Giới tranh đấu Việt Nam suy tư, liên hệ gì từ vụ đổ máu ở Myanmar?

Giới tranh đấu Việt Nam suy tư, liên hệ gì từ vụ đổ máu ở Myanmar?

01/03/2021

Người biểu tình làm lễ tưởng niệm những người thiệt mạng ở Yangon, Myanmar, 28/2/2021.

Biết tin các lực lượng an ninh ở Myanmar giết hại nhiều người biểu tình hôm 28/2, một số nhà hoạt động Việt Nam nói với VOA họ phản đối cuộc đàn áp, khâm phục lòng dũng cảm của người biểu tình, đồng thời họ chia sẻ suy nghĩ về hệ lụy của diễn biến đó đối với phong trào vì dân chủ ở Việt Nam.

Như tin đã đưa, cảnh sát và quân đội Myanmar nổ súng làm chết 18 người, 30 người bị thương hôm Chủ nhật khi hàng nghìn người tiếp tục biểu tình ôn hòa để phản đối cuộc đảo chính của giới nhà binh, tiếm quyền chính phủ dân sự hôm 1/2.

Tôi sốc, căm phẫn, phẫn uất và lên án việc các lực lượng ở Myanmar bắn đạn thật vào người biểu tình. Tinh thần đấu tranh cho dân chủ, chống độc tài của người dân Myanmar rất tuyệt vời.

Luật sư Lê Quốc Quân

Đại diện của Liên Hiệp Quốc, Liên hiệp châu Âu, Mỹ và một số nước khác ngay sau đó đã lên án hành động bạo lực chết chóc của các lực lượng thuộc chính quyền nhà binh ở Myanmar hiện nay.

Luật sư Lê Quốc Quân, một cựu tù nhân lương tâm ở Việt Nam, bày tỏ với VOA:

“Tôi sốc, căm phẫn, phẫn uất và lên án việc các lực lượng ở Myanmar bắn đạn thật vào người biểu tình. Tinh thần đấu tranh cho dân chủ, chống độc tài của người dân Myanmar rất tuyệt vời. Họ có nhà lãnh đạo là bà Aung San Suu Kyi, một người tuyệt vời, và tinh thần của họ đang lên sau mấy năm qua đã được cởi trói nhiều hơn”.

Nhà báo độc lập Chu Vĩnh Hải phản đối giới quân sự Myanmar vì đã đảo chính và ông mong muốn phe này thả các nhà lãnh đạo dân sự để họ quay lại nắm quyền. Đánh giá về quá trình đấu tranh của người dân Myanmar, trải qua những lần đổ máu từ trước đến nay, ông Hải nói:

“Người dân Myanmar rất bền bỉ đấu tranh. Hiếm có nhân dân ở đâu trên thế giới có được sự kiên trì, bền bỉ như vậy. Tôi tin họ sẽ đạt được kết quả như mong đợi”.

Ông Vũ Quốc Ngữ, Giám đốc tổ chức Người bảo vệ Nhân quyền tại Việt Nam, đưa ra nhận xét:

“Phong trào đấu tranh dân chủ của người Myanmar rất anh dũng. Họ rất kiên trì. Dù tổn thất nhưng vẫn tiếp tục đấu tranh. Chính quyền Myanmar không phải bây giờ mới đàn áp mà đã từng làm như vậy trong nhiều năm trước, gây ra số người chết gấp nhiều lần. Việc họ tiếp tục dùng bạo lực đẫm máu không phải điều mới”.

Cảnh sát VN tìm cách dẹp người biểu tình đối trên quốc lộ 1 ở Bình Thuận, 11/6/2018

Cảnh sát VN tìm cách dẹp người biểu tình đối trên quốc lộ 1 ở Bình Thuận, 11/6/2018

Liên hệ đến Việt Nam, ông Ngữ cho rằng trong tương lai nếu người dân Việt Nam xuống đường ồ ạt biểu tình, chính quyền cũng có thể đàn áp đẫm máu.

Chính quyền cộng sản cũng khát máu, sẵn sàng bắn giết. Việt Nam chưa có những vụ như thế nhưng không có nghĩa là không có. Tôi lo là nếu cộng đồng quốc tế chưa cứng rắn đối với Myanmar, Việt Nam cũng có thể như thế.

Ông Vũ Quốc Ngữ

Điểm lại lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay, đồng thời nhắc đến cuộc đàn áp biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn của Trung Quốc hồi năm 1989, ông Ngữ nhận định:

“Chính quyền cộng sản cũng khát máu, sẵn sàng bắn giết. Việt Nam chưa có những vụ như thế nhưng không có nghĩa là không có. Tôi lo là nếu cộng đồng quốc tế chưa cứng rắn đối với Myanmar, Việt Nam cũng có thể như thế”.

Có suy nghĩ khá tương đồng với ông Ngữ, luật sư Lê Quốc Quân đưa ra ý kiến:

“Trung Quốc có vụ Thiên An Môn. Dường như Myanmar học Trung Quốc, xem đó như là ‘tấm gương’. Như vậy, tôi nghĩ rằng Việt Nam sẵn sàng áp dụng các biện pháp đó nếu họ thấy cần thiết. Việt Nam nói chỉ mong Myanmar ổn định, nhưng theo cách nhìn của Việt Nam, biểu tình là gây mất ổn định, vì vậy, điều Việt Nam nói cũng có nghĩa là họ ủng hộ độc tài”.

Trong khi đó, nhà báo độc lập Chu Vĩnh Hải so sánh rằng chính quyền Việt Nam “không đến nỗi như Myanmar” dù cũng ra tay trấn áp các cuộc biểu tình lớn, nổi bật là các cuộc biểu tình hồi tháng 6/2018 khi người dân Việt Nam phản đối hai dự luật về đặc khu và an ninh mạng.

Ông Hải nói: “Chính quyền Việt Nam không đến nỗi dùng quân đội đàn áp. Họ chỉ bắt nguội rồi sau đó xử án tù”.

Giám đốc tổ chức Người bảo vệ Nhân quyền, ông Vũ Quốc Ngữ, lưu ý rằng các bản án đó của Việt Nam và những cuộc đàn áp ở các nước khác đều gây tác động đến phong trào đấu tranh ở Việt Nam:

“Việt Nam chưa bắn giết, mới chỉ tuyên các bản án nặng, vậy mà đã làm chùn bước một số nhà hoạt động, làm phong trào hơi đi xuống. Bạo lực ở các quốc gia xung quanh cũng làm ảnh hưởng đến nhuệ khí của người Việt Nam, làm nhiều người lưỡng lự không dám bước hẳn vào tham gia phong trào dân chủ”.

Tòa án VN gần đây tuyên những bản án nặng nề đối với những người đấu tranh dân chủ; ảnh một phiên tòa hôm 5/1/2021 tại Tp. Hồ Chí Minh. Photo Tiền Phong

Tòa án VN gần đây tuyên những bản án nặng nề đối với những người đấu tranh dân chủ; ảnh một phiên tòa hôm 5/1/2021 tại Tp. Hồ Chí Minh. Photo Tiền Phong

Tuy nhiên, ông Chu Vĩnh Hải có quan điểm ngược lại. Ông không nghĩ rằng việc chính quyền Việt Nam bỏ tù những người đấu tranh lại gây ra nản chí:

“Tôi thấy số người lên tiếng đã tăng lên nhiều hơn, số người bị bỏ tù cao lên theo mỗi năm càng chứng tỏ rằng mọi người không sợ hãi”.

Trước sự đàn áp ngày càng tăng của chính quyền trong nước, giới đấu tranh Việt Nam không có giải pháp nào để chống lại, ngoại trừ trông cậy vào sự ủng hộ và lên tiếng từ cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước tự do, ông Hải nói.

Giới hoạt động Việt Nam hiện nay chỉ có thể tiếp tục đấu tranh bằng cách đòi và thực hành các quyền hiến định như tự do hội họp và ngôn luận, vẫn theo ông Hải.

Tôi cảm nhận thấy ở Việt Nam, sẽ không có một cuộc cách mạng do người dân vùng lên … tôi cảm thấy sẽ có một sự thay đổi xảy ra từ bên trong chính quyền cộng sản.

Luật sư Lê Quốc Quân

Nhà báo độc lập này cho rằng mọi người cần tiếp tục đấu tranh bằng số đông nhưng không nên lập đảng phái vì đây là một vấn đề tối kỵ đối với nhà cầm quyền cộng sản. Họ sẽ lập tức bắt và bỏ tù những ai lập đảng phái thách thức sự độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản, theo ông Hải.

Về vấn đề này, một lần nữa, ông Vũ Quốc Ngữ có quan điểm khác với ông Chu Vĩnh Hải:

“Dân chủ không phải là một món quà tự nhiên có được. Cần có sự hy sinh của những thế hệ đi trước, cần có sự đánh đổi, trả giá. Phải chuẩn bị tinh thần đối đầu với mọi phương cách của chính quyền cộng sản. Phải có tổ chức, có sự liên kết, không nên lẻ tẻ, rời rạc”.

Trong suy nghĩ của mình, luật sư Lê Quốc Quân cho rằng việc tổ chức những cuộc xuống đường hàng ngàn người ở Việt Nam trong thời gian tới sẽ rất khó. Ông lưu ý rằng Việt Nam đang ngày càng toàn trị với việc chính quyền đẩy mạnh củng cố sự quản lý của họ đối với mọi mặt của xã hội, bao gồm cả việc đưa nhiều người của chính quyền vào các tổ chức tôn giáo.

“Tôi cảm nhận thấy ở Việt Nam, sẽ không có một cuộc cách mạng do người dân vùng lên, nhưng qua tiếp xúc với nhiều người, nhất là người của chính quyền, tôi cảm thấy sẽ có một sự thay đổi xảy ra từ bên trong chính quyền cộng sản”, luật sư từng là tù nhân lương tâm Lê Quốc Quân nói với VOA.

Bà Rịa, ngày 26 tháng 4 của 45 năm trước

May be an image of 1 person

Bà Rịa, ngày 26 tháng 4 của 45 năm trước

Bà Rịa ngày xưa là tỉnh Phước Tuy, một tỉnh lỵ nhỏ của miền đông nam phần, phía đông giáp biển Long Hải, 3 phía còn lại giáp Long Thành, Long Khánh và Vũng Tàu. Phước Tuy cách Sài Gòn khoảng 100 cây số, du khách từ Sài Gòn và miệt lục tỉnh xuống Vũng Tàu tắm biển đều đi ngang qua Phước Tuy theo quốc lộ 15. Trước năm 75, con đường quốc lộ này thường hay bị “đắp mô” (hồi đó “mấy chả” hay đặt mìn trên đường quốc lộ rồi lấy lá cây phủ lên trên gọi là đắp mô) nhằm cản trở lưu thông. Con người Bà Rịa hiền hoà, tình nghĩa và hiếu khách, họ lấy chữ tín làm trọng trong buôn bán và đối nhân xử thế.

Biểu tượng của tỉnh là một cái tháp mà trên đỉnh là cái château d’eau chứa nước hình tròn có mái che phía trên được xây từ thời Pháp, chân đế của tháp là phòng thông tin (sau này được gọi là nhà tròn). Tháp château d’eau này tạo nên một vòng xoay giao thông như một ngã sáu ngay đầu đường Thành Thái. Các còi báo động giới nghiêm của Bà Rịa được gắn trên tháp nước này, hướng ra 4 phía để nơi nào cũng có thể nghe được tiếng còi hụ. Mặt dưới của bồn nước là nơi chim én thường làm tổ. Sáng sớm, từng đàn én bay lượn dưới ánh nắng mai xung quanh tháp nước trông thật an bình.

Từ đầu tháng 3 đến giữa tháng 4 năm 1975, tin tức chiến sự trên TV và radio dồn dập mỗi ngày từ khi Tây Nguyên thất thủ, lan ra vùng 1 rồi tới vùng 2 thất thủ, vùng 3 và vùng 4 chỉ còn tính bằng ngày. Những gia đình có thân nhân trong quân đội đã dự đoán được “phía bên kia” sẽ không dừng lại để chờ bất cứ một hiệp định ngừng bắn nào nữa. Bởi vì họ đang thắng như chẻ tre.

Ngày thứ Bảy, 26/4/1975, khoảng 5 giờ chiều, khi mọi người đang chuẩn bị cho bữa cơm chiều thì những đợt pháo kích đầu tiên từ phía núi Dinh dội xuống Phước Tuy, bắt đầu cho một cuộc tấn công. Những tiếng nổ đinh tai nhức óc mỗi lúc mỗi dồn dập và liên tục hơn. Trước đó, radio cho biết Long Khánh đã thất thủ cách đây một tuần. Dường như mọi người đã đoán biết rằng Phước Tuy thất thủ chỉ là sớm hay muộn, tuy nhiên ai cũng thầm mong sẽ có …một phép lạ.

Trước đây tôi đã từng nghe những tiếng nổ của đạn pháo vọng về từ miệt Đất Đỏ, nhưng nó ở khá xa trung tâm tỉnh lỵ nên không cảm thấy sợ. Lần này những tiếng nổ nghe sát bên tai cùng với sức ép của không khí mạnh đến tức ngực và khó thở. Những cột khói đen ngòm bốc lên bao phủ bầu trời trung tâm thị xã Bà Rịa. Không khí ngột ngạt bao trùm làm mọi người bắt đầu hoảng loạn. Ông Ba Bắc trong xóm có chiếc xe ba lua (loại xe tải mui kín để chở hàng lê gim từ Đà Lạt về Sài Gòn), ông kêu mọi người lên xe để ông chở đi tránh đạn. Sống trong thời chiến tranh nên ai cũng chuẩn bị sẳn một túi đồ cá nhân, khi cần đi tản cư là xách cái túi phóng liền.

