
Thu dư ngân sách hơn 7 tỷ USD, Singapore ‘lì xì’ toàn dân – VTC News


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Tin Thế Giới

CÒN Ở VIỆTNAM THÌ MỖI NGÀY THẤY THUẾ TĂNG, RÒI LẠI THÊM MỤC THU PHÍ.

Tác giả: Joseph S. Nye
Dịch giả: Đỗ Kim Thêm
6-2-2018
Bằng chứng là hiển nhiên. Nhiệm kỳ tổng thống của ông Donald Trump đã xói mòn quyền lực mềm của Hoa Kỳ. Trong cuộc thăm dò gần đây của Viện Gallup ở 134 quốc gia, chỉ 30% số người đã có một cái nhìn thuận lợi cho Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của ông Trump, giảm gần 20 điểm kể từ nhiệm kỳ của tổng thống Barack Obama. Trung tâm Nghiên cứu Pew phát hiện rằng với mức tỷ lệ 30% là đồng tình, Trung Quốc đã đạt đến mức tương đương với Mỹ. Bảng chỉ số của nước Anh về Sức mạnh mềm 30 cho thấy là nước Mỹ đã trượt từ vị trí hàng đầu vào năm 2016 xuống thứ ba trong năm ngoái.
Những người ủng hộ cho ông Trump trả lời rằng, sức mạnh mềm không thành vấn đề. Ông Mick Mulvaney, Giám đốc Ngân sách của ông Trump, đã tuyên bố “ngân sách về quyền lực cứng” khi ông cắt giảm 30% ngân quỹ của Bộ Ngoại giao và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ. Đối với những người quảng bá cho chính sách “nước Mỹ trên hết”, thì những nơi khác còn lại của thế giới nghĩ gì, đó là chuyện thứ yếu. Họ có đúng không?
Sức mạnh mềm dựa vào sự thu hút hơn là ép buộc hoặc mua chuộc. Nó kết chọn con người thay vì cưỡng chế họ. Trên bình diện cá nhân, các bậc cha mẹ khôn ngoan biết là quyền lực sẽ lớn lao và lâu bền hơn khi họ đưa ra những tấm gương về giá trị đạo đức vững chắc cho con mình, thay vì họ dùng roi vọt, tặng tiền quà hay ngăn cản.
Cũng tương tự như vậy, các nhà lãnh đạo chính trị đã hiểu từ lâu là quyền lực đến từ khả năng lập ra nghị trình và quyết định khuôn khổ cho việc thảo luận. Nếu tôi có thể khiến cho bạn làm những gì mà tôi muốn, thì tôi không phải buộc bạn làm những gì mà bạn không muốn. Nếu Hoa Kỳ biểu hiện được các giá trị mà nước khác muốn theo đuổi, Hoa Kỳ có thể bớt đi chính sách dùng gậy và cà rốt. Thêm vào sức mạnh cứng, sự thu hút có thể là một tác lực của cấp số nhân.
Sức mạnh mềm của một quốc gia xuất phát chủ yếu từ ba nguồn lực: nền văn hóa (khi nó hấp dẫn nền văn hoá khác), các giá trị chính trị như dân chủ và nhân quyền (khi nước này sống phù hợp với các giá trị này) và các chính sách (khi các chính sách này được coi là chính thống vì nó nằm trong khuôn khổ với sự khiêm nhường và ý thức về quyền lợi của người khác. Những gì mà chính phủ áp dụng ở trong nước (ví dụ như bảo vệ báo chí tự do), trong các tổ chức quốc tế (tư vấn cho nước khác và chủ nghĩa đa phương) và trong chính sách đối ngoại (thúc đẩy phát triển và nhân quyền) có thể tác động đến người khác bằng ảnh hưởng của các tấm gương của mình. Trong tất cả các lĩnh vực này, ông Trump đã làm đảo ngược các chính sách gây thu hút của Mỹ.
Điều may mắn là nước Mỹ không chỉ có ông Trump hay chính phủ. Không giống tài sản thuộc về sức mạnh cứng (thí dụ như quân đội), nhiều nguồn lực do sức mạnh mềm khác biệt với chính phủ và chỉ đáp ứng một phần các mục đích của chính quyền. Trong một xã hội tự do, chính phủ không thể kiểm soát văn hoá. Thật vậy, việc thiếu các chính sách văn hoá chính thức có thể tự nó là một nguồn thu hút. Các bộ phim Hollywood như “The Post” thể hiện việc các phụ nữ độc lập và tinh thần tự do báo chí có thể thu hút người khác. Cũng có thể đó là công việc từ thiện của các đoàn thể Hoa Kỳ hay các lợi ích của quyền tự do nghiên cứu tại các trường đại học Hoa Kỳ.
Các doanh nghiệp, trường đại học, hiệp hội, tôn giáo và các đoàn thể phi chính phủ khác phát triển quyền lực mềm của họ theo khả năng riêng mà quyền lực mềm này có thể tăng cường hoặc làm phản tác dụng đối với các mục tiêu trong chính sách đối ngoại chính thức. Đó là một sự thật. Tất cả những nguồn lực thuộc về sức mạnh tư nhân này có thể sẽ trở nên quan trọng hơn trong thời đại thông tin toàn cầu. Đây là lý do tại sao các chính phủ đoán chắc rằng các hành động và chính sách riêng tạo ra và thúc đẩy chứ không phải là cắt giảm và phí phạm sức mạnh mềm của họ.
Các chính sách đối nội hoặc đối ngoại có vẻ là ngụy biện, kiêu căng, thờ ơ với quan điểm của người khác, hoặc dựa trên một khái niệm hẹp về lợi ích quốc gia có thể làm giảm sức mạnh mềm. Lấy ví dụ như trong các cuộc thăm dò dư luận được thực hiện vào năm 2003 sau cuộc xâm lược Iraq, sự suy giảm nặng nề về tính hấp dẫn của Hoa Kỳ là phản ứng đối với chính quyền của Tổng thống Bush và các chính sách của ông, chứ không phải là cho nước Mỹ nói chung.
Chiến cuộc Iraq không phải là chính sách đầu tiên của chính phủ làm cho Hoa Kỳ không được ưa chuộng. Trong thập kỷ 1970, nhiều người trên thế giới đã phản đối cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam và lập trường toàn cầu của Mỹ phản ánh tình trạng không được ưa chuộng của chính sách đó. Khi chính sách thay đổi và những ký ức của Mỹ mờ nhạt, Mỹ đã hồi phục được phần lớn sức mạnh mềm bị mất. Cũng tương tự như vậy, sau hậu quả của chiến cuộc Iraq, Hoa Kỳ đã tìm cách phục hồi phần lớn sức mạnh mềm ở hầu hết các nước trên thế giới (mặc dù ở Trung Đông là ít hơn).
Những người hoài nghi vẫn có thể lập luận rằng, sự thăng trầm về quyền lực mềm của Hoa Kỳ là không quan trọng, vì các quốc gia hợp tác nhau cho lợi ích riêng. Nhưng lập luận này bỏ qua một điểm chính: hợp tác là một vấn đề mức độ và mức độ bị ảnh hưởng bởi sự thu hút hoặc cự tuyệt. Hơn nữa, ảnh hưởng của các quyền lực mềm của một quốc gia sẽ mở rộng đến các tác nhân ngoài phạm vi của nhà nước – ví dụ như bằng cách hỗ trợ hoặc cho phép tuyển dụng hoặc ngăn trở bởi các tổ chức khủng bố. Trong thời đại thông tin, sự thành công không chỉ phụ thuộc vào quân đội của ai thắng, mà còn về chuyện thắng như thế nào.
Một trong những nguồn lực lớn nhất của quyền lực mềm của Mỹ là tinh thần cởi mở của tiến trình dân chủ. Ngay cả khi những chính sách lầm lạc làm giảm sức hấp dẫn của Mỹ, khả năng chỉ trích và sửa đổi của Mỹ khiến Mỹ trở nên thu hút đối với những người khác ở mức độ sâu xa hơn. Khi người biểu tình hải ngoại diễn hành chống chiến tranh Việt Nam, họ thường hát bài “Chúng ta phải vượt qua”, bản thánh ca của Phong trào Dân quyền Hoa Kỳ.
Chắc chắn là nước Mỹ cũng muốn vượt qua. Với kinh nghiệm trong quá khứ, có mọi lý do để hy vọng rằng Mỹ sẽ khôi phục lại quyền lực mềm sau thời của ông Trump.
***
Joseph S. Nye: Giáo sư Đại học Harvard; cựu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch Hội đồng Tình báo Quốc gia. Ông là tác giả của cuốn sách Is the American Century Over?
Nguyên tác: Donald Trump and the Decline of US Soft Power
***
Sách mới của dịch giả: Giới Thiệu Các Danh Tác Cổ Điển Và Hiện Đại Của Phương Tây
ĐIỀU ĐÓ CHẮC CHẮN ĐẾN, CHỈ SƠM HAY MUỘN THÔI.


