Iran – Đêm dài lắm mộng – Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

March 29, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Bản kế hoạch 15 điểm của Mỹ – về cơ bản là yêu cầu Iran đầu hàng vô điều kiện – bị Tehran bác bỏ. Cả Washington lẫn Tehran đều nói cuộc chiến chỉ chấm dứt khi nào họ muốn. Tuy nhiên, kết thúc cuộc chiến hiện tại không hề đơn giản. Trừ khi hai bên nhượng bộ và phải nhượng bộ rất nhiều, bế tắc sẽ tiếp tục và Mỹ thậm chí có thể bị cuốn vào một cuộc xâm lược trên bộ với những hậu quả thảm khốc hơn cả thời chiến tranh vùng Vịnh 2003.

Căn cứ Prince Sultan Air Base ở Al Kharj, Saudi Arabia, nơi Iran vừa phóng hỏa tiễn làm 10 binh sĩ Mỹ bị thương và một phi cơ tiếp xăng KC-135 bị hư hại. (Hình minh hoạt: Richard M Heileman/DOD/AFP via Getty Images)

Đàm phán gì khi không ai tin ai? 

Khi Tổng Thống Donald Trump tấn công Iran vào Tháng Sáu, 2025, chiến dịch quân sự được thực hiện chớp nhoáng và chỉ tập trung vào việc làm suy yếu chương trình nguyên tử Iran. Thông điệp của Washington tương đối rõ: Tòa Bạch Ốc bị kéo vào cuộc chiến một cách bất đắc dĩ bởi vì cuộc tấn công bất ngờ của Israel, và để chấm dứt xung đột, Mỹ chỉ phá hủy các địa điểm nguyên tử quan trọng. Phần mình, Iran đáp trả bằng cuộc tấn công vào căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ trong khu vực, ở Qatar; tuy nhiên, màn trả đũa được tính toán cẩn thận để tránh gây thương vong cho người Mỹ và để bảo toàn mối quan hệ của Tehran với các nước láng giềng.

Với cuộc chiến lần này, Mỹ và Israel hợp tác ngay từ đầu. Mức độ phản ứng của Iran dữ dội hơn. Bởi vì cuộc xung đột mở rộng và liên quan nhiều bên với những lợi ích khác nhau, việc thương lượng ngừng bắn chắc chắn rất phức tạp. Một lệnh ngừng bắn bền vững đòi hỏi một quy trình đàm phán dài hơi và không thể bị áp đặt một cách đơn phương dựa trên những điều kiện đòi hỏi tối đa từ một phía. Mỹ khó có thể ép Iran hạn chế năng lực hỏa tiễn, trong bối cảnh mà vũ khí này chứng minh được vai trò là công cụ trả đũa chủ chốt. Phần mình, Tehran không thể làm cho người Mỹ cảm thấy nhẹ nhõm nếu không chấp nhận loại bỏ hoàn toàn các mối đe dọa quân sự đối với hoạt động tại eo biển Hormuz.

Hơn nữa, việc đàm phán chắc chắn không đi đến đâu nếu Iran đòi Mỹ bồi thường tổn thất chiến tranh. Nếu vấn đề bồi thường được đưa lên bàn đàm phán, có thể các nước láng giềng cũng yêu cầu tương tự đối với Tehran. Hơn nữa, Iran không thể buộc Mỹ cắt giảm sự hiện diện quân sự hay đóng cửa các căn cứ Mỹ trong khu vực. Tóm lại, gần như không có điểm nào mà bên này đưa ra thì bên kia sẵn sàng nhượng bộ – ít nhất ở thời điểm hiện tại.

Cục diện càng bế tắc càng trông giống cuộc chiến Ukraine mà Nga đang sa lầy. Cách cầm cự của Iran không khỏi không liên tưởng đến cách mà Kiev chống trả Moscow bằng chiến thuật tiêu hao. Tất nhiên, cuộc xâm lược của Nga đối với quốc gia láng giềng Ukraine khác hoàn toàn so với mục tiêu của Washington là kiềm chế mối đe dọa bành trướng cũng như hiểm họa bom nguyên tử của Iran.

Dù vậy, cả Mỹ lẫn Nga đều gặp khó khăn như nhau trong việc dung hòa các mục tiêu cuối cùng với những phương tiện hiện có để đạt được. Nga muốn thôn tính Ukraine như một quốc gia chư hầu. Trong khi đó, mục đích của Mỹ là triệt tiêu mối đe dọa Iran tại khu vực. Tuy nhiên, cả Washington lẫn Moscow đều không thể vạch ra rõ ràng mức tối thiểu cần đạt được để hiện thực hóa mục tiêu mà họ cần. Và đó chính là yếu tố khiến việc giằng co kéo dài dẫn đến nguy cơ sa lầy.

Đêm dài lắm mộng 

Mục tiêu chiến lược hiện tại của Iran là buộc Mỹ và các quốc gia vùng Vịnh phải gánh những tổn thất nặng nề đến mức ông Trump phải lựa chọn một thỏa thuận ngừng bắn. Về bản chất, Iran muốn ép ông Trump phải chọn giữa lợi ích an ninh của Israel và sự ổn định của thị trường toàn cầu. Tựu trung lại, cuộc chiến do ông Trump châm ngòi không hề dễ dàng kết thúc “theo cách của mình,” huống hồ có một kết cục tốt đẹp.

Suốt nhiều năm bị cấm vận, bị cắt đứt khỏi thị trường tài chính quốc tế, bị đóng băng tài sản, bị kìm hãm doanh thu dầu mỏ…, Iran đã xây dựng một chiến lược đối phó và bây giờ là lúc họ áp dụng. Việc bị loại khỏi hệ thống tư bản toàn cầu, vô hình trung, giúp Iran bảo tồn cấu trúc hệ thống riêng để phản ứng lại các mối đe dọa từ bên ngoài.

Iran đang làm chính xác những gì họ rút ra trong suốt những năm tháng bị phong tỏa, khi phóng hỏa tiễn phá hoại các cơ sở hạ tầng năng lượng trong khu vực; bắn phá cảng biển, ngân hàng, phi trường…; và đặc biệt phong tỏa eo biển Hormuz. Đó không phải là hành động leo thang ngẫu nhiên mà là một chiến dịch có hệ thống nhằm chống lại nền tảng kinh tế của trật tự khu vực do Mỹ dẫn đầu – một trật tự được xây dựng, phần lớn, để kiềm chế Iran.

Còn nữa, yếu tố quan trọng trong chiến lược Iran là gây ra sự chia rẽ giữa Mỹ và các đối tác vùng Vịnh. ​​Từ năm 1979, Washington xây dựng và duy trì một mạng lưới an ninh khắp Trung Đông, về cơ bản được thiết kế để kiềm hãm sức mạnh của Iran. Các căn cứ quân sự mà Washington ban đầu thiết lập tạm ở Bahrain, Kuwait, Qatar, Saudi Arabia và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất (UEA), trong và sau cuộc chiến vùng Vịnh 1990-1991, dần trở thành những công trình cố định. Thỏa thuận mà Mỹ đạt được với các quốc gia này rất rõ: Các quốc gia vùng Vịnh khi liên minh an ninh với Washington sẽ nhận được bảo đảm an ninh từ Mỹ và cơ hội phát triển trong trật tự do Mỹ dẫn đầu.

Với Iran, họ hiểu mối quan hệ trên không đơn thuần là cách phòng thủ tập thể mà còn là một liên minh mà ngày nào đó nhắm vào họ. Tehran cũng hiểu điểm yếu của hệ thống này: Nó nằm ở việc phụ thuộc vào sự ủng hộ của các nước vùng Vịnh; mà yếu tố này lại liên đới với việc Mỹ thực hiện các cam kết an ninh. Năm 2019, niềm tin các nước vùng Vịnh dành cho Mỹ rạn nứt, khi Mỹ không bảo vệ Saudi Arabia trước các cuộc tấn công của Iran vào các cơ sở dầu mỏ nước này. Với khu vực Trung Đông, Mỹ thật ra chỉ bảo vệ Israel.

Chẳng phải tự nhiên mà từ khi cuộc chiến nổ ra, Iran bắn phá quyết liệt các nước vùng Vịnh. Họ muốn nhắc rằng, các nước này, chưa bao giờ bằng lúc này, cần phải nghiêm túc đặt câu hỏi về giá trị của sự liên minh với Washington. Nói cách khác, với Tehran, an ninh lâu dài của họ không phụ thuộc vào việc đánh bại Mỹ về mặt quân sự mà là làm cho chi phí hiện diện của Mỹ ở vùng Vịnh trở nên cực kỳ đắt đỏ về mặt chính trị.

Ngày 27 Tháng Ba, Ngoại Trưởng Marco Rubio của Mỹ nói rằng Hoa Kỳ không cần đến bộ binh và cuộc chiến sẽ kết thúc trong vòng vài tuần. Trong thực tế, Trung Đông đang chuẩn bị đối mặt một cuộc xung đột dữ dội hơn, với những hệ quả kinh tế có thể vô cùng tàn khốc.