Mọi người trong xóm tôi ùa lên chiếc xe tải của ông Ba. Có khoảng 30 người trên xe, ông lái xe theo hướng quốc lộ 15 ra Vũng Tàu. Dọc đường, có nhiều người lính VNCH buông súng và cởi bỏ bộ đồ lính đang mặc trên người bỏ lại trên đường. Từng đoàn người chạy bộ theo hướng ra Vũng Tàu để tránh pháo kích. Ông Ba cho xe qua cầu Cỏ Mây rồi dừng lại nghe ngóng tình hình. Từ cầu nhìn về phía Bà rịa, quang cảnh thật kinh hoàng, Bà rịa chìm trong khói đen mù mịt, những cột lửa bốc cao ở vài nơi sáng rực cả một vùng. Tôi nghe ông Ba lẩm bẩm :”Sao không thấy bên mình phản pháo lại…điệu này chắc bỏ chạy hết rồi”. Thật ra những ngày cuối cùng của tháng Tư là sự tan rã của quân đội miền Nam, giống như những quân cờ domino ngã rạp một cách liên hoàn… Không phải là giao tranh giữa hai bên mà chỉ có một bên tiến và một bên lùi. Những quả đạn pháo của phía bên kia dội xuống Bà Rịa chẳng qua chỉ là một tín hiệu báo động rằng giờ G đã đến.

Ông Ba tiếp tục cho xe chạy về hướng Vũng Tàu. Có lẽ ông vẫn còn một chút hy vọng là Vũng Tàu sẽ được cố thủ chờ viện binh từ Sài Gòn xuống tiếp ứng qua ngõ đường biển. Một gia đình trên xe ông Ba đã xin xuống xe tại căn cứ hải quân Rạch Dừa để xuống một chiếc tàu Mỹ. Nghe đâu sau đó gia đình này đã đến đảo Guam rồi đến Mỹ.

Ông Ba dừng xe tại Rạch Dừa cho mọi người xuống “cắm trại” tại một khu vườn dừa của một người dân, khu vườn rộng rãi trồng rất nhiều dừa dọc ngang các con mương ươm đầy những cây dừa non. Đêm đó mọi người quấn mền dựa lưng quanh các gốc dừa chợp mắt. Trưa hôm sau, nghe radio báo tin Phước Tuy đã hoàn toàn thất thủ. Mọi người lặng lẽ nhìn nhau …Lúc đó họ chỉ nghĩ đến những người thân yêu của mình trong quân đội vẫn còn đang kẹt lại đâu đó trong cuộc chiến.

Ông Ba đưa mọi người quay về Bà Rịa, cầu Cỏ Mây đã bị giật sập, phải đi ghe qua sông. Tôi nhìn thấy có nhiều xác người lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn trôi dưới dòng nước…

Trở về căn nhà cũ, một cảnh tượng đổ nát thật hoang tàn, tất cả chỉ còn lại một đống tro tàn tỏa mùi khét lẹt. Khoảng chục căn nhà xóm tôi cháy rụi vì trúng đạn pháo kích. Bà Tư nhà bên cạnh không theo xe ông Ba đi tản cư mà ở lại bám lấy căn nhà của mình, bà đã ngồi núp ở gốc cây khế trước sân nhà tôi suốt đêm hôm đó, thẩn thờ nhìn ngôi nhà của mình cháy rụi dần một cách bất lực. Bà kể nhờ trời thương nên vẫn lành lặn sau một đêm khói lửa và đạn pháo kinh hoàng. Tôi cố bươi móc từng chút trong đống tro tàn, hy vọng tìm thấy những đồ vật thân yêu còn sót lại. Không còn gì có thể sử dụng được ngoài tro bụi….

Ngày 1 tháng 5 năm 1975, tôi và vài đứa hàng xóm rủ nhau đi bộ ra nhà tròn xem bộ đội ra sao. Tháp nhà tròn vẫn còn đó, phòng thông tin ngay chân tháp có nhiều lổ đạn. Tôi ngước lên, cái bồn nước vẫn còn nguyên vẹn, nhưng đàn én đã không còn bay lượn dưới ánh nắng mai như mọi ngày…Có lẽ chúng cũng cảm nhận được đã có một cái gì thay đổi .

Tôi nghe nặng trĩu một nổi buồn mông lung vô định. Tôi đã hết mọi hy vọng được nhìn thấy quê hương mình như những ngày trước tản cư, những ngày mà mọi thứ đã trở nên quen thuộc trong ký ức ngọt ngào của một tuổi thơ chưa biết buồn bao giờ.

Đã 45 năm trôi qua, ngày hôm ấy vẫn chưa khi nào phai nhạt trong trí nhớ tôi, một ngày đáng nhớ, một ngày đáng buồn, và một ngày đã làm cho nhiều người miền Nam phải suy nghĩ về nó, khi thân phận họ thay đổi như không còn là một công dân Việt trên chính quê hương mình.

….

Cho tôi xin lại một ngày, ở nơi nơi thành phố cũ

Cho tôi xin lại một đời, một đời sống với quê hương

Cho tôi đi lại đoạn đường, hàng cây vương dài bóng mát

Cho tôi an phận ngàn đời, bên bờ đê vắng làng tôi.

Tháng 4/2020

TÍNH ĐẶC THÙ CỦA CHẾ ĐỘ

No photo description available.

TÍNH ĐẶC THÙ CỦA CHẾ ĐỘ

Đỗ Ngà

Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn cho biết, tháng 2/2021 chỉ số giá tiêu dùng -CPI của tháng 2/2021 đã tăng cao nhất trong 8 năm qua. Điều đáng nói là suốt năm đại dịch 2020, chính phủ của ông Nguyễn Xuân Phúc cũng tung ra một số gói cứu trợ kinh tế như nhiều chính phủ khác. Tuy nhiên do quản lý yếu kém nên có những gói cứu trọ đã bị nghẽn mà không giải ngân được. Được biết trong tháng 6/2020 gói cứu trợ 16.000 tỷ cứu các doanh nghiệp đang ngáp không giải ngân được đồng nào khiến nhiều doanh nghiệp đang ngáp trở chuyển sang ngỏm hàng loạt. Sau đó là gói cứu trợ an sinh 62.000 tỷ, được chính phủ thông báo là giải ngân được. Tuy nhiên giải ngân là tiền được bơm ra ngoài thị trường nhưng tới tay được người dân cần cứu trợ hay không là chuyện khác.

Cũng theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn thì trong tháng 2, cả nước có 33.600 doanh nghiệp bị ngỏm, trong khi đó chỉ có 15.480 doanh nghiệp mới thành lập. Như vậy tính trong tháng 2 thôi thì nền kinh tế Việt Nam đã mất đi 18.120 doanh nghiệp, một số lượng rất lớn nếu chỉ xét trong một tháng. Mà như ta biết, doanh nghiệp chết nhiều thì khả năng sản xuất của nền kinh tế giảm đáng kể, dẫn đến hàng hóa khan hiếm và dịch vụ cũng thiếu thốn. Thêm vào đó tiền cứ rót vào nền kinh tế thì tất nó gây ra giá cả hàng hóa tăng vọt. Đó là nguyên nhân chỉ số CPI tăng cao ngất trong tháng 2 này.

Tiền hỗ trợ doanh nghiệp thì bị bóp lại làm cho doanh nghiệp chết hàng loạt, điều hành kinh tế yếu kém để chỉ số CPI tăng cao thì làm cho dân nghèo đi do gánh nặng lạm phát. Doanh nghiệp tư thì nhân chết hàng loạt, dân thì khó khăn. Vậy câu hỏi đặt ra là doanh nghiệp nhà nước, một loại con cưng của chính phủ nó sẽ ra sao? Xin thưa, doanh nghiệp nhà nước vẫn được ưu ái sống khỏe.

Lấy lý do là dịch Covid-19, đứa con cưng của chính phủ là Vietnam Airlines đã bù lu bù loa xin chính phủ hỗ trợ nó 12.000 tỷ đồng. Vietnam Air Lines nó lấy lý do rằng “con bị bị dính bệnh và cần chính phủ cho chút ô xy để thở”. Được biết việc lợi dụng tình hình khoa khăn chung của nền kinh tế, những đứa con cưng của ông nhà nước hay khóc lóc đòi bố mẹ cho tiền rồi chúng dùng tiền đó ăn chơi phè phỡn là cái trò quen thuộc của các loại hình doanh nghiệp này. Cũng chính cái trò này mà những “quả đấm thép” dưới thời Nguyễn Tấn Dũng đã phá tan hoang nền kinh tế đất nước như thế nào?! Và nay Vietnam Airlines cũng chơi trò tương tự để móc tiền ngân sách.

Biết là Vietnam Airlines khóc giả để moi tiền, thế nhưng Chính Phủ vẫn móc hầu bao ra cho nó mượn 4.000 tỷ đồng. Sẽ không ai phát hiện ra trò ma mãnh này của Vietnam Airlines nếu không xảy ra chuyện doanh nghiệp này dự định đầu tư đến 10.000 tỷ vào sân bay Long Thành mới đây. Có lẽ đang dư 6.000 tỷ lựa thời Covid – 19 khóc lóc để moi thêm chính phủ 4.000 tỷ nữa để đổ vào đầu tư sân bay Long Thành kiếm lời bỏ túi. Đó là một thực tế bất công đang diễn ra trước mắt. Những doanh nghiệp nhà nước cứ hễ khóc là chính phủ cứu, không cần biết nó khóc thật hay khóc giả chính phủ vẫn cứu trong khi đó doanh ngiệp tư nhân ngáp ngáp không ai cứu.

Như vậy qua đây chúng ta thấy gì ở cái gọi là “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” này? Đấy là khi đất nước gặp khủng hoảng thì chính phủ sẽ đè đàu toàn dân và các doanh nghiệp tư nhân để giải cứu cho doanh nghiệp quốc doanh. Bản chất của ĐCS là vậy, nó chỉ che chở cho những gì thuộc về nó, còn những gì thuộc về dân thì mặc kệ. Thậm chỉ nó còn có thể tước đoạt những thứ cuối cùng cần cho sự sống của dân để bù lại phần thiệt hại chỉ như “trầy da” của con cái nó. Trong trong quyền lợi kinh tế và trong quyền lợi chính trị đều như nhau, CS chỉ hành xử chỉ theo một cách như vậy thôi./.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://khoahocdoisong.vn/khong-giai-ngan-duoc-goi-ho-tro…

https://baodautu.vn/kho-ve-thu-tuc-doanh-nghiep-chua-the…

https://www.thesaigontimes.vn/…/chi-trong-2-thang-hon…

https://vnexpress.net/vietnam-airlines-xin-chinh-phu-ho…

https://zingnews.vn/chinh-phu-duyet-cho-vietnam-airlines…

https://thanhnien.vn/…/vietnam-airlines-muon-dau-tu… 

 

TRẠI TÙ SÓNG THẦN NƠI CUỐI CÙNG TRƯỚC KHI ĐƯỢC TẠM HOÃN CẢI TẠO

 May be an image of child, standing and outdoors

 Bài hơi dài, nhưng rất hay!

HỒI KÝ BS. NGUYỄN DUY CUNG

Nguyên Giám đốc BV. Nguyễn Văn Học Gia Định

TRẠI TÙ SÓNG THẦN NƠI CUỐI CÙNG

TRƯỚC KHI ĐƯỢC TẠM HOÃN CẢI TẠO

Trại Sóng Thần trước kia là căn cứ của Thủy Quân Lục Chiến đóng trong khu rừng Cấm-Dĩ An, thuộc địa phận Thủ Đức. Đây là một trong những đơn vị trẻ trung, hào hùng của Quân Lực VNCH, nhưng không may, cũng là đơn vị có nhiều bác sĩ Q. Y tử trận ngoài chiến trường kể từ năm 1964 như bác sĩ Trương Bá Hân tại Bình Giả, Bác sĩ Lê Hữu Anh tại Quảng Ngải, Bác sĩ Trần Ngọc Minh tại Quảng Tín.

Vào mùa thu năm 1960, có những trận đánh dữ dội đầu tiên trên vùng biên giới cực Bắc tỉnh Kon Tum. Quân đội chính quy Bắc Việt theo đường mòn Trường Sơn Tây tràn qua biên giới VN, với mưu toan đánh chiếm thành phố hẻo lánh Kon Tum nhân ngày lễ Quốc Khánh 26 tháng 10 năm 1960. Nhưng âm mưu bại lộ nên xoay qua tấn công cùng một lúc năm tiền đồn Mang Khiêng, Mang Búc, Toumerong, Dakrotah, Dakha.

Lúc này tôi đang xử lý thường vụ chức vụ Y sĩ trưởng Sư đoàn 22BB và đang tham gia cuộc hành quân tái chiếm đồn Dakrotah. Một tiểu đoàn TQLC cùng một tiểu đoàn Nhảy Dù-tiểu đoàn 6 của Thiếu tá Đỗ Kế Giai đã lên tăng cường trung đoàn 40 để giải toả áp lực và chận đường tiến quân của địch.