Thực tế này đã được nhấn mạnh trong một bài viết trên Fox News ngày 16/2, tác giả là ông Marc Thiessen, một thành viên tại Viện Doanh nghiệp Hoa Kỳ (AEI), người từng là nhà viết kịch bản chính cho Tổng thống George W. Bush và Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld.

Xem các phương tiện truyền thông ca ngợi về phái đoàn Triều Tiên tại Thế vận hội Pyeongchang, ông Thiessen cho biết ông lại nhớ lại một bức ảnh mà cấp trên của ông, Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld, giữ dưới bàn làm việc của ông. Đó là một bức ảnh vệ tinh chụp bán đảo Triều Tiên vào ban đêm. Ở phía nam tràn đầy ánh sáng là Hàn Quốc tự do và dân chủ. Trong khi đó, ở phía bắc, Triều Tiên chìm trong bóng tối hoàn toàn, trừ một điểm sáng nhỏ bé ở thủ đô Bình Nhưỡng.
Ông Rumsfeld thường chỉ ra rằng, hai nước có cùng con người và cùng một nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, một bên đang phát sáng với ánh sáng tự do, đổi mới và năng động, còn bên kia lại bao bọc trong bóng tối của sự đau khổ của con người.

Trong hai tuần qua, Triều Tiên đang có cuộc “tấn công quyến rũ” tại Olympic ở Hàn Quốc, theo ông Thiessen. Kim Yo Jong, em gái của Kim Jong Un, không phải là “Ivanka của Triều Tiên”. Cô ta là Phó giám đốc Ủy ban tuyên truyền Đảng Lao động Triều Tiên, một lãnh đạo cao cấp của chế độ độc tài tàn bạo nhất trên trái đất, ông Thiessen bình luận. Như một người tị nạn Triều Tiên đã nói với tờ The Washington Post năm ngoái: “Nó giống như một tôn giáo. Từ khi sinh ra, bạn được học về gia đình Kim, được dạy rằng đó là những vị thần, rằng bạn phải hoàn toàn vâng lời gia đình họ Kim”.

Bất kỳ một nhận thức không trung thành nào với gia đình Kim có thể dẫn đến một cuộc viếng thăm vào giữa đêm từ Bowibu, cơ quan công an của Triều Tiên, không chỉ người phạm tội mà cả ba thế hệ người thân của họ có thể bị bắt đến một trại lao động và bị giam cầm ở đó cả đời.

