Hàng ngàn người Venezuela vượt biên để mua giấy vệ sinh

 Hàng ngàn người Venezuela vượt biên để mua giấy vệ sinh

Hàng ngàn người Venezuela cùng qua cầu sang Colombia mua hàng hóa thiết yếu. (Ảnh: Dronestagram)

Cầu Simon Bolivar trở thành con đường cứu trợ cho người dân Venezuela đang chật vật với cuộc sống hàng ngày. Cuộc khủng hoảng tại Venezuela đã diễn ra vài năm qua với nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao nhất thế giới, những bất ổn và bạo lực diễn ra thường xuyên, theo CNN.

Giá dầu giảm trên thế giới khiến nền kinh tế Venezuela lâm vào khó khăn, nơi có nguồn thu nhập chính từ dầu mỏ. Các công ty nhà nước khổng lồ nhưng làm ăn yếu kém. Hàng hóa và thuốc men trở lên đắt đỏ với những người dân bình thường, khiến nhiều gia đình vật lộn để sinh tồn.

Tình hình đó dẫn đến các phong trào biểu tình chống chính phủ, đòi Tổng thống hiện tại Nicolas Maduro từ chức. Trong khi đó, Tổng thống này lại cử quân đội đến trấn áp các cuộc biểu tình. Truyền thông cũng bị hạn chế tại đây, ngay cả các nhà báo nước ngoài cũng bị kiểm soát nghiêm ngặt về thị thực.

Theo hãng tin AP, vào năm 2013 khi đắc cử tổng thống, ông Maduro cam kết tiếp tục đưa Venezuela theo con đường xã hội chủ nghĩa như kế hoạch của cựu Tổng thống Hugo Chavez đề ra.

Mua sữa và giấy vệ sinh

Hiện nay, mỗi ngày cây cầu Simon Bolivar chứng kiến hàng đoàn người qua lại để mua các vật phẩm cơ bản. Hầu hết mọi người Venezuela mang các valy và túi xách sang Colombia. Khi quay về, các túi đó chứa đầy hàng hóa mà họ không thể mua ở quê nhà.

Theo BBC, có khoảng 135.000 người Venezuela phải đi qua biên giới mỗi ngày để mua các hàng hóa thiết yếu.

Một siêu thị lớn của Colombia ở khu vực biên giới này có quảng cáo: “Chào mừng những người bạn từ Venezuela, chúng tôi có sữa và giấy vệ sinh giá tốt đây”, theo CNN.

Ông Enrique Sanchez từ Venezuela muốn cảm ơn Colombia. Ông nói: “Bởi vì họ có đủ hàng hóa cho họ và cho chúng tôi”. Cứ hai ngày một lần, ông đi hàng tiếng đồng hồ để đến biên giới Colombia và mua: bột mỳ, dầu, gạo và đường.

Ông Enrique Sanchez qua biên giới Colombia để mua đồ thiết yếu cho gia đình ở Venezuela. (Ảnh: CNN)

Victor Martinez, một học sinh trung học, cứ 6 tuần một lần đi chuyến xe buýt dài từ Caracas đến đây để mua gạo, mỳ và xà phòng cho gia đình. Victor phải nghỉ học hơn một tháng nay vì các cuộc biểu tình và bất ổn xã hội.

Thanh Long

Trí thức Nam Hàn nghe lời cộng sản Bắc Hàn dụ dỗ , hại chết vợ con !

From facebook:  Trần Bang‘s post.

Trí thức Nam Hàn nghe lời cộng sản Bắc Hàn dụ dỗ , hại chết vợ con !

Ông Oh Kil Nam là người Nam Hàn , được cho đi Tây Đức du học và hoàn thành bằng tiến sĩ vào năm 1985 . Nhưng ông này lúc đó ngu ngơ , đọc chủ nghĩa cộng sản của Các Mác lại cho là chân lý , khi quay về Nam Hàn ông tham gia phong trào phản chiến chống Mỹ , lên án chính quyền Nam Hàn là độc tài .

Ông Oh Kil Nam lập tức được đám cộng sản Bắc Hàn nằm vùng liên lạc , móc nối , dụ dỗ ông đưa gia đình tập kết ra Bắc để phục vụ chế độ cộng sản . Ông được hứa hẹn sẽ được cho chân giảng dạy ở trường đại học kinh tế , vợ ông có bệnh gan sẽ được chữa chạy miễn phí , con cái được đi Nga du học ..v.v…

Sẵn đang mê muội với chủ nghĩa xã hội của Mác , ông Oh Kil Nam đồng ý , mặc dù vợ ông hết sức phản đối . Ông lý luận với vợ rằng ” Họ cũng là người Hàn Quốc , họ đâu có thể nào đối xử tệ bạc với đồng hương đâu mà bà lo ! ” Sau đó ông được đưa đi Tây Đức , trốn sang Đông Đức và Nga rồi đáp máy bay đến Bình Nhưỡng .

Vừa đặt chân xuống phi trường Bình Nhưỡng , ông Oh Kil Nam đã nhận ra mình lầm lẫn quá lớn . Tuy nhà nước Bắc Hàn cho thiếu nhi quàng khăn đỏ ôm hoa ra đón ông rất trang trọng , nhưng ông nhìn thấy ngay rằng những đứa trẻ này ốm tong teo , mặt mũi ngơ ngáo và co ro trong những bộ quần áo mỏng manh cũ kỹ dù đang giữa mùa đông lạnh buốt , chân không có vớ và đi dép nhựa chứ không có giày da .

Vài ngày sau , ông Oh Kil Nam sáng mắt ra là mình đã bị lừa . Vợ ông không được chữa trị gì cả , con ông không được đi du học , bản thân ông càng không được dạy dỗ ai . Ngược lại cả gia đình phải đi học những khóa tuyên truyền nhồi sọ về chủ nghĩa cộng sản , về lãnh tụ Kim Jong Il , học bài không thuộc thì bị trừng phạt !

Sau đó công an đến làm việc với ông Oh Kil Nam , cho biết ông sẽ được đưa đi Đan Mạch , tại đây ông sẽ đóng giả nhân viên lãnh sự quán , nhưng nhiệm vụ của ông là phải tìm cách liên lạc và dụ dỗ sinh viên ở Đan Mạch theo cách mạng , dụ họ tập kết đi Bắc Hàn . Công an hù dọa rằng , nếu không dụ được ai thì vợ con ông sẽ phải trả giá !

Tối đó về nhà 2 vợ chồng ông Oh trùm chăn thì thầm bàn bạc với nhau . Ông định làm theo lời công an để cứu vợ con thì vợ ông tát ông 1 cái nảy lửa . Bà nói ông đã ngu bị lừa thì phải ráng mà chịu , không thể làm hại đến người khác . Bà chấp nhận hy sinh chứ không cho ông hại người ! Ông bà đồng ý với nhau rằng khi đến Đan Mạch , ông phải tìm cách trốn , rồi sau đó tìm cách cứu vợ con ra sau .

Khi đến phi trường Đan Mạch , ông Oh Kil Nam lén kẹp vào hộ chiếu của mình 1 tờ giấy nhỏ ghi 2 chữ ” Help Me ” ( Giúp Tôi ) . May mắn là nhân viên phi trường có kinh nghiệm với người cầm hộ chiếu Bắc Hàn hay xin tỵ nạn nên đã âm thầm giúp đỡ , đưa ông thoát ra bằng lối khác và liên lạc với tòa đại sứ Đức giúp ông .

Tuy trốn thoát , nhưng từ đó đến nay , mặc dù ông Oh Kil Nam đã cố gắng hết sức và chạy vạy khắp nơi cầu cứu , ông vẫn không thể đưa được vợ con rời khỏi Bắc Hàn . Người liên lạc bí mật ở Bắc Hàn cho ông biết rằng vợ con ông đã bị trừng phạt vì sự trốn chạy của ông , đã bị đưa vào trại cải tạo lao động khổ sai .

Năm 1991 ông nhận được 1 tin nhắn với 1 cuộn băng cassette ghi âm vợ con ông kêu gọi ông quay lại Bắc Hàn , nhưng ông biết đây là cái bẫy , ông mà quay trở lại thì cả gia đình vẫn chỉ có 1 con đường chết mà thôi .

Cho đến nay , ông Oh Kil Nam vẫn sống 1 mình ở Nam Hàn , ông không biết vợ con mình ở Bắc Hàn còn sống hay đã chết . Ông sống trong đau khổ , dằn vặt triền miên cả cuộc đời là chỉ vì ngu ngốc tin vào lý thuyết ảo của Các Mác , tin vào những lời hứa hẹn đường mật của cộng sản , mà ông đã hại chết vợ con , tàn hại cả cuộc đời mình !

Ở VN , cũng có không ít trí thức miền Nam và hải ngoại ngu ngốc bị cộng sản miền Bắc lừa gạt như thế , cắm đầu đi theo cộng sản để rồi thân tàn ma dại , gia đình tiêu tán ! Vậy mà đến tận bây giờ , vẫn có hàng chục ngàn trí thức chưa sáng mắt , thật là kinh khủng !!!

http://www.bbc.com/news/magazine-17767626

( Copy FB Ngọc Nhi Nguyễn )

South Korean economist Oh Kil-nam regrets having defected to North Korea
 
BBC.COM|BY BBC NEWS
 

Hồng Kong: hàng chục ngàn người xuống đường biểu tình đòi tự do, dân chủ

From facebook:  Trần Bang added 6 new photos.
 

Hồng Kong: hàng chục ngàn người xuống đường biểu tình đòi tự do, dân chủ ngay dịp Tập Cận Bình đến HK kỷ niệm 20 năm Anh trả HK về TQ 1-7 (1997- 2017)

TTO: “Thủ lĩnh của cuộc biểu tình sinh viên năm 2014, Hoàng Chi Phong, cũng xuất hiện. Anh này trước đó bị bắt với lý do “tổ chức biểu tình không phép” và không đúng nơi quy định nhưng được trả tự do sau hơn 1 ngày.

Nhiều thông điệp và yêu cầu đã được chuyển tải thông qua khẩu hiệu, biểu ngữ trong cuộc biểu tình. Cảnh sát Hong Kong ước tính có khoảng 14.500 người tham gia biến nó trở thành cuộc biểu tình nhỏ nhất ở đặc khu này kể từ năm 2003, theo báo South China Morning Post.

Trong khi đó, những người tổ chức khẳng định có hơn 66.000 người đã xuống đường thể hiện sự ủng hộ và mong muốn dân chủ cho Hong Kong. Họ đổ lỗi cho các biện pháp an ninh hà khắc của cảnh sát sau cuộc biểu tình sinh viên năm 2014 và mưa lớn khiến số người tham gia sụt giảm.

Một cuộc khảo sát hỏi ý kiến nhanh do Đại học Hong Kong tiến hành ước tính có từ 27.000 tới 35.000 người đã tham gia biểu tình ngày 1-7.

Hong Kong đang trải qua những ngày căng thẳng và cảm xúc lẫn lộn trong dịp kỷ niệm 20 năm đặc khu này được Anh trao trả cho Trung Quốc. Biểu tình, những cuộc tranh cãi hay chạm mặt giữa hai phe ủng hộ chính phủ trung ương Bắc Kinh và đòi Hong Kong độc lập không còn là chuyện hiếm ở đặc khu này, nhất là trong những dịp đặc biệt như năm nay….

http://tuoitre.vn/…/hang-chuc-ngan-nguoi-hong-…/1341991.html

Image may contain: 1 person, eyeglasses
Image may contain: 1 person, crowd
Image may contain: 8 people, outdoor
Image may contain: 2 people, people smiling
Image may contain: 9 people, people standing and outdoor

Sắc lệnh di trú của TT Trump được Tối Cao Pháp Viện cho phép thi hành

Sắc lệnh di trú của TT Trump được Tối Cao Pháp Viện cho phép thi hành

 

Trụ Sở Tối Cao Pháp Viện Mỹ. (Hình: AP Photo/J. David Ake)

WASHINGTON, DC (AP) – Tối Cao Pháp Viện vừa công bố phán quyết, theo đó cho phép thi hành sắc lệnh di trú của Tổng Thống Donald Trump nhằm cấm người từ sáu quốc gia phần lớn theo Hồi Giáo không được đến Mỹ trong vòng 90 ngày, bác bỏ lệnh cấm của các tòa dưới.

Tòa cũng ấn định thời gian có cuộc tranh luận từ luật sư của hai phía vào Tháng Mười tới đây.

Phán quyết công bố hôm Thứ Hai là một chiến thắng cho Tổng Thống Trump trong vụ tranh tụng lớn nhất của chính phủ ông tới nay.

Tuy nhiên, tòa cũng đưa ra một ngoại lệ, nhằm bảo vệ những người “có mối quan hệ rõ ràng kiểm chứng được với một cá nhân hoặc cơ quan ở Mỹ,” theo phán quyết.

Trước đây, nhiều trường đại học có giáo sư hay sinh viên ngoại quốc ở trong số các quốc gia này bị ngăn trở khi về nước rồi sau đó quay lại Mỹ.

Tòa cho biết sẽ nghe tranh luận của luật sư hai bên vào Tháng Mười tới đây.

Tổng Thống Donald Trump tuần qua nói rằng lệnh cấm sẽ có hiệu lực 72 giờ sau khi được tòa cho phép thi hành.

Lệnh cấm nhắm vào công dân các quốc gia Iran, Libya, Somalia, Sudan, Syria và Yemen.

Chính phủ Trump cho rằng lệnh cấm là điều cần thiết trong thời gian có cuộc duyệt xét nội bộ về phương cách thanh lọc các hồ sơ xin chiếu khán từ những quốc gia này.

