Tình hình nhân quyền Việt Nam 2020: chính quyền bất chấp luật pháp và dư luận quốc tế

Để có cái viển ảnh thực tế về tình hình nhân quyền của Việt Nam trong năm tới, ông Tam nói cần phải xét lại thành quả của những năm trước. Ông phỏng đoán rằng chính quyền Việt Nam cũng đã nghiên cứu về phong trào đấu tranh dân chủ trong 10 năm qua và đã “bắt tẩy” được cách hoạt động của họ để từ đó có chính sách đàn áp tinh vi hơn.

“Theo dõi phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt Nam, phong trào đòi nhân quyền ở Việt Nam trong vòng 10 năm trở lại đây thì tôi cảm thấy hơi tiếc là có vẻ như phong trào dậm chân tại chỗ.

Nếu nói về mức độ thì có vẻ như là nó phát triển rất là mạnh mẽ, nhưng mà về tính chất và phương thức hoạt động thì trong vòng 10 năm qua nó không có sự thay đổi.

Chúng ta chỉ quanh đi quẩn lại những việc như là lên tiếng ở trên mạng xã hội hoặc là tiến hành biểu tình.

Trong khi đó thì các phương thức đấu tranh bất bạo động thì nó có thể lên tới gần 200 phương thức khác nhau mà chúng ta thì không áp dụng bất cứ một cái phương thức nào”.

Ông Tam cho rằng, năm 2020 cũng đã có nhiều cuộc tranh luận về các vấn đề chính trị trong và ngoài nước, và điều này có thể giúp phong trào trao dồi thêm về những vấn đề chính trị.

Từ đó, ông nói, các nhà đấu tranh phải thay đổi phương thức hoạt động nếu muốn thay đổi viển ảnh cho tương lai trước mắt.

“Nếu như chúng ta không thay đổi các phương thức hoạt động thì tôi đánh giá là năm 2021 nó vẫn tiếp tục xấu đi rất là nhiều.

Và cái việc xấu này thì nó không phải xuất phát từ phía chính quyền Việt Nam mà nó do cái sự trì trệ của phong trào”.

#RFAVIETNAMESE #Vietnam #VietnamHumanRights

CÁN BỘ KHÔNG BIẾT CHỮ, NHƯNG VẪN LÀM LÃNH ĐẠO

Image may contain: 5 people, text
Xuan Ly   is with  Joseph Cao

CÁN BỘ KHÔNG BIẾT CHỮ, NHƯNG VẪN LÀM LÃNH ĐẠO

Các bạn nghĩ gì khi lãnh đạo Huyện ở Hà nội lỡ miệng nói “tôi không biết chữ”

Sau khi buột miệng, vị cán bộ này đã lảng tránh, tìm đường rút lui trước và tránh trả lời những câu hỏi của phóng viên.

Vấn đề đặt ra là tại sao có chuyện một người không biết chữ mà làm lãnh đạo?

Phải chăng là dùng tiền đút lót để có vị trí cao trong Đảng để tha hồ có cơ hội để mà “tham nhũng”?

Thật sự những chuyện này xảy ra thường xuyên trong nội bộ của Đảng ở nhiều cấp, từ địa phương lên đến trung ương trong nhiều năm qua, chứ không phải mới đây.

Chính vì chuyện bình thường này xảy ra khi tổ chức Đại hội Đảng tuyển lựa nhân sự, cho nên ông Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhắc nhở trong nội bộ tìm cách ngăn chặn cán bộ chạy chọt vào Trung Ương.

“Không để lọt vào Trung ương những người xu nịnh, chạy chọt, tham vọng quyền lực” ông nói.

Có đến giờ, vấn đề này vẫn không thể giải quyết được, vì sự tham tiền của một số nhân sự trách nhiệm của Đảng. Điểm mấu chốt của vấn đề là đưa người chạy chọt ở một số vị trí lãnh đạo, vừa được tiền, vừa có thể tạo thêm vây cánh.

Đại hội Đảng 13 sắp tới đây, chắc chắn sẽ không tránh khỏi việc cán bộ chạy chọt để giành những vị trí lãnh đạo trong Đảng.

Các bạn đoán xem, sẽ có bao nhiêu cán bộ lãnh đạo “không biết chữ” hoặc cầm “bằng cấp giả” nằm ở vị trí cao trong nhiệm kỳ tới?

Fb Lê Ánh

NGUYÊN TẮC “TRỪ TAO”- MỘT “ĐẶC SẢN” CỦA CS

 

NGUYÊN TẮC “TRỪ TAO”- MỘT “ĐẶC SẢN” CỦA CS

Đỗ Ngà

Đứng trên luật pháp là gì? Diễn giải một cách dễ hiểu thì “đứng trên luật” nó mang nghĩa thế này đây: “Luật sẽ áp dụng cho mọi người trừ tao”. Nhân vật “Tao” trong câu nói ấy chính là kẻ đứng trên luật pháp. Thời Phong Kiến tồn tại nhiều ngàn năm với quy tắc luật pháp như vậy “Luật pháp được phép áp dụng cho mọi người trừ Tao”. “Tao” đó là vua. Nói chung thời Phong Kiến nó tồn tại 2 tầng luật, một là luật pháp hai là lệnh vua. Lệnh vua đè bẹp luật pháp.

Thể chế dân chủ hình thành, nó tiến bộ hơn Phong Kiến bởi vì nó đã loại bỏ hệ thống 2 tầng luật của thời phong kiến và chỉ còn 1 tầng luật, đó là luật pháp cho tất cả. Có người lại ví Sắc lệnh Hành pháp của tổng thống tựa như “phép vua” nhưng kì thực nó không phải, Sắc lệnh Hành pháp ở Mỹ nó đứng dưới luật, nó sẽ bị tòa án hiến pháp loại bỏ nếu nó trái luật hoặc vi hiến. Tuy nhiên ở Việt Nam thì khác, Nghị định có phủ định luật pháp, luật pháp có thể phủ định hiến pháp là bình thường. Nói chung luật của CS là một mớ hổ lốn không nghiêm nên dễ tạo ra những thứ đặc quyền dành cho lãnh đạo, từ đó nó tự tung tự tác chèn ép dân lành.

Ngày 28/9/2013, khi tiếp xúc với cử tri quận Tây Hồ và Hoàn Kiếm trước kì họp thứ 6 Quốc hội khoá 13, ông Trọng nói rằng “Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng nhất sau cương lĩnh của Đảng”. Nói cho dễ hiểu thì câu phát biểu này của ông Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa như sau: “Luật pháp sẽ áp dụng cho mọi người trừ Bọn Tao”. Nhân vật “Bọn Tao” trong câu văn ấy chính là ĐCS.

Hiện nay ông Nguyễn Phú Trọng bị 2 tiêu chuẩn chặn lại không cho ông tiếp tục ngồi lại ghế tổng bí thư nữa: Tiêu chuẩn thứ nhất, là ông đã đủ 2 nhiệm kỳ, trong khi đó Điều 17 trong Điều Lệ Đảng có quy định là “Đồng chí Tổng Bí thư giữ chức vụ Tổng Bí thư không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp”; Tiêu chuẩn thứ nhì, đó là Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban bí thư tái cử thì tuổi không quá 65. Như vậy nếu đúng quy tắc của “đảng luật” thì ông Trọng phải tự động về vườn sau đại hội 13 vào cuối tháng 1 đầu tháng 2 năm 2021 sắp tới. Tuy nhiên cho đến nay, điều kiện tái cử cho ông Nguyễn Phú Trọng vẫn còn đang bỏ ngỏ. Ông Trọng vẫn đang muốn đạp lên trên đảng luật của đảng ông để biệt đãi riêng cho mình. Nghĩa là ông Trọng đang muốn làm sống lại nguyên tắc “Đảng luật dành áp dụng cho mọi đảng viên, từ Tao”.

