VN LÀ NƠI ĐÁNG SỐNG?!…

Image may contain: 2 people, child and outdoor
8 SÀI GÒN

VN LÀ NƠI ĐÁNG SỐNG?!…

Một số người ở VN, nhờ may mắn, hoặc khôn ranh, biết cách luồn lách, mà có được một cuộc sống khá giả, đầy đủ, thong dong. Họ đi du lịch đây đó, kể cả ra ngoại quốc; được vào ăn uống trong những nhà hàng sang trọng; được ở khách sạn 4 sao, 5 sao…

Họ khoe những điều đó trên Facebook cá nhân để chứng minh rằng VN bây giờ giàu có, ấm no, hạnh phúc rồi… Và hễ ai phơi ra những áp bức, bất công, oan ức, đói khổ ở VN thì họ mắng là “nói xàm, mê ngủ, phản động, chống phá đất nước” v.v…

Nước Việt có gần trăm triệu dân, và bao nhiêu người có được đời sống giàu có, khá giả đó? Và bao nhiêu người đói khổ, không đủ ăn, không đủ mặc? Một xã hội tốt đẹp là xã hội giàu nghèo không chênh lệch quá xa, và người nghèo vẫn đủ ăn đủ mặc, không ai chết vì đói; chứ không phải xã hội có một số ít người giàu nứt đố đổ vách, còn đa số thì nghèo đói, xác xơ.

Đó là chỉ mới nói về phương diện vật chất. Còn về phương diện tinh thần như đạo đức, luân lý… thì sao? Một xã hội mà đạo đức, luân lý suy đồi đến tận đáy, cha mẹ, con cái, anh em, thầy trò, người và người giết nhau chỉ vì một chút lợi nhỏ; đĩ điếm, hiếp dâm, cướp giựt tràn lan; ra đường thấy chết đứng trơ mắt ra ngó; người làm việc giáo dục mà há mồm ra, không chút xấu hổ, nói “ai cũng gù, mình thẳng lưng thì thành khuyết tật” v.v… thì đó là xã hội gì? Là xã hội của con người hay sao? Là xã hội đáng sống hay sao? Đừng có kẻ nào nhảy vào cãi ngu rằng những thứ đó thì bất cứ xã hội nào cũng có, đâu phải chỉ ở VN. Xã hội nào cũng có tệ nạn, giống như ở đâu cũng có ruồi; nhưng có nước ruồi quý như “đặc sản của VC”, tìm không ra; có nước ruồi dày đặc khắp nơi, như VN.

Những kẻ “may mắn” có được một cuộc sống êm ấm hơn nhiều người khác, nếu còn chút lương tri, thì hãy ngậm miệng, cúi mặt xuống mà hưởng “phước đức” của mình; chứ đừng bôi mặt làm kiếp sủa thuê cho VC!

(Ảnh: Internet)

NGO DU TRUNG

Trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện tất cả các tù nhân chống Tàu cộng xâm lược, nhân dân mới tin.

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh.
Trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện tất cả các tù nhân chống Tàu cộng xâm lược, nhân dân mới tin.

Mời xem màn diễn trước đại hội 13.

*

Đài Truyền Hình Việt Nam gây ngạc nhiên khi chiếu phim “chống Trung quốc”.

Người Việt 12, 2020

VTV nhắc lại phát ngôn của nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình: “Dạy cho Việt Nam một bài học.” (Hình chụp qua màn hình)

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Mạng xã hội dấy lên bàn tán xoay quanh bộ phim tài liệu có nội dung “chống Trung Quốc” được phát sóng vào “giờ vàng” trên băng tần VTV1, Đài Truyền Hình Việt Nam (VTV), vào đêm 11 Tháng Tám.

Bộ phim dài khoảng 30 phút, nay có thể xem lại trên kênh YouTube “Việt Nam 90 Năm” và “kênh” của báo Nhân Dân, khiến người ta ngạc nhiên vì lời lẽ gay gắt khi nhắc lại diễn biến chiến tranh biên giới Việt-Trung và cuộc chiến Tây Nam năm 1979.

Ngay vào thời điểm phim phát sóng, nhiều facebooker đã bảy tỏ sự hoang mang về chuyện kênh truyền hình quốc gia nay sao có thể đột nhiên “mạnh miệng” về chủ đề vốn bị nhà cầm quyền CSVN coi là “cấm kỵ, nhạy cảm” trong nhiều năm liền.

Bộ phim này cũng nhắc lại phát ngôn của nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình: “Dạy cho Việt Nam một bài học,” và ảnh chụp trang nhất báo Nhân Dân cuối thập niên 1970 với nhiều tựa bài lên án Bắc Kinh “xâm lược.”

Đáng lưu ý, thời điểm bộ phim phát sóng trên phạm vi toàn quốc được ghi nhận cũng không liên quan gì đến các dịp kỷ niệm hai cuộc chiến nêu trên hay cuộc hải chiến Hoàng Sa, Gạc Ma…

Hành động này làm dấy lên suy đoán lạc quan, cho rằng đây là chỉ dấu của việc nhà cầm quyền CSVN đang cố gắng từng bước xa rời sự kềm kẹp của Bắc Kinh.

Facebooker Phạm Ngọc Hưng, nhà quan sát chính trị Việt Nam, bình luận trên trang cá nhân: “Việc phát bộ phim cùng với chuyện một số cựu binh chiến tranh biên giới 1979 được tặng huân chương vì ‘thành tích chiến đấu trong cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc’ là những bằng chứng cho thấy quan điểm xét lại với Trung Quốc. Đấy cũng là một cột mốc trong tiến trình hiện thực hóa câu ‘Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc’ trong văn kiện đại hội đảng 12. Quá trình ‘thoát Trung’ đã tới điểm không thể đảo ngược được nữa.”

Trong một post khác, ông Hưng cũng điểm lại các chỉ dấu khác, từ việc Hà Nội cắt bỏ việc đưa cán bộ qua Trung Quốc đào tạo đến việc loại bỏ yếu tố Trung Quốc trong công tác cán bộ, và “trong vòng hai năm qua có những bước nhảy trong quan hệ với Mỹ.”

Bộ phim tài liệu phát sóng trên VTV1 vào đêm 11 Tháng Tám, với lời lẽ gay gắt về Bắc Kinh. (Hình chụp qua màn hình)

Tuy vậy, không phải ai cũng “lạc quan” như facebooker nêu trên về chuyện “thoát Trung.”

Hồi cuối Tháng Sáu, bản tin video trên kênh VTC về việc bắt giữ bà Cấn Thị Thêu, dân oan Dương Nội cùng hai con trai, cho thấy tang vật của vụ án “Tuyên truyền chống nhà nước” được thu giữ là chiếc khẩu trang phản đối hình “đường lưỡi bò chín đoạn” của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Khi đoạn clip được phát sóng, Luật Sư Luân Lê ở Hà Nội viết trên trang cá nhân:

“…Thời gian trước, trong nhiều đợt khác nhau, các phim đã không được thẩm định cẩn trọng bằng trách nhiệm quốc gia và đã ‘sơ suất’ phát các đoạn phim có bản đồ với ‘đường lưỡi bò chín đoạn’ ở Biển Đông trong các rạp chiếu và nhân dân đã vô cùng phẫn nộ về hành vi này. Bây giờ, vào tình cảnh ngược lại, chính chúng ta lại cho phát đoạn ghi hình về vật có chứa bản đồ đường lưỡi bò bị gạch bỏ mà nó lại là tang vật được dùng làm bằng chứng để cáo buộc tội danh ‘Tuyên truyền chống nhà nước.’ Vậy nhà nước này của ai? Đây là quan điểm của báo chí hay của nhà nước về ‘đường lưỡi bò chín đoạn’ của Trung Quốc?”

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, không thấy đài VTC phản hồi chất vất của Luật sư Luân.

(N.H.K) [kn]

Nguồn: Người Việt
https://www.nguoi-viet.com/…/dai-truyen-hinh-viet-nam-gay-…/

Image may contain: 1 person, text that says 'VV1 PHIM TALLIEU VIET NAM HOCHI MINH BIEN NIEN SU TRUYÉN HINH NAM 1979 Nhan Dan "Day cho Viêt Nam một bài hoc" 20:23'
No photo description available.

TẠI SAO TỔ CHỨC QUỐC TANG CHO LÊ KHẢ PHIÊU ?

 TẠI SAO TỔ CHỨC QUỐC TANG CHO LÊ KHẢ PHIÊU ?

Đỗ Mười thao túng – Lê Khả Phiêu thất sủng !

ÂU DƯƠNG THỆ

LGT: Cựu Tổng bí thư (TBT) Lê Khả Phiêu (LKP) vừa mất ngày 7.8.2020 (89 tuổi) và được ông Tổng-Chủ Nguyễn Phú Trọng cho tổ chức „Quốc tang“ trong hai ngày 14-15.8.2020. Các báo lề Đảng đều viết bài ca tụng ông „là người CS vì dân vì nước“! Còn Tổng-Chủ CS Trung quốc Tập Cận Bình trong thư chia buồn đã gọi “đồng chí Lê Khả Phiêu cũng là người đồng chí thân thiết và bạn bè thân mật của Đảng và nhân dân Trung Quốc” (BBC 8.8). Tuy nhiên đây vẫn chỉ là thói quen thích giả dối giữa họ với nhau và giữa họ với nhân dân. Trong thực tế thì lại trái ngược hoàn toàn. Chính Lê Khả Phiêu đã bị Đỗ Mười và Lê Đức Anh ép phải bỏ chức TBT, mặc dầu trước đó trên 3 năm chính hai người này đã vụng trộm đặt ông Phiêu vào chức vụ này trong Hội nghị Trung ương (HNTU 4) (22-29.12.97) (Khóa 8). Theo Điều lệ Đảng thì TBT phải được bầu trong một Đại hội (ĐH). Sở dĩ có giải pháp bất thường này vì trước đó không lâu giải pháp đưa Đào Duy tùng và Nguyễn Hà Phan làm TBT và Thủ tướng (TT) bất thành, do bị phe TT Võ Văn Kiệt phá vào phút chót tại HNTU 10 (10.-20.4.1996) Khóa 7 chỉ vài tuần trước ĐH 8 (28.6.- 1.7.96).

Nhưng không lâu sau khi nắm chức TBT, LKP lại tìm mọi cách ngăn chặn sự can thiệp của của hai „Thái thượng hoàng“ Đỗ Mười và Lê Đức Anh. Cuối cùng hai người này đã vận động trực tiếp các đương kim và cả các cựu ủy viên Bộ chính trị (BCT) và Trung ương đảng (TUĐ) kể cả đại thần cuối cùng của chế độ khi đó là tướng Võ Nguyên Giáp, để áp lực mở cuộc „đảo chính“ trong đảng để loại LKP mất chức TBT tại ĐH 9 (4.2001). Sau đó Đỗ Mười đã lạm dụng uy quyền đặt Nông Đức Mạnh lên làm TBT để đứng đằng sau giựt dây suốt trên 10 năm liên tiếp. Đây là giai đoạn cực kì rối loạn trong cung đình CS. Những „đồng chí“ có „quyền uy“ tìm mọi thủ đoạn cực kì hạ cấp xấu xa thanh toán các „đồng chí“ có „quyền lực“!

Về các „thành tích“ của LKP trong hơn ba năm làm TBT: Ông tôn thờ Bắc kinh (BK), đã chọn chuyến thăm Trung quốc (TQ) lần đầu vào cuối tháng 2.1999 , đúng vào thời điểm kỉ niệm 20 năm BK mở cuộc chiến tranh biên giới „dạy cho VN bài học“. Vì thế cũng như nhiều năm trước chế độ toàn trị đã phải thực hiện đòi hỏi của BK là „khép lại quá khứ“, nên không cho binh sĩ và nhân dân kỉ niệm cũng như thăm viếng các nghĩa trang bộ đội và nhân dân đã hi sinh trong cuộc chiến chống xâm lược của Trung quốc. Dịp này LKP cùng phái đoàn lại lấy làm vinh hạnh về thăm Thành đô và tới nhà khách „Kim ngưu“, nơi Hội nghị Thành Đô đã diễn ra vào tháng 9.1990. Trong đó phái đoàn Nguyễn Văn Linh-Đỗ Mười phải chịu làm thân phận con „trâu vàng“ kéo cày cho BK. Trong Thông cáo chung kết quả chuyến thăm này, LKP đã chấp nhận các đòi hỏi của Chủ tịch nước (CTN) và TBT Giang Trạch Dân là , „Kí kết Hiệp ước về biên giới trên bộ trong năm 1999; giải quyết xong vấn đề phân định Vịnh Bắc bộ trong năm 2000.“

Vì vậy để lấy lòng BK chính LKP đã „đích thân chỉ đạo“, nên ngày 30.12.1999 tại Hà nội hai bên đã kí Hiệp ước Biên giới, mặc dầu các cuộc thảo luận chưa kết thúc và tới khi kí kết thì văn bản Hiệp ước vẫn chưa được công bố. Khi ấy LKP tôn thờ BK và từng nói: „Nếu BK trụ được thì Hà nội cũng trụ được“. Khi đó hiểu là, nếu BK trợ lưng thì LKP sẽ trụ được ghế TBT tiếp! Chính vì vậy tờ Nhân dân đã viết bài Xã luận ngày 31.12.99 lên tiếng đe dọa về những bất bình và quan ngại cả trong đảng lẫn nhân dân về những nhượng bộ đất đai cho TQ: „Cần quán triệt tới toàn thể cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân nội dung, ý nghĩa của hiệp ước, tạo ra sự thống nhất nhận thức, thống nhất hành động…Cần giải thích rõ cho các tầng lớp nhân dân, nhất là nhân dân ở từng địa phương biên giới về các thỏa thuận cụ thể, hướng dẫn các công viêc thực hiện Hiệp ước.“

Trong khi ấy LKP lại tìm mọi cách cản trở bang giao với Hoa kì, như không để kí „Hiệp định Thương mại“ (Bilateral Trade Agreement -BTA) giữa hai nước trong dịp Tổng thống Clinton và TT Phan Văn Khải cùng dự hội nghị cấp cao Apec ở Auckland (Tân tay lan) 9.1999, mặc dầu hai bên đã thỏa thuận xong từ cuối tháng 7.1999 và phải đợi thêm hơn một năm sau khi TQ gia nhập WTO.