Cuộc duyệt xét có thể hoàn tất trước ngày 2 Tháng Mười, ngày đầu tiên các thẩm phán Tối Cao Pháp Viện nghe luật sư hai bên trình bày lý do bảo vệ quan điểm của phía mình. (V.Giang)

Cựu Thủ lãnh Khmer Đỏ đổ lỗi cho Việt Nam về vụ diệt chủng Campuchia

Cựu Thủ lãnh Khmer Đỏ đổ lỗi cho Việt Nam về vụ diệt chủng Campuchia


Hai cựu thủ lãnh chóp bu của chế độ Khmer Đỏ hãy còn sống là Nuon Chea (trái), và Khieu Samphan, lắng nghe phán quyết tù chung thân của tòa tối cao ở Pnom Penh ngày 23/11/2016. Ảnh của AP do Tòa án đặc biệt công bố.
Hai cựu thủ lãnh chóp bu của chế độ Khmer Đỏ hãy còn sống là Nuon Chea (trái), và Khieu Samphan, lắng nghe phán quyết tù chung thân của tòa tối cao ở Pnom Penh ngày 23/11/2016. Ảnh của AP do Tòa án đặc biệt công bố.

Cựu Chủ tịch nước Khieu Samphan, năm nay 85 tuổi, đọc bản tuyên bố cuối cùng của ông hôm thứ Sáu 23/6 trước tòa án đặc biệt xét xử tội ác Khmer Đỏ ở Campuchia được Liên Hiệp Quốc hậu thuẫn.

Ông Khieu Samphan bị cáo buộc đã phạm các tội ác chống nhân loại và tội diệt chủng.

Ông nói: “Tôi triệt để bác bỏ từ ngữ “sát nhân”. Ông nói “cái ý tưởng về cuộc diệt chủng ở Campuchia” đã được Việt Nam bịa đặt ra để biện minh cho cuộc xâm lăng Campuchia.”

Ông Nuon Chea, 90 tuổi, cánh tay phải của Pol Pot, cũng dối mặt với cùng cáo trạng. Ông không có mặt tại tòa hôm thứ Sáu vì lý do sức khỏe. Thay vào đó, ông theo dõi diễn tiến phiên tòa từ một xà lim.

Hai nhân vật này là những quan chức cao cấp nhất của chế độ Khmer Đỏ hãy còn sống .

Cả hai đều giữ lập trường cho rằng Việt Nam phải chịu trách nhiệm về việc giết hại gần 2 triệu người Campuchia bằng nhiều biện pháp khác nhau, kể cả bỏ đói, tra tấn, lao động tới chết trong các trại lao động cải tạo. Nhiều người khác bị đánh đập tới chết trong những vụ hành quyết tập thể được biết đến sau này dưới tên gọi “những cánh đồng chết.”

Hiện chưa rõ bao giờ thì tòa án đặc biệt mới ra phán quyết trong vụ án này.

Cựu đại sứ Mỹ ở LHQ nói ‘cần trừng phạt Bắc Hàn’

Cựu đại sứ Mỹ ở LHQ nói ‘cần trừng phạt Bắc Hàn’

Bill Richardson
Bản quyền hình ảnh   KYODO NEWS
Ông Bill Richardson gặp báo chí tại Bắc Kinh sau chuyến thăm đến Bình Nhưỡng tháng 1 năm 2013: ông từng đóng vai trò đặc sứ của Hoa Kỳ để đàm phán với Bắc Hàn

Cựu Thống đốc bang New Mexico và cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Liên Hiệp Quốc, ông Bill Richardson vừa có phát biểu đề nghị Hoa Kỳ có biện pháp trừng phạt Bắc Hàn “vì cái chết của Otto Warmbier”.

Trả lời BBC News, ông Richardson, nguyên là nhà đàm phán của Hoa Kỳ với Bắc Hàn, xác nhận ông đã trao đổi rất nhiều lần trong năm qua với quan chức nước cộng sản Đông Bắc Á mà không nghe họ nói gì về tình trạng của Otto Warmbier “đã bị hôn mê”.

“Phải một năm sau tôi mới được biết chuyện đó.”

Không giấu vẻ bực bội, ông Richardson lên án Bình Nhưỡng về cái chết của sinh viên 22 tuổi, Otto Warmbier:

“Đây là một vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, cách họ che dấu, kiểu dùng thuốc ngủ, và họ có thể đã tra tấn cậu ấy.”

“Họ đã không chạy chữa cho cậu ấy, để Otto hôn mê hơn một năm.”

Ông Richardson, người từng có vị trí cao cấp trong Đảng Dân chủ Hoa Kỳ cũng phê phán chính quyền Barack Obama đã không tiết lộ chuyện sinh viên Otto Warmbier bị Bắc Hàn cầm giữ.

  
Otto Warmbier: Chuyến du lịch sinh mạng ở Bắc Hàn

Bản thân ông Richardson từng được bổ nhiệm chức bộ trưởng trong chính phủ Obama nhiệm kỳ đầu, nhưng nay ông lại khen chính quyền của đảng Cộng hòa:

“Tôi muốn ca ngợi chính quyền của Tổng thống Donald Trump đã vào cuộc mạnh mẽ, để buộc Bắc Hàn phải trả Otto Warmbier về.”

Đi tour vào thăm Bắc Hàn hồi tháng 12/2015, Otto Warmbier bị bắt vài tháng sau ̣đó và bị xử tù.

Ngày 13/06, Otto Warmbier được trả về Hoa Kỳ sau 17 tháng bị giam cầm ở Bắc Hàn.

Nhưng anh trở về trong tình trạng hôn mê, không còn khả năng giao tiếp và não bị tổn thương nặng.

Một tuần sau, Warmbier qua đời.

Gia đình người sinh viên ở Cincinnati, Ohio, lên án “cách đối xử tra tấn tàn nhẫn khủng khiếp” mà họ nói anh phải chịu trong thời gian ở Bắc Triều Tiên.

Đánh hay không đánh?

Hiện Hoa Kỳ đang xem xét các khả năng tiếp cận vấn đề Bắc Hàn và cái chết của Otto Warmbier có thể góp thêm sự ủng hộ của một phần dư luận Mỹ cho một giải pháp mạnh mẽ mà Tòa Bạch Ốc đang nghiên cứu.

Về biện pháp quân sự, gần đây nhất, Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis đã trình bày trước Quốc hội “một bức tranh u ám”, theo các báo Hoa Kỳ hôm 16/06.

Kim Jong-un
Bản quyền hình ảnh   GETTY IMAGES
Ông Trump vừa nhắn trên Twitter rằng “Trung Quốc không kiềm chế nổi” chế độ của ông Kim Jong-un

Trả lời dân biểu Tim Ryan về chuyện Hoa Kỳ có sẵn sàng lâm chiến để ngăn Bắc Hàn phát triển vũ khí nguyên tử hay không, ông Mattis nói:

“Cuộc chiến sẽ nghiêm trọng hơn những gì chúng ta thấy về sự tàn khốc với con người năm 1953, sẽ có pháo kích hàng loạt vào thủ đô của nước đồng minh, một trong những đô thị có mật độ dân số lớn nhất thế giới.”

Trong câu nói đó, ông đề cập đến Seoul có 25 triệu dân.

Nhưng ông Mattis khẳng định “cuối cùng thì chúng ta sẽ thắng”.

Cũng tin liên qua, chính quyền của ông Trump, hoặc ít ra là riêng ông, bày tỏ thái độ hết nhẫn nại với Trung Quốc mà Washington trông đợi sẽ giúp “kiềm chế Bắc Hàn”.

Hôm Thứ Ba 20/06, ông Donald Trump lại nhắn trên Twitter rằng “nỗ lực của Trung Quốc để kiềm chế Bắc Hàn “hóa ra đã không có hiệu quả gì”.

Tuần này, Bộ trưởng James Mattis có cuộc họp cao cấp với ông Dương Khiết Trì, Ủy viên Quốc vụ viện của Trung Quốc để bàn về an ninh Đông Bắc Á.

Để thị uy với Bình Nhưỡng, Hoa Kỳ vừa cử hai phi cơ ném bom siêu thanh B-1B Lancers bay ngang bán đảo Triều Tiên hôm 20/06.

B-1B Lancer
Bản quyền hình ảnh    GETTY IMAGES
Hai B-1B, phi cơ ném bom siêu thanh của Mỹ xuất kích từ sân bay Osan, Nam Hàn để lên bầu trời thị uy – hình minh họa

Các báo Mỹ viết rằng đây là chuyến bay “cảnh cáo” Kim Jong-un sau cái chết của Otto Warmbier.

Một số nhà bình luận tin rằng việc tấn công ồ ạt hoặc đổ bộ vào Bắc Hàn là “khó xảy ra” nhưng việc oanh kích các địa điểm cụ thể thì có thể là phương án Washington xem xét.

Hoa Kỳ: Bắc Hàn phải chịu trách nhiệm về cái chết của Otto Warmbier

RFA
2017-06-20
 

Hình được chụp vào ngày 29 tháng 2 năm 2016 và được phát hành bởi truyền thông Bắc Hàn vào ngày 1 tháng 3 năm 2016.

Hình được chụp vào ngày 29 tháng 2 năm 2016 và được phát hành bởi truyền thông Bắc Hàn vào ngày 1 tháng 3 năm 2016.

AFP photo
 
 
 

Sinh viên Hoa Kỳ được Bắc Hàn trả về trong tình trạng hôn mê đã tử vong ngày 19/6 vừa qua.

Trước thông tin trên, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã lên án chế độ tàn bạo của Bắc Hàn và khẳng định rằng Hoa Kỳ sẽ giải quyết vấn đề này mà không giải thích gì thêm.

Hãng AFP dẫn lời ông Trump viết trên một tài khoản twitter cá nhân rằng chuyện này đã làm sâu sắc hơn quyết tâm của ông trong việc ngăn chặn những thảm kịch như vậy xảy ra với những người vô tội dưới bàn tay của một chế độ không tôn trọng luật pháp hay sự nhân đạo cơ bản của con người.

Ngoại trưởng Rex Tillerson thì khẳng định rằng Hoa Kỳ yêu cầu Bắc Triều Tiên phải chịu trách nhiệm về án tù bất công đối với sinh viên này và phải thả ba người Mỹ khác đang bị giam cầm bất hợp pháp.

Trong khi đó Thượng nghị sĩ John McCain tuyên bố rằng sinh viên này đã bị chính chế độ độc tài Kim-Jong-Un giết hại và Hoa Kỳ không thể tha thứ cho những kẻ giết công dân Mỹ với mục đích trả thù.

Sinh viên được nhắc trên tên là Otto Warmbier, 22 tuổi, bị công an Bắc Hàn bắt giam hồi tháng Giêng 2016 về tội lấy trộm một bức tranh cổ động. Anh này khai rằng chỉ muốn lấy tấm áp phích này để về khoe với bạn bè, nhưng bị tòa Bắc Hàn kêu án 15 năm lao động khổ sai.

Đầu tuần này, anh được Bắc Hàn trả tự do, về lại Hoa Kỳ trong tình trạng hôn mê.

Phía Bắc Hàn nói rằng sinh viên Warmbier hôn mê vì bị ngộ độc thức ăn và uống thuốc ngủ. Tuy nhiên toán bác sĩ Mỹ đang chữa trị cho anh lại nói rằng tình trạng hôn mê xảy ra vì anh ta bị thiếu oxygen và thiếu máu trong não.

Thế giới lên án Bắc Hàn sau cái chết của sinh viên Mỹ

Thế giới lên án Bắc Hàn sau cái chết của sinh viên Mỹ


Ông Fred Warmbier, cha của sinh viên Mỹ Otto Warmbier, phát biểu tại buổi họp báo ngày 15/6/2017.

Ông Fred Warmbier, cha của sinh viên Mỹ Otto Warmbier, phát biểu tại buổi họp báo ngày 15/6/2017.

Cái chết bi thảm của sinh viên Mỹ Otto Warmbier hôm thứ Hai 19/6, chỉ vài ngày sau khi anh được phóng thích khỏi nhà tù Bắc Triều Tiên trong tình trạng hôn mê, một lần nữa gây sự chú ý của thế giới về những hành động vi phạm nhân quyền phổ biến của chính quyền Kim Jong Un.

Ông Phil Robertson, Phó giám đốc tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch, nói:

“Nói thẳng thừng thì đây là một chính quyền đáng ghê tởm về mặt nhân quyền. Đây là một hố đen về nhân quyền.”

Otto Warmbier bị bắt ở Bình Nhưỡng hồi tháng 1/2016 về cáo buộc đã trộm một tấm áp phích tuyên truyền ở một khách sạn. Anh bị kết án 15 năm lao động khổ sai, và rơi vào tình trạng hôn mê cách đây 15 tháng cho đến khi qua đời.

Các giới chức Bắc Triều Tiên lý giải rằng anh sinh viên người Mỹ 22 tuổi đã bị ngộ độc trong thời gian bị giam giữ và được cho uống một viên thuốc ngủ khiến anh rơi vào trạng thái hôn mê.

Các bác sĩ tại bệnh viện thành phố Cincinnati, nơi anh Otto được điều trị sau khi được phóng thích, bác bỏ lý do mà Bắc Triều Tiên viện ra, nhưng không xác định nguyên nhân dẫn đến chấn thương hệ thần kinh nghiêm trọng như vậy.

Gia đình nạn nhân nói trong một tuyên bố:

“Thật đau lòng, hành vi ngược đãi thậm tệ theo kiểu tra tấn dưới tay của người Bắc Triều Tiên mà con trai chúng tôi phải chịu đựng đã dẫn tới hậu quả không thể tránh khỏi, không thể khác hơn hậu quả bi thảm mà chúng tôi trải nghiệm ngày hôm nay.”

Chia buồn và phẫn nộ

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump gửi lời chia buồn cùng gia đình nạn nhân trong một tuyên bố hôm thứ Hai nói rằng “Đối với cha mẹ, không có gì bi thảm hơn là mất đi một đứa con đang ở độ tuổi tươi đẹp nhất của cuộc đời.”