Ở đại hội 12 năm 2016, khi đó ông Trọng đã 72 tuổi, qua tuổi quy định đến 7 tuổi nhưng vì áp dụng nguyên tắc “trừ Tao” nên ông được tiếp tục nhiệm kỳ 2 chức tổng bí thư, trong khi đó Nguyễn Tấn Dũng 66 tuổi vượt tuổi có 2 năm nhưng bị loại. Hiện nay báo chí CS cũng đang rầm rộ nói rằng, trung ương đảng đã đưa ra “trường hợp đặc biệt” để cho một số lãnh đạo chủ chốt trong Bộ Chính Trị được tại vị. Nói cho cùng “trường hợp đặc biệt” ấy chính là “nguyên tắc trừ Tao” chứ chả có gì khác. Người ta nghi ngờ rằng, đây là là một nguyên tắc dọn đường cho ông Nguyễn Phú trọng tiếp tục ôm ghế.

Thời Phong kiến, chỉ một quy tắc “trừ Tao” thì luật pháp bị phân thành 2 tầng khác nhau, và con người đã không được hưởng nhà nước pháp quyền. Đến thời dân chủ người ta vứt bỏ quy tắc “trừ Tao” thì lúc đó nhà nước pháp quyền ra đời và thúc đẩy nhân loại tiến tới văn minh tiến bộ. Tuy nhiên, bất chấp những giá trị dân chủ ưu việt, CS vẫn muốn đưa loài người trở lại thời man rợ hơn cả phong kiến. CS không những dùng một mà đến 2 nguyên tắc, đó là “trừ bọn Tao” và “Trừ tao” để phân luật pháp thành 3 tầng với tầng càng cao càng nhiều biệt đãi, chính điều này tạo ra một xã hội bất bình đẳng với tầng càng cao thì càng lộng quyền, tầng càng thấp càng bị oan ức.

Ở Hàn Quốc, tổng thống bị kết tội không ít, nhưng ở Việt Nam tổng bí thư “luôn trong sạch” còn đảng viên nếu tham ô ngàn tỷ nhưng án thì còn nhẹ hơn người dân lỡ tay ăn cắp… con vịt. Xã hội bất công, số ít ăn cướp số đông, số ít đè đầu cưỡi cổ số đông… cũng vì thứ nguyên tắc “từ Tao” khốn nạn ấy mà ra. “Trừ Tao” nó là một “đặc sản” của CS.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/…/dieu-le-dang-do…

https://vnexpress.net/bo-phieu-bieu-quyet-nhan-su-tham…

Image may contain: outdoor and nature

Hoa Thốt Nốt & Đàn Ta Lư

Hoa Thốt Nốt & Đàn Ta Lư

 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) – Tôi qua Cambodia chơi, nhìn quanh, thấy thiên hạ xếp hàng nườm nượp đi thăm Đế Thiên – Đế Thích nên tôi cũng đi luôn cho nó… giống với người ta. Tới nơi mới biết – té ra – hồi đầu thế kỷ XX, học giả Nguyễn Hiến Lê đã tìm đến nơi này rồi. Ông ghi nhận:

“Người Miên ưa đục hình trên đá. Ở điện Angkor Vat có trên 12.000 thước vuông đá đục hình về đời các vị thần thánh. Ở đền Bayon, hình diễn lại đời sống hàng ngày và phong tục đương thời. Ở Sân Voi tại Angkor Thom, trên bốn trăm thước chiều dài, hiện lên hình những loài vật lớn bằng vật thiên nhiên.”

Qua đầu thế kỷ XXI thì nhiếp ảnh gia NgyThanh cũng đã vác máy đến đây, và thu vào ống kính nhiều hình ảnh tuyệt vời:

“Tôi không có thói quen mang thước và máy ảnh theo người nên không biết Đế Thiên – Đế Thích dài/rộng cỡ nào, và kỳ vỹ ra sao. Chỉ nhớ mình vừa qua khỏi cổng chính là đã thấy… mấy mợ hàng rong. Họ chào mời du khách mua nước thốt nốt ướp lạnh.

Tôi cũng muốn thử chơi một ly cho biết nhưng ngần ngừ một lát rồi tiếp tục đi. (Mới ực hai lon bia Cambodia xong, còn chưa biết W.C chỗ nào, ngu sao mà uống nữa). Vừa đi, vừa nhớ tới một người bạn cũ: Hà Trung Liêm.

Gần 30 năm trước (lúc cả Khmer Rouge và lính Việt Nam đều còn hiện diện ở Cambodia) tôi và anh cũng đã lén chui từ tỉnh Aranyaprathet (Thái Lan) sang Poipet để “tham quan” Xứ Chùa Tháp mấy lần rồi.

Có lần, đang nằm võng giữa rừng thì Liêm móc trong ba lô ra tờ báo Quân Đội Nhân Dân, rồi chỉ cho tôi xem một đoạn thư tình của một anh lính bộ đội gửi (từ chiến trường phía Tây) về cho người yêu bé bỏng ở hậu phương Hà Nội: “Anh muốn cài lên tóc em một cành hoa thốt nốt…”

Hai thằng cười lăn, cười lộn thiếu điều muốn đứt võng luôn. Hơn một phần tư thế kỷ đã qua, tôi không còn nhớ được tên tác giả bức thư tình (“bất hủ”) nói trên nhưng vẫn còn giữ nguyên ấn tượng về sự liều lĩnh (quá cỡ) của tác giả.

Ông ấy chưa bao giờ nhìn thấy cây thốt nốt nên mới dám có ý nghĩ dại dột cài nguyên một buồng hoa (dám nặng cỡ chục kí lô) lên mái tóc của người yêu bé bỏng. Con nhỏ mà gẫy cổ là vô tù về tội ngộ sát (hay cố sát) như không, chớ đâu phải chuyện giỡn chơi – cha nội?

Sau này, có dịp nghe Huy Thục tâm sự trên báo Công An Nhân Dân (“Nhạc Sĩ Huy Thục Và Những Bài Ca Đi Cùng Năm Tháng”) tôi mới biết là ông nhạc sĩ này còn liều lĩnh và ẩu tả hơn nhiều: “Đi cùng các đơn vị chiến đấu ở Cam Lộ, Khe Sanh, hình ảnh các cô gái Vân Kiều gùi trên vai những quả đạn pháo, tên lửa nặng trĩu, vẫn với chiếc đàn Ta Lư đeo trước ngực, cất tiếng ca mừng các anh giải phóng quân đã làm tôi xúc động viết nên những nốt nhạc đầu tiên cho Tiếng đàn Ta Lư.” 

Tôi bảo đảm là đại tá nhạc sĩ Huy Thục cũng chưa bao giờ nhìn thấy một cái tên lửa. Thằng chả chỉ “suy đoán” rằng “tên lửa” và “tên tre” đều là tên cả, và chỉ khác nhau (xíu xiu) về kích thước và trọng lượng thôi nên mới dám “bắt” đám con gái Vân Kiều “gùi trên vai nặng trĩu” như thế. Đã thế, trước ngực mỗi cô còn đeo lủng lẳng chiếc đàn ta lư, và vừa đi vừa hát nữa chớ.

Thiệt là quá đã, và quá đáng!

Huy Thục nổi tiếng với hai bản nhạc cách mạng: “Tiếng Đàn Ta Lư” và “Cô Gái Pa Kô.” Ông cũng nhận được nhiều bổng lộc cùng khen thưởng: giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam (1993, 1995), giải thưởng Bộ Quốc Phòng (1994), giải thưởng Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh (1980), cùng với cả đống huy hiệu hay huy chương gì đó – ngó mà hoa mắt!

Thế còn còn mấy cô gái Vân Kiều và cô gái Pa Kô thì sao? Câu trả lời có thể tìm được qua một bài phóng sự (“Người Dân Tộc Thiểu Số Vân Kiều Và Pa –Kô”) của Nhóm Phóng Viên Tường Trình Từ Việt Nam, RFA:

“Có thể nói rằng đời sống của bà con đồng bào thiểu số Vân Kiều và Pa – Kô khổ cực không còn gì để nói. Đi dọc theo đường 9 Nam Lào từ thành phố Đông Hà lên cửa khẩu Lao Bảo, qua khỏi những dãy nhà ngói đỏ chói của thành phố chừng 10km, đến đoạn sông Dakrong chảy dọc đường 9 Nam Lào, nhìn sang bên kia sông là những mái nhà lụp xụp nằm lặng lẽ trên đồi, nhìn lại bên cánh rừng dọc đường 9 cũng nhiều mái nhà sàn lợp tranh nhỏ xíu, tuềnh toàng gió lộng nằm giữa các nương sắn hoặc giữa các ngọn đồi trọc. Cảnh nghèo đói hiện ra xác xơ, tiều tụy.