Hệ thống các trại “cải tạo” của Triều Tiên, gần đây được Ủy ban Nhân quyền về Triều Tiên vẽ bản đồ, là khu vực trại giam rộng nhất trên thế giới. Dưới ba thế hệ của nhà họ Kim, hàng trăm ngàn người, nếu không phải hàng triệu người, đã bị bỏ tù và giết chết trong các trại này. Các tù nhân trải qua những hình thức tra tấn tàn nhẫn nhất, bao gồm bị móc treo lên trên các đống lửa, phụ nữ mang thai bị buộc vào cây trong khi con của họ bị cắt ra khỏi bụng.

Tuy nhiên, các trại cải tạo này chỉ đơn giản là nhà tù nằm trong một nhà tù lớn hơn. Toàn bộ đất nước này là một nhà tù khổng lồ. Bởi tình trạng suy dinh dưỡng lan rộng, người Triều Tiên thấp hơn người Hàn Quốc từ 30mm đến 78 mm. Và vì sự quản lý yếu kém về kinh tế, 97% các con đường không được trải nhựa. Theo ông Nicholas Eberstadt ở Viện Doanh nghiệp Hoa Kỳ, có tới một triệu người Triều Tiên chết trong nạn đói xảy ra sau sự sụp đổ của Liên Xô. Ông ghi nhận: “Đây là lần duy nhất trong lịch sử con người đã bị chết đói trong một xã hội văn minh, có văn hoá trong thời bình”.

Người dân Triều Tiên chết đói trong khi chế độ sử dụng nguồn lực của mình vào tham vọng triển khai tên lửa hạt nhân có khả năng tiếp cận và phá hủy các thành phố của Mỹ.
Ngay cả những người Triều Tiên trong giới tinh hoa cũng không được an toàn. Năm ngoái, Phó Bộ trưởng giáo dục Triều Tiên đã bị xử tử vì không giữ đúng tư thế của ông tại một sự kiện công cộng. Bộ trưởng Quốc phòng Hyong Yong Chol đã bị bắn chết bằng đại bác vì tội ngủ gật tại một cuộc diễu hành.
Và nếu bạn ngạc nhiên tự hỏi tại sao đội cổ vũ của Triều Tiên vẫn cổ vũ đồng đều một cách hoàn hảo như vậy, có thể vì họ đã nhìn thấy 11 nhạc công của Triều Tiên bị buộc vào cột và bị bắn bằng súng phòng không từng người một trước đám đông 10.000 người xem. Một nhân chứng nói: “Các nhạc công đã biến mất sau mỗi lần bị pháo bắn”, một nhân chứng cho biết, “thân thể của họ bị thổi bay hoàn toàn, máu và các mảnh vụn bay khắp nơi. Và sau đó, các xe tăng của quân đội tiến vào và cán qua các mảnh vụn trên mặt đất, nơi những mảnh thân xác còn sót lại”.

Đây là sự tàn bạo mà Kim Yo Jong, em gái của Kim Jong Un đại diện. Tuy nhiên, bất chấp thực tế tàn bạo này, các phương tiện truyền thông lại ca ngợi phái đoàn Triều Tiên. Reuters tuyên bố Kim Yo Jong là “người giành huy chương vàng ngoại giao tại Thế vận hội”. CNN đã phát biểu như thế nào, “Với một nụ cười, một cái bắt tay và một thông điệp ấm áp trong thư mời gửi tổng thống Hàn Quốc, Kim Yo Jong đã gây được thiện cảm với công chúng”. NBC thậm chí còn đăng lên Twitter một bức ảnh của đội cổ vũ Triều Tiên với tiêu đề “Điều này rất đáng để xem”. Đây có phải là điều nghiêm túc? NBC đã không đề cập đến điều đó trong năm 2005, khi mà 21 thành viên đội cổ vũ đã bị đưa đến một trại giam vì họ kể với người khác về những gì họ thấy ở Hàn Quốc.