Về đối nội, LKP mở phong trào thanh lọc trong đảng với kế hoạch chống tham nhũng, qui định „cấm các điều đảng viên không được làm“, „kê khai tài sản cán bộ“…Mở phong trào rầm rộ Tự phê bình và Phê bình (TPB &PB) suốt hai năm (19.5.99 – 19.5.2001). Mặc dầu khi ấy được Nguyễn Phú Trọng tiếp tay, nhưng chỉ là đầu voi đuôi chuột, nên cuối cùng các kế hoạch này đều thất bại. Để trốn tránh trách nhiệm, LKP đã đổ tội cho khuynh hướng đòi đổi mới thực sự khi ấy với các đại diện nổi tiếng như TT Võ Văn Kiệt và trung tướng Trần Độ, Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo). Tại ĐH đảng bộ thành phố HCM ngày 20.12.2000 ông Phiêu đã vừa mạ lị, vừa kết án:

[Thành phố HCM đang đứng trước] „giữa hai con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa XHCN và công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tư bản chủ nghĩa, giữa quyết tâm giữ vững chế độ XHCN trong quá trình phát triển và âm mưu thủ đoạn kiềm chế, thúc ép, ràng buộc, lợi dụng để đưa nước ta vào quĩ đạo khác, không còn là CNXH.

Phải đề phòng hiện tượng „nói vậy mà không làm vậy“, nói tán thành „định hướng XHCN“, „đọc lập tự chủ“, „phát huy nội lực“, nhưng việc làm thì đi theo các lời khuyên đường mật và mua chuộc vật chất của kẻ xấu, ỷ lại vào bên ngoài. Kẻ thù hiểu rằng, muốn xóa bỏ CNXH ở VN thì phải chuyển hóa ĐCS, làm cho ĐCS còn tên mà đã biến chất.“ Khi đó (1997) NPT vừa nhẩy được vào BCT và là cánh tay mặt của ông Phiêu trong việc chống Võ Văn Kiệt và chống tham nhũng. Đặc biệt của LKP còn rất mê tín, dị đoan và tìm cách coi là hậu duệ của nhà Lê!

Chỉ hơn ba năm làm TBT nhưng lập trường, thái độ và những việc làm của LKP đã dẫn đến xung đột cực kì nghiêm trọng giữa LKP với những người có quyền lực nhất khi ấy. Khiến Đỗ Mười và Lê Đức Anh đã phải ra tay tổ chức „đảo chính“ để hạ bệ làm nhục LKP. Như vậy Nguyễn Phú Trọng lấy lí do gì để tổ chức „Quốc tang“ cho LKP? Ngay cả „Đảng tang“ cũng còn không xứng! Liệu ông Trọng có thể xuất hiện vào ngày mai và sẽ nói gì về „thành tích“ của LKP với Đảng và Nhân dân?

***

Dưới đây là trích phần “Đỗ Mười thao túng – Lê Khả Phiêu thất sủng“ trong XII, Chương bốn, Tập I sách „Việt Nam „Đổi mới“ ?! Hay: Treo đầu dê, bán thịt chó!“ của tác giả, xuất bản cuối năm 2019 (https://www.amazon.com/Vi%E1%BB%87t-Nam-%C4%90%E1%BB%95i-m%E1%BB%9Bi-Hay/dp/0244794367)

***

Vào đúng ngày 1.1.2001, ngày đầu năm và cũng là ngày đầu của Thế kỉ 21 và Thiên niên kỉ thứ 3, tờ Nhân dân đã đưa trên trang nhất ảnh đương kim ba Cố vấn BCHTU Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt tiếp F. Castro khi ông thăm VN tháng 12.1995 –nhân dịp kỉ niệm 42 năm Cách mạng Cuba (1.1.59-1.1.2001). Trong một xã hội kín độc tài lại nặng tinh thần Á đông, nhiều khi một ánh mắt hay cử chỉ, một hình ảnh còn tượng trưng và có ý nghĩa nhiều hơn cả một bài dài. Có lẽ việc đăng ảnh ba Cố vấn ngay vào ngày đầu năm này không phải chuyện tình cờ, mà là một cách bắn tin trong đảng và trong dân biết là, ba nhân vật này trước sau vẫn còn „quyền uy“ rất lớn, tuy không còn giữ „quyền lực“ trực tiếp, nay tạm thời hòa lại và bắt tay lại với nhau cho một mục tiêu chung quan trọng sẽ diễn ra. Nhưng cho tới khi đó hầu hết trong TU chưa biết chuyện gì sẽ xẩy ra.

Sự xuất hiện bằng hình ảnh trước công chúng của cả ba Cố vấn không chỉ trong dịp đầu năm 2001 mà còn diễn ra liên tục trong nhiều dịp khác nhau cho tới ĐH 9 (4. 2001). Cho tới nay người ta chưa biết được, vì lí do gì và vì động cơ nào ông Kiệt lại nắm tay lại với hai ông Mười và Anh. Việc này có phải do chủ động từ phía Lê Đức Anh và đặc biệt là Đỗ Mười, hay đã có sự đồng thuận của Võ Văn Kiệt ngay từ ban đầu?

HNTU 11 diễn ra đúng vào những ngày đầu của Thế kỉ 21 và kéo dài từ 7.-16.1.01 để tổng kết ý kiến đóng góp của đảng viên về Dự thảo Báo cáo Chính trị của ĐH 9 và chuẩn bị bước đầu về nhân sự ĐH. Mở đầu diễn văn khai mạc Lê Khả Phiêu ngỏ lời chào theo thứ tự „Thưa các đồng chí Cố vấn“ lên đầu, sau đó mới tới „Thưa Trung ương“. Nghĩa là vào thời điểm đó chuyện ba Cố vấn đồng ý loại Lê Khả Phiêu chưa thực sự rõ ràng, hay ít nhất Lê Khả Phiêu vẫn tìm cách vận động quyết liệt và hi vọng sẽ trụ được để nắm tiếp chức TBT trong ĐH sẽ diễn ra vài tháng sắp tới. Mặc dầu sau 10 ngày họp, nhưng vấn đề nhân sự ở cấp cao nhất cho ĐH 9 vẫn chưa rõ ràng, như Thông báo của HNTU 11 cho biết: “BCHTU cũng đã thảo luận một bước và cho ý kiến tiếp tục chuẩn bị nhân sự để phiên họp sau hoàn thiện trước khi trình ĐH.

Giữa trong thời gian này Đỗ Mười xông xáo nhất, có mặt trong nhiều dịp lễ và kỉ niệm quan trọng. Như cùng Chủ tịch QH Nông Đức Mạnh dự kỉ niệm 55 năm Tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên (6.1.46), thăm Hội báo Xuân, nhân dịp Tết Tân Tỵ đứng ngang hàng với Lê Khả Phiêu viếng lăng HCM, thăm thành phố HCM vào dịp Tết; cùng với Lê Khả Phiêu, Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt tham dự Mittinh 71 năm thành lập Đảng., dự trao Huy chương Độc lập hạng nhất cho Ban Khoa giáo TU, cùng Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt dự HNTU 11/2. Trong khi Lê Khả Phiêu chỉ gởi vòng hoa thì Đỗ Mười, Lê Đức Anh,Võ Văn Kiệt và Phạm Thế Duyệt, Trần Đức Lương, Phan Văn Khải viếng Nguyễn Xuân Yêm, cựu Tổng thư kí Đảng Dân chủ VN. Tại HNTU 12 –Hội nghị cuối cùng của Khóa 8 – Đỗ Mười tham dự cùng với Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt; tại ĐH 9 Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt tham dự, chỉ vắng mặt Lê Đức Anh, không những thế còn đi cạnh Lê Khả Phiêu viếng lăng HCM.

Cũng chính lúc Đỗ Mười xông xáo trong những dịp quan trọng như vậy thì Lê Khả Phiêu càng tỏ ra mất uy thế và tỏ vẻ bực bội. Trong diễn văn khai mạc HNTU 11/2 (13-24.3.2001) Lê Khả Phiêu đã thay đổi thứ tự lời chào, để „Thưa TU“ trước rồi mới tới „Thưa các Cố vấn“. Tờ Nhân dân đưa ảnh Lê Khả Phiêu có vẻ buồn bực. Trong diễn văn bế mạc Lê Khả Phiêu đã tóm tắt kết quả thảo luận về đề án nhân sự cấp cao nhất: „Bộ chính trị đã trình Trung ương những kết quả bước đầu việc chuẩn bị giới thiệu nhân sự, cung cấp cho TU những tài liệu, thông tin cần thiết… tới HNTU 12 sẽ hoàn thành công tác chuẩn bị giới thiệu nhân sự.“ Như vậy là sau 12 ngày họp nhưng đề án nhân sự cấp cao mới cho ĐH 9 vẫn chưa được thông qua. Nghĩa là, ai sẽ giữ chức TBT cũng chưa rõ ràng, dù đã quyết định là ĐH 9 sẽ diễn ra vào 19.4.01. Đáng chú ý nữa là, theo Thông báo HNTU 11/2, sau khi TPB & PB theo „Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết TU 6 (lần 2) [tức Nghị quyết về chống tham nhũng] nhiều nhân vật đã bị thi hành kỉ luật. Như các UVTU Đoàn Văn Kiển (Tổng giám đốc Tổng công ti than VN), Hoàng Đức Nghi (Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc miền núi), Hà Quang Dự (Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban thể dục-thể thao bị kỉ luật với „hình thức cảnh cáo“. Hai tướng lãnh cao cấp khác là Ủy viên BCT kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà và Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Lê Văn Dũng bị „kỉ luật khiển trách“. Có phải các nhân vật trên đã bị kỉ luật vì tham nhũng, hay để tham nhũng diễn ra trong cơ quan thuộc thẩm quyền, hoặc còn vì những lí do khác không được nói rõ. Cần để ý là, cũng trong thời gian này, đồng bào Thượng ở Tây nguyên đang nổi dậy ở nhiều nơi chống lại nhà cầm quyền và nhiều người đã chạy trốn sang Campuchia, sau đó được Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc cho định cư ở nước ngoài, nhất là Hoa kì.

HNTU 12 (7-10.4 ) chỉ diễn ra 12 ngày trước khi ĐH 9 khai mạc. Mãi khi đó đề án nhân sự ở cấp cao mới được giải quyết. Trong Thông báo kết thúc đã viết „ giới thiệu ĐH xem xét bầu vào BCTTU 9, thông qua chương trình làm việc, qui chế bầu cử.“ Lê Khả Phiêu đã chỉ nói rất ngắn trong các diễn văn khai mạc và bế mạc Hội nghị, các ảnh đưa trên tờ Nhân dân cho thấy, ông càng xa cách và bực bội, dĩ nhiên phần chào mừng trong hai diễn văn này ông vẫn đặt TU lên trên „Các cố vấn“.

Các chứng tích công khai, như sự có mặt thường xuyên và dồn dập của ba Cố vấn, đặc biệt là Đỗ Mười, vào những tháng cuối trước khi ĐH 9 diễn ra; cách Lê Khả Phiêu cố ý đảo ngược thứ tự trong các diễn văn khai mạc và bế bạc vào hai HNTU 11/2 và 12 cận kề ĐH 9, thay vì từ „Thưa các cố vấn“ lên đầu rồi mới tới „Thưa Trung ương“ như trong HNTU 11/1, chuyển thành „Thưa TU“ rồi mới tới „Thưa các Cố vấn“ tại HNTU 11/2. Rồi tới những hình ảnh vừa buồn bực vừa xa cách trong hai HNTU cuối chỉ mới là bề nổi của trận cuồng phong chính trị đã được nạn nhân dù phải „đắng cay ngậm quả bù hòn“ nhưng vẫn cố gắng làm như tình đồng chí. Nhưng thực tình trận cuồng phong chính trị đã nổ rất mãnh liệt giữa Lê Khả Phiêu với ba Cố vấn, nhất là với Đỗ Mười và Lê Đức Anh. Không những thế nó còn diễn ra rất căng thẳng với nhiều cựu Ủy viên Bộ chính trị và cả với đại thần chế độ là Võ Nguyên Giáp.