Thi thoảng, trên đường đi, bắt gặp vài cụ già gùi củi trên lưng khom người đi bộ, cố lê chân từng bước một, bước đi vô hồn, nghe có cả âm thanh réo sôi của bụng đói và nỗi buồn tuổi già bóng xế trong tiếng chân bước. Không những thế, có nhiều cụ bà già 60, 70 tuổi phải gùi củi, măng, bắp chuối đi từ 6 đến 9km từ nhà đến trung tâm thương mại Việt – Lào – Thái hoặc chợ Khe Sanh để bán.”

Mấy “bà già gùi củi trên lưng khom người đi bộ, cố lê chân từng bước một, bước đi vô hồn, nghe có cả âm thanh réo sôi của bụng đói” trên “đường 9 Nam Lào từ thành phố Đông Hà lên cửa khẩu Lao Bảo” hôm nay chính là những cô gái Vân Kiều hay Pa Kô mấy chục năm về trước. Chớ còn ai vô đó nữa?

Ngày trước: “Gùi trên vai súng đạn ra hoả tuyến/ Gạo ngàn cân em gùi ra chiến trường/Để bộ đội chúng ta ăn no mà đánh thắng giặc Mỹ…” Ngày nay họ “gùi củi, măng, bắp chuối đi từ 6 đến 9km” để mang đi bán kiếm tiền độ nhật. Và đời sống thường nhật của họ được thiên hạ mô tả là “khổ cực không còn gì để nói.”

Nghe như thế người ta rất dễ có cảm tưởng (hay hiểu lầm) rằng Chính Quyền Cách Mạng là cái đồ ăn cháo đá bát, hoặc cái thứ bạc nghĩa vô ơn.

Không dám “vô ơn bạc nghĩa” đâu!

Coi nè:

Tổng công ty Hàng không VN (Vietnam Airlines) cho biết, sẽ triển khai Quy định ưu tiên đối với người có công với cách mạng khi làm thủ tục lên máy bay…

Ưu tiên tại khu vực soi chiếu an ninh, khách được ưu tiên sử dụng lối đi riêng dành cho khách hạng thương gia hoặc khách hàng thường xuyên.

Dịch vụ ra tàu bay khách ra tàu bay trước cùng với các khách ưu tiên khác.

Hành khách là người có công với cách mạng cần xuất trình đầy đủ giấy tờ xác nhận đi kèm (bản sao không cần chứng thực) để được ưu tiên phục vụ.”

Thiệt là ơn nghĩa và tử tế hết biết luôn.

Còn bằng cách nào mấy bà già Vân Kiều, Pa Kô lọt vô được sân bay để các “hãng hàng không ưu tiên phục vụ đối tượng người có công với cách mạng theo quy định của nhà nước” thì lại là chuyện khác. Chuyện này nhà nước hoàn toàn vô can. Tui… cũng vậy.

Mới đi thăm quần thể Đế Thiên – Đế Thích về, lội bộ muốn rã cẳng luôn. Mệt thấy mẹ. Viết được bi nhiêu cũng đã muốn ứ hơi rồi. Thôi tui đi ngủ nha. Chuyện (dài) của mấy má Pako và mấy má Vân Kiều xin để lại bữa sau, hoặc kiếp sau, đi. Good night & good luck!

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

danlambaovn.blogspot.com

Làm người yêu nước

Làm người yêu nước

Thứ Bảy, 12/19/2020  tuankhanh

Lần đến gặp nhà nghiên cứu Phan Thuận An ở Huế, ông giới thiệu cho thấy một văn bản thú vị có từ thời vua Bảo Đại – rất quan trọng – để chứng minh rằng Hoàng Sa thuộc về Việt Nam.

Bản gốc tấu chương năm 1939, của học giả Phạm Quỳnh, bấy giờ có chức Tổng lý đại thần, gửi cho vua Bảo Đại để xin ủy lạo cho binh sĩ đồn trú ở Hoàng Sa, nơi thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam.

Vào thời ấy việc di chuyển ra Hoàng Sa bằng thuyền, đồn trú luân phiên của binh sĩ rất khó khăn. Không chỉ là trấn giữ phần đảo chủ quyền, mà đôi khi phải đánh nhau với hải tặc và cứu hộ cho ngư dân Việt.

Bắc Kinh thì luôn đưa ra những lý luận cho thấy rằng Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc, lấn át và thách thức Việt Nam về các chứng cứ chủ quyền. Văn bản quý của nhà nghiên cứu Phan Thuận An đưa ra là một trong những chứng cứ mạnh mẽ và dứt khoát về việc Hoàng Sa thuộc người Việt Nam cho đến tận thời kỳ vương triều cuối cùng.

Với tấm lòng yêu nước, nhà nghiên cứu Phan Thuận An gửi tặng bản gốc tấu chương cho Hà Nội, để nhằm góp vào những cứ liệu bảo vệ chủ quyền tổ quốc, theo lời kêu gọi lúc ấy. Ông chụp lại để làm bằng chứng, và kỷ niệm, treo ngay trong phòng khách nhà mình. Nhưng không hiểu vì sao chưa bao giờ thấy Hà Nội chính thức sử dụng tư liệu này trong việc tranh cãi về chủ quyền Hoàng Sa với Trung Quốc, và cũng không thấy chia sẻ bản văn này với bất kỳ nhóm nghiên cứu hay nhà nghiên cứu nào về biển Đông trong việc chống lại các luận điệu xâm lược hàm hồ của Trung Quốc.

Khi hỏi ông rằng, liệu ông có biết giờ này văn bản đó ở đâu không? Nhà nghiên cứu cả đời gắn với Huế cười buồn, “chỗ mô thì chỉ có họ biết thôi”. Ông nói rằng ông chỉ làm hết trách nhiệm của một công dân với tổ quốc – đặc biệt là một công dân ý thức mình là người Việt Nam – chứ không vì bất kỳ chuyện công danh hay lý tưởng chủ nghĩa gì cả.

Khác với những kẻ sau năm 1975 được tự tung tự tác chiếm đoạt các tài liệu quý của nhà Nguyễn, cũng như từ văn khố lưu trữ của nhà nước Việt Nam Cộng Hòa, rồi tự xưng mình là Huế học hay là nghiên cứu cách mạng gì đó, nhà nghiên cứu Phan Thuận An tự mình đã viết lên hàng trăm công trình nghiên cứu, chọn sống một đời kể lại quá khứ có thật, và khiêm tốn.

Theo lời của nhà nghiên cứu Phan Thuận An thì sau tấu chương của Phạm Quỳnh, các binh sĩ được Hoàng đế Bảo Đại thưởng hậu.

Cũng như hậu sinh Phan Thuận An, học giả Phạm Quỳnh cũng đã làm tất cả mọi thứ trong đời mình với một trách nhiệm công dân, chứ không chỉ là một quan chức dâng tấu chương. Thế nhưng tâm huyết của ông với đất nước và văn hóa Việt Nam được đổi lại bằng án tử hình bởi những người cộng sản, hay nói chính xác hơn là từ Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Thừa Thiên, vào năm 1945.

