NƯỚC ĐỨC NÓI LỜI TẠM BIỆT Angela Merkel

Chuyện tuổi Xế Chiều  – Công Tú Nguyễn

NƯỚC ĐỨC NÓI LỜI TẠM BIỆT Angela Merkel

Với sáu phút vỗ tay nồng nhiệt, từ ngoài đường, trên ban công, qua những ô cửa sổ, cả đất nước đã cùng nhau vỗ tay suốt 6 phút ,một minh chứng đầy ấn tượng về sự lãnh đạo và tinh thần nhân văn, thật đáng kính!

Người Đức đã bầu bà để lãnh đạo họ, và bà đã dẫn dắt 80 triệu người dân Đức suốt 16 năm với năng lực, sự tận tụy và chân thành. Bà không nói lời vô nghĩa. Bà không xuất hiện ở những con hẻm Berlin chỉ để chụp ảnh. Bà được gọi là “Người phụ nữ của thế giới”

Trong suốt những năm tháng lãnh đạo đất nước, không có bê bối nào được ghi nhận liên quan đến bà. Bà không đưa người thân vào các vị trí trong chính phủ. Bà không nhận mình là người tạo ra mọi vinh quang. Bà không nhận hàng triệu đô la, không tìm kiếm sự tung hô, không nhận những lời hứa hẹn, và cũng không công kích những người tiền nhiệm.

Merkel đã rời vị trí lãnh đạo đảng và trao lại cho người kế nhiệm, để lại một nước Đức và người dân Đức trong tình trạng tốt đẹp.

Phản ứng của người dân Đức là chưa từng có trong lịch sử đất nước. Người dân khắp nơi bước ra ban công nhà mình và cùng nhau vỗ tay tự phát trong 6 phút liên tục ,một màn tri ân trên toàn quốc.

Nước Đức đã nói lời tạm biệt với nhà lãnh đạo của mình ,một nhà vật lý học, người không bị cuốn vào hào nhoáng hay ánh đèn, không mua bất động sản xa hoa, xe hơi đắt tiền, du thuyền hay máy bay riêng, dù bà xuất thân từ Đông Đức cũ.

Bà rời nhiệm sở khi nước Đức đang ở đỉnh cao. Bà ra đi mà không để người thân hưởng đặc quyền. Suốt 16 năm, bà hầu như không thay đổi phong cách ăn mặc. Xin kính trọng nhà lãnh đạo thầm lặng này.

Trong một buổi họp báo, một nhà báo hỏi bà: “Chúng tôi thấy bà luôn mặc cùng một bộ đồ, bà không có bộ khác sao?”

Bà trả lời: “Tôi là một nhân viên chính phủ, không phải người mẫu.”

Trong một buổi họp báo khác, họ hỏi: “Bà có người giúp việc dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn không?”

Bà trả lời: “Không, tôi không có người giúp việc và cũng không cần. Chồng tôi và tôi tự làm những việc đó mỗi ngày.”

Một nhà báo khác hỏi: “Ai giặt quần áo, bà hay chồng bà?”

Bà trả lời: “Tôi sắp xếp quần áo, còn chồng tôi vận hành máy giặt ,thường là vào ban đêm vì khi đó điện ổn định và không gây phiền cho hàng xóm. May mắn là tường giữa căn hộ chúng tôi và hàng xóm khá dày.”

Sau đó bà nói thêm: “Tôi nghĩ các bạn sẽ hỏi tôi về những thành công và thất bại trong công việc chính phủ chứ?”

Bà Merkel sống trong một căn hộ bình thường như mọi công dân khác. Bà đã sống ở đó từ trước khi trở thành Thủ tướng Đức, và chưa từng rời đi. Bà không sở hữu biệt thự, người giúp việc, hồ bơi hay khu vườn riêng.

Merkel cựu Thủ tướng Đức, lãnh đạo của nền kinh tế lớn nhất châu Âu!

Hãy chia sẻ để lan tỏa và nâng cao nhận thức!


 

Cựu Thủ Tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ qua đời, thọ 97 tuổi

Ba’o Nguoi-Viet

August 12, 2026

BẮC KINH, Trung Quốc — Cựu Thủ Tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ (Zhu Rongji,) một trong những kiến trúc sư quan trọng nhất của công cuộc cải cách kinh tế Trung Quốc và là người đóng vai trò then chốt đưa quốc gia này gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO), vừa qua đời tại Bắc Kinh, sau một thời gian lâm bệnh, thọ 97.

The New York Times (NYT) sáng Thứ Tư, 12 Tháng Tám, dẫn tin từ Tân Hoa Xã, hãng thông tấn chính thức của Trung Quốc, công bố. Tin không nêu rõ nguyên nhân mà chỉ cho biết ông Chu Dung Cơ qua đời sau khi các nỗ lực điều trị y tế không thành công.

Cựu thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ. (Hình: GERARD CERLES/AFP via Getty Images)

Ông Chu Dung Cơ giữ chức thủ tướng Trung Quốc từ năm 1998 đến 2003, dưới thời Chủ Tịch Giang Trạch Dân, và được xem là một trong những nhà kỹ trị có ảnh hưởng nhất trong giai đoạn Trung Quốc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang một nền kinh tế ngày càng dựa vào thị trường và thương mại quốc tế. Các sáng kiến ​​của ông Chu đã thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh chóng tại Trung Quốc. Đà tăng trưởng này duy trì liên tục, dù có đôi chút chững lại giữa chừng, cho đến khi thị trường bất động sản bắt đầu sụp đổ vào năm 2021.

