổ của họ”.

Ngày 30/4/1975, khi Sài Gòn sụp đổ, thì cờ của Mặt trận Giải phóng được kéo lên nóc dinh Độc lập ở Sài Gòn. Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố thừa kế Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, xác nhận lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 tới mũi Cà mau, với cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Giữa tháng 7/1975, hai nước Việt Nam cùng đề nghị nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc. Đại diện cho Hà Nội là ông Nguyễn Văn Lưu, ông Đinh Bá Thi đại diện cho Sài Gòn.

Ngày 11/8/1975, Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu đồng ý cho hai nước Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc, nhưng bị Hoa Kỳ phủ quyết nên việc gia nhập LHQ của 2 nước của cùng Hà Nội không thành.

Giải thích lý do Hoa Kỳ dùng quyền phủ quyết, Gs Ngô Vĩnh Long cho rằng vì họ không muốn có 2 nước Việt Nam “độc lập” cùng Hội viên LHQ mà để 2 Việt Nam thống nhất theo Hà Nội, tức trở thành cộng sản. Hoa Kỳ sẽ có cớ không bang giao, mà còn dùng Việt Nam như một nơi thực hiện một cuộc chiến tranh ủy nhiệm chống Liên Xô (Joaquin Nguyễn Hòa, BBC. 20/4/19)

Còn theo Gs Đoàn Viết Hoạt, hiện sống tại Mỹ, thì quyết định của Mỹ không cho hai miền Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc có thể liên quan đến những thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc vào năm 1972 khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao sau tuyên bố Thượng Hải. Lúc đó, Mỹ toan tính liên minh với Trung Quốc để chống Liên Xô, giao vùng Đông Nam Á cho Trung Quốc, và Bắc Kinh không muốn có một miền Nam Việt Nam độc lập, không theo cộng sản. Theo giải thích này, Gs Hoạt tin rằng Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam không phải của cộng sản Hà Nội nặn ra!?

Vẫn theo Gs Ngô Vĩnh Long thì cho đến 30/4/1975, quan điểm về sự thống nhất Việt Nam của Hà Nội cũng như Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, khi chiến tranh kết thúc, sẽ là một quá trình nhiều bước kéo dài từ 12 đến 14 năm. Vì việc gia nhập Liên Hiệp Quốc của hai nước Việt Nam thất bại đã thúc giục những thành phần cứng rắn tại Hà Nội kết thúc dự án thống nhất đất nước kéo dài đó.

Nhưng sau khi việc gia nhập Liên Hiệp Quốc của hai miền Việt Nam bị thất bại, Đảng Lao động Việt Nam, tức đảng Cộng sản Hà Nội hiện nay, họp Hội nghị trung ương lần thứ 24, quyết định gấp rút thống nhất Việt Nam “Đứng trước yêu cầu của tình hình cách mạng mới, tháng 9/1975 tại Hội nghị lần thứ 24, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước” (Nghị quyết số 247-NQ/TW, ngày 29/9/1975 Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới “Hoàn thành thống nhất tổ quốc và đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”).

Thế là Mặt trận và cả Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam cùng dẹp tiệm vì đã “hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ lịch sử” (Nguyễn thị Bình tuyên bố).

Tuy tài liệu không thấy nhắc tới đã có 2 nước Việt Nam chính thức xin gia nhập LHQ nhưng Gs Đoàn Viết Hoạt nhớ lại, lúc còn ở Sài Gòn, ông có nghe một bản tin của đài BBC về sự kiện hai nước Việt Nam cùng xin gia nhập Liên Hiệp Quốc rồi bị thất bại vào tháng 8/1975. Tức chuyện đã có 2 Việt Nam cùng xin gia nhập LHQ là thật.

Chứng kiến sự quản lý nhà nước tại Sài Gòn sau ngày 30/4/1975 ông Hoạt kể lại ông thấy tất cả những quyết định của nhà cầm quyền đều mang danh nghĩa Cộng hòa miền Nam Việt Nam, kèm theo tiêu đề: “Độc lập, tự do, Trung lập”.

Với bản tin thế giới nghe qua đài BBC, cộng với sự kiện mình không bị bắt, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt cho rằng những người cộng sản lúc đó đang thật sự tính tới dự án cho miền Nam một qui chế riêng, chứ không gấp rút thống nhất Việt Nam dưới màu áo cộng sản duy nhất (theo trích dẫn trên).

Đâu là sự thật?

Sáng ngày 1 tháng 5/1975, tại Sài Gòn có cuộc diễn binh lớn do chính quyền mới tổ chức để ăn mừng “Đại thắng Mùa xuân”. Bộ trưởng Tư pháp Trương Như Tảng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời ngồi trên khán đài danh dự coi diễn binh. Chờ hoài không thấy “đoàn quân giải phóng” đi qua, bèn nghiêng qua hỏi một sĩ quan Quân đội nhân dân. Vị sĩ quan này trả lời rất vui vẻ – “Ủa anh không biết sao? Quân đội ta đã thống nhất tối hôm qua rồi kia mà!” (Trương Nhu Tảng kể lại lúc tỵ nạn ở Paris).