***

Trái với xã luận của Tạp chí Cộng sản số 8 tháng 4.2001 đặt tên rất kêu cho ĐH 9 là „ĐH 8 chữ vàng“ và giải thích „8 chữ vàng“ đó là „ĐH 9 là ĐH của Trí tuệ, Dân chủ, Đoàn kết và Đổi mới“. Với tiêu ngữ „ĐH 8 chữ vàng“ cho thấy, những người cầm đầu chế độ toàn trị không đếm xỉa đến sự thực, không biết tự trọng, không nề hà tuyên bố bịa đặt những điều không có thực! Trong khi một số người cầm đầu đang xâu xé thanh toán nhau bằng những thủ đoạn rất hạ cấp thì lại hô hoán không biết hổ thẹn bảo đấy là „Trí tuệ, Dân chủ, Đoàn kết và Đổi mới!“ Tâm địa dựng lên dối trá rồi bảo đó là sự thực và sự thực thì lại bảo là giả dối; đổi đen thành trắng lại được họ bảo đó chính là „đạo đức cách mạng“ của người lãnh đạo!

Những cử chỉ không bình thường của Lê Khả Phiêu chỉ mới như phần nổi của tảng băng tranh chấp quyền hành giữa những người đang nắm quyền lực và những người còn quyền uy chính trị mạnh ở cấp cao nhất trong chế độ toàn trị. Cựu Ủy viên BCT kiêm Trưởng ban Tổ chức TU (Khóa 6) Nguyễn Đức Tâm đầu tháng 3. 01, tức là chỉ hai tuần trước khi họp HNTU 11/2, một Hội nghị tới nay được coi là số phận của Lê Khả Phiêu bị quyết định, được nói là đã viết thư gởi TBT, BCT và ba Cố vấn tố cáo hoạt động của Đỗ Mười và Lê Đức Anh nhằm loại trừ Lê Khả Phiêu. Trong thư này -lộ ra bên ngoài- ông Tâm cho biết là, đã khai triển thêm những gì ông đã trình bày –cùng với „một số cán bộ cách mạng lão thành“- với Thường trực BCT Phạm Thế Duyệt ngày 24.2.01. Từng là Ủy viên BCT và Trưởng ban Tổ chức TU nên Nguyễn Đức Tâm nắm hồ sơ các cán bộ cao cấp từ BCT, BBT tới TUĐ. Trong thư trên ông kết án rất mạnh Đỗ Mười và Lê Đức Anh:

„Những hoạt động gần đây của các đồng chí đó, chính là đồng chí Đỗ Mười và đồng chí Lê Đức Anh, xung quanh vấn đề nhân sự của ĐH 9 đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều, nên tôi không thể không phát biểu ý kiến để đấu tranh với những hoạt động mà tôi cho là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức của Đảng, là lộng quyền, là đặt mình lên trên Đảng.“

Tiếp đó Nguyễn Đức Tâm đã dẫn chứng một số việc cụ thể trong cuộc nói chuyện sau Tết giữa ông với Đỗ Mười vào ngày 6.2.01:

„Khi gặp tôi anh Mười [Đỗ Mười] hỏi ngay: Anh Lê Đức Anh cho người thông báo với anh, anh có ý kiến gì? (Tôi nghĩ ngay là hai người đã bàn bạc với nhau và phân công nhau đi thông báo). Tôi trả lời là, tôi nghe qua như thế, còn phải tìm hiểu thêm rồi mới có ý kiến được. Anh Mười nói ngay: Rõ ràng rồi, còn phải tìm hiểu gì? Có gì không rõ sao không hỏi mình? Thế rồi anh phân tích, phê phán những sai trái về quyết định thành lập A 10.

Sau đó anh đưa cho tôi một bản dài 7-8 trang, bảo tôi xem đi rồi nói chuyện. Bản này có những báo cáo về hoạt động và nhận xét về ba người: Đặng Thị Thu Hà, Vũ Thị Dung và một người nữa tôi không nhớ tên. Với ý chính là, Thu Hà bám rất chặt đồng chí Lê Khả Phiêu, mà Thu Hà lại quan hệ rất chặt chẽ với Thị Dung và người thứ ba nữa (hai người này là tình báo, một là tình báo của Đức).

Ghi chú: Bản báo cáo này không đề ngày tháng, không nói nguồn những tin đã được cung cấp. Cũng chẳng nói là do ai gửi và gửi cho ai. Tôi nghĩ, tài liệu này vô giá trị.

Tiếp đó anh Mười đưa cho tôi xem một số ảnh, cũng nói là ảnh thu thập được từ báo chí nước ngoài. Rồi anh Mười lại hỏi: Anh làm tổ chức, theo anh thì giải quyết thế nào? Tôi nói: Theo tôi, căn cứ tình hình các mặt trong nước và ngoài nước, kẻ địch đang tìm cách phá hoại ta; ở biên giới thì Gia lai, Đắc lắc vừa có bạo loạn, cho nên ta rất cần phải ổn định chính trị, xã hội. Nếu thay đổi đến 50% số Ủy viên BCT, nhất là thay đổi ba đồng chí chủ chốt và đồng chí Nông Đức Mạnh cũng phải chuyển vị trí công tác thì phức tạp quá. Anh Mười suy nghĩ một chút rồi nói: Có thể để Phan Văn Khải lại vài năm, nhưng cũng phải có nghị quyết Khải chỉ được làm đến thời gian đó để chuẩn bị người thay rồi phải nghỉ. Còn Lê Khả Phiêu thì phải xét kỷ luật trước ĐH. (Tôi nghĩ: Tại sao lại có cách giải quyết như thế này? Phải chăng đó là ý đồ lật đổ đồng chí TBT?)

Về đồng chí Lê Đức Anh thì khoảng 16, 17.1.2001 có đồng chí Son, thư kí riêng của Anh đến gặp tôi để thông báo về quyết định thành lập A 10 và nói, đây là vi phạm nguyên tắc Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước, và thông báo cho tôi về báo cáo của anh Lê Đức Anh với BCT và TU về 6 hay 7 điểm gì đó sai lầm của đồng chí Lê Khả Phiêu. Đồng chí Son cũng nói: Hôm qua tôi đã báo cáo với anh Tố Hữu, anh Tố Hữu cũng cho đây là vi phạm nguyên tắc rất nghiêm trọng phải xử lí. Sau đó một vài ngày, đồng chí Đồng Sỹ Nguyên [cựu UVBCT] gọi dây nói hỏi tôi: Tôi vừa nghe thư kí của anh Lê Đức Anh tới báo cáo, anh có biết không? Rồi anh Nguyễn Thanh Bình [cựu UVBCT] cũng gọi dây nói hỏi tôi như vậy. Anh Chu Huy Mân [cựu UVBCT] cũng nói vậy.

Tôi thấy đây là cuộc vận động có chuẩn bị khá kĩ, có phân công rõ ràng, với ý đồ không trong sáng trước thềm ĐH 9, là vi phạm nguyên tắc tổ chức của Đảng, vi phạm Điều lệ Đảng, vi phạm Thông báo số 554 ngày 29.11.00 của BCT vì:

  • Đã tổ chức cuộc vận động của cá nhân mấy người nhằm loại trừ một số cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ra khỏi cương vị của họ.
  • Nội dung cuộc vận động là đả kích nhằm buộc đồng chí TBT phải từ chức, thâm chí phải bị kỉ luật trước ĐH họp, trong khi đó BCT, TUĐ chưa có nhận xét kết luận gì về đồng chí TBT.“

Phần cuối thư gởi BCT và TUĐ, cựu Ủy viên BCT kiêm Trưởng ban Tổ chức TU Nguyễn Đức Tâm còn nhắc lại việc, một số cựu cán bộ cao cấp tố cáo Lê Đức Anh nhiều vấn đề từ thời Lê Đức Thọ làm Trưởng ban Tổ chức TU và Nguyễn Văn Linh khi làm Bí thư thành ủy thành phố HCM và cả sau này khi làm TBT, nhưng đều bị những người có quyền lực vất vào sọt rác!

Cũng vào thời gian này có tin là, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đại thần của chế độ, đã 90 tuổi, đang nghỉ dưỡng bệnh ở thành phố HCM cũng viết thư cho TBT, BCT, BCHTU và ba Cố vấn. Thư này đề ngày 8.3.01 chỉ sau thư của Nguyễn Đức Tâm một tuần- nghĩa là cũng đúng vào dịp chuẩn bị HNTU 11/2, trong đó số phận Lê Khả Phiêu được quyết định. Cũng như thư của Nguyễn Đức Tâm, thư của tướng Giáp cũng thoát ra bên ngoài, như là cách cho biết, nếu chỉ gởi nội bộ thì thư sẽ bị vứt vào thùng rác! Một đoạn trong thư đã chỉ trích rất nặng những nhân vật đang vận động lật Lê Khả Phiêu:

„Trong lúc Trung ương đang tiếp tục chuẩn bị ĐH thì ở nhiều nơi trong Đảng, trong cán bộ, bộ đội và nhân dân đang rộ lên một tình hình bất thường, lo lắng xôn xao về vấn đề nhân sự, về tình hình mất đoàn kết ở ngay cấp cao. Có những việc cơ mật „trong nhà chưa biết mà bên ngoài đã hay“. Người ta bàn tán ngay ở cấp cao của Đảng có hiện tượng phê phán đả kích, nêu lên nội dung cụ thể phê phán TBT, thậm chí có dư luận cho rằng, có sự lũng đoạn cá nhân, có mưu đồ đảo chánh trong Đảng…

Chưa bao giờ trong Đảng ta có tình hình bất thường như vậy. Tôi thực sự lo lắng và được biết, nhiều đồng chí lão thành cách mạng, kể cả trong quân đội, cũng hết sức lo lắng…

Tôi mong rằng, BCT và TU làm đúng theo lời Bác, nêu tấm gương trong Đảng. Kiên quyết đấu tranh chống mọi hiện tượng cá nhân chủ nghĩa, bè phái…

Nếu cứ để tình hình phức tạp diễn ra như hiện nay, lại không ngăn chặn được tệ nạn tham nhũng, thoái hóa biến chất trong một bộ phận không ít đảng viên thì đây là một nguy cơ làm suy yếu Đảng cực kì nghiêm trọng…

Tôi đề nghị về nhân sự cấp cao phải hết sức cân nhắc thận trọng, không để xẩy ra một sự xáo trộn bất thường, làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, quân đội xao xuyến lo lắng, bạn bè quốc tế khó hiểu, kẻ thù lợi dụng…“

Cuối thư Tướng Giáp đi thẳng vào đề nghị, nên bãi bỏ Ban cố vấn:

„Trong một lần gặp nhau vào dịp Tết, anh Mười [Đỗ Mười] có nói với tôi rằng, sắp tới sẽ xin thôi cố vấn vì đã nhiều tuổi rồi. Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của anh Mười. Tôi thấy Đảng ta đã trưởng thành, các đồng chí kế tục đủ năng lực để đảm đương trách nhiệm. Vì vậy, đề nghị từ nay nên thôi chế độ cố vấn, đó cũng là ý kiến đề nghị của nhiều đảng viên và đảng bộ cơ sở.“

Việc ba cố vấn bắt tay nhau hạ Lê Khả Phiêu và phản ứng ở trong đảng bất bình với việc làm của ba cố vấn, nhất là những cựu ủy viên BCT và cựu cán bộ cao cấp –tiêu biểu là thư của tướng Võ Nguyên Giáp và cựu Trưởng ban Tổ chức TU Nguyễn Đức Tâm- đặt ra nhiều câu hỏi và những giả thuyết. Có phải do tính đa nghi nên Lê Khả Phiêu lập cơ quan A10 để kiểm soát nội bộ đảng TUĐ, đặc biệt là cả Ban Cố vấn và những nhân vật chống đối Lê Khả Phiêu trong TU, là động cơ chính để ba Cố vấn loại tướng Phiêu? Hay còn cả việc Lê Khả Phiêu để lộ quá rõ muốn dùng lá bài BK để xây dựng quyền lực? Việc này thể hiện công khai qua nhiều việc, như ngăn cản chuyến đi VN đầu tiên từ sau chiến tranh VN của Bộ trưởng Quốc phòng Mĩ W.S.Cohen suốt nửa năm (9.99 tới tháng 3. 2000); hủy bỏ chuyến đi của Đô đốc Blair, Tư lệnh Thái bình dương của Hải quân Mĩ (1.01), nhưng lại tiếp Bộ trưởng Quốc phòng TQ Trì Hạo Điền (2.01), dẫn tới tranh cãi gay gắt giữa phe CS miền Nam với Lê Khả Phiêu cũng vào thời gian này. Câu hỏi quan trọng khác là, động cơ nào khiến Võ Văn Kiệt đã thỏa hiệp lại với hai đối thủ cũ Đỗ Mười và Lê Đức Anh để hạ Lê Khả Phiêu? Chắc chắn ở đây không phải vì động cơ lí tưởng CS. Động cơ chính ở đây của ông Kiệt có lẽ là để trả thù lại Lê Khả Phiêu, vì ông này đã từng đi đầu mạt sát và kết án các quan điểm trong thư của Võ Văn Kiệt gởi BCT 9.8.1995 (xem Chương ba, XII) ? Nên nhân cơ hội này Võ Văn Kiệt cũng muốn loại ông Phiêu –người cực kì bảo thủ cả trong kinh tế dưới con mắt của ông Kiệt – để ủng hộ phe cánh ở miền Nam với mục đích là giữ vững một phần quyền lực trong BCT tại ĐH 9 trước mắt. Vì ngay tại ĐH đảng bộ thành phố HCM cuối năm 2000 chính Lê Khả Phiêu đã kết án và chụp mũ rất thậm tệ đảng bộ lớn nhất miền Nam, nơi có nhiều vây cánh của ông Kiệt, là đang ngấm ngầm đi với tư bản (xem Chương bốn, IX).