MỘT NỬA SỰ THẬT

Xuyên Sơn

MỘT NỬA SỰ THẬT

Ở trường học chúng ta được dạy rằng:

“Tháng 8 năm 1945 Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố Hirosima và Nagasaki – Nhật Bản, buộc Nhật Hoàng phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước quân Mỹ”, chấm hết.

Sách giáo khoa đã nói đúng sự thật, nhưng không đề cập đến một sự thật trước và sau khi Mỹ ném bom xuống Nhật.

Một nửa sự thật chưa phải là sự thật. Đây là phần sự thật mà chúng ta không được dạy.

Một thời gian ngắn trước khi ném hai quả bom nguyên tử kia, Mỹ đã rãi hơn 5 triệu truyền đơn xuống 33 thành phố của Nhật, trong đó có Nagasaki và Hiroshima.

Nội dung như sau:

“Hãy đọc thật kỹ vì nó có thể cứu lấy mạng sống của chính bạn, người thân hay bạn bè của bạn.

Trong vài ngày tới, một số hoặc tất cả những thành phố được liệt kê trong danh sách ở mặt sau truyền đơn này sẽ bị phá hủy bởi những quả bom của người Mỹ. Những thành phố này đang sở hữu các hãng xưởng, nhà máy lắp ráp chế tạo thiết bị quân sự.

Chúng tôi quyết tâm tiêu diệt tất cả những trang thiết bị mà các phe phái quân sự đang sử dụng để kết thúc cuộc chiến vô nghĩa này.

Nhưng, không may, những quả bom không có mắt.

Vì vậy, theo các chính sách nhân đạo của Mỹ, Không quân Mỹ, chúng tôi không muốn làm tổn thương người vô tội, do đó chúng tôi cảnh báo và yêu cầu bạn hãy di tản khỏi những thành phố được liệt kê để cứu lấy mạng sống của chính bạn.

Người Mỹ không chiến đấu chống lại nhân dân Nhật Bản, mà chiến đấu chống lại các thế lực quân sự đang sử dụng nhân dân Nhật Bản.

Nền hòa bình mà Mỹ mang lại sẽ giải thoát cho người dân như các bạn đang phải sống trong sự áp bức của quân đội Nhật và đồng thời cũng có ý nghĩa mang đến một Nhật Bản mới tốt đẹp hơn.

Các bạn có thể mang hòa bình trở lại bằng cách chọn ra những người lãnh đạo mới và giỏi, những người thật sự muốn kết thúc chiến tranh.

Chúng tôi không thể hứa rằng những thành phố này sẽ được an toàn, một số hoặc tất cả sẽ bị phá hủy.

Do vậy, hãy chú ý đến cảnh báo này và sơ tán khỏi các thành phố này ngay lập tức!”

*

Sau quả bom đầu tiên, Mỹ tiếp tục gửi truyền đơn và đồng thời phát radio từ Saipan (Mỹ đang nắm giữ) cứ mỗi 15 phút với nội dung tương tự như sau:

“Nước Mỹ yêu cầu các bạn ngay lập tức tuân thủ những gì chúng tôi nói trong truyền đơn này.

Chúng tôi đang sở hữu những quả bom kinh khủng nhất lịch sử loài người.

Một trong số những quả bom mà chúng tôi đang nghiên cứu có sức công phá đến hơn 2.000 lần những gì mà một cái máy bay khổng lồ B-29 có thể mang lại.

Thực tế khủng khiếp này là một lý do để bạn suy nghĩ và chúng tôi bảo đảm rằng điều đó là tuyệt đối chính xác.

Chúng tôi chỉ mới bắt đầu sử dụng loại vũ khí này để chống lại quê hương các bạn. Nếu các bạn vẫn nghi ngờ, hãy xem lại những gì đã xảy ra ở Hiroshima khi chỉ có một quả bom nguyên tử rơi xuống thành phố đó.

Trước khi sử dụng bom này để tiêu diệt mọi nguồn lực của quân đội mà họ có được để kéo dài cuộc chiến tranh vô ích này, chúng tôi kêu gọi các bạn hãy yêu cầu Nhật Hoàng kết thúc chiến tranh.

Tổng thống của chúng tôi đã soạn ra cho các bạn 13 quyền lợi bảo đảm cho một lần đầu hàng danh dự.

Chúng tôi khuyến khích bạn chấp nhận những quyền lợi này và bắt đầu công việc xây dựng một nước Nhật mới, một Nhật Bản tốt hơn và yêu hòa bình.

Các bạn nên bắt đầu thực hiện những bước cần thiết để đình chiến.

Nếu không, chúng tôi sẽ kiên quyết sử dụng bom này và tất cả các loại vũ khí vượt trội khác để phản ứng kịp thời và kết thúc chiến tranh.”

*

Sau khi Nhật Hoàng đầu hàng, thống tướng MacArthur và Quân đội Mỹ đặt chân đến Nhật Bản, chuẩn bị cho công cuộc chiếm đóng nước Nhật của mình.

Với tư cách là bên thắng cuộc, chính phủ  và nhân dân Nhật phải nằm dưới sự quản lý và những chính sách do Mỹ đưa ra.

Một trong những việc đầu tiên mà tướng MacArthur làm là, khẩn cấp xin chính phủ Mỹ viện trợ lương thực và tiền để kiến thiết nước Nhật trước thực trạng đổ nát của chiến tranh.

Với nỗ lực của MacArthur, chính phủ Mỹ tức tốc gửi đến nước Nhật 3,5 triệu tấn lương thực cùng hơn 2 tỷ USD.

