httpv://www.youtube.com/watch?v=acmLqmMWuho
Top 6 Lãnh Đạo Tàn Bạo Khét Tiếng Nhất Trong Lịch Sử Nhân Loại

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Tin Thế Giới
httpv://www.youtube.com/watch?v=acmLqmMWuho
Top 6 Lãnh Đạo Tàn Bạo Khét Tiếng Nhất Trong Lịch Sử Nhân Loại
1. Gặp gỡ giám đốc điều hành Google, Apple, Facebook
Năm 2016, Đức Thánh Cha đã có nhiều cuộc gặp gỡ với các ông lớn về công nghệ và mạng xã hội như: Eric Schmidt, cựu giám đốc điều hành Google và chủ tịch đương nhiệm của Alphabet; Tim Cook, giám đốc điều hành của Apple; Mark Zuckerberg, giám đốc điều hành Facebook, ngoài ra ngài còn gặp gỡ nhiều nhân vật đặc biệt khác như: diễn viên Leonardo DiCaprio, tổng thống Iran…
2. Viếng thăm Mexicô và Cu Ba
Đức Thánh Cha đã có nhiều chuyến viếng thăm quan trọng, đặc biệt là chuyến viếng thăm đến Mêxicô và dừng chân tại Cuba. Tại sân bay Havana, ngài đã có cuộc gặp gỡ lịch sử lần đầu tiên với Thượng Phụ Moscow. Cả hai đã trao cho nhau những cái hôn truyền thống của người Nga.
3. Rửa chân cho những người tị nạn vào Thứ 5 Tuần Thánh
Vào Tuần Thánh trước Lễ Phục Sinh, Đức Thánh Cha có cuộc gặp gỡ hiệp thông với những người tị nạn. Vào thứ 5 tuần Thánh, ngài đã quỳ xuống, rửa chân cho những người tị nạn như Đức Kitô đã làm cho các tông đồ khi xưa.
4. Ra tông huấn Amoris Laetitia
Đức Thánh Cha đã ra Tông Huấn Amoris Laetitia. Tài liệu này là những đúc kết được rút ra từ hai Công Nghị về gia đình của Giáo hội.
5. Giải Thưởng Charlemagne
Vào tháng 5/2016, Đức Thánh Cha đã nhận được một trong những giải thưởng danh giá nhất Châu Âu, giải thưởng Charlemagne, tại Vatican. Trước những nhà lãnh đạo Châu Âu, Đức Thánh Cha đã nhắc lại thông điệp về con người của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
6. Viếng thăm đến Armenia và tỏ lòng tôn kính với Đức Benedict XVI.
Đức Thánh Cha có chuyến viếng thăm đến Armenia để cầu nguyện cho các nạn nhân trong cuộc diệt chủng tại Armenina cách đây gần 1 thế kỷ. Tháng 6/2016, nhân kỷ niệm 65 năm linh mục của Đức Benedictô XVI, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tỏ lòng tôn kính với vị tiền nhiệm của mình.
7. Tham dự Đại Hội Giới Trẻ tại Ba Lan
Tháng 7/2016, Đức Thánh Cha đã tham dự đại hội giới trẻ tại Ba Lan và có cuộc viếng thăm đến nhiều nơi như: Czestochova, trại giam Auschwitz…
8. Ăn trưa với những người tị nạn và thăm những phụ nữ được giải thoát khỏi nhà thổ
Vào tháng 8/2016, Đức Thánh Cha đã mời 21 người tị nạn Syria ăn trưa với Ngài. Cũng trong tháng này, ngài đã đến thăm 20 phụ nữ đã được giải thoát khỏi nhà thổ tại cộng đoàn Gioan XXIII. Đây các hoạt động của Đức Thánh Cha nhân dịp Năm Thánh Lòng Thương Xót.
9. Phong Thánh cho Mẹ Terêsa
Tháng 9/2016, Đức Thánh Cha đã phong thánh cho Mẹ Têrêsa, người nữ Công giáo có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ XX.
10. Đối thoại liên tôn với Tin Lành, Anh Giáo và Cơ đốc giáo
Trong năm nay, ĐTC có nhiều cuộc đối thoại liên tôn với các tôn giáo bạn, đặc biệt là cuộc gặp gỡ với các lãnh đạo tinh thần của Tin Lành, Anh Giáo và Cơ đốc giáo. Các cuộc gặp gỡ đã để lại ấn tượng tốt đẹp cho tất cả các bên.
Tổng hợp theo Romereports
Sự sụp đổ của các nước Cộng Sản Đông Âu
Phạm Văn Tuấn
Những sự kiện này bắt đầu từ Ba Lan vào năm 1989, và tiếp tục ở Hungary, Đông Đức, Bungary, Tiệp Khắc và România.
Romania là nước Đông Âu duy nhất lật đổ chế độ Cộng sản của mình bằng bạo lực
Nổi tiếng nhất là sự sụp đổ của Bức tường Berlin, biểu tượng của việc thống nhất nước Đức vào năm 1990.
Việc Liên Xô bị giải thể vào cuối năm 1991 dẫn đến kết quả là Nga và 14 quốc gia tuyên bố độc lập của khỏi Liên Xô
1- Ba Lan
Ba Lan là một lãnh thổ bằng phẳng nằm tại miền trung của châu Âu, rộng bằng nước Mễ Tây Cơ và có dân số là 37 triệu người. Từ 1,000 năm về trước và qua thời Trung Cổ, Ba Lan đã là một vương quốc quan trọng cho tới cuối thế kỷ 18, xứ sở này đã bị xóa tên trên bản đồ, bị chia ba giữa ba cường quốc là Nga, Áo và Phổ. Nhưng rồi người dân Ba Lan đã vùng lên, giành độc lập vào năm 1918.
Vào tháng 9-1939, đất nước Ba Lan lại bị dẫm nát bởi quân đội nước ngoài: quân đội Quốc Xã Đức tiến vào từ hướng tây và quân đội Xô Viết từ hướng đông. Ba Lan đã là bãi chiến trường, là địa điểm của rất nhiều trại tập trung mà xấu xa nhất là trại Auschwitz, chuyên việc tận diệt các kẻ chống đối, các tù binh, các người Do Thái.
Sau Thế Chiến Thứ Hai, Ba Lan đã lấy lại được phần đất đã mất trước kia do Quốc Xã Đức chiếm, nhưng từ năm 1948, các người cộng sản đã nắm được chính quyền, tạo nên một thể chế cộng sản theo kiểu mẫu Liên Xô. Tới năm 1956, không lâu sau khi ông Nikita Khrushchev tố cáo các tội ác khủng khiếp của Stalin, do tinh thần quốc gia tiềm ẩn, do lòng bất khuất và do nỗi bất mãn về kinh tế, người dân Ba Lan đã nổi dậy tại tỉnh Poznan. Các bạo loạn trong xứ đã làm cho Bộ Chính Trị phải thay đổi và ông Wladyslaw Gomulka được đưa ra lãnh đạo Đảng. Ông Gomulka liền bỏ chương trình tập thể hóa các nông trại, cho nới lỏng một số luật lệ và cải thiện liên lạc với Nhà Thờ Công Giáo. Nhưng trong cuộc nổi dậy của các công nhân tại Gdansk vào tháng 12-1970, các công nhân này đã bị đàn áp một cách tàn nhẫn, ít nhất có 44 người bị giết. Ông Gomulka sau đó bị thay thế bởi ông Edward Gierek, một người tìm cách hòa hoãn với khối tây phương. Nhưng tình trạng kinh tế tuột dốc đã gây nên nhiều làn sóng phản đối mới vào năm 1976.
Năm 1978, người dân Ba Lan lại vui mừng vì vị Tổng Giám Mục miền Cracow trở nên Đức Giáo Hoàng John Paul II. Sự kiện này đã đóng một vai trò gián tiếp trong việc khai tử chế độ Cộng Sản tại Đông Âu bởi vì trong các năm dài sống dưới chế độ cộng sản, người dân Ba Lan vẫn duy trì niềm tin Công Giáo Catholic, họ lấy lại can đảm để đương đầu với các kẻ cầm quyền độc ác.
Ngày 14 tháng 8 năm 1980, Công Đoàn Đoàn Kết (Solidarity Trade Union) ra đời và ông Lech Walesa, một người thợ điện, là lãnh tụ của phong trào đòi Dân Chủ cho đất nước Ba Lan. Hoạt động của Công Đoàn kể trên đã chấm dứt sự nghiệp chính trị của ông Edward Gierek và ông Wojciech Jaruzelski thay thế. 15 tháng phát triển của Công Đoàn Đoàn Kết cũng là “điềm báo tử” cho chế độ Cộng Sản tại Ba Lan. Với số đoàn viên lên tới 10 triệu, Công Đoàn Đoàn Kết đã là một tổ chức có thực lực để đòi hỏi các cuộc bầu cử tự do và một chính quyền hợp pháp không cộng sản. Vào ngày 13-12-1981, dưới áp lực của Liên Xô lúc đó do ông Leonid Brezhnev lãnh đạo, Tướng Jaruzelski phải công bố tình trạng quân luật, giải tán Công Đoàn Đoàn Kết, bắt giam các lãnh tụ và các người hoạt động cho Công Đoàn, ra lệnh hủy bỏ mọi hình thức cởi mở mới được ban hành, tuy nhiên những mệnh lệnh này chưa thực sự tiêu diệt được Công Đoàn Đoàn Kết.
Khi ông Mikhail S. Gorbachev lên nắm quyền tại Liên Xô, khi các áp lực Xô Viết tại Ba Lan giảm đi, Công Đoàn Đoàn Kết đã lấy lại được khí thế cũ. Mùa xuân năm 1989, Công Đoàn đã được chính thức công nhận và đã thắng gần hết các ghế đại biểu trong các cuộc bầu cử.
Tháng 8-1989, Ba Lan là nước đầu tiên có một thủ tướng không cộng sản kể từ năm 1948, đó là ông Tadeusz Mazowiecki, một nhà trí thức Catholic và cũng là một người bạn thân của ông Lech Walesa. Chính phủ mới này tập trung vào việc cải tổ kinh tế nên đã đưa ra nhiều biện pháp khắc khổ để khắc phục nạn lạm phát và đưa đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường. Tới mùa hè năm 1990, sau khi các người cộng sản bị gạt sang một bên rồi, nội bộ của Công Đoàn Đoàn Kết lại bị tách ra làm hai: phe khuynh hữu với ông Lech Walesa và phe khuynh tả với ông Mazowiecki nhưng cuối cùng ông Lech Walesa đã thắng trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 1990.
Vào tháng 10 năm 1991 là cuộc bầu cử Quốc Hội tự do đầu tiên nhưng trong các năm sau, nước Ba Lan đã có rất nhiều đảng phái, có 5 thủ tướng, gặp nạn lạm phát và cảnh thất nghiệp cao, hàng ngàn nông trại trên bờ phá sản.
2- Đông Đức
Nước Đức là quốc gia giàu có và đông dân nhất châu Âu, hiện nay gồm 77.5 triệu người. Nước Đức có lịch sử chính trị từ thời Vua Charlemagne, giống như nước Pháp, nhưng các lãnh địa đã bị chia rẽ và chỉ hợp lại thành một quốc gia thống nhất vào năm 1871. Sau đó Thủ Tướng Otto Bismark và các nhà lãnh đạo khác đã cố công theo đuổi các chính sách bành trướng lãnh thổ, dẫn tới Thế Chiến Thứ Nhất vào năm 1914. Sau khi thất trận, nước Đức lại cố gắng vươn lên rồi dân tộc Đức vì bị thất vọng về kinh tế suy kém, đã trông nhờ vào nhà độc tài Adolf Hitler.