“Sự ngờ vực sâu sắc giữa tất cả các bên khiến cho một lệnh ngừng bắn ngay lập tức trở thành điều gần như bất khả thi,” Giáo Sư Hamad Althunayyan (Đại học Kuwait) nhận định. Tại Yemen, lực lượng dân quân Houthi – đồng minh thân cận của Iran hiện kiểm soát phần lớn lãnh thổ Yemen – bắt đầu tham chiến khi bắn hỏa tiễn vào Israel ngày 28 Tháng Ba – cột mốc đúng một tháng từ ngày Mỹ-Israel mở chiến dịch tiêu diệt Iran. Trước đó một ngày, Iran cũng tấn công một căn cứ quân sự Mỹ ở Saudi Arabia, làm bị thương 10 binh sĩ Mỹ.

Một cách tổng quát, thùng đạn mà ông Trump (cùng Thủ Tướng Benjamin Netanyahu) mang đến Trung Đông tiếp tục nổ tung tóe một cách không thể kiểm soát, ngày càng lan rộng khi ảnh hưởng của nó tác động đến toàn bộ khu vực. UAE, nơi hứng những đòn tấn công dữ dội nhất bằng hỏa tiễn và máy bay không người lái từ Iran, không hề ảo tưởng về khả năng đạt được một giải pháp thương lượng với Tehran. UAE cho rằng trọng tâm không nên đặt vào việc đạt được một lệnh ngừng bắn mà phải hướng tới một “kết quả dứt khoát” nhằm giải quyết toàn bộ các mối đe dọa mà Iran gây ra cho khu vực, từ vấn đề nguyên tử, kho hỏa tiễn cho đến các lực lượng ủy nhiệm.

Cần nói rõ rằng không phải tất cả các quốc gia vùng Vịnh đều có cùng thái độ tương tự UAE. Ngoại Trưởng Badr Albusaidi của Oman nói rằng các cuộc tấn công của Iran vào những thành phố như Dubai, Manama, và Doha là “lựa chọn hợp lý duy nhất” nhằm đáp trả chiến dịch ném bom của Mỹ và Israel. Oman là quốc gia duy nhất trong sáu nền quân chủ vùng Vịnh từ chối ký vào bản tuyên bố chung được đưa ra ngày 25 Tháng Ba. Đó là văn bản lên án các cuộc tấn công do Iran và các lực lượng ủy nhiệm thực hiện.

Trong khi đó, Qatar, dù ký vào tuyên bố chung, lại sử dụng ngôn từ mang tính hòa giải. Ngày 24 Tháng Ba, ông Majed Al Ansari, cố vấn của thủ tướng Qatar, phát biểu rằng Iran vẫn sẽ là một láng giềng, và do đó cần phải tìm một phương thức để cùng tồn tại; chính vì thế, việc tìm kiếm một giải pháp thông qua thương lượng là điều vô cùng quan trọng.

Nói cách khác, “không nghi ngờ gì nữa, khu vực này đang bước vào một giai đoạn đầy bất định về tương lai của chính nó” – như nhận định của ông Mohammed Al Nuaimi, tổng giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu và Chiến Lược Emirates – “Quỹ đạo của diễn biến dường như đi theo một trong hai hướng: Hoặc là tiến tới leo thang quân sự mạnh hơn, hoặc tiếp tục các cuộc đàm phán đầy khó khăn nhưng có rất ít khả năng đạt được những kết quả như mong chờ.” [đ.d.]


 

THOÁT NGA” – MỘT DÂN TỘC ANH HÙNG TÁI SINH

Son Bui

nhất hùng

Cuộc chiến phi nghĩa mà Điện Kremlin khơi mào không chỉ là một vết đen trong lịch sử nhân loại mà còn là một bài học đắt giá về sự ảo tưởng quyền lực. Nga đã bước vào cuộc chiến với tham vọng “chớp nhoáng”, nhưng thực tế đã chứng minh đó là một vũng lầy tự sát.

Thất bại chiến lược ngay từ đầu, huyền thoại về “đội quân mạnh thứ hai thế giới” đã sụp đổ hoàn toàn sau thất bại thảm hại tại Kyiv. Kế hoạch lật đổ chính quyền Ukraine trong vài ngày đã biến thành một cuộc tiêu hao vô vọng, phơi bày sự thối nát và lạc hậu của bộ máy quân sự. Nga không chỉ đang thua trên chiến trường, họ đang tự hủy hoại tương lai của chính mình. Hàng trăm ngàn binh sĩ Nga đã ngã xuống hoặc tàn phế chỉ để phục vụ cho tham vọng cá nhân của một kẻ độc tài. Nga đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng nhân khẩu học trầm trọng khi thế hệ trẻ – nguồn lao động chính – bị đẩy vào lò xay thịt. Nga đã bị đá văng khỏi hệ thống tài chính toàn cầu. Việc bị cắt đứt công nghệ phương Tây và chảy máu chất xám khiến nền kinh tế Nga lùi lại hàng thập kỷ, trở thành một “trạm xăng” lệ thuộc vào các đối tác châu Á.

Muốn ngăn chặn NATO, nhưng hành động của Nga lại khiến NATO mở rộng mạnh mẽ nhất trong lịch sử (với sự gia nhập của Phần Lan và Thụy Điển). Biến Biển Baltic thành “hồ của NATO” là một thất bại địa chính trị không thể bào chữa. Từ một cường quốc, Nga giờ đây bị coi là một “quốc gia bị ruồng bỏ”, mất đi tiếng nói tại các diễn đàn quốc tế và bị các tòa án hình sự quốc tế truy nã lãnh đạo.

Ukraine cũng đang phải trả cái giá quá đắt bằng máu, nhưng đó là cái giá để mua lại tự do vĩnh viễn. Hàng ngàn dân thường vô tội bị sát hại, những thành phố bị san phẳng, hàng triệu người phải ly hương. Nền kinh tế bị tàn phá nặng nề bởi bom đạn của kẻ thù. Một phần đất đai ở phía Đông và Nam đang bị giày xéo bởi quân xâm lược. Tuy nhiên, đây là sự chiếm đóng phi pháp và sẽ không bao giờ được thế giới công nhận. Cả một thế hệ trẻ em Ukraine phải lớn lên trong tiếng còi báo động và hầm trú ẩn, một vết sẹo tâm lý không gì bù đắp được.

– Nga “Được” gì? – Một vài mảnh đất hoang tàn, những thành phố chết không còn sự sống. Nga chiếm được đất nhưng mất đi linh hồn và tương lai dân tộc. Cái “được” này chỉ là sự an ủi hão huyền cho một đế chế đang giãy chết.

– Ukraine ĐƯỢC gì? – Thoát Nga vĩnh viễn, Ukraine đã đập tan sợi dây xích ảnh hưởng của Nga. Sự lệ thuộc về văn hóa, chính trị và năng lượng đã chấm dứt hoàn toàn. Ukraine không còn là “hậu viện”, mà là tiền đồn của văn minh phương Tây. Chưa bao giờ dân tộc Ukraine đoàn kết như hiện nay. Cuộc chiến đã tôi luyện nên một tinh thần thép, khẳng định chủ quyền không thể xâm phạm. Ukraine hiện là biểu trưng toàn cầu cho lòng dũng cảm. Họ nhận được sự ủng hộ tuyệt đối của thế giới tự do và đang trên lộ trình không thể đảo ngược để gia nhập EU và NATO.

Ukraine hiện sở hữu một trong những đội quân thiện chiến nhất châu Âu, được trang bị vũ khí hiện đại và có kinh nghiệm thực chiến dày dạn nhất thế giới.

Rồi đây, Nga sẽ nhìn qua biên giới và thấy một Ukraine không chỉ giàu có hơn mà còn sở hữu sức mạnh công nghệ vượt trội đến mức không một kẻ xâm lược nào dám mơ tưởng đến việc vượt qua biên giới một lần nữa.

Ukraine sẽ không chỉ là một quốc gia được cứu rỗi, mà là quốc gia dẫn dắt tương lai của an ninh toàn cầu. Nga đã chọn quá khứ, còn Ukraine lại chọn tương lai.

Cuộc chiến này chắc chắn sẽ để lại những vết sẹo dài, nhưng với tinh thần thép và sự nhạy bén về công nghệ, Ukraine đang tự viết nên một chương mới – nơi họ không còn là nạn nhân của lịch sử, mà là người dẫn dắt tương lai của an ninh toàn cầu. Trong khi đó, những sai lầm chiến lược và sự lạc hậu sẽ là bài học cay đắng mà Điện Kremlin phải mang theo trong nhiều thập kỷ tới.

Nga có thể chiếm thêm vài vùng đất, nhưng họ đã mất đi tư cách của một cường quốc.