Qua ngày 2 tháng 5/1975, chính quyền mới ra lệnh giải tán tất cả các tổ chức chính trị, xã hội, văn hóa, tôn giáo… được thành lập dưới chế độ VNCH. Còn các tổ chức mới thành lập để chống “Mỹ Ngụy cứu nước” đều bị hoặc tự giải tán, hoặc sáp nhập vào các tổ chức chính thức của Hà Nội như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ Giải phóng, cả Chính phủ cách mạng Lâm thời, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, các cơ sở vật chất ở hải ngoại… đều không còn vết tích!

Điều đáng ngạc nhiên là việc giải tán không có một lời phản đối hay than phiền nào của những người trong các tổ chức đó hết cả, mặc dầu họ đã từng can trường đương đầu với chế độ VNCH, không hề sợ sệt dùi cui, hơi cay, tù đày. Hay nay họ cũng hiểu nhiệm vụ “cách mạng” chạy theo cộng sản của họ đã hoàn tất!

Thái độ của trí thức

Ai cũng biết triết gia Jean-Paul Sartre là người không có chính kiến chắc chắn. Đúng hơn ông là người có tinh thần tiến bộ mà hơi “ba phải”, nặng cá nhân chủ nghĩa, khuynh hướng vô chính phủ, chống chủ nghĩa quân phiệt, và hơn hết là chống tư sản nên ông dễ ngã theo cộng sản. Từ những năm 1950, Sartre ủng hộ Liên Xô mạnh mẽ. Cho đến nỗi ông đã không ngần ngại lớn tiếng chửi thẳng ai không theo cộng sản là thứ con chó! Đến khi Liên Xô đưa xe tăng qua đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân Hungary ông mới từ bỏ cộng sản. Cộng sản Pháp lên án ông đã đầu hàng giai cấp. Trong lúc đó, Raymond Aron, bạn của Sartre, lại tôn thờ tinh thần dân chủ tự do. Vì vậy hai người ghét nhau trong thời chiến tranh lạnh. Họ không hề nói chuyện với nhau, không gặp nhau suốt từ những năm 47.

Thế mà tháng 6/1979, trước thảm họa cộng sản ở Việt Nam và Miên, cả 2 cùng tới Điện Elysée yêu cầu Tổng thống Giscard d’Estaing hãy mở rộng cửa đón nhận người Miên và Việt Nam, hàng chục ngàn, hằng trăm ngàn đang chạy trốn cộng sản.

Sartre trả lời báo chí “Riêng cá nhân tôi, tôi ủng hộ những ngưởi tuy không phải là bạn của tôi trong thời gian Việt Nam tranh đấu cho tự do (Việt Minh). Nhưng điều đó không có gì quan trọng, bởi vì điều quan trọng ở đây, chính họ là những con người. Những người đang bị nguy hiểm”.

Lời tuyên bố trên đây cho thấy Sartre không ngụ ý vì đã phủ nhận ý thức hệ cộng sản mà thật sự chỉ là lương tâm con người trí thức thúc đẩy ông hành động.

Qua cách ứng sử này, Aron và Sartre bắt tay nhau. Hai người nắm tay nhau cùng bước ra khỏi Elysée.

Các đảng phái khác, cả Xã hội, RPR, đều hưởng ứng cùng vận động giúp đỡ người tỵ nạn cộng sản. Hồng Y Etchegaray kêu gọi mỗi gia đình giáo dân hãy đón nhận 1 gia đình người tỵ nạn.

Hơn tháng sau, tháng 7/79, Pháp đón nhận và định cư 128531 người tỵ nạn cộng sản Đông Dương.

30.04.2020

 Nguyễn thị Cỏ May

 danlambaovn.blogspot.com

Mở lòng bao dung, hòa giải để đoàn kết, hòa hợp dân tộc

BÀI NÀY ĐĂNG TRÊN BÁO QUỐC DOANH VẬY LÀ KHÁ

Đồng thời với hiện tượng không tổ chức rình rang, không nhiều bài vở ồn ào kỷ niệm 30/4 như các năm khác, hy vọng một sự chuyển biến thực chất.

Có lẽ cũng nhờ … Cô-vi chút ít chăng? Hay là nhờ cả … “bạn vàng” chó má quấy phá mạnh hơn ngoài Biển Đông?

– Vì nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, vì mục tiêu quốc thái dân an, đòi hỏi đất nước không chỉ thống nhất về giang sơn lãnh thổ mà phải thống nhất về lòng người.

LỚP LỚP THANH NIÊN MIỀN BẮC RA TRẬN NGÃ XUỐNG, NỬA TRIỆU BÀ MẸ MIỀN BẮC VĨNH VIỄN KHÔNG TÌM THẤY MỘ CON – LIỆU CÓ VUI?