Vào năm 1945, nước Đức Quốc Xã thất trận nên lãnh thổ Đức bị phân chia thành bốn khu vực chiếm đóng bởi Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Liên Xô. Ba khu vực phia tây được phối hợp lại năm 1949 thành nước Cộng Hòa Liên Bang Đức hay nước Tây Đức rồi không lâu sau đó, Liên Xô cũng tạo nên nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức (the German Democratic Republic) hay còn gọi là nước Đông Đức.
Trong nửa thời gian đầu, Đông Đức ở dưới quyền cai trị cứng dắn của ông Walter Ulbricht, với đường lối thù nghịch Tây Đức và cao điểm của sự đối đầu là việc xây dựng nên Bức Tường Bá Linh. Vào nửa giai đoạn sau dưới quyền của ông Erich Honecker, Đông Đức đã dịu bớt sự căng thẳng vì chính sách hòa hoãn “Ostpolitik” giữa hai miền nước Đức của ông Willy Brandt.
Giống như nước Đức bị chia cắt vào năm 1949, thành phố Bá Linh cũng bị phân chia và một khu vực của thành phố này thuộc về Đông Đức. Tuy nhiên, đường ranh giữa hai khu vực Đông và Tây Bá Linh vẫn là khe hở của Tấm Màn Sắt và các người sống dưới chế độ cộng sản Đông Đức thường trốn qua Tây Đức bằng khe hở này. Ngày 13 tháng 8 năm 1961, để chặn đứng những người vượt biên, chính quyền Đông Đức đã cho dựng nên Bức Tường ngăn cách Đông và Tây thành phố Bá Linh. Tại bức tường cao xây bằng bê-tông trên có hàng rào kẽm gai này, binh lính Đông Đức được lệnh bắn bỏ những người tìm cách leo qua tường, tìm tự do. Theo ước lượng vào năm 1992, đã có hơn 200 người dân Đông Đức bị bắn chết.
Tại Đông Đức về kinh tế, người dân giàu có hơn tất cả các dân tộc theo xã hội chủ nghĩa khác, nhưng họ vẫn bất mãn khi so sánh với mức sống của người dân anh em Tây Đức, bất mãn khi không được phép đi ra nước ngoài. Vào mùa hè năm 1989, hàng ngàn người Đông Đức đã vượt sang nước Hungari và tràn vào các tòa đại sứ của Tây Đức tại hai thành phố Prague và Warsaw. Hàng triệu người trên thế giới đã chứng kiến cảnh tượng này trên màn ảnh vô tuyến truyền hình: đây là cảnh “bỏ phiếu bằng chân” của những người sống trong chế độ cộng sản! Tới tháng 9-1989, số người biểu tình tại các thành phố của Đông Đức đã gia tăng rất cao, họ hát câu “chúng tôi muốn ở lại” và đòi hỏi chính quyền cộng sản phải thay đổi đường lối cai trị. Ông Erich Honecker vì thế phải từ chức, thay thế bằng ông Egon Krenz và các nhà lãnh đạo Đông Đức phải ra lệnh mở Bức Tường Bá Linh. Trong vài ngày, hàng triệu người dân Đông Đức đã vượt qua khu Tây Bá Linh. Một câu chuyện vui kể lại rằng khi ông Erich Honecker tỉnh dậy, thấy khu Đông Bá Linh không còn bóng người nhưng vẫn còn thắp đèn sáng, ông bèn tới Bức Tường Bá Linh và thấy một mẩu giấy ghi rõ câu : “ai đi sau cùng nhớ tắt đèn”.
Kể từ khi ông Egon Krenz quản trị Đông Đức, xứ sở này trong nhiều tháng vẫn chìm vào trong các rối loạn chính trị. Tháng 3 năm 1990, đã có các cuộc bầu cử tự do đầu tiên và Công Đoàn Dân Chủ Thiên Chúa Giáo (the Christian Democratic Union), một đảng phái mới được thành lập của những người Dân Chủ Thiên Chúa Giáo Tây Đức, đã chiếm được 41% số phiếu. Trong khi đó tại Tây Đức, Thủ Tướng Helmut Kohl không ngừng theo đuổi chương trình thống nhất nước Đức vì vậy vào tháng 3-1990, tại thành phố Bonn đã diễn ra các cuộc thảo luận “Hai cộng Bốn”, gồm 2 nước Đông và Tây Đức với 4 nước chiến thắng trong Thế Chiến Thứ Hai là Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Liên Xô rồi vào ngày 12-9-1990, cả 6 nước kể trên đã ký tên vào “Hiệp Ước ổn định cuối cùng đối với nước Đức” (the Final Settlement with Respect to Germany) và sự kiện này chính thức chấm dứt Thế Chiến Thứ Hai.
Hiệp ước Ổn Định kể trên đã mở đường cho việc thống nhất nước Đức, và bắt đầu từ nửa đêm ngày 2-10-1990, nước Đông Đức không còn hiện hữu nữa mà trở thành 5 tiểu bang mới của Cộng Hòa Liên Bang Đức.
Kể từ ngày thành lập 7-10-1949, xứ sở cộng sản Đông Đức với dân số 16 triệu người và diện tích bằng tiểu bang Tennessee, với tên gọi là Cộng Hòa Dân Chủ Đức, đã cáo chung sau khi tồn tại được 40 năm và 360 ngày!
3- Tiệp Khắc
Tiệp Khắc là quốc gia nằm giữa châu Âu, gồm ba xứ hợp lại là Bohemia, Moravia và Slovakia. Từ nhiều thế kỷ, Tiệp Khắc vẫn theo đuổi nền dân chủ cho tới khi bị Đức Quốc Xã tấn công vào năm 1938. Sau khi nước Đức bị thua trận, một chính quyền Cộng sản theo Stalin được thiết lập tại Tiệp Khắc từ tháng 2-1948 tới đầu thập niên 1960. Vào lúc này và do nền kinh tế suy sụp, các người cầm quyền cộng sản đã tìm cách cải tổ kinh tế và nới lỏng các kiểm soát chính trị. Tiến trình cải cách đã đi tới cao điểm gọi là “Mùa Xuân Praha” (the Prague Spring) của năm 1968 do nhân vật cộng sản cải cách lãnh đạo tên là Alexander Dubcek.
Ông Alexander Dubcek (1921-92) chào đời vài tháng sau khi cha mẹ của ông từ thành phố Chicago, Hoa Kỳ, trở về xứ Slovakia. Ông Dubcek đã trải qua tuổi trẻ tại Liên Xô. Đầu năm 1968, ông Dubcek công bố một chương trình cải tiến gọi là “Xã Hội Chủ Nghĩa với bộ mặt con người” (Socialism with a human face). Trong thời gian 8 tháng dễ thở này, từ tháng 1 tới ngày 20-8-1968, ông Dubcek là hình ảnh của hy vọng cho người dân Tiệp Khắc. Liên Xô, dưới quyền lãnh đạo của ông Leonid Brezhnev, coi các cải tiến tại Tiệp Khắc là “quá nguy hiểm” cho thể chế cộng sản, nên đã đàn áp phong trào “Mùa Xuân Praha” bằng 500,000 quân thuộc Minh Ước Warsaw (the Warsaw Pact).
Warsaw là liên minh quân sự được thành lập năm 1955 để đối đầu với khối Nato. Các thành phần ban đầu của Minh Ước Warsaw gồm 8 nước: Tiệp Khắc, Đông Đức, Ba Lan, Hungari, Romania, Bulgaria, Albania và Liên Xô. Hành động quân sự duy nhất của liên minh này là cuộc xâm lăng Tiệp Khắc vào tháng 8-1968 trong đó Romania không tham gia. Vào đầu thập niên 1960, nước Albania không tham dự vào liên minh Warsaw rồi chính thức rút lui vào năm 1968. Minh Ước Warsaw bị giải thể vào tháng 7-1991.
Năm 1987, khi bị hỏi về sự khác biệt giữa “Mùa Xuân Praha” của ông Dubcek và các chương trình “Glasnost” và “Perestroika” của ông Gorbachev, người phát ngôn thuộc Bộ Ngoại Giao Liên Xô đã trả lời rằng: “19 năm”!
Sau khi ông Alexander Dubcek bị bắt về giam tại Liên Xô và phong trào “Mùa Xuân Praha” bị dẹp tan, một nhân vật cộng sản cứng dắn mới lên nắm quyền tại Tiệp Khắc, đó là ông Gustav Husak. Từ nay, tất cả những người có khuynh hướng cải tiến đều bị thanh trừng, hầu như mọi người dân Tiệp Khắc đều thu mình lại để được an toàn, thế nhưng vẫn còn một số ít người rất can đảm, cả nam lẫn nữ, đã tập hợp lại một cách lỏng lẻo để tạo nên một nhóm chống đối các kẻ đàn áp: “Nhóm Hiến Chương 77” (The Charter 77).
Vào khoảng đầu tháng 1 năm 1977, một nhóm 242 người bất đồng chính kiến gốc Tiệp và Slovak, đã họp lại và ký tên vào một bản Tuyên Ngôn (manifesto) qua đó họ liệt kê các đòi hỏi căn bản về Nhân Quyền (basic human rights). Mặc dù đã được viết bằng những từ ngữ thận trọng, bản Hiến Chương 77 đã gây nên các hành động giận dữ của chính quyền Cộng Sản Tiệp Khắc: các người ký tên trong đó có ông Vaclav Havel, đều bị bắt, bị lưu đầy, bị xách nhiễu nhưng những nhân vật anh hùng này đã là hạt nhân cho phong trào phản kháng 12 năm về sau tại Tiệp Khắc.
20 năm sau ngày quân đội của Hiệp Ước Warsaw xâm lăng Tiệp Khắc, đã có vào khoảng 20,000 người biểu tình đòi dân chủ, chống lại chế độ Cộng Sản vào ngày 21-8-1988 trước sự ngỡ ngàng của công an và đảng cộng sản cầm quyền. Đây là cuộc phản đối lớn nhất kể từ năm 1969 và cảnh sát đã phải dùng hơi cay để giải tán, 400 người bị bắt.
Tại thành phố Prague, cuộc biểu tình phản đối đã diễn ra từ ngày 15 tới ngày 20-1-1989 và cảnh sát cộng sản đã phải dùng dùi cui, hơi cay, vòi nước và chó dữ để dẹp biểu tình. Trong số người bị bắt lại có ông Vaclav Havel. Ngày 21-2, ông Havel bị tuyên án 8 tháng tù vì có hành vi “chống nhà nước và xã hội chủ nghĩa”. Nhiều người bất đồng chính kiến khác cũng bị tuyên án tương tự. Rồi 2,000 thanh niên đã tham gia biểu tình đòi dân chủ vào ngày 1-5-89, họ cũng bị đàn áp. Tới ngày 17-5-89, ông Havel được thả khỏi nhà tù vì đã “học tập tốt” theo lời của chính quyền cộng sản, nhưng thực ra là do sự chỉ trích của khối Tây Phương. Rồi 35,000 người bất đồng chính kiến, phản đối chế độ Cộng Sản, đòi hỏi Dân Chủ, đã ký tên vào một thỉnh nguyện thư yêu cầu phải “thay đổi tận gốc không khí xã hội và chính trị”.
Các biểu tình phản kháng vẫn tiếp tục diễn ra tại Prague vào các ngày 28-8, 17-11, 20-11, 27-11-1989 rồi tới ngày 29-11, chính quyền cộng sản phải công nhận hủy bỏ vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản. Ngày 10-12-1989, một chính quyền liên bang mới được thành lập và chủ tịch Husak từ chức. Ông Alexander Dubcek được bầu làm chủ tịch của Quốc Hội Liên Bang ngày 28-12 rồi ngày hôm sau, ông Vaclav Havel được bầu làm Tổng Thống của nước cộng hòa.