Trong tạp chí Xưa và Nay số 269 (tháng 10/2006), do người chịu trách nhiệm là nhà sử học Dương Trung Quốc, cũng ghi chép lại việc tử hình ông bởi cách mạng. Toàn văn kết án của Ủy ban Khởi nghĩa Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa án quân sự Thuận Hóa ngày 9/12/1945, ghi rằng:

“Phạm Quỳnh, một tay cộng sự rất đắc lực của giặc Pháp trong việc củng cố địa vị của Pháp ở Đông Dương, đã bao phen làm cho quốc dân phải điêu đứng. Phạm Quỳnh đã giúp sức cho quân cướp nước làm mê muội dân chúng Việt Nam. Với cái nghề mãi quốc cầu vinh, Phạm Quỳnh đã từ một tên viết báo nhảy lên một địa vị cao nhất trong hàng quan lại Nam triều. Phạm Quỳnh lại còn dựa vào thế lực Pháp và địa vị của mình bóc lột, vơ vét tài sản của quốc dân. Mặc dầu chính quyền của giặc Pháp đã bị truất sau ngày đảo chính 9-3-1945, nhiều triệu chứng tỏ rằng Phạm Quỳnh chỉ chờ cơ hội rước bọn thực dân Pháp đến làm cho diệt nước chúng ta”. (trích)

Trong văn bản này, còn hai người nữa bị kết án tử hình nữa là Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân, thuộc gia đình của tổng thống đệ nhất VNCH Ngô Đình Diệm. Được biết, vừa khởi nghĩa chiếm chính quyền, Ủy ban Cách mạng vừa cho người đến bắt ngay cả ba ông, vào ngày 23-8-1945.

Xưa và Nay cũng có trích lời của nhà sử học Cộng sản Trần Huy Liệu rằng việc kết án và giết hại Phạm Quỳnh là điều sai lầm và hoàn toàn vô lý. Kết luận của bài nghiên cứu lịch sử rằng việc giết người đó, vô cùng “lạc lõng” trong thời đại cách mạng đang muốn chinh phục lòng người của ông Hồ Chí Minh. Tiếc thay sự thật thì vẫn còn đó, nhưng những câu chuyện để bảo vệ sự thật như ở Xưa và Nay, thì cũng hết sức lạc lõng trong một thời đại thiếu ánh sáng.

Đọc chuyện xưa, mà sợ. Những nỗ lực gây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam với tư cách công dân yêu nước của học giả Phạm Quỳnh chỉ được đổi lại bằng cái chết, và sự thật bị bóp méo.

Nghe chuyện nay, rồi buồn. Tư liệu nghiên cứu công phu với tư cách công dân yêu nước của nhà nghiên cứu Phan Thuận An cũng được đổi lại bằng sự thờ ơ, và lãng quên.

Và cũng có rất nhiều công dân yêu nước khác trên đất nước này đã làm tất cả theo bổn phận và lương tâm, nhưng rồi chỉ được đổi lại bằng sự đe dọa, sách nhiễu hay tù đày như Trần Huỳnh Duy Thức Nguyễn Văn Hóa, Hoàng Bình, Trần Đức Thạch… và rất nhiều người khác nữa, không thể kể hết.

Ngẫm lại, sống với một lương tâm công dân yêu nước, thật khó biết bao.

Female activist Le Thi Binh Arrested

Image may contain: 1 person, closeup

Female activist Le Thi Binh Arrested

On December 22, authorities in the Mekong Delta city of Can Tho arrested female activist Le Thi Binh and charged her with “abusing democratic freedom” under Article 331 of the Criminal Code. They accuse her of posting anti-state statuses on her Facebook page.

Ms. Binh, born in 1976, is a younger sister of former prisoner of conscience Le Minh The, who was arrested in October 2018 on the same allegation. He was later sentenced to two years in prison, and completed his imprisonment in July this year.

With Binh’s detention, the number of prisoners of conscience rose to 253, according to Defend the Defenders’ latest statistics.

Nhà Nước Tận Thu & Nhân Dân Tận Diệt

Nhà Nước Tận Thu & Nhân Dân Tận Diệt

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Wed, 11/11/2015 – 08:22 — tuongnangtien

http://www.rfavietnam.com/node/2901

Tỉ lệ thuế và phí dân VN phải chịu đóng/GDP cao từ 1,5 đến 3 lần các nước trong khu vực là để nuôi tới 3 bộ máy chồng chéo chéo chức năng, nhiệm vụ với nhau: đảng cộng sản, chính phủ, các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội trong Mặt trận tổ quốc từ TW tới địa phương.

Võ Thị Hảo

*

Mai tôi ra đi chắc Cambodia mưa …
Mưa thì mưa chắc tôi không bước vội
Nhưng chậm thế nào cũng phải xa nhau …

Tui cũng thơ thẩn vài câu cho ông Nguyên Sa vui lòng (nơi chín suối) chớ chuyến này “xa nhau”  luôn cũng được, cũng không có gì đáng tiếc. Sau hai mùa nắng (như đổ lửa) và hai mùa mưa (như thác đổ) tui đã ớn cái xứ Chùa Tháp này tới tận ngón chân út của mình rồi.

Từ phòng đợi của phi trường Pochentong, nhìn Nam Vang ảm đạm trong bầu trời xám xịt (nói thiệt) tôi cũng cảm thấy có hơi ái ngại nhưng tiếc thương hay vương vấn thì không. Nhất định là không.

  • Adieu Phnom Penh!

Tôi vừa thầm thì lời từ giã xong thì một cậu nhỏ bán báo (bất ngờ) xuất hiện, miệng mồm liếng thoắng:

  • The Cambodia Daily! The Cambodia Daily! The Cambodia Daily!

Còn báo chí mẹ rượt gì vào giây phút giã từ này nữa, cha nội?  Nói “vĩnh biệt” rồi là kể như hết chuyện. Từ nay, đường ai nấy đi; tiền ai nấy sài; hồn ai nấy giữ. Bận lòng chi nữa lúc chia phôi ?

Đã định lắc đầu nhưng cái tựa bản tin nơi trang nhất (“Hun Sen Announces Broad Cuts of Petty Taxes”) khiến tôi đổi ý:

“The country’s lower class will receive a series of tax breaks starting in 2016, Prime Minister Hun Sen announced Thursday, with tariffs on motorbikes, tuk-tuks and farm machinery to be waived, along with fees at stalls in state-owned markets. “From next year onward, the road tax for motorbikes, tuk-tuks and agricultural machinery such as tractors, tillers and boats will no longer be charged,” he said. “It will be cut off.”

“Từ năm tới, xe gắn máy, xe tuk-tuk, xe máy cầy, ghe thuyền sẽ không phải chịu thuế nữa,” ổng nói vậy đó. “Sẽ bỏ luôn.”

Trời, sao cái thằng cha Thủ Tướng Hunsen này bảnh dữ vậy cà? Tôi chưa bao giờ nghe ông Phạm Văn Đồng, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải “tuyên bố” một câu ngon lành (bằng một phần ngàn) cỡ đó. Và qua tới “trào” ông Nguyễn Tấn Dũng thì chuyện thuế phí khiến cho cả nước đều muốn “trào máu họng” luôn:

          – NLĐ: Phí chồng phí.

          – VOV: Ra ngõ gặp trạm thu phí.

          – MTG: Kỷ lục khó phá: Gần 10 cây số có 5 trạm thu phí.

          – VOVGT: Bức xúc thu phí, tài xế dàn xe chặn huyết mạch Tây Bắc.

          – TTO: Lệ phí đăng ký mới ôtô tại TP.HCM tăng lên 11 triệu đồng/xe, gấp 5,5 lần so với trước.

          – BVSC: Vận tải biển – Đang khó khăn lại còn tăng phí.

          – TTO: Hầm chưa xong đã thu phí: hàng triệu lượt xe khi đi qua đèo Cả phải chấp nhận đóng một khoản phí   đường bộ hết sức vô lý khi hầm đường bộ đèo Cả chưa đưa vào khai thác.

          – BAB: Tăng phí công chứng các loại hợp đồng.

          – ĐSPL: Hà Nội tăng phí trông giữ xe đạp, xe máy, ô tô bắt đầu từ tháng 9.

          – VOVTăng phí tham quan các di tích lịch sử cố đô Huế.

          – V.J.T : Phí tham quan Vịnh Hạ Long sắp tăng gấp đôi.

Riêng chuyện “tăng phí tham quan” khiến tôi nhớ đến sự phẫn nộ của dân bản địa, ở khu du lịch Đambri. Ông K’Vếu, một người K’Ho gần 70 tuổi, đến từ huyện Bảo Lâm trút bầu tâm sự:

Ngọn thác Đambri hùng vĩ này đã ngàn đời nay thuộc về tổ tiên chúng tôi, thuộc về cha ông chúng tôi, thuộc về chúng tôi. Vùng đất Đambri xinh đẹp này đã ngàn đời nay là của chung các tộc người K’Ho, Châu Mạ. Trước đây, chúng tôi tự do vào ra Đambri, tự do hẹn hò ở Đambri, tự do tổ chức các ngày lễ ở đây, tự do đốt lửa rồi nhảy múa ca hát và uống rượu cần ở đây….