Chiếc xe nhà binh Motolova của Liên Xô từ Suối Máu chở tôi về tới Sóng Thần lúc trời ngã chiều Tôi lại bị chuyển trại lần nữa nhưng không lẽ K3 chỉ có một mình tôi? Trại khá rộng, nhưng có vẽ tiêu điều, với những dãy nhà trệt thấp lợp tôn, chen lẫn với những vùng đất bỏ hoang lâu ngày cỏ mọc um tùm hoang dã. Chiếc xe chạy vô thẳng trong sân, đậu nối đuôi sau một đoàn quân xa hiệu Trung Quốc vừa chở tù binh ngoài Bắc về. Lần đầu tiên đến đây, tôi thấy ngỡ ngàng, chưa định ra phương hướng. Chỉ thấy trước mặt trại có con đường rầy xe lửa, không biết chạy về đâu. Trại không có cổng lớn, không có hàng rào kẽm gai, cũng không có lính canh. Không có lệnh tập họp tổ. Không có lệnh làm vệ sinh trại, nhổ cỏ, hốt rác, đào giếng nước như ở các trại Trảng Lớn, Xuân Lộc, Suối Máu.

Tôi được đưa xuống một căn nhà nhỏ bỏ trống đã lâu, nền đất tối om, nhà không cửa, không đèn đuốc, không chiếu màn. Tôi cảm thấy mệt mỏi sau một thời gian dài di chuyển, thần kinh còn căng thẳng vụ tử hình Thiếu tá Nam ở trại tù Suối Máu, giờ đây lại không biết còn chuyện gì sẽ xảy đến cho mình nữa, tôi cảm thấy chóng mặt vì bụng đói cồn cào, ngồi lâu trên chuyến xe nhà binh bít bùng lắc lư, nên không còn tỉnh táo nữa, tôi lấy tấm đắp đem theo trải xuống đất, nằm ngũ thiếp đi cho đến sáng.

Trời còn sớm, một cán bộ Quân Y Việt Cộng – Y sĩ trưởng của trung đoàn đến khám bệnh cho tôi. Tôi nằm dài dưới đất không cựa quậy, để mặc anh ta muốn khám gì thì khám. Đầu tiên anh ta đặt ống nghe lên giữa xương ức của tôi xong kéo xuống bên hông bụng tôi về bên trái. Với cách đặt ống nghe không tương ứng với phương vị các bộ phận bên trong lồng ngực hay trong xoang bụng, như trong sách vở y khoa thường dạy, tôi không biết anh ta muốn khám tim gan phèo phổi ra sao, tuy nhiên tôi vẫn nằm yên không thắc mắc. Chỉ đến khi nghe anh ta đề nghị chích thuốc thì tôi mới ngồi nhỏm dậy, cám ơn và từ chối. Nhớ đến chuyện chai xá xị chứa đựng một chất nước nâu nâu mà anh bạn tù ở lán 31 đã kể cho tôi nghe lúc còn ở Xuân Lộc, với lời khuyên đừng bao giờ để cho ai chích thuốc gì lạ vào cơ thể mình. Âu đó cũng là kinh nghiệm xương máu của tù nhân . Ai biết được âm mưu của VC thâm độc đến cở nào?

Nghe đến Rừng Cấm, tôi cũng ngại ngùng. Mặc dầu không có người canh chừng, nhưng suốt ngày tôi cũng chỉ đi loanh quanh gần trại, nhìn xem phong cảnh. Tình cờ thấy một hộp giấy vuông trống trơn, bên ngoài có đề tên Bác sĩ NQH. Đúng là tên một đồng nghiệp đàn anh trên tôi nhiều lớp đã từng làm chỉ huy trưởng TYV Cộng Hoà vào năm 1967 với cấp bậc Trung tá. Có lẽ món quà của gia đình gởi vô một trại nào đó cho anh và anh mang luôn đến đây. Bìa hộp bằng carton còn nguyên vẹn, ít ra tôi cũng có một người quen đang ở đây.

Trong trại đặc biệt có một cái quán nhỏ nhưng tôi đâu có tiền để vô ngồi ăn. Lúc mới nhập trại, có lệnh đổi tiền, còn bao nhiêu tôi đã kê khai hết, nhưng đâu có được hoàn trả lại. Khi tôi đến đây, nhiều tháng đã trôi qua, sau vụ cải tổ tiền tệ. Không biết cái quán có từ bao lâu nhưng thấy cô chủ quán vẫn còn lúng túng trong vấn đề thối tiền buôn bán. Cô nhờ tôi giúp làm bảng đối chiếu tiền cũ và tiền mới. Tôi nhận lời, trở về “chòi riêng” ngồi dưới đất tính toán, trình bày sạch sẽ trên hai trang giấy học trò, dán trên bìa cứng tôi lượm được ngoài sân, phụ với cô treo trên vách cho khách hàng xem. Cô thấy vừa ý, khen tôi viết chữ đẹp, trình bày hay, và lịch sự đền ơn tôi bằng một dĩa trứng gà ốp la với bánh mì nóng.

Trên bàn ăn gần đó, khách hàng hội nhau ngồi kể chuyện, từ những trận chiến ác liệt ở Hạ Lào, những gian truân trên dãy Trường Sơn bạt ngàn đèo núi, vách đá cheo leo, với khe sâu thăm thẳm, những cảnh sống kham khổ của tù binh bị đưa ra Bắc chân lết đi từng bước nặng nề, có những tù binh Hoa Kỳ, không quen với thời tiết của miền nhiệt đới, dễ bị đau yếu kiệt sức, không còn gượng nổi, bị giam giữ lại dọc đường trong những hầm được thiết lập trong rừng sâu. Họ được đánh giá thành những đơn vị để trao đổi máy cày hay xe ủi đất.

Khách còn kể lại có những bác sĩ miền Nam, không chịu nổi thời tiết nghiệt ngã ngoài biên giới Việt Hoa, và những cách đối xử gắt gao, khắc khổ trong các trại tù, nên đã gục ngã hoặc đã quyên sinh. Xéo xéo nơi tôi ở, có một anh sĩ quan trợ y trẻ tuổi, về đây đã được mấy hôm. Tôi không quen biết anh trước, nhưng dường như anh đang mắc phải một chứng bệnh tâm thần.

Buổi trưa hè, trời nắng nóng chang chang mà anh cứ tưởng như là đêm trăng mờ Đà Lạt. Anh mặc quần đùi, mình trần, ra đứng giữa đường mòn, đi tới đi lui nghêu ngao ca hát. Thỉnh thoảng lại ngửa mắt nhìn trời bị mây che, ngâm nga Hàn Mặc Tử: “Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt, như đón từ xa một ý thơ”, và có vẽ như đắc ý với lời thơ, anh cứ thế một mình lập đi lập lại.

Ngành Trợ y là thành phần Quân y bị tổn thất nhiều nhất, vì thường xông pha ngoài trận mạc, theo những đơn vị hành quân nhỏ. Rất có thể anh bị kích xúc mạnh sau những trận chiến ác liệt, có nhiều thương vong và bạn bè thất tán!.

Qua ngày sau, cũng chính anh Bác sĩ đã khám cho tôi hôm đầu trở lại, nhưng lần này anh hoàn toàn thay đổi cách xưng hô làm tôi ngạc nhiên

“Bây giờ em biết anh là ai rồi (?)”.

Vừa nói anh vừa rút trong lưng ra một trang giấy học trò màu nâu đánh máy bài Diệt trừ Sốt rét, đồng thời xòe hai bàn tay chai cứng cho tôi sờ. “Mỗi ngày em phải gánh phân để tưới 500 gốc mì! Thấy anh cán bộ thật tình, nghĩ mình sắp được về, tôi nói với anh sau này có cần dụng cụ Y Khoa gì cứ đến tìm tôi trong nhà thương Nguyễn văn Học và tôi hứa sẽ giúp anh con dao mổ, vài cây kéo, vài cây kềm mà anh hằng ao ước. Những vật dụng mới toanh này, trước kia được bày bán đầy rẫy ngoài chợ trời, trên các lề đường Chợ Cũ. Thấy đẹp và rẻ, thỉnh thoảng tôi mua về để dành. Về nhà, tôi giữ lời hứa, soạn sẵn một vài dụng cụ tốt để dành tặng anh nhưng không thấy anh đến lấy. Có thể vì tên nhà thương đã đổi nên anh không tìm ra nhà tôi được.

Tôi ở trại Sóng Thần hơn một tuần lễ. Có vài người khi về đây nói sắp được thả ra nhưng đêm đến lại bị chuyển đi nơi khác, làm những người còn lại trong trại lo ngại, hoang mang. Buổi ăn nào thấy kha khá, có chút thịt chút cá, là biết có phái đoàn quan trọng nào đó đến thăm trại. Mỗi ngày tôi cũng được ba tờ giấy khổ lớn, dài, để làm bản tự kiểm. Nhưng có điều lạ, không giống như ở các trại tù khác, là khi tôi viết theo đúng bài bản “Đế quốc Mỹ xâm lược, tội ác đầy trời” v. v… thì cán bộ nhỏ nhẹ khuyên tôi không nên chỉ trích Mỹ nữa… “Khi ra khỏi trại về nhà anh sẽ thấy đời sống có khác đi!”. Tôi không nghĩ là mình nên hy vọng vào một điều gì thay đổi trong chế độ CS.

Dưới nhà bếp, có nhân viên dân sự làm việc. Tôi lén nhờ người trao tin về cho gia đình tôi. Vợ tôi mừng rỡ dẫn hai đứa con Duy Huân và Xuân Uyên lên thăm tôi, nhưng không được bảo lãnh tôi ra. Chính Bác sĩ V. C Giám đốc bệnh viện Nhân dân đi xe nhà thương Ford Falcon lên đón tôi, cũng bị ông Thủ trưởng Đoàn 875 cương quyết từ chối

“Anh này được tạm hoãn học tập cải tạo vì nhu cầu nhà thương cần bác sĩ giải phẩu về lồng ngực. Anh mà mất đi, thì tôi không có người để thay thế”.

Tôi buộc ở lại thêm ít hôm đợi xin được giấy giới thiệu của Bà Thứ trưởng Bộ Y tế Dương Quỳnh Hoa, tôi mới rời khỏi trại Sóng Thần.

Xe nhà thương đưa tôi về đến Trung Tâm Thực Tập Y Khoa Gia Định (bây giờ đã đổi tên là bệnh viện Nhân Dân) vào buổi trưa ngày 20 tháng 4 năm 1976, gần một năm sau ngày miền Nam sụp đổ. Còn trong giờ làm việc, nhưng một số nhân viên đã tự động ra đứng hai hàng ngoài sân bệnh viện để đón tôi. Nhìn thấy tôi tiều tụy trong bộ đồ bà ba đen, chống nạng, chân đi khập khiễng, có người đã ứa nước mắt.

Tình cảm bất ngờ của nhân viên làm cho tôi thật sự xúc động. Bây giờ tôi không còn quyền hành gì nữa. Tôi không còn là Giám đốc của họ mà chỉ là một “người tù cải tạo” thất thế, mới được thả về. .

Xin cám ơn những giọt nước mắt thương cảm của anh em, chúng ta đã mất tất cả rồi, chỉ còn lại tấm lòng nhân nghĩa với nhau thôi.

ĐI TÙ VỀ NHỮNG TỦI NHỤC TINH THẦN VÀ VẬT CHẤT

Chế độ Cộng Sản thật vô cùng thâm độc. Ngoài chủ trương tận diệt “Trí, Phú, Địa, Hào”, đào tận gốc, móc tận ngọn đối với Sĩ quan trong Quân lực VNCH phải tìm cách phân tán tối đa gia đình. Bắt chồng đi tù vô hạn định, đuổi vợ con về vùng kinh tế mới để dễ bề lung lạc tình cảm, tinh thần, cướp đoạt tài sản, con cái phải chịu cảnh ngu dốt, không được lên Đại học vì cái chủ nghĩa lý lịch phân biệt.

Khi đi tù về, tôi mới biết gia đình gặp nhiều khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần hơn cả sự suy nghĩ của tôi. Tuy nhiên tôi vẫn thấy mình còn may mắn vì gia đình tuy túng thiếu nhưng vẫn nguyên vẹn, so với nhiều gia đình khác bị Cộng sản làm cho đổ vỡ tan hoang.

Trước đây vì cống hiến tất cả ngày giờ cho nhà thương và cho bệnh nhân, không mở phòng mạch riêng, tôi chỉ sống với đồng lương công chức thanh bạch. Cuối tháng lãnh được bao nhiêu tiền, tôi đem về đưa cho vợ để nuôi hai con còn nhỏ. Lương công chức không là bao. Phải biết tiết kiệm, gói ghém trong việc tiêu pha. Thỉnh thoảng có những phái đoàn từ thiện đến xin bệnh viện giúp đỡ trẻ mồ côi. Thông thường tôi tìm cách tránh né, vô phòng mổ làm việc để khỏi phải tiếp xúc phái đoàn với tư cách Tổng Quản Đốc. Tôi không muốn chi tiêu số tiền hạn hẹp của nhà thương do ban Hành chánh giữ để giúp cho những bệnh nhân nghèo khi xuất viện làm lộ phí trở về nguyên quán ở nơi xa. Khi nào không tránh được, tôi đã phải thành thật móc bóp cho họ xem. Tôi chỉ có bấy nhiêu tiền vừa lãnh. Đôi khi tôi chỉ có thể giúp đỡ một phần nhỏ tượng trưng trong số lương cố định của tôi, vì tôi còn phải để dành tiền mua sữa cho con tôi. Cũng may nhờ có vợ tôi dạy thêm đàn Dương Cầm nên cuộc sống gia đình cũng chưa đến độ thiếu trước hụt sau.