Ông Havel đã thăm viếng Moscow vào hai ngày 26, 27-2-1990 và ký với ông Gorbachev một thỏa ước theo đó 73,500 quân Xô Viết phải rút khỏi Tiệp Khắc vào tháng 7 năm 1991. Nước Tiệp Khắc vào giai đoạn này đã gặp rất nhiều vấn đề khó giải quyết, chẳng hạn làm sao loại bỏ “giới cầm quyền cũ Nomenclatura” (nhóm cựu đảng viên C.S.) ra khỏi các chức vụ cao, làm sao tháo gỡ được hệ thống kinh tế chỉ huy phức tạp và nặng nề và làm sao giải quyết êm đẹp các căng thẳng quốc gia với xứ Slovakia, rồi cuối cùng, nước Tiệp Khắc bị chia làm hai xứ riêng rẽ vào tháng 1-1993: đó là hai nước cộng hòa Tiệp (Czech) và Slovak
4 . Hungari
Hungari là một quốc gia tại miền trung của châu Âu với diện tích nhỏ hơn tiểu bang Indiana và dân số 10 triệu người. Người Hungari có nguồn gốc từ bộ lạc du mục thiện chiến Magyar, từ châu Á tới châu Âu vào thế kỷ thứ 9 để rồi lập nên một vương quốc quan trọng. Khi đế quốc Áo-Hung bành trướng vào thế kỷ 19, Hungari là một miền đất tự trị, phát triển cho tới cuối Thế Chiến thứ nhất, khi đó hai phần ba diện tích bị cắt xén thành nước Tiệp Khắc, một phần của Nam Tư và một phần của Romania. Ngày nay, những người dân gốc Hungari vẫn còn sinh sống tại các quốc gia kể trên và đông đảo nhất tại vùng Transylvania thuộc nước Romania.
Vào thập niên 1930, nhà độc tài Adolf Hitler đã hứa sẽ trả lại các miền đất mà Hungari bị mất vì Hiệp Ước Trianon, cho nên vào năm 1941, Hungari đã giúp Hitler tấn công Nam Tư và tham gia vào khối Trục. Tới năm 1943, Hitler không coi Hungari là một nước đồng minh, đã chiếm đóng nước này vào tháng 3-1944 rồi sau đó, nửa triệu người Do Thái sinh sống tại Hungari đã bị chở tới các trại tập trung đặt trên nước Đức và bị giết trong các phòng hơi ngạt.
Sau khi Đức Quốc Xã thua trận, các người cộng sản Hungari đã chiếm chính quyền với sự giúp đỡ của quân đội Liên Xô. Ông Mathias Rakosi là lãnh tụ đảng Cộng Sản và cũng là người đứng đầu chính quyền Hungari, đã cai trị xứ sở này như một nhà độc tài. Chính sách cai trị khắc nghiệt của ông Rakosi đã khiến cho nền kinh tế Hungari đi dần tới chỗ kiệt quệ và dân chúng đều bất mãn.
Năm 1953, ông Imre Nagy làm Thủ Tướng, Rakosi làm chủ tịch đảng Cộng Sản. Ông Nagy đã nới lỏng các kiểm soát, cho dân chúng Hungari đôi phần tự do hơn để cải thiện đời sống nhưng các cải tiến này đã bị ông Rakosi và các đảng viên cộng sản khác chống đối. Ông Nagy bị loại khỏi chính quyền và bị khai trừ khỏi đảng vào năm 1955. Các chính sách khắc nghiệt của ông Rakosi một lần nữa lại được áp đặt lên xứ sở Hungari khiến cho các thanh niên, các nhà văn… đều phản đối, nhất là về phạm vi nhân quyền và tự do tư tưởng, vì thế ông Rakosi bị loại khỏi chức vụ chủ tịch đảng Cộng Sản vào giữa năm 1956 nhưng các chính sách khắc nghiệt vẫn còn được duy trì khiến cho đã xẩy ra một cuộc nổi dậy, chống đối, tại thành phố Budapest.
Cuộc cách mạng này đã lan ra khắp nước Hungari. Nhân dịp này nhiều tù nhân chính trị đã được trả tự do trong đó có cha Joseph Cardinal Mindszenty là người đứng đầu nhà thờ công giáo Catholic tại Hungari, đã bị giam cầm từ năm 1949. Cuộc nổi dậy của người dân Hungari đã khiến cho ông Imre Nagy lại trở nên Thủ Tướng và ông Nagy đã tuyên bố Hungari là một quốc gia trung lập, nhưng chính quyền này chỉ tồn tại được vài ngày, vì vào tháng 11 năm đó, quân đội Liên Xô đã tràn vào nước Hungari, đàn áp cuộc cách mạng. Số người bị giết trong cuộc tàn sát này từ 6,500 tới 32,000 người. Khoảng 250 người tích cực trong cuộc cách mạng kể trên, kể cả ông Imre Nagy, đã bị Liên Xô hành quyết vào năm 1958. 200,000 người Hungari đã bỏ xứ, chạy trốn.
Sau cuộc Cách Mạng năm 1956, Liên Xô đã kiểm soát chặt chẽ xứ Hungari và ông Janos Kadar là lãnh tụ đảng Cộng Sản mới, lãnh chức Thủ Tướng từ năm 1956 tới 1958 rồi từ năm 1961 tới 1965. Vào thập niên 1960, ông Kadar đã nới lỏng các kiểm soát về kinh tế, văn hóa và xã hội khiến cho chế độ cộng sản Hungari được coi là tiến bộ nhất. Năm 1987, ông Karoly Grosz được chọn làm Thủ Tướng rồi làm lãnh tụ đảng, thay thế ông Kadar. Vào cuối thập niên 1980 này, quyền lực của đảng Cộng Sản Hungari bị suy giảm, các đảng phái khác bắt đầu hoạt động trở lại. Vào tháng 6-1989, đảng Cộng Sản Hungari phải thảo luận với các đảng phái đối lập. Họ đã xét lại cuộc cách mạng năm 1956 và tuyên bố rằng vụ xét xử ông Imre Nagy và các đồng chí vào năm đó bị coi là bất hợp pháp và cuộc nổi dậy năm 1956 không bị coi là “phản cách mạng”. Ông Nagy và các đồng chí cũ được phục hồi danh dự và chôn cất long trọng vào tháng 6-1989.
Mùa hè năm 1989, Hungari đã mở cửa biên giới với nước Áo khiến cho hàng ngàn người Đông Đức đã tràn qua các nước tây phương. Ngày 10-3-1990, Hungari đã ký với Liên Xô một thỏa ước về rút toàn bộ 52,000 quân Xô Viết ra khỏi lãnh thổ Hungari vào tháng 7-1991và xứ sở này chuyển sang chính thể dân chủ đa đảng, có Quốc Hội và Tổng Thống. Đảng Cộng Sản Hungari mặc dù đã cải tổ nội bộ, kể từ tháng 4-1990 chỉ chiếm được 11 % số phiếu bầu. Cũng từ năm 1990, Hungari đã theo đuổi các chính sách cải tổ kinh tế, tư hữu các xí nghiệp và trả lại đất đai cho nông dân.
Albania là quốc gia nghèo nhất của châu Âu, có diện tích vào khoảng tiểu bang Alabama với dân số hơn 3 triệu người. Albania tiếp giáp với các nước Nam Tư, Macedonia, Hy Lạp và biển Adriatic.
Qua nhiều thế kỷ bị nước ngoài đô hộ, người dân Albania vẫn giữ được bản tính dân tộc nên đã giành được độc lập vào năm 1920 rồi tới Thế Chiến Thứ Hai, quốc gia nhỏ bé này bị Phát Xít Ý xâm lăng vào tháng 4-1939, rồi bị sát nhập vào nước Ý. Trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai, có ba lực lượng kháng chiến chính trong xứ Albania: a) tổ chức Cộng Sản gọi là Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia NLF (the National Liberation Front) do Enver Hoxha lãnh đạo, b) lực lượng bảo hoàng gọi là Phong Trào Hợp Pháp (Legality) do Abas Kupi điều khiển, c) phong trào quốc gia gọi tên là Balli Kombetar do Midhat Frasheri chủ trương. Cả ba nhóm quân sự này vừa đánh quân đội Đức Quốc Xã chiếm đóng, vừa đánh lẫn nhau.
Năm 1944, lực lượng Đức Quốc Xã bị đánh bật ra khỏi Albania và các người Cộng Sản kiểm soát được đất nước. Ông Hoxha đã thiết lập nên tại Tirana một chính quyền cộng sản và lãnh đạo đất nước với chức vụ Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản từ năm 1953. Ông Enver Hoxha (1908-1985), đã cai trị xứ Albania cho tới khi chết. Ông ta ủng hộ các chính sách của Joseph Stalin, nhà độc tài của Liên Xô. Từ nay, mọi ruộng đất đều bị tập trung thành các nông trại tập thể, các người chống đối đều bị cầm tù, các tài sản tư nhân bị tịch thu, mọi cơ sở tôn giáo đều bị đóng cửa, các hoạt động văn hóa và trí thức đều phải theo đường lối xã hội chủ nghĩa. Ông Hoxha đã cô lập xứ Albania, không cho giao tiếp với các quốc gia khác. Chính sách giới hạn mọi tự do cá nhân tại Albania đã khiến cho xứ sở này trở thành quốc gia nghèo đói nhất châu Âu, trong khi đó các đảng viên cộng sản vẫn tự hào rằng Albania là quốc gia duy nhất trên thế giới theo đúng các giáo điều Mác Xít Lê Nin Nít!
Khi Albania giành được độc lập vào năm 1944, đảng Cộng Sản Nam Tư đã giúp đỡ các đảng viên cộng sản Albania tổ chức lại Mặt Trận Giải Phóng NLF nhưng tới năm 1948, sự rạn nứt đã xẩy ra giữa Nam Tư và Liên Xô khiến cho Nam Tư bị trục xuất khỏi Khối Cominform, một tổ chức gồm các đảng cộng sản châu Âu do Liên Xô lãnh đạo. Vào lúc này, Albania theo Liên Xô nên đã tuyệt giao với Nam Tư.
Vào đầu thập niên 1960, đã xẩy ra một dạn nứt khác giữa Liên xô và Trung Cộng do khác biệt về cách giảng giải các giáo điều Cộng sản. Trung Cộng đả phá Liên Xô vì đã tìm cách sống chung với các quốc gia tây phương và Albania ủng hộ lập trường của Trung Cộng. Vào năm 1961, Albania đoạn giao với Liên Xô. Từ đó Trung Cộng cung cấp mọi trợ giúp cho Albania kể cả trợ giúp kỹ thuật. Tới cuối thập niên 1970, các nhà lãnh đạo cộng sản Albania lại chỉ trích Trung Cộng là đã không theo đúng các giáo điều Cộng Sản, đã liên lạc với Nam Tư và Hoa Kỳ. Trung Cộng bèn phản ứng lại bằng cách cắt hết viện trợ cho Albania.
Năm 1985, ông Enver Hoxha chết sau khi đã cai trị Albania hơn 40 năm, đã bắt mọi người dân Albania phải thành kính tôn sùng lãnh tụ. Ông Ramiz Alia, nguyên là chủ tịch nước từ năm 1982, đã kế tiếp ông Hoxha làm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản.
Từ năm 1989, vì các quốc gia cộng sản Đông Âu bắt đầu tan rã nên xứ Albania cũng bị ảnh hưởng. Các cuộc biểu tình đã xẩy ra tại thủ đô Tirana, một sự việc không hề có trong 46 năm trường, một phần là do sự giảm bớt bóp nghẹt của cơ quan công an mật vụ Sigurimi. Vào mùa xuân năm 1990, chủ tịch Ramiz Alia công bố một chương trình “dân chủ hóa”, cho phép nông dân được quyền canh tác trên các mảnh đất tư hữu, chấp nhận việc du lịch ra nước ngoài và cho phép dân chúng thực hành tôn giáo tại gia đình. Một cải tiến khác của Albania là trả tiền thưởng cho các công nhân làm việc chăm chỉ, để sản xuất ra nhiều mặt hàng hơn. Thế nhưng, những cải cách này chưa thực sự mang lại các kết quả tốt.