***

Trong các xã hội Dân chủ Đa nguyên những câu hỏi này nếu không được giải đáp công khai toàn bộ thì ít nhất những nguyên do chính sẽ phải được công khai giải thích từ các nhân vật có dính líu trực tiếp hay các cơ quan công quyền và các đảng cầm quyền cũng như qua hệ thống báo chí độc lập và các chuyên gia. Nhưng cho tới nay gần hai thập niên đã trôi qua, đảng toàn trị vẫn cố tình dấu nhẹm những tài liệu liên quan tới việc tranh chấp quyền lực giữa Lê Khả Phiêu với ba Cố vấn. Mặc dầu họ tự nhận là đảng cầm quyền. Nếu ý thức trách nhiệm cao thì họ phải thông báo rõ ràng trong công luận về biến cố lớn này. Vì trong điều kiện độc đảng, những quyết định quan trọng của những người có quyền lực đều ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của nhân dân và vận mạng đất nước, cho nên đúng lí ra họ phải trình bày cho dân biết đầu đuôi.

Không chỉ dấu dân, họ còn tìm cách ém nhẹm cả với đảng viên. Xét theo Điều lệ đảng CSVN – một qui chế về tổ chức và hoạt động của một đoàn thể, ở đây là một chính đảng- nó có giá trị mang tính cưỡng bách cho các đảng viên, bất kể ở vị thế nào. Ban Cố vấn TUĐ được thành lập từ ĐH 6 (1986), tuy trên danh nghĩa chỉ giúp cố vấn, tham gia ý kiến với BCHTU và BCT, chứ không trực tiếp vào các hoạt động và quyết định của các cơ quan cao nhất của đảng. Nhưng trên thực tế có một số lí do khiến cho những người cố vấn này trong thực tế trở thành các „Thái thượng hoàng“ như dưới triều đình nhà Trần, coi các TBT và Ủy viên BCT như con cháu trong nhà. Lí do dễ hiểu nhất là, các Cố vấn đầu tiên như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ là những nhân vật sáng lập chế độ, đã đóng góp công lao lớn vào việc cướp và nắm chính quyền cho đảng, nên quá nổi trội và cầm quyền trong nhiều thập kỉ…Khi đó Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt… chỉ mới là các tiểu tướng, tay em mà thôi. Hai yếu tố khác đóng vai trò tích cực cho vai trò nổi bật của các Cố vấn, ấy là yếu tố tổ chức và văn hóa. Hệ thống tổ chức độc tài dựa trên nguyên tắc trên bảo dưới phải nghe và văn hóa Khổng giáo Á đông ăn quả nhớ kẻ trồng cây và kính lão đắc thọ, khiến cho những người vừa được chỉ định vào các chức vụ mới từ TBT tới các Ủy viên BCT thường đều giữ thái độ kính nể các Cố vấn. Vì thế theo Võ Văn Kiệt thì tuy những vị này không còn giữ „quyền lực“ trực tiếp trong Đảng và Chính phủ, nhưng „quyền uy“ của họ vẫn còn rất lớn.

Các sự kiện này chứng mính rõ ràng, quyền lực đã làm biến thái con người; người có quyền đã tự biến thể, tự chuyển biến thành một con người khác do quyền lực sai khiến. Từ tư duy chống phong kiến, chống độc tài, chống các hình thức cha truyền con nối, coi công việc nước và các chức vụ công như chuyện riêng tư cá nhân, nhưng những người CS nắm quyền lực lâu đã trở thành người tù của quyền lực. Họ đang theo đuổi và thực hiện những gì mà ban đầu họ từng chống đối. Họ độc tài phong kiến hơn cả các vua chúa; tuy không còn nắm quyền lực nhưng lại muốn như các „thái thượng hoàng“ chọn người kế vị dễ sai bảo để đứng sau giật dây! Họ ham muốn quyền lực và để cho quyền lực sai khiến họ. Tâm trạng chuyển biến này thường phát triển tuần tự với thời gian họ nắm quyền hành và cùng với mức độ quyền hành họ nắm được. Càng có quyền lực cao và càng nắm quyền lâu thì sẽ tạo ra cho họ một thói quen mới, hoàn toàn khác với con người ban đầu. Chế độ toàn trị đã nắm toàn quyền từ giữa thập niên 50 của thế kỉ trước, nhiều người trong thành phần lãnh đạo đã nắm quyền bính liên tục 20-30 năm. Cho nên họ có những thói quen mới, tập quán mới, từ đó tạo ra những thái độ mới và tư duy khác hoàn toàn trái với thủa ban đầu trong con người của họ. Trong các chế độ độc tài (cá nhân hay đảng trị) quyền lực làm biến dạng người nắm quyền và từ đó làm biến dạng chế độ. Đây là một qui luật lịch sử từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim!

Riêng đối với Đỗ Mười thì phải kể thêm yếu tố trình độ học vấn và bệnh tâm thần của ông. Nếu theo dõi những hoạt động của Đỗ Mười chỉ từ sau 1975 trên nhiều lãnh vực ông phụ trách, như Phó TT kiêm Trưởng ban Cải tạo Tư thương miền Nam, TT, TBT và Cố vấn TUĐ nổi lên điểm chung lớn là cực kì bảo thủ, võ đoán, cực đoan, niềm tin như đóng đinh vào cột. Những tuyên bố công khai của ông về các đảng không CS vào giai đoạn 1945 và cách xử thế với những người dưới cho thấy, Đỗ Mười không đủ năng lực để nhận diện, phân tích và giải thích chính xác và khách quan một sự việc, đã đánh mất khả năng tự kiềm chế, không phân biệt được ranh giới, chỉ hành động theo bản năng…Đây là những tín hiệu của người thiếu học vấn và nguy hại hơn nữa là, không còn biết nhận thức ranh giới giữa hành động cho phép và không được phép, cũng như sự khác biệt giữa việc riêng với việc công.

Một người hầu như không có trình độ học vấn và mang bệnh tâm thần như vậy mà vẫn được giao nắm nhiều chức vụ quan trọng cả trong đảng lẫn chính quyền, kể cả mấy thập niên đóng vai cầm trịch đảng và chính phủ và cả nhiều năm làm Cố vấn, tổng cộng lại cả nửa thế kỉ! Một người có quyền lực và quyền uy bao trùm đảng và nhà nước cả nửa thế kỉ. Thậm chí cựu Ủy viên BCT Nguyễn Đức Tâm đã phải gọi những mưu đồ và hành động của Đỗ Mười và Lê Đức Anh là „vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức của Đảng, là lộng quyền, là đặt mình lên trên Đảng.“ Còn cựu đại thần Võ Nguyên Giáp thì kết luận là, „có sự lũng đoạn cá nhân, có mưu đồ đảo chính“ và „chưa bao giờ trong Đảng ta có tình hình bất thường như vậy.“ Hai nhân vật này đã từng làm việc với Đỗ Mười và Lê Đức Anh hàng vài chục năm, nên hẳn hiểu rõ khả năng, tính khí và sức khỏe về lãnh vực tâm thần của Đỗ Mười như thế nào. Các nhận xét này phản ảnh rất chính xác về con người thực đầy bệnh hoạn, nhưng lại đầy quyền lực của Đỗ Mười!

Tuy vậy, cả BCT lẫn TUĐ vẫn phải chịu theo mưu đồ và áp lực của ba ông „Cố vấn“, người chủ mưu là Đỗ Mười. Chẳng những thế, sau khi thành công trong việc hạ Lê Khả Phiêu quyền uy của Đỗ Mười càng mạnh, chọn Nông Đức Mạnh làm TBT như con cờ trong tay, tiếp tục lộng hành cả thập niên tiếp theo. Một người có tầm vóc kiến thức quá thấp lại bị bệnh tâm thần nặng mà lại quán xuyến các trọng trách trong Đảng lẫn Nhà nước trực tiếp và gián tiếp suốt cả nửa thế kỉ thì dĩ nhiên cả chế độ lẫn đất nước sẽ rơi vào tê liệt trong mọi mặt chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, giáo dục và xã hội; đồng thời còn rơi vào nhiều sai lầm khủng khiếp. Như Phong trào đánh đổ tư sản mại bản ở miền Nam do ông làm Trưởng ban sau 1975 đánh tan hoang hệ thống kinh tế tư nhân, đôn đốc Quốc doanh ở miền Bắc trước 1975 và lập hệ thống Doanh nghiệp Nhà nước làm chủ đạo sau 1975; trong tư cách TBT tham dự Hội nghị bí mật Thành đô 1990 buộc Đảng và lôi cả nước phải thuần phục BK; ngăn cản Phan Văn Khải sớm kí Hiệp định Thương mại với Mĩ và ép Nông Đức Mạnh không để VN tham gia sớm WTO…

Các sự kiện này chứng minh, cơ chế tổ chức và vận hành của một chế độ toàn trị tạo những cơ hội rất tốt để các nhà độc tài lạm dụng quyền lực, dùng nó phục vụ những tham vọng điên rồ cả một thời gian rất dài. Stalin đã cai trị cựu Liên xô trên 30 năm, giết hại nhiều đồng chí là đối thủ chính trị, đày ải và giết hại bao nhiêu triệu người, chưa kể tới việc mở rộng đế quốc Nga sang cả Đông Âu. Mao Trạch Đông cũng đã độc quyền cả Đảng lẫn Nhà nước trên ¼ thế kỉ. Trong thời gian đó cũng đã tiêu giệt các đối thủ chính trị ngay trong đảng, điên rồ phát động „Cải cách ruộng đất“, „Cách mạng Văn hóa“, „Công xã nhân dân“…giết hại hàng chục triệu người TQ, phá hủy văn hóa và đạo đức, phung phí sức lực nhân dân và tài nguyên đất nước.

Những người bị bệnh tâm thần ờ VN thuộc giới thường dân thì bị bỏ rơi, coi như người điên rồ, không được chữa trị và chăm sóc. Nhưng trong giới nắm quyền lực thì những nhân vật này nếu bị bệnh tâm thần lại mặc nhiên coi như người bình thường. Điều này có thể hiểu dưới nhiều mặt khác nhau: Kiến thức về bệnh trạng tâm thần còn rất sơ sài ở nhiều giới, phương tiện y khoa để quan sát, chẩn đoán và chữa trị còn rất giới hạn, nên không rõ như thế nào là người đang bị bệnh tâm thần, khác với người bình thường ở những mức độ như thế nào, tới đâu sẽ được coi là nguy hiểm tới các người chung quanh và cộng đồng. Ở trong những xã hội độc tài, những người có quyền lực tuyệt đối và lại được văn hóa bảo thủ phù trợ thì chẳng ai dám bảo những hành động thái quá và cực đoan của họ là không bình thường, vì sợ phạm thượng, mất hết quyền lợi, hay bị theo dõi, bỏ tù!

12.8.2020

Image may contain: 1 person, sitting

Tướng Chung đã bị ngưng chức…(FB Nguyễn Tiến Dân)

Trần Bang
Bài hơi dài, nhưng không đọc sẽ… phí

——————
FB Nguyễn Tiến Dân : Tin “tướng Chung đã bị ngưng chức”, mình nhận được từ 1 người bạn. Sau khi thông báo, bác ấy nói thêm: “Ông chỉ là cái lão già ngồi ở xó bếp, nhưng độc mồm – độc miệng. Ông nhắc đến ai, y như rằng, kẻ đó ngã lộn cổ. Đinh La Thăng, Hoàng Trung Hải và bây giờ, là Nguyễn Đức Chung. Tại sao, ông biết điều đó?”.