Image may contain: 1 person, text

Lê Vi

LỚP LỚP THANH NIÊN MIỀN BẮC RA TRẬN NGÃ XUỐNG, NỬA TRIỆU BÀ MẸ MIỀN BẮC VĨNH VIỄN KHÔNG TÌM THẤY MỘ CON – LIỆU CÓ VUI?

Năm 2015, ông Đào Ngọc Lợi Cục phó Cục Người có công của Bộ lao động thương binh xã hội cung cấp cho báo Vnexpress con số hơn 300 ngàn hài cốt liệt sĩ được đưa về các nghĩa trang nhưng chưa xác định đầy đủ danh tính hoặc quê quán, nghĩa là thân nhân của họ không thể nhận ra họ và hơn 200 ngàn liệt sĩ còn nằm ở các vùng chiến trường chưa được quy tập về các nghĩa trang liệt sĩ.

Như vậy chắc chắn có không dưới nửa triệu bà mẹ đến khi chết vẫn không thể thấy mộ con trong đó một phần là các bà mẹ miền Nam có con tập kết ra miền Bắc nhưng đa phần là các bà mẹ miền Bắc.

Tôi không có con số những người mẹ miền Bắc tìm thấy mộ con nhưng tôi nghĩ sẽ có khoảng một triệu bà mẹ như thế.

Số liệu dân số tôi tìm thấy cho biết trước năm 1975 ở miền Bắc có khoảng 17 triệu người.

Xấp xỉ 17 triệu người nhưng có cả triệu gia đình mất con thì tang thương phủ lên miền Bắc lớn biết chừng nào?

Với miền Bắc cuộc chiến cũng là ác mộng.

Cùng với cuốn Bên thắng cuộc là sách tư liệu lịch sử thì cuốn Nỗi buồn chiến tranh là tiểu thuyết chiến tranh của nhà văn quân đội Bảo Ninh đã phác họa lại sự thật khủng khiếp của cuộc chiến.

Bốn mươi lăm năm qua cứ mỗi năm một lần một số ít người may mắn được mời lên truyền hình để kể lại những điều mà họ cho là hào hùng ấy, mấy ai nhớ lại cảnh tang thương ở các xóm làng miền Bắc?

Những câu chuyện kể những cầu truyền hình sẽ làm đến bao giờ?

Nửa triệu bà mẹ miền Bắc đến cả trong giấc mơ cũng không thấy mặt con ấy họ có nhớ không?

– Trần Đình Thu

TÔI MONG DÂN TỘC TÔI CÓ MỘT PHÉP MÀU…

8 SÀI GÒN

TÔI MONG DÂN TỘC TÔI CÓ MỘT PHÉP MÀU…

Nếu phân ly là định mệnh dân tộc??!!…

Tôi không nghĩ đã có dân tộc nào trên thế giới mở đầu trang sử của mình bằng một cuộc phân ly. Nhưng rủi thay, dân tộc ta đã có một trang sử khởi đầu như vậy. Đọc sử, chúng ta hãnh diện tự tôn về dòng giống con rồng cháu tiên. Điều đó, làm chúng ta quên bẵng đi ý nghĩa câu chuyện mẹ Âu Cơ đem 50 con lên núi, cha Lạc Long Quân đem 50 con xuống biển để bắt đầu một phân ly tiên khởi như định mệnh dân tộc.

Ngẫm xem, dân tộc này đã trải qua bao nhiêu cuộc phân ly kể từ ngày ấy? Ngày nay, lúc này, xứ sở thống nhất về lãnh thổ, nhưng cuộc phân ly từ lòng người vẫn cứ còn nguyên đó với nhiều sắc màu, vượt trội nhất với đỏ và vàng.

Cũng lạ, như một định mệnh trớ trêu, trong lá cờ đỏ lại có ánh vàng, trong lá cờ vàng lại có sắc đỏ, trong mình có ta, trong ta có mình, ta với mình đều là người Việt, mình với ta đều là đồng bào, ta với mình đều vỗ ngực yêu nước, nhưng mình với ta không đứng chung trong một sắc cờ! Và nếu cần phải chiến đấu với ngoại xâm, liệu ta với mình có đứng chung trong một chiến hào?

Tôi mơ hồ về câu trả lời, nhưng tôi sẽ chắc chắn hơn với câu trả lời “Có”, chỉ khi mà “ta” với “mình” đã có sự hòa hợp, hòa giải với nhau!

Vâng, sự hòa giải đấy là nan đề xứ sở, là giấc mơ 45 năm chưa trọn!

Đối diện với mỗi vấn đề, tôi vẫn thường hướng sự suy nghĩ của mình bắt đầu từ quá khứ để biết các bài học của lịch sử… Nhưng với vấn đề hòa giải, tôi muốn chúng ta bắt đầu câu chuyện từ nước Đức.