Tại trường học, trẻ em Nhật được ăn một bữa trưa miễn phí; lần đầu tiên trong lịch sử nước mình, phụ nữ được trao thêm nhiều quyền lợi hơn, trong đó có quyền bầu cử và ứng cử; tại các địa phương người dân được tạo điều kiện để tham gia sinh hoạt chính trị.

Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh soạn thảo

Hiến pháp Nhật Bản theo hướng dân chủ, chủ quyền đất nước thuộc về quốc dân chứ không phải Thiên hoàng.

Thiên hoàng là biểu tượng cho sự đoàn kết và văn hóa Nhật, giống như Nữ hoàng Anh, nhưng không mang quyền lực chính trị thực tế.

Thiên hoàng chỉ được tiến hành các hành vi liên quan đến việc nước theo quy định của bản Hiến pháp này và Thiên hoàng không có quyền lực liên quan tới chính phủ.

Quốc hội Nhật là cơ quan chính trị có quyền lực cao nhất, thành viên quốc hội là những người được dân chúng chọn ra trong một cuộc  bầu cử tự do,…

Trước thực trạng nông dân không có đất canh tác, tháng 10/1946 Quốc hội thông qua “Luật cải cách ruộng đất”, tiến hành thu mua đất của của giới địa chủ và bán nợ lại cho nông dân không có đất.

Ngày 31/3/1947 Quốc hội ban hành “Luật Giáo dục”.

Theo đó, mục tiêu hàng đầu của giáo dục là

“Tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”.

Đây cũng là lần đầu tiên Chính phủ bị mất quyền quản lý giáo dục và kiểm duyệt sách giáo khoa.

Thay vào đó một “Ủy Ban Giáo Dục” do dân bầu ra đảm trách những việc ấy. Giáo viên dạy học sinh về tinh thần dân chủ chứ không phải tôn thờ Nhật Hoàng.

Năm 1951 Quân đội Mỹ tự khắc rút khỏi nước Nhật, trao trả lại nền độc lập cho Nhật Bản sau khi “sứ mệnh” kiến thiết nước Nhật của mình hoàn thành.

Người Nhật gọi tướng MacArthur là vị Shogun Mỹ.

Shogun nghĩa là Sứ Quân, là người đứng đầu một lãnh địa, vào thời Nhật còn bị nạn sứ quân chia cắt.”

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1809248755995220&id=100007303381806

Từ fb Jeny Nguyen.

Nguồn fb Chinh Le 


 

Thời kỳ cai trị của nhà độc tài Augusto Pinochet (1973–1990) so nguoi chet la bao nhieu?

Thời kỳ cai trị của nhà độc tài Augusto Pinochet (1973–1990) so nguoi chet la bao nhieu?

GEMINI tra loi:

Theo các báo cáo chính thức từ chính phủ Chile (như Báo cáo Rettig năm 1991 và Báo cáo Valech năm 2004, 2011) về thời kỳ cai trị của nhà độc tài Augusto Pinochet (1973–1990):

  • Số người bị sát hại hoặc mất tích: Ít nhất 3.065 người đã bị sát hại hoặc mất tích do các lý do chính trị.
  • Số người bị tra tấn và giam giữ trái phép: Khoảng 38.000 đến 40.000 người bị bắt giam, tra tấn hoặc bức hại chính trị.
  • Số người bị lưu vong: Hàng trăm nghìn người Chile đã phải bỏ nước ra đi tị nạn chính trị trong giai đoạn này.

 

Dưới thời Adolf Hitler và chế độ Đức Quốc Xã lãnh đạo (1933–1945), bao nhieu nguoi da chet?

Xin hoi: Dưới thời Adolf Hitler và chế độ Đức Quốc Xã lãnh đạo (1933–1945), bao nhieu nguoi da chet?

GEMINI Tra loi:

Dưới thời Adolf Hitler và chế độ Đức Quốc Xã lãnh đạo (1933–1945), ước tính tổng số người thiệt mạng liên quan trực tiếp đến Chiến tranh Thế giới thứ II ở Châu Âu và các chính sách diệt chủng, đàn áp của Đức Quốc Xã là từ 70 triệu đến hơn 80 triệu người.

Con số này bao gồm các nhóm nạn nhân chính sau đây:

1. Nạn nhân của cuộc Đại diệt chủng (Holocaust) và đàn áp chủng tộc/chính trị

  • Người Do Thái: Khoảng 6 triệu người bị tàn sát hàng loạt tại các trại tập trung, trại diệt chủng và qua các cuộc thảm sát lưu động (Einsatzgruppen).
  • Các nhóm nạn nhân khác bị Đức Quốc Xã diệt chủng hoặc tàn sát:
    • Tù binh chiến tranh Liên Xô: Bị chết do hành quyết, bỏ đói và lao động khổ sai (khoảng 3,1 – 3,3 triệu người).
    • Dân thường Ba Lan (không phải Do Thái): Khoảng 1,8 – 2 triệu người.
    • Người La Mã/Sinti (Roma): Khoảng 220.000 – 500.000 người.
    • Người khuyết tật và bệnh nhân tâm thần: Hơn 250.000 người (qua chương trình “Aktion T4”).
    • Người bất đồng chính kiến, đối thủ chính trị, tù nhân tôn giáo, người đồng tính, v.v.: Hàng trăm nghìn người.