Vào tháng 7-1990, 5,000 người Albania đã xuống đường, phản đối chính quyền Cộng Sản, đập phá các tòa đại sứ để yêu cầu được ra các nước ngoài. Nhiều người liều mạng băng qua biên giới Nam Tư và Hy Lạp mà không có giấy tờ, để tìm tự do và tránh các hiểm nghèo kinh tế. Các xáo trộn vẫn tiếp tục tới cuối năm 1990 khiến cho đảng cộng sản cầm quyền phải đồng ý để các đảng phái chính trị khác tham gia vào các cuộc bầu cử đa đảng, diễn ra vào tháng 3-1991. Sau cuộc bầu cử này, đảng cộng sản thắng nhiều phiếu bởi vì các lực lượng đối lập đã không được tổ chức cẩn thận. Các bạo loạn chống cộng sản vẫn diễn ra tại Albania khiến cho một chính phủ mới được thành lập, bao gồm bên trong 9 nhân vật độc lập.
Cuộc bầu cử kế tiếp diễn ra vào tháng 3-1992 và lần này, Đảng Dân Chủ Albania đối lập (the Albanian Democratic Party) đã thắng lớn trên toàn quốc. Ông Sali Berisha, một y sĩ giải phẫu tim, 47 tuổi, trở nên Tổng Thống không cộng sản đầu tiên vào tháng 4-1992. Sau khi trở thành nhà lãnh đạo của xứ Albania, ông Sali Berisha đã thực hiện nhiều chuyến công du ra các nước ngoài để xin trợ giúp, ngõ hầu ổn định xứ sở Albania quá nghèo đói.
Bulgaria là một quốc gia thuộc vùng Balkan, lãnh thổ nhiều đồi núi này có diện tích vào khoảng tiểu bang Tennessee và dân số 9 triệu người, tiếp giáp với các nước Hy Lạp và Thổ Nhĩ kỳ ở phía nam, Nam Tư và Macedonia ở phía tây, Romania ở phía bắc và Biển Đen (the Black Sea) ở phía đông. Thủ đô của Bulgaria là thành phố Sofia, được người La Mã xây dựng nên vào thế kỷ thứ 2. Người Bulgaria có nguồn gốc pha trộn của các bộ lạc Slavic và Bulgars, và bộ lạc sau này từ Trung Á tới xâm chiếm bán đảo Balkan vào thế kỷ thứ 9. Bulgaria bị cai trị bởi các người nước khác và cuối cùng bị chinh phục bởi đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman. Năm 1878, nước Bulgaria giành được độc lập nhờ sự trợ giúp của người Nga vì thế người Bulgaria thường có thiện cảm với dân Nga.
Năm 1912, với hy vọng giành lại miền đất đã mất vì Hiệp Ước Berlin, Bulgaria cùng với các nước khác thuộc vùng Balkan tham gia vào trận chiến đánh đuổi quân đội Ottoman ra khỏi châu Âu và đây là Cuộc Chiến Balkan thứ nhất. Sau khi Thổ Nhĩ Kỳ thua trận, các nước chiến thắng lại tranh chấp nhau và vào năm 1913, Bulgaria tấn công Serbia và Hy Lạp trong Cuộc Chiến Balkan thứ hai. Vì bị thua trong cuộc chiến này, Bulgaria bị mất phần đất đã giành được trong cuộc chiến trước.
Trong Thế Chiến Thứ Nhất, Bulgaria đứng về phe Đức vì hy vọng chiếm lại các phần đất đã mất nhưng đã thất bại. Tới Thế Chiến Thứ Hai, Bulgaria là đồng minh của Đức và Ý. Ngày 8-9-1944, quân đội Liên Xô xâm chiếm Bulgaria và các người cộng sản đã giành được chính quyền. Từ đây, các người dân bị phe cộng sản coi là chống đối đã bị giết, bị gửi đi các trại tù cải tạo, quyền tư hữu của dân chúng bị hủy bỏ, mọi tự do trong xứ bị giới hạn. Năm 1946, lãnh tụ cộng sản Georgi Dimitrov trở nên nhà cai trị xứ Bulgaria. Năm 1947, Bulgaria phê chuẩn Hiến Pháp giống như Hiến Pháp của Liên Xô rồi tới năm sau, 1948, các người cộng sản kiểm soát được hoàn toàn đất nước này. Ông Dimitrov chết vào năm 1949, năm sau ông Vulko Chervenkov lên nắm quyền. Từ năm 1950, nền kỹ nghệ của Bulgaria đã gia tăng nhưng mực sống của người dân xuống thấp dần.
Năm 1954, ông Todor Zhivkov (1911- ) trở nên lãnh tụ đảng Cộng Sản và đã cầm quyền từ năm này tới tháng 11-1989. Trong số các lãnh tụ cộng sản Đông Âu, ông Zhivkov là kẻ tham quyền cố vị lâu thứ hai, chỉ đứng sau ông Enver Hoxha của xứ Albania. Ông Zhivkov là lãnh tụ cộng sản đầu tiên bị xét xử công khai vào tháng 9-1992 vì lạm quyền và thâm lạm của công rồi bị kết án 7 năm tù quản thúc. Hai lãnh tụ khác là ông Nicolae Ceausescu bị xử bắn ngay sau một phiên tòa quân sự vào năm 1989 và ông Erich Honecker, cựu chủ tịch Đông Đức, bị kết án vào cuối năm 1992.
Vào năm 1962, ông Zhivkov trở nên chủ tịch nước Bulgaria, đã theo đường lối thân Liên Xô. Trong thời gian Bulgaria sống dưới chế độ cộng sản, người dân phải chịu đựng mọi thiếu thốn về các nhu yếu phẩm căn bản và các dịch vụ sơ đẳng, khiến cho một số nhân viên chính quyền cộng sản cũng phải căm hờn đường lối bóp nghẹt của Liên Xô. Năm 1965, ông Zhivkov thoát nạn sau một cuộc đảo chính quân sự không thành.
Tới cuối thập niên 1980, các chính sách cởi mở tại Liên Xô đã ảnh hưởng đến xứ Bulgaria. Vào tháng 10-1989, các nhóm phản đối chính quyền cộng sản đã xuất hiện tại thành phố Sofia nhân một cuộc hội nghị quốc tế về môi trường được tổ chức tại đây, bởi vì sự hiện diện của một số đại biểu ngoại quốc đã khiến cho giới cấm quyền cộng sản phải nhẹ tay trong việc đàn áp. Rồi tới ngày 3-11 năm đó, 4,000 người đã biểu tình trước Quốc Hội, đây là cuộc phản kháng lớn nhất kể từ năm 1947.
Người dân trong nước Bulgaria đã biểu tình phản đối chính quyền cộng sản Zhivkov, đòi hỏi dân chủ và một số tự do căn bản. Cuộc phản kháng đã bắt đầu từ bên trong nội bộ đảng Cộng Sản, do Bộ Trưởng Ngoại Giao là ông Petar Mladenov. Do áp lực từ Liên Xô, ông Zhivkov phải rút lui khỏi chính quyền vào tháng 11-1989 và ông Mladenov trở nên chủ tịch đảng và chủ tịch nước.
Từ tháng 1-1990, do các bất mãn từ dân chúng, đảng Cộng Sản bị bớt dần độc quyền và chịu chấp nhận hệ thống chính trị đa đảng. Tháng 4 năm đó, đảng Cộng Sản Bulgaria đổi tên thành Đảng Xã Hội rồi cũng vào tháng 4, Quốc Hội bầu lại ông Mladenov làm chủ tịch nước. Tháng 6-1990, các cuộc bầu cử tự do, đa đảng, được tổ chức lần đầu tiên tại Bulgaria sau 44 năm. Đảng Xã Hội đã chiếm được nhiều phiếu nhất, sau đó là đảng Liên Hiệp Các Lực Lượng Dân Chủ UDF (Union of Democratic Forces). Tới tháng 7, các sinh viên lại biểu tình, phản đối ông Mladenov, họ dựng nên các căn lều trong “Vùng Không Cộng Sản” (a Communist free zone) thuộc thành phố Sofia. Tháng 8-1990, ông Zhelyu Zhelev thuộc lực lượng UDF được Quốc Hội bầu làm Tổng Thống xứ Bulgaria và đây là vị nguyên thủ loại “không cộng sản” đầu tiên, kể từ năm 1944. Từ năm 1991, đảng Cộng Sản Bulgaria tự hủy diệt dần dần.
Mark Urban BBC

GETTY IMAGES
Điều gì chờ đợi thế giới trong năm 2017? Một số sự kiện gần đây cho thấy 2017 có thể sẽ rất khó khăn cho các nước phương Tây.
Có những dấu hiệu rằng ngay cả khả năng của Tây phương đặt ra quy tắc cho trò chơi quốc tế cũng đang bắt đầu tan rã.
Đây là một số sự kiện lớn của nửa sau 2016:

REUTERSI
Syria
Các sự kiện tại Syria chứng tỏ thất bại của Hội đồng Bảo an LHQ năm thành viên khi họ không thể thỏa thuận cách dừng khủng hoảng. Nhưng nói thật, từ khi LHQ thành lập năm 1945, các tay chơi lớn ít khi nào đoàn kết trong các khủng hoảng quốc tế nghiêm trọng.
Năm 1991, LHQ đồng ý cuộc chiến do Mỹ dẫn dắt chống Saddam Hussein. Đó là ví dụ rất hiếm của Hội đồng Bảo an ủng hộ một cuộc chiến.
Quan niệm của chúng ta về trật tự thế giới “dựa trên sự thống trị của Mỹ, luôn chỉ có thời gian kéo dài hữu hạn”, theo lời Giáo sư Patrick Porter của Đại học Exeter. Ông tin rằng “trật tự này đang tan rã, vì sự dịch chuyển sức mạnh kinh tế từ tây sang đông khiến phương Tây khó áp đặt ý chí của mình hơn”.
Dĩ nhiên nhiều người sẽ hoan nghênh việc siêu cường Mỹ đi xuống và sự đi lên của thế giới đa phương.
Tại nhiều nước châu Phi, châu Á, còn có cảm giác mạnh lên khi một thế hệ lãnh đạo học ở Tây nay nhường chỗ cho thế hệ mới có lập trường riêng.
Nga và Trung Quốc gần đây đặt câu hỏi về LHQ liên quan các tranh chấp lãnh thổ mà họ quan tâm.

GETTY IMAGES
Một số nước châu Phi đã bỏ Tòa án Hình sự Quốc tế
Nếu các quy tắc cũ bị xem là do “thực dân” hay các nước phương Tây hùng mạnh soạn ra và nay bị nhiều nơi xem là lỗi thời, thì ít nhất chúng cũng đại diện cho một hệ thống niềm tin mà nhiều nước chấp nhận trong nhiều thập niên, hay ít ra giả vờ chấp nhận.
Các tư tưởng mới nổi lên, như nhãn hiệu hậu cộng sản/Nho giáo của Trung Quốc, hay bản sắc Chính thống giáo Đông phương của Nga, hay tư tưởng Hồi giáo chi phối chính sách của Ả Rập Saudi hay Iran, có thể hấp dẫn dân tộc họ nhưng khó hấp dẫn người ngoài.
Các nhóm phi quốc gia như Hezbollah, Boko Haram, cũng đang là thách thức.