Tổng thống Trump nói cái chết của anh sinh viên càng khiến ông thêm quyết tâm muốn ngăn chặn những bi kịch tương lai dưới “bàn tay của các chế độ không thượng tôn luật pháp, không tôn trọng nhân phẩm cơ bản của con người.”

Các giới chức Mỹ khác cũng ngỏ lời chia buồn với gia đình Warmbier. Họ bày tỏ phẫn nộ về cách đối xử tàn bạo, vô nhân đạo của chính quyền Bắc Triều Tiên đối với anh Warmbier.

Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in ra tuyên bố “chia buồn và an ủi” gia đình anh Warmbier, đồng thời lên án Bắc Triều Tiên về việc giam giữ người nước ngoài mà không tôn trọng các quyền làm người được luật pháp quốc tế bảo đảm.

Người phát ngôn của Tổng thống Hàn Quốc Park Soo-hyun nói:

“Bắc Triều Tiên vẫn đang giam giữ công dân miền Nam chúng tôi và các công dân Mỹ, họ cần lập tức trả lại những người này về lại cho gia đình họ, và chính phủ của chúng tôi sẽ dồn mọi nỗ lực để thực hiện điều này.”

Hiện có sáu người Hàn Quốc đang bị giam cầm ở miền Bắc. Một số là các nhà truyền giáo bị buộc tội gián điệp, và những người khác được cho là bị gián điệp Bắc Triều Tiên bắt cóc trong khi đang giúp đỡ những người đào tị chạy sang bên kia biên giới vào Trung Quốc.

Các giới chức Mỹ nói họ quan ngại về ba người Mỹ gốc Triều Tiên vẫn bị cầm giữ ở miền Bắc. Chính phủ Mỹ tố cáo Bắc Triều Tiên là dùng dụng những người bị họ cầm giữ như những con bài chính trị. Bắc Triều Tiên tố cáo Washington và Hàn Quốc đã đưa gián điệp vào nước này nhằm lật đổ chính phủ của họ.

Những hành động tàn bạo trong nước

Ông Marion Smith, giám đốc Quỹ Tưởng niệm Nạn nhân Chủ Nghĩa Cộng Sản nói trong một thông báo hôm thứ Hai:

“Chế độ Bắc Triều Tiên còn phát động một cuộc chiến chống lại cả những công dân của nước họ.”

Phúc trình của Ủy ban Truy vấn LHQ năm 2014 (COI) thu thập các dữ liệu về những hành động tàn bạo đang diễn ra ở Bắc Triều Tiên, mà họ nói có thể mang ra so sánh với những tội ác của Đức quốc xã.

Sinh viên Mỹ bị Bắc Triều Tiên giam cầm vừa qua đời


Sinh viên Mỹ Otto Warmbier tại buổi họp báo ngày 29/2/16 tại Bắc Triều Tiên.

Sinh viên Mỹ Otto Warmbier tại buổi họp báo ngày 29/2/16 tại Bắc Triều Tiên.

Anh Otto Warmbier, 22 tuổi, được đưa về Mỹ trong tình trạng hôn mê cách đây chưa tới một tuần, trút hơi thở cuối cùng ở bệnh viện Cincinnati, theo thông cáo từ gia đình ngày 19/6.

“Thật đau lòng, không thể có kết cục khả dĩ nào khác ngoài những gì chúng tôi đang trải qua ngày hôm nay với sự ngược đãi tra tấn tàn tệ mà con trai chúng tôi phải gánh chịu dưới bàn tay Bắc Triều Tiên,” thông cáo gia đình nêu rõ sau cái chết của Warmbier lúc 2:20 chiều (giờ địa phương), tại Trung tâm Y khoa Đại học Cincinnati.

Gia đình cho hay Warmbier bị rơi vào tình trạng hôn mê từ tháng ba năm ngoái, ngay sau khi anh bị Bình Nhưỡng tuyên án 15 năm tù khổ sai.

Theo truyền thông nhà nước Bắc Triều Tiên, anh bị bắt vì bị cáo buộc trộm một bảng hiệu in nội dung tuyên truyền của Bình Nhưỡng tại một khách sạn mà anh tạm trú khi ghé thăm Bắc Triều Tiên vào năm ngoái.

Bắc Triều Tiên phóng thích Warmbier tuần trước, viện dẫn lý do ‘nhân đạo.’

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Rex Tillerson ngỏ lời chia buồn với gia đình Warmbier và tuyên bố rằng ‘Bắc Triều Tiên phải chịu trách nhiệm về sự giam cầm bất công đối với Otto Warmbier.’

Vẫn theo lời Ngoại trưởng Tillerson, Washington yêu cầu Bình Nhưỡng phóng thích 3 công dân khác của Mỹ đang bị giam cầm phi pháp tại Bắc Triều Tiên.

Vén màn lịch sử: Con tàu Nô-ê huyền thoại là có thật và những phát hiện chấn động về Đại Hồng Thủy tại Biển Đen

Vén màn lịch sử: Con tàu Nô-ê huyền thoại là có thật và những phát hiện chấn động về Đại Hồng Thủy tại Biển Đen

Báu vật quốc gia của Thổ Nhĩ Kỳ: Tàu Nô ê được tìm thấy gần ngôi làng Thổ Nhĩ Kỳ Üzengili ở thôn Doğubeyazıt

Theo truyền thống Kitô giáo, chiếc thuyền Noah đã bị mắc kẹt trên núi Ararat. Đây là ngọn núi cao nhất trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, mà đỉnh cao là tại 5137 mét độ cao so với mực nước biển.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vào ngày 20/6/1987, Thống đốc tỉnh Agri của Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố với thế giới rằng: Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Ataturk, cơ quan khảo cổ Thổ Nhĩ Kỳ… đã công nhận khám phá của nhóm thám hiểm Ron Wyatt. Đây là kết quả của nhiều chục năm nghiên cứu. 

 

Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã công nhận vật thể hình chiếc tàu trên ngọn núi Ararat tại độ cao 2.000m so với mực nước biển ấy là con tàu của Nô-ê. Khu vực này trở thành công viên quốc gia, báu vật quốc gia của họ.

Đây là một trong những phát hiện lịch sử học và khảo cổ học vĩ đại nhất, cho thấy Đại Hồng Thủy và con tàu Nô- ê là sự thật.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tọa độ con tàu: 39 26’ 26.09″ Bắc, 44 14’ 04.29″ Đông. Hình ảnh vệ tinh

Con tàu nằm giữa một dòng bùn cổ. (Ảnh chụp năm 1959)

Phần đầu tiên của cuộc nghiên cứu là kiểm tra vật thể và đo lường kích thước của nó. Vật thể trông giống phần thân của một con tàu lớn. Một đầu nhọn là mũi tàu, còn đầu kia bo lại là đuôi tàu. Khoảng cách từ mũi đến đuôi là gần  160m.

Trên mạn phải của con tàu, gần đuôi (điểm B) có 4 thanh lồi ra khỏi phần đất bùn, cách đều nhau, được xác định là các sườn khung của thân tàu. Đối diện với chúng, ở bên mạn trái, có một thanh sườn cũng lồi ra khỏi đất bùn (điểm A). Chúng ta có thể dễ dàng quan sát thấy hình dáng uốn cong của nó. Xung quanh đó là rất nhiều sườn khung khác, phần lớn bị chôn vùi trong đất, nhưng kiểm tra kỹ đều có thể thấy được. 

Gỗ của con tàu đã bị hóa thạch. Các chất hữu cơ đều đã bị thay thế bằng khoáng chất, chỉ còn lại hình thù và dấu vết của các thanh sườn tàu.

 

 

 

 

 

 

 

 

Mắt người chỉ nhìn được vật thể nhờ ánh sáng phản chiếu từ nó. Để nhận ra những vật thể nằm bên dưới mặt đất, các nhà khoa học sử dụng sóng siêu âm xuyên qua mặt đất. Kỹ thuật này thường được dùng để xác định vị trí dầu mỏ và các khoáng chất khác. Thiết bị để làm việc này được gọi là Radar xuyên đất (máy GPR).

Kết quả radar scan: Radar ngầm đã giúp xác định rõ các cấu trúc bên dưới mặt đất. Chúng hoàn toàn đối xứng và có bố cục rất hợp lý. Đây là những kích thước chính xác như được mô tả của con tàu trong Kinh Thánh 

“Dữ liệu này không tương ứng với kiến tạo địa chất tự nhiên. Chúng là những cấu trúc nhân tạo…”

– Ron Wyatt cho biết. 

Bên trong mẫu gỗ dán cực kỳ cổ xưa đã hóa thạch này, người ta tìm thấy dấu vết của những cây đinh sắt.  

Kiểm tra cho thấy phần keo dán rỉ ra từ các lớp gỗ dán. Bề ngoài của mẫu vật từng được phủ một lớp nhựa đường, cũng đã hóa thạch.

Những cây đinh sắt bên trong mẫu gỗ dán cực kỳ cổ xưa đã hóa thạch. Cây đinh tán cắm ngập vào phần thân gỗ hóa thạch. Kết quả phân tích cho thấy nó được làm bằng một loại hợp kim, trong thành phần có chứa cả nhôm. Chứng tỏ thời đó nhân loại có công nghệ rất cao.

 

Cách con tàu vài cây số, người ta tìm thấy nhiều khối đá rất lớn, một số dựng đứng trong khi số khác nằm dài trên mặt đất. Những khối đá này có khối lượng lên đến cả tấn, và có lỗ xuyên qua thân mình. Các nhà nghiên cứu đã công nhận rằng chúng là những cái neo, còn những cái lỗ là để buộc dây thừng. Nói cách khác, đây chính là những tảng đá mỏ neo. 

Đại Hồng Thủy và con tàu Nô ê   

Đại hồng thủy là đại thảm họa khủng khiếp được nhắc đến trong truyền thuyết của nhiều tôn giáo và nhiều dân tộc trên thế giới. Nó được miêu tả là một trận lụt cực lớn và là sự trừng phạt của Thiên Chúa do sự suy đồi đạo đức, thoái hóa biến chất của loài người. Duy nhất Nô-ê nghe theo lời chỉ dạy của Thần làm chiếc tàu và sống sót

Toàn bộ trái đất đã được che phủ bằng nước vài km chiều cao. Nước dâng lên cao hơn cả những đỉnh núi cao nhất, vào ngày 17 tháng 2, mưa 40 ngày đêm và nước dâng lên liên tục trong 157 ngày.

Trước đó, vì muốn lưu lại con người và giống vật để phát triển một nhân loại mới sau thảm họa, Thần đã phán truyền cho ông Nô-ê: Ngươi sẽ làm tàu thế này: chiều dài một trăm năm mươi thước, chiều rộng hai mươi lăm thước, chiều cao mười lăm thước. Ngươi sẽ làm một cái mui che tàu, và đặt mui cách phía trên tàu nửa thước. Cửa tàu, ngươi sẽ đặt ở bên hông; ngươi sẽ làm tầng dưới, tầng giữa rồi tầng trên.” (Sáng Thế 6:15-16).

Ngoài ra, Thần cũng hướng dẫn ông Nô-ê cách thức để sinh tồn và bảo tồn giống động thực vật trong tàu: “Trong mọi sinh vật, mọi xác phàm, ngươi sẽ đưa vào tàu mỗi loại một đôi, để giữ cho chúng sống với ngươi; phải có một con đực và một con cái. Trong mỗi loại chim, mỗi loại gia súc, mỗi loại vật bò dưới đất, mỗi loại một đôi sẽ đến với ngươi, để ngươi giữ cho chúng sống. Phần ngươi, hãy lấy mọi thứ ăn được và tích trữ cho mình; đó sẽ là lương thực của ngươi và của chúng.” (Sáng thế 6:19-21).

Sau đại hồng thủy, chỉ có gia đình Nô-ê còn sống sót cùng các loài vật mỗi giống một cặp đôi, trên con thuyền Nô-ê.

Và đây là mẫu vật hóa thạch các nhà khoa học thu được tại hiện trường, có niên đại đúng thời điểm kể trong Kinh Thánh: 

 

 

 

 

 

Mẫu phân động vật hóa thạch.  

 

 

 

 

 

Trái: gạc hươu hóa thạch. Phải: một chùm lông mèo.  

 

 

 

Sau trận lụt kinh hoàng, nước rút dần khỏi mặt đất thì ông Nô-ê thả một con quạ bay ra khỏi tàu xem tình hình bên ngoài. Lần thứ nhất, con quạ không tìm được chỗ đậu chân vì nước chưa rút, nên nó bay về lại tàu. Bảy ngày sau, con bồ câu được thả ra lần nữa, và lần này nó bay trở về, trên mỏ ngậm cành lá ô liu tươi. Ông Nô-ê biết là nước đã giảm xuống, mặt đất đã trở lại. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mô hình con tàu Nô-ê bằng kích thước thực đúng như mô tả được các nhà khoa học dựng nên. 

Những nghiên cứu mới đây tiếp tục khẳng định Đại Hồng Thủy và con tàu Nô ê

Tiếp sau những nghiên cứu vào những thập niên 70, 80, vào tháng Chín năm 2004, những nhà khoa học từ một số tổ chức, trong đó có Robert Ballard của National Geographic Society, người đã nổi tiếng với việc phát hiện ra xác tàu của “Titanic”, đã tiến hành một cuộc thám hiểm tại Biển Đen (khu vực Thổ Nhĩ Kỳ). Họ phát hiện ra rằng biển nội địa này không phải luôn luôn như chúng ta thấy ngày nay.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Biển Đen -nó có thể đã hình thành từ một hồ nước khổng lồ của nước đen mà những con sóng đã đột nhiên tăng lên rất nhanh chóng, tại một thời điểm cụ thể trong lịch sử. Tất cả mọi thứ đã biến mất đột ngột đến mức những người dân sống trên bờ đã bị buộc phải rời khỏi ngay lập tức tới các vùng an toàn hơn, buộc họ phải bỏ lại đằng sau ngôi nhà của mình, công cụ của mình, vv

Phát hiện này là minh chứng rằng vùng dọc bờ Biển Đen là từng là nơi sinh sống sầm uất trước cơn Đại Hồng Thủy.  – Fredrik Hiebert.