Mình cười buồn: “Tài nông – đức mỏng, nhưng lại cố nôn nóng, để trèo lên thật cao. Lên nhanh, thì chóng xuống. Điều đó, có gì là lạ”.

-Ông cũng nhắc rất nhiều đến ông Tổng. Vậy mà đến giờ, ông ta vẫn bình yên – vô sự. Phải chăng, tài – đức của Phú Trọng, quá vẹn toàn?

-“Chưa” không đồng nghĩa với “không”. Nhiều kẻ nuốt của bẩn vào miệng, mà ngay lập tức bị “miệng nôn – trôn tháo”, những ca đó, thực sự không nguy hiểm. Riêng cái loại ủ bệnh đủ lâu, mầm bệnh sẽ chu du khắp các cơ quan nội tạng. Đến khi nó phát tác, vô phương cứu chữa.

Ba người đầu, đều ở trường hợp thứ nhất. Giỏi lắm, họ cũng chỉ bị danh liệt. Không ai trong số đó, sẽ bị nguy hiểm đến tính mạng. Riêng cái ca thứ hai, khi sự đến, e rằng, cả thân bại lẫn danh liệt, chúng sẽ đến cùng một lúc.

Bác ấy cười:
-À, ra thế. Vậy, sắp tới, lão quan tâm đến ai nhất?
-Tôi quý và dành sự quan tâm nhiều nhất đến Vương Đình Huệ. Tiện đây, gửi bác đọc lại bài, mà mình viết từ 4 – 4 – 2016. Bài này, ông Chung chắc có đọc. Nhưng ỷ thế lá ngọc – cành vàng của mình, nên đã bỏ qua lời khuyên của lão Dân già.

ĐÔ TRƯỞNG HÀ THÀNH NGUYỄN ĐỨC CHUNG.

1-Tam Quốc diễn nghĩa, là một trong tứ đại danh tác của Trung hoa. Trong tuyệt tác này, có vô vàn nhân vật. Chính, hằng hà – Tà, chẳng thiếu. Tùy theo khẩu vị, người ta có thể yêu người này và không thích người kia. Nhưng có 1 nhân vật, ai cũng mến. Đó là, Quan công. Theo mô tả của La Quán Trung: Quan công cao lớn, uy nghi lẫm liệt. Đan phượng nhãn (Mắt, phượng đỏ) – Ngọa tàm mi (Mi, tằm nằm) – Diện như trùng táo (Mặt, như có 2 quả táo chồng lên nhau) – Thanh như cự chung (Giọng nói, như tiếng của cái chuông lớn). Tướng mạo, dị thường – Tài năng, xuất chúng. Trung – Hiếu – Tiết – Nghĩa, cái gì cũng có. Không những có, mà còn dư thừa. Ông trung thành với Lưu Bị, nhiều đến mức: Bảo sống, là sống – Bảo chết, là lăn đùng ra, chết liền. “Bất cần biết, đúng hay sai”. Mình chỉ kể, 1 ví dụ:

Lúc còn trứng nước, mấy anh em Lưu Bị được Đông Ngô cưu mang và cho mượn đất Kinh Châu, để làm chỗ đứng chân. Khi trơn lông – đỏ da, Đông Ngô đòi lại. Cả nhà, mặt dày không trả. Người đọc sách Thánh hiền như Quan công, làm gì mà không biết: Làm thế, trái Nghĩa. Nhưng chính ông, lại được giao trọng trách trấn thủ Kinh Châu. Nội tâm, giằng xé. Không trả Kinh Châu, là bất Nghĩa – Trả, là bất Trung. Cuối cùng, ông chọn Trung, chứ không chọn Nghĩa. Kết quả của cái ngu Trung ấy: Quan công – Trương Phi – Lưu Bị, những linh hồn của nhà Thục, nối tiếp nhau, từ giã cõi đời. Quân thua – mạng mất. Mà đất, nào có giữ được. Kể từ đó, nhà Thục, được một ông Vua trẻ con trị vì và bắt đầu bước vào thời kì thoái trào. Giỏi như Khổng Minh, gắng lắm cũng chỉ ngăn cho nó chậm tụt dốc. Vô phương, làm cho nó, hưng khởi.

Ai mà chẳng biết, Kinh Châu, là nơi “cù địa” – là địa bàn chiến lược. Tiến, khả dĩ công – thoái, khả dĩ thủ. Do đó, phải chiếm cho được, bằng mọi giá (Giống như, Hoàng sa và Trường sa của Việt nam, bây giờ). Nhưng, một khi phải dùng cả những thủ đoạn bỉ ổi nhất, để có được nó: Di họa, vô lường. Quan công, dẫu đảm – lược hơn người, cũng không thể bước ra ngoài cái qui luật đó.

2-Người xưa, có điển tích “Tái ông thất mã”. Qua câu chuyện đó, họ muốn chuyển đến hậu thế 1 thông điệp: Ở đời, được thua – thành bại – may rủi – đỏ đen… luôn đan xen chặt chẽ với nhau, không thể tách rời. Được, nào chắc đã hay. Thua, nào chắc đã dở. Nghiệm vào nước Nam mình, đúng như vậy.
Xã hội thời CS, hỗn loạn: Mạnh ai, nấy sống – Dân chúng, lầm than – Quan binh kiêu hùng, coi người trong Thiên hạ, chỉ như cỏ rác. Luân thường – Đạo lý, bị đảo lộn. Con giết cha – chồng đốt vợ… Thê thảm, “đến thế là cùng”. Đành rằng, hỗn quân – hỗn quan, là điềm xấu. Nhưng bù lại, vào lúc mạt vận: Anh hùng cái thế, nổi lên, nhiều hơn rươi. Tạm kể:

Đảng trưởng, có anh Cả Trọng. Nức tiếng, mưu cao – kế hiểm. Già mõ đít, nhưng anh vẫn sáng suốt “thiết mưu – định kế”, để tống cổ lão tướng Ba X về vườn. Mà Ba X, đâu có phải, là tay gà mờ. Kể về độ gian hùng, Ba X, chỉ thua Tào Tháo có tí tẹo. Vì vậy, hãy vả vào mồm đứa nào dám nói rằng: Anh Trọng, lú lẫn.

Sài gòn, có anh La Thăng. Mồm thì nhỏ xíu, hót thì thật hay. Kể từ khi, chàng được Bộ Chính trị cử vào trỏng, để “diễn”: Vua hề Sác-lô, lu mờ. Băng và đĩa của ông, thiên hạ, thấy đầy trong sọt rác. Còn dân chúng, nín thở, đợi việc chàng làm. Lạy Thánh mớ bái, chàng chẳng làm cho họ thất vọng lâu. Đế biến Sài gòn, mau chóng trở thành “số 1”: Chàng sai cậy tung vỉa hè của trung tâm Sài gòn lên, để lát đá hoa cương. Việc này, tiêu tốn của công quỹ, có nhõn nghìn tỷ đồng. Số tiền, xiu xíu thôi à. Nhưng thừa đủ làm cho ối kẻ ghen tị với tài năng và miếng ăn của chàng, phải lên tiếng dèm pha. Đã đến lúc, phải dạy cho cái lũ đần ấy, một bài học: “Đã ăn chơi, nào kể mưa rơi”. Bộ mặt của Sài gòn, nó phải luôn được đặt lên hàng đầu. Những vấn đề cấp bách và thiết yếu của quốc kế – dân sinh còn lại, là muỗi. Nghe rõ chửa.

3-Hà nội, đầu kia của Đất nước, nào có kém gì. Sau cái trò hề bầu cử, mà chỉ có mỗi một ứng viên, đã thế, lại còn duy nhất. Trọng trách Đô trưởng, được Đảng CS, trao cho Nguyễn Đức Chung. Một viên tướng, võ biền. Mình chẳng yêu CS, nhưng hâm mộ tướng Chung lắm. Việc riêng, cũng có mà việc chung, cũng có. Đặc biệt, mình thấy ông ta, có nhiều nét, rất giống Quan công.

Cả nhà nhìn kĩ xem, mặt ông có giống 2 quả táo được đặt chồng lên nhau, hay không? Ông khác Quan công, có chút đỉnh. Đó là, hơi lùn. Nhưng việc đó, đâu có quan trọng. Thiên hạ, chẳng từng tổng kết: “Nhất lé – Nhì lùn – Tam dô – Tứ rỗ”, đó sao.

Võ Đại, anh trai của Võ Tòng, là 1 gã bán bánh bao và xấu xí. Chỉ vì lùn tịt, nên được nàng Phan Kim Liên yêu mê mệt và tự nguyện, xin được cưới làm chồng. Trong khi, Phan Kim Liên, đâu phải hạng sứt môi – hở hàm ếch. Nàng, đẹp mê hồn. Bằng chứng, Tây Môn Khánh, đẹp trai ngời ngời – galant thừa mứa. Đã thế: quyền, khuynh Thiên hạ – phú, địch Quốc gia. Do đó, gái gú thiếu gì. Nhưng nhìn thấy nàng, như chuột thấy rắn. Quên hết mọi sự đời, để đâm đầu vào. Chết, cũng chẳng sờn lòng. Chỉ nguyện, xin được hưởng, cái “sái 2” của chàng bán bánh bao.

Nói vậy, chứ Tây Môn Khánh, còn may mắn chán. Cao to – đẹp trai, quyền thế – của cải, ai được như ông Tổng Nông, Vua của xứ Cù lần. Thế mà, còn phải cam tâm – tình nguyện, dùng đến sái thứ 3, thứ 4, thứ 5… của thiên hạ.
Thế mới biết, trong cái chuyện chim gái, cao hay thấp, đã chắc “mèo nào cắn mỉu nào”.

4-Bao lão thày tướng mù, chuyên kiếm ăn, nơi đầu đường – xó chợ, đều có chung nhận xét: tướng Chung, có cặp mắt hiền từ của những con người phúc hậu. Bọn tội phạm, cũng tin là như thế. Cho nên, chúng phải trả giá đắt và vô tình, chúng giúp tướng Chung, “phá án như thần”. Xã hội đen, vừa sợ – vừa thích ông. Họ như bị ông thôi miên và lao đến ông, như thiêu thân lao vào đèn dầu. Thậm chí, có người muốn nổi tiếng. Anh ta bèn bày trò bắt cóc con tin và nhất định, chỉ muốn qui hàng trong tay tướng Chung (!). Chuyện đó loan ra, khiến các nhà báo được 1 phen hốt bạc. Đề tài ăn khách trước đây: “các quí bà lẳng lơ, muốn nổi tiếng, bằng cách tụt quần”, cũng bị, cho ra rìa.

Chiến công, nối tiếp chiến công. Thậm chí, có lúc, còn như từ trên Trời rơi xuống. Nó khiến ông nổi tiếng và được phong Anh hùng. Hệ quả, ông được thăng quan – tiến chức, nhanh như ngồi trên cỗ hỏa tiễn liên lục địa. Bao công và Địch Nhân Kiệt, là 2 tay thám tử lừng danh của đất Trung hoa. Dẫu vậy, nếu đặt cạnh ông, họ cũng chỉ, như “con tem, dán trên đít của con voi” mà thôi.

Ông giỏi như thế, nhưng các bác người xấu, nào có chịu. Họ bĩu môi – dè bỉu: “Ai mà biết, chuyện ma ăn cỗ. Đánh án, là việc của chiến sĩ. Họ phải lao tâm khổ tứ, lặn lội đêm ngày, hiểm nguy rình rập. Nhưng thành tích, riêng mình xếp hưởng. Giỏi, cái quái gì”. Họ dẫn chứng: Ngày 14-3-2015, tại Vườn hoa Lý Thái tổ – Hà nội, một số đông quần chúng định tổ chức Tưởng niệm 64 Liệt sĩ Hải quân Nhân dân Việt nam – những người, bị Trung cộng (bọn bạn vàng của Đảng CS Việt nam) sát hại tại đảo Gạc ma. Buổi lễ, bị một số DLV mang cờ Đảng ra, phá thối. Chúng nhảy nhót như những con choi choi và luôn mồm hát vang: “Như có bác Hồ, trong ngày vui đại thắng”. Ý của chúng: Đảng CS, nó hết sức vui mừng, trong cái ngày giỗ chung đó. Biết sự việc, đã bị đẩy đi quá đà. Ông Chung khôn ngoan họp báo và cho rằng: Đó là… những quần chúng tự phát. Ông khẳng định, bọn phá hoại đó, không thuộc quân số của Công an và cũng không phải là chủ trương của Chính quyền Hà nội. Ông hứa, sẽ điều tra vụ việc và sẽ thông báo kết quả với Nhân dân. Hơn 1 năm đã trôi qua, với rất nhiều bằng chứng cụ thể và không thể rõ ràng hơn được nữa. Nhưng, ông vẫn không sao tìm ra được chúng. Giỏi hay không, là ở chỗ đó.