Không phải về một nước Đức phát xít của Hitler đã từng làm nhân loại kinh sợ, mà về một nước Đức thống nhất đã từng làm nhân loại phải ngã mũ kính phục từ sau sự kiện bức tường Berlin bị phá bỏ năm 1989. Chính là nước Đức mà khiến chúng ta, đã không thể đặt vô số câu hỏi tại sao khi đối chiếu với những vấn đề của đất nước mình.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao họ không đặt ra vấn đề buộc những người cộng tác với chính quyền Đông Đức cũ phải đi học tập cải tạo như đất nước ta? Nhưng chúng ta phải nhận thấy rằng, nhờ đó, nước Đức đã không mất đi nguồn nhân lực chất xám cực lớn và quý báu từ một nửa quốc gia còn lại, xã hội không bị xáo trộn và cũng không phải đau đáu về việc phải hòa giải với các cựu thù hàng mấy thế hệ, mà nay tất cả đang là những đồng nghiệp với nhau, cùng kề vai sát cánh phụng sự trong chính quyền nước Đức, vì quyền lợi dân tộc Đức.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không hiểu tại sao người dân Đông Đức cũ đã không chọn con đường đào thoát, tỵ nạn ra nước ngoài như người dân đất nước ta! Và chúng ta cũng nhận thấy rằng, nhờ đó, hàng triệu người dân nước Đức đã không phải phiêu lưu đánh đố số phận của mình trên những chiếc ghe nhỏ giữa đại dương, với vô vàn bất trắc: bão tố, sóng biển, cá mập, hải tặc, tù đày và kể cả điều xấu nhất là cái chết trước khi đến được bến bờ mong muốn. Hơn cả thế, người dân Đức không phải đối diện với sự mất mát và nước Đức cũng không phải đối diện với sự ly tán hiện hữu dai dẳng trong lòng người dân nước mình.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao và như thế nào mà họ lại có thể chấp nhận một người vốn xuất thân từ một đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Đức thuộc Đông Đức cũ, nhưng chỉ 15 năm sau khi thống nhất, thì người này đã có thể trở thành người phụ nữ đầu tiên và trẻ nhất đắc cử vào chức vụ Thủ tướng đầy quyền lực của nước Đức thống nhất? Bà Angela Merkel ! Bạn có nghĩ rằng, nếu người phụ nữ tài trí kiệt xuất này sống ở đất nước chúng ta, Bà có thể đã có một tương lai rất khác, khi mà đất nước chúng ta sau ngày thống nhất vẫn còn nguyên đó sự dè dặt trước những người có lý lịch không tương thích với chính quyền và trong quá khứ đã từng có chính kiến rất khác biệt với chính quyền.

Không chỉ câu chuyện từ nước Đức, mà những câu chuyện về sự hòa giải, hòa hợp từ Nam Phi, Miến Điện, thậm chí từ quốc gia Cao Miên láng giềng cũng đều là bài học hữu dụng.

Tại sao và tại sao? Trả lời được những thắc mắc đó, chúng ta có thể trả lời cho con cháu đời sau biết lý do tại sao ông cha của chúng hiện nay phải kêu gọi hòa giải mối bất hòa có từ những thập kỷ năm mươi và một lần nữa vào thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước, giữa những người Việt có chung giòng máu Lạc Hồng, sinh từ cùng một bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ?

Giữa thập kỷ năm mươi, năm 1954, không phải là một quốc gia bại trận như nước Đức. Trái lại, xứ sở chúng ta vừa mới bước ra khỏi cuộc chiến với tư cách là một quốc gia chiến thắng. Nhưng phần thưởng cho người chiến thắng không vinh quang như chúng ta thường nghĩ, thường thấy, mà cũng lại là sự phân ly như nước Đức bại trận!?

Giữa thập kỷ bảy mươi, năm 1975, sau cuộc chiến khốc liệt dai dẵng kéo dài hằng hai thập kỷ, trả giá bằng sinh mệnh của nhiều triệu đồng bào, cuối cùng xứ sở của chúng ta cũng có được thống nhất dưới bánh xích xe tăng nghiến trên đường phố Sài Gòn. Nhưng kể từ ngày ấy cho đến nay đã là 45 năm, xứ sở thống nhất, nhưng lòng người dân nước ta chưa bao giờ thống nhất! Vẫn vẹn nguyên sự phân ly như những ngày nội chiến tương tàn!

Sự phân ly lòng người đau đớn lắm, nó làm thân thể người mẹ Việt xanh xao yếu ớt, như vết thương mãi rỉ máu, chẳng bao giờ biết liền sẹo…

Ngẫm lại, quả là chúng ta đã từng có một Diên Hồng chói lọi trong lịch sử đoàn kết dân tộc vào thời Trần, nhưng suốt bốn ngàn năm lịch sử cho đến nay, hình như chúng ta cũng chỉ có mỗi trang sử lẻ loi ấy?! Thỉnh thoảng, tinh thần Diên Hồng ấy lại chớp lóe trong những thời khắc vận nước lâm vào cơn nguy khốn cùng cực, khi cơn nguy khốn đã qua, thì tinh thần Diên Hồng cũng chóng tan như làn sương sớm mai!