Ukraine có thể mất đi nhà cửa, nhưng họ đã giành lại được linh hồn của dân tộc và vị thế tự tôn trên bản đồ thế giới. Kẻ xâm lược cuối cùng sẽ phải rời đi trong ô nhục, còn Ukraine sẽ đứng vững như một biểu tượng của tự do.

“THOÁT NGA” – MỘT DÂN TỘC ANH HÙNG TÁI SINH.


 

Mỹ : Chiến tranh Trung Đông làm giá xăng cùng chi phí sinh hoạt leo thang (RFI)

(RFI)

Cuộc chiến tranh tại Trung Đông đã đẩy gia nhiên liệu tăng vọt và làm dấy lên nhiều lo ngại lạm phát ở khắp nơi trên thế giới từ ba tuần qua. Tại Mỹ, tổng thống Donald Trump đã ngày càng bị áp lực do giá xăng tăng liên tục cùng với chi phí sinh hoạt leo thang trái với những hứa hẹn tranh cử của ông.

Đăng ngày: 23/03/2026 

Một cơ sở lọc dầu ở Fujairah, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất bốc cháy do trúng drone tấn công của Iran ngày 14/03/2026. © Altaf Qadri / АР

Anh Vũ

Thông tín viên RFI  Edward Maille tại Atlanta ghi nhận qua phóng sự

Tại bãi đỗ xe của một trạm xăng, Dallas vừa đổ đầy bình với giá 71 đô la,  trong khi cách đây vài tuần chỉ mất khoảng 40 đô la.

« Điều này ảnh hưởng tới việc đi lại  của chúng tôi. Chúng tôi có gia đình sống  ở Florida, đi lại mất 5 tiếng lái xe . Bình thường gần như hàng tháng  chúng tôi vẫn đi thăm gia đình, nhưng giờ đây mỗi chuyến đi như vậy tốn thêm 150 đô la. Vì thể nhiều tuần vừa rồi chúng tôi đã không gặp gia đình Đúng là có ảnh hưởng. » 

Đứng bên chiếc xe mui trần của mình, Mike tỏ ra lạc quan. Anh cho biết  từng chứng kiến xăng tăng rồi giảm nhiều lần trong đời. Nhưng chi phí sinh hoạt những năm gần đây buộc anh phải chú ý hơn với các khoản chi tiêu. Mike cho biết : « Ba năm gần đây, chúng tôi thấy giá thực phẩm tăng khá nhiều ở Mỹ. Trước đây đi chợ tốn 45 đô la, giờ là 90 đô la, vì thế tôi phải chặt chẽ về tài chính, kiểu như là mình có thực sự cần đến những quả dâu này hay không ».


 

 Họ đã lấy tế bào của chị mà không hề hỏi

Trầm Mặc Huơng Lai

 Họ đã lấy tế bào của chị mà không hề hỏi.

Trong khi chị đang quằn quại trên giường bệnh, cơ thể chị trở thành nền tảng của một ngành công nghiệp trị giá hàng tỷ đô — còn con cái của chị thì không đủ tiền để mua bảo hiểm y tế.

Henrietta Lacks mới 31 tuổi vào năm 1951 khi cơn đau ập đến. Nhói, dai dẳng, sâu tận bụng dưới. Chị đã sinh năm người con và từng làm việc trên các cánh đồng thuốc lá ở miền nam Maryland, nên chị biết phân biệt giữa một khó chịu thoáng qua — và một hiểm họa.

Sự việc nghiêm trọng. Rất nghiêm trọng.

Chị đến bệnh viện Johns Hopkins ở Baltimore — một trong số ít nơi khi đó chịu chữa cho bệnh nhân da đen. Các bác sĩ phát hiện một khối u lớn ở cổ tử cung, bóng loáng, tím sẫm, to bằng một đồng tiền. Ung thư cổ tử cung. Giai đoạn muộn. Hung hãn.

Họ lập tức bắt đầu xạ trị.

Và khi Henrietta nằm trên bàn, vừa sợ hãi vừa đau đớn, một bác sĩ tên George Gey đã lấy một mẫu từ khối u của chị — mà không có sự đồng ý của chị.

Năm ấy là 1951. “Đồng ý sau khi được giải thích” chưa phải là điều bắt buộc — nhất là với bệnh nhân da đen và nghèo. Bác sĩ thường xuyên lấy mô từ những người như Henrietta, làm thí nghiệm và “tiến bộ khoa học” trên lưng những con người không có lựa chọn cũng chẳng có tiếng nói.

Nhưng tế bào của Henrietta thì khác.

Trong phòng thí nghiệm, trợ lý của Gey đặt mẫu mô vào đĩa nuôi cấy, nghĩ rằng nó sẽ chết sau vài ngày, như mọi mẫu tế bào người trước đó. Tế bào người chưa từng sống được bên ngoài cơ thể. Chưa từng.

Các nhà khoa học đã cố gắng suốt hàng thập kỷ. Luôn thất bại.

Còn tế bào của Henrietta thì không chết.

Chúng nhân đôi trong 24 giờ. Rồi lại nhân đôi. Chúng sinh sôi với một sức sống dữ dội. Chúng phát triển nhanh đến mức phòng thí nghiệm không theo kịp.

Chúng dường như có thể sống mãi.

Các nhà khoa học đặt tên cho chúng là tế bào HeLa — lấy từ tên chị, dù suốt nhiều thập kỷ sau đó họ không chịu nói đó là ai.

Henrietta Lacks qua đời ngày 4 tháng 10 năm 1951, tám tháng sau chẩn đoán. Chị 31 tuổi. Cơ thể chị bị tàn phá, ung thư lan tràn khắp các cơ quan như một đám cháy.

Chị để lại một người chồng và năm đứa con, trong đó có một bé sơ sinh.

Chị ra đi với niềm tin rằng thân xác mình cuối cùng sẽ được yên nghỉ.

Nhưng thay vào đó, nó bắt đầu “làm việc”.

Tế bào HeLa được gửi đi khắp các phòng thí nghiệm trên thế giới. Chúng trở thành dòng tế bào người bất tử đầu tiên — nền tảng của nghiên cứu y sinh hiện đại.

Chúng góp phần phát triển vắc-xin bại liệt. Nghiên cứu ung thư, AIDS, tác động của phóng xạ. Tìm hiểu cách mô người phản ứng ngoài không gian. Thử nghiệm thụ tinh trong ống nghiệm, lập bản đồ gen, nhân bản.

Các công ty dược nuôi cấy chúng hàng tấn. Các trường đại học xây cả chương trình xoay quanh chúng. Một ngành công nghiệp nhiều tỷ đô ra đời nhờ tế bào lấy từ một phụ nữ da đen nghèo — người chẳng hề hay biết, chẳng bao giờ đồng ý, và cũng không nhận được một xu nào.

Gia đình chị cũng vậy.

Suốt 20 năm, họ không hề biết.

Năm 1973, một nhà khoa học gọi cho chồng của Henrietta để xin mẫu máu của các con nhà Lacks — và lúc đó gia đình mới biết sự thật: tế bào của Henrietta vẫn đang sống. Vẫn được sử dụng. Trong các phòng thí nghiệm khắp thế giới, bị mua bán, được trích dẫn trong hàng ngàn nghiên cứu.

Những đứa con của chị bàng hoàng. Lạc lõng. Rồi phẫn nộ.

Bởi khi tế bào của Henrietta mang lại hàng tỷ đô, gia đình chị không đủ tiền chữa bệnh. Khi các nhà nghiên cứu xây dựng sự nghiệp, con cháu chị vẫn sống trong cảnh nghèo khó và bệnh tật. Khi tế bào của chị cứu sống biết bao người, chính người thân của chị lại không tiếp cận nổi những dịch vụ y tế cơ bản nhất.

Đó không phải chuyện trừu tượng. Đó là một di sản của bất công.

Suốt nhiều thập kỷ, người ta nói về tế bào HeLa mà chẳng bao giờ gọi tên chị. Trong các bài báo khoa học, chị bị biến thành “Helen Lane”, “Helen Larson”. Vô danh. Bị xóa mờ. Bị rút gọn thành một dòng tế bào thay vì một con người.

Phải nhờ đến một nhà báo, Rebecca Skloot, và lòng can đảm của Deborah — con gái Henrietta — sự thật mới được phơi bày. Năm 2010, cuốn sách The Immortal Life of Henrietta Lacks buộc giới khoa học phải đối mặt với những gì họ đã làm — không chỉ với Henrietta, mà với biết bao bệnh nhân nghèo, da đen khác bị sử dụng mà không có đồng ý hay bồi thường.

Sự thức tỉnh đến chậm chạp.

Năm 2013, Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) cuối cùng ký thỏa thuận cho gia đình Lacks quyền tham gia quyết định việc sử dụng dữ liệu từ tế bào HeLa. Năm 2021, gia đình khởi kiện một công ty dược vì đã trục lợi từ tế bào của chị mà không được phép. Vụ việc vẫn đang được giải quyết.

Ngày nay, người ta tôn vinh chị. Những tòa nhà mang tên chị. Giải thưởng được trao để tưởng nhớ chị. Năm 2023, Smithsonian khánh thành tượng đồng của chị.