5-Tuổi trẻ, nhưng tướng Chung, có chí nhớn. Giữa 2 trận đánh, ông ôm sách, mải mê ngồi học. Và, đã từng, đỗ Tiến sĩ, chuyên ngành Luật. Học sâu về Luật, nên ông áp dụng Luật, tài tình lắm. Chẳng hạn:

Có một cháu vị thành niên dại dột, nó chót lấy trộm của hàng xóm hai triệu VND. Biết sai, cháu nó đã nhận lỗi và trả lại đầy đủ, cho khổ chủ. Nhưng lính của ông, vẫn tống cháu vào tù. Trong tù, cháu bị hành hạ đến chết. Dư luận lên tiếng, ông đăng đàn, khẳng định, chắc như đinh đóng cột: “cháu bị bắt, là đúng Luật”.

Nghe thế, một bác người quen, nhưng hơi xấu cái bụng, gọi điện đến mình: “Này cái lão Dân, xấu như cây đa – già như cây si kia. Cái Luật, mà ông Chung của lão đề cập đến, là cái loại Luật gì đấy? Luật pháp hay Luật rừng?”. Hỏi thế, bố thằng Tây cũng chết. Mình chỉ biết, len lén cúp máy. Nghĩ, mà thấy thương ông: Đang nhọc lòng, luyện công sai cách (Giang hồ, gọi cái kiểu luyện công ấy, là “tẩu hỏa nhập ma”).

6-Chẳng giống La Thăng, Đức Chung là con người của hành động. Ông thận trọng, nói ít – làm nhiều.

-Ngày mới lên, ông ra lệnh cho các siêu thị: “Phải bán hàng đến tận Giao thừa và phải mở cửa, ngay sáng mồng một Tết Nguyên đán”. Các siêu thị, bưng miệng cười. Lệnh, có nhận – nhưng, đếch chịu làm. Ở vào cái thế việt vị, ông tức lắm. Toan rút cây kiếm, vẫn đeo ở bên mình ra, để “trảm”. Lúc đó mới hay, cây kiếm ấy, bằng gỗ. Đã thế, chuôi đi đằng chuôi – lưỡi đi đằng lưỡi. Khiến ông, đầu năm ôm hận.

-Không chơi được với bọn Thương nghiệp, ông mon men, chuyển sang lĩnh vực Giao thông. Trong 1 cuộc họp trực tuyến với Chính phủ, ông hồ hởi, đề xuất một phát minh: “Chính phủ cần chỉ đạo các Bộ, ngành Trung ương phối hợp với thành phố xây dựng lộ trình hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, giảm ùn tắc giao thông… Nếu không có ngay giải pháp thì 4 – 5 năm nữa vấn đề giao thông phức tạp”. Lần này, các bác xấu, lại gọi điện đến. Điên ruột, mình chặn ngay:

-Này các ông, tôi đếch phải là cái sọt rác, để các ông tự do trút bầu tâm sự đâu nhé.
Các bác ấy cười:
-Ông không muốn nghe chúng tôi, được thôi. Vậy, hãy nói đi. Chúng tôi, sẵn sàng nghe ông.
-Các bác, phải thương ông Chung. Ông ấy, chưa được học 1 cách bài bản, về phép trị Nước – an Dân. Chưa một ngày, được học về cách quản lí một Thủ đô. Chuyên ngành của ông ấy, là hỏi cung. Các bác cứ thử giao cho ông ta một thằng dân đen xem nào. Đảm bảo, thằng ấy có tội. Nhẹ, thì có “hai cái bao cao su, đã qua sử dụng” hoặc “trốn thuế”, để được hưởng tù ngồi. Nặng, sẽ được gán cho cái tội, “tuyên truyền đúng sự thật, hòng lật đổ Chính quyền của Đảng” và được cấp giấy thông hành, để xuống Âm ty. Tội chứng ư, ra chợ mua. Luật sư ư, toàn những cây cảnh, để trang trí cho Pháp đình CS. Còn những chuyện, như ách tắc Giao thông? Đến Đinh La Thăng, vừa có “chuyên môn” – vừa được giao cả quân lẫn quyền, mà còn phải chạy làng. Chó, còn không ăn được cứt, nói chi đến mèo. Họp Chính phủ, chẳng có nhẽ, chỉ khoanh tay ngồi nghe. Các bác, thắc mắc làm chi, cho mệt cái đầu.

7-Đọc sách nhiều, nên tướng Chung biết Nghĩa. Không những thế, ông còn có lòng Trung. Trung ở đây, là Trung với Đảng. Giống như Quan công, nếu phải lựa chọn giữa Trung và Nghĩa: Bao giờ, ông cũng bỏ Nghĩa để giữ Trung. Mình kể cho cả nhà nghe, vài ví dụ:

-Nhiều người, chắc còn nhớ đến Trịnh Kim Tiến. Cô là con gái ông Trịnh Xuân Tùng, một nạn nhân, bị công an CS đánh đến gãy cổ, mà chết. Chỉ vì tội, “bỏ mũ bảo hiểm, để nghe điện thoại”. Kim Tiến, đã đến gặp ông Chung. Lúc đó, là Phó Giám đốc Sở Công an Hà Nội. Ông Chung, cũng thường xuyên đến thăm hỏi và động viên cháu. Ông cũng hứa: sẽ xử lý nghiêm minh, đúng người đúng tội và đúng pháp luật trong vụ việc oan ức của bố cháu. Bù lại, ông thúc giục Kim Tiến cố gắng, để bố cháu, sớm mồ yên – mả đẹp. Kim Tiến bùi tai, nghe theo lời xui khôn ấy, gạt nước mắt, để chôn bố. Xong xuôi, cháu lên gặp ông Chung. Và, chết đứng, khi được nghe câu trả lời ráo hoảnh: “Việc của bố cháu, đã được chuyển sang cho chú khác làm việc. Cho nên, chú không đến gia đình cháu, như khi chưa chôn bố cháu nữa. Thông cảm nghen”. Kim Tiến biết dại, thì đã quá muộn.

Của đáng tội, sau này, Nhà nước CS cũng đã phạt viên trung tá Nguyễn Văn Ninh, tận 4 năm tù. Về tội, “làm chết người trong khi thi hành công vụ”. Một bản án, quá ư nghiêm minh. Nếu để ý rằng: Nguyễn Mai Trung Tuấn, một đứa bé 15 tuổi, ở Long an, bị kêu án 4 năm 6 tháng tù giam. Can tội, hắt 1 ca acid loãng vào viên Công an, khi tay này đang hành hung mẹ của cháu.

-Còn mình, cũng hết sức vinh dự, được gián tiếp va với tướng Chung. Trong vụ; “Chính quyền CS lừa đảo – lật lọng và ăn cướp trắng trợn của mình, hàng chục tỷ VND”. Hơn chục năm trời đi đòi, cả 4 cấp Chính quyền, đều giả điếc không nghe. Mình bèn quạt khói vào mũi các bác, bằng bài: “Mại dâm dưới chế độ Cộng sản”. Bị điểm đúng huyệt, tướng Chung, nhảy dựng lên. Ông sai Trưởng Công an quận Hoàng mai, xuống tận nhà mình điều đình. Họ đề nghị mình, đừng bóc mẽ Chính quyền nữa. Đổi lại, họ hứa sẽ giải quyết triệt để vụ việc của mình. Chưa yên tâm, tướng Chung còn chủ động mời mình đến gặp, để trực tiếp trao đổi.

Hai năm đã trôi qua, kể từ khi, con người ấy hứa. Đến giờ, mình cũng ở hoàn cảnh, giống như cháu Trịnh Kim Tiến: Ông Chung bùng, không gặp mình và cũng không khởi tố Chính quyền CS. Về tội, lừa đảo và ăn cướp của dân lành. Tiền, mình cũng chửa nhận được lấy 1 xu. Đành chịu cảnh, “cơm treo, mèo nhịn đói”.

Có lẽ, tại Công an và lũ kẻ cướp, cùng 1 giuộc. Giuộc, cướp ngày.

-Vụ việc của mình, còn nhẹ. Chính quyền CS, họ mới chỉ dừng lại, ở mức ăn cướp của mình. Họ chưa và có lẽ, không muốn dùng bạo lực với mình. Bà con Nông dân ở Dương nội – Hà đông, họ đâu có được cái may mắn ấy. Tình cảnh của họ, thê thảm hơn nhiều. Họ bị Chính quyền CS thông đồng với Doanh nghiệp, tước đoạt Tư liệu sản xuất.

Chính quyền CS, mĩ miều, gọi nó là “thu hồi đất” của bà con và “đền bù” cho họ, với cái giá đồng hạng, là 201. 600 VND/m2 . Sau khi san gạt qua loa, họ cho bán đấu giá. Với mức khởi điểm thấp nhất, là 31. 500. 000 VND/ m2. Lợi nhuận, gấp 160 lần (xin nhấn mạnh: một trăm, sáu mươi lần). Bà con, sao có thể chấp nhận được cái thứ vô lí đùng đùng đó. Họ, không chịu – Họ, vùng lên đấu tranh. Dĩ nhiên, theo đúng cái luận điểm xưa của quân Cộng sản: “Ở đâu có áp bức, ở đó, có đấu tranh”

Chẳng biết, trong vụ này, ông Chung có được xơ múi cái gì ở đó, hay không. Mà thấy ông sốt sắng, sai lính xuống “cưỡng chế”. Nói nôm na: Đánh đập dằn mặt và bắt đi tù, những người con Trung kiên nhất của bà con Dương nội. Trong số đó, có Cấn Thị Thêu. Biết chị rắn mặt và là linh hồn của cuộc đấu tranh, tướng Chung, sai người xuống và giở trò mua chuộc. Chúng hứa, cho chị ngay 10 tỷ VND (sau khi bài báo này được công bố, chính cháu Trịnh Bá Phương đã đính chính với mình: Một trăm tỷ VND, bác Dân ơi). Ngoài ra, cho thêm một số lô đất và sắp xếp công việc cho 3 người con của chị. Đổi lại, chị phải từ bỏ cuộc đấu tranh của mình. Cấn Thị Thêu, kiên quyết chối từ. Chị nghèo, chứ không bao giờ hèn. Bất lực trong việc chia rẽ và mua chuộc, tướng Chung đành phải lôi những người con ưu tú nhất của Dương nội, ra Tòa án Cộng sản.
Ở đó, 7 người trong số họ, đã phải nhận tổng cộng 99 tháng tù giam. Tất cả, với tội danh “chống lại bọn cướp đất”. À quên, “chống người thi hành công vụ”. Trước Tòa án CS, Cấn Thị Thêu, hiên ngang tuyên bố: “Nếu tôi còn sống, tôi sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Để, bảo vệ quyền lợi chính đáng, cho gia đình tôi và cho bà con của tôi”.
Kính chào chị, một CON NGƯỜI gang thép.

8-Vay mượn của người ta, sau đó không trả lại. Bọn ấy, đâu có Nghĩa. Vừa cướp của – vừa hại người. Đó là, lũ bất Nhân. Nhân với Nghĩa ở đây, tướng Chung, biết hết. Nhưng ông ta, vẫn phải nhắm mắt mà làm. Bởi, ông ta, còn phải đặt cái lòng Trung với Đảng CS, lên hàng đầu. Mà Đảng của ông, luôn sở hữu 2 đặc trưng nổi bật, đó là: Lừa đảo và đi ăn cướp. Sống trong cái guồng máy đó: Ông, sao có thể, làm khác đi được. Thương ông quá, ông Chung ơi!

Vẫn biết, đã “ăn cơm Chúa”, thì phải “múa tối ngày”. Nhưng, hãy nhớ: Luật nhân – quả, nhãn tiền. Sống theo phương châm; “còn Đảng – còn mình”, nhất thời, sẽ được lợi. Nhưng, về lâu dài, nó hại cho cây Phúc của nhà mình lắm đấy, ông ạ.

Nhắc ông: “Chẳng có ai, là Thánh nhân cả. Do vậy, chẳng có ai, đúng tuyệt đối. Thấy cái sai, thì phải sửa. Bảo vệ cho những cái sai của Đảng CS, thực chất, chỉ là thương nhau như thế, bằng mười hại nhau”.

Nếu không sửa được những cái sai của Đảng Cộng sản, ít nhất, “hãy ráng sống cho tử tế”. Đừng làm kẻ thất Đức, ông nhé.

Nguyễn Tiến Dân.

Tại sao bắt dân để tang cho kẻ dâng đất cho Tàu?

Tại sao bắt dân để tang cho kẻ dâng đất cho Tàu?

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, chưa có môt triều đại nào phải bắt dân để tang cho kẻ ‘dâng đất’ cho ngoại bang. Chỉ có Đảng Cộng Sản Việt Nam mới làm điều nghịch lý như thế!

