Chủ nhân Nobel Hòa bình 2026 Navi Pillay từng nói gì về nhân quyền tại Việt Nam? (BBC)

 (BBC)

Bà Navi Pillay, cựu Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc, đã được trao Giải Nobel Hòa bình 2026. Bà từng lên tiếng về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam.

Theo thông báo hôm 9/10 của Ủy ban Nobel Na Uy, bà Navi Pillay được vinh danh nhờ những nỗ lực thúc đẩy hòa bình và luật pháp quốc tế.

Chủ tịch Ủy ban Nobel Na Uy Jørgen Watne Frydnes đánh giá bà Pillay đã “mở rộng đáng kể phạm vi và tầm ảnh hưởng của luật pháp quốc tế”, góp phần xây dựng một trật tự pháp lý toàn cầu toàn diện hơn với “lòng can đảm đặc biệt”.

Ông cũng ca ngợi sự nghiệp kéo dài nhiều thập niên của bà, bắt đầu từ vai trò luật sư tại Nam Phi, nơi bà đấu tranh chống phân biệt đối xử và bất công. Theo ông, bà Pillay là người có “kim chỉ nam đạo đức vững vàng”.

Giải Nobel Hòa bình năm nay đánh dấu năm thứ 126 giải thưởng được trao. Riêng năm nay, tổng cộng có 287 đề cử, gồm 208 cá nhân và 79 tổ chức.

Chủ nhân Nobel Hòa bình 2026 có tên đầy đủ là Navanethem “Navi” Pillay, sinh năm 1941 tại Durban, Nam Phi. Bà xuất thân trong một gia đình gốc Tamil đến từ miền nam Ấn Độ.

Là một luật gia, bà từng giữ chức cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc giai đoạn 2008-2014 và nổi tiếng với các hoạt động bảo vệ nhân quyền, công lý quốc tế và trách nhiệm giải trình đối với các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế.

Trên cương vị của mình tại Liên Hợp Quốc, bà từng lên tiếng về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam.

Theo thông tin chính thức trên website của Liên Hợp Quốc, hồi năm 2012, bà Pillay đã bày tỏ quan ngại sâu sắc về việc tòa án tuyên những bản án nặng đối với các nhà báo và blogger tại Việt Nam, cho rằng điều này phản ánh xu hướng ngày càng siết chặt tự do ngôn luận trong nước, đặc biệt đối với những người sử dụng internet để bày tỏ ý kiến chỉ trích nhà nước.

Vào thời điểm đó, ba blogger đã bị tuyên án tù nhiều năm với cáo buộc “tuyên truyền chống Nhà nước” theo Điều 88 Bộ luật Hình sự, gồm ông Nguyễn Văn Hải (tức Điếu Cày), bà Tạ Phong Tần và ông Phan Thanh Hải.

“Những bản án tù nặng dành cho các blogger là minh chứng cho những hạn chế nghiêm trọng đối với quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam,” bà Pillay nói.

Bà Pillay lưu ý rằng việc tòa án đưa ra phán quyết chỉ sau vài giờ nghị án đặt ra những câu hỏi về quyền được xét xử đúng trình tự pháp luật và quyền được xét xử công bằng của các bị cáo.

Bà cũng bày tỏ quan ngại trước các thông tin cho rằng một số người ủng hộ đã bị tạm giữ và ngăn cản tham dự phiên tòa.

Bà nhắc lại rằng trong đợt Rà soát Định kỳ Phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đối với hồ sơ nhân quyền của Việt Nam năm 2009, Việt Nam đã thừa nhận một số khuyến nghị liên quan đến quyền tự do ngôn luận, trong đó có cam kết “bảo đảm đầy đủ quyền tiếp nhận, tìm kiếm và truyền tải thông tin, ý tưởng phù hợp với Điều 19 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị.”

Theo bà Pillay, các bản án nêu trên là “một diễn biến đáng tiếc, làm suy yếu những cam kết mà Việt Nam đã đưa ra trước cộng đồng quốc tế, bao gồm trong khuôn khổ UPR, về việc bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do ngôn luận.”

Bà Pillay cũng từng giữ chức Chủ tịch Tòa án Hình sự Quốc tế về nạn diệt chủng Rwanda từ cuối thập niên 1990 đến đầu những năm 2000.

Gần đây hơn, bà là thành viên của Ủy ban Điều tra Quốc tế Độc lập về Lãnh thổ Palestine bị chiếm đóng, một cơ quan do Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc thành lập vào năm 2021.

Vào tháng 6/2024, báo cáo từ ủy ban này kết luận cả Hamas và các nhóm vũ trang Palestine, cũng như quân đội Israel, đều có dấu hiệu phạm các tội ác chiến tranh trong xung đột bùng phát từ ngày 7/10/2023.

Đối với Hamas, ủy ban cho rằng có bằng chứng về việc cố ý sát hại dân thường, bắt cóc con tin, tra tấn, bạo lực tình dục và tấn công bừa bãi bằng đạn pháo phản lực vào các khu dân cư Israel.

Đối với Israel, báo cáo ghi nhận các cuộc không kích, bao vây và các biện pháp quân sự tại Gaza đã gây thương vong rất lớn cho dân thường và có thể vi phạm luật nhân đạo quốc tế.

Ủy ban kêu gọi tất cả các bên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và yêu cầu tiến hành các cuộc điều tra độc lập đối với những hành vi vi phạm bị cáo buộc.

Hồi tháng 10/2025, khi trình bày báo cáo mới nhất của Ủy ban Điều tra quốc tế về các cáo buộc vi phạm nhân quyền tại các vùng lãnh thổ Palestine bị chiếm đóng, bà Navi Pillay cho biết các kết luận của ủy ban dựa trên phân tích pháp lý được thực hiện theo Công ước về Ngăn ngừa và Trừng phạt Tội diệt chủng.

“Chúng tôi kết luận rằng Nhà nước Israel phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện bốn hành vi cấu thành tội diệt chủng tại Gaza, với mục đích cụ thể là hủy diệt người Palestine ở Gaza,” bà nói.

Bà mô tả tình hình tại Gaza là “cuộc tấn công tàn bạo nhất, kéo dài nhất và trên diện rộng nhất nhằm vào người Palestine trong lịch sử.”

Trong lịch sử, Giải Nobel Hòa bình đã được trao 106 lần cho 143 chủ nhân, bao gồm 112 cá nhân và 31 tổ chức, trong đó có bốn tổng thống Mỹ là Theodore Roosevelt, Woodrow Wilson, Jimmy Carter và Barack Obama.

Malala Yousafzai hiện vẫn là người trẻ nhất từng nhận giải khi được vinh danh năm 2014 ở tuổi 17.

Năm 1973, chính khách Việt Nam Lê Đức Thọ được trao giải Nobel Hòa bình vì cùng tham gia đàm phán thỏa thuận ngừng bắn tại Việt Nam. Tuy nhiên, ông Thọ đã từ chối nhận giải với lý do thỏa thuận ngừng bắn đã bị vi phạm.

Người nhận giải được trao một huy chương vàng 18 carat khắc chân dung Alfred Nobel, một bằng chứng nhận và 12 triệu kronor Thụy Điển (khoảng 1,2 triệu USD, khoảng 31 tỷ đồng) tiền thưởng.

Người được trao Nobel Hòa bình năm 2025 là lãnh đạo đối lập Venezuela María Corina Machado, được vinh danh vì “những nỗ lực không mệt mỏi trong việc thúc đẩy các quyền dân chủ cho người dân Venezuela”.

Đầu năm 2026, sau khi chính quyền Mỹ bắt giữ Tổng thống Venezuela khi đó là Nicolás Maduro, bà Machado đã trao huy chương Nobel của mình cho Tổng thống Donald Trump trong chuyến thăm Nhà Trắng ngày 15/1 như một sự ghi nhận đối với “cam kết đặc biệt dành cho sự tự do của chúng tôi”.

Tuy nhiên, ngay ngày hôm sau, Ủy ban Nobel Na Uy ra tuyên bố nhấn mạnh rằng bất kể tấm huy chương thuộc về ai, người được lịch sử ghi nhận là chủ nhân của Giải Nobel Hòa bình vẫn là người được trao giải ban đầu.

Theo phóng viên chuyên về Nhà Trắng Bernd Debusmann Jr của BBC, Tổng thống Mỹ Donald Trump từ lâu đã xem việc giành giải Nobel Hòa bình là một mục tiêu chưa hoàn thành.

Ông từng nhiều lần chỉ trích việc ông Barack Obama được trao giải Nobel Hòa bình năm 2009, cho rằng giải thưởng đó là không xứng đáng và “không vì điều gì cả”.

Sự quan tâm của ông Trump đối với giải Nobel trở nên rõ rệt hơn trong nhiệm kỳ đầu, đặc biệt sau cuộc gặp lịch sử với nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un. Khi đó, ông từng nói rằng “mọi người đều nghĩ” ông xứng đáng nhận giải.

Sau khi tái xuất Nhà Trắng, ông Trump thường xuyên tuyên bố mình đã góp phần chấm dứt “tám cuộc chiến tranh”, dù tuyên bố này gây nhiều tranh cãi, và cho rằng điều đó đủ để ông được trao Nobel Hòa bình.