2. Thương vong do Chiến tranh Thế giới thứ II tại Châu Âu (Đức khơi mào)

  • Liên Xô: Bị thiệt hại nặng nề nhất với ước tính 27 triệu người chết (bao gồm khoảng 8,7 triệu lính và gần 19 triệu dân thường).
  • Đức: Khoảng 7 triệu đến 9 triệu người chết (bao gồm khoảng 5,3 triệu binh lính và hơn 1,5 – 3 triệu dân thường do ném bom, giao tranh và bị trục xuất sau chiến tranh).
  • Các quốc gia Châu Âu khác: Hàng triệu lính và dân thường ở Ba Lan, Pháp, Anh, Ý, Yugoslavia, Greece,… tử trận hoặc chết do hậu quả của chiến tranh, đói xót và bệnh tật.

Tổng cộng, Hitler và chính sách của Đức Quốc Xã đã dẫn đến cái chết của khoảng 11 đến 17 triệu người trong các chương trình diệt chủng/đàn áp trực tiếp, cùng với hàng chục triệu người khác thiệt mạng do cuộc chiến do Đức phát động ở Châu Âu.


 

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo bao nhieu nguoi da chet?

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo bao nhieu nguoi da chet?

GEMENI tra loi:

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo (1975–1979), ước tính có từ 1,5 triệu đến 2 triệu người thiệt mạng, tương đương khoảng 20% đến 25% dân số Campuchia thời bấy giờ.

Các nguyên nhân tử vong chính bao gồm:

  • Hành quyết và thảm sát: Hàng trăm nghìn người bị quy kết là “kẻ thù của cách mạng” (bao gồm trí thức, quan chức chính quyền cũ, người dân tộc thiểu số và những người bị nghi ngờ không trung thành) bị giam giữ, tra tấn và sát hại tại các trại cải tạo và “cánh đồng chết”.
  • Lao động khổ sai và đói khát: Chính sách cưỡng bức di dời toàn bộ dân cư từ thành thị về nông thôn để thực hiện mô hình nông nghiệp tập trung dẫn đến tình trạng kiệt sức và nạn đói nghiêm trọng trên diện rộng.
  • Bệnh tật và thiếu y tế: Hệ thống y tế bị phá hủy hoàn toàn, thuốc men thiếu hụt cùng điều kiện sống tồi tàn khiến vô số người chết vì các bệnh truyền nhiễm.

Một số số liệu từ các tổ chức và nghiên cứu uy tín:

  • Chương trình Nghiên cứu Nạn diệt chủng Campuchia (Đại học Yale): Ước tính khoảng 1,7 triệu người (khoảng 21% dân số).
  • Trung tâm Tư liệu Campuchia (DC-Cam): Dựa trên việc thống kê các hố sát hại tập thể, ước tính số nạn nhân dao động từ 1,7 triệu đến 2 triệu người.
  • Các ước tính tổng hợp khác: Tùy thuộc vào phương pháp thống kê, con số dao động trong khoảng từ 1,2 triệu cho đến gần 3 triệu người.

So nguoi chet duoi thoi Mao Trach Dong la bao nhieu nguoi?

So nguoi chet duoi thoi Mao Trach Dong la bao nhieu nguoi?

GEMINI tra loi:

Số lượng người chết dưới thời Mao Trạch Đông (1949–1976) không có một con số thống nhất tuyệt đối do sự thiếu hụt tài liệu chính thức từ chính phủ Trung Quốc và sự khác biệt trong phương pháp thống kê của các nhà sử học. Tuy nhiên, phần lớn các ước tính độc lập và nghiên cứu lịch sử uy tín đưa ra tổng con số tử vong dao động từ 40 triệu đến 80 triệu người.

Các nguyên nhân tử vong chính bao gồm:

  1. Đại nhảy vọt và Nạn đói lớn (1958–1962):
    • Đây là chiến dịch gây ra số lượng tử vong lớn nhất do chính sách tập thể hóa nông nghiệp và quản lý kinh tế yếu kém.
    • Hầu hết các nhà nhân khẩu học và sử học (như Dương Kế Thằng, Frank Dikötter, Judith Banister) ước tính số người chết vì đói và bị bạo hành trong giai đoạn này khoảng từ 30 triệu đến 45 triệu người.
  2. Cách mạng Văn hóa (1966–1976):
    • Các cuộc đấu tố, thanh trừng nội bộ do Hồng vệ binh và quân đội thực hiện dẫn đến bạo lực diện rộng.
    • Con số tử vong do bạo lực, tự sát hoặc bị đàn áp ước tính khoảng 1 triệu đến 3 triệu người.
  3. Cải cách ruộng đất và các chiến dịch đàn áp chính trị (1949–1957):
    • Bao gồm Cải cách ruộng đất, Chiến dịch tiêu diệt phản cách mạng, và Chiến dịch Chống phe Hữu.
    • Số lượng địa chủ, đối thủ chính trị và tầng lớp trí thức bị hành quyết hoặc chết trong các trại cải tạo ước tính từ 1 triệu đến 5 triệu người.
  4. Hệ thống trại cải tạo lao động (Lao cải):
    • Hàng triệu người đã trải qua các trại lao cải trong nhiều thập kỷ, với con số tử vong do điều kiện khắc nghiệt và bị ngược đãi ước tính từ vài triệu đến 20 triệu người tùy theo phạm vi tính toán của các nhà nghiên cứu.