Nếu Đảng CSVN xem việc dâng đất cho ngoại bang là đúng, xem việc làm đó là có công với Đảng thì nên gọi là “đảng tang”, chứ đừng bắt dân phải để tang, vì ông Phiêu chưa làm gì có ích cho dân.

Ngày nào mà chế độ CSVN vẫn còn tồn tại thì ngày đó dân tộc Việt Nam không bao giờ thoát khỏi “vòng kim cô” của Trung Quốc

Các bạn nghĩ thế nào khi Đảng bắt bạn, gia đình của bạn để tang cho ông Lê Khả Phiêu?

===========

Ngày 25 tháng Hai, 1999, Lê Khả Phiêu chính thức viếng thăm Trung Quốc theo lời mời của Giang Trạch Dân và đây là thời điểm ra đời cái gọi là quan hệ hữu nghị “16 Vàng và 4 Tốt” mà Giang Trạch Dân, tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc đề xướng. Trong chuyến đi này, Lê Khả Phiêu đã cam kết với Bắc Kinh là chỉ thị Bộ Ngoại Giao xúc tiến việc ký kết hai văn kiện: 1) Hiệp Định về Biên Giới Trên Bộ (ký ngày 30/12/1999) và 2) Hiệp Ước Phân Định Vịnh Bắc Bộ (ký ngày 25/12/2000) vốn bị đông lạnh từ năm 1995.

Qua Hiệp Định về Biên Giới, Việt Nam vĩnh viễn mất Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan và một số diện tích đất ở biên giới từ lúc này; cũng như qua Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ, theo nhà nghiên cứu Dương Danh Huy phân tích, thì Việt Nam đã sai lầm trong việc sử dụng các bản đồ theo công ước Pháp – Thanh năm 1887 đầy sai trái nên đã nhượng cho Trung Quốc quá nhiều đảo, và mặt biển khiến nước ta bị thiệt hại rất nhiều.

Lê Ánh

Image may contain: 1 person, text

Hàng chục người bịt mặt căng băng rôn “đòi đất” Đan viện Thiên An

 

RFA.ORG
 

Hàng chục người bịt mặt căng băng rôn “đòi đất” Đan viện Thiên An

Liên tiếp vào hai buổi chiều ngày 11 và ngày 10 tháng 8 năm 2020, hàng chục người đeo khẩu trang đi đến khu vực đồi Thánh giá nằm trong khuôn viên Đan viện Thiên An ở xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế la hét, căng bă…

Bộ Công an: Ông Nguyễn Đức Chung bị điều tra liên quan đến nhiều vụ án

CỤ KÌNH ĐỒNG TÂM BÁO ỨNG TỪNG ĐỨA MỘT, SAU CHUNG CON SẼ ĐẾN ĐỨA NÀO?

(MỖI ĐỨA SẼ BỊ BÁO ỨNG MỘT KIỂU, CHỜ ĐI LŨ QUỶ ĐỎ, BAY CỨ ÁC VỚI DÂN NHIỀU VÀO)
————
Bộ Công an: Ông Nguyễn Đức Chung bị điều tra liên quan đến nhiều vụ án

HÀ NGÂN – MAI LOAN
20:10 11/08/2020

Người phát ngôn Bộ Công an, Thiếu tướng Tô Ân Xô cho biết, theo điều tra ban đầu, ông Nguyễn Đức Chung có liên quan đến ba vụ án.

Liên quan đến việc ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND TP Hà Nội bị tạm đình chỉ công tác để xác minh, điều tra làm rõ trách nhiệm có liên quan trong một số vụ án, Người phát ngôn Bộ Công an, Thiếu tướng Tô Ân Xô cho biết, theo điều tra ban đầu, ông Nguyễn Đức Chung có liên quan đến ba vụ án.

Cụ thể, vụ án “Buôn lậu”, “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”, “Rửa tiền”, “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Nhật Cường (Công ty Nhật Cường), Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hà Nội và một số đơn vị liên quan.

Vụ án thứ hai ông Nguyễn Đức Chung có liên quan là “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại TP Hà Nội và vụ án “Chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước” mà Cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an đã khởi tố vụ án.

Ngày 11/8, Bộ Chính trị đã quyết định đình chỉ sinh hoạt Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội và đình chỉ chức vụ Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội đối với ông Nguyễn Đức Chung, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội để xác minh, điều tra làm rõ trách nhiệm có liên quan của ông Nguyễn Đức Chung trong một số vụ án theo quy định của pháp luật.

Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Quyết định 1223/QĐ-TTg tạm đình chỉ công tác đối với ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội.

Quyết định nêu rõ, tạm đình chỉ công tác đối với ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội để xác minh, điều tra làm rõ trách nhiệm có liên quan của ông Nguyễn Đức Chung trong một số vụ án theo quy định của pháp luật.

Thời hạn tạm đình chỉ công tác là 90 ngày, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ công tác.

http://daidoanket.vn/bo-cong-an-ong-nguyen-duc-chung-bi-die…

Image may contain: 1 person, text

TỪ HOÀNG VĂN HOAN ĐẾN LÊ KHẢ PHIÊU, AI CÓ CÔNG LỚN HƠN VỚI TÀU CỘNG?

Image may contain: 2 people
Đỗ Ngà

TỪ HOÀNG VĂN HOAN ĐẾN LÊ KHẢ PHIÊU, AI CÓ CÔNG LỚN HƠN VỚI TÀU CỘNG?

Đỗ Ngà

Hoàng Văn Hoan là một người cùng quê Nghệ An với ông Hồ Chí Minh. Thời ông Hồ Chí Minh còn sống, chủ trương của ông ta là thân Tàu, và Hoàn Văn Hoan cũng vậy. Cả hai cùng là nhóm nhận nhiệm vụ từ Bắc Kinh và triển khai ở Việt Nam. Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Lê Duẩn lên nắm vị trí lãnh đạo đảng và ông Hồ Chí Minh dần mất quyền lực. Vào cuối thập niên 60 thì quyền lực đã nằm gọn trong tay Lê Duẩn và Lê Đức Thọ và Hồ Chí Minh chỉ còn là biểu tượng.

Sau khi Hồ Chí Minh chết năm 1969, thì Lê Duẩn ngày càng mâu thuẫn với Tàu Cộng và và tất nhiên, một kẻ thân Tàu như Hoàn Văn Hoan cũng ngày càng ngày càng thất sủng. Đến đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của ĐCS Việt Nam năm 1976, Lê Duẩn loại Hoàng Văn Hoan ra khỏi ban chấp hành trung ương. Và năm 1979, chiến tranh Việt Trung nổ ra, biết hết đất sống nên Hoan đã nhanh chân trốn sang Tàu tị nạn.. Đáp lại, ông Lê Duẩn cho bãi bỏ hết các chức vụ của ông Hoan trong đảng và trong nhà nước. Và đến ngày 26 tháng 6 năm 1980, theo lệnh của Lê Duẩn, chính quyền CS tuyên án tử hình vắng mặt ông hày vì tội phản quốc.

Hoàn Văn Hoan phiên âm Tiếng Tàu là Huang Wenhuan, tuy nhiên, sau đó ông ta đổi vứt bỏ tên Việt và đổi thành Li Guanghua. Li Guanghua sống ở Bắc Kinh và mất vào ngày 18 tháng 5 năm 1991 ở tuổi 86. Lễ an táng của Li lúc đó có rất nhiều tai to mặt lớn của Tàu Cộng tham dự gồm: Giang Trạch Dân – Tổng bí thư ĐCS Tàu, Dương Thượng Côn- chủ tịch nước của Tàu Cộng, Lý Bằng- thủ tướng Tàu, Vạn Lý – Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân, Kiều Thạch- Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân, Tống Nhiệm Cùng – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và rất nhiều quan chức cấp thấp hơn đến tham dự.

Li Guanghua được chính quyền CS Tàu cho ưu ái an táng tại Nghĩa trang Cách mạng Bát Bảo Sơn -Bắc Kinh, nơi mà chỉ dành cho các quan chức cấp cao trong ĐCS Tàu mà thôi, nó tương tự Nghĩa Trang Mai Dịch ở Hà Nội vậy. Trên mộ của Hoàng Văn Hoan, chính quyền Tàu Cộng cho ghi những dòng chữ trang trọng có nội dung như sau: “Mộ đồng chí Hoàng Văn Hoan-Nhà cách mạng lão thành Việt Nam-Người bạn lâu năm kính trọng của Nhân dân Trung Quốc”.

Vâng! Đó là một hình mẫu về một tội đồ dân tộc Việt Nam nhưng lại là kẻ có công với giặc Tàu. Ông Hoàng Văn Hoan là một người thuần phục tàu nhưng đã thất bại. Ông ta không thể cắt đất nhượng biển cho Tàu, ông ta không thể đưa ĐCS Việt Nam trở lại trong tay Tàu Cộng mà cuối cùng phải trốn chạy một cách khốn nạ. Ấy vậy mà ông ta cũng được Tàu ghi ơn, bởi đơn giản tuy thất bại nhưng tấm lòng của ông ta với quan thầy thì không thể phủ nhận. Thế thì câu hỏi đặt ra là, với những người mà đã đưa Việt Nam trở vào vòng tay Tàu Cộng thành công, rồi xóa bỏ Công Ước Pháp -Thanh để lập lại hiệp ước khác nhằm cắt chủ quyền Việt Nam trao tay Tàu thì Tàu sẽ đối xử với họ thế nào?! Chắc chắn “công ơn” của những người này đối với Tàu Cộng không nhỏ hơn công ơn của Hoàng Văn Hoan được.

Những người có “công lớn” đưa Việt Nam trở lại vòng tay Tàu Cộng đó là Nguyễn Văn Linh – Đỗ Mười – Phạm Văn Đồng. Còn người có “công lớn” cắt đất nhượng cho giặc là Lê Khả Phiêu với “Hiệp ước hoạch định biên giới đất liền” năm 1999 và “Hiệp Định Vịnh Bắc Bộ” năm 2000. Đấy là những kết quả có lợi rất lớn cho Tàu Cộng, tuy nhiên Tàu Cộng không thể tung hô những con người này như tung hô Hoàng Văn Hoan được, vì sao? Vì đơn giản, những con người này đang được bang tuyên giáo CS dùng để tô vẽ thành những con người “có công lớn với đất nước” nhằm tiếp tục lừa mị trăm triệu dân Việt nên họ không thể ghi ơn những kẻ này như Hoàng Văn Hoan được vì bất tiện.

Hôm qua, Tập Cận Bình cũng đã gởi điện chia buồn về cái chết của Lê Khả Phiêu. Trong bức điện ông Tập có nói “Đồng chí Lê Khả Phiêu là lãnh đạo tiền bối xuất sắc của VN”. Vâng! Chắc chắn ông ta chỉ “xuất sắc” trong mắt Bắc Kinh, chứ còn với dân Việt Nam thì ông ta là tội đồ với 2 hiệp định phân chia biên giới với Tàu Cộng làm cho Việt Nam mất đi phần diện tích bằng với đất nước Đông Timor. Có lẽ, nếu Lê Khả Phiêu mà sống ở Bắc Kinh như Hoàng Văn Hoan thì chắc chắn, Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường đã đến viếng như Giang Trạch Dân và Lý Bằng đã từng viếng Hoàng Văn Hoan vậy. Với dân Việt, đấy chỉ là cái chết của một tên bán nước, không hơn không kém. Rồi đây sử sách sẽ ghi tội.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:
https://baike.baidu.com/item/%E9%BB%84%E6%96%87%E6%AC%A2

http://hua.umf.maine.edu/…/Babaosh…/pages/051_Babaoshan.html

https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-53678087

THẤT BẠI…

8 SÀI GÒN
THẤT BẠI…

1. Một bản án dù đúng pháp luật nhưng không được dư luận đồng tình thì bản án đó bị coi là thất bại. Vụ kỷ luật cán bộ liên quan đến sai phạm đất đai ở Thủ Thiêm (TPHCM) cũng tương tự như vậy.

2. Xử lý cán bộ sai phạm trong vụ Thủ Thiêm theo kiểu “phủi bụi” là sự thách thức đối với đại đa số đảng viên chân chính và quần chúng nhân dân. Đó là đòn đánh ngang nhiên vào niềm tin, mà mất niềm tin thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng, có khi đưa đến những thất bại không thể khắc phục nổi.

3. Cụ Tổng đã thắp lên ngọn lửa chống tham nhũng, trừng trị quan chức làm bậy. Ngọn lửa đó đang bị tạt một gáo nước lạnh bởi cách xử lý cán bộ sai phạm trong vụ Thủ Thiêm. Đây là thất bại đáng kể nhất từ khi “cái lò” của cụ Tổng bùng cháy.