 

Giá dầu vượt $105, chứng khoán lao dốc vì Trump dự định tái tấn công Iran

Ba’o Nguoi-Viet

October 8, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Thị trường năng lượng ở Mỹ bắt đầu một ngày Thứ Năm, 8 Tháng Mười với những bảng giá và con số không dễ chịu. Giá dầu thô Brent tăng hơn 5%, vượt mốc $105/thùng trong phiên giao dịch đầu ngày, trong khi giá dầu thô Mỹ tăng gần 5%, lên mức gần $93/thùng.

Giá dầu tăng cũng đẩy lợi suất trái phiếu lên cao. Lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn mười năm, vốn là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến lãi suất vay của người tiêu dùng, tăng vọt lên mức 5.35%. Lợi suất của các loại trái phiếu kho bạc khác cũng đều tăng.

Tổng Thống Donald Trump trong cuộc vận động tranh cử ở Nebraska hôm 5 Tháng Mười. (Hình minh họa: Win McNamee/Getty Images)

Theo NBC News, điều này diễn ra trong bối cảnh Tổng Thống Donald Trump đang cân nhắc việc tái khởi động các hoạt động quân sự quy mô lớn của Mỹ nhằm vào Iran trong những tuần tới. Thông tin về khả năng chính quyền Trump nối lại các cuộc tấn công vào Iran do tờ The Atlantic đưa tin đầu tiên hôm Thứ Tư, 8 Tháng Mười.

Theo CNN hôm Thứ Năm, dữ liệu sơ bộ từ Kpler cho thấy chỉ có bảy tàu chở dầu đi qua eo biển Hormuz vào Thứ Ba. Con số này thấp hơn một nửa so với mức trung bình một tuần và là mức thấp nhất kể từ ngày 23 Tháng Bảy.

Cũng theo CNN, giá dầu tăng đi kèm với sự leo thang của giá khí đốt tự nhiên và dầu diesel tại Châu Âu, gây lo ngại về lạm phát và góp phần tạo ra đợt bán tháo mới trên thị trường trái phiếu Châu Âu, trong bối cảnh khu vực này phụ thuộc nhiều vào nguồn năng lượng nhập khẩu. Giá dầu diesel chuẩn tăng 4.5% tại thị trường Châu Âu. Giá dầu sưởi, loại nhiên liệu thường được dùng làm thước đo tham chiếu cho giá nhiên liệu phi cơ, tăng hơn 4%.

Giá khí đốt tự nhiên chuẩn tại Châu Âu tiến sát mức đỉnh gần trong phiên giao dịch ngày Thứ Năm trước khi giảm nhẹ. ICE Gasoil, chỉ số tham chiếu cho giá dầu diesel tại Châu Âu, đóng cửa với mức tăng 6% vào Thứ Tư, sau khi Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế (IEA) thông báo rằng các chính phủ thành viên sẽ không bổ sung thêm vào lượng 400 triệu thùng dầu mà họ cam kết tung ra hồi Tháng Ba.

Chứng khoán Mỹ cũng giảm điểm trước diễn biến này. Chỉ số S&P 500 giảm 0.6%, trong khi Nasdaq 100 giảm 0.8%. Chỉ số Russell 2000, vốn theo dõi các công ty quy mô vừa và nhỏ, cũng giảm 1%, theo NBC News cho biết.

Mặc dù, các nguồn tin am hiểu về các cuộc thảo luận nói với NBC News rằng hiện vẫn chưa có quyết định nào được đưa ra về việc nối lại các hoạt động tác chiến tại Iran. Nhưng các chuyên gia thị trường dầu mỏ và hàng hóa nhiều lần cảnh báo rằng bất kỳ sự leo thang xung đột nào liên quan đến Iran cũng sẽ đẩy giá dầu tăng cao hơn nữa.

“Thị trường vẫn đang đối mặt với những rủi ro đáng kể,” ông Francisco Blanch, giám đốc bộ phận hàng hóa toàn cầu của Bank of America, nhận định vào đầu Tháng Chín. Ông cho rằng nếu các cuộc đụng độ gây cản trở dòng chảy dầu mỏ tiếp diễn đến cuối năm, giá dầu Brent có thể dao động trong khoảng $95 – $120/thùng.

“Trong khi đó, một cuộc xung đột quy mô lớn hơn gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng năng lượng trọng yếu có thể khiến giá dầu tăng vọt, thậm chí lên tới $150/thùng,” ông nói thêm, theo NBC News. (KL) [dt]


 

Hàng chục ngàn học sinh biểu tình trên khắp nước Pháp với sự tham gia của sinh viên

RFI

Hàng chục ngàn học sinh trung học biểu tình trên khắp nước Pháp hôm nay, 06/10/2026, trong một đợt huy động mới dưới sự giám sát chặt chẽ của nhà chức trách, đối mặt với một phong trào đầy bạo lực có nguy cơ lan rộng sang các trường đại học. Yêu sách của các học sinh đòi tăng nguồn lực cho trường học đã nhận được sự ủng hộ từ các công đoàn. Các tổ chức này kêu gọi nhân viên ngành giáo dục cùng xuống đường với học sinh tại Paris và khoảng 30 thành phố khác.

Đăng ngày: 06/10/2026 

Học sinh tập trung bên ngoài trường trung học Lycée Charles Peguy ở Paris bày tỏ sự phẫn nộ về tình trạng lớp học quá tải, thiếu giáo viên và các tòa nhà trường học xuống cấp, Paris, ngày 06/10/2026. REUTERS – Tom Nicholson

Thanh Phương

Theo hãng tin AFP, tại Paris, khoảng 2.000 cảnh sát và hiến binh sẽ được triển khai để giám sát cuộc tuần hành, do các hoạt động phong tỏa trường học và các cuộc tập hợp trong thời gian qua thường dẫn đến các vụ đập phá và đụng độ với lực lượng an ninh.

Theo số liệu của chính phủ, kể từ khi phong trào bắt đầu ngày 17/09 tại vùng Paris, hơn 5.000 người, phần lớn là vị thành niên, đã bị cảnh sát tạm giữ và 215 học sinh bị thương. Bên phía cảnh sát và hiến binh, có hơn 700 người bị thương. Ngoài ra có gần một trăm nhân viên ngành giáo dục bị thương.

Theo bộ Giáo Dục, trong số 3.700 trường trung học trên cả nước, số trường bị gián đoạn hoạt động hôm qua đã giảm xuống còn 589, so với con số gần 800 vào thứ Sáu (02/10) tuần trước. Tuy nhiên, bộ trưởng Giáo Dục Đại học Philippe Baptiste lo ngại nguy cơ bùng phát trên toàn quốc trong các cuộc biểu tình hôm nay, vì sinh viên đại học sẽ tham gia xuống đường cùng học sinh trung học. Tính đến hôm qua, đã có 32 cơ sở đại học bị phong tỏa.

Mặc dù bị các công đoàn cáo buộc sử dụng vũ lực thái quá, chính phủ Pháp vẫn tỏ thái độ cứng rắn đối với các vụ bạo lực và quy trách nhiệm cho đảng cực tả Nước Pháp Bất Khuất (La France Insoumise – LFI). Đảng này tuyên bố “lấy làm tiếc” về tình trạng bạo lực, đồng thời chỉ trích chính phủ đã “đánh đồng” toàn bộ phong trào với những vụ gây rối riêng lẻ. 

Giới trẻ mất tin tưởng vào chính giới

Theo kết quả một cuộc khảo sát được công bố hôm nay, gần 8 trong số 10 người trẻ (78%) tin rằng các lãnh đạo chính trị “làm chưa tốt việc chuẩn bị cho tương lai của họ” và 64% “không tin tưởng” các ứng cử viên tổng thống sẽ quan tâm đến những vấn đề của họ. Trong cuộc khảo sát trực tuyến do viện thăm dò Ipsos/BVA thực hiện từ ngày 23/07 đến 05/08, chỉ có một phần tư số người trẻ cảm thấy “các lãnh đạo chính trị gia thấu hiểu những khó khăn thường nhật của họ” và “đưa ra các quyết định mang lại lợi ích tốt nhất cho giới trẻ“. Tuy vậy, 80% người trẻ cho biết sẽ tham gia bỏ phiếu trong cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 04/2027.


 

Nhưng Hugh O’Flaherty vẫn tiếp tục bước qua

Những Câu Chuyện Thú Vị  – Duc Minh Danh

Viên sĩ quan Đức Quốc xã kẻ một vạch trắng và nói:

“Bước qua đó, chúng tôi sẽ bắn.”

Nhưng vị linh mục người Ireland vẫn không ngừng bước qua.

Herbert Kappler cho kẻ vạch trắng ngay lối vào Quảng trường Thánh Phêrô ở Rome. Đó là ranh giới chính xác giữa Thành Vatican và vùng lãnh thổ do Đức Quốc xã kiểm soát. Ông ta bố trí lính gác phía bên Ý với mệnh lệnh duy nhất:

nếu vị linh mục người Ireland bước qua, hãy bắn chết ông.

Nhưng Hugh O’Flaherty vẫn tiếp tục bước qua.