Nhưng kể từ ngày tôi rời gia đình để đi qua các trại tù, lương hàng tháng của tôi đã mất. Học trò của vợ tôi cũng thưa dần vì khó đến nhà được. Nhà công chức cho chúng tôi ở nằm trong khuôn viên nhà thương, cổng ra vào bây giờ có lính gác nghiêm ngặt. Có thể gia đình học trò cũng gặp khó khăn về tài chánh. Nhân viên trong Trung tâm thương cảnh gia đình vợ con tôi gặp khó khăn, nheo nhóc nhưng không giúp gì được, vì họ cũng nghèo, chỉ biết an ủi nâng đỡ tinh thần, chỉ dẫn cách thức cho vợ tôi vô Chợ Lớn mua hàng tạp hóa, sữa hộp, v. v… về trải ngoài đường trước cửa nhà bán kiếm tiền lẻ qua ngày.

Có bệnh nhân lén lút mang được một ít thịt heo từ lục tỉnh lên cho các con tôi, nhưng phải giấu cất kỹ lưỡng, lo lót tiền khi qua trạm kiểm soát Tân Hương-Mỹ Tho vì VC có chánh sách “ngăn sông cấm chợ” nên vấn đề vận chuyển thực phẩm lên thành phố quả là gian nan, vất vả.

Một hôm có người đi xích lô đạp đến nhà cho gia đình tôi 10kilo gạo. Đến cổng nhà thương bị Công an chận xét, hạch hỏi. Anh ta cởi phanh áo ngoài, chỉ vết sẹo dài từ sau lưng ra trước ngực và phân trần:

“Trước đây, tôi bị lao phổi nặng. May nhờ được Bác sĩ Cung mổ cứu sống, lành bệnh, đi làm việc trở lại được để nuôi vợ nuôi con. Bây giờ nghe nói ông đi tù về, gặp cảnh sống khó khăn, tôi đem biếu ông ít gạo gọi là đền ơn ông”.

Có một chiếc xe đạp đàn ông cũ của ai mang đến bỏ trước nhà nói tặng tôi để di chuyển. (Sau này sang Hoa Kỳ, tình cờ tôi được biết xe đó là của GS Nguyễn văn Trường, nguyên Tổng Trưởng Bộ Giáo Dục.) Tôi về nhà thương làm việc lại trong phòng mổ đã chín tháng nhưng không được trả lương. Chỉ được cấp một giấy chứng nhận của BS Lê văn Tốt trong ban lãnh đạo của bệnh viện, với hàng chữ viết tay nắn nót “Anh Bác sĩ Nguyễn Duy Cung là Bác sĩ Khoa Ngoại, đã cộng tác tự nguyện không lương 9 tháng nay, coi như được thử thách qua thời gian”!.

Chân đau tôi phải chống nạng làm bằng nhánh ổi do bạn tù đốn cho tôi khi tôi còn ở Trảng Lớn. Tôi đi đứng khó khăn. Suốt ngày phải đứng mổ trên một chân trái như chim Flamengo bên xứ Kenya-Phi Châu. Còn chân đau thì co lại, gác lên trên cái ghế tròn nhỏ do anh Huỳnh văn Tỵ, Y tá trưởng phòng kê dùm phía sau. Ban ngày làm việc trong phòng mổ, chiều đến tôi trở thành bệnh nhân khu Nội Thương và Vật lý trị liệu. Tôi bị chứng Cao huyết áp và chân yếu do vấn đề suy dinh dưỡng trong các trại tù chỉ có cơm gạo mọt với muối và mắm ruốc loại xấu nhất được vứt bỏ ngoài bờ biển Vũng Tàu.

Sau mỗi lần mổ, tôi không được ngồi nghỉ ngơi một mình trong phòng riêng dành cho Bác sĩ Trưởng khoa như xưa, mà phải ngồi ngoài phòng họp có người qua lại, để dễ bề kiểm soát, trông chừng.

Thỉnh thoảng, sau khi mổ tôi nhận được một mẩu giấy nhỏ, ra lệnh đi trình diện ở những nơi thật là hắc ám, kín cổng cao tường, phòng ốc tối om, cán bộ Công an mặc quân phục cầu vai xanh, mang kính đen. Mỗi cuối tuần tôi phải đi trình diện ban An ninh khóm 6, phường 3, quận Bình Thạnh, Gia Định.

Có lần tôi được giấy báo đến trại Bạch Đằng, nhìn ra tượng Đức Trần Hưng Đạo đứng chỉ tay xuống sông mà dân chúng thường rỉ tai “Đức Thánh khuyên: Muốn sống hãy xuống nước mà đi”. Nơi này cổng sắt thật cao và nặng, lâu ngày rỉ sét, khi mở ra kêu thành tiếng to ken két. Tôi được đưa vô ngồi bên trong căn phòng tối om chờ đến 4 tiếng đồng hồ mới thấy một viên Thiếu tá đến. Ông ta chỉ hỏi vài câu chuyện bâng quơ rồi thả cho về.

Một buổi trưa khác, tôi lại được giấy đến trình diện Quận 3. Tôi cũng được đưa vô một phòng tối, gặp cán bộ đến chất vấn:

-“Ngày trước, anh được đề nghị đặc cách lên Trung tá, được bổ nhiệm làm Giảng sư trường Đại học Y Khoa, Tổng Quản Đốc Trung Tâm Thực Tập Y Khoa Gia Định, bệnh viện Nguyễn Văn Học, một cơ sở Y Tế lớn vào hàng nhất nhì trong Đô thành. Vậy nhà cửa, tiền bạc của anh như thế nào?”

Không cần suy nghĩ, tôi trả lời ngay:

– “Cấp bậc thật thụ sau cùng của tôi là Y sĩ Thiếu tá, nhà tôi đang ở trong bệnh viện là do Chánh phủ cấp. Về tiền bạc, tôi lãnh lương công chức, mỗi tháng phòng phát lương đưa bao nhiêu đựng trong bao thơ tôi đem về cho vợ tôi chi dụng. Chỉ nghe than là thiếu hụt. Có một điều tôi biết rõ nhất là từ ngày đi cải tạo về làm việc cho đến nay đã 9 tháng rồi mà nhà nước Cách mạng không trả cho tôi một đồng xu nào! Nhà thương trước đây, có cho gia đình tôi mượn 20 lít xăng để lo đám tang cho Ba tôi, khi tôi còn ở trong trại tù Xuân Lộc, tôi đã trả được 15 lít, chỉ còn thiếu 5 lít. Ông Chính ủy Ba Thiên của nhà thương có gặp tôi trong phòng mổ và có nói “Thôi coi như huề đi, trả bao nhiêu cũng đủ rồi”. Nhưng tôi đã cám ơn ông. Vì đó là xăng của nhà thương để chuyên chở bệnh nhân. Tôi có bổn phận thay mặt gia đình để trả cho dứt, tôi muốn trả lại bằng thứ xăng tốt, chứ không dám mua bừa bãi xăng bán ngoài lề đường trước nhà thương, thường pha thêm nước lạnh.”.

Tôi phẫn uất nhìn thẳng vào mặt tên cán bộ nói một hơi dài mà không cần xem thái độ nó ra sao, thú thiệt là tôi quá mệt mỏi trong từng ngày sống chung đụng với mấy tay CS ở đây, giữa bầu không khí nặng nề ngột ngạt. Trình diện xong tôi trở về nhà thương, tình cờ gặp Bác sĩ Giám đốc Trần Cửu Kiến nguyên là bạn của Bí thư Lê Duẫn. sau khi biết nội dung cuộc phỏng vấn của Q3, ông liền điện thoại lên Thành ủy và cho tôi được nghe cuộc đối thoại giữa cấp Thành và Quận 3:

“Đồng chí đã tìm sai đối tượng, anh Bác sĩ này đi làm việc buổi sáng, đưa tiền trả xe lam, người ta thối lại bao nhiêu cũng không để ý đếm xem đúng hay sai, đủ hay thiếu… ông ta không phải là thành phần tham nhũng bóc lột đâu. ”

Một buổi sáng khác tôi nhờ anh bạn Hoàng Văn Lộc chở dùm đi trình diện bằng Honda. Địa điểm là một biệt thự rộng lớn khít bên dinh Phó Tổng Thống cũ trên đường Công Lý. Đến đúng nơi ghi trong giấy, nhưng anh bạn tôi cố tình chạy luôn. Tới ngang dãy tiệm ăn đối diện Viện Pasteur, anh ngừng xe, kéo vô tiệm, mời tôi một tô phở lớn. “Ít lắm anh cũng có chút gì trong bụng”, đợi tôi ăn xong, anh bảo tôi trao hết giấy tờ tùy thân, để anh mang về nhà dùm. Thấy lính gác cổng nơi tôi đến trình diện, đặc biệt toàn là Công an mặc đồng phục nhà binh với cầu vai xanh, anh ngại tôi sẽ bị giữ đi học tập lại.

Hai người Công an vũ trang dẫn tôi qua một cái sân rộng, đến thềm nhà lớn bên trong, trình cho một sĩ quan cấp tá mang kính đen đứng chờ sẵn, để đưa tiếp tôi vô phòng họp. Chung quanh một cái bàn vuông thấp, đã có tám người đàn ông mặc thường phục đang ngồi, im lặng.

Ánh sáng lờ mờ, không nhìn thấy rõ mặt nhưng cũng có thể đoán là thành phần sĩ quan VNCH đi học tập cải tạo được thả về. Chủ tọa là một phụ nữ, bà luật sư Ngô Bá Thành. Tôi chỉ nghe tên chứ chưa bao giờ được biết bà trước. Có lẽ bà bị xuyển, vì hơi thở của bà có vẻ mệt, nghe rõ tiếng khò khè nho nhỏ. Trước mặt bà có một lọ thuốc viên trăng trắng. Đến trễ, tôi chỉ nghe bà hỏi:

“Các anh biết tại sao các anh được về sớm hay không?”.

Rồi tiếng bà tự trả lời:

“Vì các anh đã học tập tốt, lao động tốt”.

Được hỏi ý kiến, tôi thành thật cho biết tôi chuyển trại học tập bốn lần từ Trảng Lớn qua Xuân Lộc, đến Suối Máu về Sóng Thần. Lúc đầu khỏe mạnh, tôi còn khuân vác bao gạo nặng 5-60 kg được, nhưng lần lần yếu sức đi vì suy dinh dưỡng, chân đau đi đứng chậm chạp…

Còn lý do mà tôi không nói ra là tại sao tôi được tha về thì không chắc là tôi đã “giác ngộ cách mạng” hay lao động cải tạo tốt… Có lẽ họ cần tay nghề của tôi, lúc nào còn xài được thì cứ xài!

Và họ đã “xài” tôi khi có việc cần cứu cho tên cán bộ trẻ mới 39 tuổi, là một tay đặc công chuyên môn gài mìn chung quanh các địa đạo ở Củ Chi… Nhập viện ngày 11/9/76,với triệu chứng đau ngực, sốt và ho ra máu ; cao 1m 70, nặng 60 kilô, bệnh nhân còn đi đứng bình thường, nên sau cuộc Hội chẩn do BS Lê Văn Tốt Giám đốc mới của Trung Tâm triệu tập, thấy bề ngoài sức khỏe người bệnh trông còn tốt, ban lãnh đạo chưa dứt khoát trong việc nghe theo lời khuyên của giới chuyên môn dùng đến khoa Giải phẩu mà lại chủ trương… chờ đợi, đến khi bệnh nhân bị xuất huyết quá nhiều, tình trạng suy kiệt, như sợi chỉ mành treo chuông, mới cho tôi vô điều trị…

Lương tâm nghề nghiệp đã khiến tôi quên đi cảnh tù tội uất ức của mình do CS gây ra, tôi đã tận tình để trọn buổi sáng chủ nhật đứng mổ cho ông ta…và sau đó mỗi ngày đưa ông xuống phòng mổ để chăm sóc vết thương dài trên ngực. Gạch của phòng mổ trở nên đen xì do thuốc sát trùng Formaldehyde nhiễu xuống Nhờ chăm sóc đúng phương pháp, dùng đúng thuốc, thêm ăn uống bồi dưỡng,vết thương từ từ lành hẳn, bệnh nhân được xuất viện sau đó vài tháng. (Ngày về, khi đứng trước cổng Trung Tâm, ông xui xẻo bị một chiếc xe La Dalat thình lình trờ tới ủi, vì khỏe nên ông phản ứng nhanh bằng cách chống một tay nhảy lên ngồi gọn trên đầu xe thoát chết…) Thành ủy và đảng bộ trong nhà thương đến cám ơn tôi và đề nghị giúp đỡ tôi mua “ lò ga” để tiện dụng trong sinh hoạt gia đình. Nhưng tôi đã cám ơn và từ chối ơn huệ này … Tôi chỉ muốn cho CS biết rằng: “ Đó là lương tâm và trách nhiệm của các bác sĩ trong miền Nam từ trước đến nay. Chúng tôi chỉ dựa vào một phương châm để làm việc: “Nhìn vết thương người bệnh để chăm sóc chớ không nhìn cái áo khoác mặc bên ngoài…”

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cũng như những người bạn khác, tôi đã phải trải qua nhiều đớn đau và tủi nhục khi miền Nam sụp đổ. Cuộc đời tôi giống như một trái dưa bầm vập trong một đám rẫy bị côn trùng tàn phá, chỉ còn chút sinh lực để cống hiến cho cái xã hội mà tôi không hề được quyền lựa chọn.

Đến ngày 02 tháng tư năm 1977, tôi được “phục hồi quyền Công dân” đã mất đi từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi miền Nam thất thủ.