4. Không rõ cái gọi là “hết thời hiệu thì hành kỷ luật” xuất phát từ đâu, áp dụng theo quy định nào, nhưng có vẻ như “phong trào” này đang phất lên ở TPHCM “nghĩa tình”. Rõ ràng đây là thất bại nặng nề trong thực thi kỷ cương của Đảng, rất có thể sắp tới nó sẽ được các nơi khác khai thác triệt để, tạo thêm điều kiện cho các bọn xấu thoát khỏi “lưới trời lồng lộng”.

LÊ THANH TÂM

Image may contain: 10 people

MỘT KHÚC RUỘT GẦN

Đời vẫn vốn không nương người thất thế!

Nguyễn Tất Nhiên

Cũng như người Thái, người Lào, người Miến, người Miên đều không biết … uống cà phê. Cà phê đen họ pha rất dở, cà phê sữa cũng dở tương tự. Và nếu lỡ miệng mà gọi cà phê đá là… kể như tiêu. Bỏ, không uống thì tiếc (tiền) mà ực hết ly xong thì ruột rà muốn rã thành ra từng khúc!

Biết vậy nhưng sáng nào ở Phnom Penh tôi cũng tà tà vào quán kêu một ly xây chừng (cho có lệ) trước khi châm điếu thuốc – dù không nhớ nhà, và cũng chả nhớ cái con bà gì ráo. Chậm lắm, qua tới điếu thuốc thứ hai thì thế nào mấy cậu nhỏ bán báo cũng rà rà tới nài nỉ mua dùm một tờ (mở hàng) lấy hên.

Có bữa – xui – tôi vừa ngậm trong miệng một ngụm cà phê vừa liếc mắt vào bản tin của tờ Cambodia Daily, và mém sặc vì không nín được cười:

“Nước Cam Bốt và nước Trung Hoa cùng uống nước chung một dòng sông nên chúng ta có cảm giác như người cùng một gia đình vậy,” ông Zhao Jin – đại biểu của ban tuyên huấn thuộc tỉnh đảng bộ Vân Nam nói như vậy đó. (“Cambodia and China have drunk the water from the same river. Our sensations are like one fa­mil­y,” said Zhao Jin delegate of the Yunnan Provincial Party Com­mittee’s publicity department).

Thiệt nghe mà cảm động thiếu điều muốn té ghế luôn!

Chỉ tiếc là mối “hảo cảm” này không kéo dài lâu. Chỉ vài tháng sau, trang Freshnewsasia buồn rầu cho biết:

“Thủ Tướng Chính Phủ Cambodia đã ký một bức thư hủy bỏ lễ nước năm nay vì mức nước cạn queo và Cambodia đang phải đối diện với nạn hạn hán.” (According to Freshnewsasia, HE, the prime minister of Cambodia signed on a letter to cancel the celebration of this year water festival due to the low level of water and for the fact that Cambodia is facing with drought).

Uống chung một dòng sông với người Tầu hồi hộp thấy mẹ. Họ xây đập tùm lum ở khúc trên nên chỉ cần chận nước lại là mấy thằng khác đều khô mỏ ráo, nhứt là hai thằng (Miên/Việt) ở tuốt luốt phía hạ nguồn:

“Cư dân sống hai bên bờ sông Mekong luôn luôn bị chi phối bởi khí hậu Gió Mùa Tây-Nam thổi vào từ Vịnh Thái Lan. Mùa mưa bắt đầu từ tháng Năm đến tháng Chín, kết hợp với mùa tuyết tan từ rặng núi Hy Mã Lạp Sơn, nước sông Mekong dâng cao từ 2 tới 8 mét mênh mông tràn bờ làm ngập lụt một phần ba diện tích đất đai, phủ lớp phù sa màu mỡ mỗi năm lên khắp ruộng đồng.

Đó cũng là thời gian con sông Tonlé Sap đổi chiều chảy ngược vào Biển Hồ, tăng diện tích mặt hồ tới 10 ngàn cây số vuông, gấp bốn lần so với mùa khô và làm ngập hết các khu rừng lũ (flooded forest). Đây là Hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á. Các đàn cá từ sông Mekong cũng lội ngược dòng sông Tonlé Sap tới các khu rừng lũ chọn nơi trú ngụ an toàn để sinh đẻ và tăng trưởng.

Rồi mùa mưa qua đi để bước sang mùa khô từ tháng 1 tới tháng 5. Đây là thời gian mực nước bắt đầu ổn định và con sông Tonlé Sap lại chảy xuôi dòng với vô số tôm cá từ Biển Hồ đổ vào các nhánh sông Mekong và diện tích Biển Hồ bắt đầu co lại. (Ngô Thế Vinh. Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch. 2nd ed. Văn Nghệ: Westminster, 2002).

Vì bị vô số những con đập chận ở thượng nguồn, những năm gần đây, con sông Tôn Lê Sáp không còn đủ sức “đổi chiều chảy ngược vào Biển Hồ” như trước nữa. Không có nước thì dân Xứ Chùa Tháp miễn có Water Festival, đã đành; họ buộc phải treo niêu kho cá luôn mới là chuyện khó.

“Ngư nghiệp trên hồ nuôi sống 3 triệu người và cung cấp 75% sản lượng cá nước ngọt cùng 60% lượng chất đạm cho dân Campuchia.” Trong số ba triệu người này, tôi ước đoán, có ít nhất khoảng 10 phần trăm, nghĩa là khoảng 300 ngàn dân Việt!

Theo tường trình (“The Situation of Stateless Ethnic Vietnamese in Cambodia”) của Minority Rights Organization thì có khoảng năm phần trăm, hay 750.000 người gốc Việt, đang sinh sống ở đất Miên. Đây là số dân thiểu số đông nhất ở đất nước này.

Hầu hết họ đều là dân ngụ cư, không khai sinh, không căn cước, không được quyền tiếp cận với bất cứ dịch vụ xã hội nào, và (tất nhiên) không có quyền sở hữu tài sản hay đất đai gì ráo trọi. Bởi vậy, phần lớn kiều bào ở Miên (theo như cách gọi rất lịch sự của Đại Sứ Quán Việt Nam ở Phnom Penh) đều sống lêu bêu – rầy đây, mai đó – trên những túp lều nổi xung quanh Biển Hồ, hoặc dọc theo những nhánh sông phụ thuộc.

Họ sống làm sao?

Giản dị lắm. Chỉ cần một chiếc thuyền con, cùng một mái chèo, và hai ba người miệt mài quăng chài hay thả lưới suốt ngày – bất kể nắng mưa, bất chấp lệnh cấm – là có cá ăn, phần dư dôi cũng đủ để đổi lại vài ba ký gạo, ít mắm muối, và hai ba xị đế.

Y tế, giáo dục, thể thao, giải trí… đều là những khái niệm mơ hồ – nếu chưa muốn nói là xa xỉ – và chả ai có bao giờ nghĩ đến. Đời sống giản dị, và giản lược, từ tay đến miệng thôi hà.

Cho đến khi mà Cửu Long Cạn Dòng thì cuộc sống giản dị và giản lược, từ tay đến miệng, cũng trở nên bất khả:

– Khmer Times: “Vietnamese Families Leave the Tonle Sap.”

– Người Lao Động: “Biển Hồ cạn cá, hàng ngàn Việt kiều hồi hương trong nghèo túng.”

– BBC: “Biển hồ Tonle Sap … một thế giới bất ổn.”

– VOA: “Dưới những túp lều rách nát chen chúc rất nhiều số phận không căn cước, không có lấy mảnh đất cắm dùi. Họ từng bơ vơ, lạc lõng trên Biển Hồ.”

– RFA: “Người Việt ở Biển Hồ sẽ về đâu?”

Câu trả lời có thể tìm được trên báo Dân Trí :

“Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo cơ quan chức năng có giải pháp cụ thể chăm lo cho những Việt kiều nghèo từ Campuchia về nước, sống ở đầu sông Sài Gòn, đoạn nằm giữa 2 tỉnh Bình Phước và Tây Ninh…”

Chỉ cần một cái “chỉ đạo” cũng đủ thấy cái tầm, chưa nói đến cái tâm, của người đứng đầu chính phủ hiện hành ở Việt Nam. Việt kiều về từ Campuchia đâu phải chỉ có vài chục (hay vài trăm) ở đầu sông Sài Gòn. Họ đang sống vất vưởng tại rất nhiều nơi khác nữa: Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, Đồng Nai, An Giang, và Kiên Giang.

Tình trạng Biển Hồ cạn nước, và tình hữu nghị Việt/Miên cũng đang đang từng bước cạn theo thì số lượng người Việt buộc phải hồi hương sẽ mỗi lúc một tăng. Đây là một vấn đề lớn.

Ở tầm mức quốc gia, có thể ảnh hưởng cả đến những thế hệ sau. Cần cả một uỷ ban đặc nhiệm và chuyên trách, với những kế hoạch ngắn hạn cũng như dài hạn, chớ đâu phải chỉ một cái “phẩy tay” là xong được – cha nội! Cỡ Thủ Tướng mà bạ đâu nói đó, nói cho đã miệng (và cho qua chuyện) vậy sao?

Tuy hiện tại nhà nước VN có một ông Trợ Lý Bộ Trưởng, Chánh Văn Phòng Bộ Ngoại Giao, Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao – Chủ Nhiệm Ủy Ban Nhà Nước Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài (cùng ba vị Phó Chủ Nhiệm Thường Trực nữa) nhưng họ chỉ “chuyên trách” về những khúc ruột xa ngàn dặm và có “tiềm năng kiều hối” mà thôi.

Chớ khúc ruột gần thì (xin lỗi) không ai rảnh đâu nha.

Image may contain: text
Image may contain: one or more people, outdoor and nature

ĐỂU GIẢ CẢ MỘT ĐẢNG

Ngô Thứ
ĐỂU GIẢ CẢ MỘT ĐẢNG

_______
Châu Đoàn.

“Ông Tất Thành Cang vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật, nhưng do đã hết thời hiệu xử lý kỷ luật đảng nên Ban Chấp hành Đảng bộ TPHCM thống nhất kết luận phê bình.”

Ha ha ha ha ha!

Các vị đang biến luật pháp ở đất nước này thành một trò đùa.

Bao đau khổ của người dân mất đất, cả suối nước mắt dân Thủ Thiêm đã đổ, có cả những mạng người đã mất trong quằn quại uất ức… những điều ấy có hết thời hiệu không?

Cứ thế này mà các vị phát triển ra thì một tên giết người, sau bao năm trốn truy nã liệu có được tha vì “hết thời hiệu” không?

Thế này thì cứ cán bộ nào sai trái thì đơn giản là câu giờ, chờ hết thời hiệu là hoà cả làng phải không?

Tôi cười vậy đấy nhưng trong lòng cảm thấy cay đắng vô cùng khi các vị coi quyền lợi của dân, máu và nước mắt của người dân rẻ rúng quá.

Tất Thành Cang đã gây bao sai trái, rồi vẫn làm cán bộ, vẫn oai như cóc, chẳng lẽ đất nước này mạt đến mức này sao?

Trơ trẽn, coi thường dân đến thế là cùng!

Các vị đã rất nhân văn, nhân văn một cách rất đểu giả!

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10158425356973965&id=704543964

Image may contain: 1 person, text
No photo description available.

ĐỒNG ĐĂNG và Ải Nam Quan xưa

Image may contain: mountain, sky, outdoor and nature
Image may contain: one or more people, mountain, sky, text, outdoor and nature
Image may contain: one or more people, tree, sky and outdoor
No photo description available.
Image may contain: sky, tree, outdoor and nature
+27
Phan Thị Hồng

ĐỒNG ĐĂNG và Ải Nam Quan xưa

@Quan Nguyen Thanh

Việt Nam 1896-1900. Phía trước, cửa Ải Nam Quan của Việt Nam với tường thành hai đoạn ngắn lên núi hai bên. Phía sau, Trấn Nam Quan (Trung Quốc) và tường thành chạy dài lên núi hai bên do Tàu xây.

Năm 1999 Hiệp ước phân chia biên giới Việt Nam – Trung Cộng, lúc đó là Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu, Phan Văn Khải đã nhượng cho Trung Cộng cả Ải Nam Quan, một nửa Thác Bản Giốc, và 15 ngàn cây số vuông đất dọc biên giới Việt – Trung. Cũng sang tháng 12 năm 2000, lại là bộ 3 quyền lực đó đã cắt 15 ngàn cây số vuông Vịnh Bắc Bộ bán cho Trung Cộng ở Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ.

Bây giờ cửa Ải Nam Quan của VN không còn nữa. Và Trấn Nam Quan nằm sâu trên đất Tàu.

=========

La Porte de Chine (1896-1900)
source: Séjour d’un cartographe militaire français en Indochine (1896-1900).

[gallica.bnf.fr/ark:/12148/btv1b8448937s/f101.item.zoom]
(http://gallica.bnf.fr/a…/12148/btv1b8448937s/f101.item.zoom…)

*

Nguồn: Fb Quan Nguyen Thanh

https://www.facebook.com/groups/1399481216981167/permalink/2675579002704709/