Thật đau xót và cay đắng. Họ đột ngột xuất hiện, và xây dựng lên ở Đambri này một khu du lịch mà không hỏi chúng tôi lấy một tiếng, không xin phép tổ tiên chúng tôi, ông cha chúng tôi và dĩ nhiên là cả chúng tôi nữa. Giờ đây, chúng tôi chỉ là những vị khách xa lạ trên mảnh đất đã từng rất thân quen và gắn bó với chúng tôi. Và, buồn đau thay, chúng tôi phải mua vé để chiêm ngưỡng và tận hưởng những vẻ đẹp đã từng thuộc về chúng tôi. Chúng tôi mất và họ được. Mất mát của chúng tôi quá lớn… (“Nỗi Buồn Đambri” – Tâm Don).

Tác giả bài báo thượng dẫn cũng cho độc giả biết thêm đôi chút kinh nghiệm của ông, về chuyện thu phí, khi đi du lịch ở nước ngoài:

Quần thể di sản văn hóa của nhân loại Angkor ở tỉnh Seam Reap, Cambodia là một quần thể di tích có một không hai trên thế giới. Chính quyền vương quốc Cambodia đã giao quyền bảo quản và khai thác quần thể di sản này cho một công ty tư nhân có ông chủ là một người Cambodia gốc Việt.

Vé vào tham quan quần thể di sản này rất cao. Nhưng điều lạ lùng là, trước cổng mua vé luôn có tấm bảng có dòng chữ: MIỄN PHÍ CHO NGƯỜI CAMBODIA. Người hướng dẫn viên du lịch người Cambodia gốc Việt giải thích cho những du khách Việt Nam: Miễn phí vé cho người Cambodia là một điều hoàn toàn đúng, hoàn toàn hợp tình thấu lý. Quần thể di sản Angkor là di sản của đất nước Cambodia, là thành tựu chung của người Cambodia…

Những người dân Châu Mạ, K’Ho – hy vọng – sẽ bớt “buồn đau” phần nào nếu biết rằng chuyện “tận thu” không chỉ xẩy ra ở Đambri. Đây là chủ trương xuyên suốt của Nhà Nước từ tuốt miền ngược xuống đến miền xuôi, không sót một nơi nào.

Báo Người Lao Động, số ra ngày 11 tháng 8 năm 2015, kêu Trời: “Đừng ‘siết’ nữa, dân khổ lắm rồi! Dự thảo với hơn 1.000 loại phí và lệ phí về nông nghiệp vừa được trình lấy ý kiến của Quốc hội làm cho bất cứ ai cũng phải giật mình. Nếu cứ mạnh tay thu phí như thế này thì người dân sẽ kiệt quệ và chẳng mấy lúc chẳng còn gì để thu.”

http://www.rfavietnam.com/files/hunsen%201.jpg

Ảnh: Tuổi Trẻ

Theo nguyên văn lời của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan thì chế độ hiện hành đã chuyển hướng từ “tận thu” sang “tận diệt.” Cách nói của bà khiến tôi liên tưởng đến chhuyện bắt cá (bằng điện) rất phổ biến hiện nay của người dân Việt. Họ kích điện bằng tay trong những cánh đồng hoặc sông rạch nhỏ, hay bằng ghe có hai gọng lưới  trên những dòng sông lớn.

http://www.rfavietnam.com/files/hunsen%204.jpg

Ghe dùng xung điện để bắt cá trên sông Sài Gòn. Ảnh & chú thíchTuổi Trẻ

Dù giữa Biển Hồ hay trong những sông rạch lớn/nhỏ đan xen khắp xứ, tôi không hề thấy kiểu bắt cá “tân kỳ” như thế ở đất Chùa Tháp. Người Khmer không kiếm sống bằng cách tận diệt nguồn cá, và hủy hoại môi sinh. Chính phủ ở đất nước này cũng biết khoan sức dân nên không chủ trương tận thu thuế má.

Ngày 23 tháng 10 vừa qua, Hunsen đã tuyên bố cắt những khoản thuế lặt vặt đánh vào xe gắn máy, xe tuk-tuk, xe máy cầy, ghe thuyền…

Ở Cambodia, ít nhiều, dân chúng (cũng như những kẻ đang nắm quyền) vẫn còn đặt niềm tin vào tương lai của chế độ và đất nước. Niềm tin này, rõ ràng, không có ở  Việt Nam.

Cách đây chưa lâu, tôi nghe nhà báo Huy Đức bầy tỏ nỗi băn khoăn: “Bao giờ bằng được Campuchia?” Câu hỏi của ông e sẽ không có lời giải đáp vì dân Việt không chung hướng đi với toàn thể nhân loại.

Việt Nam hiện có khuynh hướng bước lùi. Giới lãnh đạo đang hối hả vơ vét hay ra sức tận thu, và dân chúng thì cố sức tận diệt (bất chấp sự hủy hoại môi sinh) để đáp ứng nhu cầu bức thíết cho cuộc sống hàng ngày.

Tình trạng đất nước, tuy thế, vẫn chưa lấy gì đáng lo cho lắm – theo ý kiến của TS Vũ Minh Khương:

“Khó khăn trong quyết định của mỗi người chúng ta hôm nay không phải là làm cách gì để đất nước tiến lên mà là làm gì để chúng ta không lùi tiếp nữa, bởi đường lùi của chúng ta còn rộng rãi thênh thang lắm.”

“Ông cha chúng ta để lại cho chúng ta đất đai ở vị thế đẹp và nhiều tài nguyên quý giá. Thế giới lại thương cảm chúng ta đã trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt. Thế hệ chúng ta chỉ cần cho nhượng thuê đất trong các dự án đầu tư dễ dãi, bán tài nguyên, và vay nợ quốc tế cũng đủ sống xênh xang được 20-30 năm nữa. Ta nhượng đất của ông cha làm sân golf và dân ta sẽ không thể đói nhờ nghề nhặt bóng và đánh giày…”

Tôi thực sự tán thưởng sự lạc quan của T/S Vũ Minh Khương, dù tự thâm tâm vẫn lo ngại rằng người Việt khó mà “sống xênh xang được được 20-30 năm nữa” – nếu vẫn tiếp tục phải chịu đựng cảnh một cổ ba tròng, và tình trạng tận thu cũng như tận diệt không chấm dứt nay mai.

tuongnangtien’s blog 

HUNG DỮ

Nguyễn Phan Quế Mai.

7 tháng 12, 2019

HUNG DỮ.

Người Việt thay đổi sau 75.

Người Việt chúng ta (hiện nay) là những người hung dữ!

Khi tôi trả lời một cách đầy kiêu hãnh rằng mình là người Việt Nam, chị im lặng, cúi đầu, rồi ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt tôi, chậm rãi nói: “Xin lỗi bạn, nhưng tôi phải nói thật lòng với bạn rằng: Người Việt của bạn là những người hung dữ”!

Người Việt chúng ta là những người hung dữ!

Đấy là tình cảnh một dịp gần đây, trong buổi giao lưu giữa những người nước ngoài hiện sống và làm việc tại thành phố Jakarta (Indonesia), tôi gặp một người phụ nữ Mỹ gốc châu Phi. Trò chuyện vui vẻ với nhau một lúc, chị hỏi tôi từ đâu đến. Câu nói của người phụ nữ đã làm tôi choáng váng.

– “Tại sao chị lại nghĩ vậy?” – Tôi vội hỏi và chị giải thích rằng vừa qua Việt Nam du lịch, đến TP.HCM,… khi đang say sưa với cảnh vật và con người, chị đứng bên đường chụp ảnh khu nhà thờ Đức Bà bằng chiếc điện thoại vừa mới mua thì bị kẻ cướp lao đến giật phắt điện thoại rồi vút đi bằng xe máy.