CS có những từ ngữ kỳ quặc khiến dân miền Nam cứ nhạo báng với nhau là sau ngày giải phóng mình bị mất nhiều thứ quá, trong đó “Mất quyền Công Dân” là điều nguy hiểm nhất và có ai lượm được cái quyền này xin cho lại…

Nhân viên trong phòng mổ cũng bơ phờ, vì vừa làm việc chuyên môn lại vừa đi lao động, thay phiên cuốc đất trồng khoai, trồng mì ở Long Thành. Thu hoạch không được bao nhiêu mà tiền mướn xe chuyên chở về Sài Gòn quá đắc, nên sản phẩm đành bỏ lại tại chỗ. Đây cũng là một chánh sách “cưởng bức lao động” đối với người thành thị, không đi thì bị kiểm điểm mà đi thì “cây cuốc cong thì mình mong nó gãy, cây cuốc gãy thì mình khỏi lao động…”

Gần cuối năm 1978, tôi được lệnh chuẩn bị để tham gia chiến trường Campuchia, nhưng tôi khỏi phải đi vì có sự tranh chấp quyền lực giữa những đảng viên trong bệnh viện. Theo lệnh của ông Chính ủy Ba Thiên, Bác sĩ Tư Lân là đảng viên tập kết, nên phải đi trước để làm gương cho dân. Nhưng rồi tôi lại được một cái lệnh khác, thu xếp để đi ra ngoài Bắc. Việc làm của CS luôn luôn bí mật. Không biết được lý do. Gởi tôi đi tham quan miền Bắc hay đưa tôi ra giam giữ trở lại trong một miền biên cương Cao Bắc Lạng nào đó, chung với sĩ quan cùng trại tù Suối Máu đã được đưa đi trước đây.

Tôi có hai người anh cô cậu cấp Đại tá QLVNCH đã bị đưa ra Bắc tháng 6 năm 1975 và đã chết trong một trại giam nào đó ngoài biên giới Việt Hoa.

Lúc còn đang hoang mang lo ngại bị vào tù trở lại thì một chuyện may mắn bất ngờ khác lại xảy đến cho tôi. Có một cán bộ Y tế cao cấp, một bác sĩ tốt nghiệp Liên Xô về, nằm chữa bệnh trong nhà thương Chợ Rẫy. Ông có một cái bướu nhỏ bất thường nằm giữa thùy phổi phải. Tôi được một giới chức Sở Y tế chở vô bệnh viện Chợ Rẫy để hội chẩn. Trong buổi họp, người có tuổi đảng cao nhất là Bác sĩ Giám đốc viện Ung bướu tên Nguyễn Văn Trương. Ông cũng là một bác sĩ được huấn luyện theo chương trình Y Khoa Pháp trước đây. Với tiếng nói chung quyết của một người có tuổi đảng cao nhất, ông đồng ý với những lập luận khoa học của tôi về phương pháp chẩn đoán cũng như về cách thức điều trị.

Bệnh nhân được chuyển sang Bệnh viện Hồng Bàng để đặt ống thông khí quản, lấy chất trong cuống phổi làm sinh thiết, và làm tổng kết chức năng hô hấp v. v… trước khi quyết định giải phẫu. Người bệnh cũng viết cho tôi một bức thư nhỏ bằng bàn tay, lời lẽ rất cảm động, nhờ người nhà của bác sĩ Nguyễn Anh Tài trao lại cho tôi vào một buổi tối:

“Tôi không biết anh nhưng có nghe nói anh có chuyên môn về Giải phẫu phổi. Tôi yêu cầu anh vô Bệnh viện Chợ Rẫy để mổ và cứu vớt đời tôi, vì tôi là một Phó tiến sĩ nhưng tôi không thể giao sinh mạng của tôi cho những người sắp mổ cho tôi cũng là Phó tiến sĩ”.

Mặc dù vậy, đến ngày mổ tôi cũng không được phép đến nhà thương Chợ Rẫy đã trực thuộc ngoài Bắc. Trong hồ sơ bệnh lý của bệnh nhân, ông Bác sĩ Giám đốc Chợ Rẫy Nguyễn Văn Ánh có ghi rõ:

Không để cho Bác sĩ Nguyễn Duy Cung vô mổ. Làm như vậy là làm “giảm uy tín của Cách mạng”.

Không dè người bệnh có thân thế mạnh, nên đã từ chối không để cho cán bộ trong bệnh viện Chợ Rẫy mổ, mà được chuyển ra Hà Nội bằng máy bay theo lệnh của Bác sĩ Cẩn-Tổng trưởng Y Tế ngoài Bắc. Một chuyện lạ lùng kèm theo. Việc chuyển tôi ra ngoài Bắc cũng được đình hoãn lại, vì theo lời người anh ruột của bệnh nhân đã đến Bệnh viện Nguyễn Văn Học cho tôi biết:

“đã chuyển bệnh nhân ra Bắc mà còn chở tôi cùng đi chung, sẽ vô tình tạo ra một hiểu lầm rất lớn: dân chúng trong Nam cho rằng ngoài Bắc mời tôi ra Hà Nội để mổ. Như vậy là giảm uy tín của Đảng và Nhà nước”.

Đó là điều Cách mạng muốn tránh. Cũng nhờ trong nội bộ VC có sự tranh chấp như vậy mà tôi thoát được nhiều chuyện rắc rối xảy ra.

Hai năm sau, vào khoảng tháng tám năm 1978, tình cờ có một Cán bộ MTGPMN tạt ngang nhà thương thăm tôi khi ông đang trên đường ra mặt trận Campuchia. Ông ta có vẽ chân tình khi bộc lộ:

“Trước kia anh có giải phẫu để cứu mạng cho một người thân trong gia đình của chúng tôi. Nên hôm nay chúng tôi muốn đến đây để trả ơn lại cho anh. Chúng tôi có theo dõi hoạt động của anh từ ngày anh đi học tập cải tạo về. Chúng tôi cũng nghe dư luận nói về cảnh nhân viên trong nhà thương ra sân đón anh. Anh đang ở trong thế nhân dân, nên bây giờ người ta chưa làm gì được anh… Nhưng anh nên thận trọng vì một ngày nào đó, với nhiều phương cách, người ta sẽ cố gắng tìm dùm cho anh một cái lỗi nhỏ để hại anh…

Chúng tôi cũng biết chuyện anh không được vô nhà thương Chợ Rẫy để mổ cho một Cán bộ Y tế cao cấp có một cái bướu trong phổi. Anh đừng lấy chuyện không mổ theo lời yêu cầu của bệnh nhân mà cảm thấy ái ngại, không yên. Trong hoàn cảnh này không ai trách anh cả. Còn việc người ta không cho anh mổ, đó là một điều may mắn vô cùng cho anh, vì dù anh có đứng mổ, dù anh chỉ đứng phụ mổ, hay dù anh chỉ đứng cho có mặt trong khi mổ, nếu có điều chi sơ suất xảy ra không tốt cho bệnh nhân, anh đều chết. Nếu có phương tiện an toàn để ra nước ngoài, thì anh nên đi, nhưng phải tuyệt đối cẩn thận vì người ta sẽ gài bẫy để bắt lại anh”.

  1. Nguyễn Duy Cung * Huu Nguyen Pham

“CHÚNG MÀY TỰ HÀO VÌ CÁI GÌ?

May be an image of outdoors

“CHÚNG MÀY TỰ HÀO VÌ CÁI GÌ?

Từ Đức Minh.

– Thụy Sĩ, Canada họ không có thương hiệu ôtô riêng như Vinfast của Việt Nam. Nhưng họ lại là quốc gia giàu nhất thế giới, hàng năm họ vẫn viện trợ bố thí cho Việt Nam.

– Pháp, Đức, Anh họ cũng không sản xuất smartphone riêng như Bphone của Việt Nam. Nhưng họ cũng là những quốc gia tiên tiến bậc nhất thế giới.

– Cambuchia cũng không tự hào đánh đuổi Thực Dân, Đế Quốc như Việt Nam. Họ kết thúc chiến tranh vào những năm 80. Ấy vậy mà giờ đây kinh tế nước họ đã vượt qua Việt Nam.

– Indonesia, Malaysia họ cũng không dám tự hào vì luôn thua cuộc trong những trận đá bóng giải SeaGame với Việt Nam. Nhưng họ vẫn là những quốc gia tiếp nhận phần lớn lực lượng lao động cơ bắp, gái mại dâm Việt Nam sang “đánh thuê“ cho họ.

– Hàn Quốc cũng vậy, họ không tự hào như Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới. Vậy mà năm 2018, họ lại viện trợ cứu đói cho các tỉnh miền Trung ở Việt Nam.

– Mỹ, Úc, New Zealand họ cũng không bao giờ tự hào vì có mỗi hơn 300 năm lịch sử (thua xa Việt Nam 4.000 năm Văn Hiến). Ấy vậy mà khoa học kỹ thuật, giáo dục họ phát triển đến mức hàng năm có biết bao nhiêu du học sinh Việt Nam “bám càng“ theo sang ở lỳ.

– Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc họ cũng không thể tự hào như Việt Nam. Bởi lẽ họ không có “Vị lãnh tụ, danh nhân văn hoá thế giới Bác Hồ muôn vàn kính yêu“. Thế mà từ già trẻ gái trai Việt Nam phải qua nước họ làm nô lệ (xklđ).

* Vậy một lần nữa tao xin hỏi, chúng mày tự hào vì điều gì?

Nhóm tin tặc được Chính phủ Việt Nam hậu thuẫn tấn công giới hoạt động

Nhóm tin tặc được Chính phủ Việt Nam hậu thuẫn tấn công giới hoạt động

RFA
2021-02-24

Nhóm tin tặc được Chính phủ Việt Nam hậu thuẫn tấn công giới hoạt động

Hình minh hoạ. Hình chụp hôm 4/8/2020 cho thấy một thành viên giấu tên của một nhóm hacker ở Trung Quốc đang sử dụng một trang web theo dõi các cuộc tấn công mạng trên toàn cầu

 AFP

Nhóm tin tặc Ocean Lotus, bị nghi có mối quan hệ với Chính phủ Việt Nam, Ocean Lotus, đứng đằng sau chiến dịch tấn công an ninh mạng nhắm vào các nhà hoạt động nhân quyền cho Việt Nam. Điều này chứng tỏ sự gia tăng tấn công vào quyền tự do biểu đạt tại đất nước này.

Đó là kết luận điều tra do nhóm Kỹ thuật An ninh của Tổ chức Ân Xá Quốc tế (Amnesty Tech) đưa ra ngày 24 tháng 2.

Nhóm Amnesty Tech tìm thấy những bằng chứng kỹ thuật trong các thư điện tử ‘cò mồi’ gửi đến cho những nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền Việt Nam nổi tiếng, trong số này có một người sống tại Đức, và một tổ chức Phi Chính phủ trụ sở đặt tại Philippines. Theo Amnesty Tech, nhóm tin tặc Ocean Lotus có trách nhiệm về những vụ tấn công trong thời gian từ năm 2018 đến tháng 11 năm 2020.

Nhóm này thường xuyên bị các công ty an ninh mạng phát hiện khi tiến hành nhắm đến các nhà bất đồng chính kiến, các chính phủ và công ty nước ngoài.

Chuyên gia nghiên cứu của Amnesty Tech, cô Likhita Banerji, cho biết: “những vụ tấn công mới nhất này do Ocean Lotus tiến hành cho thấy rõ ràng tình trạng đàn áp mà những nhà hoạt động Việt Nam trong nước cũng như ở nước ngoài phải đối mặt khi lên tiếng cho nhân quyền. Hoạt động theo dõi phi pháp đó vi phạm quyền riêng tư và bóp nghẹt quyền tự do biểu đạt. Chính phủ Việt Nam phải tiến hành điều tra độc lập về vấn đề đó. Bất cứ từ chối điều tra nào cũng sẽ làm tăng thêm mối nghi về việc chính phủ Việt Nam đồng lõa với những vụ tấn công của Ocean Lotus.”

Điều tra của Amnesty Tech phát hiện vụ việc ông Bùi Thanh Hiếu, nhà hoạt động và blogger cổ xúy cho dân chủ, bị tấn công bằng phần mềm gián điệp ít nhất bốn lần từ tháng hai năm 2018 đến tháng 12 năm 2019. Một blogger khác tại Việt nam, không nêu tên vì lý do an ninh, cũng bị tấn công ba lần từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2020.

Tổ chức phi chính phủ VOICE (Sáng kiến Thể hiện Lương tâm Người Việt Hải ngoại) tại Philippines chuyên hỗ trợ người tỵ nạn và cổ xúy cho nhân quyền, bị tấn công vào tháng tư năm 2020.

Tất cả những vụ tấn công đều dưới dạng thư điện tử vờ chia sẻ một tài liệu quan trọng kèm theo đường liên kết để tải tập tài liệu xuống. Những tập tài liệu này đều chứa phần mềm gián điệp.

Ocean Lotus (còn được biết đến dưới các tên như APT-C-00 và APT-32) chịu trách nhiệm về nhiều vụ tấn công mạng, chí ít từ năm 2013, nhắm vào các ngành công nghiệp, cơ quan chính phủ các nước láng giềng Việt Nam và những tổ chức xã hội dân sự.

ĐẠI DIỆN CHO DÂN VÀ TRÒ BỊP CỦA CS

ĐẠI DIỆN CHO DÂN VÀ TRÒ BỊP CỦA CS

Đỗ Ngà

Trên trang web của Quốc hội có thông tin như sau “Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước, là người thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội”.