Giáo sư Porter cũng đề cập đến “sự phân rã từ bên trong”. Phương Tây đang bất đồng lớn. Ví dụ, việc ông Donald Trump thắng cử mở ra các lo ngại mới về chiến tranh thương mại.
Có lẽ sẽ có sự nhấn mạnh vào ngoại giao song phương thay vì đa phương. Nó có thể đem lại một cảm giác thế kỷ 19 trong quan hệ quốc tế. Giáo sư Porter nói “chúng ta đang đi về hướng ngoại giao ‘bình thường’ trong lịch sử, khi chúng ta cạnh tranh và hợp tác đồng thời với các đại cường”.
Quan hệ giữa Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Reccep Tayip Erdogan và Tổng thống Nga Vladimir Putin là ví dụ thú vị về quan hệ nhà nước.
Họ nhanh chóng chuyển từ đối đầu và trừng phạt sau khi Thổ bắn rơi một máy bay Nga, sang hợp tác chiến lược tại Syria năm 2016.

API
Trump và Putin: thời đại song phương mới?
Nhưng liệu các nước châu Âu, Mỹ với truyền thống dân chủ cùng các nhóm lợi ích đối nghịch có thể chạy cùng các nước có các lãnh đạo độc đoán?
Nhà cựu ngoại giao hàng đầu của Anh, Simon Fraser, tin rằng “luật pháp, tổ chức, hiệp định, và các quy tắc khác sẽ vẫn quan trọng, nhưng có lẽ sẽ có hình thái mới, tiếp tục thay đổi bên trong cấu trúc lớn”.
Những thay đổi cơ cấu của thế giới có vẻ khiến các xã hội phương Tây bị thiệt thòi: họ tôn trọng quy định quốc tế còn Nga và Trung Quốc nói có thể bỏ qua (Crimea và Biển Nam Trung Hoa).
Trong nhiều trường hợp, quân đội các nước từ bỏ việc sử dụng bom chùm hay mìn, là các vũ khí được Syria và Nga dùng trong mấy tháng gần đây.
Phương Tây chỉ có khả năng hạn chế khi muốn đáp trả Nga hay các vụ tấn công mạng.
Ngoài ra lại còn các hạn chế từ trì trệ kinh tế, chủ nghĩa bảo hộ, ngôn từ dân túy.
Ta phải tự hỏi liệu các câu lạc bộ quốc tế trong định nghĩa về “phương Tây – Nato và EU – còn có thể tồn tại như cũ trong năm 2017.
Bài cũ nhưng còn giá trị , mời xem
Vụ thảm sát Katyn : Tòa án Nhân quyền Châu Âu y án đối với Nga
Bia tưởng niệm các nạn nhân Ba Lan bị Liên Xô xử tử
CC-by-nc-sa_katyn, Stuck in Customs / Trey Ratcliff (flickr)
Mai Vân
RFI
Trong phán quyết chung cuộc công bố vào hôm nay, 21/10/2013, Tòa án Nhân quyền Châu Âu trụ sở tại Strasbourg đã xác nhận lời lên án của Nga về tội « thiếu tường trình tích cực » về số phận các tù nhân Ba Lan tại Katyn bị Liên Xô xử tử vào năm 1940.
Mười bảy thẩm phán của thuộc cơ quan tối cao của Tòa án Nhân quyền Châu Âu đã hoàn toàn nhất trí phán quyết rằng « Nga đã thiếu sót trong nghĩa vụ hợp tác với Toàa Án Châu Âu khi đã miễn cưỡng trong việc « cung cấp tất cả các phương tiện thuận lợi cho vieech xem xét vụ án ».
Các thẩm phán tuy nhiên – tương tự như trong phán quyết cấp sơ thẩm năm 2012 – đã tuyên bố không có thẩm quyền phán quyết về các trường hợp người bị chết « xảy ra 58 năm trước khi Công ước Châu Âu về Nhân quyền có hiệu lực tại Nga từ năm 1998 ».
Nguyên đơn trong vụ kiện này là người thân của 12 nạn nhân Ba Lan trong vụ thảm sát ở Katyn, gần thành phố Smolensk (phía tây nước Nga).
Tại đấy, gần 22.000 người Ba Lan, trong đó có nhiều sĩ quan, đã bị xử tử mà không kinh qua xét xử theo lệnh của Stalin vào đầu năm 1940. Mátxcơva trong một thời gian dài đã đổ tội giết người cho phía quân Đức.
Một cuộc điều tra về Katyn được Nga khởi xướng vào năm 1990, nhưng các thủ tục tố tụng hình sự đã kết thúc vào năm 2004 bằng một quyết định kết thúc cuộc điều tra. Văn bản về quyết định này vẫn còn bị liệt vào diện tài liệu mật, cho đến nay không ai được tham khảo.
Mỹ chính thức trừng phạt Nga vụ can thiệp bầu cử

Ba thượng nghị sĩ Mỹ, từ trái, Lindsay Graham, John McCain, và Amy Klobuchar, cùng Tổng Thống Raimonds Vejonis của Latvia tại cuộc họp báo ở thủ đô Riga, nói về vụ tin tặc Nga. (Hình: AP Photo/Vitnija Saldava)
WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Barack Obama hôm Thứ Năm chính thức đưa ra các biện pháp trừng phạt Nga, trong một vụ trả đũa mà chính phủ Mỹ gọi là Moscow có “các hoạt động tin tặc vô cùng nguy hiểm.”
Các biện pháp này bao gồm trục xuất một số người và đóng cửa một số cơ sở của người Nga, buộc họ phải rời khỏi Hoa Kỳ.
Một cách cụ thể, có 35 người Nga được coi là “không được hoan nghênh” phải rời Hoa Kỳ trong vòng 72 giờ.
Ngoài ra, hai cơ sở của Nga tại Maryland và New York phải đóng, cùng với sáu người Nga và năm hoạt động của chính phủ Nga phải ngưng lại.
Đây là lần đầu tiên tên của các giới chức Nga được đưa ra, liên quan đến vụ họ bị tố cáo có liên quan đến các hoạt động tin tặc và bị đưa vào danh sách bị trừng phạt.
Thông báo của Tòa Bạch Ốc mô tả sự đồng thuận của cộng đồng tình báo Mỹ rằng chuyện Nga can thiệp vào cuộc bầu cử qua các hoạt động tin tặc là “không thể chấp nhận được và sẽ không được tha thứ.”
“Hoạt động tin tặc của Nga là nhằm ảnh hưởng cuộc bầu cử, làm xói mòn lòng tin đối với các cơ quan chính quyền dân chủ Mỹ,” thông báo cho biết. “Những hành động này là không thể chấp nhận được và sẽ không được tha thứ.”
Ngay lập tức, phát ngôn viên của Tổng Thống Vladimir Putin của Nga nói rằng “Nga rất tiếc Mỹ đưa ra lệnh trừng phạt, và đang cân nhắc các hành động trả đũa,” theo hãng thông tấn AP. (Đ.D.)
Kim Jong-un cấm tổ chức lễ Giáng sinh, bắt người dân tưởng nhớ bà nội mình
Trong khi hàng triệu người theo đạo Thiên Chúa trên thế giới tưng bừng ăn mừng Giáng sinh, thì tại Triều Tiên, lãnh đạo Kim Jong-un lại bắt người dân của mình quên đi Chúa Jesus, thay vào đó là tưởng niệm bà nội của mình.

Lãnh đạo Kim Jong-un cấm người dân đón lễ Giáng sinh, thay vào đó là tưởng nhớ bà nội của mình. (Ảnh: Internet)
“Thánh Mẫu của cuộc cách mạng”
Kim Jong-suk (24/ 12/1917– 22/ 9/1949) là phu nhân của lãnh đạo đầu tiên ở Triều Tiên Kim II-sung và là mẹ của lãnh đạo Kim Jong-il, cũng là bà nội của nhà độc tài Kim Jong-un.
Bà Kim Jong-Suk được sinh ra vào đúng đêm trước Giáng sinh. Trước đây bà từng là một du kích chống Nhật và nhà hoạt động cộng sản. Bà được biết đến với danh hiệu “Thánh Mẫu của cuộc Cách mạng”.

Kim Jong -suk, bà nội của Kim Jong-un, được mệnh danh là “Thánh Mẫu của cuộc Cách mạng. (Ảnh: Internet)
Triều Tiên là một trong những nước cấm người theo đạo Thiên Chúa giáo, vì cho rằng người theo đạo Thiên Chúa là những người thù địch và chống đối chính phủ xã hội chủ nghĩa, do đó những người này là mục tiêu bị bắt giữ, tra tấn, và thậm chí bị giết chết.
Đã có hàng nghìn người được tin là bị bắt và giam cầm trong các trại lao động, trong đó có một nhà truyền giáo người Mỹ- Kenneth Bae đã bị kết án 15 năm lao động khổ sai. Cũng có ít nhất một người Thiên Chúa giáo đã bị xử tử công khai vì phạm tội phân phát Kinh Thánh.
Kim Jong-un từng rất ám ảnh với lệnh cấm tổ chức Giáng sinh. Năm 2014, ông ta đã rất tức giận khi thấy Hàn Quốc lên kế hoạch dựng một cây thông Noel lớn ở gần biên giới. Lúc đó Kim Jong-un lập tức đe dọa gây chiến tranh khiến Hàn Quốc phải hủy kế hoạch này.
250 triệu người Trung Quốc thoái Đảng để lựa chọn tự do
Gần đây, dân chúng ở Trung Quốc đang tranh nhau “chạy thoát thân” để giữ bình an cho sinh mệnh của mình. Tính từ năm 2004 đến nay, đã có 250 triệu người dân thoái xuất khỏi các tổ chức liên đới của ĐCSTQ.

Hơn 250 triệu người dân Trung Quốc đã chọn thoái xuất khỏi ĐCSTQ để tránh bị đào thải cùng nó. (Ảnh: en.tuidang.org)
Vào tháng 11/2004, cuốn sách “Cửu bình” – 9 bài bình luận về Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã được công bố. Trong vòng 18 tháng, 10 triệu người đã tuyên bố thoái ĐCSTQ và các tổ chức liên đới của nó.
Tại Bắc Kinh từ năm 2004, hàng nghìn rồi đến hàng chục nghìn, và tiếp đó hơn một trăm nghìn người dân Trung Quốc bắt đầu lên tiếng phản đối ĐCSTQ mỗi ngày. Trung tâm Tuidang (Thoái Đảng) là dịch vụ ghi lại tuyên bố của người dân khi họ thoái Đảng. Tính đến hiện giờ, Trung tâm đã ghi được 250 triệu tuyên bố thoái Đảng, bằng khoảng 1/7 dân số Trung Quốc.
“Rất nhiều người đã tuyên bố thoái Đảng, đó thực sự là một mốc quan trọng”, phát ngôn viên David Tompkins của Trung tâm Tuidang cho biết, “số liệu cho thấy Phong trào Thoái Đảng đang dâng cao tại Trung Quốc và truyền tới mọi công dân nơi đây”.
Vấn đề quan trọng không phải là sự sụp đổ của ĐCSTQ mà nằm ở tư tưởng tự do trong mỗi cá nhân
– David Tompkins
ĐCSTQ tuyên bố có 85 triệu Đảng viên, chứng tỏ rằng phần lớn thông báo ra khỏi Đảng không chỉ xuất phát từ hàng ngũ này, mà bao gồm các công dân từng lớn lên tại Trung Quốc và gia nhập Đội Thiếu niên Tiền phong hay Đoàn Thanh niên Cộng sản. Dân số Trung Quốc đạt 1,4 tỷ người, vì vậy Phong trào Thoái Đảng “còn phải đi qua chặng đường dài phía trước”, ông Tompkins nhận định.