Đầu năm 2006, giáo sư Porcher Taylor cũng đã thông báo rằng sau khi nghiên cứu sâu rộng trong nhiều năm nhờ sự giúp đỡ của các hình ảnh vệ tinh, các kích thước của vật thể con tàu tại hiện trường cũng như mọi đặc điểm của nó tương ứng một cách hoàn hảo với con thuyền được mô tả trong Kinh Thánh.

Những câu chuyện Kinh Thánh của nhiều nước đã kể lại một sự thực lịch sử: Đại Hồng Thủy và con tàu Nô- ê

Các “huyền thoại” Kinh Thánh của Đại Hồng Thủy được đề cập trong các tài liệu lưu trữ của các dân tộc khác nhau, bao gồm cả người Hindu, người Sumer, người Hy Lạp, các Acadians, người Trung Quốc, các Mapuches, các Mayas, người Aztec và người dân trên đảo Phục Sinh.

Trong tất cả những câu chuyện này, các chi tiết giống nhau một cách đáng ngạc nhiên. Đều là đã có cảnh báo từ các Thần về việc phải xây dựng một chiếc tàu, để có thể sống sót qua cơn Đại Hồng Thủy và để phục hồi sau đó sự sống trên hành tinh. Nhưng loài người đa phần cười không tin. Duy nhất chỉ có Nô-ê tin nghe và làm theo lời dặn của Thần.

Sự chuẩn xác tuyệt đối giữa các dữ liệu lịch sử và phát hiện của các nhà khảo cổ

Sử thi Gilgamesh (niên đại ít nhất 2660 năm trước) có ghi rằng đỉnh núi Nisir là nơi an nghỉ của con tàu huyền thoại. Tên gọi hiện nay là núi Nasar.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cổ thư Houd Sura 11:44 (thuộc bộ sách Koran) ghi: “Con tàu đến an nghỉ trên ngọn Al-Judi, và nghe thấy một giọng nói: “Những kẻ xấu ác đều đã chết“ “. Thực tế hoàn toàn chính xác. Ngọn Al-Judi chính là nơi ban đầu con tàu nằm, trước khi bị dòng bùn cổ cuốn trôi xuống vị trí hiện nay.

 

 

 

 

 

 

 

Cổ thư Genesis 8:4-5 (thuộc Kinh Thánh) ghi: “Và con tàu yên nghỉ vào tháng thứ 7, ngày 17 tháng ấy, trên dãy núi Ararat. Và nước rút liên tục cho đến tháng thứ 10: vào tháng thứ 10, ngày đầu tiên tháng ấy, [con tàu] được trông thấy trên đỉnh của các ngọn núi ấy”: chính xác

Biên niên sử Ashurnasurpal II của Assyria (833-859 trước công nguyên) nói con tàu nằm lại ở phía nam của dòng sông Zab: chính xác

Cuốn Theophilus của Antioch (115-185) nói rằng vào thời của ông người ta có thể trông thấy được con tàu trong những ngọn núi của người Arab: chính xác. 

Vậy là, liên tục có những khám phá mới về điều kỳ diệu tưởng chừng như không có. Những khám phá mới của con người dường như liên tục mở ra những chân trời quá khứ mà trước đây người ta vốn không nghĩ tới, không tin. Dành một chút suy ngẫm để tự thấy mình nhỏ bé thế nào trước vũ trụ mênh mông và bao la, năng lực của con người vẫn qúa ư nhỏ bé. Hãy tôn trọng thiên nhiên đất trời. Chúng ta vốn là ai và có thể thực sự làm được điều gì, trên thực tế vẫn mãi là một ẩn số lớn của nhân loại.

 Hà Phương Linh

(theo Epoch Times France)

 

100 Năm Cách Mạng Cộng Sản Nga, Làn Sóng Đỏ, Những Thống Kê Đen Tối

1- Lenin trong cach mang thang 10 nam 2017_wikipidia

Lenin trong cách mạng tháng 10 của Nga. (Hình Wikipedia)

Cách mạng tháng 10 năm 1917 tại Nga do Đảng Bolshevik cầm đầu là biến cố lịch sử tang thương nhất không chỉ cho dân tộc Nga mà còn cho cả Nhân Loại. Bởi vì biến cố này làm Chủ Nghĩa Cộng Sản lan rộng khắp thế giới và giết chết hơn 100 triệu người. Một trăm năm nhìn lại, nó đã gây vô số hệ lụy thống khổ cho hàng tỉ người.

Bối Cảnh Xã Hội Nga và Cách Mạng Tháng 10 Năm 1917

Trong tác phẩm “Comrades! A History of World Communism” [Các Đồng Chí! Lịch Sử Chủ Nghĩa Cộng Sản Thế Giới] (1), sử gia chống Cộng người Anh chuyên về lịch sử Liên Bang Sô Viết Robert Service (2) viết rằng, “Nghèo đói và áp bức tạo ra mảnh đất phì nhiêu cho chủ nghĩa Marx nảy nở.”

Đúng vậy! Cách mạng tháng 10 năm 1917 của những người Cộng Sản Nga bắt nguồn từ bối cảnh xã hội nghèo đói và áp bức của nước Nga. Sau này cũng thế, các cuộc cách mạng Cộng Sản tại Trung Quốc, Việt Nam, v.v… đều khởi đi từ bối cảnh xã hội nghèo đói và áp bức.

Đầu thế kỷ 20, Đế Quốc Nga vẫn còn bị cai trị bởi chế độ quân chủ của Sa Hoàng (Tsar) (3), với hàng triệu nông dân chiếm đa số trong dân số sống nghèo khổ. Lòng dân bất mãn triều đình thối nát và độc tài của Sa Hoàng lên đến cực độ vào năm 1905 qua sự ra đời của hội đồng công nhân được biết với tên “Sô Viết” tại nhiều thành phố ở Nga để buộc Sa Hoàng phải thực hiện cải tổ dân chủ, đưa tới việc ra đời chính quyền dân cử, gọi là Duma.

Khi Nga Hoàng Nicholas II lôi kéo 11 triệu nông dân vào Thế Chiến Thứ Nhất [1914-1918], dân Nga cảm thấy chán nản cùng cực vì chết chóc và thương tật. Nước Nga lâm vào tình trạng lụn tàn làm cho cách mạng chín muồi. Vì vậy, vào tháng 2 năm 1917, cuộc biểu tình vĩ đại của các nữ công nhân bùng phát.

Lo sợ hỗn loạn đưa tới sụp đổ, triều đình Nga Hoàng kêu gọi quân đội đàn áp biểu tình. Nhưng giới phụ nữ đã thuyết phục binh sĩ buông súng đứng về phía họ để lật đổ Nga Hoàng Nicholas II và biến cuộc biểu tình thành cuộc Cách Mạng Tháng 2 mà kết quả là Chính Quyền Lâm Thời được thành lập.

Tuy nhiên, Chính Quyền Lâm Thời được lãnh đạo bởi các nhà ngân hàng, luật sư, kỹ nghệ gia, và các nhà tư bản, vốn không chuyên môn về chính trị, nên không đủ mạnh để thực hiện cam kết chấm dứt sự can dự của Nga vào chiến tranh. Điều này khiến nước Nga tiếp tục day dưa với cuộc chiến và làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Chính Quyền Lâm Thời vì vậy lại bị chống đối, mà lần này cũng là các Sô Viết, hay “hội đồng công nông”. Họ muốn có được quyền tự quyết đối với vận mệnh của chính họ và của đất nước Nga.

Vào đầu tháng 10, người lãnh đạo Đảng Bolsheviks là Vladimir Lenin tổ chức cuộc nổi dậy chống Chính Quyền Lâm Thời. Những công nhân có trang bị vũ khí được biết với tên Hồng Quân và nhiều nhóm cách mạng khác được lệnh của Ủy Ban Cách Mạng Quân Đội của Sô Viết vào đêm ngày 6 và 7 tháng 11 năm 1917 chiếm các trạm bưu điện, nhà máy điện, nhà ga xe lửa, và ngân hàng quốc gia. Khi tiếng súng nổ ra từ Tàu Chiến Nga Aurora, thì hàng ngàn người trong Hồng Quân như vũ bão tràn vào Dinh Thự Mùa Đông. Chính Quyền Lâm Thời sụp đổ và được thay thế bởi chế độ Bolshevik. Sau khi nghe tin Dinh Thự Mùa Đông bị chiếm, người dân ở các nơi liền nổi dậy và đổ dồn về đó. Vladimir Lenin tuyên bố xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa tại Nga. Chính quyền mới này được dựng lên bởi các Sô Viết và được lãnh đạo bởi những người Bolsheviks.

Vậy mà vào đầu tháng 11 năm 1917, ngay sau cách mạng, không ai nghi ngờ gì về chuyện giai cấp vô sản đã hậu thuẫn châm ngôn của Đảng Bolsheviks, “Tất cả quyền lực đều thuộc về các Sô Viết!” Thực chất đó chỉ là tuyên truyền mị dân, vì quyền lực thực sự đã không thuộc về các Sô Viết mà là nằm trong tay Đảng Cộng Sản Nga. Trường hợp này đã tái diễn tại Việt Nam khi Cộng Sản núp dưới cái bóng của Việt Minh để cướp chính quyền vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Đảng Bolsheviks do Vladimir Lenin lãnh đạo là một nhánh chiếm đa số của Đảng Lao Động Dân Chủ Xã Hội Nga (The Russian Social Democratic Labour Party) và nhánh thiểu số còn lại có tên Mensheviks do Julius Martov lãnh đạo. Đảng Lao Động Dân Chủ Xã Hội Nga còn có tên là Đảng Công Nhân Dân Chủ Xã Hội Nga (The Russian Social Democratic Workers’ Party) hay cũng được gọi là Đảng Dân Chủ Xã Hội Nga (The Russian Social Democratic Party) là đảng chính trị cách mạng xã hội được thành lập vào năm 1898 tại Minsk – thời đó là một thành phố nằm trong Đế Quốc Nga, bây giờ là thủ đô của Belarus – để thống nhất các tổ chức cách mạng khác nhau của Đế Quốc Nga.

Năm 1912 đảng này bị chia làm 2 nhóm, Nhóm Đa Số là Bolsheviks và Nhóm Thiểu Số là Mensheviks. Đảng Bolsheviks sau trở thành Đảng Cộng Sản của Liên Bang Sô Viết. Đảng Lao Động Dân Chủ Xã Hội Nga dựa trên lý thuyết Duy Vật Biện Chứng và Duy Vật Sử Quan của Karl Marx và Friedrich Engels. Nga lúc đó chủ yếu là một nước nông nghiệp, đảng này lại dựa vào lực lượng công nhân để làm cách mạng, dù Nga chỉ có ba triệu công nhân, chiếm 3% tổng dân sổ.

Trước Đại Hội lần thứ hai của Đảng Lao Động Dân Chủ Xã Hội Nga được tổ chức vào năm 1903 tại Bỉ, một tri thức trẻ có tên là Vladimir Ilyich Ulyanov, lấy tên giả là Vladimir Lenin, gia nhập vào đảng. Trước đó, tức là năm 1902 Lenin công bố bản phác họa nhiệm vụ và phương pháp luận của đảng có tựa đề “What is to be done?” [Điều gì cần được làm?] để thành lập “đội ngũ tiên phong của giai cấp vô sản.” (4)

tre em doi

Khủng bố Ảo sau “Cách Mạng Tháng 10” tại Nga đã gây nên nạn đói làm 5 triệu người chết trước tiên là trẻ em.

Chế Độ Cộng Sản Nga

Ngày 8 tháng 11 năm 1917, Đại Hội Đảng Bolsheviks đã bầu Hội Đồng Ủy Ban Nhân Dân (Council of People’s Commissars [Sovnarkom]) dưới sự lãnh đạo của Lenin trong cơ chế Chính Quyền Sô Viết, là chính quyền đầu tiên được dựng lên sau cách mạng tháng 10. Năm 1921, Lenin đề xuất Chính Sách Kinh Tế Mới, là hệ thống tư bản chủ nghĩa nhà nước khởi đầu tiến trình kỹ nghệ hóa và phục hồi từ Cuộc Nội Chiến giữa những người Cộng Sản và thành phần chống Đảng Bolsheviks kéo dài 4 năm. Năm 1922, Nhà Nước Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Sô Viết (the Union of Soviet Socialist Republics – USSR) được thành lập.

Lenin lãnh đạo chính quyền Cộng Sản Nga thực hiện các cải tổ xã hội chủ nghĩa, gồm chuyển giao nhà cửa và ruộng đất địa chủ cho các sô viết của giới công nhân. Lenin chủ trương cách mạng thế giới nhưng trước tình hình chưa ổn định của Nga, ông đã phải tập trung vào việc củng cố quyền lực trong nước. Vì vậy, ngay sau cách mạng tháng 10, Lenin chủ trương chính sách hòa bình với các trung tâm quyền lực thế giới và chấp thuận hiệp ước trừng phạt của quốc tế để nhường lại rất nhiều lãnh địa của Cựu Đế Quốc Nga cho Đức. Hiệp ước này đã bị phá bỏ sau khi Đồng Minh chiến thắng trong Thế Chiến Thứ Nhất.

Ngày 9 tháng 3 năm 1923, Lenin bị tai biến mạch máu não làm ông tàn phế và đưa tới sự chấm dứt vai trò lãnh đạo chính quyền của ông. Ông chết vào ngày 21 tháng 1 năm 1924. Người kế nhiệm là Joseph Stalin.