Chúng ta phải tự hỏi: Đã có thể chìa bàn tay hòa giải với các cựu thù ngoại nhân như Pháp, Nhật, Mỹ! Nhưng chìa bàn tay hòa giải với chính đồng bào mình sao lại khó quá?

Hòa giải, giấc mơ 45 năm chưa trọn. Có thể, sau 100 năm kể từ thời điểm 1975, khi những con người đã từng là đạo diễn, diễn viên và khán giả của câu chuyện phân ly lòng người khuất bóng, thì có thể con cháu của họ sẽ ngồi lại với nhau để viết nên trang sử mới của dân tộc, trang sử không còn bóng dáng của sự phân ly trong lòng người Việt! Trang sử không còn sự phân ly như định mệnh dân tộc của tiền nhân để lại.

Như cô Tấm mong có ông Bụt, tôi mong dân tộc tôi có một phép mầu…

Tháng 04/2020
MANH DANG

BAO GIỜ NƯỚC MẮT CÓ THỂ “LAY LÒNG GỖ ĐÁ”

Huy Chiêu to K75 LƯƠNG VĂN CAN
Image may contain: 5 people, people standing
Image may contain: 2 people, outdoor
Image may contain: 2 people, people sitting, table, indoor and food
Image may contain: 2 people, people sitting, people eating, table, indoor and food
Image may contain: text
Truong Huy San is with Thach Nguyen and 3 others.

 

BAO GIỜ NƯỚC MẮT CÓ THỂ “LAY LÒNG GỖ ĐÁ”

Hai bức ảnh chụp cách nhau 13 năm, đều nói về ngày đoàn tụ của hai người tù, hai người cùng một mẹ Việt Nam, nhưng từng bị đặt ở hai bên chiến tuyến.

Bức ảnh thứ nhất, chụp ở ga Hòa Hưng năm 1988. Người đàn ông râu tóc bạc phơ trong ảnh, được xác định, là Đại tá VNCH Nguyễn Công Vĩnh. Ông từ trại cải tạo theo đường xe lửa trở về, được vợ và anh trai (chứ không phải là con trai – theo một người thân của gia đình cho biết), ra sân ga đón [không rõ ai là tác giả bức ảnh tuyệt vời này].

Bức ảnh thứ hai được nhà báo Lâm Hồng Long chụp ngày 4-5-1975, người đàn ông trong ảnh là Lê Văn Thức, tử tù Côn Đảo, khóc trên vai mẹ, bà Trần Thị Bính, quê ở xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Ông Thức được cài vào Quân lực VNCH, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Thủ Đức, được chính quyền Sài Gòn đưa đi học khóa “tình báo tác chiến” tại Malaysia. Về nước, với lon thiếu úy. Tháng 4-1968, Lê Văn Thức bị Tòa án binh vùng 4 chiến thuật tuyên tử hình vì tội “hoạt động nội tuyến cho Cộng sản”.

Đoàn tụ chắc chắn đều là mong ước của mọi gia đình. Nhưng họ khóc. Thật khó để nói, đó là những “giọt nước mắt vui” hay là những giọt nước mắt tức tưởi. Ngày 30-4-1975, gia đình thiếu úy Lê Văn Thức nằm trong số “triệu người vui”; gia đình đại tá Nguyễn Công Vĩnh nằm trong số “triệu người buồn”. Thật trớ trêu, cả hai sau đó đều không có ai được hưởng ân huệ của hòa bình cả. Đại tá Nguyễn Công Vĩnh bị đưa đi cải tạo suốt 13 năm. Chỉ cần nhìn những chiếc răng rụng của người vợ một thời xinh đẹp của ông, đủ thấy họ đã cơ cực thế nào kể từ khi “miền Nam giải phóng”.

Nhưng, nếu như giọt nước mắt ở ga Hòa Hưng năm 1988 của gia đình đại tá Nguyễn Công Vĩnh đã khép lại một bi kịch kéo dài hơn một thập niên. Thì, giọt nước mắt của mẹ con thiếu úy Lê Văn Thức lại mở ra những ngày buồn trước mắt. Bức ảnh mang lại cho nhà báo Lâm Hồng Long nhiều vinh quang nhưng không thể hóa giải tính khắc nghiệt của chiến tranh hằn lên nhân vật.