Cửu bình – Ấn phẩm Chín bài bình về Đảng Cộng sản đã dấy lên làn sóng thoái Đảng Cộng sản trong cộng đồng công dân Trung Quốc.
Số liệu được công bố đã qua quá trình kiểm duyệt nghiêm túc
Trung tâm Thoái Đảng nhận khoảng 120.000 thông báo mỗi ngày. Mỗi thông báo đều được các biên tập viên rà soát lại nhằm loại bỏ tin rác, quảng cáo, số liệu giả và đôi khi là thông tin về quan tham. Có khoảng 10% các thông điệp gửi đến được gửi trả để xác minh và đánh giá thêm. Trung tâm Thoái Đảng phát hành một nhận diện duy nhất cho những người gửi thông báo được chấp nhận, chiếm khoảng 70% mỗi ngày, và đều chính thức lưu giữ chúng.
Ông Tompkins nói: “Vấn đề quan trọng không phải là sự sụp đổ của ĐCSTQ mà nằm ở tư tưởng tự do trong mỗi cá nhân”. Số lượng người đăng ký thoái Đảng chỉ là một khía cạnh của vấn đề, điều quan trọng hơn nằm ở chỗ thoái Đảng đang giải phóng người dân Trung Quốc như thế nào, đó chính là mục đích của phong trào, chứ không phải sự sụp đổ của ĐCSTQ.
Với Phong trào Thoái Đảng, “người dân Trung Quốc giờ đã có cơ hội để hiểu được ý nghĩa thực chất của tự do”, ông Tompkins kết luận.
Thức tỉnh tâm linh
Nhiều người chọn thoái xuất khỏi các tổ chức của ĐCSTQ bởi vì đó là cách mà họ tìm thấy hi vọng cho tương lai.
Hoàng Hiểu Mẫn, là người đoạt huy chương bạc 200m bơi ếch trong Thế vận hội Olympic năm 1988, là vận động viên đầu tiên của Trung Quốc dành được huy chương Olympic. Cô đã thoái ĐCSTQ vào tháng 12/2004: “Cửu bình đã giúp tôi nhìn thấu bản chất của ĐCSTQ. Bây giờ tôi cảm thấy xấu hổ khi từng là một thành viên của nó”.
Mặc dù cô Hoàng “vào” Đảng trái với mong muốn của mình và không tham gia bất kỳ một hoạt động liên quan nào hoặc đóng đảng phí trong hơn mười năm qua, nhưng cô viết rằng chính thức thoái xuất khỏi ĐCSTQ là điều quan trọng: “Chỉ bằng cách thoái khỏi tổ chức tà ác này, chúng ta mới có thể hoàn toàn tiêu trừ được những ảnh hưởng độc hại của nó trên thân thể và tâm hồn của mình”.
Một người khác là quan chức cấp cao về hưu của Hội đồng Nhà nước và Bộ Công an đã gia nhập ĐCSTQ năm 1930. Khi công bố thoái xuất khỏi các tổ chức của ĐCSTQ, ông viết: “Qua nhiều năm, chúng tôi đã chứng kiến rất nhiều cuộc vận động chính trị liên tiếp, điều đó đã đặt một lượng lớn người dân vào bi kịch. Và giờ đây, cuộc đàn áp những học viên Pháp Luân Công vô tội đã khiến tôi tin rằng ĐCSTQ hoàn toàn không còn hi vọng”.

Trung bình mỗi ngày có 100.000 người tuyên bố thoái Đảng Cộng sản Trung Quốc. (Ảnh: Epoch Times)
Sự gấp rút sau dự ngôn năm 2017 ĐCSTQ sụp đổ
Trước nay, có không ít những dự ngôn về sự suy tàn của ĐCSTQ. Trong đó, không thể không nhắc tới “Tàng Tự Thạch” được phát hiện ở thôn Chưởng Bố, huyện Bình Đường, tỉnh Quý Châu. Trên tảng cự thạch đã để lộ ra 6 chữ Trung Quốc “Trung Quốc Cộng sản Đảng vong” là lời cảnh báo quá rõ ràng cho thế nhân.
Đặc biệt, gần đây có dự ngôn thần bí chỉ rằng đến năm 2017 ĐCSTQ sẽ diệt vong. Vào tháng 9 và tháng 11 năm 2015, ông Cao Trí Thịnh – luật sự nhân quyền nổi tiếng của Trung Quốc bị ĐCSTQ bức hại tàn nhẫn trong thời gian dài, đã hai lần dự đoán rằng ĐCSTQ sẽ sụp đổ vào năm 2017. Và lời dự đoán này đã được trình bày cặn kẽ trong cuốn sách mới có tên “Năm 2017, Trung Quốc phục hưng” của ông.
Ngày 25/1/2016, ông Cao Trí Thịnh một lần nữa đăng một bài viết nhấn mạnh năm 2017, ĐCSTQ diệt vong. Bài viết nói rằng, tiên đoán của ông đối với “năm 2017, ĐCSTQ sụp đổ” là khải thị mà Đức Chúa đã cho ông thấy, lúc đầu cũng khiến ông kinh tâm động phách.
Từ những khải thị của dự ngôn, cộng với thực trạng hiện tại của ĐCSTQ, các giới bên ngoài đều đang chăm chú theo dõi. Còn nhiều người dân Trung Quốc nhận ra rằng ĐCSTQ đã trở nên rất thối nát, và họ xấu hổ khi là một phần của nó. Họ tin rằng đảng sẽ bị quả báo vì tội ác của nó. Vậy nên để vạch ranh giới rõ ràng đối với trách nhiệm của ĐCSTQ và tránh bị đào thải với nó, nhiều người Trung Quốc đang chọn tách mình khỏi nó.
Nhiều người cho rằng, thời gian có vẻ đang trở nên cấp bách, hy vọng người dân Trung Quốc sẽ mau thức tỉnh, thoái xuất khỏi các tổ chức của ĐCSTQ để giữ bình an cho sinh mệnh của bản thân mình.
Theo Epoch Times / minghui
Hàng không mẫu hạm Trung Quốc đến Biển Đông giữa lúc căng thẳng

Hàng không mẫu hạm Liêu Ninh trên biển Hoa Đông, 25/12/2016. (Ảnh: Bộ Quốc phòng Nhật Bản)
Một nhóm tàu chiến của Trung Quốc do hàng không mẫu hạm đầu tiên của nước này dẫn đầu đã tiến vào khu vực nửa trên của Biển Đông hôm thứ Hai sau khi đi qua phía nam Đài Loan, Bộ Quốc phòng của đảo tự trị cho biết về động thái mới nhất mà Trung Quốc gọi là một cuộc diễn tập thường kỳ.
Động thái trên diễn ra trong bối cảnh căng thẳng gần đây khi Tổng thống Đài Loan gọi điện thoại cho Tổng thống mới đắc cử của Mỹ Donald Trumpkhiến Bắc Kinh giận dữ. Bắc Kinh lâu nay vẫn xem Đài Loan thuộc về Trung Quốc và không đủ tư cách pháp nhân cho mối quan hệ quốc gia với quốc gia.
Chiếc hàng không mẫu hạm Liêu Ninh do Liên Xô xây dựng từng tham gia diễn tập trước đây, trong đó có một số lần ở Biển Đông, nhưng Trung Quốc còn phải mất nhiều năm để hoàn thiện hoạt động hàng không mẫu hạm tương tự như Hoa Kỳ đã làm trong nhiều thập niên.
Bộ Quốc phòng Đài Loan cho biết chiếc hàng không mẫu hạm được hộ tống bởi 5 tàu chiến, đã băng qua phía đông nam của quần đảo Đông Sa, do Đài Loan kiểm soát, và hướng về phía tây nam.
Trước đó, nhóm tàu này đã băng qua khu vực 90 hải lý về phía nam mũi cực nam của Đài Loan thông qua kênh Ba Sĩ, nằm giữa Đài Loan và Philippines.
Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Đài Loan Chen Chung-chi từ chối cho biết liệu chiến đấu cơ hay tàu ngầm của Đài Loan đã được triển khai hay không, nhưng nói rằng Bộ Quốc phòng Đài Loan đang tiếp tục “theo dõi và nắm bắt tình hình”.
Nhà lập pháp cao cấp của đảng đối lập Đài Loan Johnny Chiang nói cuộc diễn tập của hàng không mẫu hạm Liêu Ninh là một tín hiệu Trung Quốc gửi tới Hoa Kỳ rằng nước này đã có khả năng xuyên qua “chuỗi đảo thứ nhất”, là khu vực bao gồm quần đảo Ryukyu của Nhật Bản và Đài Loan.
Tại Bắc Kinh, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh nói mọi người không nên quá phỏng đoán về kế hoạch của hàng không mẫu hạm bởi vì các hoạt động của nó đều nằm trong khuôn khổ pháp luật.
Tờ báo nhà nước Trung Quốc Hoàn Cầu Thời Báo nói cuộc diễn tập cho thấy hàng không mẫu hạm đã được cải tiến về khả năng chiến đấu và có thể di chuyển xa hơn như thế nào.
Trong bài xã luận, tờ báo viết “Sớm muộn hạm đội của Trung Quốc cũng sẽ đến Đông Thái Bình Dương. Khi hạm đội hàng không mẫu hạm của Trung Quốc xuất hiện ngoài khơi nước Mỹ một ngày nào đó, thì các nguyên tắc hàng hải sẽ được xem lại một cách nghiêm túc”.
Trung Quốc đã rất phẫn nộ vì các cuộc tuần tra hải quân của Mỹ gần các đảo mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông. Trong tháng này, một tàu hải quân Trung Quốc đã bắt giữ một tàu lặn không người lái của Mỹ ở Biển Đông. Trung Quốc đã thả tàu này ra sau đó.
Vào cuối ngày Chủ Nhật, Nhật Bản cho biết đã phát hiện 6 tàu hải quân Trung Quốc, bao gồm hàng không mẫu hạm Liêu Ninh, di chuyển qua khu vực giữa Miyako và Okinawa và vào Thái Bình Dương.
Hôm thứ Hai, Phát ngôn viên hàng đầu của chính phủ Nhật Bản nói hành trình trên cho thấy khả năng tăng cường quân sự của Trung Quốc và Nhật Bản đang giám sát chặt chẽ tình hình.
Cựu lãnh đạo Liên bang Xô viết Mikhail Gorbachev trong một buổi lễ kỷ niệm tại Điện Kremlin hôm 12/6/2016. Mikhail Svetlov/Getty Images.
Ngày này 25 năm trước (25/12/1991), tôi ngẫu nhiên trở thành nhân chứng lịch sử chứng kiến sự sụp đổ của Liên bang Xô viết.
Tôi quan tâm chính trị từ rất sớm. Tôi còn nhớ như in năm 1968 khi còn là cậu bé 10 tuổi, tôi với ba người bạn cùng trại trẻ quân đội C12 đã xé tờ họa báo Trung Quốc, bôi phân gà lên ảnh Mao Trạch Đông để phản đối Cách mạng Văn hóa và ủng hộ Lưu Thiếu Kỳ.
Hành động này của chúng tôi đã bị cô giáo phạt úp mặt vào tường.
Tất nhiên nhận thức của lũ trẻ chúng tôi lúc đó chỉ là do nghe lỏm chuyện người lớn, những người bố, sĩ quan chỉ huy của Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam nói chuyện với nhau.
Lý tưởng
Năm 1973, khi mới 15 tuổi, tôi suýt rơi nước mắt khi được nghe kể về Tổng thống Chile Salvador Allende với khẩu súng AK47 (quà tặng của Phidel Castro) trong tay chống lại cuộc tấn công đảo chính vào dinh tổng thống của quân đội tướng Pinochet và đã hi sinh anh dũng.
Năm 1983, tôi trở thành đảng viên cộng sản khi mới 25 tuổi.