Năm 1925 đảng Cộng Sản Nga của Lenin trước đó được đổi tên thành Đảng Cộng Sản Toàn Liên Bang. Trong thập niên 1930s, Stalin bắt đầu chiến dịch Đại Thanh Trừng, một thời kỳ hoang tưởng và đàn áp lan rộng lên đến cao điểm trong hàng loạt vụ án công khai và thanh trừng gần như tất cả Đảng viên. Với sự trỗi dậy của chủ nghĩa Phát Xit tại Ý và Đức, Đảng CS Nga tích cực hình thành các liên minh “an ninh tập thể” với các cường quốc Tây Phương. Khi chưa làm được điều đó, thì Liên Bang Sô Viết ký hiệp ước bất tương xâm với Đức, mà bị phá đổ vào năm 1941 khi Đức xâm lăng Liên Bang Sô Viết, khởi động cuộc “Chiến Tranh Yêu Nước Vĩ Đại”.

Sau chiến thắng của Đồng Minh vào năm 1945 của Thế Chiến Hai, Đảng Cộng Sản Nga thực hiện lý thuyết thành lập chính quyền của Stalin trong thời kỳ hậu chiến đi xâm chiếm lãnh thổ và mở rộng không gian ảnh hưởng, dùng chiến tranh ủy nhiệm và gián điệp cung cấp huấn luyện và tài trợ để khuyến khích phong trào Cộng Sản quốc tế.

Đêm ngày 2 tháng 3 năm 1953, Stalin bị tai biến mạch máu não và được chính thức tuyên bố đã chết vào ngày 5 tháng 3 năm 1953, thọ 74 tuổi. Trong hồi ký chính trị của Vyacheslav Molotov được xuất bản năm 1993, cho rằng Stalin bị ám sát chết, khi kể chuyện bộ trưởng nội vụ Lavrentiv Beria khoe với đệ nhất phó thủ tướng Vyacheslav Mikhailovich Molotov rằng ông đã đầu độc Stalin.

Sau cái chết của Stalin, Khrushchev lên lãnh đạo sau cuộc tranh giành quyền lực nội bộ với bộ trưởng nội vụ Lavrentiv Beria và thủ tướng Georgy Malenkov kéo dài tới năm 1955 mới yên. Khi ổn định vị thế lãnh đạo Đảng, Khrushchev bắt đầu chiến dịch đạp đổ thần tượng Stalin và chấm dứt triều đại khủng bố tập thể của Stalin trong nhiều thập niên trước đó, đã làm giảm sự áp bức xã hội. Trong Đại Hội Đảng lần thứ 20 được tổ chức vào năm 1956, Khrushchev lên án tội ác của Stalin. Dù nhiều chính sách kinh tế của Khrushchev có mang lại phần nào tiến triển, vẫn không đủ sửa sai quá nhiều vấn đề khó khăn nền tảng của nền kinh tế kiệt quệ của Liên Bang Sô Viết. Dù về đối nội có giảm áp bức xã hội, nhưng các chính sách đối ngoại của Khrushchev không đạt hiệu quả để thiết lập bang giao và quan hệ tốt đẹp với nhiều nước Đông và Tây Âu, đặc biệt với Đảng Cộng Sản tại Yugoslavia và vụ nổi dậy năm 1956 tại Ba Lan. Nói chung, tất cả đều muốn giữ thế độc lập với Nga. Khrushchev bị lật đổ ngày 14 tháng 10 năm 1964.

Người kế nhiệm là Leonid Brezhnev trong vai trò Tổng Bí Thư Đảng lần đầu tiên của lịch sử Đảng Cộng Sản Nga. Brezhnev tiếp tục sự nghiệp của Khrushchev trong việc chống lại phương thức khủng bố và bạo hành chính trị của Stalin. Tuy nhiên, Brezhnev chỉ trích các chính sách khác của Khrushchev. Trong Đại Hội Đảng lần thứ 25 vào năm 1976, tất cả mọi vấn đề khó khăn trong lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội dưới triều đại của Brezhnev đều lên cao điểm khiến chính quyền của ông trở thành bất lực. Sức khỏe ông ngày càng suy nhược đến nỗi ông bị nghiện thuốc giảm đau. Brezhnev chết vào ngày 10 tháng 11 năm 1982 giữa lúc nước Nga rơi vào tình trạng thất bại trầm trọng về kinh tế và đối ngoại với vụ sa lầy trong chiến tranh tại Afghanistan.

Sau khi Brezhnev chết, Andropov, lãnh đạo cơ quan tình báo KGB dưới thời Brezhnev, lên cầm quyền. Sau đó ông thất bại khi muốn đưa Mikhail Gorbachev lên thay thế vị trí lãnh đạo. Andropov chết ngày 9 tháng 2 năm 1984. Người kế nhiệm là Konstantin Chernenko. Nhưng Chernenko không thể xây dựng vị thế lãnh đạo vững vàng trong Đảng và chính quyền bởi vì tất cả đều bị Gorbachev kiểm soát. Chernenko mất ngày 10 tháng 3 năm 1985 để Gorbachev lên nắm quyền ngày 11 tháng 3 năm 1985.

Khi mới lên nắm quyền, Gorbachev thực hiện ngay cải tổ. Ông đẩy tất cả những cán bộ lãnh đạo đảng cựu trào ra khỏi guồng máy chính quyền. Ông hồi sinh lý tưởng của đảng bằng quan điểm mới và cải tiến quan niệm cũ. Một trong những hệ quả của cải tổ này là dẫn tới việc cho phép “đa nguyên tư tưởng” và kêu gọi thành lập “chủ nghĩa đa nguyên xã hội.” Năm 1986, Gorbachev ban bố chính sách “tái cơ cấu” mà tiếng Nga gọi là “perestroika” nhằm mục đích đưa nước Nga vượt qua khỏi nền kinh tế đang trì trệ bằng cách tạo ra cơ cấu tương quan và hiệu quả để thúc đẩy tiến trình kinh tế và xã hội. Năm 1988, Gorbachev đưa ra chính sách cởi mở [tiếng Nga là glasnost], trao cho người dân Nga quyền tự do mà họ chưa bao giờ có trước đó, gồm tự do ngôn luận.

Tháng 6 năm 1988, trong Đại Hội Đảng Cộng Sản Nga, Gorbachev đề xuất cơ chế hành pháp theo hệ thống tổng thống và lập pháp cũng được cải tổ gọi là Quốc Hội Đại Biểu Nhân Dân (Congress of People’s Deputies) được người dân bầu cử trên khắp Liên Bang Sô Viết vào tháng 3 và 4 năm 1989. Chính sách này đưa tới làn sóng dân chủ hóa ngoài ý muốn của chính quyền. Theo học giả Archie Brown, dân chủ hóa tại Liên Bang Sô Viết giúp Gorbachev làm suy yếu các thành phần chống đối thuộc phe giáo điều bảo thủ trong đảng nhưng cũng làm bùng nổ sự phản kháng quyết liệt của những người bảo thủ. Cuộc đấu tranh giữa Gorbachev và phe bảo thủ kéo dài cho đến khi ông bị đảo chánh vào tháng 8 năm 1991, lúc ông vắng mặt tại thủ đô Moscow.

Ngày 29 tháng 8 năm 1991 Liên Bang Sô Viết bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Ngày 25 tháng 12 năm 1991 Gorbachev từ chức thì một ngày sau Liên Bang Sô Viết cũng bị xóa sổ. (5) Đó cũng là ngày kết thúc 74 năm có mặt và thống trị của Chủ Nghĩa Cộng Sản trên nước Nga.

Làn Sóng Đỏ Cộng Sản Lan Khắp Thế Giới

Cuộc cách mạng tháng 10 năm 1917 không chỉ tạo ra chế độ Cộng Sản Nga mà làn sóng đỏ Cộng Sản còn lan khắp nơi trên thế giới, tới Á Châu, Đông Âu, Trung Mỹ, v.v…

Tư tưởng Mác Xít bắt đầu truyền tới Trung Quốc sau Phong Trào Ngũ Tứ năm 1919. Vào tháng 6 năm 1920, Quốc Tế Cộng Sản, được biết như là Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản tại Nga, đã phái Grigori Voitinsky tới Trung Quốc để gặp Lý Đại Chiêu và một số người khác. Grigori đã tài trợ và lập ra Đoàn Thanh Niên Xã Hội Chủ Nghĩa. Đảng Cộng Sản Trung Quốc tại tô giới Pháp ở Thượng Hải vào năm 1921 như là một hội nghiên cứu và mạng lưới không chính thức. (6) Trong Đại Hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc lần thứ 1 vào năm 1921 tại Thượng Hải có 23 đại biểu tham dự gồm, Lý Đạt, Lý Hán Tuấn từ Thượng Hải; Trương Quốc Đạo, Lưu Nhân Tĩnh từ Bắc Kinh; Mao Trạch Đông, Hà Thúc Hoành từ Hồ Nam; Đổng Tất Vũ, Trần Đàm Thu từ Hồ Bắc; Vương Tấn Mỹ, Đặng Ân Minh từ Sơn Đông; Trần Công Bác từ Quảng Đông; Chu Phật Hải đại diện các du học sinh ở Nhật Bản. Trong Đại Hội này, Trần Độc Tú và Lý Đại Chiêu không tham dự vì bận công việc.

Đại Hội do Trương Quốc Đạo chủ tọa, Mao Trạch Đông và Chu Phật Hải làm thư ký. Đại Hội đã bầu Trần Độc Tú là Thư Ký Trung Ương của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đầu tiên, tương đương với chức Tổng Bí Thư Đảng sau này. (7) Trong chiến tranh Hoa-Nhật lần thứ 2 diễn ra từ năm 1937 tới 1945, Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Trung Hoa Quốc Dân Đảng tạm thời hợp tác để chống kẻ thù chung là Nhật Bản. Trong 8 năm này, Đảng Cộng Sản Trung Quốc gia tăng số lượng đảng viên từ bốn vạn lên tới một triệu hai còn quân đội tăng từ ba vạn tới một triệu.

Sau Thế Chiến Hai, nội chiến giữa Trung Hoa Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng Sản Trung Quốc lại tiếp tục. Dù lúc đầu Trung Hoa Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch thắng thế, kết cuộc thì bị Đảng Cộng Sản Trung Quốc của Mao Trạch Đông đánh bại và bị buộc tháo chạy ra Đài Loan. Sau đó, Tưởng Giới Thạch tái lập Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan và Mao Trạch Đông lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tại Lục Địa.

Cộng Sản xâm nhập vào Việt Nam rất sớm. Vào mùa xuân năm 1925, người thanh niên có tên Nguyễn Sinh Cung lấy tên giả là Nguyễn Ái Quốc tức là Hồ Chí Minh đã thành lập Hội Thanh Niên Cách Mạng Việt Nam mà đọc theo kiểu Hán Việt là Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Hội (Vietnamese Revolutionary Youth Association), là một tổ chức chính trị Cộng Sản.

Hội này lợi dụng lòng yêu nước muốn đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi đất nước để chiêu mộ hội viên. Hội tuyên truyền mục đích giành độc lập cho nước nhà và tái phân phối đất đai cho nông dân có ruộng làm ăn. Hồ Chí Minh lúc đó là một thành viên của Quốc Tế Cộng Sản được Quốc Tế Cộng Sản Nga phái tới Quảng Châu của Trung Quốc vào tháng 12 năm 1924 để thực hiện sứ mệnh kết nối vào tổ chức Cộng Sản các thành phần trí thức Việt Nam chống Pháp đang hoạt động tại Trung Quốc, rồi huấn luyện và gửi về Việt Nam hoạt động. Tới năm 1928, thì Trung Hoa Quốc Dân Đảng cấm Hội Thanh Niên của Hồ Chí Minh hoạt động tại Trung Quốc, nên hội phải hoạt động bí mật. Ngày 17 tháng 6 năm 1929, 20 đại biểu khu vực Bắc Kỳ họp tại Hà Nội tuyên bố giải tán Hội Thanh Niên và thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương. Đến ngày 3 tháng 2 năm 1930 cuộc họp tại Hồng Kông đổi tên đảng thành Đảng Cộng Sản Việt Nam. Bị Quốc Tế Cộng Sản chỉ trích và áp lực vì không đặt chủ trương của phong trào cộng sản quốc tế lên trên hết, vào tháng 10 năm 1930 trong cuộc họp cũng tại Hồng Kông Đảng Cộng Sản Việt Nam lại phải đổi tên thành Đảng Cộng Sản Đông Dương trở lại.

Điều này cho thấy ngay từ đầu sự lệ thuộc sâu xa của Cộng Sản VN với Cộng Sản Quốc Tế. Trong cuộc họp này ông Trần Phú được bầu làm Tổng Bí Thư Đảng đầu tiên. Tháng 2 năm 1941, Hồ Chí Minh về lại Việt Nam và thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, thường được gọi tắt là Việt Minh. Việt Minh tổ chức Cách Mạng Tháng Tám thành công để sang đoạt chống Pháp nhưng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản của ông thật sự cướp công cách mạng trong lễ tuyên bố độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội. (8)

Trận chiến đánh đuổi thực dân Pháp để giành lại độc lập cho đất nước vẫn tiếp tục đối với người dân Việt Nam. Sau biến cố Mùa Thu năm 1945 đó, lợi dụng lòng yêu nước và nhu cầu cấp bách đó của toàn dân, Cộng Sản núp sau danh nghĩa của Việt Minh tiếp tục xây dựng cơ sở, phát triển sức mạnh của đảng cho tham vọng lâu dài. Nhờ sự tiếp sức mạnh mẽ về nhân lực và tài lực từ Đảng Cộng Sản Trung Quốc, Cộng Sản Việt Nam thắng Pháp tại trận Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 với sự hy sinh xương máu của hàng ngàn thanh niên Việt Nam yêu nước.