Ông lớn lên ở Killarney, hạt Kerry, là con trai của một người quản lý sân golf; bản thân ông cũng là một tay golf xuất sắc, từng chơi quyền anh, là người có thể lực mạnh mẽ và sức hút tự nhiên. Ông đến Rome năm 1922 để học làm linh mục, rồi ở lại, trở thành một nhà ngoại giao của Vatican từng phục vụ tại Ai Cập, Haiti, Santo Domingo và Tiệp Khắc.

Khi chiến tranh nổ ra, ông đã có 20 năm xem Rome là quê hương, thuộc từng con phố, từng ngõ hẻm, và có mối quan hệ với mọi tầng lớp xã hội.

Ông là kiểu linh mục có thể chơi golf với con rể của Mussolini, rồi sau đó lại đi nghe xưng tội trong một căn nhà đá do chính tay mình sửa sang.

Khi Ý tham chiến cùng phe Đức, vị thế của O’Flaherty rất đặc biệt:

Ireland trung lập. Vatican là quốc gia có chủ quyền.

Về mặt lý thuyết , ông gần như không thể bị động tới.

Trong những năm đầu chiến tranh, ông thường xuyên đến các trại tù binh trên khắp nước Ý, thăm hỏi lính Đồng minh và gửi tin tức về gia đình họ thông qua Đài phát thanh Vatican.

Rồi đến tháng 9 năm 1943, Ý đổi phe. Đức tràn vào chiếm đóng. Trong hỗn loạn, hàng ngàn tù binh Đồng minh được lính Ý thả ra rồi bỏ đi bỗng trở thành những người bị truy lùng trên vùng đất do Đức chiếm đóng.

Họ nhớ đến vị linh mục Ireland cao lớn, vui vẻ từng đến trại tù của họ.

Và họ tìm đến ông.

Ông không xin phép.

Không chờ phê duyệt.

Ông đơn giản là bắt đầu tìm chỗ trú ẩn cho họ ngủ qua đêm.

Ông có mối quan hệ ở khắp nơi:

  • giới quý tộc Rome có phòng trống
  • các linh mục có tầng hầm
  • các nữ tu có tu viện
  • cả những du kích cộng sản không cùng đức tin nhưng cùng căm ghét phát xít Đức

Một trong những nơi trú ẩn đầu tiên thậm chí nằm ngay cạnh trụ sở SS địa phương. Và dường như ông còn thấy điều đó khá hài hước.

Mạng lưới của ông ngày càng lớn. Một đại tá Anh tên Sam Derry giúp quản lý hậu cần. Vợ của đại sứ Ireland chuyển tiền và tin tức. Điệp viên Pháp, quý tộc Thụy Sĩ, các tù binh vượt ngục rồi quay lại cứu người khác tất cả đều tham gia.

Ông giấu binh lính trong các căn hộ khắp Rome, liên tục luân chuyển họ. Ông nuôi họ bằng mạng lưới quyên góp. Ông giấu người Do Thái. Ông giấu những người Ý chống phát xít. Ông giấu bất kỳ ai mà quân Đức muốn giết.

Khi Gestapo xác định ông là người đứng sau những vụ mất tích ấy, họ không thể động đến ông trong Vatican. Vì vậy Kappler cho kẻ vạch trắng tử thần và cho lính mai phục.

Ban đầu O’Flaherty gặp người liên lạc trên bậc thềm Quảng trường Thánh Phêrô vẫn là đất Vatican nên an toàn.

Rồi ông vẫn bước ra ngoài.

Ông cải trang thành:

  • người khuân than, mặt bôi đen
  • công nhân quét đường
  • người đưa thư
  • thậm chí có lần là một nữ tu

Thân hình cao lớn khiến ông khó che giấu, nhưng sự thông thuộc các con hẻm Rome và lòng gan dạ phi thường đã bù lại tất cả.

Ông nhiều lần bị dồn vào góc và vẫn trốn thoát. Người của Kappler giăng rất nhiều bẫy công phu.

Đều thất bại.

Có một kế hoạch là bắt cóc ông ngay trong lúc làm lễ, kéo qua vạch trắng rồi bắn chết, sau đó nói rằng ông cố chạy trốn. May mắn thay, một nhà ngoại giao Đức có cảm tình đã báo cho ông kịp lúc.

Kappler treo thưởng 30.000 lire cho cái đầu của ông.

Nhưng O’Flaherty vẫn tiếp tục.

Đến tháng 6 năm 1944, khi quân Mỹ giải phóng Rome, mạng lưới của ông đã cứu sống 6.500 người lính Đồng minh, người Do Thái, dân thường và du kích.

Ông được trao:

  • Huân chương Tự do của Quốc hội Mỹ
  • tước Chỉ huy Đế quốc Anh
  • huân chương từ Ý và từ Giáo hoàng

Ông nhận tất cả rồi gửi về cho em gái ở Ireland, nói rằng mình không làm điều đó vì huy chương.

Phương châm của ông rất đơn giản:

“Chúa không thuộc về quốc gia nào.”

Rồi đến chương cuối cùng.

Cũng là phần kỳ lạ nhất.

Herbert Kappler ,kẻ từng ra lệnh thảm sát 335 thường dân Ý tại hang Ardeatine năm 1944, tội ác chiến tranh tồi tệ nhất trên đất Ý bị kết án tù chung thân.

Ông ta viết thư cho O’Flaherty, người mà mình từng tìm mọi cách giết chết, và hỏi liệu ông có đến thăm không.

O’Flaherty đã đến.

Và ông tiếp tục đến, tháng này qua tháng khác, trong nhiều năm. Là người khách duy nhất của Kappler. Họ nói về tôn giáo, văn học, và có lẽ về mọi điều mà hai con người từng muốn hủy diệt nhau sẽ nói khi tất cả đã qua.

Kappler xin được gia nhập Giáo hội Công giáo.

Năm 1959, chính Đức ông Hugh O’Flaherty đã làm phép rửa tội cho người từng treo giá mạng mình.

Năm sau, ông bị đột quỵ và trở về Ireland nghỉ hưu. Ông qua đời tại Cahersiveen, County Kerry, năm 1963. Cái chết của ông lên trang nhất New York Times. Có tới 8 triệu người xem tập chương trình This Is Your Life của ông trên BBC.

Tại Killarney, đài tưởng niệm của ông khắc dòng chữ mà ông đã sống cả đời để minh chứng:

“Chúa không thuộc về quốc gia nào.”

Đó chính là Hugh O’Flaherty.

Không phải người đứng an toàn sau vạch trắng.

Mà là người liên tục bước qua nó để cứu những người xa lạ, đánh cược mọi thứ, và cuối cùng tha thứ cho điều tưởng như không thể tha thứ.

Ông không chỉ cứu những thân xác.

Ông còn cứu cả những linh hồn.

Kể cả linh hồn của chính kẻ đã cố giết mình nhất.

Theo Remember The Past


 

Chuyện xưa: Hạng Vũ và Lưu Bang

 Câu hỏi:

Hạng Vũ đánh với Lưu Bang, khi chiếm được thành nào, Hạng Vũ cũng đã  giết luôn cả đàn bà và con nít (trẻ con)? Có đúng không?

Gemeni trả lời:

Thông tin này hoàn toàn chính xác. Trong lịch sử Trung Quốc (đặc biệt là cuốn Sử Ký của Tư Mã Thiên), Hạng Vũ nổi tiếng là một vị tướng cực kỳ tàn bạo với chính sách “đồ thành” (tàn sát sạch sẽ toàn bộ người trong thành khi chiếm được).

Khác với Lưu Bang dùng chính sách thu phục lòng người (hứa “ước pháp tam chương”, không quấy nhiễu dân), Hạng Vũ lại nhiều lần tàn sát cả binh lính hàng phục lẫn dân thường, phụ nữ và trẻ em mỗi khi gặp sự kháng cự.

Dưới đây là các lần “đồ thành” tàn khốc điển hình của Hạng Vũ được sử sách ghi nhận:

  1. Đồ thành Tương Thành (năm 208 TCN)

Khi Hạng Lương và Hạng Vũ đánh Tương Thành, người trong thành chống trả dữ dội. Sau khi hạ được thành, vì tức giận, Hạng Vũ đã ra lệnh chôn sống toàn bộ quân dân trong thành, không phân biệt già trẻ gái trai, không để sống sót một ai.

  1. Đồ thành Thành Dương (năm 207 TCN)

Trong cuộc tiến quân đánh Tần, Hạng Vũ đánh chiếm Thành Dương và tiếp tục ra lệnh đồ thành, tàn sát sạch sẽ dân chúng trong vùng.

  1. Đồ thành Dĩnh Dương (năm 207 TCN)

Khi tiến đánh Dĩnh Dương, quân dân ở đây không chịu hàng ngay. Sau khi công phá được thành, Hạng Vũ lại ra lệnh thảm sát toàn bộ cư dân trong thành.