Vụ cướp giật không chỉ để lại cho chị những vết sẹo trên cơ thể (do bị kéo té ngã) mà còn cú sang chấn về tinh thần: Hiện nay, mỗi khi nhìn thấy hoặc nghe tiếng xe máy chị lại hoảng hốt.

Khi tôi xin lỗi chị và nói rằng chính quyền TP.HCM đang làm các bước để cải thiện sự an toàn cho khách du lịch một cách tốt nhất có thể! Người phụ nữ ấy lắc đầu và nói cái cần sửa nhất là bản tính tham lam, bon chen và hung hăng của người Việt.

Người Việt có hung dữ không?

– Chỉ vì va chạm giao thông, hai thanh niên người Việt đánh anh Tây chảy máu mũi.

Chị cho biết, trong khoảng ba tuần ở Việt Nam, chị đã quan sát thấy cái bản tính ấy trong nhiều hoàn cảnh:

– Người ta không chịu xếp hàng mà sẵn sàng chen lấn, xô đẩy;

– Người ta bóp kèn inh ỏi trên phố để cố nhanh hơn vài giây, vài phút…

– Khi va quẹt vào nhau trên phố, thay vì nhã nhặn giải quyết vụ việc, người ta sửng cồ, sẵn sàng lao vào nhau.

– Người ta sẵn sàng bắt chẹt khách du lịch chỉ vì lợi nhuận trước mắt.

Khi trả giá để mua hàng, chị đã bị người bán nói những lời rất khó nghe, thậm chí còn xúc phạm đến nguồn gốc châu Phi của chị.

Người phụ nữ thở dài nói rằng chị đã ở Indonesia 5 năm nhưng chưa bao giờ sa vào hoàn cảnh tương tự và so với những gì chị đã trực tiếp trải nghiệm, người Indonesia vô cùng hiền lành, tốt bụng, vui vẻ và tử tế…

“Người Việt có hung dữ không?”! Câu hỏi ấy đeo đẳng tôi suốt nhiều tháng trời để rồi khi về Việt Nam lần gần đây nhất, tôi đã có câu trả lời.

Tại con hẻm nhỏ ở quận Gò Vấp, tôi chạy xe kế bên người mẹ vừa đón con đi học về. Giây phút hội ngộ của hai mẹ con sau một ngày làm việc và học tập vất vả đáng lẽ là những giây phút hạnh phúc, đầy ắp tiếng cười, nhưng không phải. Người mẹ vừa chạy xe vừa ra rả rủa xả con mình trong khi cô con gái nhỏ co rúm vì sợ hãi.

Người mẹ chửi con vì điểm kiểm tra toán hôm đó không như bà mong đợi. Nhìn nét mặt đau khổ của cô con gái, tôi tự hỏi người phụ nữ đang dạy con những gì? Hay bà đang cố gắng gieo mầm mống của sự hung dữ vào tâm hồn trẻ nhỏ?

Người Việt chúng ta là những người hung dữ…

Khi chửi rủa con trẻ, phải chăng người mẹ đang gieo mầm tính xấu cho nó!

Tôi tự hỏi có phải vì điều kiện sống quá áp lực, vì hoàn cảnh kinh tế bức bối mà con người ta dễ dàng trút giận lên nhau?

Trong những năm gần đây, tôi sống và làm việc ở hai thành phố lớn với môi trường khá tương tự TP.HCM. Đó là Manila (Philippines) và Jakarta (Indonesia).

Đây là hai thành phố có tình trạng người thất nghiệp khá cao, an sinh xã hội thấp, nhiều người nghèo và đặc biệt với tình trạng ùn tắc giao thông dễ khiến người ta nổi nóng.

Nhưng thật lạ, trong bốn năm sống ở Manila và một năm rưỡi sống ở Jakarta, tôi thấy trên đường phố, dù kẹt xe đến mấy, ít ai bóp còi.

Văn hóa xếp hàng ở hai thành phố này cũng vượt trội hơn hẳn các thành phố của Việt Nam và đặc biệt là tại các cơ sở kinh doanh, tôi chưa từng gặp tình trạng bị chèo kéo, hăm dọa và bắt nạt như tôi từng gặp mỗi khi về nước.

“Người Việt là những người hung dữ!”, câu nói đó không hẳn là đúng, nhưng tôi thấy sự hung dữ ngày càng lộng hành và bột phát không chỉ ngoài đường phố mà còn trong các gia đình! (bạo hành phụ nữ, trẻ em, người thân trong gia đình giết nhau vì mâu thuẫn hay tranh chấp tài sản), trong trường học (bạo hành học sinh), trên mạng xã hội (người ta có thể thoải mái mạt sát, thóa mạ lẫn nhau).

Đặc biệt là các vụ giết người vì mâu thuẫn nhỏ ngày càng gia tăng.

Tôi đã nghe cha mẹ tôi kể những câu chuyện rất xúc động về sự tử tế của con người trong những năm tháng khi đất nước chúng ta còn chìm trong khói lửa chiến tranh.

Điều đáng buồn là khi chiến tranh lùi xa, sự tử tế cũng đang dần biến mất nhiều nơi.

Bộ phim “Chuyện tử tế” của đạo diễn Trần Văn Thủy sản xuất năm 1985 đã cảnh báo về tình trạng ấy.

Giờ đây, sau 34 năm, bộ phim vẫn còn nóng hổi tính thời sự. Theo lời bình của bộ phim:

“Tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó lên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài của quốc gia. Bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn…”.

Vâng, sự tử tế chính là cái gốc cho sự phát triển bền vững của một xã hội. Nếu chúng ta không sớm hành động để đánh thức và khích lệ sự tử tế trong mỗi con người, nền tảng đạo đức xã hội sẽ tiếp tục lung lay, khiến cho những thành tựu phát triển kinh tế của chúng ta trở nên vô nghĩa.

Pham Nhuận

12 tháng 12, 2019

“NGƯỜI VIỆT HUNG DỮ”?

Chúng ta cứ mạnh dạn nói thẳng ra rằng “văn hóa” miền Nam trước 1975 đã theo kịp thế giới là đi đâu người ta cũng mến!… Chỉ có những người ngoài vĩ tuyến mới thì chưa theo kịp…!

Đúng là do “môi trường” sinh sống của từng vùng miền, với môi trường kinh tế, chế độ học tập, nó sinh ra bản chất con người để phù hợp! Lâu dần người ta “tưởng” đó là những điều “đúng” và buộc cả người khác “phải như thế”!

Sự “hòa nhập” nhưng chưa “hòa hợp”…

Sự “chênh lệch” dẫn đến sự “khắc biệt” từ cách nghĩ, cách thể hiện, cách sinh hoạt từng cá nhân, gia đình, xã hội đã làm xáo trộn nếp sống “văn hóa” chung của cả nước!

Điều này chứng minh không chỉ là sau 1975… mà ngay cả trước 1954…!

Có đi vào mấy khu “di cư” (Lạc An, Hố Nai…) trong miền Nam ngày nay cũng đủ biết! Cả đến thế hệ thứ hai, thứ 3 rồi… mà vẫn còn mang bản chất “cơ bản” ngoài đó! Bởi “nếp sống” vẫn còn giữ gìn theo thuở “xưa”: “Tổ chức”, theo nhóm, theo họ, tộc,… và “bầy đàn”! Người “lạ” đến mấy khu vực đó ai cũng phải e dè vì không thể phù hợp!!!

Ngày nay, thế hệ thứ 3, thứ 4 mới “giảm” bớt nhưng vẫn chưa dứt hẵn được! Nhất là cái tính “gia trưởng” được hình thành rất “đặc trưng” là bảo tồn truyền thống “văn hóa dân tộc”!

Thực chất, văn hóa luôn thể hiện cuộc sống thực tế của toàn thể con người cùng tham gia, và những “thói quen” dù nó đã từng “phù hợp” với với những người xung quanh – tất nhiên sự phù hợp của người này, của tập thể nầy, dân tộc nầy sẽ không bao giờ thích nghi một ngày một bữa!

Ngay cả những nước “văn minh” vẫn có xảy ra “kỳ thị chủng tộc”! Nhưng quan trọng vẫn là LÃNH ĐẠO!