Theo ông Thiessen, thay vì bình thường hóa chế độ tàn ác này, Olympic Pyeongchang lẽ ra phải là một cơ hội để các hãng truyền thông cho khán giả biết về cuộc sống thực tế ở Triều Tiên dưới sự cai trị gia đình họ Kim.
Minh Đức
Ít ngày sau khi chúc mừng năm mới Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Trung Quốc đã liên lạc với các binh sĩ của nước này trên quần đảo Hoàng Sa tranh chấp với Hà Nội.
Ông Tập hôm 12/2 đã trò chuyện với các binh sĩ của nước này đồn trú trên quần đảo mà Trung Quốc gọi là Tây Sa qua kết nối video, và hỏi họ chuẩn bị đón năm mới ra sao, theo Tân Hoa Xã.
Đây là một phần nỗ lực động viên tinh thần các quân nhân Trung Quốc nhân dịp Tết Nguyên đán của ông Tập.
Nguyên thủ còn làm chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc này cũng nhấn mạnh tới sự trung thành của lực lượng vũ trang quốc gia đông dân nhất thế giới.
Ba ngày trước, báo chí đưa tin rằng ông Tập đã gửi lời chúc mừng năm mới tới lãnh đạo đảng của Việt Nam, trong đó tuyên bố “sẵn lòng duy trì quan hệ gần gũi với đồng chí Tổng bí thư [Trọng] trong nỗ lực chung nhằm thúc đẩy mối quan hệ Việt – Trung và nâng mối bang giao đó lên tầm cao mới”.
Ám chỉ tới các hoạt động rầm rộ xây đảo trên Biển Đông của Bắc Kinh, bạn đọc Khanh Le viết trên trang Facebook của VOA tiếng Việt: “Có mời ra thăm HS [Hoàng Sa], TS [Trường Sa] để xem sự ‘phát triển đổi mới’ của vùng biển đảo này không?”
Lãnh đạo hai nước gửi lời chúc Tết Nguyên đán lẫn nhau một ngày sau khi quân đội Trung Quốc thông báo đã đưa các máy bay chiến đấu tới Biển Đông.
Ông Dương Danh Dy, chuyên gia về quan hệ Việt – Trung, nhận định với VOA Việt Ngữ rằng “Biển Đông sẽ là vấn đề lâu dài, sống còn và sống chết” giữa Hà Nội và Bắc Kinh.
Cựu quan chức ngoại giao từng làm việc nhiều năm ở Quảng Châu, Trung Quốc, nói thêm rằng Trung Quốc sẽ “không bao giờ từ bỏ tham vọng bành trướng hơn nữa, bá quyền hơn nữa” ở vùng biển tranh chấp giữa nhiều nước.
Trung Quốc đã chiếm toàn bộ Hoàng Sa sau trận hải chiến đẫm máu làm 74 binh sĩ Việt Nam Cộng hòa bỏ mạng ngày 19/1/1974.
Hôm 11/2, Đề đốc Lâm Ngươn Tánh, người trực tiếp chỉ huy trận hải chiến chống Trung Quốc, đã qua đời ở tiểu bang Virginia, Mỹ.
Ngoài một số cơ quan báo chí hải ngoại, không một tờ báo nào ở Việt Nam đưa tin về sự ra đi của tư lệnh hải quân cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa.
Trước Tết, truyền thông Việt Nam đã đăng nhiều bài viết về không khí đón Tết Mậu Tuất ở Trường Sa.
Tin cho hay, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đi thăm nhiều đơn vị vũ trang Việt Nam, nhưng không rõ có gọi điện chúc Tết các binh sĩ ở quần đảo nơi nơi Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền hay không.
(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link vn510.com hoặc vn73.com để vượt tường lửa)

Các nhà lãnh đạo Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ ngày 13/2 bày tỏ quan ngại về điều mà họ mô tả là những nỗ lực của Trung Quốc tiếp cận công nghệ nhạy cảm và tài sản trí tuệ của Mỹ thông qua các công ty Trung Quốc có liên hệ với chính phủ.
Thượng nghị sĩ Richard Burr bên đảng Cộng hòa, Chủ tịch Ủy ban, nêu lên những quan ngại về việc lan truyền công nghệ nước ngoài tại Mỹ mà ông gọi là “phản tình báo và những nguy cơ an ninh thông tin đính kèm với hàng hóa và dịch vụ của một số nhà buôn nước ngoài.”
“Tâm điểm quan ngại của tôi hiện nay là Trung Quốc, và đặc biệt là những công ty viễn thông Trung Quốc như Huawei và ZTE mà mọi người đều biết là có quan hệ đặc biệt với chính phủ Trung Quốc,” ông Burr nói.
Thượng nghị sĩ Mark Warner thuộc đảng Dân chủ, Phó Chủ tịch Ủy ban, cho biết ông cũng có những quan ngại tương tự.
“Tôi quan ngại về những quan hệ chặt chẽ giữa chính phủ Trung Quốc và những công ty công nghệ Trung Quốc, đặc biệt trong lãnh vực thương mại hóa công nghệ giám sát của chúng ta và những nỗ lực định hình thị trường trang thiết bị viễn thông,” ông Warner nói.
Cả hai Thượng nghị sĩ phát biểu tại một buổi điều trần thường niên của Ủy ban, nơi lãnh đạo các cơ quan gián điệp Mỹ điều trần về những đe dọa toàn cầu.
Một vài nhà lập pháp Mỹ gần đây đã chú ý đến các công ty công nghệ Trung Quốc.
Tuần qua, hai Thượng nghị sĩ Cộng hòa khác là Marco Rubio và Tom Cotton đệ trình dự luật ngăn chặn chính phủ Mỹ không được mua hay thuê các trang thiết bị viễn thông của Huawei Technologies Co Ltd hay ZTE Corp (0763.HK), viện dẫn những quan ngại là những công ty Trung Quốc sẽ lợi dụng sự tiếp cận này để do thám các giới chức Hoa Kỳ.
Các công ty này tuần qua không trả lời yêu cầu bình luận về dự luật này.
Vào năm 2012, những công ty này là đối tượng trong một cuộc điều tra của Mỹ về việc liệu những trang bị của họ có tạo cơ hội cho gián điệp nước ngoài và đe dọa hạ tầng cơ sở quan trọng của Hoa Kỳ hay không -điều mà họ luôn luôn phủ nhận.
(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link vn510.com hoặc vn73.com để vượt tường lửa)
Các nhà lãnh đạo Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ ngày 13/2 bày tỏ quan ngại về điều mà họ mô tả là những nỗ lực của Trung Quốc tiếp cận công nghệ nhạy cảm và tài…


Đức Bảo Phạm is with Lâm Đồng and 41 others.
NẾU VIỆT NAM ÁP DỤNG SẼ PHẢI TỐN RẤT NHIỀU ĐẠN
Năm 1961, tướng Park Chung Hee làm cuộc đảo chính quân sự thành công và lên làm Tổng thống Nam Hàn với Quốc sách: Tập trung sức phát triển kinh tế để biến Nam Hàn từ nghèo đói trở thành một đất nước giàu có.
Tháng 7/1961, trước 20.000 sinh viên Đại học Seoul ông đã nói:
“Toàn dân Nam Hàn phải thắt lưng buộc bụng trong 5 năm, phải cắn răng vào mà làm việc nếu muốn được sống còn. Làm thế nào trong vòng 10 năm chúng ta tạo được một nền kinh tế đứng đầu Đông Á, và 20 năm sau chúng ta trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới. Chúng ta sẽ bắt thế giới phải ngưỡng mộ chúng ta! Hôm nay có thể một số đồng bào bất đồng ý kiến với tôi. Nhưng xin những đồng bào ấy hiểu cho rằng Tổ Quốc quan trọng hơn quyền lợi cá nhân! Tôi không muốn mị dân! Tôi sẽ cương quyết ban hành một chính sách khắc khổ. TÔI SẼ ĐEM BẮN BẤT CỨ KẺ NÀO ĂN CẮP CỦA CÔNG DÙ CHỈ 1 ĐỒNG! Tôi sẵn sàng chết cho lý tưởng đã đề ra!…”.