  1. Chôn sống 20 vạn hàng binh Tần ở Tân An (năm 206 TCN)

Sau khi tướng Tần là Chương Hàm đầu hàng, Hạng Vũ dẫn 20 vạn hàng binh Tần tiến về Hàm Dương. Vì lo sợ tù binh nổi loạn khi vào đất Tần, Hạng Vũ đã cho quân đêm tối bao vây và chôn sống toàn bộ 20 vạn hàng binh Tần tại Tân An.  

danviet

  1. Tàn phá và tàn sát ở Hàm Dương (năm 206 TCN)

Khi tiến vào kinh đô Hàm Dương của nhà Tần:

  • Mặc dù Tử Anh (vua Tần) đã ra hàng Lưu Bang từ trước, Hạng Vũ vẫn ra lệnh giết Tử Anh và toàn bộ hoàng tộc nhà Tần.
  • Cho quân lính cướp phá, tàn sát dân chúng, đốt sạch cung điện Áp Phòng (ngọn lửa cháy suốt 3 tháng mới tắt).
  1. Thảm sát người dân nước Tề (năm 205 TCN)

Khi đánh nước Tề (Điền Vinh), sau khi giành chiến thắng, Hạng Vũ đã cho san phẳng thành quách, đốt phá nhà cửa, chôn sống tất cả binh lính Tề hàng phục, bắt làm nô tỳ và tàn sát rất nhiều phụ nữ, trẻ em, người già. Hành động này tàn bạo đến mức khiến người dân nước Tề uất hận, đồng lòng đứng lên tiếp tục chống lại Hạng Vũ.

Nguyên nhân và hậu quả

  • Tâm lý trả thù và uy hiếp: Hạng Vũ dùng sự tàn bạo như một vũ khí tâm lý để đe dọa các thành khác phải đầu hàng ngay lập tức mà không dám kháng cự.
  • Mất lòng thiên hạ: Chính sách “đồ thành” giết hại cả phụ nữ, trẻ em và hàng binh đã làm cho quân dân khắp nơi căm phẫn. Đây là nguyên nhân cốt lõi khiến Hạng Vũ dần mất đi sự ủng hộ của dân chúng và giới sĩ phu, dẫn đến thất bại cay đắng trước Lưu Bang trong cuộc tranh hùng Hán – Sở.

 Ghi chú:

Hạng Vũ (Tây Sở Bá Vương) sinh năm 232 TCN và mất năm 202 TCN. Ông hưởng thọ khoảng 30 tuổi.

Lưu Bang (Hán Cao Tổ) sinh năm 256 TCN (hoặc 247 TCN theo một số ghi chép khác) và mất năm 195 TCN, hưởng thọ khoảng 62 tuổi


 

GIÁO HOÀNG LEO LO SỢ AI ĐẨY NHÂN LOẠI VÀO TẬN THẾ

 

Giáo hoàng Leo đang xem trí tuệ nhân tạo là một trong những thách thức lớn nhất mà nhân loại phải đối mặt. Vatican nói họ đã cảnh báo về những nguy cơ tiềm ẩn của AI từ lâu, trước cả khi các tập đoàn công nghệ lớn đồng loạt lên tiếng về khả năng công nghệ này vượt khỏi tầm kiểm soát của con người.

Trong chuyến thăm Pháp bắt đầu từ ngày 25/9, Giáo hoàng Leo dự kiến tiếp tục nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng các quy định toàn cầu cho AI. Trước đó, trong thông điệp hồi tháng 5, ông đã kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới phối hợp giám sát sự phát triển của công nghệ này thay vì để từng quốc gia hoặc doanh nghiệp tự quyết định.

Giáo hoàng Leo nhiều lần cảnh báo rằng AI có thể làm gia tăng tình trạng thông tin sai lệch, khoét sâu chia rẽ trong xã hội và thúc đẩy xung đột. Ông lo ngại việc các hệ thống AI ngày càng mạnh mẽ có thể khiến thế giới rơi vào những cuộc khủng hoảng kéo dài hoặc thậm chí các cuộc chiến không có điểm kết thúc rõ ràng.

Bên cạnh tác động xã hội, Vatican đặc biệt quan tâm đến việc AI được ứng dụng trong lĩnh vực quân sự. Giáo hoàng Leo cảnh báo các hệ thống vũ khí tự động, bao gồm drone và các loại vũ khí sử dụng AI trong chiến tranh, đang phát triển đến mức ngày càng vượt xa khả năng kiểm soát trực tiếp của con người.

Vatican ví mối đe dọa từ AI ngày nay với nỗi lo về vũ khí hạt nhân trong thế kỷ trước.

Nếu vũ khí hạt nhân có thể hủy diệt con người bằng sức mạnh vật lý, thì AI bị cho là có thể gây tổn hại đến nền tảng của xã hội thông qua việc thao túng thông tin, nhận thức và các mối quan hệ giữa con người với nhau.

#BBCNewsTiengViet – #Vatican – #GiaohoangLeo


 

“Rain Man” người thực ngoài đời

 “Rain Man” (Người Mưa):

 – Ông có thể đọc hai trang sách cùng lúc—mỗi trang bằng một mắt. Ông đã ghi nhớ từng chữ của 12.000 cuốn sách.

Các bác sĩ khuyên nên đưa ông vào trại chăm sóc đặc biệt. Cha ông đã từ chối—và bộ não “khiếm khuyết” ấy chính là nguồn cảm hứng cho bộ phim Rain Man.

Khi Kim Peek chào đời vào ngày 11 tháng 11 năm 1951, các bác sĩ chỉ cần nhìn qua hộp sọ của ông là đã đưa ra một kết luận đau lòng cho cha mẹ ông.

Đầu ông to bất thường. Kết quả chụp não cho thấy những bất thường nghiêm trọng. Ông bị thiếu thể chai (corpus callosum)—bó gồm 200 triệu sợi thần kinh kết nối hai bán cầu não.

Các bác sĩ cho rằng nếu thiếu bộ phận này, ông sẽ không bao giờ có thể đi lại, nói chuyện hay tự sinh hoạt. Ông sẽ sống đời thực vật.

Lời khuyên của họ rất rõ ràng: “Hãy đưa cậu bé vào trại chăm sóc đặc biệt ngay lập tức và tiếp tục cuộc sống của mình.”

Cha của Kim, ông Fran Peek, nhìn đứa con trai mới chào đời và nói: “Không.”

Ông đưa Kim về nhà. Và rồi ông phát hiện ra rằng bộ não “khiếm khuyết” của con trai mình có thể làm được những điều mà một bộ não bình thường không bao giờ làm được.

Khi mới ba tuổi, trong khi những đứa trẻ khác đang tập đếm đến mười, Kim Peek đã có thể ghi nhớ toàn bộ cuốn sách chỉ sau một lần nghe đọc.

Không chỉ nhớ nội dung câu chuyện—ông còn ghi nhớ từng từ, từng số trang, từng dấu câu.

Cha thường đọc sách cho ông nghe trước giờ đi ngủ. Sáng hôm sau, Kim có thể đọc lại toàn bộ cuốn sách theo cả chiều xuôi lẫn chiều ngược mà không sai sót một chữ nào.

Khi Kim lớn lên, khả năng của ông càng trở nên phi thường—và khó lý giải hơn.

Ông có thể đọc xong một cuốn sách trong khoảng một giờ bằng cách đọc cả hai trang cùng lúc: mắt trái đọc trang bên trái, mắt phải đọc trang bên phải, cả hai mắt xử lý thông tin một cách độc lập và đồng thời.

Ông ghi nhớ được 98% những gì mình đã đọc.

Trong suốt cuộc đời mình, Kim Peek đã ghi nhớ khoảng 12.000 cuốn sách—bao gồm các lĩnh vực lịch sử, văn học, địa lý, âm nhạc, số liệu thống kê thể thao, tác phẩm của Shakespeare, Kinh Thánh, danh bạ điện thoại, mã bưu chính, niên giám và bách khoa toàn thư.

Bộ não của ông đã tiếp nhận và lưu giữ tất cả những thông tin đó một cách vĩnh viễn.

Nếu hỏi ông chuyện gì đã xảy ra vào ngày 15 tháng 3 năm 1847, ông sẽ lập tức cho bạn biết đó là thứ Hai, mô tả các sự kiện lịch sử diễn ra trong ngày hôm đó, trích dẫn các bài báo và liệt kê các thông tin về thời tiết. Nếu hỏi ông về mã bưu chính 84321, ông sẽ trả lời ngay: “Logan, Utah. Dân số 48.174 người. Tọa độ 41,7° Bắc, 111,8° Tây. Nơi tọa lạc của Đại học Utah State, thành lập năm 1888.”

Bộ não của ông hoạt động như một siêu máy tính với dung lượng lưu trữ vô hạn—nhưng không một cỗ máy nào có thể sánh kịp tốc độ hay độ chính xác của ông.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu Kim rất kỹ lưỡng, cố gắng tìm hiểu làm thế nào một bộ não thiếu đi thể chai (dải mô nối hai bán cầu não) lại có thể hoạt động được, chứ chưa nói đến việc đạt mức phi thường như vậy.

Giả thuyết của họ là: khi không có rào cản thông thường giữa hai bán cầu não, thông tin có thể luân chuyển tự do khắp toàn bộ não bộ, tạo nên khả năng ghi nhớ phi thường và những kết nối thần kinh khác biệt.

Tuy nhiên, món quà kỳ diệu ấy lại đi kèm với những cái giá rất đắt.