Thú thật, việc vào Đảng của tôi trước hết 50% do cơ hội. Lúc đó tôi công tác tại một cơ quan kinh tế đầu não Chính phủ, muốn thăng tiến dứt khoát phải là đảng viên. Nhưng bên cạnh đó, tôi có 50% là do say mê lí tưởng.
Nếu không xuất ngoại năm 1988 và được mở mắt, dám chắc bây giờ tôi là một trong những dư luận viên kiên trung của Đảng.
Năm 1989, khi Ba Lan tiến hành Hội nghị Bàn tròn, hiệp thương giữa chính quyền Cộng sản và Công đoàn Đoàn kết và sau đó là cuộc bầu cử Quốc hội dân chủ đầu tiên, tôi vẫn một lòng chống lại phe đối lập dân chủ, ủng hộ đảng “anh em”.
Dao động
Chỉ đến khi kết quả bầu 100 ghế Thượng nghị viện, phái Cộng sản cầm quyền không được ghế nào tôi mới bắt đầu hồ nghi.
Đến cuộc bầu cử Tổng thống năm 1990, Walesa lãnh tụ Công đoàn Đoàn kết thắng lợi vang dội thay Tướng Jaruzelski lên làm Tổng thống Ba Lan thì tôi hoang mang thực sự.
Chứng kiến những thay đổi kì diệu trên đất nước Ba Lan từ khi chuyển sang thể chế mới, tôi dần thay đổi quan điểm chính trị.
Ngày 19/8/1991, tôi đang ở Việt Nam thực hiện phi vụ đánh áo gió sang Ba Lan. Cả nhà đang quây quần quanh mâm cơm chào đón tôi thì đài truyền hình thông báo tin thời sự đặc biệt “Ủy ban tình trạng khẩn cấp Liên Xô thay thế Tổng thống Gorbachev tạm thời quản lí đất nước”.
Xe tăng chiếm khu vực gần Cổng Spassky Gate (trái), lối vào Điện Kremlin và Thánh đường St. Basil’s hôm 19/8/1991 sau cuộc đảo chính nhằm lật đổ ông Gorbachev. Cuộc đảo chính thất bại vào chiều 21/8 khi Bộ Quốc phòng ra lệnh cho lính rút khỏi Moscow. ANATOLY SAPRONYENKO/AFP/Getty Images.
Sáu đảng viên trong gia đình tôi gồm ba má và bốn người anh trai reo hò ủng hộ phái đảo chính, một mình tôi là út, đảng viên trẻ nhất ủng hộ Gorbachev và Yeltsin. Cuột xung đột tư tưởng với phần thắng đương nhiên thuộc về đa số gần như tuyệt đối.
Tuy say sưa lý tưởng cộng sản từ khi còn trẻ nhưng tôi luôn thuộc phái cấp tiến, cổ vũ nhân tố mới.
Chính vì thế, tôi ủng hộ Gorbachev từ khi ông còn là Ủy viên Bộ Chính trị dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Liên Xô sang dự Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 5, hồi 1982.
Khi Tổng bí thư Andropov chết, tôi nhiệt thành ủng hộ Gorbachev lên thay, nhưng tôi ghét cay ghét đắng Chernenko khi ông được chọn chứ không phải Gorbachev.
May mà trị vì chỉ hai năm thì ông chết, nhường cơ hội đổi mới cho Gorbachev.
Có lẽ vì quá sùng bái tư tưởng Perestroika mà tôi luôn ủng hộ Gorbachev, kể từ việc nhỏ và có vẻ phi lí như cấm rượu trở đi.
Niềm tin bị đổ vỡ
Ngày 23/12/1991, phải đưa một xe tir áo gió sang Dom 5 cũ trên phố Ulianova Dmitria, Moscow tiêu thụ, tôi kí hợp đồng với hãng vận tải Ba Lan.
Với dân nước này ngày Giáng Sinh rất thiêng liêng nên người lái xe tir bày ra kế hỏng cái gạt nước (trời mưa tuyết) để tới sau lễ mới chịu đi.
Nhưng vì có khách hàng đặt trước nên tôi không nhượng bộ, chủ hãng xe sợ mất khách quen nên cũng gây sức ép bắt lái xe phải đi ngay trong ngày. Đến bây giờ tôi vẫn ân hận mãi về điều này.
Chiều tối ngày 24/12, xe tir gồm lái xe và một người áp tải tới Moscow. Tôi ngồi tàu hỏa sang sau.
Ngày 25/12, Gorbachev đọc thông điệp tuyên bố giải thể Liên Xô. Tôi vẫn còn nhớ cái chỉ tay của Yeltsin vào tờ giấy và ánh mắt bất bình của Gorbachev lúc đó.
Chính quyền tan rã, bộ máy nhà nước tê liệt cộng với Giáng sinh Chính thống giáo và năm mới nước Nga muộn hơn lịch Công giáo khiến ba chúng tôi phải vật vờ nằm chờ suốt hai tuần trong một căn hộ heo hút gần vành đai 2 Moscow.
Nước Nga thời gian đó rất khó khăn, thiếu thốn. Có lần thèm thuốc lá, tôi phải lội tuyết dày tới nửa mét rồi ngồi tàu điện ngầm vào tận trung tâm mới mua được một tút Stolichnyje.
Có tiền, muốn được ăn thịt, ăn cá chúng tôi chỉ có cách đi chợ nông trường. Vào cửa hàng trên phố tôi chỉ thấy các gương mặt lam lũ xếp hàng. Vào các quán ăn, bến tàu, bến xe tôi chỉ thấy dân say rượu vật vờ. Ra khỏi thành phố tôi thấy các nông trang tập thể với tên rất kêu “Con đường sáng” leo lét ánh đèn, xập xệ nếp nhà nhỏ run rẩy trong mưa tuyết.
Thành trì của cách mạng thế giới đây ư? Chủ nghĩa xã hội với tôi lúc đó thật tăm tối. Niềm tin vào lý tưởng cộng sản của tôi sụp đổ từ đó.
Và chính từ sự được chứng kiến tận mắt cái gọi là xây dựng xong chủ nghĩa xã hội phát triển đang trên đường xây dựng chủ nghĩa cộng sản khiến tôi quyết định từ bỏ đội ngũ.
Cảm ơn “tội đồ” làm đổ vỡ Liên Xô Gorbachev! Nhờ ông mà Ba Lan, Đức và các nước Đông Âu có được cuộc sống dân chủ và thịnh vượng ngày hôm nay.
Nhờ ông mà Chiến tranh Lạnh kết thúc.
Nhờ ông mà đầu đạn hạt nhân nóng chĩa vào nhau được tháo ngòi dù chỉ là tạm thời.
Nhờ ông mà bản đồ thế giới đã được vẽ lại bằng các nét bút tích cực.
Trong trái tim tôi, tượng đài ông được đúc bằng vàng.
T.Q.Q.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng và cách hành văn của tác giả, một người đang sống tại Ba Lan. Bài được gửi cho BBC sau khi đã đăng trên trang Facebook cá nhân của ông Trần Quốc Quân.
Cựu lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev. Ảnh: AFP
Khi Mikhail Gorbachev từ chức gần 25 năm trước khiến Liên Xô bất ngờ tan rã, ông hầu như không còn lựa chọn nào khác, khi mà trước đó 17 ngày, lãnh đạo ba nước Nga, Ukraine và Belarus đã ký một hiệp ước hủy bỏ Liên bang Xô viết – cũng là một quyết định mang tính nhất thời không được tính toán kỹ càng.
Cho đến thời điểm tháng 12/1991, Bức tường Berlin và khối các nước cộng sản Đông Âu đã không còn nữa, nhưng Liên bang Xô viết vẫn tồn tại, được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản với Mikhail Gorbachev là người đứng đầu.
Tuy nhiên, thế lực của ông đã suy yếu đi nhiều sau cuộc đảo chính vào tháng Tám 1991, và vấn đề nghiêm trọng nhất là các phong trào đòi độc lập của các nước cộng hòa khối Xô viết nổi lên vào thời gian cuối năm.
Liên Xô có thể tồn tại mà không có các nước thành viên vùng Baltic như Estonia, Latvia và Lithuania, nhưng lại không thể nếu không có Nga và Ukraine.
Tổng thống vừa đắc cử của Ukraine khi đó, Leonid Kravchuk, muốn tách khỏi Moscow, còn Tổng thống Nga, Boris Yeltsin, thì muốn giành thêm quyền lực từ tay Gorbachev.
Vì thế, họ đồng ý gặp mặt vào ngày 08/12 cùng với Tổng thống Belarus, Stanislav Shushkevich. Hiển nhiên có thể dự đoán kết quả cuộc họp chỉ là điều bất lợi cho Gorbachev.
Và gần như là các lãnh đạo đã không có sự thỏa thuận trước khi đưa ra quyết định khiến Liên Xô tan rã.
Shushkevich khẳng định cuộc họp chỉ bàn bạc về việc Nga sẽ cung cấp dầu hỏa và khí đốt cho Belarus trong mùa đông.
“Nền kinh tế đang bị khủng hoảng, chúng tôi không thể cho trả cho nhà cung cấp mà lại không có ai cho chúng tôi vay tiền, vì thế, chúng tôi cầu cứu nước Nga giúp đỡ, để khỏi chết cóng vào mùa đông. Đó cũng là mục đích của cuộc họp mặt,” ông nói.
“Chúng tôi mời cả Ukraine, vì muốn mọi chuyện được minh bạch và không muốn thỏa thuận gì với Moscow sau lưng Ukraine.”
Nhưng thật khó chịu là những cuộc điện đàm của chúng tôi thường xuyên bị ngắt quãng. Shushkevich giải thích rằng cho đến tận bây giờ, sau 25 năm, chủ đề về việc tách khỏi Liên Xô vẫn bị cấm ở Belarus.
Và chuyện đường dây điện thoại bị ngắt quãng, ông nói, là do mật vụ Belarus gây ra.
Người dân kêu gọi Gorbachev từ chức sau sự kiện ở Lithuania. Ảnh: AFP
Nhưng Leonid Kravchuk lại có một ký ức khác về cuộc họp năm đó.
“Khi Shushkevich nói về dầu và khí đốt, tôi không hiểu gì cả!” cựu lãnh đạo Ukraine nói.
“Tôi không được thông báo gì trước về dầu lửa và khí đốt. Tôi nghĩ tôi đến đây là để thảo luận về Liên Xô. Đất nước đang bị xâu xé vì những mâu thuẫn, người dân mệt mỏi vì khủng hoảng, xung đột, chiến tranh và phải xếp hàng quá dài. Chúng tôi tập trung về Belarus để thảo luận hướng đi cho đất nước, và có thể ký kết một thỉnh nguyện thư, hoặc một bản tuyên bố để kêu gọi sự chú ý đến cuộc khủng hoảng mà chúng tôi đang phải đương đầu.”
Nhưng dù cuộc gặp có nghị trình về vấn đề gì đi chăng nữa giữa ba lãnh đạo,mà không thông báo trước với Gorbachev thì sẽ rủi ro, Tổng thống Nga Boris Yeltsin bổ sung thêm.
“Hiển nhiên KGB có thể bắt giữ chúng tôi, theo lệnh của Gorbachev, vì KGB thuộc quyền lãnh đạo của Gorbachev, không phải Yeltsin,” Shuchkevich nói.
“Nhưng lãnh đạo của cơ quan mật vụ Belarus, Eduard Shirkovsky, vẫn giữ liên lạc với cơ quan mật vụ của Boris Yeltsin. Cho đến thời điểm hai tuần trước cuộc họp, ông ta khẳng định với tôi là không có nguy cơ xảy ra chuyện bắt bớ chúng tôi.”