Nhưng không gì xóa được điều này: Henrietta Lacks chưa từng có quyền được chọn.

Chị đến để tìm chữa trị. Chị ra về như “nguyên liệu” cho khoa học.

Tế bào của chị đã được dùng trong hơn 75.000 nghiên cứu. Chúng góp phần vào những công trình đoạt giải Nobel. Chúng tạo ra hàng tỷ đô.

Còn con cháu chị, đến giờ vẫn chật vật trả tiền bảo hiểm y tế — thứ mà chính tế bào của chị đã góp phần làm nên.

Đây không chỉ là chuyện quá khứ. Đó là lời nhắc: tiến bộ y học đã nhiều lần được xây trên những thân thể không thể nói “không”. Ranh giới giữa khoa học và bóc lột lâu nay vẫn do quyền lực vạch ra, chứ không phải đạo đức.

Henrietta Lacks chỉ mong một điều: bớt đau. Sống đủ lâu để nuôi con.

Thay vào đó, chị trở nên “bất tử” — trong phòng thí nghiệm, trong giáo trình, trong cả một nền công nghiệp sinh ra từ cơ thể chị.

Nhưng không phải theo cách chị sẽ chọn.

Họ đã lấy tế bào của chị mà không hỏi. Họ đã xây cả một đế chế trên thân xác chị.

Và suốt nhiều thập kỷ, họ thậm chí không thèm gọi tên chị.

Henrietta Lacks. Hãy nói tên chị. Hãy ghi nhớ.

Tế bào của chị vẫn còn sống. Vẫn hoạt động. Vẫn đang cứu người.

Chị xứng đáng được nhớ đến nhiều hơn là “nguyên liệu” của một phát hiện vĩ đại.

Chị là một người phụ nữ. Một người mẹ. Một con người có giá trị.

Không chỉ là một dòng tế bào. Không chỉ là HeLa.

Henrietta.

St


 

CHUYỆN 13 THANH NIÊN MÔNG CỔ THUỘC “THÀNH PHẦN PHẢN ĐỘNG”

Trần Trung Đạo

 (Bài này còn có tựa “Cách Mạng Dân Chủ Qua Kinh Nghiệm Mông Cổ”)

Cách mạng dân chủ từ Âu sang Á đều phát xuất từ sức mạnh của các tầng lớp nhân dân lựa chọn sự dứt khoát với quá khứ, đồng hành về phía tương lai tự do dân chủ của dân tộc và thời đại.

Trong lịch sử hiện đại chưa có sự thay đổi căn bản của một xã hội từ độc tài CS sang dân chủ tự do bằng thư thỉnh nguyện.

Người viết đã trình bày khá nhiều về các cuộc cách mạng Liên Xô, Đông Âu, các nước Bắc Phi và gần đây là Miến Điện, nơi đó các lãnh tụ cách mạng là những nhân vật được thế giới quan tâm theo dõi và độc tài lo ngại khi phải nặng tay với họ. Lần này, xin giới thiệu với bạn đọc những lãnh tụ dân chủ còn khá xa lạ với chúng ta.

Trước hết một anh tên là Tsakhiagiin Elbegdorj, sinh năm 1963, một trong những lãnh tụ của phong trào dân chủ Mông Cổ.

Năm 1989, Elbegdorj, người được ca ngợi như là Thomas Jefferson của Mông Cổ, chi là một thanh niên 26 tuổi mới từ Liên Xô trở lại quê hương sau khi hoàn tất chương trình đại học báo chí và triết học Mác Lê.

Trên đường từ Moscow về lại Ulaanbaatar, hành trang của Elbegdorj không phải là sách vở về chủ nghĩa CS mà anh học ở trường đảng nhưng là những đổi thay từ chính sách Glasnost (Cởi mở) của Mikhail Gorbachev.

Anh đã suy nghĩ rất nhiều khi nhìn những hạt mưa dân chủ đang bắt đầu nhỏ giọt xuống vùng đất bảy mươi bốn năm hạn hán trong độc tài CS và mơ ước những đổi thay sẽ đến cho dân tộc anh.

Mông Cổ có một vị trí địa chính trị rất khó khăn. Quốc gia vùng trái độn này nằm giữa hai siêu cường CS Liên Xô và Trung Cộng, phía tây là một nhóm các quốc gia Trung Á độc tài và xa hơn phía Đông là một Bắc Hàn cô lập.

Một khi có tình huống bất lợi, Trung Cộng có thể sẽ áp lực chính trị và ngay cả có thể can thiệp bằng quân sự để ngăn chặn phong trào dân chủ như vết dầu loang.

Những ai học kinh tế chính trị của các trường đảng CS trung ương, Mông Cổ thường được dùng làm ví dụ để chứng minh cho quan điểm “đột biến cách mạng” của Lenin khi ông ta cho rằng một nước lạc hậu, phong kiến có thể nhảy vọt lên xã hội chủ nghĩa không phải “kinh qua” giai đoạn tư bản. Điều đó cho thấy, ngay cả các nước CS cũng thừa nhận Mông Cổ còn trong vòng lạc hậu.

Tuy nhiên, nỗi lo lắng lớn nhất của Elbegdorj là hơn suốt 71 năm, quê hương của Đại Đế Thành Cát Tư Hãn chưa hề nghe đến hai chữ “tự do,” “dân chủ”.

Ngoại trừ nền độc lập ngắn ngủi năm 1911, chiều dài lịch sử của Mông Cổ hiện đại bị che phủ trong bóng đen của tư tưởng độc tài CS. Nhưng Elbegdorj cũng tin rằng nếu nhân dân Mông Cổ đoàn kết vì tương lai dân chủ, Mông Cổ sẽ vượt qua được những khiếm khuyết bên trong cũng như đe dọa từ bên ngoài. 

Elbegdorj biết những “đổi mới” tại Liên Xô hay một số nước CS Đông Âu chỉ là những biện pháp vá víu tạm thời. Theo anh chỉ có dân chủ mới cứu được Mông Cổ. Dân chủ là đôi cánh đưa Mông Cổ ra khỏi vòng nghèo đói, độc tài, bế tắc của một quốc gia vùng độn (buffer state).

Trong diễn văn ngày 28 tháng 11, 1989, Elbegdorj phát biểu “Mông Cổ cần dân chủ và minh bạch” và kêu gọi các tầng lớp nhân dân ủng hộ mục đích này.

Từ quan điểm đó, thay vì viết thư thỉnh nguyện lãnh đạo CS Mông Cổ thực hiện các chính sách tương tự như Glasnost của Mikhail Gorbachev, Elbegdorj và các bạn chủ trương Mông Cổ phải dứt khoát thay đổi từ CS sang dân chủ bằng một cuộc cách mạng bất bạo động.

Sau khi về nước 1989, Elbegdorj sáng lập một tờ báo đối lập và anh đặt tên  báo là Dân Chủ.

Nhóm bạn của Elbegdorj tổ chức các cuộc biểu tình, các buổi tuyệt thực đòi dân chủ và minh bạch.

Cuộc biểu tình tuyệt thực đầu tiên ngày 10 tháng 12 năm 1989 do 13 người trẻ phát động.

Ngày nay lịch sử Mông Cổ gọi họ một cách kính trọng là “13 nhà dân chủ Mông Cổ đầu tiên” nhưng dĩ nhiên trong năm 1989, bộ máy tuyên truyền CS Mông Cổ gọi họ là “mười ba tên phản động”.

Danh sách 13 người đầu tiên của phong trào dân chủ Mông Cổ 1990:

  1. Tsakhiagiin Elbegdorj (27 tuổi, lãnh tụ phong trào dân chủ, Thủ tướng Cộng hòa Mông Cổ)
  2. Erdeniin Bat-Üül (Lãnh tụ Đảng Dân Chủ Mông Cổ)
  3. Davaadorjiin Ganbold (Lãnh tụ Đảng Tiến Bộ Dân Tộc Mông Cổ )
  4. Khoovzoin Maam (Lãnh tụ Đảng Lao Động Tự Do Mông Cổ)
  5. Punsalmaagiin Ochirbat (Tổng thống đầu tiên của Mông Cổ được bầu 1990)
  6. Dumaagiin Sodnom (Thủ tướng Mông Cổ, 1990)
  7. Sharavyn Gungaadorj (Thủ tướng Mông Cổ từ tháng 3 đến tháng 9, 1990)
  8. Dashiin Byambasüren (Thủ tướng Mông Cổ sau tháng 9, 1990)
  9. Dari-Sukhbaatar
  10. Chimediin Enkhee
  11. Bat-Erdeniin Batbayar
  12. Jambyn Batmönkh
  13. Gombojavyn Ochirbat

Nhưng những nhà dân chủ Mông Cổ đầu tiên đó không phải là những người làm nên lịch sử.