Biến cố này đưa tới Hiệp Định Geneva ngày 20 tháng 7 năm 1954 chia cắt Việt Nam làm hai miền Nam-Bắc với hai thể chế Tự do và Cộng sản khác nhau. Bất chấp các điều khoản của Hiệp Định Geveva, đặc biệt điều khoản tổ chức tổng tuyển cử toàn quốc để người dân quyết định vận mệnh tương lai của đất nước, Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tiến hành cuộc chiến xâm lược miền Nam với sự hỗ trợ tiền bạc, quân đội và vũ khí từ Trung Cộng, Nga Sô và các nước trong khối Cộng Sản Quốc Tế. Cuối cùng, lợi dụng việc Hoa Kỳ rút quân theo Hiệp Định Paris năm 1973 và cắt viện trợ sau đó, Cộng Sản Bắc Việt một lần nữa xẻ bỏ Hiệp Định Paris để thôn tính miền Nam vào tháng 4 năm 1975 để nhuộm đỏ cả nước và đặt nền cai trị độc tài toàn trị lên dân tộc Việt Nam từ đó đến nay.

Ngoài Trung Quốc và Việt Nam, các nước như Bắc Hàn, Đảng Cộng Sản Bắc Hàn được thành lập vào năm 1925 (9); Mông Cổ, Đảng Cách Mạng Nhân Dân Mông Cổ thành lập năm 1924 đồng minh với Liên Sô (10); Cam Bốt, Đảng Cộng Sản Campuchia hay Khmer Rouge [Khờ Me Đỏ] được thành lập năm 1968 (11); Lào, những người Cộng Sản Lào thành lập lần đầu tiên vào năm 1950 Mặt Trận Lào Tự Do để chống chính quyền (12), cũng đã bị làn sóng đỏ tràn ngập một thời hay còn tồn tại tới ngày nay.

Xe tangTại Prague, tháng 8 năm 1968, quân đội Liên Xô xâm lăng Tiệp Khắc.

Tại Đông Âu và Trung Âu, sau Thế Chiến Thứ II, Hồng Quân Liên Sô xâm chiếm nhiều nước và dựng lên nhiều chế độ Cộng Sản tại các quốc gia này. Hầu hết các nước Cộng Sản Đông Âu và Trung Âu đều nằm trong liên minh với Liên Bang Sô Viết, ngoại trừ Yugoslavia đã tuyên bố độc lập. Quá trình Cộng Sản Nga nhuộm đỏ Đông Âu không hoàn toàn xuôi chèo mát mái, như trường hợp Hungary và Slovakia là bằng chứng cụ thể. Cách Mạng Hungary năm 1956 phát sinh ra tinh thần độc lập không muốn bị lệ thuộc Nga Sô đưa tới sự đàn áp đẫm máu hàng ngàn người dân phản kháng bằng quân đội do Đảng Cộng Sản Hungary điều khiển. Tương tự, tại Slovakia vào ngày 20 tháng 8 năm 1968, khi Đảng Cộng Sản Czechoslovak Communist Party do Alexander Dubcek lãnh đạo bắt đầu rục rịch vận động cải tổ để hạn chế tập quyền trung ương và đưa nền kinh tế thoát khỏi lệ thuộc, thì lãnh đạo Nga Sô Brezhnev ra lệnh quân đội Nga Sô xâm chiếm.(13)

Chủ Nghĩa Giết Người Nhiều Nhất Lịch Sử

Tổ Chức giáo dục và nhân quyền bất vụ lợi có trụ sở tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn của Hoa Kỳ có tên The Victims of Communism Memorial Foundation nói rằng “Cách Mạng Bolshevik tháng 10 năm 1917 đã đẻ ra một ý thức hệ giết người nhiều nhất trong lịch sử loài người, đó là Chủ Nghĩa Cộng Sản.” Tổ chức này cho biết trong vòng 100 năm qua, Chủ Nghĩa Cộng Sản giết chết hơn 100 triệu người trên toàn thế giới, và ngày nay vẫn còn tiếp tục cai trị một số quốc gia.(14) Giáo Sư sử học người Mỹ dạy tại Đại Học UC Berkeley, California, chuyên về lịch sử Nga là Martin Malia trong lời tựa cuốn “The Black Book of Communism” [phiên dịch từ công trình nghiên cứu của các học giả Pháp là “Le Livre Noir du Communism” – Hắc Thư Của Chủ Nghĩa Cộng Sản] cho rằng Chủ Nghĩa Cộng Sản đã giết từ 85 triệu tới 100 triệu người.(15)

Tại Nga

Sau khi Liên Bang Sô Viết giải thể, các hồ sơ chính thức của chính quyền được tìm ra cho thấy Cộng Sản Nga đã hành quyết tám chục ngàn tù nhân dưới thời Stalin, khoảng một triệu bảy bị giết trong các trại tù lao động khổ sai gọi là Gulag và 39 vạn bị giết trong các vụ cưỡng bách định cư – hồ sơ của chính quyền CS Nga ghi có tới ba triệu nạn nhân trong các loại giết người này. Riêng dưới thời Stalin cầm quyền, một số sử gia phỏng đoán có tới 61 triệu người bị giết. Trong khi đó nhiều học giả, trong số đó có nhà viết tiểu sử cho Stalin là Simon Sebag Montefiore và giám đốc loạt tài liệu “Annals of Communism” [Biên Niên Sử của Chủ Nghĩa Cộng Sản] của Đại Học Yale là Jonathan Brent thì cho rằng khoảng 20 triệu người bị giết chết dưới thời Stalin. Theo Giáo Sư Donald Rayfield trong vụ Khủng Bố Đỏ vào cuộc Nội Chiến Nga năm 1918, CS Nga đàn áp và giết chết hàng chục ngàn người trong các cuộc nổi dậy Kronstadt và Tambov. (16) Theo Nicolas Werth thì vào những tháng đầu của năm 1919, CS Nga hành quyết 12 ngàn người sau khi các làng mạc của Cossacks bị san bằng. (17) Từ năm 1937 tới năm 1953 dưới thời Stalin có khoảng bảy chục vạn người bị hành quyết bằng đạn vào đầu từ sau lưng, nhiều người bị tra tấn dã man tới chết trong lúc thẩm cung, nhiều người bị bỏ đói khát, bị bệnh tật và làm việc quá sức trong các trại tù lao động khổ sai. Từ tháng 10 năm 1936 tới tháng 11 năm 1938, ít nhất một triệu bảy người bị bắt giam và 724 ngàn bị xử tử. Michael Ellman trong tác phẩm “Stalin and the Soviet Famine of 1932–33 Revisited,” [Xét Lại Nạn Đói Năm 1932-33 Dưới Thời Stalin và Sô Viết] cho biết rằng khủng bố đỏ cũng được CS Nga thực hiện với các tu sĩ Giáo Hội Chính Thống Giáo và các tôn giáo khác. (18) Trong tác phẩm “Century of Violence” [Thế Kỷ Bạo Động] Alexander Nikolaevick Yakovlev cho biết các tài liệu của Giáo Hội Chính Thống Giáo Nga nói rằng có tới hơn 10 vạn tu sĩ nam nữ đã bị xử tử trong thời gian từ năm 1937 tới 1938.(19)

Tại Mông Cổ

Mùa hè và thu năm 1937, Stalin đưa nhân viên của Bộ Nội Vụ Nga tới Cộng Hòa Nhân Dân Mông Cổ để thực hiện cuộc Khủng Bố Lớn Nhất Mông Cổ để bắt và hành quyết tới 35 ngàn người, trong đó khoảng 18 ngàn nạn nhân là các vị Lạt Ma Phật Giáo Mông Cổ.(20)

Tại Ba Lan

Mùa xuân năm 1940, Bộ Nội Vụ Nga hành quyết khoảng 21,857 tù nhân chiến tranh và các nhà trí thức Ba Lan trong vụ thảm sát tập thể được biết với tên Katyn.(21)

Tại Trung Quốc

Các thống kể của nhiều sử gia cho rằng sau khi Mao Trạch Đông nắm quyền hành cai trị Trung Cộng, các chính sách và những cuộc thanh trừng chính trị của ông đã giết hại khoảng 10 triệu người. Các tài liệu khác cho thấy Mao chịu trách nhiệm tới 70 triệu cái chết. (22) Các cuộc tàn sát quy mô nhất dưới thời Mao Trạch Đông xảy ra trong thời kỳ cải cách ruộng đất. Các tài liệu nghiên cứu chính thức được phổ biến vào năm 1948, cho thấy Mao dự trù “sẽ tiêu diệt” “một phần mười nông dân” hay khoảng 50 triệu người để tạo điều kiện cho kế hoạch cải cách ruộng đất. Số người bị giết chết thực sự trong cải cách ruộng đất không nhiều đến thế, nhưng ít nhất là một triệu người đã bị giết. (23) Các cuộc đàn áp vì lý do phản cách mạng đã xử tử ít nhất 712 ngàn người, và bắt bỏ tù lao động khổ sai tới một triệu 290 ngàn người và một triệu hai bị quản thúc.(24) Trong tác phẩm “Mao’s Great Famine: The History of China’s Most Devastating Catastrophe, 1958-62,” [Nạn Đói Lớn Nhất Của Thời Kỳ Mao: Lịch Sử Thảm Họa Tàn Hại Nhất Của Trung Quốc] sử gia Frank Dikotter nói rằng kế hoạch Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại của Mao đã làm 45 triệu người chết vì đói. Dikotter phỏng đoán rằng ít nhất hai triệu rưởi bị giết chết hay bị hành hung tới chết trong thời gian Bước Tiến Vĩ Đại (1958-1962). Trong cuộc họp bí mật tại Thượng Hải vào năm 1959, Mao cho rằng thà để một nửa dân số Trung Quốc chết đi để một nửa kia có đủ lương thực để sống.(25) Trong tác phẩm “Mao’s Last Revolution,” hai nhà Hán học Roderick MacFarquhar và Michael Schoenhals phỏng đoán chỉ riêng ở nông thôn Trung Quốc có từ 750 ngàn tới một triệu rưởi bị giết trong Cách Mạng Văn Hóa (1966-1976). (26)

4-Thien An Mon 1989Một sinh viên đứng cản đường đoàn xe tăng tiến vào đàn áp biểu tình tại Thiên An Môn năm 1989 tại Bắc Kinh, Trung Cộng. (Hình Wikipedia)

Ngày 4 tháng 6 năm 1989 đánh dấu Phong Trào Dân Chủ hay Biến Cố Thiên An Môn bị đàn áp và tiêu diệt. Tài liệu Từ Điển Bách Khoa Mở cho biết rằng ngày 15 tháng 4 năm 1989 khi Tổng Bí Thư Đảng CSTQ Hồ Diệu Bang bị đứng tim chết thì phong trào sinh viên đòi dân chủ cũng bùng lên trước tiên tại các đại học và sau đó lan rộng ra 400 thành phố khắp Trung Quốc. Cao điểm của cuộc biểu tình đòi cải cách và dân chủ diễn ra ngày 17 và 18 tháng 5 năm 1989 với hơn một triệu người dân Bắc Kinh xuống đường biểu tình. Ngày 20 tháng 5 năm 1989, Đảng CSTQ do Đặng Tiểu Bình lãnh đạo ban hành lệnh thiết quân luật và đưa ba trăm ngàn quân vào Bắc Kinh. Ngày 4 tháng 6 năm 1989 thì chính quyền CSTQ triệt hạ cuộc biểu tình bằng bạo lực quân sự với xe tăng, súng ống. Ngày 6 tháng 6 năm đó, trong cuộc họp báo, phát ngôn viên của chính quyền nói rằng số người chết là gần 300 gồm quân đội, 23 sinh viên và thường dân, cộng với năm ngàn công an và binh lính bị thương và hai ngàn thường dân cũng bị thương. Nhưng ký giả Nicholas D. Kristof của báo The New York Times cho biết vào ngày 21 tháng 6 rằng có tới 50 công an và từ 400 tới 800 thường dân bị giết. Trong một bài báo vào năm 1990, tạp chí Time nói rằng có tới hai ngàn 600 người chết trong buổi sáng ngày 4 tháng 6 năm 1989 tại Thiên An Môn. (27)

Tại Cam Bốt

Chế độ Khờ Me Đỏ [Khmer Rouge], thống trị Cam Bốt từ năm 1975 tới 1979, đã hành quyết ít nhất hai trăm ngàn người tại những Cánh Đồng Chết và các chính sách của Khờ Me Đỏ cộng với bệnh tật và đói khát làm cho từ 1.4 triệu tới 2.2 triệu người dân Cam Bốt bị thiệt mạng trên tổng số dân lúc đó là bảy triệu người. (28) Trong khi đó Chương Trình Cambodian Genocide Program của Đại Học Yale cho rằng có khoảng 1.7 triệu người Cam Bốt bị chết.(29) Nhà nghiên cứu Craig Etcheson của Trung Tâm Tài Liệu Về Cam Bốt cho rằng số người chết là từ 2 triệu tới 2.5 triệu người. Sau 5 năm nghiên cứu khoảng hai vạn ngôi mộ, ông kết luận rằng “những ngôi mộ tập thể chứa 1.112.829 nạn nhân bị hành quyết.(30)

Tại Đông Âu

Tại Bulgaria, từ năm 1944 tới 1989, kế hoạch tập trung ruộng đất và đàn áp chính trị đã giết chết 31 ngàn người, theo Dinyu Sharlanov trong bộ sử “History of Communism in Bulgaria” [Lịch Sử Chủ Nghĩa Cộng Sản Tại Bulgaria].(31) Tại Đông Đức, theo Valentino, bắt đầu từ năm 1945 do đàn áp chính trị từ Liên Bang Sô Viết, đã có từ tám tới 10 vạn người bị giết.(32) Tại Romania, từ năm 1945 trong kế hoạch tịch thu ruộng đất và đàn áp chính trị đã có từ 60.000 tới 300.000 người bị giết chết.(33)