Tóm tắt các nguồn ước tính tiêu biểu:   

  • Chính sử / Giới nghiên cứu độc lập phương Tây & Trung Quốc (Yang Jisheng, Frank Dikötter, Daniel Leese): Ước tính khoảng 40 – 45 triệu người.
  • Một số sách nghiên cứu như Cuốn sách đen của Chủ nghĩa Cộng sản (The Black Book of Communism) hoặc tiểu sử Mao của Jung Chang & Jon Halliday: Ước tính từ 65 triệu đến 70 triệu người.
  • Ước tính cao nhất (R.J. Rummel): Lên tới 77 triệu người.

 

So nguoi chet duoi che do Staline la bao nhieu nguoi?

So nguoi chet duoi che do Staline la bao nhieu nguoi:

GEMINI Tra loi:

Ước tính số người thiệt mạng dưới chế độ của Joseph Stalin (từ khoảng năm 1924 đến 1953) vẫn là một chủ đề có nhiều sự khác biệt giữa các nhà lịch sử, do tính chất phức tạp của việc truy cập hồ sơ lưu trữ và cách phân loại nguyên nhân tử vong (hành quyết trực tiếp, chết trong trại cải tạo Gulag, hay chết vì nạn đói).

Các con số ước tính phổ biến bao gồm:

  • Tài liệu lưu trữ chính thức của Liên Xô (sau năm 1991): Các nhà lịch sử truy cập hồ sơ lưu trữ chính thức sau khi Liên Xô sụp đổ ước tính có khoảng 6 đến 9 triệu người thiệt mạng do các chính sách trực tiếp và gián tiếp của Stalin. Trong đó:
    • Hành quyết chính trị: Khoảng 800.000 đến 1,2 triệu người bị tuyên án tử hình và hành quyết (đặc biệt trong thời kỳ Đại thanh trừng 1937–1938).
    • Hệ thống trại Gulag: Khoảng 1,5 đến 1,7 triệu người chết do điều kiện khắc nghiệt, bệnh tật và kiệt sức trong các trại lao động cải tạo.
    • Cưỡng bức di dời và lưu tày: Khoảng 500.000 đến 1 triệu người thiệt mạng trong quá trình di dời hàng loạt các sắc tộc và đối tượng chính trị.
    • Nạn đói (1932–1933): Khoảng 3,5 đến 5 triệu người chết vì nạn đói do chính sách tập thể hóa nông nghiệp, đặc biệt là sự kiện Holodomor tại Ukraine và nạn đói ở Kazakhstan.
  • Ước tính của các nhà nghiên cứu phương Tây (trước và sau thời kỳ Mở cửa): Trước khi hồ sơ lưu trữ được công bố, một số nhà lịch sử phương Tây (như Robert Conquest) đưa ra con số cao hơn nhiều, ước tính từ 15 đến 20 triệu người tử vong khi tính gộp cả nạn đói đại trà, tử vong trong chiến dịch giải thể tầng lớp phú nông (Kulak), và điều kiện sống khắc nghiệt thời chiến.

Tổng hợp lại, đa số các nhà lịch sử hiện đại đồng thuận rằng con số tử vong trực tiếp và gián tiếp do các chính sách của Stalin nằm trong khoảng từ 6 triệu đến 20 triệu người.

Ả Rập Xê Út tấn công lực lượng thân Iran tại Irak, chiến tranh Trung Đông thêm khó lường (RFI)

(RFI)

Đêm 28 rạng sáng ngày 29/07/2026, lần đầu tiên kể từ đầu cuộc chiến Hoa Kỳ chống Iran, Ả Rập Xê Út chính thức thông báo tham gia chiến dịch của Mỹ chống lại các lực lượng thân Iran tại Irak. Dù quy mô chiến dịch này được xem là hạn chế, và chính quyền Riyadh ngay lập tức tuyên bố muốn xuống thang, hành động nói trên vẫn góp phần khiến viễn cảnh xung đột Vùng Vịnh ngày càng thêm khó lường.

Đăng ngày: 30/07/2026

Người dân đến xem các tòa nhà bị hư hại do một vụ không kích vào căn cứ của một lực lượng thân Iran ở Mosul, Irak, ngày 29/07/2026.

Người dân đến xem các tòa nhà bị hư hại do một vụ không kích vào căn cứ của một lực lượng thân Iran ở Mosul, Irak, ngày 29/07/2026. © AP Photo/Farid Abdulwahed

Trọng Thành

Ít nhất 20 thành viên của lực lượng dân quân Irak PMF (Popular Mobilisation Forces) thiệt mạng và 32 người bị thương trong đợt oanh kích của Mỹ và Ả Rập Xê Út tại miền đông Irak. Lý do chính thức mà phía Riyadh đưa ra là để trả đũa các cuộc tấn công bằng drone của các nhóm vũ trang thân Iran thuộc lực lượng PMF trong những ngày gần đây.

Kể từ ngày 28/02/2026 cho đến đợt oanh kích chưa có tiền lệ này, bất chấp nhiều cuộc tấn công của Iran và các lực lượng thân Iran nhắm vào các căn cứ của Mỹ cũng như nhiều cơ sở khác tại Ả Rập Xê Út, chính quyền Riyadh đã không phản công. Theo giới quan sát, lựa chọn của Ả Rập Xê Út phần nào đã giúp ngọn lửa chiến tranh không lan rộng thêm. Chính vì vậy, quyết định nói trên của Riyadh là một bước ngoặt đáng chú ý.