Cuộc cách mạng dân chủ không làm rơi một giọt máu nào ở Mông Cổ là do đại đa số trong số 2.8 triệu dân Mông Cổ chọn đứng về phía tương lai, chọn dứt khoát với quá khứ, chọn đi trên con đường thời đại, trong số đó có cả Tổng Bí Thư CS thức thời Jambyn Batmönkh.

Sau cách mạng dân chủ thành công, năm 1998, Elbegdorj được bầu vào chức vụ Thủ Tướng Cộng Hòa Mông Cổ và lần nữa nhiệm kỳ 2004-2006, và năm 2009, ông được bầu làm Tổng thống Cộng Hòa Mông Cổ.

Học bài học đấu tranh dân chủ của Elbegdorj và nhân dân Mông Cổ để củng cố niềm tin và hy vọng cho cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Anh Elbegdorj không cô đơn khi ngồi tuyệt thực đòi minh bạch giữa mùa đông Mông Cổ và rồi người Việt cũng sẽ không cô đơn khi xuống đường đòi minh bạch trên khắp nẻo đường Việt Nam.

Elbegdorj không phải là con của khai quốc công thần như Aung San Suu Kyi, không phải là luật sư nổi tiếng như Nelson Mandela, không phải là lãnh tụ của phong trào Solidarity Ba Lan được cả Đức Giáo Hoàng và TT Reagan ủng hộ như Lech Wałęsa, không phải là người được trao giải Nobel Hòa Bình như cả ba người được nhắc trên đây.

Trước 1989 không ai biết gì về Elbegdorj vì anh ta chỉ là một người thợ mỏ, con trai của một người dân du mục chăn cừu trên thảo nguyên Mông Cổ.

Nhưng Elbegdorj có tình yêu sâu đậm dành cho đất nước và khát vọng tự do cho quê hương. Tình yêu nước và lương tri thời đại đã là ngọn đuốc thắp sáng quê hương anh và sáng cả tâm hồn người Việt cùng khát vọng như anh. Trong buổi phỏng vấn dành cho báo The New York Times năm 2004, Thủ tướng Elbegdorj nhắc lại kỷ niệm buổi tuyệt thực đầu tiên “Chúng tôi muốn cho thế giới thấy rằng các giá trị thường được gọi là giá trị Tây phương không phải thuộc về Hoa Kỳ, châu Âu, Nam Hàn và Nhật Bản thôi nhưng còn thuộc về Mông Cổ.”

Các thế hệ trẻ Việt Nam chỉ cần thay hai chữ Mông Cổ bằng Việt Nam trong câu nói của Elbegdorj, “Giá trị tự do dân chủ không phải thuộc về Hoa Kỳ, châu Âu, Nam Hàn và Nhật Bản hay Mông Cổ mà còn là của Việt Nam nữa”.

Trần Trung Đạo


 

Mỹ-Châu Âu và bài học ‘người đốn củi, kẻ gánh nước’- Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

March 19, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Trong cuộc phỏng vấn POLITICO Pub (Munich, Đức) ngày 14 Tháng Hai, 2026, đại sứ Mỹ tại NATO Matthew Whitaker ám chỉ quan hệ Mỹ và Châu Âu giờ là chuyện “thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ.” Hãy làm tốt việc của mình. Kẻ đốn củi cứ đốn củi và người gánh nước thì lo gánh nước (nguyên văn: “We just need to, every single day, chop wood and carry water, ignore all of the political noise”). Mỹ đang thấm thía “bài học” này hơn bao giờ hết…

Tổng Thống Donald Trump (phải) và Thủ Tướng Đức Friedrich Merz trong lần gặp nhau tại Tòa Bạch Ốc, hôm 3 Tháng Ba, 2026, chỉ ít ngày sau khi Mỹ và Israel tấn công Iran. (Hình: Andrew Caballero-Reynolds/AFP via Getty Images)

Gáo nước lạnh của các đồng minh

Trump chưa bao giờ giận đến mức kinh khủng như vậy. Ông đã bị gáo nước lạnh tạt vào mặt từ những đồng minh mà liên tục nhiều năm qua ông mạt sát họ hết lời. Họ thẳng thừng từ chối “lệnh” của ông, yêu cầu tham gia bảo vệ eo biển Hormuz.

Ngày 17 Tháng Ba, Trump trút lửa thịnh nộ lên Truth Social: “Nhờ những thành công quân sự, chúng ta không còn ‘cần’ hay mong muốn sự hỗ trợ từ các nước NATO – thực ra là CHƯA BAO GIỜ CẦN! Tương tự với Nhật, Úc hay Nam Hàn. Với tư cách tổng thống Hoa Kỳ, quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, CHÚNG TA KHÔNG CẦN SỰ GIÚP ĐỠ CỦA BẤT KỲ AI!”

Những ngày gần đây, Trump liên tục kêu gọi các đồng minh, thậm chí cả đối thủ địa chính trị Trung Quốc, hỗ trợ bảo vệ eo biển Hormuz. Những gì Trump nhận được là “cục lơ.” “Chúng tôi không châm ngòi cho cuộc chiến này” – Bộ Trưởng Quốc Phòng Đức Boris Pistorius phát biểu ngày 16 Tháng Hai. Phó Thủ Tướng Luxembourg Xavier Bettel nói, yêu cầu của Trump là “một kiểu tống tiền.” Phần mình, Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron nói chiến dịch tấn công Iran là bất hợp pháp. Với Anh, Thủ Tướng Keir Starmer khẳng định rằng nước ông “sẽ không bị kéo vào một cuộc chiến lan rộng”…

Trong thực tế, quan hệ Mỹ-Âu thời Trump luôn trong tình trạng cực kỳ căng thẳng. Một số nhà bình luận ví von đây là mối quan hệ chua chát tương tự sống với một “bạn đời” không chỉ ưa quát tháo vô cớ, thích “đá thúng búng niêu,” mà còn khoái bạo hành và thao túng tâm lý. Nhiều người hẳn còn nhớ, tại hội nghị an ninh Munich 2025, Phó Tổng Thống JD Vance đã sỉ nhục Châu Âu như thể họ là đám học trò lôi thôi cần mắng chửi nặng hết mức thì may ra mới “dạy dỗ” được.

“Giờ đây xuất hiện một phương trình mới, nơi bạn thực sự không biết ai là bạn, ai là đồng minh” – nhận định của Kaja Kallas, người đứng đầu chính sách đối ngoại và an ninh của Ủy Ban Châu Âu. Từ các bộ trưởng, nghị viên đến tướng lĩnh quân đội Châu Âu, tất cả đều thừa nhận rằng những giá trị chung từng gắn kết Washington với các đồng minh Châu Âu nay gần như không còn. Mất mát lớn nhất là niềm tin.

Elbridge Colby, thứ trưởng Quốc Phòng phụ trách chính sách tại Ngũ Giác Đài, nói rằng ông không chắc những “tụng ca và tín điều” một thời về giá trị chung Mỹ-Âu còn đúng hay không. Colby nhấn mạnh, ở đây không bàn đến chuyện “(Mỹ) rút lui” ở mức độ nào, mà cần phải đặt quan hệ trên nền tảng bền vững và thực chất hơn, đặc biệt các lợi ích chung.

Tuy nhiên, vấn đề là lợi ích an ninh của Mỹ chồng lấn với lợi ích Châu Âu ở cấp độ nào. Từ góc nhìn Châu Âu, thách thức an ninh then chốt của họ là cuộc chiến của Nga ở Ukraine, cũng như khả năng Moscow nhắm tới các nước Baltic và những khu vực khác thuộc Liên Minh Châu Âu. Quan điểm này gần như hoàn toàn khác với Mỹ. Trump chưa bao giờ đặt nặng mối đe dọa Nga. Ông thậm chí treo hình Vladimir Putin trong Tòa Bạch Ốc.

Cần nhắc lại, tại hội nghị an ninh Munich 2026 cách đây một tháng, bài phát biểu của Ngoại Trưởng Marco Rubio không hề đề cập đến Nga. Thay vào đó, Rubio cảnh báo về hiểm họa của nhập cư ồ ạt vào Châu Âu, vấn đề mậu dịch “không kiểm soát” và “hiện tượng” đánh động thái quá về tình trạng nóng toàn cầu.

Rubio nói thêm, dù vận mệnh Châu Âu không phải là điều không liên quan Mỹ nhưng “chúng tôi sẵn sàng, nếu cần, tự mình làm những gì chúng tôi muốn làm.” Một lần nữa, tương tự bóng gió của đại sứ Mỹ tại NATO Matthew Whitaker, Rubio hàm ý rằng Châu Âu cần Mỹ hơn là ngược lại và Mỹ sẵn sàng “đi một mình” (“go it alone”) khi cảm thấy cần thiết như vậy.