Tại Bắc Hàn

Theo Rummel, R.J. trong tác phẩm “Statistics Of North Korean Democide: Estimates, Calculations, And Sources,” [Thống Kê Về Sự Tàn Sát Của Chính Quyền Bắc Hàn: Các Phỏng Đoán, Con Số, và Nguồn Thông Tin], (34) thì từ năm 1948 tới 1987, đã có hơn một triệu người chết vì lao động khổ sai, bị hành quyết và tù cải tạo tại Bắc Hàn. Những phỏng đoán khác thì cho rằng có tới 400 ngàn người chết chỉ trong các trại tù tập trung. Theo sử gia Pháp Pierre Rigoulot thì có tới 100 ngàn vụ xử tử, một triệu rưởi chết trong các trại tù tập trung và lao động khổ sai, nửa triệu qua đời vì đói khát, và một triệu 300 ngàn người bị giết trong chiến tranh Triều Tiên. Nạn đói thập niên 1990s đã làm chết tới 850 ngàn người dân Bắc Hàn.(35)

Tại Việt Nam

Theo Giáo Sư Kinh Tế Học tại Đại Học North Carolina Steven R. Rosefielde trong tác phẩm “Red Holocaust,” thì trong thập niên 1950s Hồ Chí Minh và Đảng CSVN tại miền Bắc đã giết chết tới 900.000 người trong cải cách ruộng đất và xử tử các thành phần đảng phái Quốc Gia khác.(36) Cải Cách Ruộng Đất là thảm họa kinh hoàng chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam. Đảng CSVN mở những cuộc đấu tố và kết án thành phần trí thức, địa chủ mà không hề trải qua quá trình điều tra, thụ lý hồ sơ của tòa án có thẩm quyền và độc lập về tư pháp. Trong các cuộc đấu tố này đã diễn ra những cảnh trạng thống hận ngất trời với con tố cáo và xử tử cha mẹ ngay giữa cái gọi là tòa án nhân dân phi pháp. Đó là thảm kịch bi thương nhất của dân tộc làm đảo lộn luân thường đạo lý và đạo đức truyền thống lâu đời vốn là giềng mối giữ gìn kỷ cương gia đình và xã hội.

Chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất chính thức bắt đầu vào ngày 19 tháng 12 năm 1953 sau khi Quốc Hội VN thông qua Dự Luật Cải Cách Ruộng Đất 197/HL và ông Hồ Chí Minh ký ban hành và chấm dứt vào năm 1956. Theo Szalontai Balazs trong tác phẩm “Political and Economic Crisis in North Vietnam, 1955-1956,” thì số người bị ảnh hưởng chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc VN lên tới hơn bốn triệu. Chương trình giảm tá điền đã ảnh hưởng tới tám triệu người khi dân số tại miền Bắc VN lúc bấy giờ là 15 triệu người.(37) Số người bị xử tử trong Cải Cách Ruộng Đất lên tới hai trăm ngàn theo Từ Điển Bách Khoa Mở. (38) Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi CS Bắc Việt xâm chiếm miền Nam, chính quyền CSVN thi hành chính sách trả thù tất cả quân dân cán chính phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam trước đó. Chính sách trả thù đưa tới việc chính quyền CSVN đẩy hơn một triệu quân dân cán chính VNCH vào các nhà tù khổ sai mà họ gọi trại tù học tập cải tạo được dựng lên khắp nước. (39) Trong số người bị CSVN bỏ tù, nhiều người phải ngồi tù hơn 20 năm mới được thả ra với thân mang tật bệnh và suy nhược tinh thần. Tác giả Robert S. McKelvey trong tác phẩm “A Gift of Barbed Wire” [Tặng Vật Cuộn Dây Thép Gai] cũng đưa ra con số một triệu quân dân cán chính VNCH bị CSVN bỏ tù. Theo trang mạng Victims of Communism Memorial Foundation thì CSVN đã đẩy 850 ngàn người vào các trại tù cải tạo.(40) Việc miền Nam bị Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm năm 1975 không chỉ dẫn tới thảm họa một triệu quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa bị đẩy vào các nhà tù khắp nước, mà cũng bắt đầu một thời kỳ bỏ nước ra đi của khoảng hai triệu người không chấp nhận chế độ Cộng Sản. Trong những ngày trước và ngay ngày 30 tháng 4 năm 1975, đã có hơn 130 ngàn quân dân cán chính VNCH làm việc thân cận với Hoa Kỳ tại miền Nam đã di tản. Hầu hết đều được chính phủ Mỹ cho định cư tại Hoa Kỳ trong Chiến Dịch Cuộc Sống Mới và Chiến Dịch Những Ngưới Mới Đến (Operation New Life and Operation New Arrivals).

Vuot bien

Cuộc vượt biển vô tiền khoáng hậu của lịch sử Dân Tộc VN và thế giới làm chấn động lương tâm nhân loại.

Sau đó, cuộc di tản hay vượt biên, vượt biển vô tiền khoáng hậu của lịch sử Dân Tộc VN và thế giới làm chấn động lương tâm nhân loại và Liên Hiệp Quốc mở cửa nhiều trại tị nạn tại các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Hồng Kông, Tân Gia Ba, để tiếp nhận Thuyền Nhân [danh từ quốc tế đặt cho người Việt vượt biển], bắt đầu từ năm 1978 tới đầu thập niên 1990s. Chỉ riêng số người thuyền nhân không thôi đã có tới 800.000 từ năm 1975 tới 1995. Năm 1978, khoảng 250.000 người Việt gốc Hoa tại Việt Nam vượt biên bằng đường bộ sang Trung Quốc Lục Địa. Theo tài liệu của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) có khoảng từ 200.000 tới 400.000 người tị nạn Việt Nam đã chết trên biển. Các phỏng đoán khác cho rằng tới 70% số thuyền nhân Việt Nam đã chết dưới biển.(41)

Kết Luận

Thảm họa mà Chủ Nghĩa Cộng Sản đã và đang gieo rắc cho loài người trong vòng 100 năm qua thì nhiều vô số kể, từ các cuộc tàn sát tập thể cho đến những vụ đàn áp khủng bố đỏ, từ những thất bại thê thảm về kinh tế làm người dân đói khổ, bệnh tật cho đến những phá sản nghiêm trọng nền tảng đạo đức, văn hóa truyền thống của các dân tộc bị Chủ Nghĩa CS cai trị.

Sử gia người Mỹ gốc Ba Lan dạy tại Đại Học Harvard và Cornell Hoa Kỳ Richard Pipes, đã có lần nhận định về sự thất bại và sụp đổ của Chủ Nghĩa Cộng Sản trên thế giới, “Chủ nghĩa Mác Xít, nền tảng lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản được dựng lên trên tiền đề sai lầm về sự chiếm hữu của con người – là lòng tham chiếm hữu và tích trữ tài sản cá nhân – là hiện tượng lịch sử tạm thời, nếu được giáo dục đúng mức thì có thể cải thiện. Chủ nghĩa Mác Xít muốn đưa loài người tới chỗ đó trong niềm tin rằng từ bỏ lòng tham tài sản sẽ đưa tới xóa bỏ bất bình đẳng kinh tế là nguồn gốc của xung đột giai cấp.”(42) Richard Pipes nói đúng vì mọi đảng viên CS trên thế giới đều tham quyền cố vị, tham nhũng bốc lột và cường hào ác bá hơn bất cứ chế độ nào trong lịch sử loài người từ trước tới nay.

Chủ nghĩa Cộng Sản trên thế giới sụp đổ còn vì nhiều lý do khác như họ không đủ khả năng để lãnh đạo và điều hành nền kinh tế từ nông nghiệp đến công nghiệp để đuổi kịp đà tăng trưởng và phát triển nhanh chóng của xã hội loài người. Chủ nghĩa CS còn tiêu diệt tự do, khai phóng và sáng tạo cá nhân vốn là chất liệu cốt lõi để phát triển con người và xã hội theo hướng tiến bộ. Các chế độ CS trên thế giới, mà ngày nay còn lại ở vài nước như Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba, đã cai trị đất nước bằng độc tài toàn trị, bịt miệng người dân, đàn áp và chà đạp nhân quyền, dân quyền của người dân đưa dân tộc đến tình trạng lạc hậu, chậm tíến và phản lại trào lưu tự do, dân chủ và tôn trọng nhân quyền của tòan nhân loại. Một chủ nghĩa như thế thì sụp đổ là đương nhiên.

Nhưng có điều đau thương là nhân loại đã phải trả giá quá đắt cho sự có mặt của Chủ Nghĩa CS với hơn 100 triệu mạng người bị tàn sát!

***

Nguồn Tài Liệu Tham Khảo:

(1) Do Nhà Xuất Bản Harvard Univsersity Press, Cambridge, Massachusetts, xuất bản năm 2007; http://www.hup.harvard.edu/catalog.php?isbn=9780674046993  

(2) https://en.wikipedia.org/wiki/Robert_Service_(historian)  

(3) https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_Russia_(1892%E2%80%931917)  

(4) https://en.wikipedia.org/wiki/October_Revolution  

(5) https://en.wikipedia.org/wiki/Communist_Party_of_the_Soviet_Union  

(6) https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_the_Communist_Party_of_China  

(7) http://onggiaolang.com/21-05-su-ra-doi-cua-dang-cong-san-trung-quoc /

(8) https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_the_Communist_Party_of_Vietnam 

(9) https://en.wikipedia.org/wiki/Communism_in_Korea 

(10) https://en.wikipedia.org/wiki/Mongolian_People%27s_Republic  

(11) https://en.wikipedia.org/wiki/Khmer_Rouge  

(12) https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_Laos_since_1945#Communism_in_Laos  

(13) https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_communism   

(14) http://victimsofcommunism.org/mission/   

(15) Malia, Martin (1999), “Foreword” in “The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression,” Harvard University Press. trang 9-20.

(16) Donald Rayfield, “Stalin and His Hangmen: The Tyrant and Those Who Killed for Him,” Random House, 2004.

(17) Nicolas Werth, “A State against its People: violence, repression, and terror in the Soviet Union” trong The Black Book, trang 98.

(18) Michael Ellman, “Stalin and the Soviet Famine of 1932–33 Revisited,” Europe-Asia Studies, Routledge. Vol. 59, No. 4, June 2007, 663–693.

(19) Yakovlev, “Century of Violence,” 2002, trang 165;

(20) Hiroaki Kuromiya, “The Voices of the Dead: Stalin’s Great Terror in the 1930s,” Yale University Press, December 24, 2007, trang 2. Hoặc Christopher Kaplonski, “Thirty Thousand Bullets, In: Historical Injustice and Democratic Transition in Eastern Asia and Northern Europe,” London 2002, trang 155–168.

(21) https://en.wikipedia.org/wiki/Mass_killings_under_Communist_regimes  

(22) Chang, Jung and Halliday, Jon, “Mao: The Unknown Story,” Jonathan Cape, London, 2005, trang 3. Hoặc Rummel, R. J. “China’s Bloody Century: Genocide and Mass Murder Since 1900,” Transaction Publishers, 1991, trang 205. Trong đó Rummel nói rằng Mao đã giết tới 77 triệu người. Hoặc Fenby, Jonathan, “Modern China: The Fall and Rise of a Great Power, 1850 to the Present,” Ecco, 2008, trang 351. Tài liệu này cho rằng Mao chịu trách nhiệm cho cái chết của từ 40 triệu tới 70 triệu người trong các vụ tàn sát tập thể lớn hơn Hitler hay Stalin.

(23) Rummel, Rudolph J., “China’s Bloody Century: Genocide And Mass Murder Since 1900,” Transaction Publishers, 2007, trang 223.

(24) Yang Kuisong, “Reconsidering the Campaign to Suppress Counterrevolutionaries,” The China Quarterly, 193, March 2008, trang 102–121.

(25) Dikưtter, Frank, “Mao’s Great Famine: The History of China’s Most Devastating Catastrophe, 1958-62,” Walker & Company, 2010, trang x, xi.

(26) https://en.wikipedia.org/wiki/Mass_killings_under_Communist_regimes  

(27) https://en.wikipedia.org/wiki/Tiananmen_Square_protests_of_1989  

(28) Chandler, David, “The Killing Fields.”

(29) https://en.wikipedia.org/wiki/Mass_killings_under_Communist_regimes  

(30) Sharp, Bruce, “Counting Hell: The Death Toll of the Khmer Rouge Regime in Cambodia”, ngày 1 tháng 4 năm 2005, bổ sung lại ngày 5 tháng 7 năm 2006.

(31) https://en.wikipedia.org/wiki/Mass_killings_under_Communist_regimes
 
(32) Valentino (2005), “Final Solutions,” 2005, trang 75.

(33) https://en.wikipedia.org/wiki/Mass_killings_under_Communist_regimes  

(34) Rummel, R.J., “Statistics Of North Korean Democide: Estimates, Calculations, And Sources,” 1997.

(35) https://en.wikipedia.org/wiki/Mass_killings_under_Communist_regimes  

(36) Steven R. Rosefielde, “Red Holocaust,” 2009, trang 110.

(37) Szalontai, Balazs, “Political and Economic Crisis in North Vietnam, 1955-1956”, 2005, Cold War History, Vol. 5, No. 4, trang 401.