Ngày 4/2/2021 trên báo Tuổi Trẻ có bài viết “Sẽ bầu 207 đại biểu Quốc hội ở trung ương, giảm đại biểu khối hành pháp” trong đó cho biết, cơ cấu đại biểu quốc hội ở trung ương là 207/500, còn lại là địa phương. Rồi trong đó họ liệt kê nào là các cơ quan Đảng 10 đại biểu; cơ quan Chủ tịch nước 3 đại biểu; cơ quan thuộc Chính phủ 15 đại biểu; khối quân đội là 12 đại biểu; công an là 2 đại biểu; Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên dự kiến sẽ bầu 29 đại biểu bla bla bla…

Ủa? Chứ các vị nói đại biểu quốc hội là “đại diện cho dân” mà sao các vị cơ cấu toàn là đại điện cho đảng cho chính phủ cho quân đội, cho công an, cho các chính quyền địa phương không vậy? Vậy đại diện cho dân đâu? Hỏi cũng là trả lời “đại diện cho dân con khỉ mốc!”

Ở các nước dân chủ, Hạ viện là nơi đại diện cho dân, người đó được gọi là dân biểu. Họ có thể là người của đảng phái có thể không nhưng họ không hề nắm một chức vụ nào khác trong nhà nước. Vị trí của họ là do dân bầu lên và họ phải ứng cử và vận động dân bầu cho họ chứ chẳng có kiểu “đảng cử dân bầu” bịp bợm như ĐCS đang làm. Nên nhớ, đảng phái ở các nước dân chủ chỉ là một tổ chức chính trị có nhiệm vụ cung cấp nhân sự cho các vị trí dân cử trong nhà nước. Họ hoàn toàn không có một bộ máy đảng khổng lồ với quy mô và quyền lực lớn hơn bộ máy nhà nước như trong cách tổ chức của ĐCS Việt Nam.

Hạ viện được ghi nhận nó hình thành từ nửa sau của thế kỷ 13 ở Anh Quốc, khi các chủ đất và các chủ sở hữu tài sản khác ở các quận và thị trấn bắt đầu cử đại diện đến Nghị viện để trình bày bất bình và kiến nghị với nhà vua và chấp nhận các cam kết về việc nộp thuế. Đến đầu thế kỷ 14, những người đại diện cho dân bắt đầu được phân công ngồi trong một căn phòng riêng biệt trong Nghị Viện, người Anh họ gọi đó là “House of Commons”. Và từ đó Quốc Hội Anh có 2 viện: Viện Nguyên Lão “House of Lords” và Viện Thứ Dân “House of Commons”.

Nước Anh trước nội chiến 1642-1651 là chế độ Quân chủ Chuyên chế chứ không phải Quân Chủ Lập Hiến như bây giờ. Và nội chiến xảy ra là do mâu thuẫn giữ Nghị Viện và Nhà Vua và kết quả phe Nghị Viện thắng và nước Anh mới có chế độ Quân Chủ Lập Hiến. Và nước Anh có dân chủ từ đó.

Từ thế kỷ thứ 14, nước Anh dưới chế độ Phong Kiến mà đã có viện thứ dân, nghĩa là họ đã có quốc hội đại diện chop dân đúng nghĩa. Vậy mà đến nay là thế kỷ 21 mà Việt Nam chưa có quốc hội đại diện cho dân thực sự. Từ “đại diện cho dân” là từ bịp bợm mà CS dùng để mị dân mà thôi. Nói thẳng ra là Việt Nam đã rước vào mình một thể chế còn kém xa chế độ phong Kiến nước Anh trước đây 8 thế kỷ. Nhờ CS mà nước Việt “đi trước thời đại” đến 8 thế kỷ so với người ta đấy!

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

http://quochoi.vn/…/gioithieu…/Pages/dai-bieu-qh.aspx…

https://tuoitre.vn/se-bau-207-dai-bieu-quoc-hoi-o-trung…

https://www.britannica.com/…/House-of-Commons-British…

No photo description available.

CHA GIUSE NGUYỄN THẾ THUẤN: VỊ NGÔN SỨ BỊ SÁT HẠI

+16

CHA GIUSE NGUYỄN THẾ THUẤN: VỊ NGÔN SỨ BỊ SÁT HẠI

Không ai biết chính xác ngày mất của ngài, DCCT đã lấy ngày 28.03 là ngày mà Bộ đội Bắc Việt đã ập vào giáo xứ Di Linh, Đà Lạt nơi cha đến giảng tĩnh tâm cho Giáo xứ để chuẩn bị đón mừng Lễ Phục Sinh, bắt đưa ngài đi.

Theo nhân chứng là một người giúp việc cho giáo xứ kể lại rằng: ngày 27.03.1975, Việt Cộng ập vào lục soát và lấy cắp những vật dụng trong Giáo xứ Di Linh, Đà Lạt. Cha Giuse Nguyễn Thế Thuấn lúc bấy giờ đang là giáo sư Kinh Thánh tại DCCT Đà Lạt được mời về đây để giảng tĩnh tâm. Cha đã ngăn cản nhóm người này và mạnh mẽ chỉ mặt chúng quát rằng: “các anh là những người đi ‘giải phóng’ miền Nam sao lại vào đến miền Nam lại lấy cắp hết đồ của người ta như thế.” Nhóm người đã dừng tay lại, im lặng bỏ đi. Nhưng sang ngày hôm sau, tức ngày 28.03, chúng kéo lại đông hơn, bắt ngài đi và giết hại ngài.

Sau đó khoảng 1 tuần, các anh em trẻ của DCCT Đà Lạt đã đi tìm và phát hiện ngài đã bị sát hại và bị vùi xuống một gốc chè. Các tu sĩ đã đem thi hài ngài về an táng tại nghĩa trang của tu viện DCCT Đà Lạt. Sau năm 1975, toàn bộ diện tích đất cũng như tu viện nằm trên ngọn đồi rất đẹp đã bị nhà nước cộng sản chiếm làm viện nghiên cứu sinh học. Trong tấm hình bên dưới, ta vẫn còn thấy dấu tích của tu viện DCCT với chữ Latinh nằm chính giữa mặt tiền: “COPIOSA APUD EUM REDEMTIO” nghĩa là “ƠN CỨU CHUỘC CHỨA CHAN NƠI NGƯỜI”.

Chúng ta cùng tìm hiểu sơ lược về vị linh mục đặc biệt này của DCCT, cách chung là bản dịch Kinh Thánh Cựu và Tân Ước mà ngài đã để lại cho Giáo hội Việt Nam.

Cha Giuse Nguyễn Thế Thuấn sinh năm 1922, tại làng La Phù, Hà Đông (nay thuộc thủ đô Hà Nội), thuộc giáo phận Hà Nội, vào Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội và thụ phong linh mục năm 29 tuổi, tức vào năm 1951. Vì vào thời điểm này, Dòng đang có chương trình “Việt Nam hóa” đội ngũ giảng dạy tại Học Viện của Dòng, nên ngay sau khi được thụ phong linh mục, năm 1952, cha Nguyễn Thế Thuấn được cử đi du học tại Roma, kế đó, sang học tại trường Thánh Kinh Giêrusalem trong vòng 4 năm (1952–1956). Về nước, cha được cử dạy môn Thánh Kinh tại Học viện của Dòng ở Đà Lạt. Cuộc đời của cha từ nay như bị chôn chặt trong tòa nhà được xây bằng đá trên một trong những quả đồi cao nhất của Đà Lạt, trên đường từ thành phố đi Suối Vàng, bị gắn liền với công việc giảng dạy Thánh Kinh mà bề giao phó và việc dịch Thánh Kinh mà cha đã đề ra cho mình.

Giáo sư Thánh Kinh

Những năm ngay sau khi đi du học về, xem ra cha chưa thích nghi được với “xã hội” xung quanh, suốt ngày chôn mình trong phòng với sách vở, thường gắt gỏng, khó chịu với những ai tới xin trao đổi với cha về bài vở như sợ người ta đánh cắp mất thời giờ quý báu của mình. Xem ra Chúa cũng đã không dành cho cha nhiều ưu đãi lắm về mặt “ngoại hình”: một chiều cao dưới mức trung bình của một người Việt Nam bình thường, một cái giọng the thé nhiều khi làm chói tai người nghe. Nhưng không ít người có dịp nghe cha giảng lễ hay giảng bài đã phải thừa nhận rằng cha có một sức hấp dẫn đặc biệt: đằng sau hay xuyên qua cái “chói tai” của giọng nói và của ngôn ngữ sử dụng ấy lại là sự lay tỉnh “lật ngược lòng trí” của Lời Chúa, sức thôi thúc của “Bài giảng trên núi”, quyền năng không gì cưỡng lại nổi của Thiên Chúa từ lòng dạ “son sẻ”, sức sống mới từ cái chết trên thập giá… một số trong những chủ đề ưa thích của cha và gây ấn tượng trên người nghe thời ấy.

Thời ấy vốn là thời của Công Đồng chung Vatican II đang được tiến hành. Bầu khí Học viện, và của Giáo hội Việt Nam nói chung được hâm nóng với những phong trào “canh tân phụng vụ”, “trở về nguồn” và nhất là phong trào “Thánh Kinh”. Thế là cha giáo Thánh Kinh gặp thời: mỗi ngày mỗi có thêm nhà dòng, tu viện, giáo xứ đến mời cha tới giảng dạy Thánh Kinh. Tại Học viện của dòng, môn Thánh Kinh, từ niên khóa 1961–1962, được giảng dạy ngay từ Triết I, và do chính cha phụ trách. Cha buộc phải ra khỏi phòng, khỏi nhà dòng nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày hơn, và do đó cũng có dịp tiếp xúc với nhiều người, trực tiếp đụng chạm tới nhiều vấn đề cụ thể của Giáo hội và cuộc xã hội. Cái tính khí “khó khăn” biến mất lúc nào không hay. Cha trở thành con người dễ tiếp cận. Có thể là qua thực tế, cha đã nghiệm ra được rằng thời giờ Chúa ban không phải dành cho riêng cho mình mà còn để chia sẻ cho người khác nữa.

Dịch giả Thánh Kinh

Cha cũng đã từng giữ chức Giám học Học viện và bề trên nhà dòng Chúa Cứu Thế tại Đà Lạt. Nhưng ai cũng thấy, những chức tước này chẳng thay đổi gì nhiều trong cung cách sống, trong cách xử sự, hay trong trật tự ưu tiên của công việc: vẫn là một cha giáo Thánh Kinh say sưa với sách vở, với lớp học và nhất là với việc dịch Thánh Kinh. Cha đã bắt đầu với Thánh Kinh Tân Ước. Bản dịch Tân Ước của cha đã được xuất bản, sau đó, được sửa chữa và được tái bản, vào những năm 1960. Song song với việc chỉnh sửa bản Tân Ước, cha cũng đã bắt đầu dịch bộ Thánh Kinh Cựu Ước, nhưng tiếc thay, đã không có đủ thời gian để hoàn tất. Chỉ còn cách đích mấy bước thì cha đã vội ra đi, và sau đó một số cha trong Dòng đã tiếp nối phần còn lại và xuất bản cuốn Kinh Thánh đầu năm 1976, khi nhà nước chưa kịp khống chế và cấm in ấn các tác phẩm Công Giáo.

Cuốn Thánh Kinh do cha Nguyễn Thế Thuấn dịch thuật là một công trình khoa học còn có giá trị cho đến ngày nay. Với những chủng sinh trong môi trường Đại Chủng Viện hay Học Viện của các Dòng Tu không thể không dùng đến bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn. Cách làm việc của cha để cho ra đời bản dịch Kinh Thánh như chúng ta thấy ngày nay là cả một công trình vừa tỉ mỉ, vừa mang tính khoa học trải dài trong nhiều năm.

Các học trò của Cha kể lại rằng, mỗi lần có dịp được bước vào phòng ở và làm việc của cha để thu dọn bản thảo, họ có cảm giác như được bước vào một thế giới khác. Bầu khí làm việc trong âm thầm, lặng lẽ, kiên trì như vẫn còn bao trùm cả căn phòng giản dị nhưng chứa đầy kiến thức khoa học. Các bản thảo được xếp ngay ngắn, thứ tự trong một cái bàn rộng, có nhiều ngăn. Bản thảo của từng cuốn sách thuộc Cựu Ước được đóng riêng, theo cùng khổ giấy, 20x40cm. Mỗi trang giấy, được viết một mặt, đều được chia thành ba cột. Cột giữa dành cho từng câu của bản dịch đã hoàn chỉnh. Cột bên trái ghi các từ quan trọng trong câu và các nghĩa của các từ này. Cột bên phải ghi các chú thích về từ ngữ. Cha dùng giấy bao xi măng để làm bìa cho các bản thảo. Tất cả đều được viết bằng tay. Bên cạnh đó là một tủ đựng các phiếu được xếp trong những ngăn nhỏ. Mỗi phiếu là một câu, một cụm từ, một từ với những giải thích hay chú giải của nhiều tác giả khác nhau…

Chúng ta kính cẩn cúi mình trước một vị ngôn sứ dám nói thẳng vào sự dối trá mà không sợ hãi, cảm phục một vị linh mục thông minh, cần cù, kiên nhẫn để chuyển Lời Chúa đến cho Giáo hội Việt Nam.

Tu sĩ DCCT.

Ngày này năm xưa-bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long) bị xử tử.

May be an image of 1 person
Lịch sử Việt Nam qua ảnh

 is with  Hoa Nguyen

Ngày này năm xưa

Hôm nay là tròn 64 năm, ngày cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long) bị xử tử. Làm cách nào một người yêu nước, góp cho cách mạng 800 lạng vàng như cụ bà lại bị cách mạng xử tử? Đó là những câu chuyện rất lạ của một thời lịch sử.