Nguồn: Cardinal Mindszenty of Hungary sentenced, History.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1949, Hồng Y József Mindszenty, giáo chức Công giáo cao nhất Hungary, đã bị Toà án Nhân dân Cộng sản kết tội phản quốc và bị kết án tù chung thân. Các nhà quan sát ở Tây Âu và Hoa Kỳ đã tức giận, lên án phiên tòa và việc buộc tội Mindszenty là “gian dối” và “trái pháp luật.”
Hồng y Mindszenty đã quá quen với các vụ bắt bớ chính trị. Trong Thế chiến II, chính quyền phát xít của Hungary đã bắt giữ ông vì dám phát biểu lên án chiến dịch đàn áp người Do Thái trong nước. Sau chiến tranh, khi chế độ cộng sản lên nắm quyền tại Hungary, ông tiếp tục công việc chính trị của mình, tố cáo sự áp bức chính trị và thiếu tự do tôn giáo ở nước ông.
Năm 1948, chính phủ Hungary đã bắt giữ Hồng y. Mindszenty, cùng một số giáo chức khác của Giáo hội Công giáo, một nhà báo, một giáo sư, và một thành viên của gia đình hoàng gia Hungary, đã bị kết án vì những cáo trạng khác nhau trong một phiên xử ngắn của Toà án Nhân dân Cộng sản ở Budapest. Hầu hết đều bị buộc tội phản quốc, cố ý lật đổ chính phủ Hungary, và đầu cơ bằng ngoại tệ (chuyển tiền ra nước ngoài bất hợp pháp). Tất cả những người này, ngoại trừ Mindszenty, đã nhận được án tù từ một vài năm tới tù chung thân.
Hồng y Mindszenty là trọng tâm của phiên toà. Trong quá trình tố tụng, các công tố viên đã đưa ra một số tài liệu cho rằng Mindszenty có liên quan đến các hoạt động chống chính phủ. Đức Hồng y thừa nhận rằng ông “có tội, về mặt nguyên tắc và về chi tiết cụ thể, trong hầu hết các cáo buộc được đưa ra,” nhưng đã mạnh mẽ phủ nhận rằng các hoạt động của ông được thiết kế để lật đổ chính phủ Hungary. Tuy nhiên, ông vẫn bị luận tội và bị kết án tù chung thân.
Phản ứng trước các cáo buộc về Mindszenty đã diễn ra một cách nhanh chóng và đầy phẫn nộ. Ngoại trưởng Anh Ernest Bevin tuyên bố phiên xử là một sự sỉ nhục đối với hiểu biết của người Anh về tự do và công lý. Tòa thánh Vatican đã ban hành một tuyên bố rằng Hồng y là “người đạo đức và vô tội.” Chủ tịch Hạ viện Mỹ Sam Rayburn (thành viên Đảng Dân Chủ, đại diện bang Texas) tuyên bố rằng “những người Kitô hữu quá sốc trước phán quyết này.” Nhiều cuộc biểu tình đã được tổ chức tại một số thành phố của Mỹ, nhưng chúng vẫn không thể thay đổi bản án.
Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc cho thấy chiều sâu của phong trào chống cộng ở Hungary. Năm 1956, Mindszenty được thả ra khi một chính phủ cải cách lên nắm quyền tại Hungary. Một thời gian ngắn sau đó, quân đội Liên Xô đã vào Hungary để đàn áp các cuộc biểu tình đòi dân chủ. Mindszenty phải xin tỵ nạn tại Đại sứ quán Mỹ ở Budapest và đã ở lại trong tòa nhà Đại sứ quán cho đến năm 1971. Năm đó, ông được Vatican triệu hồi và đưa đi định cư tại Vienna, nơi ông qua đời vào năm 1975.
The Libertyweb: Mổ cướp nội tạng từ tử tù tại Trung Quốc vẫn không ngừng phát triển mạnh mẽ

Tại cuộc họp báo, ông David Matas, David Kilgour và Jacob Lavee đã trình chiếu một đoạn video dài 20 phút với tựa đề “Diệt chủng y khoa: Cuộc diệt chủng hàng loạt bị che giấu trong ngành công nghiệp cấy ghép tạng của Trung Quốc”. Họ cũng đưa ra nhiều nhận định khiến giới y khoa không khỏi bàng hoàng về thực trạng cấy ghép tạng tại Trung Quốc hiện nay.
Đoạn video đã cho thấy kết quả điều tra của ông Matas, ông Kilgour và nhà báo Ethan Gutmann trong suốt 10 năm qua về nạn thu hoạch tạng tại Trung Quốc, được thống kê chi tiết trong phiên bản mới nhất của cuốn sách Thu hoạch đẫm máu/Đại thảm sát: Bản cập nhật (Bloody Harvest/The Slaughter: An Update).