Kim không bao giờ học được cách tự cài cúc áo. Ông không thể tự đánh răng. Dáng đi của ông khó khăn và vụng về do các kỹ năng vận động bị suy giảm nghiêm trọng bởi những bất thường trong não bộ.

Việc giao tiếp xã hội là một thử thách lớn đối với ông—ông gặp khó khăn khi hiểu các câu nói mỉa mai, ẩn dụ, khái niệm trừu tượng, hay lý do tại sao người ta đôi khi nói những điều không đúng với suy nghĩ thực sự của họ.

Ông cần người cha tên Fran giúp đỡ trong mọi việc: từ việc mặc quần áo, ăn uống, tắm rửa cho đến việc định hướng cuộc sống.

Fran trở thành người chăm sóc, người bảo vệ và người bạn đồng hành suốt đời của Kim—ông dành trọn cuộc đời để chăm lo cho người con trai mà các bác sĩ từng cho rằng không đáng để bỏ công sức nuôi dạy.

Trong suốt nhiều thập kỷ, Kim sống lặng lẽ cùng cha tại thành phố Salt Lake, bang Utah. Khả năng phi thường của ông chỉ được biết đến bởi gia đình và các nhân viên thư viện địa phương—những người vô cùng kinh ngạc trước người đàn ông đã thuộc lòng toàn bộ kho tàng sách của họ.

Rồi đến năm 1984, mọi thứ đã thay đổi.

Biên kịch Barry Morrow gặp Kim Peek tại một hội nghị dành cho người khuyết tật. Barry hỏi Kim một câu ngẫu nhiên về các mốc thời gian lịch sử, và ông dự đoán sẽ nhận được một câu trả lời chậm chạp, khó khăn.

Thay vào đó, Kim lập tức tuôn ra hàng loạt sự kiện lịch sử, diễn biến thời tiết và các tiêu đề báo chí từ chính ngày đó của nhiều thập kỷ trước—với độ chính xác tuyệt đối và tốc độ nhanh như chớp.

Barry hoàn toàn sững sờ. Ông dành hàng giờ trò chuyện với Kim, đặt ra những câu hỏi hóc búa và chứng kiến người đàn ông mang khuyết tật nặng nề này truy xuất thông tin nhanh hơn bất kỳ thư viện tra cứu nào.

Nhưng điều khiến Barry ấn tượng nhất không phải là khả năng của Kim—mà chính là sự ấm áp, khiếu hài hước nhẹ nhàng, sự quan tâm chân thành đến mọi người và nét nhân văn tỏa sáng bất chấp những khác biệt của ông.

Barry quyết định viết một kịch bản phim lấy cảm hứng từ cuộc đời của Kim. Kịch bản đó đã trở thành bộ phim “Rain Man”.

Năm 1988, “Rain Man” được công chiếu với sự tham gia của Dustin Hoffman trong vai Raymond Babbitt—một người mắc hội chứng bác học (savant) sở hữu khả năng toán học và trí nhớ phi thường, nhưng lại gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội.

Nhân vật này được xây dựng dựa trên nguyên mẫu là Kim Peek, mặc dù bộ phim đã thay đổi một số chi tiết để tăng tính kịch tính, chẳng hạn như việc khắc họa Raymond là người mắc chứng tự kỷ. (Thực tế, Kim không bị tự kỷ; ông mắc một tập hợp các tình trạng đặc biệt bắt nguồn từ những bất thường trong cấu trúc não bộ.)

Dustin Hoffman đã gặp Kim trước khi phim bấm máy để tìm cách thể hiện nhân vật một cách chân thực nhất. Sau thời gian tiếp xúc với Kim, Hoffman chia sẻ: “Việc gặp gỡ Kim đã thay đổi hoàn toàn nhận thức của tôi về những khả năng tiềm tàng của trí tuệ con người—cũng như ý nghĩa đích thực của lòng trắc ẩn.”

“Rain Man” đã giành được bốn giải Oscar, bao gồm giải Phim hay nhất. Bộ phim trở thành một hiện tượng văn hóa, giúp hàng triệu người trên thế giới biết đến hội chứng bác học (savant syndrome) và sự đa dạng thần kinh.

Và Kim Peek—nguyên mẫu thực sự của nhân vật Rain Man—đột nhiên trở nên nổi tiếng.

Sau khi bộ phim ra mắt, Fran và Kim bắt đầu đi khắp nơi để thuyết trình về khả năng của Kim cũng như vận động cho quyền lợi của người khuyết tật.

Họ đã đến thăm các trường học, đại học, bệnh viện và tham dự nhiều hội nghị trên khắp nước Mỹ cũng như quốc tế.

Khán giả đến xem với tâm thế tò mò về một “hiện tượng lạ”—một cỗ máy tính sống hay một tiết mục giải trí độc đáo. Nhưng điều họ thực sự tìm thấy lại sâu sắc hơn nhiều: một người đàn ông yêu thích Shakespeare, biết cười trước những câu chuyện hài hước (khi hiểu được chúng), biết hỏi thăm về gia đình người khác và ghi nhớ từng chi tiết họ chia sẻ suốt nhiều năm sau đó.

Kim thường đứng trên sân khấu và để mọi người thử thách mình bằng những câu hỏi hóc búa:

“Ngày 17 tháng 8 năm 1921 là thứ mấy?”

“Thứ Ba. Đó là ngày Babe Ruth đánh cú home run thứ 139 trong sự nghiệp của mình trong trận đấu với đội Detroit Tigers.”

“Thủ đô của Burkina Faso là gì và dân số là bao nhiêu?”

“Ouagadougou, dân số khoảng 2,2 triệu người tính đến năm 2009.”

“Hãy đọc đoạn mở đầu của vở Hamlet.”

Kim sẽ đọc thuộc lòng toàn bộ màn một, chính xác từng chữ một—bao gồm cả các chỉ dẫn sân khấu—mà không hề ngập ngừng.

Các nhà khoa học vẫn cảm thấy bối rối. NASA đã nghiên cứu cấu trúc não bộ của Kim bằng công nghệ hình ảnh tiên tiến. Các bác sĩ thần kinh học viết nhiều bài nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu đưa ra những giả thuyết về cấu trúc thần kinh độc đáo của ông.

Không ai có thể giải thích trọn vẹn cách thức hoạt động trong tâm trí ông.

Nhưng Kim chẳng bận tâm đến việc người ta giải thích hay nghiên cứu về mình. Điều ông quan tâm là sự kết nối với mọi người.

Sau mỗi buổi thuyết trình, ông dành hàng giờ để gặp gỡ từng khán giả, hỏi thăm về cuộc sống của họ, gợi ý những cuốn sách phù hợp với sở thích của họ, mang lại tiếng cười và khiến họ cảm thấy mình được thấu hiểu, trân trọng.

Cha của ông, ông Fran, đã chứng kiến con trai mình—người từng bị coi là vô vọng ngay khi mới chào đời—truyền cảm hứng cho hàng ngàn người chỉ bằng cách sống thật với chính mình.

 Vào ngày 19 tháng 12 năm 2009, Kim Peek qua đời vì một cơn đau tim ở tuổi 58.

Tin tức về sự ra đi của ông đã xuất hiện trên các mặt báo khắp thế giới. Các nhà khoa học tiếc thương sự mất mát của một trong những bộ óc phi thường nhất từng được nghiên cứu. Nhưng những người từng gặp ông lại thương tiếc một điều khác: lòng tốt, sự nhiệt huyết, niềm vui chân thành khi kết nối với mọi người, và khả năng khiến bất cứ ai gặp gỡ ông đều cảm thấy mình quan trọng.

Sau khi Kim qua đời, não bộ của ông đã được hiến tặng cho khoa học. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm hiểu, cố gắng lý giải làm thế nào một bộ não với những bất thường nghiêm trọng về cấu trúc lại có thể tạo ra những khả năng phi thường đến vậy.

Họ đã tìm ra một số lời giải: não bộ của ông tự bù đắp cho những phần cấu trúc bị thiếu hụt bằng cách phát triển các kết nối thần kinh vô cùng đặc biệt. Các vùng não phụ trách trí nhớ của ông phát triển vượt trội. Các đường dẫn truyền thần kinh trong não ông không giống với bất kỳ trường hợp nào từng được ghi nhận trong y văn.

Tuy nhiên, họ vẫn chưa thể giải mã hoàn toàn về Kim Peek.

Làm sao ông có thể đọc hai trang sách cùng lúc nhờ khả năng xử lý độc lập của mỗi bên mắt? Làm sao ông ghi nhớ được 12.000 cuốn sách với tỷ lệ chính xác lên tới 98%? Làm sao ông có thể truy xuất tức thì bất kỳ thông tin nào đã lưu trữ, tựa như một cỗ máy tìm kiếm bằng xương bằng thịt.

Kim Peek đã chứng minh rằng khuyết tật và thiên tài có thể cùng tồn tại trong một con người. Rằng một bộ não thiếu hụt những cấu trúc quan trọng vẫn có thể tạo nên những điều kỳ diệu.

Rằng một người thậm chí không thể tự cài cúc áo lại có thể thay đổi cách thế giới nhìn nhận về tiềm năng con người và sự đa dạng thần kinh.