Trong khi chính quyền Mỹ cho biết đã báo trước với Bagdad về đợt oanh kích, chính quyền Irak bác bỏ và cực lực lên án “hành động vi phạm trắng trợn chủ quyền của Irak”. Một điểm đáng chú ý khác là trong cùng ngày, Iran đã chủ động tấn công trước vào các căn cứ quân sự của Mỹ tại Jordanie, thay vì chỉ phản công như thông lệ. Cuộc oanh kích tại Jordanie khiến Mỹ tấn công trở lại lãnh thổ Iran, chấm dứt những ngày chiến sự tạm ngưng.

Irak có nguy cơ trở thành lò lửa mới

Lực lượng dân quân Irak PMF, tiếng Ả Rập gọi là Hachd al-Chaabi, là một liên minh vũ trang bao gồm nhiều nhóm vũ trang Hồi giáo dòng Shia, được Teheran hậu thuẫn, đã đóng vai trò lớn trong cuộc chiến chống tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi Giáo (Daech), sau khi Daech chiếm lĩnh nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn của Irak năm 2014. Năm 2016, chính quyền Irak công nhận PMF là “lực lượng quân sự độc lập” trực thuộc Quân đội Irak, tuy vậy nhiều phe phái thân Iran vẫn duy trì mức độ tự chủ cao.

Về nguyên tắc, theo AP, chính phủ Irak cam kết sẽ giải giáp các nhóm vũ trang nằm ngoài Nhà nước. Theo thủ tướng Al-Zaidi, các lực lượng này sẽ không còn lý do tục tồn tại sau ngày 30/09, khi Mỹ rút quân khỏi Irak. Việc Ả Rập Xê Út tấn công lãnh thổ Irak khiến chuyến thăm Riyadh của thủ tướng Al-Zaidi, dự kiến hôm nay 30/07, bị đình chỉ vô thời hạn. Hội đồng An ninh Quốc gia Irak lên án cuộc tấn công của Mỹ và Ả Rập Xê Út, cho rằng hành động này làm suy yếu Nhà nước Irak, trong bối cảnh chính phủ Baghdad đang nỗ lực điều tra những lo ngại của Ả Rập Xê Út về các cuộc tấn công xuất phát từ lãnh thổ Irak.

Thế lực của các nhóm dân quân thân Iran tại Irak có thể phần nào so sánh với lực lượng Hezbollah tại Liban. Sau cuộc tấn công nói trên, Harakat Hezbollah al-Nujaba, một thành viên thân Iran của lực lượng dân quân PMF, đe dọa sẽ trả đũa Ả Rập Xê Út. Chính quyền Irak có nguy cơ khó giữ được thế cân bằng mong manh lâu nay giữa Mỹ và Iran.

Hành động chưa có tiền lệ của Ả Rập Xê Út diễn ra ngay sau cuộc gặp giữa thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và tổng thống Mỹ Donald Trump tại Nhà Trắng ngày 28/07. Theo trang mạng thân cận chính phủ Mỹ Axios, hôm qua, 29/07, bộ trưởng Quốc Phòng Ả Rập Xê Út Khaled Ben Salman khẳng định muốn xuống thang căng thẳng với Teheran, đồng thời tiết lộ chính thủ tướng Israel đã thúc đẩy xung đột leo thang.


 

Người mẹ đã từ chối phá thai… và đứa bé được sinh ra sau này làm thay đổi cả thế giới.

 Thầy Cao Anh 

Người mẹ đã từ chối phá thai… và đứa bé được sinh ra sau này làm thay đổi cả thế giới.

Cuối năm 1919, tại thị trấn Wadowice của Ba Lan, một người phụ nữ tên Emilia Wojtyła mang thai đứa con thứ ba. Nhưng niềm vui ấy nhanh chóng trở thành nỗi tuyệt vọng.

Bác sĩ sau khi khám đã nói với bà:

“Bà phải chấm dứt thai kỳ. Bà không còn lựa chọn nào khác. Thận của bà đã suy nặng, tim cũng rất yếu. Nếu tiếp tục mang thai, cả hai mẹ con đều có thể mất mạng.”

Theo y học lúc bấy giờ, đó là lời khuyên hợp lý. Các bác sĩ tin rằng giữ lại đứa bé gần như không có hy vọng, còn người mẹ cũng rất khó sống sót.

Nhưng Emilia đã đưa ra một quyết định khiến nhiều người kinh ngạc.

Bà từ chối phá thai.

Bà chấp nhận đánh đổi chính mạng sống của mình để bảo vệ đứa con còn chưa chào đời. Không phải vì bà biết tương lai sẽ thế nào, mà vì niềm tin rằng mỗi sinh mạng đều xứng đáng có cơ hội được sống.

Vượt qua mọi dự đoán của bác sĩ, ngày 18 tháng 5 năm 1920, Emilia sinh hạ một bé trai khỏe mạnh.

Cậu bé ấy được đặt tên là Karol Józef Wojtyła.

Đáng tiếc, sức khỏe của Emilia ngày càng suy kiệt. Bà qua đời khi Karol mới 8 tuổi.

Không ai lúc đó có thể ngờ rằng cậu bé năm xưa sau này sẽ trở thành Giáo hoàng Gioan Phaolô II – một trong những vị giáo hoàng có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 20.

Ông đã dẫn dắt Giáo hội Công giáo suốt gần 27 năm, góp phần thúc đẩy sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Đông Âu, cổ vũ hòa bình, bảo vệ phẩm giá con người và truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên khắp thế giới.

Nếu ngày hôm đó Emilia nghe theo lời khuyên của bác sĩ, có lẽ lịch sử thế giới đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác.