Các nhà điều tra đã dày công gọi điện thoại đến khảo sát 169 bệnh viện được phép thực hiện cấy ghép tạng ở Trung Quốc, cuối cùng đi đến kết luận rằng Trung Quốc tiến hành khoảng 60.000-100.000 ca ghép tạng mỗi năm. Trong khi đó, báo cáo chính thức của chính quyền Bắc Kinh khẳng định họ chỉ thực hiện 10.000 ca cấy ghép mỗi năm. Khoảng cách quá lớn giữa hai con số này đủ cho thấy chính quyền đang nói dối.
Vậy nguồn tạng khổng lồ đó đến từ đâu? Các nhà điều tra khẳng định đa số đến từ những người tập Pháp Luân Công, người Duy Ngô Nhĩ, người Tây Tạng và các tín đồ Cơ Đốc giáo.
Trong buổi họp báo, ông Kilgour đã phát biểu: “Ngay cả khi số lượng các ca ghép tạng mỗi năm là 50.000 ca, thì tính trung bình có 165 người bị giết mỗi ngày. Đa số tạng đến từ các tù nhân lương tâm vô tội, đặc biệt là người tập Pháp Luân Công. Mỗi ngày họ bị ép lao động cưỡng bức lên đến 16 giờ đồng hồ, sau đó bị đưa đi xét nghiệm tổng quan để xem nội tạng của họ có phù hợp cho cấy ghép hay không.”
Nói một cách thẳng thắn thì phẫu thuật cấy ghép tạng của Trung Quốc chính là “giết người theo nhu cầu”. Từ năm 1999, ngành cấy ghép tạng của Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng. Trung Quốc đã thực hiện hơn 1.000.000 ca cấy ghép nội tạng từ năm 2000 đến nay. Theo The Libertyweb, không ngẫu nhiên mà cột mốc này trùng khớp với thời điểm khai màn cuộc bức hại Pháp Luân Công. Ngay khi cuộc bức hại bắt đầu, hàng chục ngàn người tập Pháp Luân Công đã bị bắt giữ, đưa đến các cơ sở tẩy não hay các trại lao động. Để đối phó với nhu cầu cấy ghép tạng ngày càng tăng cao, chính quyền Bắc Kinh đã quyết định xây dựng cơ sở dữ liệu y tế, rồi giết những người tập Pháp Luân Công này để thu hoạch nội tạng.
Tại Mỹ, thời gian chờ đợi tạng hiến tặng phù hợp để cấy ghép lên đến 2-3 năm, trong khi ở Trung Quốc, chỉ cần không đến 2 tuần là có thể tìm được tạng cấy ghép, có trường hợp cá biệt tạng được cung cấp chỉ trong vài giờ đồng hồ. Điều này đã cho thấy thực tế rằng, các cơ sở cấy ghép tại Trung Quốc phải có sẵn một “kho dự trữ tạng sống khổng lồ” và đó chính là những người tập Pháp Luân Công.
Trong cuộc họp báo, bác sĩ Lavee cũng nhận định: “Không ai biết trước khi nào mình sẽ chết [trong trường hợp tự nguyện hiến tạng], do đó chúng ta không thể lên kế hoạch ghép tạng vào một thời điểm nhất định nào đó. Nhưng ở Trung Quốc, người ta có thể lên lịch phẫu thuật cấy ghép chỉ trong 1-2 tuần là bởi họ có thể hành quyết những người tập Pháp Luân Công bị cầm tù và mổ lấy tạng trong cùng một ngày.”
Ông Matas còn nhấn mạnh: “Ở Trung Quốc, việc kiểm tra sức khỏe và xét nghiệm máu các tù nhân chính là để thiết lập cơ sở dữ liệu cho ghép tạng. Nói cách khác, những người cung cấp tạng đã bị liệt vào ‘danh sách chờ đợi’ và khi ai đó có nhu cầu ghép tạng, họ sẽ bị hành quyết để lấy nội tạng.”
Thông qua khảo sát, bác sĩ Lavee chỉ ra rằng, có một số bệnh nhân Nhật Bản sang Trung Quốc để du lịch ghép tạng: “Ít nhất 66 bệnh nhân Nhật đã cấy ghép nội tạng ở Trung Quốc. Điều này là do bảo hiểm y tế Nhật Bản có thể được sử dụng ở nước ngoài.” Để so sánh, bác sĩ Lavee nêu ra tình huống tại Israel, luật cấy ghép được quốc gia này thông qua vào năm 2008. Theo đó, nếu một người Israel đến cấy ghép ở một đất nước bị liệt vào đối lập chính trị với Israel, bảo hiểm không chi trả cho hoạt động này. Do đó mà gần như không có bệnh nhân Israel đến Trung Quốc ghép tạng. Nhật Bản cũng nên thiết lập điều luật như vậy.
The Liberty Web cũng kêu gọi chính phủ Nhật Bản không thể để cho một tội ác kinh hoàng như vậy vẫn tiếp tục, đồng thời, các bác sĩ y khoa cũng nên ngăn cản bệnh nhân đến Trung Quốc ghép tạng và giúp nhiều người hơn biết đến tội ác tàn bạo đang diễn ra trong ngành cấy ghép tạng ở Trung Quốc, bởi xét về bản chất thì nó không khác gì những vụ thảm sát hàng loạt của Hitler và Stalin trong quá khứ.
Hiện nay, giới y khoa nói riêng và chính phủ nhiều quốc gia nói chung đã nhận thức rõ về vấn nạn mổ cướp nội tạng ở Trung Quốc và ban hành các điều luật nhằm hạn chế người dân đến quốc gia này du lịch ghép tạng. Mới đây, các nghị sĩ Quốc hội Úc đã xem xét việc mở rộng bổ sung điều khoản pháp luật nhằm ngăn chặn nạn buôn bán nội tạng người, và quy định rõ hành động ra nước ngoài ghép tạng của công dân Úc chính là phạm tội. Trước đó, Đài Loan, Ý, Tây Ban Nha và Israel đều đã thông qua điều luật cấm công dân đến Trung Quốc ghép tạng.
Minh Ngọc