Ông chứng minh rằng khái niệm “bình thường” đang bị đề cao quá mức, rằng “khác biệt” không có nghĩa là “kém cỏi hơn”, và rằng những bộ óc phi thường nhất đôi khi lại ẩn chứa trong những hình hài bất ngờ nhất.

Cha ông đã không bao giờ từ bỏ hy vọng vào con mình. Và Kim đã dành 58 năm cuộc đời để chứng minh rằng những dự đoán y khoa không phải là định mệnh, rằng tình yêu thương quan trọng hơn mọi tiên lượng bệnh, và rằng mỗi cuộc đời con người đều mang giá trị vô cùng to lớn.

Kim Peek: 11 tháng 11 năm 1951 – 19 tháng 12 năm 2009

“Rain Man” (Người Mưa) ngoài đời thực – người đã đọc 12.000 cuốn sách và ghi nhớ từng chữ một.

Và hãy nhớ đến Fran Peek—người cha đã nói “không” với các bác sĩ, nói “có” với con trai mình, và dành cả cuộc đời để chứng minh rằng tình yêu cùng lòng quyết tâm có thể vượt lên trên mọi chẩn đoán y khoa.

 Nguồn: Võ Hữu Nhậm

 P/ S: Kim Peek: 11 tháng 11 năm 1951 – 19 tháng 12 năm 2009

 From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

Tình hình Cuba rất căng thẳng

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng –

24/09/2026

Tối qua, tôi tình cờ xem TV, trên kênh Franceinfo một phóng sự về “Cuba hết hơi”. Phóng sự làm tôi đặc biệt chú ý không chỉ vì những hình ảnh được ghi lại, mà còn vì hoàn cảnh khá đặc biệt trong đó nó được thực hiện.

Nữ nhà báo thực hiện chương trình cho biết bà đã ba lần xin visa nhà báo để vào Cuba nhưng đều không được. Cuối cùng, bà phải vào Cuba với tư cách một khách du lịch bình thường và sử dụng những phương tiện quay kín đáo để ghi lại cuộc sống thực tế của người dân.

Những gì bà mang về khiến tôi có một cảm giác rất lạ:

Cuba hôm nay làm tôi nhớ đến Việt Nam những năm 1980.

Sự so sánh này đối với tôi không hoàn toàn đến từ sách báo, bởi vì tôi đã từng đến Cuba.

Năm 1986, tôi có dịp sang Cuba học trong hai tháng.

Hai tháng không phải là dài, nhưng cũng đủ để tôi quan sát được khá nhiều điều về cuộc sống ở đó. Cuba thời ấy tất nhiên đã có những khó khăn của mình, nhưng nếu so với Việt Nam mà tôi vừa từ đó sang thì, theo cảm nhận của tôi, đời sống của người Cuba lúc ấy hơn Việt Nam rất nhiều.

Lúc đó tinh thần cách mạng của dân Cuba cũng còn rất cao. Họ cũng rất quý mến người Việt Nam. Đời sống thì không thể nào so sánh được với Liên Xô, càng không thể so với các nước phương tây, nhưng vẫn còn “có ăn” và vẫn còn “chơi được”. Hàng ngày, hết giờ làm việc, tôi thấy rất nhiều người nhẩy lên xe Bus đi thẳng ra bãi biển tắm. Trên xe Bus họ nói chuyện rất rôm rả, mặt mày rạng rỡ. Ngoài bãi biển có rất nhiều người. Họ ôm cả radio cassette ra bãi biển để nghe nhạc reo hò, nhẩy nhót. Đêm đến các nhà hàng, quán bar cũng nhộn nhịp. Nhưng hôm nay thì sao?

Bốn mươi năm đã trôi qua, Việt Nam hôm nay không còn là Việt Nam của năm 1986.

Còn Cuba?

Nhìn những hình ảnh trên Franceinfo tối qua, nhiều lúc tôi có cảm giác kỳ lạ như mình đang nhìn thấy lại chính Việt Nam của bốn mươi năm trước.

MỘT ĐẤT NƯỚC THIẾU GẦN NHƯ MỌI THỨ

Cuba hiện đang trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế và năng lượng cực kỳ nghiêm trọng. Điện bị cắt thường xuyên. Có những nơi mất điện hàng chục giờ. Ngày 18 tháng 9 vừa qua, toàn bộ hệ thống điện quốc gia Cuba lại bị sập, khiến hàng triệu người rơi vào cảnh mất điện. Đến giờ này mà điện còn không có thì làm được cái gì,

Rồi đến thực phẩm. Không phải Cuba hoàn toàn không còn gì để ăn. Hàng hóa vẫn có. Vấn đề là hàng ở đâu và ai có tiền để mua. Người dân vẫn phải xếp hàng để mua hàng của các cửa hàng Nhà nước theo hệ thống phân phối. Và cảnh tượng ấy đối với những người Việt Nam thuộc thế hệ tôi quen thuộc đến mức gần như không cần giải thích.

Ngày xưa chúng tôi gọi đó là mậu dịch. Có tem phiếu nhưng chưa chắc đã có hàng. Có tiền cũng chưa chắc mua được.

Ngày nay ở Cuba đã xuất hiện các cửa hàng và hoạt động kinh doanh tư nhân. Ở đó có nhiều hàng hơn, nhưng giá cả lại gần với một thế giới hoàn toàn khác so với đồng lương của một người Cuba bình thường.

Thế là xuất hiện một nghịch lý mà người Việt Nam từng sống qua thời bao cấp hiểu rất rõ:

Một bên giá rẻ nhưng không có hàng. Một bên có hàng nhưng không có tiền mua.

Nhưng có một hình ảnh trong phóng sự còn làm tôi sửng sốt hơn:

Thuốc Tây được bán ngoài vỉa hè.

Các hiệu thuốc Nhà nước vẫn còn đó, nhưng gần như trống rỗng. Người bệnh phải tìm đến những người bán thuốc bên ngoài. Một phần những loại thuốc ấy được những người có khả năng đi ra nước ngoài mang về rồi bán lại, tất nhiên với giá rất cao.

Nhưng ở đây không phải một cái quần, một chiếc xe đạp hay một cân thịt. Đây là thuốc chữa bệnh.

Đến thuốc chữa bệnh mà cũng phải ra vỉa hè tìm mua thì sự thiếu thốn đã mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Ôi giống hệt Việt Nam trước đây.

Một hình ảnh khác trong phóng sự làm tôi đặc biệt chú ý. Cuba có những bãi biển tuyệt đẹp, Biển xanh, Cát trắng, Khách sạn…

Tất cả những gì thiên nhiên cần ban cho một đất nước để biến nó thành một thiên đường du lịch thì Cuba gần như có đủ.

Nhưng bãi biển lại vắng tanh. Du lịch Cuba đang trải qua một cuộc khủng hoảng cực kỳ nghiêm trọng. Trong bảy tháng đầu năm 2026, lượng khách quốc tế đến Cuba đã giảm khoảng 62% so với cùng kỳ năm trước.

Sáu mươi hai phần trăm! Đó không còn là một sự giảm sút bình thường. Một đất nước rất cần ngoại tệ, sở hữu những bãi biển mà rất nhiều quốc gia chỉ có thể mơ ước, vậy mà khách du lịch lại ngày càng ít.

Khủng hoảng nhiên liệu còn làm cho tình hình tồi tệ thêm.

Cuba thiếu nghiêm trọng nhiên liệu hàng không. Nhiều hãng hàng không quốc tế, trong đó có các hãng của Canada và một số hãng lớn của châu Âu, đã phải tạm ngừng các chuyến bay đến Cuba.

Trong khi đó, một số chuyến bay từ Mỹ vẫn được duy trì. Do khoảng cách từ miền nam Hoa Kỳ đến Cuba tương đối ngắn, máy bay trong một số trường hợp có thể mang đủ nhiên liệu cho hành trình mà không cần tiếp nhiên liệu tại Cuba.

Tuyệt vọng? Nghèo chưa chắc đã là điều đáng sợ nhất. Điều đáng sợ hơn là mất hy vọng.

Qua những người được phỏng vấn trong phóng sự, tôi có cảm giác rất rõ rằng nhiều người Cuba không còn tin rằng cuộc sống của họ sẽ khá lên. Họ muốn ra đi. Ai cũng muốn vượt biên.

Một đất nước nghèo vẫn có thể đứng dậy nếu người dân còn tin rằng ngày mai sẽ khá hơn hôm nay.

Nhưng khi giấc mơ của cả một thế hệ không còn là xây dựng cuộc sống trên chính đất nước mình mà chỉ là tìm cách rời khỏi nó, thì đó mới thực sự là một bi kịch.

CÒN NẾU NỔI LOẠN?

Nhưng ở Cuba, công khai phản đối chính quyền có thể phải trả một cái giá rất đắt.