“Với lý lịch ‘thiếu úy ngụy’, kể từ ngày hòa bình trở về, Lê Văn Thức không được bố trí công tác mới. Mãi sau này, khi một cán bộ công tác ở UBND huyện Châu Thành, Bến Tre tình cờ đọc được những bài báo viết về nhân vật trong bức ảnh ‘Mẹ con ngày gặp lại’(1991), đã tìm đến nhà anh Thức phỏng vấn và viết bài ‘Viên thiếu úy mang bản án tử hình’ (đăng trên báo Đồng Khởi thứ Bảy). Nhiều người ở địa phương mới biết đến các hoạt động trong quá khứ của anh. Và các cơ quan chức năng mới nhiệt tình vào cuộc để rồi công nhận những đóng góp, hy sinh có thực của Lê Văn Thức”[Theo Hoàng Bình Minh, báo CAND].

Mấy hôm nay, chương trình thời sự của VTV vẫn như 45 năm qua, sắp tới 30-4 là xe tăng, pháo lớn lại nổ đinh tai nhức óc. Hơn 15 năm trước, Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt, người mất vợ và 3 người con trong chiến tranh, đã phải đi một vòng các tỉnh miền Tây, gặp gỡ rất nhiều lãnh đạo, nhà báo địa phương, ông gần như khẩn thiết kêu gọi họ đừng kỷ niệm 30-4 theo cách làm cũ nữa; đừng tiếp tục nã xe tăng đại bác vào quá khứ.

Cuối năm ấy, 2004, ông trả lời tuần báo Quốc Tế, số Xuân: “Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miền Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng như vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm nó thêm rỉ máu”.

Hàng chục nghìn bản số báo Xuân đã in của tuần báo Quốc Tế, phải đình lại, bóc bài… Mãi tới 31-3-2005, quan điểm này của ông Võ Văn Kiệt về cuộc chiến trước 30-4-1975 mới được đưa ra công chúng.

Cũng năm ấy, trước 30-4-2005, Thành ủy TP HCM gửi cho ông Võ Văn Kiệt “Dự thảo diễn văn” Bí thư Thành ủy đọc tại Lễ kỷ niệm “30 năm ngày giải phóng miền Nam”. Ông vô cùng thất vọng vì bài diễn văn vẫn lặp lại những ngôn từ sáo mòn, công thức; vẫn xe tăng, vẫn đại bác… tiếp tục nã vào người anh em.

Đã 15 năm qua, tuy liều lượng có bớt đi nhưng cách tiếp cận của bộ máy tuyên truyền vẫn không thay đổi.

Khi nghĩ về ngày kết thúc chiến tranh, cả Trịnh Công Sơn và Văn Cao đều khá lạc quan. Trịnh Công Sơn tưởng rằng, những “giọt nước mắt vui” có thể “lay lòng gỗ đá”. Văn Cao cũng hy vọng, nước mắt “sưởi ấm đôi vai anh”. Và ông tưởng: “Từ đây người biết thương người/ Từ đây người biết yêu người…” Sự khác nhau giữa Văn Cao và Trịnh Công Sơn, có lẽ ở chỗ, với một tâm hồn đầy trắc ẩn như Văn Cao, cho dù thốt ra như vậy, nhưng các dự cảm buồn vẫn ám ảnh từng phách, nhịp trong “Mùa Xuân Đầu Tiên” của ông.

Bao giờ, quê hương tôi mới hết những giọt nước mắt tức tưởi; bao giờ mới thực sự có “những giọt nước mắt vui”; bao giờ lòng người Bên Thắng Cuộc mới thôi gỗ đá.

Chuyện cổng Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975

Chuyện cổng Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975

Trần Gia Phụng

30/04/2020

Tin tức báo chí của cộng sản Việt Nam (CSVN) đều viết rằng, khi tấn công dinh Độc Lập ở thủ đô Sài Gòn ngày 30-4-1975, chiến xa CS đã ủi sập cánh cổng dinh Độc Lập. Chẳng những thế, bộ Lịch sử Việt Nam do nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Việt Nam (tức “bên thắng cuộc”) tại Hà Nội, phát hành tháng 8 năm 2017, cũng viết như thế.

Bộ thông sử nầy rất đồ sộ, gồm 15 tập, tổng cộng trên 9,000 trang, do 30 giáo sư, tiến sĩ Sử học CSVN biên soạn. Trong 15 tập nầy, tập thứ 13, do PGS-TS [phó giáo sư tiến sĩ] Nguyễn Văn Nhật chủ biên, chương VI, trang 535 viết nguyên văn như sau: “Thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm dinh Độc Lập – dinh lũy cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, chiếc xe tăng mang số hiệu 390 thuộc Lữ đoàn xe tăng 203 dẫn đầu đội hình tiến công của Quân đoàn 2, húc đổ cánh cổng sắt của dinh Độc Lập …”

Bộ sách nầy được xem là bộ chính sử căn bản của chế độ CSVN, làm nền tảng cho các sách giáo khoa lịch sử của CSVN. Dưới chế độ CSVN thế kỷ 21, các giáo sư tiến sĩ với các loa phát thanh phường, khóm, làng xã nói cùng một nhịp điệu như nhau, đúng như ý kiến của nhà văn Pháp André Gide vào thập niên 30 thế kỷ trước, cách đây gần 90 năm.