Nguồn: Chris Patten, “China’s New Emperor”, Project Syndicate, 25/10/2017.
Biên dịch: Nguyễn Lương Sỹ | Biên tập: Lê Hồng Hiệp
Một giai thoại về chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon vào năm 1972 từ lâu được xem như là sự chứng thực cho tầm nhìn dài hạn của các nhà lãnh đạo Trung Quốc về lịch sử. Chu Ân Lai, nhân vật số hai mẫn cán của Mao Trạch Đông, được cho là đã trả lời câu hỏi về các bài học của cuộc Cách mạng Pháp bằng cách nói rằng còn quá sớm để nói lên được điều gì. Nhưng thực tế, theo các nhà ngoại giao có mặt ở đó, Chu không tranh luận về cuộc cách mạng năm 1789, mà là về phong trào nổi dậy của sinh viên ở Paris năm 1968, do đó có lẽ đúng là vẫn còn quá sớm để có thể nói lên điều gì.
Sau sự hiểu lầm này, bài học từ cuộc Cách mạng Pháp đã trở lại với Trung Quốc. Ngay sau Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 vào năm 2012, cuốn The Old Regime and the Revolution (Chế độ cũ và Cách mạng) của Alexis de Tocqueville viết năm 1856 đã trở thành cuốn sách “phải đọc” dành cho cán bộ cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Giá trị của cuốn sách được ca ngợi nhiệt tình nhất bởi Vương Kỳ Sơn, người chèo lái chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình và có lẽ là đồng minh thân cận nhất của chủ tịch Tập.
Toqueville lập luận rằng sự thịnh vượng ngày càng cao của nước Pháp thế kỷ 18 đã thực sự khiến cho việc quản lý đất nước này trở nên khó khăn hơn. Khi người dân trở nên giàu có, họ cũng đồng thời quan tâm nhiều hơn đến bất bình đẳng kinh tế và xã hội và do vậy sự bất bình đối với những người có quyền lực và giàu có ngày càng gia tăng. Những nỗ lực cải cách hệ thống chỉ làm nổi bật thêm tình trạng dễ tổn thương của chính nó. Cách mạng đã theo sau, quét sạch nền quân chủ và tầng lớp quý tộc. Đầu họ đã rơi.
Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 19 mới kết thúc của Trung Quốc đã cho thấy mức độ nằm lòng quan điểm của Toqueville trong giới lãnh đạo Trung Quốc. Ông Tập đã khẳng định quyền lực không tranh cãi của mình đối với Đảng và quốc gia. Tập Cận Bình củng cố vị thế của mình trong suốt nhiệm kỳ đầu tiên, bằng cách đảo ngược phần lớn di sản để lại của Đặng Tiểu Bình, bao gồm việc mở cửa nền kinh tế, tách bạch Đảng ra khỏi chính quyền, và đường lối “giấu mình chờ thời” về chính sách đối ngoại và an ninh.
Tập cũng triệt tiêu các đối thủ tiềm tàng, chủ yếu dựa vào chiến dịch chống tham nhũng sâu rộng nhắm đến các quan chức từng được xem là không thể đụng đến. Ông đã giám sát cuộc thanh trừng lớn nhất từ trước tới nay tại Ủy ban Trung ương Đảng. Ông thẳng tay đàn áp cả những chỉ trích và dấu hiệu bất đồng chính kiến dè dặt nhất, và thậm chí cấm truyện cười trên Internet, gồm cả những hình ảnh hài hước so sánh ông với chú gấu Winnie the Pooh.
Nếu ở một quốc gia khác, những phương thức như vậy có thể gây ra chỉ trích gay gắt, với những cáo buộc rằng hành vi của Tập đã đưa đất nước trở lại chế độ độc tài kiểu Leninist cũ kỹ. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, những phương thức này đã thu hút được những lời ca ngợi từ giới quan sát, những người tin rằng ông Tập đang dẫn dắt con đường hiện thực hóa “giấc mơ Trung Hoa” nhằm phục hưng đất nước.
Nhưng, đối với một vài người, giấc mơ đó đang trên bờ vực trở thành cơn ác mộc. Các xu hướng dân số đang đe dọa biến sự dư thừa lao động vốn mang lại tốc độ tăng trưởng cao cho Trung Quốc trong những thập niên vừa qua thành thiếu hụt lao động với tốc độ chưa từng có. Ô nhiễm và khan hiếm nguồn nước, cùng với phát thải khí CO2 và mức độ ô nhiễm không khí gây chết người đang đe dọa sức khỏe người dân và hủy hoại sự bền vững của nền kinh tế Trung Quốc.
Ngoài ra, tăng trưởng GDP của Trung Quốc, mặc dù rất đáng hoan nghênh, lại đang được tiếp sức chủ yếu bởi sự kết hợp các khoản nợ đang tăng nhanh và bong bóng tài sản tràn lan. Thậm chí các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng thừa nhận rằng đất nước của họ đang có một trong những mức độ bất bình đẳng thu nhập lớn nhất trên thế giới. Khi mà người nghèo ngày càng nghèo đi, và người giàu mỗi lúc một giàu hơn, nhiều người đang đặt câu hỏi rằng liệu “chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc” thực sự nghĩa là gì.