Các tổ chức nhân quyền quốc tế vẫn ghi nhận những trường hợp người biểu tình hoặc những người công khai bất đồng với chính quyền bị bắt giữ, truy tố và bỏ tù. Một trường hợp rất gần đây là một thiếu niên 16 tuổi bị bắt vào tháng 3 năm 2026 sau khi tham gia một cuộc biểu tình liên quan đến tình trạng mất điện kéo dài và thiếu thực phẩm. Cậu bị cáo buộc tội « phá hoại », một tội danh có thể dẫn đến một mức án rất nặng. Đến tháng 6, cậu được trả tự do, nhưng theo Amnesty International, thủ tục hình sự đối với cậu vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt. Chuyện này là chuyện nhỏ ở các nước cộng sản.

NHƯNG TẠI SAO CUBA LẠI ĐẾN NÔNG NỖI NÀY?

Câu trả lời dễ nhất là: “Tại cộng sản.”

Nhưng nếu chỉ viết như vậy thì quá đơn giản.

TẠI SAO CỨ NHẤT QUYẾT ĐI MỘT CON ĐƯỜNG?

Đến đây tôi lại tự hỏi một điều: tại sao Cuba cứ nhất quyết phải “kiên định con đường xã hội chủ nghĩa” đến như vậy?

Đây không phải chỉ là một khẩu hiệu. Hiến pháp Cuba xác định hệ thống xã hội chủ nghĩa là không thể đảo ngược, Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo cao nhất của Nhà nước và xã hội, còn kế hoạch hóa vẫn giữ vai trò trung tâm trong nền kinh tế.

Nhưng điều làm tôi khó hiểu hơn cả là: nếu một con đường đã đưa mình đến bức tường thì tại sao không được quyền quay lại, hoặc ít nhất rẽ sang một con đường khác?

Việt Nam năm 1986 đã không vứt bỏ cái tên “xã hội chủ nghĩa”, nhưng trước sự khủng hoảng của đời sống, đã phải thay đổi rất nhiều cách vận hành nền kinh tế. Kinh tế thị trường được thừa nhận, kinh tế tư nhân dần được mở rộng…

Trung Quốc còn đi xa hơn rất nhiều trong việc sử dụng thị trường và hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Trung Quốc và Mỹ có thể đối đầu nhau gay gắt về chính trị, công nghệ, thương mại và chiến lược. Nhưng đối đầu không có nghĩa là không làm ăn với nhau. Ngay trong năm 2026, giữa lúc hai nước vẫn áp thuế và gây sức ép lẫn nhau, họ vẫn tiếp tục đàm phán để giảm thuế và duy trì quan hệ thương mại.

Nói cách khác, người ta có thể không yêu nhau mà vẫn buôn bán với nhau.

Cuba thì lại có một lịch sử hoàn toàn khác. Sau cách mạng, đặc biệt trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Cuba gắn chặt với Liên Xô và trở thành một trong những đối thủ của Hoa Kỳ ngay sát bờ biển nước Mỹ. Sau khi Liên Xô biến mất, quan hệ Cuba–Mỹ đã có những thời kỳ hòa dịu nhưng rồi lại căng thẳng, và đến hôm nay hai bên vẫn tiếp tục đối đầu. Các biện pháp cấm vận và trừng phạt của Mỹ gây thiệt hại thực sự cho kinh tế Cuba; chính quyền Cuba coi đó là một nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng. Phía Mỹ lại cho rằng các biện pháp này nhằm gây sức ép lên chính quyền cộng sản Cuba.

Tôi không phủ nhận tác động của cấm vận. Nhưng chính vì thế tôi lại càng muốn hỏi:

Một hòn đảo nhỏ nằm cách một siêu cường kinh tế lớn nhất thế giới có hơn một trăm cây số, tại sao suốt hàng chục năm lại không tìm được một con đường thực dụng hơn để chung sống và làm ăn với người láng giềng khổng lồ ấy?

Có nhất thiết phải biến sự đối đầu thành một phần của bản sắc cách mạng?

Có nhất thiết phải chứng minh rằng mình không bao giờ thay đổi, ngay cả khi chính cuộc sống của người dân đang ở mức gần như « chết đói ».

Bốn mươi năm sau, tôi ngồi ở Pháp nhìn Cuba qua màn hình Franceinfo. Và thật trớ trêu:

Có một nghịch lý rất lạ ở đây. Một người Pháp nhìn thấy cảnh ở Cuba ấy có thể thốt lên: “Ôi, thiên đường!”

Nhưng rất nhiều người đang sống ngay trong cái “thiên đường” ấy lại có một giấc mơ hoàn toàn ngược lại: Ra đi. Giống như ở Việt Nam năm nào. Nếu mà đi được thì cái cột đèn cũng đi.

Điều khó hiểu không phải là Cuba đã lựa chọn con đường ấy cách đây hơn sáu mươi năm. Trong hoàn cảnh lịch sử lúc đó, người ta có thể giải thích được sự lựa chọn ấy.

Điều khó hiểu là sau từng ấy năm, sau sự sụp đổ của Liên Xô, sau những cuộc khủng hoảng liên tiếp, và sau khi chính Cuba cũng buộc phải mở cửa ngày càng nhiều cho kinh tế tư nhân và cơ chế thị trường, người ta vẫn coi việc “kiên định” với con đường cũ như một nguyên tắc không được phép đặt lại vấn đề. Thậm chí Hiến pháp Cuba còn xác định chế độ xã hội chủ nghĩa là “không thể đảo ngược”.

Sai một lần có thể là một lựa chọn lịch sử. Nhưng thấy hậu quả mà vẫn không chịu sửa thì lại là một chuyện khác.

Tôi đem chuyện này nói với một ông bạn.

Ông ấy nghe xong, bảo:

– Cái này người ta gọi là NGU LÂU.

Với tôi, sự ngoan cố và thất bại của Cuba cũng là một minh chứng nữa cho sự phá sản của chủ nghĩa cộng sản.


 

Zelensky trả 2 người lính Triều Tiên về Hàn Quốc sinh sống

Nguyễn Tấn Lượng – ỦNG HỘ UKRAINE ĐỘC LẬP TỰ DO

Zelensky trả 2 người lính Triều Tiên về Hàn Quốc sinh sống bởi lý do nhân đạo 2 người lính này không muốn trở về đất nước

  1. Bối cảnh bắt giữ — hai người lính đặc biệt hiếm hoi

Hai binh sĩ Triều Tiên này bị Ukraine bắt sống tại vùng Kursk (Nga) vào tháng 1/2025, trong lúc chiến đấu hỗ trợ Nga đẩy lùi cuộc đột kích của Ukraine. Điểm đặc biệt: đây là hai tù binh Triều Tiên đầu tiên bị bắt sống kể từ khi Bình Nhưỡng tham chiến năm 2024 — cực kỳ hiếm vì lính Triều Tiên được huấn luyện để tự sát thay vì bị bắt. Chính Zelensky kể lại: một trong hai người, khi biết mình sắp bị bắt, đã cố tự tử — và “sốc khi số phận không cho anh ta chết”.

  1. Vì sao ban đầu Zelensky định trao trả về Triều Tiên chứ không phải Hàn Quốc

Đây là diễn biến quan trọng bị bỏ sót trong tiêu đề: Zelensky từng tuyên bố sẽ trao hai người này cho Kim Jong Un — nhưng với điều kiện đổi lấy tù binh Ukraine đang bị Nga giam giữ. Đây là một đề xuất trao đổi tù binh kiểu cổ điển, không phải hành động nhân đạo đơn thuần.

  1. Vì sao kế hoạch đó bị đảo ngược — chính hai người lính không muốn về nước

Đây là lý do cốt lõi giải thích tại sao cuối cùng họ được chuyển sang Hàn Quốc:

Các tổ chức nhân quyền quốc tế thúc giục Ukraine không trao trả về Bình Nhưỡng, vì lo ngại họ sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc (thậm chí xử tử) khi trở về — với tội danh “để bị bắt sống” thay vì chết.

Truyền thông Hàn Quốc đưa tin chính hai người lính này đã bày tỏ nguyện vọng đào tẩu sang Hàn Quốc — không muốn quay về Triều Tiên.

Tháng 6/2026, Hàn Quốc chính thức tuyên bố sẵn sàng tiếp nhận tù binh Triều Tiên — mở đường pháp lý cho việc chuyển giao.

  1. Mục đích chính trị của việc công bố tại LHQ — không chỉ là tin nhân đạo

Zelensky đưa tin này ra giữa bài phát biểu tại Đại hội đồng LHQ (23/9) như một phần trong thông điệp rộng hơn, cực kỳ sắc bén: ông tố cáo Kim Jong Un “dùng người Triều Tiên như tiền tệ” để đổi lấy thứ gì đó từ Nga (được cho là công nghệ vũ khí, hỗ trợ kinh tế), đồng thời liệt kê Nga đang sử dụng công dân của 47 quốc gia khác (Ghana, Nepal, Ấn Độ, Cuba, Yemen…) làm lính đánh thuê hoặc bị lừa gạt tham chiến — kêu gọi trực tiếp các nước này ngăn công dân mình bị lôi kéo vào cuộc chiến.