Một khi lãnh đạo có đủ tài năng và đạo đức, họ sẽ dễ dàng đưa đất nước đi vào nề nếp bằng một hệ thống giáo dục, và một khuôn khổ luật pháp nghiêm minh… Ví dụ như Singapore, Hàn, Nhật, Đức… thì dân tộc sẽ nhanh chóng tiến bộ, văn minh!

Điều tệ hại cho các quốc gia “Không chịu phát triển” đó chính là Lãnh đạo luôn có một bản chất “gia trường” và “bảo thủ”… cùng với tài “lý luận”… mà chẳng có “Tài năng” Quản lý đất nước gì cả!

Sài Gòn chập mạch!

Image may contain: 1 person, outdoor

Sài Gòn chập mạch!

Chập thiệt chứ đùa. Ai đời đi thay pin cái máy, ghé tiệm hỏi. Chị chủ kêu: “Pin có 2 loại, loại thường 60k, loại khác nhãn của Thụy Sỹ, 150k. Em lấy loại 60k nè, chất lượng gần như nhau, khác cái mác thôi!”

Đi mua con cá chép chợ hẻm, giá 90k, bóp còn mỗi 60k. Anh bán cá không quen biết nói, thôi em đưa 60k cũng được, hôm nào ghé gửi anh 30k sau. Quen biết gì đâu, tui xù thì răng?

Sáng đi bộ, gặp anh Hai từ miền Tây lên bán rau. Thấy rau xanh tươi, mua hẳn 50k. Lúc tính tiền mới nhớ mình mặc đồ lót đi bộ, đâu có mang bóp. Anh Hai miền Tây cười tươi thiệt tươi: “Thôi khỏi, chừng nào anh gặp tui lại, trả sau cũng được mà.” Quen biết gì đâu. Báo hại tui suốt 1 tuần phải đi bộ đúng đường đó, đúng giờ đó mới gặp lại anh Hai rau. Sài Gòn gài bẫy tui chăng?

Tết nhất, bát bún ốc, bún dọc mùng xứ này xứ kia tăng giá rầm trời. Miệt Thủ đô có khi 150k/bát tỉnh rụi. Sài Gòn lơ ngơ viết lên tờ A4: “Vì dịp Tết, quán phải thuê nhân công giá mắc hơn, nên giá mỗi tô xin phụ thu thêm 5k, thành 30k.”

Có thằng em xứ Bắc vào SG bán bánh canh cá lóc xứ Quảng, Tết hồi nẳm nó ở lại bán hàng. Ba ngày Tết tất toán xong, nhờ bạn chở ra tiệm sắm đúng 1 cây vàng tiền lãi ròng vì nó bán cũng chỉ lên giá đúng 5k. Khách đến ăn rầm trời, lấy đông bù giá là đó.

Chợ búa ở SG ít nói thách, giá nhiêu mua nhiêu. Đâu có như nơi đâu, cái áo đề 780k, kêu tui còn 180k, bán luôn.

Ông anh SG ra HN, ghé quán trà đá vỉa hè. Lúc tính tiền cốc trà đá, kêu 20k. “Sao mắc dữ vậy?” Đáp tỉnh rụi hà: “Ối dồi! Trà Thái nó đắt lắm. Mà dân SG thiếu gì tiền.”

Dân SG thừa tiền nên uống ly cà phê 12k, ngồi đồng cả ngày với wifi, với trà đá miễn phí châm liên tục.

Vâng, SG thiếu gì tiền. SG chắt bóp từng đồng thôi. Như cái ở Tô Hiến Thành, quận 10, các y bác sỹ góp tiền lại, đổi ra tiền lẻ 5k, bỏ vô thùng mica trưng ngoài đường với dòng chữ: “Nếu bạn gặp khó khăn hãy lấy 3 tờ.” 3 tờ vị chi là 15k, đủ 1 suất cơm bé mọn cho người cơ nhỡ.

SG không thiếu tiền. Vậy nên mới có anh Lâm Văn Cuộc, bảo vệ ở quán cà phê trên đường Mạc Thị Bưởi (Q.1, TP.HCM). Thấy ai hư xe hoặc hết xăng anh đều giúp đỡ. Ai móc tiền ra gửi biếu, anh đều thẳng thừng từ chối và nói: “Khỏi mà!” Xe nào hết xăng thì anh lấy xăng xe mình chiết ra cho. Những người được cho ai cũng thấy cũng lạ, hỏi sao anh giúp nhiệt tình vậy.

Anh chỉ đáp: “Trời ơi, tiền bạc gì. Xe tôi lúc nào cũng đầy bình, cho một chai xăng xị rưỡi, hai xị có đáng là bao.”

Lại có anh Nguyễn Văn Hiếu (40 tuổi, quê Tiền Giang), lên làm bảo vệ cho một cửa hàng trên đường Hoàng Diệu (quận 4). Sau giờ làm anh ra vỉa hè ngủ và trưng cái biển lạ đời: “Có tiền cũng vá, không tiền cũng vá. Đừng ngại, kêu vá liền. 24/24.”

“SG không thiếu tiền” nói xuôi hay nói ngược đều được. Bởi nói xuôi thì rằng SG là đầu tàu kinh tế cả nước. Nói ngược là bởi SG còn rất nhiều phận đời lầm lũi. Nhưng SG có cái tình, cái tình ngu ngơ, chập mạch nặng.

Ở SG, ghé cây xăng đổ, tự nhiên có một bác già với tờ 10k, 2 tờ loại 2k đi xin thêm những người đổ xăng ở cạnh: “Xe tui hết xăng, xin cho tui 10k để đổ cho tròn 20k.” Đừng ngạc nhiên khi những người đó lặng lẽ móc bóp, phụ thêm cho bác dăm mười ngàn để bác đổ đầy bình mà về Củ Chi.

Đúng là SG chập mạch, chập nặng lắm rồi!

Fb Sài Gòn trong tim tôi

Không ăn bẩn được thì giở trò tiểu nhân

 

Không ăn bẩn được thì giở trò tiểu nhân

Không hèn nhát như nhiều phụ huynh, gia đình nữ sinh lớp 10 ở An Giang đã làm đơn tố cáo gửi đến Sở GD-ĐT An Giang, Công an TX. Tân Châu… đề nghị xem xét hành vi xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm học sinh của tên hiệu trưởng, hiệu phó và giáo chủ nhiệm lớp.

Sau 3 ngày nhập viện, sức khỏe của em đã dần hồi phục, nhưng vẫn xúc động mạnh, em khóc và kể là em chỉ đăng ký học thêm một môn, thủ quỹ tỏ ra khó chịu, nói là sẽ báo lên ban giám hiệu để xử lý, gặp Huệ chủ nhiệm thì mụ này đập bàn nói dù học một môn cũng phải đóng tiền tất cả các môn học và mời phụ huynh lên làm việc. Sau đó chúng thay nhau hành hạ, làm nhục em.

Chúng còn bắt em cam kết cuối năm vẫn phải xếp loại học sinh giỏi. Chúng dạy thêm trái phép, cưỡng bức người học, và những đồng tiền bất chính thu được đến tay ai?

Thật khốn nạn, trong khi học sinh nhiều nước được miễn mọi khoản tiền, học sinh giỏi còn được học vượt lớp, vậy mà ở đây chúng tìm mọi cách bóc lột, hành hạ các em.

Với sự khốn nạn đến tột cùng như thế thì làm sao mong chờ những thế hệ tử tế.

Fb Đỗ Cao Cường

Image may contain: 1 person

VIỆT NAM: DẠY VỀ MỘT QUÁ KHỨ BẠO LỰC

 

VIỆT NAM: DẠY VỀ MỘT QUÁ KHỨ BẠO LỰC

Hơn 40 năm tái lập hoà bình, Việt Nam vẫn nói về cuộc chiến gây thương vong cho hàng triệu người với quan điểm ngợi ca bạo lực cách mạng. Liệu trẻ em ở một đất nước ‘yêu chuộng hoà bình’ có được hiểu khác, nói khác về bạo lực không?

Nghiên cứu mới đây của giáo sư Olga Dror, Đại học Texas, về giáo dục ở hai miền Nam – Bắc Việt Nam chỉ ra một sự khác biệt lớn về cách trẻ con được dạy trong nhà trường trong bối cảnh chiến tranh.