Chẳng ai có thể “sống một mình”

Hai tuần trước khi Mỹ-Israel thực hiện chiến dịch “thanh toán” Tehran, Thủ Tướng Đức Friedrich Merz đã viết một xã luận trên Foreign Affairs (“How to Avert the Tragedy of Great-Power Politics”), qua đó có thể thấy quan điểm của ông và thông điệp mà ông muốn gửi đến Trump:

“Như triết gia Đức Peter Sloterdijk gần đây đã viết, Châu Âu đã chấm dứt ‘một kỳ nghỉ mà lịch sử dường như vắng mặt’ kéo dài. Chúng ta đã bước qua ngưỡng cửa để tiến vào một kỷ nguyên u ám hơn, một lần nữa được định hình bởi sự phô diễn sức mạnh và nền chính trị cường quốc. Vị thế lãnh đạo toàn cầu mà Hoa Kỳ tuyên bố nắm giữ đang bị thách thức, thậm chí dường như đang bị đánh mất. Và trật tự quốc tế vốn dựa trên các quyền và quy tắc, dù vốn dĩ không hoàn hảo ngay cả trong những ngày tháng tươi đẹp nhất, giờ đây không còn tồn tại (…)

“Khi tiến về phía trước, chúng ta cần nhìn nhận bức tranh toàn cảnh và vạch ra một lộ trình rõ ràng: Người Đức hiểu rằng một thế giới mà ở đó chỉ có quyền lực lên ngôi sẽ là một nơi tăm tối. Đất nước chúng tôi từng đi theo con đường này trong thế kỷ 20, để rồi phải đón nhận một kết cục cay đắng và đầy chua cay.

“Ngày nay, chúng tôi lựa chọn con đường khác. Đất nước chúng tôi gắn kết vững chắc với Liên Minh Châu Âu, với NATO, cũng như với một mạng lưới các quan hệ đối tác chiến lược ngày càng mở rộng. Chúng tôi tin tưởng vào giá trị của những mối quan hệ đối tác đáng tin cậy, được xây dựng trên nền tảng những giá trị và lợi ích chung, sự tôn trọng lẫn nhau cùng niềm tin vững chắc. Sau năm 1945, chính Hoa Kỳ là quốc gia đã truyền cảm hứng cho người Đức về ý tưởng đầy mạnh mẽ này…”

Không còn đường lùi

Mối bất hòa nghiêm trọng từ việc Châu Âu để Mỹ “tự gánh củi” và “tự gánh nước” trong cuộc chiến Trung Đông là sự kiện “giọt nước tràn ly” khiến quan hệ Mỹ-Âu không còn kỳ vọng trở lại trạng thái bình thường như trước thời Trump, ngay cả khi Trump rời nhiệm sở. Cần nhắc lại, ngay trước thềm hội nghị an ninh Munich 2026, Châu Âu đã công khai nói rằng Trump là một “quả cầu đập phá” (“wrecking ball”) và là một trong những “kẻ phá bĩnh” hủy hoại các chuẩn mực và thể chế trật tự quốc tế.

Quan hệ rạn nứt Mỹ-Âu không chỉ thể hiện trên nghị trường. Chưa bao giờ dân Châu Âu nhìn Mỹ, chính xác hơn là Trump, bằng cặp mắt khác như lần này. Cuộc khảo sát do Cluster17 thực hiện trung tuần Tháng Hai với 7,498 người tại bảy quốc gia Châu Âu đã đưa ra kết quả đầy sửng sốt. Đại đa số ý kiến ủng hộ việc điều động quân đội Châu Âu đến bảo vệ Greenland trong trường hợp căng thẳng leo thang. 51% ý kiến đánh giá Trump là kẻ thù của Châu Âu, trong khi chỉ vỏn vẹn 8% xem ông là bạn.

Tất nhiên Châu Âu không thể cắt đứt quan hệ với Mỹ, về chính trị lẫn kinh tế. Tuy nhiên, họ bắt đầu tìm cách giảm lệ thuộc, không chỉ về quân sự mà cả mạng lưới tài chính và hệ thống công nghệ, nhằm giữ được chủ quyền tiền tệ và chủ quyền kỹ thuật số. Nói cách khác, họ cố “gỡ” nhiều nhất có thể những sợi dây lệ thuộc móc dính vào hệ thống Mỹ.

Mức độ lệ thuộc các công ty công nghệ lớn của Mỹ (như Amazon, Google và Microsoft trong lĩnh vực điện toán đám mây) cũng như các ông trùm dịch vụ tài chính (Mastercard và Visa cho các hệ thống thanh toán) đều được rà soát lại. Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron cảnh báo rằng những phụ thuộc như vậy khiến Châu Âu ngày càng dễ bị tổn thương hơn trước sức ép về kinh tế và chính trị từ một tổng thống bất thường như Trump.

Giới lãnh đạo Châu Âu thậm chí bắt đầu xem xét các công cụ cấm vận mà Washington từng dành riêng cho một số đối thủ như Iran hay Bắc Hàn giờ đây có thể được sử dụng để chống lại họ. Trong thực tế, Trump đã nhúng sâu vào chính trị Châu Âu khi áp đặt lệnh trừng phạt nhằm vào các chánh án và công tố viên tại Tòa Án Hình Sự Quốc Tế (La Hague) vì tội dám điều tra việc Israel có phạm tội ác chiến tranh ở Gaza hay không.

Nói cách khác, ngoài việc tăng cường ngân sách quốc phòng – điều mà Trump luôn dùng để gây sức ép, Châu Âu đang tước dần những công cụ mà Trump có thể sử dụng để bắt thóp họ. Sau tất cả, niềm tin mà hai bên dành cho nhau đã vĩnh viễn xuống đến đáy.

Có thể ngày mai Châu Âu sẽ nhân nhượng và giúp Trump phần nào trong bi kịch chiến tranh Trung Đông mà Trump đang sa lầy nghiêm trọng, nhưng ít nhất, hôm nay, họ đã dạy ngược lại Trump bài học rằng trong thế giới hỗ tương ngày nay khi các bên ít nhiều ràng buộc lẫn nhau thì không thể có chuyện “chơi một mình.” Dù mạnh đến đâu, chẳng ai có thể tự “đốn củi” và “gánh nước” mà không cần ai giúp. [kn]


 

Iran thách thức Hoa Kỳ với chiến tranh du kích trên biển

Làm thế nào để giành chiến thắng trong một trận hải chiến ? Đó là câu hỏi đang dấy lên tại Washington trước một đối thủ bị cho là chỉ có « những phương tiện vừa cũ kỹ, lỗi thời và nghèo nàn » như Iran. Hoa Kỹ xác nhận đã đánh chìm hơn 120 tàu chiến của Iran nhưng cho đến ngày 20/03/2026 Teheran vẫn phong tỏa eo biển Hormuz nhờ chiến lược « du kích biển ».

Đăng ngày: 20/03/2026 

Thanh Hà

YouTube player

Mặc dù đã  điều hai hàng không mẫu hạm và huy động đến 1/3 các khả năng của Hải Quân Hoa Kỳ đến Trung Đông, hàng ngàn lính Mỹ đang được điều đến khu vực, hôm 15/03/2026 tổng thống Trump đã kêu gọi các  « đồng minh » và Trung Quốc chung sức bảo đảm an toàn và tự do giao thương hàng hải. Trước mắt, cộng đồng quốc tế trước mắt không mấy hào hứng chia sẻ gánh nặng xuất phát từ một cuộc chiến mà Mỹ và Israel đã khởi xướng mà quốc tế không  không tham khảo ý kiến và cũng không trong khuôn khổ của Liên Hiệp Quốc. 

Iran và những thiệt hại trong 2 tuần đầu chiến tranh

Họp báo hôm 19/03/2026 bộ trưởng Quốc Phòng Pete Hegseth cho biết Hoa Kỳ và Israel đã phá hủy « 85 % các hệ thống phòng không và radar, 70 % khả năng phóng tên lửa đạn đạo » của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran. Trên biển « hơn 120 trong số từ 200-300 tàu của Iran đã bị nhận chìm ». Ngoạn mục hơn cả là vụ hôm 04/03, một tàu hộ tống của Iran ở mãi tận ngoài khơi Sri Lanka ngư lôi phóng đi từ một tàu ngầm của Mỹ đánh chìm, gần 90 thủy thủ thiệt mạng hơn 60 người mất tích.

Theo các tổng kết gần đây nhất, sau gần 3 tuần chiến tranh, hải quân Iran đã chịu nhiều thiệt hại. Ít nhất 4 tàu corvet, 1 tàu chở conterner còn mới nguyên đã bị nhận chìm. Căn cứ hải quân Bandar-Abbas, nơi cũng là « tổng hành dinh » của chi nhánh đường biển được đặt dưới sự điều hành của Vệ Binh Cách Mạng đã nhiều lần là mục tiêu bị nhắm tới.

QUẢNG CÁO

Cảng nước sâu Konarak – Chabahar hướng ra Ấn Độ Dương cũng đã bị nhiều thiệt hại, tương tự như căn cứ ở Buchehr, nơi có các cơ sở hạt nhân của Iran.