  1. Bình luận rất đáng chú ý — “chỉ 2 trong số 15.000”

Bình luận trong ảnh (“trong 15.000 lính Triều Tiên triển khai ở Kursk, chỉ có 2 người bị bắt sống”) phản ánh đúng một thực tế đáng sợ đã được nhiều báo cáo xác nhận: mức độ nhồi sọ tư tưởng khiến binh sĩ Triều Tiên thà tự sát còn hơn đầu hàng — tỷ lệ bắt sống gần như bằng 0 so với quy mô lực lượng, một hiện tượng hiếm thấy ngay cả trong các đội quân có kỷ luật thép khác.

  1. Ý nghĩa biểu tượng — vết thương ngoại giao cho Bình Nhưỡng

Việc công khai rằng chính lính của Kim Jong Un muốn đào tẩu sang Hàn Quốc, thay vì trở về “tổ quốc”, là đòn giáng mạnh vào hình ảnh tuyên truyền của Triều Tiên — cho thấy ngay cả những người lính “trung thành nhất” (được chọn đi chiến đấu ở nước ngoài) cũng khao khát tự do khi có cơ hội thực sự lựa chọn.

Tóm lại: Đây không đơn thuần là một cuộc chuyển giao nhân đạo — mà là điểm giao thoa giữa ý chí cá nhân của hai người lính (không muốn chết vì bị coi là “phản bội” khi trở về), áp lực nhân quyền quốc tế, và chiến lược truyền thông của Zelensky nhằm vạch trần cách Kim Jong Un “bán” mạng người dân mình cho Nga, đồng thời cảnh báo hàng chục quốc gia khác đang có công dân bị cuốn vào cuộc chiến này.

Qua hành động nhân đạo này có làm kim jung un quay xe những việc làm sai trái của mình?

#Zelensky #nhandao #hanquoc # kim #un— in Ho Chi Minh City, Vietnam. 


 

CUBA CHÌM TRONG BÓNG TỐI: LƯỚI ĐIỆN TOÀN QUỐC SỤP ĐỔ

Tin Mừng Cho Người Nghèo

CUBA CHÌM TRONG BÓNG TỐI: LƯỚI ĐIỆN TOÀN QUỐC SỤP ĐỔ

Hệ thống điện quốc gia Cuba đã sụp đổ hoàn toàn vào chiều thứ Sáu, ngày 18/9, khiến gần như toàn bộ đảo quốc chìm trong bóng tối và khoảng 9 triệu người bị ảnh hưởng.

Theo nhà chức trách Cuba, sự cố bắt nguồn từ các đường dây truyền tải điện cao thế ở miền trung nước này vào khoảng 14 giờ. Đến tối cùng ngày, điện mới chỉ được khôi phục tại một số khu vực nhỏ ở thủ đô Havana, chủ yếu quanh các bệnh viện.

Đây là ít nhất lần thứ sáu kể từ đầu năm 2026 lưới điện Cuba bị sụp đổ một phần hoặc toàn bộ. Nguyên nhân được cho là do hệ thống điện xuống cấp nghiêm trọng, thiếu nhiên liệu và linh kiện thay thế. Các biện pháp hạn chế dầu mỏ của Hoa Kỳ cũng khiến cuộc khủng hoảng năng lượng tại Cuba thêm trầm trọng.

Trong thời gian qua, nhiều khu vực tại Cuba thường xuyên phải chịu cảnh mất điện kéo dài hơn 30 giờ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc cung cấp nước, bảo quản thực phẩm, thông tin liên lạc và đời sống người dân.

Cơ quan Điện lực Quốc gia Cuba cho biết đang triển khai các biện pháp để từng bước khôi phục hệ thống.

(Reuters, AP)


 

THẢM HỌA LŨ QUÉT NEPAL: HƠN 1.400 NGƯỜI THIỆT MẠNG, GẦN 6.700 NGƯỜI MẤT TÍCH

Tin Mừng Cho Người Nghèo

THẢM HỌA LŨ QUÉT NEPAL: HƠN 1.400 NGƯỜI THIỆT MẠNG, GẦN 6.700 NGƯỜI MẤT TÍCH

Gần một tháng sau trận lũ quét kinh hoàng ngày 26/8 tại khu vực biên giới Nepal – Tây Tạng, số người thiệt mạng và mất tích tiếp tục tăng cao.

Tại Nepal, lực lượng cứu hộ đã tìm thấy 1.403 thi thể, nhưng mới chỉ nhận dạng được 105 người; 6.150 người vẫn mất tích. Phía Tây Tạng ghi nhận ít nhất 43 người thiệt mạng và 519 người mất tích.

Tổng cộng, thảm họa đã khiến ít nhất 1.446 người thiệt mạng và 6.669 người mất tích, trong đó có hàng trăm du khách và người hành hương nước ngoài.

Xin hiệp lời cầu nguyện cho những người đã qua đời, những người còn mất tích và tất cả các gia đình đang đau khổ giữa thảm họa này.

Theo AFP/ Ảnh: Reuters


 

Canada, « thành viên liên kết » của Bruxelles: Tổng thống Mỹ dọa ngừng giao thương với Liên Âu (RFI)

RFI

Tổng thống Donald Trump hôm qua, 16/09/2026, xem việc Liên Hiệp Châu Âu dự trù kết nạp Canada làm « thành viên liên kết » là một « hành vi thù nghịch » nhắm vào Hoa Kỳ, dọa trả đũa Bruxelles bằng những đòn thuế quan và « ngừng mọi giao dịch thương mại » với khối 27 nước châu Âu.

Đăng ngày: 17/09/2026 

Tổng thống Mỹ Donald Trump tham dự một cuộc mít tinh vận động cho ứng cử viên Thượng Viện thuộc đảng Cộng hòa Michael Whatley, tại Gastonia, bang North Carolina, Mỹ, ngày 16/09/2026. REUTERS – Kevin Lamarque

Thanh Hà 

Quy chế « thành viên liên kết » của Liên Hiệp Châu Âu còn rất mơ hồ, nhưng thông báo của chủ tịch Ủy Ban Châu Âu, Ursula Von Der Leyen hôm qua 16/09/2026 tại Nghị Viện Châu Âu ở Strasbourg cũng đủ khiến tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump phẫn nộ. Trong bối cảnh Mỹ và Canada đang lao vào một cuộc chiến thương mại, với các đòn trả đũa về thuế quan, Ottawa đẩy mạnh hợp tác thương mại với toàn thế giới.

Nhà Trắng xem việc Bruxelles cho Canada hưởng quy chế « thành viên liên kết » của Liên Hiệp Châu Âu là một hành vi khiêu khích, với ý đồ thành lập một liên minh chống lại Mỹ. Ngay trong ngày, ông đe dọa ngừng giao dịch thương mại với Liên Âu cho dù Bruxelles đã giải thích rõ châu Âu chỉ có ý định « củng cố quan hệ đối tác với Canada chứ không nhắm vào bất kỳ nước nào ».

Sáng nay, Pháp tuyên bố ủng hộ đề nghị mời Canada làm thành viên liên kết của Liên Âu. Nhưng sáng kiến này lại được đón nhận một cách thận trọng tại Canada, như tường trình của thông tín viên RFI Nafi Alibert từ Montréal :

« Tại trụ sở Nghị Viện Châu Âu ở Strasbourg, thông báo được mọi người nhiệt liệt hoan nghênh, nhưng lại làm dấy lên nhiều nghi vấn ở bên kia bờ Đại Tây Dương, bởi không ai biết một cách chính xác quy chế ‘thành viên liên kết’ của Liên Hiệp Châu Âu gồm những gì. Lo ngại đầu tiên liên quan đến chủ quyền của Canada. Đảng đối lập thuộc cánh bảo thủ coi đây là một lằn ranh đỏ.

Lãnh đạo đảng này, Pierre Poiliebvre cảnh báo : « No EU Taxes ». Không có chuyện để Bruxelles áp đặt những quy luật của mình với Canada. Thái độ dè chừng này từng được lãnh đạo phe đối lập Canada phát biểu một ngày trước đó, trong một diễn văn bằng tiếng Pháp. Tuy nhiên, ông không hẳn là phản đối việc xích lại gần với Liên Hiệp Châu Âu. Pierre Poilievre giải thích : ‘Dù ủng hộ tự do mậu dịch và hợp tác quốc phòng với châu Âu, chúng tôi không tán đồng ý tưởng buộc người dân Canada phải đóng thuế cho Liên Âu hay tuân thủ các quy định của Bruxelles, phải chấp nhận chính sách về biên giới của khối này’.

Song ở thời điểm hiện tại, không có đề xuất cụ thể nào về quy chế thành viên liên kết. Ottawa nhắc lại : Mối quan hệ mới này sẽ còn phải được xây dựng. Chính phủ Canada hoan nghênh một mối quan hệ ‘vững chắc hơn và ở một quy mô lớn hơn với Liên Âu’ ,nhưng lại thận trọng tránh sử dụng cụm từ ‘thành viên kiên kết’ trong những thông cáo. Sự thận trọng này phản ánh quan điểm trong công luận Canada : 80% muốn tăng cường quan hệ với Liên Âu nhưng vẫn muốn Canada đứng ngoài khối này ».

Theo chương trình nghị sự, thủ tướng Canada Mark Carney hôm nay phát biểu tại Nghị Viện Châu Âu. Hiếm khi nào có một lãnh đạo ngoài khối 27 nước thành viên Liên Âu phát biểu tại Nghị Viện.