(38) https://en.wikipedia.org/wiki/Land_reform_in_North_Vietnam  

(39) https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_t%E1%BA%ADp_c%E1%BA%A3i_t%E1%BA%A1o  

(40) http://victimsofcommunism.org/mission/   

(41) https://en.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_boat_people  

(42) http://www.discoverthenetworks.org/viewSubCategory.asp?id=58 

Huỳnh Kim Quang

Những chuyện kỳ lạ vượt ngoài sức tưởng tượng ở Bắc Triều Tiên

From facebook:  Trần Bang
Miền Bắc trước 1975 và cả nước trước 1990 cũng na ná như vầy:

Những chuyện kỳ lạ vượt ngoài sức tưởng tượng ở Bắc Triều Tiên

Quốc gia này cấm mặc quần bò, cấm mặc áo T-shirt có chữ tiếng Anh, vì đây là khuynh hướng theo chủ nghĩa tư bản; họ không cho phép để tóc dài, luật pháp quy định tóc của nam giới không dài quá 5cm, nhưng nếu ai đầu hói thì được để dài 7cm, làm trái những quy định này sẽ bị bắt giam.

Triều Tiên cấm dùng điện quá định mức, bóng đèn điện không được quá 40 W, không được dùng nồi cơm điện và bếp điện, chắc hẳn không ai được thấy qua lò vi sóng, không có máy tính cá nhân, chỉ có một số ít quan chức được dùng điện thoại cá nhân ở nhà, kể từ sau năm 2004 mọi người không được phép dùng điện thoại cầm tay.

Đài phát thanh chỉ có thể nghe được ở tần số cố định, truyền hình thu được tín hiệu cố định. Cảnh sát thường xuyên quấy nhiễu nhà dân để kiểm tra xem có ai vi phạm những điều luật kể trên hay không.

Quốc gia này cũng cấm đi du lịch tùy tiện, người nước ngoài muốn đến du lịch phải xin phép, chỉ khi có giấy chứng thực cho phép mới được trú lại, ai muốn trú lại nhà người thân cũng phải có giấy chứng nhận. Từ ngoại ô thành phố vào nội thành cũng phải có giấy chứng nhận. Cảnh sát thường xuyên đột kích kiểm tra vào ban đêm, nếu phát hiện có người ở lại không có giấy chứng nhận thì người đó sẽ bị bắt.

Triều Tiên khuyến khích mật báo, mỗi người phải có nghĩa vụ tố giác người khác vi phạm. Họ có tổ chức tên là “Ban Nhân dân”, trưởng ban có trách nhiệm theo dõi tình hình ngôn luận tại khu vực phụ trách, có khi người này chủ động nói những lời lẽ chống lại chế độ để gài bẫy, ai trúng kế sẽ bị bắt. Báo chí thường tuyên dương những người con dám tố giác cha mẹ nếu cha mẹ phạm luật, họ gọi đó là những tiểu anh hùng dũng cảm.

Cư dân của quốc gia này đa số mặc đồng phục, các màu sắc chính là xám tro, đen và xanh da trời, do Chính phủ tổ chức sản xuất và cấp phát, mỗi người được hai bộ hàng năm: mùa hè và mùa đông. Ngày phát quần áo là ngày sinh nhật của nguyên thủ, ý nghĩa là biểu thị ân đức của lãnh tụ. Giày là sản phẩm khan hiếm, đa số người dân chỉ mang giầy vải, vì giầy da là xa sỉ phẩm.

Đa số nữ giới Triều Tiên không dùng qua băng vệ sinh. Ai có gia cảnh tốt thì dùng vải xô hoặc băng vải, còn người nghèo chỉ có thể dùng vải bình thường, không phải dùng một lần mà phải dùng đi dùng lại. Trong thời gian nghỉ ngơi hàng ngày họ phải đi giặt miếng vải vệ sinh cá nhân. Mùa đông tại quốc gia này rất lạnh, nhưng đa số nơi không có thiết bị sưởi ấm, khu ký túc xá của nữ sinh viên hoặc công nhân đều có thể trông thấy rõ những miếng vải vệ sinh phơi ngoài trời bị kết băng.

Đa số nam giới tại quốc gia này không có dao cạo râu riêng. Nếu một ai đó có một con dao cạo râu thì thường những người hàng xóm hay đến nhà anh ta cạo nhờ.

Hàng năm mọi người được cấp phát rau cải trắng, người lớn được 140 cân, trẻ nhỏ được 100 cân. Mọi người làm thành dưa chua chôn dưới đất hoặc giấu trong phòng kín, vì thường có kẻ trộm hay đi ăn trộm dưa chua.

Lãnh tụ của quốc gia này được xem như thiên tài, không có gì không biết, từ triết học, toán học, vật lý đến tâm lý học và thiên văn học. Sau khi lãnh tụ thị sát trại nuôi dê núi sẽ được báo chí đưa tin: “Lãnh tụ ghé thăm và chỉ đạo sẽ giúp cho sản lượng sữa và dê núi sinh sôi phát triển mạnh mẽ”.

Triều Tiên là quốc gia chuẩn mực về quân sự, không có bạn bè nhưng có vô số kẻ thù, dường như tất cả các nước láng giềng đều bị xem như kẻ thù. Đầu tư cho quốc phòng chiếm 1/4 tổng giá trị sản xuất quốc gia. Khẩu hiệu của họ là: Quân đội là trọng tâm quốc sách, quân sự đi trước tất cả. Cho dù vô số người dân bị chết đói nhưng quốc gia này vẫn chú trọng nghiên cứu tên lửa đạn đạo và vũ khí hạt nhân.

Thiếu lương thực nghiêm trọng là vấn nạn của quốc gia này, thường xuyên bị mất mùa trong hơn 20 năm qua. Không ai biết rõ đã có bao nhiêu người bị chết đói, có thông tin là vài trăm ngàn người, có thông tin là vài triệu người, tương đương 1/10 dân số. Đa số mọi người sống trong trạng thái dinh dưỡng tồi tệ.

Ở quốc gia này, chịu đói là một nghĩa vụ yêu nước, trong khi người dân tại nhiều nước phải tìm cách giảm béo thì thủ đô của quốc gia này có treo một biểu ngữ lớn: làm sao để mỗi ngày chúng ta có thể ăn hai bữa. Mỗi khi biết tin có truyền thông nước ngoài đưa tin về nạn thiếu lương thực của Triều Tiên thì truyền thông của nước này sẽ phản ứng thể hiện phẫn nộ và lên án.

Quốc gia này từng làm một bộ phim nói về ước mơ của nhiều người, trong phim có người vì ăn quá nhiều cơm mà bị vỡ dạ dày. Tại đây hầu như không có ai nuôi thú cưng, vì nếu nuôi trước sau gì cũng có kẻ trộm để ăn thịt.

Triều Tiên là quốc gia chuẩn mực về quân sự, không có bạn bè nhưng có vô số kẻ thù.

Triều Tiên có vô số “em bé đầu to”, có nghiên cứu cho rằng người thiếu thốn dinh dưỡng thì chất dinh dưỡng sẽ ưu tiên chuyển vận lên não, tiếp theo là thân thể, thứ nữa mới là tứ chi. Theo Báo cáo nghiên cứu của Quỹ phát triển trẻ em Liên Hiệp Quốc, có 42% trẻ em của quốc gia này bị suy dinh dưỡng gây khiếm khuyết trong phát triển cơ thể. Đa số trở thành người của thời đại trẻ đầu to. Tổ chức Lương thực Thế giới đã thực hiện thống kê về quốc gia này, theo đó có đến 2/3 số gia đình phải ăn cỏ và vỏ cây. Nếu hỏi họ: Bữa sau sẽ ăn gì? Họ sẽ vui vẻ trả lời: “Hy vọng thông gia sẽ gửi cho chút khoai tây”. Tình hình này hiện vẫn chưa thể thay đổi.

Đa số ăn trộm ở quốc gia này là ăn trộm lương thực, một phần nhỏ đi trộm thứ khác để đổi lấy lương thực. Cũng có thể nói, đây toàn là trộm chống đói.

Một số người ở Triều Tiên đang sản xuất và buôn bán ma túy đá vì thứ này giúp bớt cảm giác đói, cũng có người đem bán ở biên giới với Trung Quốc.

Khoảng 50 năm trước, chiều cao trung bình của người dân Triều Tiên tương đương các nước láng giềng. Nhưng hiện nay chiều cao trung bình của họ thấp hơn chiều cao trung bình người dân nước láng giềng 13cm. Quốc gia này cấm buôn bán, đặc biệt là gạo, ngô, và đậu nành. Chính phủ của họ lo lắng những thứ này có thể rơi vào tay địch thủ. Họ cũng cấm tảo hôn vì cho rằng: mỗi người phải cống hiến đủ cho tổ quốc mới được phép kết hôn.

Trên các phố xá của quốc gia này có nhiều bảng tuyên truyền vẽ hình chân dung lãnh tụ cùng dòng chữ: “Những gì Đảng quyết định, mọi người phải làm theo”. Đa số người dân của quốc gia này đều căm thù nước Mỹ, gọi Mỹ là nước tạp chủng. Có những trường học, học trò bị yêu cầu viết thư máu thề nếu có chiến tranh sẽ gia nhập quân đội vô điều kiện, hy sinh thân mình vì “nước”.

Quốc gia này cũng vô cùng căm hận Trung Quốc, nói Trung Quốc là nước theo chủ nghĩa tu chính, mức thù hận Trung Quốc của họ không thua gì thù hận Mỹ, Nhật.

Các đô thị tại Triều Tiên thường xuyên bị mất nước, đến nay tình trạng này vẫn chưa thể khắc phục được. Khi đi lấy nước, người ta phải mang theo tất cả các đồ chứa, thường xuyên phải ra sông hoặc giếng lấy nước.

Vì không có xà bông, cũng không có thuốc kháng sinh, nước bẩn thường gây dịch bệnh nên có một giai đoạn vào cuối thế kỷ 20 – đầu thế kỷ 21 bệnh thương hàn rất phổ biến.
Trường học của quốc gia này không có tài liệu, rất thiếu thốn giấy, chỉ những gia đình giàu có mới mua được giấy sao chép tài liệu. Nguyên thủ của quốc gia này ép người dân phải gọi là “cha”, có khi gọi là “cha nhân từ”. Nguyên thủ đầu tiên của quốc gia này từng viết hơn chục quyển sách, còn nguyên thủ thứ hai viết được hàng chục quyển sách.

Nội dung giảng dạy trong nhà trường ở Triều Tiên chủ yếu liên quan đến lãnh tụ, mỗi người phải thuộc lòng một số câu nói của lãnh tụ. Giáo dục ý thức hệ và thù hận xuyên suốt với nhau từ đầu đến cuối, một bài toán lớp một có nội dung như sau: 3 binh sĩ giết chết 30 lính Mỹ, nếu họ giết được gấp đôi thì số lính Mỹ bị giết chết là bao nhiêu?
Lịch pháp của quốc gia này lấy năm sinh của nguyên thủ đầu tiên là năm 1912 là năm đầu kỷ nguyên, năm nay vừa tròn 100 năm.

Thủ đô của Triều Tiên là cánh cửa duy nhất được mở. Người nước ngoài khi đến thủ đô sẽ bị những hạn chế, trong một số ngày đặc biệt mức hạn chế nghiêm ngặt hơn. Để bảo vệ hình ảnh của quốc gia, những người tàn tật, người tâm thần và quá lùn bị trục xuất khỏi thủ đô. Cho dù cha mẹ bình thường nhưng nếu con cái tật nguyền thì cũng phải di dân ra ngoài. Quốc gia này có rất nhiều tội bị xử tử hình, vào thập niên 1990 những ai chống lệnh hay làm trở ngại cho trật tự xã hội đều bị xử tử hình.

Từng có bốn sinh viên say rượu chạy khỏa thân đã bị tử hình. Có người vì trộm dây điện (để bán lõi đồng) bị xử tử hình. Nhưng nghiêm trọng nhất là tội phản quốc: người dân nào chạy trốn ra nước ngoài hoặc nước thù địch, hoặc đi cầu cứu đại sứ nước ngoài, hoặc giúp đỡ tổ chức hay công dân nước thù địch làm hướng dẫn du lịch hay phiên dịch, hoặc hỗ trợ tinh thần hay vật chất… đều bị xử tử hình.

Quốc gia này luôn tổ chức xử công khai, trong khi xét xử mọi người dân được yêu cầu phải tới xem. Trên bục có quan kiểm sát, luật sư và thẩm phán, quan kiểm sát đọc tội danh, luật sư biểu thị đồng ý với quan kiểm soát, cuối cùng thẩm phán tuyên án. Phạm nhân tử hình bị mọi người cùng hành hình, bị bắn ba phát đạn vào đầu, ngực và chân, phạm nhân bị trói trên cọc gỗ, dáng vẻ khi chết sẽ giống như tạ lỗi với quần chúng.

Tội phạm của Triều Tiên không chỉ bị tước đoạt mọi quyền lợi về chính trị mà dường như không còn bất cứ quyền lợi gì. Họ phải sống trong trại cưỡng bức lao động, họ không có mền đắp nên phải chen vào nhau, đầu người này kê lên chân người kia. Ngày ngày đều có người chết trong trại cưỡng bức lao động, có khi vài thi thể được khiêng ra cùng thời điểm trong cùng một phòng trong tâm trạng thản nhiên của người chứng kiến vì đã quá quen.

Bài hát thịnh hành nhất của quốc gia này là bài «Trên thế giới này, chúng ta hạnh phúc nhất», ca từ được viết rằng: “Cha của chúng ta, trên thế giới này, chúng ta hạnh phúc nhất. Gia đình của chúng ta nằm trong che chở của Đảng. Chúng ta tình thân như thủ túc, cho dù biển lửa bên cạnh, trẻ em hạnh phúc không phải sợ hãi, đã có cha chúng ta ở nơi đây. Trên thế giới này, chúng ta hạnh phúc nhất”.

Posted by: nguyenvan nam <nguyenvannam3750@gmail.com>

( Copy FB nhà báo Võ Văn Tạo )