Dĩ nhiên, luôn luôn có những người lạc quan mang lại những suy nghĩ tích cực. Phần lớn khoản nợ của Trung Quốc là nợ trong nước, bởi lẽ các ưu tiên chính trị đã định hướng việc vay mượn bên cạnh các cân nhắc về mặt thương mại. Trung Quốc ủng hộ các nỗ lực quốc tế nhằm giải quyết suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu. Phần lớn người dân trở nên khá giả hơn, dù không đồng đều. Và chính quyền của Tập ít nhất cũng đang làm điều gì đó nhằm tiêu diệt tình trạng tham nhũng tràn lan trong Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Chúng ta đều nên hy vọng rằng ít nhất cũng có một vài điều mà những người lạc quan về Trung Quốc nói là đúng; nếu sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sụp đổ, tất cả nền kinh tế toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng. Nhưng, ngay cả khi những người lạc quan đã đúng, thì tuyên bố của ông Tập rằng Trung Quốc đã tìm ra được con đường tốt hơn để vận hành một xã hội và nền kinh tế hiện đại dường như còn lâu mới đúng với thực tế.
Chắc chắn rằng, từ những trò hề ngớ ngẩn của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đến sự trỗi dậy đầy tàn phá của chủ nghĩa dân tộc dân túy ở châu Âu, các quốc gia dân chủ đang phải trải qua phần thử thách của mình. Nhưng các hệ thống dân chủ đều có các cơ chế ổn định hóa nội tại vốn cho phép chúng tự điều chỉnh mà không cần đến việc sử dụng bạo lực hay đàn áp.
Nhưng đó không phải là trường hợp của Trung Quốc dưới thời Tập Cần Bình. Có một tranh luận nghiêm trúc ở Trung Quốc suốt nhiều năm về vai trò đúng đắn của nhà nước trong quan hệ kinh tế. Một phe cho rằng nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc nới lỏng sự kiểm soát nền kinh tế, họ sẽ không tránh khỏi việc mất kiểm soát đối với nhà nước. Những người khác biện luận ngược lại: trừ khi Đảng từ bỏ bớt việc kiểm soát nền kinh tế, họ sẽ mất quyền lực chính trị, vì các mâu thuẫn kinh tế sẽ nhân rộng và sự phát triển trở nên kém bền vững hơn. Ông Tập rõ ràng đã nằm trong nhóm ủng hộ vai trò lớn hơn của nhà nước.
Nhưng không chỉ có Đảng là đối tượng mà ông Tập làm gia tăng quyền lực, ông cũng gia tăng quyền lực cho cả chính mình. Thực tế, khó để biết được ai đang thăng cấp trong nấc thang quyền lực của Đảng và ai sẽ bị triệt hạ bởi bất đồng ý kiến với nhà lãnh đạo tối cao. Điều đó không ngăn cản được những người ngoài cuộc suy đoán, nhưng trò chơi phỏng đoán này cũng chẳng có ích gì. Tập, cũng giống như bất kỳ vị hoàng đế nào khác, sẽ tiếp tục bổ nhiệm những cận thần đi theo con đường mà ông dẫn dắt.
Nhưng quyền lực cao sẽ đi kèm với trách nhiệm lớn – và, ở điểm này, quyền lực của Tập gần như tuyệt đối. Đó sẽ là gánh nặng cho một người duy nhất. Tập có thể thông minh hơn nhiều so với Trump (vốn không phải là một đối thủ khó khăn để vượt qua), nhưng điều đó là không đủ để bảo đảm một tương lai ổn định và thịnh vượng cho Trung Quốc. Và, nếu mọi thứ chệch hướng, tất cả đều biết sẽ phải đổ lỗi cho ai. Đó là lý do tại sao các triều đại độc tài thường có chung một kết cục. Chẳng cần phải đọc Toqueville mới nhận ra điều này.
Chris Patten, Thống đốc người Anh cuối cùng của Hong Kong và cựu Ủy viên đối ngoại của Liên minh châu Âu, là Hiệu trưởng trường Đại học Oxford.
Giàu có và nhiều quyền lực vẫn không bình an, hạnh phúc?
HAVANA, Cuba (AP) – Người con trai lớn nhất của cố lãnh tụ Fidel Castro vừa tự tử hôm Thứ Năm, sau nhiều tháng bị bệnh trầm cảm, truyền thông nhà nước Cuba cho biết.
Năm nay ông 68 tuổi.
Trang web chính thức Cubadebate nói ông Fidel Castro Diaz-Balart lâu nay trong “tình trạng trầm cảm nặng.”
Một thông báo ngắn trên truyền hình nhà nước nói rằng cách chữa trị cho ông “buộc ông phải vào bệnh viện, rồi sau đó cho về nhà theo dõi tiếp.”
Người con trai lớn nhất này của ông Castro có nét giống người cha nhất, nên thường được người ta gọi là “Fidelito” hoặc “Little Fidel.”
Ông Castro Diaz-Balart học vật lý nguyên tử ở Liên Xô và là cố vấn khoa học trong Hội Đồng Nhà Nước Cuba. Ông cũng là phó chủ tịch Học Viện Khoa Học Cuba, và từng đứng đầu chương trình nguyên tử của học viện này.
Ông là con người vợ đầu tiên của ông Fidel Castro, bà Mirta Diaz-Balart, một phụ nữ thuộc tầng lớp quý tộc Cuba.
Ông Fidel Castro lập gia đình với bà từ hồi còn trẻ, trước khi bắt đầu cuộc cách mạng mà sau đó đưa ông và người em, Raul Castro, lên nắm quyền lãnh đạo Cuba.
Vì thế, về phía họ ngoại, ông Castro Diaz-Balart là anh em họ với Dân Biểu Mario Diaz-Balart, thuộc đảng Cộng Hòa và đại diện cộng đồng Cuba lưu vong ở Florida.
Ông Fidel Castro qua đời hồi Tháng Mười Một, 2016 ở tuổi 90.
Ông Raul Castro, chủ của ông Fidel Castro Diaz-Balart, hiện là chủ tịch Cuba. (Đ.D.)