Nhưng Teheran vẫn làm chủ tình hình ở eo biển Hormuz và dọa « không một giọt dầu nào » trong Vịnh có thể đi qua cửa khẩu này cho tới chấm dứt chiến tranh

Những mũi nhọn trong chiến thuật « du kích biển »

Trong bài tham luận mang tựa đề Làm thế nào giải tỏa Hormuz ? Những kịch bản chiến thuật nhằm bảo đảm an ninh trong vùng Vịnh đăng trên báo Le Grand Continent, chuyên gia quân sự Stéphane Audrand, một nhà tư vấn độc lập chuyên về những rủi ro quốc tế nhận định : Đóng cửa eo biển Hormuz là kịch bản mà dường như Nhà Trắng đã không tính đến, như thể bất chấp những báo động của Lầu Năm Góc Mỹ – Israel đã cố tình loại bỏ khả năng Iran lao vào một cuộc hải chiến.

Nhà phân tích Louis Borer chuyên nghiên cứu về các mối đe dọa đường biển thuộc cơ quan tư vấn Đan Mạch Rish Intelligence được báo Le Monde trích dẫn lưu ý : Teheran từ lâu nay đã rất xuất sắc trong chiến thuật « du kích biển », chủ yếu sử dụng khoảng 200 tàu hộ tống cỡ nhỏ và tàu tuần tra, kết hợp với việc sử dụng drone do chính Iran tự tạo và tên lửa hành trình không quá tốn kém mà một phần là do Trung Quốc cung cấp.

Lấy số đông làm sức mạnh

Ngoài ra, Iran áp dụng mô hình « lấy số đông làm sức mạnh » mà chuyên gia Pháp Stéphane Audrand gọi là chiến thuật « ong vỡ tổ » : tức là hy động rất nhiều tàu tuần tra, nhỏ và gọn nhẹ, để áp đảo đối phương. Mỗi tàu nhỏ này thường chỉ mang theo « vũ khí nhẹ như rocket, tên lửa nhỏ hoặc thủy lôi từ tính gắn vào thân tàu ». Phương án này hiệu quả ở eo biển Hormuz và trong vùng Vịnh Ba Tư : đó là một « cửa biển hẹp mà lại rất đông tàu thuyên qua lại ».

Nhìn từ phía Hoa Kỳ thì có nhiều yếu tố bất thuận lợi khi can thiệp trong vùng Vịnh và eo biển Hormuz : Các bờ biển của Iran là những vách núi đá cho phép các loại tàu nhỏ ẩn núp và cất giữ vũ khí, đạn dược. Địa hình đó thuận lợi cho « chiến tranh du kích ». Theo thẩm định của Stéphane Audrand, bên cạnh khoảng 15 căn cứ hải quân, hơn 100 cảng -chủ yếu phía tây Hormuz và vô số vịnh nhỏ nơi các tàu nhỏ ẩn nấp và cất giữ vũ khí. Đây là một « cơn ác mộng » đối với các nhà chiến lược của Mỹ.

Làm thế nào để bảo đảm an toàn cho một « hành lang đường biển » có chiều dài hơn 1500 km dọc theo duyên hải của Iran ? 

Hải quân Iran : Phương tiện không nhiều nhưng « hiệu quả »

Vẫn chuyên gia quân sự Stéphane Audrand nhắc lại vài cột mốc quan trọng trong học thuyết hải quân của Iran. Đầu tiên hết là một sự tổ chức lại hồi 2007. Các nhiệm vụ « bảo vệ lãnh hải, kiểm soát các nguồn đánh bắt cá hay an ninh biển, chống hải tặc … vẫn thuộc về lực lượng hải quân truyền thống. Nhưng về những phương tiện và chiến lược tác chiến thì lại thuộc thẩm quyền của  Vệ Binh Cách Mạng trong tay giáo chủ Ali Khamenei. Đó là thời điểm Teheran chuyển sang phát triển các phương tiện can thiệp « gọn và nhẹ, mà lại ít tốn kém » như drone, drone biển, và các loại tàu nhỏ mà giới trong ngành gọi là những « hạt bụi biển »

Những phương tiện này cuối 2023 đã được lực lượng Hồi giáo Houthi ở  Yemen, thuộc phe hệ phái Shia sử dụng. Với ít phương tiện nhưng cũng đủ để phe này thách thức các tàu hàng của phương Tây đi qua Hồng Hải và làm rối loạn giao thương đường biển trong vùng.

Chiến thuật này của phe Houthi ở Yemen làm giới trong ngành liên tưởng đến trường phái Jeune Ecole – được Hải Quân Pháp phát triển vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Trong một bài nghiên cứu đăng trên trang nhà tạp chí Conflits  chuyên gia Kevin D. McCranie thuộc Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ đã nhắc lại quân Houthi ngày nay dùng số nhiều và sử dụng các phương tiện « vừa gọn, vừa nhẹ » và không quá tốn kém được Iran trang bị để nhắm vào các tàu hàng của phương Tây. Ở góc đài bên kia, Mỹ và các đồng minh đã phải huy động những loại tên lửa rât tối tân và tốn kém để đáp trả. Lần này tại eo biển Hormuz, đối mặt với Iran, Hoa Kỳ đã gửi 2  hàng không mẫu hạm cùng một đội ngũ các tàu hộ tống tháp tùng và hàng ngàn quân sang Trung Đông.

Phía Iran đã tìm ra một phương thức khác ít tốn kém hơn để cho dù trong thế « châu chấu đá voi » nhưng cũng đủ để đẩy siêu cường quân sự số 1 thế giới vào cái thế « bị động », đủ để phương án Washington huy động tàu chiến hộ tống các tàu dầu tại vùng nóng này bị coi là « vô ích », đủ để tại Washington Lầu Năm Góc phải « cân nhắc thách thức mà Teheran đang đặt ra liên quan đến vấn đề an ninh hàng hải của cả một vùng biển rộng lớn và phức tạp hơn » chứ không chỉ khoanh vùng ở eo biển Hormuz.

Chuyên gia quân sự Pháp Stéphane Audrand trong bài tham luận trên tạp chí Le Grand Continent nhấn mạnh : bảo đảm an ninh cho Vùng Vịnh, eo biển Hormuz không phải là « cốt lõi của vấn đề ». Hơn thế nữa, với chiến tranh Trung Đông lần này Iran đang « thách thức vai trò của Mỹ trong mục tiêu bảo vệ các đồng minh, thách đố luôn cả mức độ bền bỉ của kinh tế toàn cầu ». Bất luận kết cục ra sao, các quốc gia dầu hỏa trong khu vực cũng sẽ phải « rà soát lại » mối liên minh của họ với Hoa Kỳ.

Một số nhà quan sát khác tại châu Á được báo Asia Times trích dẫn còn đi xa hơn khi nói đến « Những bài học Trung Quốc đang rút ra từ chiến tranh giũa một bên là Mỹ-Israel và bên kia là Iran »     


 

Chiến sự hôm nay cho thấy một bước ngoặt nguy hiểm-Lê Diễn Đức

Nguyễn Kim Chi

Lê Diễn Đức

Chiến sự hôm nay cho thấy một bước ngoặt nguy hiểm: cuộc đối đầu không còn dừng ở các mục tiêu quân sự, mà đã chuyển sang đánh thẳng vào hạ tầng năng lượng – huyết mạch của nền kinh tế toàn cầu.

Việc Israel tấn công vào mỏ khí South Pars của Iran và Iran lập tức đáp trả bằng các đòn đánh vào chuỗi cơ sở năng lượng tại Vùng Vịnh không chỉ là ăn miếng trả miếng, mà là sự chuyển pha sang một dạng chiến tranh mới – nơi mỗi đòn đánh đều mang tính hệ thống.

Bề ngoài, Israel vẫn là bên chiếm ưu thế rõ rệt. Khả năng tấn công chính xác, năng lực tình báo và kiểm soát không gian tác chiến giúp họ đánh trúng những mục tiêu có giá trị cao trong lòng Iran. Nhưng nếu chỉ nhìn vào các đòn đánh này để kết luận cục diện, thì sẽ bỏ qua phần quan trọng nhất của cuộc chiến: cách Iran “chơi game”.

Iran không cố thắng theo cách truyền thống. Họ hiểu rõ mình không thể cạnh tranh trực diện với Israel, càng không thể đối đầu đối xứng với Mỹ. Vì vậy, chiến lược của Tehran là chuyển cuộc chiến từ một ván cờ quân sự sang một trò chơi tiêu hao và phá vỡ hệ thống. Thay vì bảo vệ tuyệt đối lãnh thổ, Iran chấp nhận bị đánh, nhưng đổi lại họ mở rộng chiến trường ra toàn khu vực – nơi mà bất kỳ đòn tấn công nào cũng có thể gây chấn động dây chuyền.

Đòn phản công của Iran vào các cơ sở năng lượng ở Qatar, Saudi Arabia hay UAE là minh chứng rõ nhất. Đây không chỉ là hành động quân sự, mà là một tín hiệu: nếu Iran bị đẩy vào chân tường, họ sẵn sàng khiến cả hệ thống năng lượng toàn cầu rung chuyển. Nói cách khác, họ biến cuộc chiến thành một bài toán mà chi phí của việc đánh bại Iran có thể vượt xa lợi ích thu được.