“Thật thú vị là sau đó, khi Shirkovsky về hưu và sinh sống tại Nga, ông ta nói ngược lại hoàn toàn. Ông ta nói hối hận đã không bắt giữ chúng tôi vào năm 1991! Vì vậy, thật khó để có thể xác định chuyện gì thực sự đã xảy ra.”
Đến cuối năm 1991, những lãnh đạo này của khu vực đều nhận thấy Mikhail Gorbachev không còn thích hợp.
“Tất nhiên ông ta vẫn là người đứng đầu, nhưng đã không còn quyền lực thực sự!” Krachuk nói.
“Sau cuộc đảo chính vào tháng Tám 1991 chống lại ông ta, ông ta đã mất hết quyền lực. Ông ấy có trở lại sau đó, nhưng trên thực tế không còn tí quyền lực nào. Chúng tôi nhận thấy quyền lực đã được chuyển sang lãnh đạo các nước cộng hòa. Mặc dù Gorbachev muốn tổ chức lại quốc gia theo kiểu một liên bang mới, ông ta đã không thể thực hiện được.”
Vì thế, vào ngày 07/12/1991, lãnh đạo nước Nga Boris Yeltsin, lãnh đạo Ukraine Leonid Kravchuk và lãnh đạo Belarus Stanislav Shushkevich đã nhóm họp ở một khu nhà chuyên dành cho những quan chức cao cấp của đảng Cộng sản, tại Belavezha, gần biên giới Ba Lan.
“Đây là một khu nhà rất sang trọng, được thiết kế cho những lãnh đạo cao cấp của Liên Xô,” Shushkevich nói.
“Như thường lệ, trong lịch trình có tắm hơi. Thường sau khi tắm hơi xong, sẽ có tiệc tùng uống rượu. Nhưng lần này khác, thay vì uống rượu, chúng tôi chọn dịch vụ đấm bóp. Cuộc họp được thực hiện đúng truyền thống của Liên Xô, có nhiều thức ăn, nhiều dịch vụ thư giãn và sau đó là đi săn.”
Ngày hôm sau, 08/12/1991, vào lúc 9 giờ sáng, lãnh đạo các nước cùng các thủ tướng và quan chức cao cấp nhóm họp để cùng thương thảo, dù vẫn chưa rõ sẽ thảo luận về chủ đề gì.
Người đầu tiên khơi mào là cố vấn của Nga, Gennadi Burbulis, với tuyên bố rất cực đoan.
“Tôi cho đến chết sẽ không thể quên được câu nói của ông ta,” Shushkevich nói.
“Đó cũng là khởi đầu của thỏa thuận của chúng tôi, là thỏa thuận duy nhất mà không hề có tranh cãi. ‘Liên Xô, một thực thể địa chính trị, cũng như một chủ thể của luật pháp quốc tế, sẽ không còn tồn tại.’ Và tôi là người đầu tiên tuyên bố sẽ đặt bút ký.”
Thỏa thuận cũng đồng thời tuyên bố lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev không còn quyền lực, thay vào đó tăng thêm quyền hạn của Moscow cho Tổng thống Nga Boris Yeltsin.
Nhưng để chấm dứt sự tồn tại của đế chế Nga và hậu thân của nó là Liên bang Xô viết, vốn đã kéo dài hàng thế kỷ, là một bước đi to lớn.
Tòa nhà Belovezhskaya Pushcha, nơi thỏa thuận được ký kết. Ảnh: ALAMY
Nhiều năm sau đó, rất nhiều người đã đặt câu hỏi liệu ba lãnh đạo có tỉnh táo khi đưa ra quyết định lớn như vậy?
“Theo lời đồn đại, chúng tôi đã soạn thảo thỏa thuận trong trạng thái say rượu,” Shushkevich nói. “Điều này hoàn toàn sai! Tất nhiên, đó là một cuộc họp được sắp đặt theo phong cách Liên Xô, và đồ uống cồn thì rất sẵn, nhưng chẳng ai động đến cả. Tối đa, chúng tôi chỉ làm một ngụm brandy, mỗi khi thông qua một điều khoản.”
Trong vòng vài tiếng đồng hồ, chúng tôi đã thông qua 14 điều khoản. Đến 3 giờ chiều, bản thỏa thuận đồng ý hủy bỏ Liên Xô đã sẵn sàng. Bước tiếp theo là công bố với thế giới và lãnh đạo Belarus nhận trách nhiệm này.
“Yeltsin và Kravchuk đùa với tôi: ‘Chúng ta đề cử anh là người thông báo cho Gorbachev.’ Và sau đó tôi nói: ‘Kravchuk và tôi đề cử anh, Boris Yeltsin, là người sẽ gọi điện cho bạn anh là Tổng thống Hoa Kỳ Goerge Bush.’”
“Tôi quay số của văn phòng Gorbachev ở Moscow, nhưng đường dây được chuyển sang nhiều tổng đài và tôi phải giải thích tôi là ai. Trong khi đó, Yeltsin trong lúc chứng kiến việc tôi gọi cho Moscow đã gọi điện cho Tổng thống Bush. Ngoại trưởng [Nga] [Andrei] Kozyrev, ở đầu dây bên kia để dịch lại lời của Tổng thống Bush.”
Lãnh đạo Ukraine Leonid Kravchuk là người ngồi nghe.
“Tôi nhớ khá rõ, ông Bush đưa ra hai câu hỏi. Đầu tiên là có phải quốc gia kế vị sẽ là nước chịu trách nhiệm cho toàn bộ Liên Xô? Và câu sau là điều gì sẽ xảy ra với vũ khí hạt nhân của Liên Xô?” Kravchuk nói.
“Chúng tôi không thể thì ông Yeltsin nói, ‘Đúng, chúng tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm.’”
Tới lúc đó thì lãnh đạo Belarus Shushkevich cũng gặp được Gorbachev, và một lần nữa, lãnh đạo Ukraine là người cùng nghe.
“Đó là cuộc đàm thoại rất khó khăn,” Kravchuk nói. “Gorbachev giận dữ với Shushkevich, nói, ‘Các anh đã làm gì vậy? Các anh đã đảo lộn cả thế giới! Mọi người đều đang hoang mang!’ Nhưng Shushkevich vẫn giữ sự trầm tĩnh.”
Cho đến hôm nay, nhà lãnh đạo điềm đạm của Belalrus vẫn tự hào về cách xử lý cuộc nói chuyện quan trọng với Moscow.
“Tôi giải thích với Gorbachev về bản thỏa thuận mà chúng tôi sẽ ký. Ông ta phản ứng với thái độ kẻ cả, ‘Thế còn cộng đồng quốc tế thì sao? Các anh có nghĩ đến sự phản ứng của họ không? Và tôi trả lời, ‘Thật sự thì Boris Yeltsin đang nói chuyện với Tổng thống Bush lúc này, và ông Bush không có gì là quan ngại! Trên thực tế, ông ta còn ủng hộ!”
Trong những giờ tiếp theo, ba lãnh đạo đã ký văn bản mang tính lịch sử tại một cuộc họp báo. Sau khi họp báo, là đến thời điểm phải ra về. Và đó là lúc Stanislav Shushkevich cảm thấy lo sợ.
“Trên đường về, tôi nghe radio ở trong xe, để xem thế giới đang phản ứng thế nào. Điều đầu tiên tôi ghi nhận, hai cái tên Yeltsin và Kravchuk được nhắc đến nhiều nhất, nhưng khi nhắc đến tên tôi, họ đã không phát âm đúng. ‘Chuchkevich, Sheshkevich, Sharkevich,’ và tương tự như vậy.”
“Và trên bất cứ kênh nào tôi dò được, tôi đều nghe nhắc đi nhắc lại Kravchuk, Yeltsin và sh…vich… ch…vich… và còn rất nhiều cách gọi khác về tên tôi. Khi đó tôi nhận ra, chúng tôi đang là tin nóng. Cho đến lúc đó, tôi quá bận và không có thời gian để nghĩ.”
“Nhưng tại thời điểm này, tôi bắt đầu sợ. Tôi nghĩ: ‘82% đại biểu quốc hội là đảng viên Cộng sản. Nếu họ không đồng thuận thì tôi đã phạm sai lầm, và sự nghiệp chính trị của tôi xem như chấm dứ
Nhưng quốc hội của cả ba nước đều đồng thuận, và các nước cộng hòa khác trong Liên bang Xô viết cũng tham gia trong vài tuần tiếp theo.
Vào ngày 25/12, Chủ tịch Gorbachev từ chức và Liên Xô cũng không còn tồn tại!”
DONALD TRUMP: “MỘT CÂY CỔ THỤ MỤC RUỔNG, KHÔNG NÊN BÓN TƯỚI TỐN THỜI GIAN” !

Cựu Ngoại Trưởng Mỹ Henry Kissinger đã có cuộc gặp với Tổng thống đắc cử Donald Trump bàn chuyện về Trung cộng.Kissinger người được Trung cộng vô cùng tôn kính vì những việc ông đã làm cho Trung quốc.Tổng thống Trump sau những lời khuyên của Kissinger đã bày tỏ phản ứng quyết liệt và lập trường vững vàng của ông.Donald Trump được kỳ vọng sẽ mang lại tương lai tốt đẹp đổi mới cho nước Mỹ.
Kissinger là người thiết kế ra một nước Trung cộng vào 5 nước Thường trực Liên Hiệp Quốc, và gián tiếp có nền kinh tế hùng cường như hiện nay. Tất nhiên ông ta làm thế để chia rẽ phá sụp Cộng sản Quốc tế và Liên Xô, nhưng rõ ràng ông ta là công đầu của Trung cộng hiện nay.
Trump là người kinh doanh, hiểu rõ sức mạnh kinh tế của Trung cộng lên từ sự gian dối của họ với nước Mỹ. Ông ta thấy công việc và sức mạnh sản xuất của Mỹ ngày đang yếu đi bởi Trung cộng. Đòi lại sự công bằng cho nước Mỹ, trừng trị gian dối của Trung cộng là ý chí và nhiệm vụ của Trump.
Cờ đang tới tay Trump trong lúc mọi người đang chờ ông ta sẽ xử Trung cộng bằng cách nâng thuế như đã hứa tranh cử thế nào, thì bất ngờ ông ta gặp Kissinger để bàn chuyện Trung cộng.
Khỏi phải nghe họ nói, cũng biết rằng Kissinger sẽ khuyên Trump mềm mỏng, né tránh một cuộc chiến toàn diện với Trung cộng, vì sẽ bị thiệt hại kinh tế này nọ ….
Nhưng sau đó thì Trump bất ngờ không nghe, không chỉ chuyện kinh tế mà ông ta chọc thẳng vào chuyện Đài Loan chính trị, chuyện Biển Đông quân sự để ngoáy vào nổi đau của Trung cộng.
Cùng với gặp Obama bàn chuyện Obamacare, gặp Al Gore để bàn chuyện biến đổi khí hậu, chuyện gặp Kissiger để bàn Trung cộng cho thấy Trump nói rất bốc, nhưng hành động cực kỳ chín chắn, cẩn thận. Gặp ngay những người đối lập nói chuyện, và sau đó quyết dứt khoát theo ý mình.
Một Trump như vậy, cho thấy các hành động “khiêu khích” Trung cộng vừa qua không chỉ là chiến thuật dành ưu thế ban đầu, mà là một chiến lược lấy lại những gì nước Mỹ đã mất bởi Trung cộng. Ông Donald Trump khi được hỏi ông nghĩ gì về cựu ngoại trưởng “tài ba” dưới thời Nixon, ông chia sẻ trên Twitter: “Một Cây Cổ Thụ Đã Mục Ruổng, Không Nên Tưới Bón Làm Gì, Chỉ Tốn Thời Gian”…
CHRIS PHAN… thực hiện