Câu chuyện này không nhằm phán xét bất kỳ ai hay bất kỳ lựa chọn nào. Nhưng nó nhắc chúng ta một điều rất đáng suy ngẫm:

Đôi khi, không ai có thể biết được giá trị của một sinh mạng ở thời điểm hiện tại. Một đứa trẻ bình thường hôm nay có thể trở thành người làm thay đổi cuộc đời của hàng triệu người trong tương lai.

Và đôi khi, những quyết định âm thầm của một người mẹ lại đủ sức làm thay đổi cả lịch sử nhân loại.


 

Bài học của Na-Uy : Mỏ dầu hỏa

Bài học Na Uy: Câu chuyện “hũ gạo” và tầm nhìn xuyên thế kỷ.

Năm 1969, những người ngư dân ngoài khơi Na Uy bỗng thấy một cảnh tượng lạ lẫm: những giàn khoan dầu mọc lên giữa đại dương. Mỏ Ekofisk được tìm thấy, mở ra một trong những túi dầu lớn nhất thế giới.

Lúc đó, Na Uy biết mình sắp giàu to. Nhưng bạn biết đấy, hầu hết các quốc gia khi bỗng dưng “trúng số” nhờ dầu mỏ đều vấp phải một sai lầm chết người: Là có bao nhiêu tiêu bấy nhiêu. Quyết định ngược đời Trong khi những nước khác như Venezuela, Irak, Lybie hay Nigeria tiêu sạch tiền dầu vào các dự án hào nhoáng rồi cuối cùng rơi vào nợ nần khi dầu cạn, thì Na Uy lại chọn một lối đi riêng.

Năm 1990, Quốc hội Na Uy đưa ra một quyết định thay đổi hoàn toàn vận mệnh đất nước: Thay vì tiêu tiền dầu, họ đem đi cất.

Không phải cất một phần đâu, mà là gần như tất cả. Họ lập ra một quỹ đầu tư. Quy tắc cực kỳ đơn giản nhưng gây sốc: Toàn bộ lợi nhuận từ dầu mỏ sẽ được đổ vào quỹ này để đi đầu tư khắp thế giới. Mỗi năm, Chính phủ chỉ được phép rút ra một phần nhỏ (khoảng 3%) để chi tiêu. Phần còn lại? Cứ để đó cho nó “đẻ” thêm tiền. Mãi mãi.

Và lòng kiên trì thắng được sự cám dỗ

Lúc đó, nhiều người bảo họ điên. “Giàu mà không tiêu à?”, “Sao không giảm thuế, xây thêm đường sá ngay đi?”.

Chính phủ Na Uy chỉ trả lời đơn giản: “Vì con cháu chúng ta rồi sẽ ra đời, và chúng sẽ cần số tiền này hơn chúng ta bây giờ.”

Năm 1996, họ bỏ 150 triệu đô la đầu tiên vào quỹ. Suốt 30 năm sau đó, bất kể kinh tế đi xuống hay dân tình kêu ca, các chính trị gia Na Uy vẫn giữ đúng lời hứa. Họ không động vào “tiền xương máu” của tương lai để mua vui cho hiện tại.

Kết quả của việc “chọn cháu chắt thay vì bản thân”

Đến cuối năm 2025 này, quỹ này đã chạm mốc 2.000 tỷ đô la.

Hãy tưởng tượng: Na Uy chỉ có khoảng 5,6 triệu dân. Nếu chia đều, mỗi người dân nghiễm nhiên có khoảng 357.000 đô la (hơn 9 tỷ đồng) trong tài khoản chung.

Nhưng điều kinh ngạc nhất là gì? Hơn một nửa giá trị của quỹ hiện nay không phải đến từ tiền bán dầu, mà đến từ tiền lãi đầu tư. Hiện tại, số tiền quỹ này kiếm được từ việc sở hữu cổ phần của gần 9.000 công ty khắp thế giới (như Apple, Microsoft, Amazon…) còn nhiều hơn cả tiền bán dầu thô.

Một di sản vĩnh cửu

Dầu mỏ rồi sẽ hết, có thể là 30 hay 50 năm nữa. Nhưng với người Na Uy, điều đó chẳng còn đáng sợ.

Khi giọt dầu cuối cùng được hút lên, họ vẫn sẽ có một “núi tiền” khổng lồ tiếp tục sinh lời. Nhờ đó, trẻ em Na Uy vẫn được đi học miễn phí, người già vẫn có lương hưu cao, và người bệnh vẫn được chăm sóc y tế hàng đầu — tất cả nhờ vào những thùng dầu đã bán từ nửa thế kỷ trước.

Cái tài của người Na Uy không phải là tìm thấy dầu. Cái tài của họ là biết nói “Không” với đồng tiền dễ dãi hôm nay để đổi lấy sự thịnh vượng bền vững cho mai sau. Ngoài việc là chính sách kinh tế, đó còn là một bài học về sự tử tế: Sống và xây dựng cho những người thế hệ tương lai mà chúng ta hôm nay thậm chí sẽ không bao giờ gặp mặt.

Anh chị nghĩ như thế nào về quyết sách của chính phủ Na Uy?

From: Tu-Phung


 

ICE bắt giữ luật sư nhân quyền Trung Quốc có hồ sơ tị nạn ở Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

July 19, 2026

LANCASTER, Pennsylvania (NV) – Luật sư nhân quyền người Trung Quốc, ông Ngô Thiệu Bình (Wu Shaoping) đã bị Cảnh Sát Di Trú (ICE) bắt giữ hôm Thứ Tư, 15 Tháng Bảy, tại thị trấn Mount Holly Springs thuộc địa hạt Cumberland, tiểu bang Pennsylvania, trong lúc ông đang đi giao hàng cho Amazon.