Tác giả nói ‘bạo lực cách mạng’ là một cụm từ quen thuộc dùng trong các sách Việt Nam, kể cả sách giáo khoa dành cho học sinh”

thanh thiếu niên “cần được đứng độc lập như những công dân kiến tạo tương lai để nhìn về quá khứ, chứ không phải phương tiện để duy trì một chính thể chính trị”.

Ví dụ, hình ảnh em bé miền Bắc trong một bức vẽ đăng trên ấn phẩm của nhà xuất bản Kim Đồng Tết 1969 có đoạn thơ minh họa: ‘Mình đã thêm một tuổi/Cao thêm mấy phân rồi/Sắp được đi bộ đội/Đánh Mỹ chạy cong đuôi’.

Trong khi đó, em bé ở miền Nam vẫn mơ màng trong một bài thơ trên tạp chí Thằng Bờm năm 1972: ‘Mùa xuân cây xanh lá/Hoa thơm ngát trên cành/Nhưng em buồn biết mấy/Nay đã thêm tuổi rồi’.

Qua khảo sát hàng loạt ấn phẩm sách báo dành cho lứa tuổi thanh thiếu niên ở hai miền, giáo sư Dror chỉ ra, ở miền Bắc, giai cấp và ý thức hệ chính trị ‘bao trùm lên các giá trị đạo đức’. Các bài học lịch sử cũng được thống nhất phê duyệt từ trên xuống. Người cộng sản ‘coi trẻ em là cũng chiến sĩ’, và chuẩn bị từ rất sớm cho các em bước vào cuộc chiến.

Ở miền Nam, sách giáo khoa trong nhà trường ‘không dạy thanh thiếu niên phải căm thù đối phương’. Các bài học văn hóa, lịch sử cho trẻ vẫn xây dựng trên một không gian yên bình. Nhiều sách báo thể hiện nhiều dòng cảm xúc pha trộn của thanh thiếu niên: sợ hãi chiến tranh, cầu nguyện cho hoà bình, hay mơ mộng lãng mạn chuyện yêu đương.

Nói cách khác, trẻ em sinh ra ở Việt Nam trong giai đoạn lịch sử này, một bên được coi là đối tượng để huấn luyện thành phương tiện cho một mục tiêu chính trị lớn hơn, một bên được ít nhiều dành cho không gian riêng, được bảo vệ khỏi các áp lực chính trị bên ngoài.

Bình thường hóa bạo lực

Trong thế kỷ 20, phần lớn người Việt Nam đã sống trong bối cảnh bạo lực bị bình thường hóa. Bạo lực trở thành cách giải quyết chính yếu, thậm chí duy nhất, của hầu hết các vấn đề xã hội, văn hóa, chính trị.

Chẳng hạn, để giải quyết vấn đề phân phối lại ruộng đất và của cải, người ta tiến hành cải cách ruộng đất. Tức là cưỡng chế và tịch thu của một nhóm người để chia lại cho nhóm khác.

Hay để quy nạp mọi luồng suy nghĩ và phát ngôn về một nguồn chính thống, người ta bỏ tù hoặc lưu đày những người nói, nghĩ, viết khác biệt. Tức cũng là một cách lấy bạo lực để đáp trả lại các hành động phi bạo lực.

Nhiều thế hệ người Việt Nam sinh ra cho đến gần cuối thế kỷ vẫn phải chứng kiến cách xã hội vận hành cơ bản bằng bạo lực. Về mặt xã hội học, ‘bình thường hóa bạo lực’ để lại những di chấn nặng nề, sâu đậm lên đời sống, cách hành xử của người dân rất nhiều thế hệ về sau.

‘Bạo lực cách mạng’ là một cụm từ quen thuộc dùng trong các sách Việt Nam, kể cả sách giáo khoa dành cho trẻ em trên ghế nhà trường. Bạo lực được dạy là một yếu tố cần thiết, hiển nhiên để đạt được mục đích cách mạng.

Khi trẻ em được chứng kiến và được dạy về vai trò tối thượng của bạo lực để giải quyết các vấn đề xã hội, không ngạc nhiên khi các em sẽ tin rằng đó là biện pháp để giải quyết vấn đề trong cuộc sống hàng ngày.

Khi đó, bạo lực càng bị xoáy sâu vào quy trình ‘bình thường hóa’. Bạo lực càng dễ được chấp nhận, càng dễ được vận hành, và càng khó loại bỏ hơn.

Trẻ em được quyền gì’?

Từ giữa thập niên 1990, chính phủ Việt Nam thay đổi chính sách ngoại giao, ‘muốn làm bạn với tất cả các nước’. Việt Nam muốn xây dựng một hình ảnh ‘đất nước yêu chuộng hoà bình’. Thủ đô Hà Nội được gắn nhãn ‘thành phố vì hoà bình’.

Hiển nhiên là không một quốc gia nào không yêu chuộng hoà bình. Nhưng ‘yêu chuộng hòa bình’ cụ thể như thế nào thì có thể quan sát được từ nhiều góc độ.

Vậy một ‘đất nước vì hoà bình’ sẽ mong trẻ thơ được sống trong một môi trường như thế nào? Trẻ thơ không còn phải căm thù. Không phải ca ngợi sự bắn giết. Không còn tự hào dân tộc mình đã đánh và giết bao nhiêu người.

Trẻ thơ ở một đất nước hoà bình xứng đáng được hưởng những đặc quyền cơ bản nhất là được đánh giá lại chiến tranh. Được coi chiến tranh là không bao giờ đáng tự hào, dù với bất kì lý do gì.

Hơn nữa, thế hệ trẻ được quyền, được khuyến khích đi tìm câu trả lời cho giả thuyết: chúng ta đã có thể ngừng cuộc chiến sớm hơn mấy giờ, mấy ngày, mấy tháng, mấy năm? Nếu không dùng bạo lực, chúng ta được và mất gì? Nếu không phải là bạo lực, nhân loại có thể giải quyết các mâu thuẫn bằng cách nào?

Kể cả khi sách lịch sử hiện nay không nhấn mạnh bài học về đấu tranh phi bạo lực, người Việt Nam cũng đủ thông tin để biết rằng, những nhà cách mạng được vinh danh là vĩ đại nhất thế kỷ 20 đều là những người chủ trương phi bạo lực. Chủ trương được khởi xướng bởi Gandhi giúp Ấn Độ thoát thực dân Anh, tiếp nối bởi Martin Lurther King Jr. trong phong trào đấu tranh dành quyền cho người da màu ở Mỹ, và Nelson Mandala trong phong trào chống phân biệt chủng tộc của Nam Phi.

Tiến sĩ Nghiêm Thúy Hằng nói câu “Giáo dục là quốc sách” bao năm qua chỉ là khẩu hiệu

Dạy về một quá khứ bạo lực

Tập hợp 12 tác giả trong cuốn ‘Teaching the Violent Past’ (Dạy về một quá khứ bạo lực) khảo sát 10 dân tộc từng trải qua bạo lực, hiện đang hàn gắn vết thương đó như thế nào thông qua việc giảng dạy lịch sử trong nhà trường.

Dù đó những nước đã trở nên giàu có và dân chủ như Nhật, Đức, Canada, hay là những quốc gia còn nghèo khó như Guatemala, Pakistan, tiến trình hàn gắn vết thương bạo lực đều không hề dễ dàng.

Nhưng trên con đường đi đến một dân tộc hoà bình hơn, nhân văn hơn, bài học chung nhất đều là đối diện với lịch sử bằng cách nhận diện sự mất mát do bạo lực gây ra. Việc dạy và học lịch sử trong nhà trường được hé mở ra không gian cho nhiều cách diễn giải.

Hơn hết, thanh thiếu niên, vừa được coi là đối tượng và chủ thể của giáo dục, được đứng độc lập như những công dân kiến tạo tương lai để nhìn về quá khứ, chứ không phải phương tiện để duy trì một chính thể chính trị.

Bài thể hiện quan điểm và văn phong của Nguyễn Thị Thủy, một nghiên cứu sinh tiến sĩ từ bang Oregon, Hoa Kỳ.