Bà Cát Hanh Long (tên hiệu trong buôn bán giao dịch của bà Năm) sinh năm 1906, quê ở Làng Bưởi, ngoại thành Hà Nội, vốn là một người đàn bà giỏi làm ăn trên đất cảng Hải Phòng, từ nhiều nghề khác nhau trong đó có buôn bán tơ, sắt vụn, bà đã sớm thành đạt trên thương trường, xây nhà tậu ruộng…

Nhà giàu, được giác ngộ nên bà Năm trở thành nguồn cung cấp tài chính cho cách mạng thời từ trước tháng 9 năm 1945 mà bây giờ gia đình tập hợp lại thành một hồ sơ dày đặc từ việc góp 20.000 đồng bạc Đông Dương tương đương bẩy trăm lạng vàng đến thóc gạo, vải vóc, nhà cửa …

Dù đã đứng tuổi theo quan niệm đương thời, nhưng người phụ nữ 40 tuổi của thành phố cảng ấy đã phóng xe nhà treo cờ đỏ sao vàng từ Hải Phòng lên thẳng chiến khu qua thành phố Thái Nguyên, nơi quân Nhật còn chiếm đóng đến Đồng Bẩm, Đình Cả, Võ Nhai để báo cho con trai và các đồng chí của mình tin Hà Nội đã giành được chính quyền.

Sau năm 1945, bà Năm tản cư theo cách mạng lên chiến khu, và mua lại hai đồn điền lớn của “một ông Tây què” tại Thái Nguyên. Hai con trai bà đều đi theo kháng chiến. Khi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức “Tuần lễ vàng”, bà đóng góp hơn 100 lạng vàng. Trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, bà Nguyễn Thị Năm tham gia các cấp lãnh đạo của Hội Phụ nữ của tỉnh Thái Nguyên và Liên khu Việt Bắc, trong đó có 3 năm làm Chủ tịch hội Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên. Khi thực hiện lệnh “tiêu thổ kháng chiến”, bà đã cho san bằng khu biệt thự Đồng Bẩm tại Thái Nguyên..

Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội thường tá túc trong đồn điền của bà. Bà Nguyễn Thị Năm cũng từng nuôi ăn, giúp đỡ nhiều cán bộ Việt Minh sau này giữ những cương vị quan trọng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị…

Khi Cuộc cải cách ruộng đất triển khai vào năm 1953, những hành động yêu nước của Nguyễn Thị Năm bị cho là “giả dối nhằm chui sâu, leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại.” và bà trở thành địa chủ đầu tiên bị đem ra “xử lý”. Bà bị lên án với tội danh “tư sản địa chủ cường hào gian ác”.

Trong bài viết “Địa chủ ác ghê” của C.B trên báo Nhân dân ngày 21 tháng 7 năm 1953 có kể tội bà là “Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người…Giết chết 14 nông dân, Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân…”. Cũng theo đó, Nguyễn Thị Năm đã “thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến” và cũng theo đó thì Nguyễn Thị Năm “không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác”.

Sau những cuộc đấu tố với đủ các thứ tội ác được gán ghép bà đã bị đem ra xử bắn ở Đồng Bẩm, tỉnh Thái Nguyên lúc 8 giờ tối ngày 29 tháng Năm Âm lịch năm 1953. Khi bà vừa tuổi 47.

“Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh.” Du kích quát: “đưa đi chỗ giam khác thôi, im!.” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà. Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất. Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…” – Hồi ký Đèn Cù của Trần Đĩnh.

Ông Nguyễn Hanh, con trai bà Năm kể rằng khi mẹ ông bị xử bắn, ông đang cùng đơn vị ở Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc. Người ta giấu ông mọi tin tức từ trong nước. Hai tháng sau, cuối tháng 6/1953 ông được đưa về nước, bị tống ngay vào trại giam ở Tuyên Quang vì là con của địa chủ gian ác. Năm 1954 ông mới được nghe bà vợ ông đến trại để thăm nuôi kể rõ về sự kiện bi thảm này. Em ruột ông Hanh là Nguyễn Cát, bí danh là Hoàng Công, cả 2 anh em đều hoạt động từ thời kỳ tiền khởi nghĩa 1944 ở vùng Đình Cả, Vũ Nhai. Hoàng Công từng là trung đoàn trưởng của sư đoàn Quân Tiên Phong 308, cũng bị đưa vào trại cải tạo năm 1953, năm 1956 mới được tự do, đau ốm, đến năm 1989 chết thảm trong một tai nạn xe máy.

Năm 1993, sau 40 năm tìm kiếm rất kiên trì, gia đình ông Hanh mới tìm thấy di hài bà Năm cạnh một ao sen, ở bên gốc cây phượng hoa đỏ nhờ chiếc vòng ngọc bám chặt cổ tay và chiếc răng vàng cũng như 2 đầu đạn, bà Cúc vợ ông Hanh cho hay sở dĩ chiếc vòng ấy còn vì bà Năm đeo từ hồi trẻ nó thít chặt vào cườm tay, khi đấu tố có người đã cố rút ra nhưng không được. Di hài bà Năm được đưa về nằm bên mộ chồng là làng Đại Kim, Thanh Trì, Hà Nội.

Cụ ông Nguyễn Hanh, người đảng viên Cộng sản khi mới 21 tuổi, người sỹ quan QĐND cấp trung đoàn khi mới 24 tuổi đã mất sạch mọi thứ, từ bà mẹ nhân hậu đảm đang bị 2 phát đạn oan khiên, đến nhà cửa, tiền bạc, công danh, nay thổ lộ rằng từ 1993 ông đã gửi hàng vài chục lá thư đề nghị các đời Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng… xét cho 2 điều: công nhận mẹ ông, bà Nguyễn Thị Năm là người có thành tích, có công đóng góp cho cách mạng, truy thưởng cho bà Huân chương Kháng chiến, và công nhận Bà là Liệt sỹ, nhưng không một ai trả lời.

Điều duy nhất ông nhận được đến nay là công văn tháng 6 năm 1987 của ban tổ chức tỉnh ủy Thái Nguyên, quy định lại thành phần giai cấp của bà mẹ là “Tư sản – địa chủ kháng chiến”.

Ông than thở: “Mẹ tôi từng nuôi dưỡng, che chở cho cả sư đoàn bộ đội, cán bộ, nhiều người biết chuyện nhưng đã cao tuổi, nên sau khi họ mất đi thì mọi chuyện sẽ rơi vào quên lãng”.

Ảnh: Bà Nguyễn Thị Năm (1906-1953) lúc ngoài 40 tuổi.

Nguồn: http://antg.cand.com.vn/…/Chuyen-ve-nguoi-phu-nu-tung…/ 

RFA: Việt Nam không xứng đáng ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ

 

Trần Bang   is with  Bang Trần

RFA: Việt Nam không xứng đáng ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ

2021-02-23

Phần âm thanh https://www.rfa.org/…/vn-does-not-deserve-to…/@@stream

Với tư cách ứng viên của Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á – ASEAN, Việt Nam sẽ tham gia ứng cử vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Phạm Bình Minh, thông báo vào ngày 22 tháng 2 năm 2021.

Các nhà hoạt động nhân quyền nói gì về quyết định này của chính phủ Việt Nam? Trả lời RFA hôm 23/2 từ Đức Quốc, Luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài, một cựu tù chính trị, cho biết Việt Nam đã từng trúng cử một nhiệm kỳ Hội đồng Nhân quyền LHQ 2014-2016. Nhưng sau đó họ không tái cử, do năm 2015 và đầu năm 2016 Việt Nam vi phạm nhân quyền nhiều quá nên không dám ra tái cử. Tuy nhiên ông cho rằng lần này Việt Nam cũng không xứng đáng ứng cử vì tình trạng đàn áp nhân quyền tồi tệ:

“Một điều chắc chắn là Việt Nam không thể ứng cử Hội đồng Nhân quyền LHQ. Bởi vì trong ít nhất bốn năm vừa qua, Việt Nam đã trở thành nước đàn áp nhân quyền nhiều nhất Đông Nam Á, thay thế Miến Điện trở thành nước giam giữ tù nhân chính trị nhiều nhất, cho nên Việt Nam không thể xứng đáng ứng cử.”

Ngoài ra theo Luật sư Đài, trong những năm vừa qua, Việt Nam thường xuyên bị các đối tác của mình như EU, Cộng hòa Liên bang Đức, Hoa Kỳ, Úc cùng nhiều nước khác lên tiếng yêu cầu Việt Nam trả tự do cho các nhà hoạt động trong nước bị cầm tù, cũng như lên tiếng yêu cầu Việt Nam cải thiện nhân quyền. Ông nói tiếp:

“Đặc biệt các tổ chức quốc tế về nhân quyền cũng thường xuyên lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền. Vào đầu năm vừa qua, Nghị viện châu Âu với 500 thành viên đã thông qua nghị quyết yếu cầu Việt Nam cải thiện tình trạng nhân quyền cũng như trả tự do cho ba thành viên Hội nhà báo độc lập và các tù nhân lương tâm khác ở Việt Nam.”

Trong ít nhất bốn năm vừa qua, Việt Nam đã trở thành nước đàn áp nhân quyền nhiều nhất Đông Nam Á, thay thế Miến Điện trở thành nước giam giữ tù nhân chính trị nhiều nhất, cho nên Việt Nam không thể xứng đáng ứng cử.

-Luật sư Nguyễn Văn Đài

Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (United Nations Human Rights Council) là một tổ chức trực thuộc Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Tổ chức này được ra đời ngày 15 tháng 3 năm 2006.

Báo cáo mới của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm 11/3/2020 cũng xác định các vi phạm của chính quyền Việt Nam trong các vấn đề bao gồm: bắt cóc, bắt giam người tùy tiện, tra tấn người bị bắt tạm giam, tình trạng đối xử bất công đối với các tù chính trị. Hạn chế nghiêm trọng nhất ở Việt Nam theo báo cáo chính là hạn chế các quyền tự do bao gồm tự do biểu đạt, tự do báo chí, tự do internet, và tự do tôn giáo. Hoa Kỳ cáo buộc chính quyền Việt Nam đã bắt giữ tùy tiện những người dám lên tiếng chỉ trích chính phủ.

Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (Human Rights Committee), một cơ quan trực thuộc Liên Hiệp Quốc, trong báo cáo về việc thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Việt Nam đã cáo buộc Hà Nội “vi phạm công ước” khi nói về các đạo luật và thực hành liên quan đến tự do biểu đạt. Ủy ban cũng đã yêu cầu Việt Nam khẩn cấp thực hiện các biện pháp để thay đổi tình trạng này.

Nhà hoạt động Trần Bang, người từng bị sách nhiễu, đánh đập, bắt bớ vì lên tiếng cho nhân quyền, khi trả lời RFA từ Sài Gòn hôm 23/2, cho biết rõ ràng không chỉ riêng VN, mà TQ hay Venezuela, Cuba cũng ứng cử, tức là những nước vi phạm nhân quyền nhất lại vào Hội đồng Nhân quyền. Điều này theo ông là trái khoáy, nhưng những người hoạt động nhân quyền như ông, với tiếng nói nhỏ bé, không thể làm sao để thay đổi tổ chức LHQ được. Ông nói tiếp:

“Hay là họ có ý đồ gì đó, có một người giải thích với tôi rằng là những đứa con hư (những đứa trẻ ngỗ nghịch) cho vào trường, vào Hội nghị thì dần dần có khi dạy dỗ được, chứ để ở ngoài thì nó vẫn vậy. Cho vào có khi may ra lại có chuyển biến.”

Theo Nhà hoạt động Trần Bang, năm 2020 vừa qua, tình hình nhân quyền Việt Nam rất tồi tệ, đặc biệt là tự do ngôn luận, tự do lập hội. Ông dẫn chứng:

“Như vụ Đồng Tâm, họ lấy cả một hệ thống để họ bắt bớ, xét xử mà một vụ mà cả thế giới cảm thấy lương tâm nhức nhối. Hay vị bắt giữ các thành viên Hội nhà báo Độc lập là ông Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn. Hay bắt cô Phạm Đoan Trang của Nhà xuất bản Tự do và nhiều Blogger, Facebooker khác. Rõ ràng đây là vi phạm nhân quyền trầm trọng, đàn áp người dân có tiếng nói bất đồng, đàn áp quyền lập hội… Ví dụ như tổ đồng thuận Đồng Tâm có người bị nhiều năm tù, thậm chí bị kêu án tử hình.”

Trước đó, Chính quyền Việt Nam trong năm 2019 đã gia tăng việc đàn áp, kết án tù với nhiều người chỉ vì họ bày tỏ ý kiến một cách ôn hoà trên mạng về các vấn đề kinh tế và xã hội. Đó là nhận định được đưa ra trong báo cáo của một tổ chức phi chính phủ về nhân quyền có tên Dự án 88 (Project 88), công bố hôm 23/6/2020.

Số người phải ra toà vì các hoạt động ôn hoà của mình trong năm 2019 là 61 người. Chính quyền đã áp đặt những án tù nặng nề cho các nhà hoạt động với hơn một nửa trong số họ phải nhận án tù từ 5 tháng đến hơn 5 năm tù. 9 người nhận án tù từ 10 đến 14 năm và 1 người nhận án tù hơn 14 năm.

Cũng theo báo cáo của Dự án 88, những tù chính trị tại Việt Nam thường bị giam giữ trong thời gian dài mà không được tiếp xúc với gia đình và luật sư. Nhiều người trong số họ cũng không được chăm sóc y tế đúng mức khi có vấn đề về sức khoẻ, thậm chí bị chuyển đi các trại tù xa gia đình hoặc bị từ chối không được gặp gia đình.