Theo lời mời của nhà cầm quyền Liên Xô, Gide đến Moscow (Moscou), thủ đô của Liên Xô, tham dự tang lễ của nhà văn Maxime Gorki. Khi trở về Pháp, ông viết tác phẩm Retour de l’URSS, ấn hành năm 1936 ở Paris. Trong sách nầy, ông đã viết rằng, ở nước Nga CS, chỉ cần nghe một người Nga nói gì thì đủ biết 200 triệu dân Nga nói gì. Ngày nay ở Việt Nam không lẽ cũng có thể nói chỉ cần nghe loa phóng thanh phường xã thôn xóm CS nói gì, thì cũng có thể đoán biết các giáo sư tiến sĩ CS nói gì?

Trở lại nguồn tin về cánh cổng dinh Độc Lập Sài Gòn ngày 30-4-1975 do CSVN đưa ra, báo chí thế giới cũng đều viết theo như thế. Tuy nhiên, trên lý luận, xin chú ý, mới chỉ trên lý luận cho vui mà thôi, có hai câu hỏi cần được đặt ra là:

1) Lúc đó, cựu đại tướng Dương Văn Minh đang có mặt trong dinh Độc Lập mà theo lời ông là để chờ đợi quân CS đến. Chờ “khách” thì phải mở cổng dinh để đón mời “khách” vào. Nếu đóng cổng dinh, thì “khách” làm sao mà vào được?

2) Những tấm hình hay những đoạn phim về cảnh chiến xa CS ủi sập cổng dinh Độc Lập để vào bên trong dinh, đều được chụp từ bên trong chụp ra. Có hai điểm cần chú ý: Thứ nhứt, cổng dinh phải đóng thì xe tăng mới ủi sập để đi vào. Thứ hai, nếu cổng đóng lại, tức cổng dinh chưa mở, thì người chụp hình hay người quay phim cảnh nầy, làm sao mà vào bên trong dinh Độc Lập trước xe tăng để chụp hình hay quay phim? Hay những người nầy trổ tài chui cổng hoặc trèo tường để vào hành nghề? Đó mới chỉ là nói lý cho vui thôi, thưa độc giả.

Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).

Lúc đó, vào năm 1975, giáo sư Thành còn trẻ, nhà ở vùng cầu Sài Gòn, ngồi trên yên sau xe vespa của phụ thân, tò mò chạy theo sau đoàn quân của CS, để theo dõi cho biết chuyện gì sẽ xảy ra khi quân CS vào thành phố… Ông Thành đã chứng kiến tận mắt đầy đủ sự việc tại cổng dinh Độc Lập hôm đó.

Theo lời giáo sư Thành kể lại, sáng 30-4-1975, cổng dinh Độc Lập đã mở sẵn. Xe thiết giáp CS khi đến dinh Đôc Lập, chạy thẳng vào trong dinh, không có gì trở ngại. Vào bên trong rồi, có thể do lệnh trên, tài xế lại lái xe thiết giáp chạy trở ra ngoài. Khi đó, lính CS đóng cổng dinh, quàng dây xích sắt, nhưng không khóa. Xe thiết giáp quay đầu trở lại, chạy đến tông sập cánh cổng dinh Độc Lập, rồi chạy vào bên trong, để cho các nhiếp ảnh viên chụp hình và quay phim.

Giáo sư Đỗ Văn Thành kể lại câu chuyện trên cho người viết tại nhà bác sĩ Phạm Hữu Trác, phụ trách tạp chí Truyền Thông ở Montreal ngày 28-4-2007, nhân dịp ông Thành cùng gia đình từ Oslo (Na Uy) qua Montreal (Canada) tham dự Lễ ra mắt sách Kỷ niệm và suy ngẫm, bản dịch từ sách Souvenirs et Pensées của thân mẫu ông là bác sĩ Nguyễn Thị Đảnh tại TRUNG TÂM SAIM (Service d’ Adaptation et d’Integration de Montréal) do Khối Y giới Cao niên và Cơ sở Truyền Thông Montreal tổ chức. Ngoài lời trình bày trên đây của giáo sư Đỗ Văn Thành, ba tài liệu sau đây cũng trình bày câu chuyện gần như thế:

1) Bài báo “Sài Gòn trong cơn hấp hối 30-04-1975” của Nhan Hữu Mai, cận vệ của cựu thủ tướng Vũ Văn Mẫu, đăng trên http://sucmanhcongdong.info và được luân lưu trên các e-mail group. Trong bài báo nầy, ông Nhan Hữu Mai viết: “Khoảng 12 giờ trưa ngày 30 tháng 4, xe tăng cộng sản tiến vào dinh Độc Lập mà không gặp một sức kháng cự nào vì cổng chính đã được mở rộng từ trước”.