Theo The New York Times (NYT) và The Guardian loan tin, luật sư Ngô Thiệu Bình đã đến Mỹ bằng thị thực du lịch năm 2019 và đã nộp đơn xin tị nạn chính trị (asylum) vào năm 2020.

Luật sư nhân quyền Trung Quốc Ngô Thiệu Bình. (Hình: Trang X của Human Right Watch)

Ở Mỹ, ông Bình làm công việc giao hàng cho Amazon trong khi vẫn tích cực tham gia các hoạt động của cộng đồng đấu tranh cho nhân quyền tại Trung Quốc – một cộng đồng đang gặp nhiều khó khăn, áp lực, theo The Guardian.

Hôm Thứ Tư tuần trước, trong lúc đang trên đường làm công việc của một người giao hàng theo hợp đồng cho Amazon, ông Bình đã bị các cảnh sát chặn lại tại một ngã tư ở thành phố Mount Holly Springs, thuộc địa hạt Cumberland, tiểu bang Pennsylvania.

Theo luật sư của ông Bình là ông John Visher, các cảnh sát đã yêu cầu ông Bình trình giấy chứng minh quốc tịch Mỹ. Ông Bình đã đưa ra bằng chứng về hồ sơ xin tị nạn chính trị đang chờ xét duyệt của ông, cùng với giấy phép lao động (working permit) và giải thích ông đã nhập cảnh vào Mỹ một cách hợp pháp.

Sau đó, cảnh sát đã báo cho cơ quan di trú. Ông Bình bị bắt giữ và bị chuyển đến trung tâm giam giữ người nhập cư ở Pennsylvania. Ông có thể sẽ ra hầu tòa di trú vào ngày 27 Tháng Bảy.

Vợ của ông, bà Tào Lưu Lệ (Caoliu Li,) cho biết chồng bà đã bị cơ quan an ninh Trung Quốc thẩm vấn và sách nhiễu trong nhiều năm, nhưng ông vẫn kiên định với sự nghiệp đấu tranh cho quyền lợi của người dân Trung Quốc.

“Suốt thời gian qua, ông ấy luôn chú trọng đến những bất công tại Trung Quốc và tìm cách thay đổi chúng,” bà Lệ chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn với NYT từ Lancaster, tiểu bang Pennsylvania, nơi vợ chồng ông bà đang sống cùng cô con gái 17 tuổi.

Bà Lauren Bis, phát ngôn viên của Bộ Nội An, cho biết ông Bình không có tư cách pháp lý hợp lệ và đã ở lại quá hạn thị thực (visa) sáu năm. Bà khẳng định ông sẽ được hưởng đầy đủ quy trình pháp lý theo quy định.

Theo luật sư Visher, do ông Bình đã nộp đơn xin tị nạn trước khi thị thực du lịch hết hạn, do đó ông được bảo vệ khỏi việc bị trục xuất và được phép ở lại trong thời gian chờ xét duyệt hồ sơ.

Cũng theo NYT, hành trình đến Hoa Kỳ của ông Ngô Thiệu Bình bắt đầu từ năm 2019. Khi đó, ông tham dự một cuộc gặp gỡ giữa các luật sư và nhà hoạt động nổi tiếng của Trung Quốc để bàn về phong trào nhân quyền đang bị đàn áp. Chỉ vài ngày sau, chính quyền Trung Quốc bắt giữ những người tham dự cuộc gặp đó, và hai trong số họ hiện đang thụ án tù dài hạn. Ông Bình đã bỏ trốn và nộp đơn xin tị nạn tại Hoa Kỳ vào năm 2020. Hồ sơ đang chờ thụ lý.

Trước khi rời Trung Quốc, ông Ngô Thiệu Bình từng làm luật sư thương mại tại Thượng Hải và gia nhập phong trào những người bảo vệ nhân quyền sau khi Bắc Kinh, dưới thời Chủ Tịch Tập Cận Bình, phát động cuộc đàn áp luật sư nhân quyền lớn nhất trong nhiều thập niên.

Ông nhận các vụ án đặc biệt về chính trị, đại diện cho một nhà hoạt động chống tham nhũng, một nhà bảo vệ nhân quyền khác, và các học viên Pháp Luân Công, một phong trào tâm linh bị cấm ở Trung Quốc.

Ông Châu Phong Tỏa (Fengsuo Zhou), giám đốc điều hành tổ chức nhân quyền cho Trung Quốc có trụ sở tại New York, cho biết ông Bình đã bào chữa cho những bị cáo mà hầu hết luật sư khác đều né tránh.

Vụ bắt giữ luật sư nhân quyền Ngô Thiệu Bình đã thu hút sự chú ý của các nhà vận động nhân quyền quốc tế. Ông Bob Fu, một nhà hoạt động nhân quyền Cơ Đốc Giáo, đã công khai bày tỏ rằng ông tin các nhân viên ICE đã hành động sai khi bắt giữ ông Bình, người mà ông mô tả là một người bảo vệ tự do tôn giáo tận tụy và có tình trạng cư trú hợp pháp tại Hoa Kỳ.

Những người ủng hộ cho biết họ đang nỗ lực vận động sự hỗ trợ pháp lý và công luận cho ông Ngô Thiệu Bình trước phiên điều trần ngày 27 Tháng Bảy, với hy vọng tránh để ông bị cưỡng bức trả về Trung Quốc. (KL) [kn]