Văn phòng Luật sư Vũ Đức Khanh tại Ottawa, Canada hôm 22/2/2021 đã ra thông cáo về việc Việt Nam ‘đại diện’ ASEAN ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2023 – 2025.

Chúng tôi kêu gọi Chính phủ Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho tất cả các tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị, thiết lập cơ chế đối thoại nhân quyền (ví dụ như Đài Quan sát Nhân quyền Việt Nam) giữa Nhà nước và xã hội dân sự.

-Luật sư Vũ Đức Khanh

Trong Thông cáo báo chí, Luật sư Vũ Đức Khanh hoan nghênh Việt Nam đã ứng cử vào vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc và đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong bối cảnh vừa chống đại dịch COVID-19, vừa chăm lo sức khỏe cho người dân, vừa duy trì tăng trưởng kinh tế, giữ gìn an ninh, an toàn, trật tự xã hội.

Tuy nhiên, ông cũng bày tỏ quan ngại về tình hình nhân quyền của Việt Nam trong 10 năm gần đây. Trả lời RFA hôm 23/2 từ Canada qua tin nhắn, Luật sư Vũ Đức Khanh, nói:

“Những thành tựu về nhân quyền của Việt Nam trong 10 năm gần đây rất đáng quan ngại. Chính phủ Việt Nam không ngừng hình sự hóa các hoạt động biểu đạt chính trị, bóp nghẹt tiếng nói của người dân và thẳng tay đàn áp các nhà báo độc lập và những người bất đồng chính kiến.

Chúng tôi kêu gọi Chính phủ Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho tất cả các tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị, thiết lập cơ chế đối thoại nhân quyền (ví dụ như Đài Quan sát Nhân quyền Việt Nam) giữa Nhà nước và xã hội dân sự.”

Thông cáo báo chí của Văn phòng Luật sư Vũ Đức Khanh cũng cầu chúc Việt Nam đắc cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2023 – 2025, và mong rằng thông qua cương vị này, Việt Nam sẽ sớm có những chuyển biến tích cực để không chỉ cải thiện điều kiện nhân quyền ở Việt Nam mà còn góp phần vào việc bảo vệ và thực thi quyền con người trên toàn thế giới.

Giáo sư Nguyễn Đình Cống, một đảng viên đã từ bỏ đảng nhận định với RFA hôm 23/2 từ Hà Nội:

“Nhà nước cộng sản Việt Nam thường xuyên chống đối nhân quyền, đặc biệt là quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận. Họ vu cáo những người đã thực hiện tự do ngôn luận là vi phạm pháp luật, phạm tội chống phá nhà nước, đã bắt người ta chịu những án tù rất nặng. Việt Nam vào Hội đồng nhân quyền khóa 2014-16 với mục đích chính là để tuyên truyền lừa bịp, rằng họ thực sự tôn trọng nhân quyền, rất mong muốn đóng góp cho hoạt động vì nhân quyền. Họ đã che giấu rất kín mục đích tuyên truyền, đã lừa được nhiều người ở trong nước và trên toàn thế giới, nhẹ dạ, cả tin vào những lời hoa mỹ của họ. Gần đây sự đàn áp nhân quyền ở Việt Nam càng tăng, bị vạch mặt, bị lên án ở nhiều nơi.”

Chuyện Việt Nam lại đang vận động để gia nhập Hội đồng nhân quyền khóa 2023- 2025, theo Giáo sư Nguyễn Đình Cống, có lẽ mục đích chính của họ lần này cũng là để tuyên truyền lừa bịp, nhưng họ vẫn che giấu mục đích đó mà phô trương những khẩu hiệu vì nhân quyền. Giáo sư Cống cho rằng những người thực tâm đấu tranh cho nhân quyền và tiến bộ xã hội không lạ gì thủ đoạn của chính quyền cộng sản.

BỘ GIÁO DỤC KHÔNG PHẢI RÁCH MÀ LÀ NÁT, KHÔNG THỂ VÁ ĐƯỢC

BỘ GIÁO DỤC KHÔNG PHẢI RÁCH MÀ LÀ NÁT, KHÔNG THỂ VÁ ĐƯỢC

Đỗ Ngà

Có thể nói chiếc ghế Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục là chiếc ghế nóng nhất hiện nay. Bất cứ ai thay ông Phùng Xuân Nhạ để ngồi vào ghế này cũng có khả năng bị búa rìu dư luận chực chờ để bổ xả vào họ. Nền giáo dục XHCN nhìn đâu cũng nát. Và cái nát này nó được sinh ra từ thể chế chính trị.

Giáo viên không ra giáo viên, học sinh không ra học sinh nó có nguồn gốc từ định hướng XHCN trong giáo dục thay vì định hướng khai phóng và nhân bản. Mà khi nền giáo dục rời xa tính nhân bản như vậy thì bản thân con người phải sống sao cho có nhân bản là rất khó. Không phải người ta không nhận ra cái lệch lạc của môi trường giáo dục, tuy nhiên nếu nhận ra mà sửa chữa bản thân theo những giá trị nhân bản thì những con người đó lại trở thành lạc lõng và cuối cùng hoặc họ bị đào thải hoặc họ phải ngã theo số đông. Vì vậy ai đi ngược với nền giáo dục này thì bị nó nghiền nát không thương tiếc.

Vụ thầy giáo Đỗ Việt Khoa là một minh chứng cho sự lạc lõng bị khuất phục bởi cái khung đã định hình lâu ngày của nền giáo dục. Năm 2006, thầy Khoa tố cáo tiêu cực hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Phú Xuyên A, Hà Tây. Nhờ lời kêu gọi nói không với tiêu cực của ông Bộ trưởng bộ giáo dục lúc đó – Nguyễn Thiện Nhân nên VTV và các tờ báo cũng đứng về phía thầy Khoa. Tuy nhiên cuối cùng thì thầy Khoa vẫn bị trù dập. Điều đó cho thấy, cái khung tiêu cực của nền giáo dục XHCN nó đã trở thành quả núi vững chắc nên dù cho có hô hào như thế nào thì cuối cùng phong trào chống tiêu cực cũng chỉ là hành động húc đầu vào đá mà thôi. Tất cả đều thất bại và nền giáo dục XHCN nó trở về với giá trị vốn có của nó. Nó mãi không thể trong sạch được nên cũng không thể bức phá được.

Nền giáo dục XHCN nó như vòng luẩn quẩn, những con người được giáo dục theo định hướng XHCN rồi sau đó họ được đào tạo thành giáo viên để dạy lại lớp sau. Cứ như vậy từ thầy đến trò cứ tự trói chân nhau, người trước buộc chân người sau dắt đi theo một lối mòn có hình tròn mà đảng đã vạch sẵn. Từng lớp từng lớp cứ đi mãi nhưng vẫn quanh quẩn vị trí cũ. Có thể ví nền giáo dục XHCN nó như con lừa nó cứ đi quanh cối xay vậy.

Lãnh đạo ngành giáo dục các cấp cũng được đảng nặn ra, nền giáo dục XHCN cũng được đảng nặn ra. Trong nền giáo dục ấy cả thầy và trò đều được nặn ra theo khuôn mẫu XHCN. Như vậy nền giáo dục này phải vá từ đâu? Không thể vá được nữa vì giờ đây nền giáo dục đã nát chứ phải rách. Có rách mới vá chứ nát thì làm sao vá?! Vì vậy ghế Bộ trưởng Bộ Giáo Dục là ghế rất nóng, bất cứ ai ngồi vào cũng không thể cải thiện được thực trạng như hiện nay. Và chính vì thế, bất kỳ ông nào ngồi vào ghế bộ trưởng bộ này thì cũng đều bị búa rìu dư luận tấn công mà không biết đỡ như thế nào, đó là điều chắc chắn. Nguyễn Thiện Nhân hô hào rồi cũng bất lực, đến Phạm Vũ Luận rồi đến Phùng Xuân Nhạ cũng chỉ biết chịu trận. Ông nào cũng chỉ ngồi một nhiệm kỳ rồi.. tróc gốc.

Thực ra bên trong bộ máy lãnh đạo bộ giáo dục nó là bộ máy nhà nước CS thu nhỏ mà thôi. Nếu trong bộ máy nhà nước có những cái chết bí ẩn như Nguyễn Bá Thanh, Trần Đại Quang thì bên trong bộ máy lãnh đạo của bộ Giáo Dục vẫn thế. Năm 2019 ông thứ trưởng Lê Hải An rơi lầu chết một cách bất minh và sau đó là ông Bùi Quang Tín một giảng viên trường Đại học Ngân hàng cũng rơi lầu mà chết. Bên trong bộ GDĐT nó cũng mang gene chung của bộ máy chính quyền, không khác được. Và có thể nói, những ông nào muốn lên bộ trưởng thì cũng vì quyền lực và quyền lợi là chính chứ khó mà vì nền giáo dục tiến bộ được. Với thể chế chính trị còn đó, mọi cải cách giáo dục đều tỏ ra bất lực.

Hiện nay ông Nhạ đã bị rớt khỏi ủy viên trung ương, xem như ông sẽ không làm bộ trưởng khóa 13 nữa. Nguồn cung chức bộ trưởng bộ trưởng bộ giáo dục là các thứ trưởng hoặc giám đốc đại học quốc gia Hà Nội, hoặc giám đốc đại học quốc gia TP. HCM. Hiện nay các thứ trưởng bộ giáo dục không ai trúng ủy viên trung ương. Chỉ có ông Vũ Hải Quân – Giám đốc Đại học Quốc gia TP. HCM và ông Nguyễn Kim Sơn – Chủ tịch Hội đồng, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội là trúng ủy viên trung ương. Sắp tới khả năng Nguyễn Kim Sơn vào chiếc ghế nóng này. Dù ông nào ngồi vào thì cũng sẽ chịu búa rìu dư luận trong sự bất lực mà thôi. Bộ Giáo Dục, nơi này không thể sửa được nữa.

-Đỗ Ngà-

May be an image of 2 people and suit

VINFAST HAY VINSLOW?

 

VINFAST HAY VINSLOW?

Chuyện VINFAST làm xe hơi mấy ngày qua gãy trục 4 chiếc, nằm đường thuộc vào dạng “biết rồi, khổ lắm nói mãi”. Khi Vinfast mới bắt đầu làm đã biết trước có ngày như thế.Bây giờ nó chỉ là hệ quả của việc một xứ mà cái kim.sợi chỉ làm còn chưa xong, bày đặt đi mua bản quyền công nghệ ,dây chuyền sản xuất xe của một số nước châu Âu thải ra, đầu Ngô mình Sở rồi về nổ với dân trong nước.

Một số luật xư còn giựt status bảo tại sao sự việc như thế mà cả một hệ thống truyền thông báo chí im lặng? Làm như lạ lùng lắm.

Ủa Vinfast là sân sau của quan chức Bộ chính trị dùng để rửa tiền mà báo chí là công cụ của đảng. Vậy thì BCT có chuyện thì báo chí phải im là đúng rồi.Chừng nào nó lên tiếng mới là chuyện lạ.

Làm xe hơi chỉ là để để rửa những đồng tiền đen cướp được từ phá rừng, bán biển , bán dầu thô , bán đất làm đặc khu, cướp đất nông dân…Nó cũng tương tự như Trung Quốc hiện nay xây, tô vẽ một lớp sơn hào nhoáng bên ngoài bằng cách bê nguyên các danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở châu Âu, Mỹ, Canada…về phục chế tại Trung Quốc, xây xa lộ,sân bay, nhà cửa hoành tráng, xây các nhà máy sản xuất xe hơi,điện thoại đủ thứ …nhưng toàn hàng dổm để lừa dân. Vinfast cũng thế mà thôi. Tất cả các công trình từ trong Nam đến ngoài Bắc đều có mặt trọc phú Vinfast nhưng sau này phải đập ra làm lại hết.Thương hiệu của Vinfast là thương hiệu của người khổng lồ chân đất sét.

Chỉ những ai đầu óc có vấn đề mới mua xe Vinfast, mua điện thọi Bphone…Hãy sang Nhật để xem người ta làm ra một chiếc xe hơi như thế nào kìa. Cả một loạt nhà máy sản xuất phụ kiện với hàng ngàn bằng phát minh được cấp bao quanh một nhà máy lắp ráp. Vinfast sở hữu được bao nhiêu bằng sáng chế mà dám sản xuất xe hơi ? Chỉ là đi mua lại và tìm cách tránh bị kiện mà thôi.

Ở một nước độc tài như Việt Nam khi mà nền sản xuất manh mún, khoa học kỷ thuật chưa phát triển,chưa có cạnh tranh để tạo ra một nền móng công nghệ nền tảng thì bất cứ cái trò sản xuất gì cũng chỉ là màn lừa đảo của bọn trọc phú. Nước Nhật trước khi có ngành công nghiệp xe hơi hiện đại như hiện nay cũng phải mất mấy chục năm đi từ dưới lên, tức toàn sản xuất phụ tùng. CSVN mà sản xuất được xe hơi đủ sức cạnh tranh với thế giới thì thành ra heo nái cũng biết leo cây.

Nhưng ít ra nó cũng lừa được mấy chú”ếch ngồi đáy giếng” ,cư dân mạng trong nước. Với mấy chú cứ nghe tinh thần tự hào dân tộc là tin sái cổ. Bây giờ đã thấy chưa, thù thằng nào cứ xúi Vượng tặng cho nó một chiếc Vinfast.

May be an image of car and road