2) Thứ hai là bài “Dinh Độc Lập, ngày tháng đợi chờ” của Ý Yên, đăng trên DCVOnline.net ngày 10-04-2012, theo đó: “Lúc 11:15 ngày 30-4-1975, toán xe tăng Bắc Việt tới cổng dinh theo đường Thống Nhứt, trương cờ Mặt Trận GPMN. Một người lính trên xe ra lệnh cho lính gác khóa cánh cổng lại; anh lính chần chờ, quay vô hỏi lệnh viên sĩ quan trực, bị người bộ đội trên xe bắn chết tại chỗ. Một bộ đội khác nhảy xuống, khép cánh cổng, lấy khóa xích vòng chặt lại để chiếc T-54 rồ máy húc nghiêng cánh cổng màu xanh, dây xích bung ra. Đại liên trên xe và lính tùng thiết đồng loạt tác xạ dữ dội, làm như có sức chống trả từ trong dinh. Xe tăng tràn vô đến giữa sân cỏ, mấy người lính Bắc Việt nhảy xuống...”

3) Thứ ba, theo tác giả Huy Đức, trong sách Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, Saigon: Osinbook 2012, chương I: Ba mươi tháng Tư, mục: Sài Gòn trong vòng vây, tr. 32 thì sáng 30-4-1975, cựu tướng Nguyễn Hữu Hạnh đến nhà số 3 đường Trần Quý Cáp [dinh Hoa Lan] tìm tổng thống Dương Văn Minh nhưng không có; tướng Hạnh liền đến dinh Độc Lập, “vào thẳng dinh bằng cổng chính, cổng dinh mở, không có lính gác.” Lúc ông Hạnh đến, cổng dinh Độc Lập mở, không lính gác thì ngay sau đó, quân CS đến, đâu có ai đóng hay gác cổng? Chú ý: đây là tài liệu do một nhà báo CS trong nước viết. Hiện người nầy còn sống và hành nghề trong nước.

Như thế, qua hai câu hỏi đặt ra từ đầu, qua câu chuyện kể của tiến sĩ Đỗ Văn Thành, và qua các bài báo trên đây, nhứt là qua tài liệu của một nhà báo CS, thì rõ ràng vào ngày 30-4-1975, cổng dinh Độc Lập đã mở sẵn, còn việc chiến xa CS ủi sập cổng dinh Độc Lập chỉ là một màn kịch do CS dàn dựng để tuyên truyền, bắt trẻ em học tập trong các sách giáo khoa lịch sử CS. Tài tình quá! Giống như xi-nê-ma Hồ Ly Vọng!

Đây không phải là lần đầu CS đóng kịch. Năm 1954 cũng vậy. Các sách lịch sử CS đều đăng hình cờ đỏ của CS được bộ đội CS cắm trên hầm chỉ huy của thiếu tướng Pháp De Castries khi tấn công Điện Biên Phủ. Trận nầy kết thúc ngày 7-5-1954, kết thúc luôn cuộc chiến 1946-1954. Sau đó là hội nghị Genève, đưa đến hiệp định đình chiến và chia hai đất nước ở vĩ tuyến 17.

Tuy nhiên điện báo Tuần Việt Nam ở trong nước, ngày 07-05-2009 đã đăng bài phỏng vấn thiếu tướng Lê Mã Lương, giám đốc Viện Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (CS), theo đó thiếu tướng Lương đã phủ nhận điều nầy.

Thiếu tướng Lê Mã Lương cho biết, tại Điện Biên Phủ, chỉ có một lá cờ duy nhứt được cắm trên đồi mà CS gọi là đồi Him Lam (tức đồi cứ điểm Béatrice), còn lá cờ cắm trên nóc hầm của thiếu tướng De Castries lần đầu tiên xuất hiện trong bộ phim Việt Nam trên đường thắng lợi của nhà quay phim Liên Xô là Roman Karmen, tức cảnh lá cờ CS trên hầm chỉ huy của thiếu tướng De Castries chỉ là cảnh xi-nê-ma mà thôi, không có thật.

Thiếu tướng Lê Mã Lương cho biết: “Sau khi Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ghi nhận chính xác điều đó, chúng tôi đã cất lá cờ tung bay trên nóc hầm Đờ Cát trước đây có trưng bày ở bảo tàng”.

Những chuyện tầm thường và rõ ràng như thế mà CS còn thay trắng đổi đen, theo chủ trương của đảng CS, huống gì là những sự kiện lịch sử trọng đại. Sử học CSVN chỉ để phục vụ chủ nghĩa CS, phục vụ đảng CS và phục vụ nhà nước CS. Vì vậy, ngày nay, trong nước thầy không muốn dạy sử, học trò không muốn học sử.

Thế đó! “Học sử ngày nay đã chán rồi”. Không ai lạ gì lịch sử viết theo lệnh của đảng CSVN!