Chính điểm này đã đặt Mỹ vào một tình thế cực kỳ khó xử. Về quân sự thuần túy, Mỹ có thể áp đảo Iran. Nhưng vấn đề không nằm ở việc “đánh thắng”, mà ở việc “kết thúc được chiến tranh”.

Nếu Washington lựa chọn leo thang, họ sẽ đối mặt với một kịch bản quen thuộc: chiến thắng nhanh về quân sự, nhưng sa lầy trong một không gian bất ổn kéo dài – nơi các lực lượng ủy nhiệm, xung đột cục bộ và phá hoại kinh tế liên tục bào mòn nguồn lực.

Bài học từ Chiến tranh Afghanistan vẫn còn rất mới. Mỹ đã lật đổ Taliban chỉ trong thời gian ngắn, nhưng phải mất hai thập kỷ để nhận ra rằng việc kiểm soát một xã hội phức tạp bằng sức mạnh quân sự là điều gần như bất khả thi.

Trước đó, Chiến tranh Iraq cũng cho thấy việc loại bỏ một chế độ không đồng nghĩa với việc xây dựng được một trật tự ổn định. Và Nội chiến Libya là ví dụ điển hình cho một khoảng trống quyền lực biến thành hỗn loạn kéo dài.

Iran thậm chí còn là một bài toán khó hơn. Đây không phải là một quốc gia dễ sụp đổ theo kiểu “cắt đầu là xong”. Họ có một hệ thống quyền lực đa tầng, một bản sắc quốc gia mạnh, và quan trọng hơn, một mạng lưới ảnh hưởng trải rộng khắp Trung Đông. Ngay cả trong kịch bản cực đoan nhất – Mỹ đánh bại chế độ hiện tại – thì việc “xóa sổ toàn bộ hệ thống” gần như là điều không tưởng. Những gì còn lại có thể là một Iran phân mảnh, bất ổn và thậm chí nguy hiểm hơn.

Vì vậy, nghịch lý của cuộc chiến này nằm ở chỗ: càng leo thang, Mỹ càng tiến gần đến một chiến thắng quân sự – nhưng lại xa dần một kết thúc chiến lược. Iran hiểu điều đó, và họ đang chơi đúng vào điểm yếu này. Họ không cần thắng nhanh; họ chỉ cần kéo dài, mở rộng và làm cho đối phương phải trả giá ngày càng đắt.

Nhìn từ góc độ này, có thể thấy cục diện hiện tại không phải là một cuộc chiến có bên thắng rõ ràng. Israel đang thắng trong từng trận đánh. Iran đang làm biến dạng toàn bộ cuộc chơi. Còn Mỹ, dù là siêu cường, lại bị đặt vào thế phải lựa chọn giữa hai con đường đều rủi ro: hoặc không hành động đủ mạnh để chấm dứt xung đột, hoặc hành động quá mạnh và tự đẩy mình vào một vòng xoáy sa lầy mới.

Và đó chính là điều khiến cuộc chiến này trở nên nguy hiểm: không phải vì nó chưa có người thắng, mà vì ngay cả người có thể thắng cũng không chắc sẽ thoát ra được.


 

Pakistan không kích vào thủ đô của Afghanistan, hơn 400 người chết

Ba’o Nguoi-Viet

March 17, 2026

KABUL, Afghanistan (NV) – Giới chức Taliban ở Afghanistan cho biết Pakistan đã không kích vào một bệnh viện cai nghiện ma túy ở Kabul khiến hơn 400 người thiệt mạng và 250 người khác bị thương, theo CBS hôm Thứ Ba, 18 Tháng Ba.

Vụ không kích xảy ra vào khoảng 9 giờ tối Thứ Hai, theo giới chức Taliban.

Nhân viên an ninh Taliban khiêng thi thể tại bệnh viện cai nghiện ở Kabul sau cuộc không kích của Pakistan hôm 16 Tháng Ba. (Hình: Wakil Kohsar / AFP via Getty Images)

“Chính quyền quân sự Pakistan đã ném bom một cơ sở cai nghiện ma túy 2,000 giường có tên là ‘Omid’. Phần lớn cơ sở đã bị phá hủy,” ông  Hamdullah Firtat, phát ngôn viên của Taliban, cho biết trên X.

“Thật không may, số người tử vong cho đến nay đã lên tới 400 người, và có tới 250 người khác bị thương.”

Ông Sharafat Zaman, phát ngôn viên của Bộ Y Tế Công Cộng Taliban, nói với CBS News rằng số người chết có thể tăng lên khi lực lượng cứu hộ vẫn đang tiếp tục kéo các thi thể ra khỏi đống đổ nát.

Các video được Taliban chia sẻ với CBS cho thấy bệnh viện cai nghiện bốc cháy khi lính cứu hỏa và các đội cứu hộ cố gắng dập lửa và khiêng những người chết và bị thương trên cáng ra ngoài.

Pakistan phủ nhận cáo buộc của Taliban, cho rằng họ đó là “tuyên bố sai sự thật.” Họ nói rằng “các vụ nổ tiếp theo có thể được nhìn thấy cho thấy rõ ràng ở nơi đó có các kho đạn dược lớn”.

Phía Pakistan cho biết họ thực hiện “không kích chính xác” nhắm vào các cơ sở quân sự của Taliban ở các tỉnh Kabul và Nangarhar.

“Cơ sở hạ tầng hỗ trợ kỹ thuật và các cơ sở lưu trữ đạn dược tại hai địa điểm ở Kabul đã bị phá hủy trên thực tế,” ông Attaullah Tarar, bộ trưởng Thông Tin Và Phát Thanh Truyền Hình Pakistan, cho biết trên mạng xã hội.

Các cuộc không kích này diễn ra sau nhiều xung đột biên giới dữ dội giữa Afghanistan và Pakistan vốn bùng phát hồi cuối Tháng Hai.

Pakistan nói rằng họ đang trong “tình trạng chiến tranh công khai” với Afghanistan và nhắm vào “các nhóm khủng bố”. (NNL) [kn]


 

Cuộc chạy đua tái vũ trang: Thực tế của các con số và sự cấp bách của hòa bình

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Cuộc chạy đua tái vũ trang: Thực tế của các con số và sự cấp bách của hòa bình

Ngày 18 tháng 9 năm 2025, trong một cuộc phỏng vấn với tờ Daily Mail, cựu Phó Tư lệnh NATO, Tướng Sir Richard Shirreff, tuyên bố rằng chỉ trong 100 giờ – tức chưa đầy năm ngày – Tổng thống Nga Vladimir Putin có thể phá hủy châu Âu. Nhưng bỏ qua mọi cân nhắc luân lý, liệu có thật sự có thể tiêu diệt hoàn toàn đối phương bằng chiến tranh thông thường mà không sử dụng vũ khí hạt nhân – điều chắc chắn sẽ dẫn đến một thảm họa hạt nhân toàn cầu?

Nhận định của Shirreff, ít nhất cũng đáng nghi ngờ, và thực tế đang diễn ra trên chiến trường – cũng như trong nhiều cuộc chiến khác – cho thấy tình hình phức tạp hơn nhiều.

Các báo cáo về máy bay không người lái

Trong cùng những tuần khi các cảnh báo được đưa ra trong giới quân sự NATO về sức mạnh quân sự của Nga, nhiều báo cáo xuất hiện về các máy bay không người lái bay trên bầu trời châu Âu.

  • Ngày 9/9, máy bay chiến đấu phải cất cánh tại Ba Lan và nhiều sân bay bị đóng cửa.
  • Ngày 22/9, tình trạng tương tự xảy ra ở Copenhagen và Oslo.
  • Đầu tháng 10, Munich phải dừng giao thông hàng không.
  • Cuối tháng 10 và đầu tháng 11, đến lượt các sân bay Berlin và Bremen.
  • Ngày 7/11 tại Bỉ.
  • Và cuối cùng ngày 4/12, gần căn cứ tàu ngầm hạt nhân Brest (Pháp).

Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sau đó không có xác nhận chính thức về nguồn gốc của các máy bay không người lái (ban đầu có nghi ngờ từ Nga) cũng như mức độ nguy hiểm của chúng.

Chẳng hạn, theo báo cáo của Cơ quan Kiểm soát Không lưu Đức (DFS), chỉ riêng trong năm 2025 tại Đức đã có 225 lần gián đoạn chuyến bay do drone. Vì vậy, có thể đặt câu hỏi: liệu những cảnh báo ấy có bị thổi phồng hay không?

Luật ngân sách và việc tái vũ trang

Trong cùng thời gian đó, các nước Liên minh châu Âu cũng đang thông qua luật ngân sách, với yêu cầu tăng đáng kể chi tiêu quân sự.

Các quốc gia Eurozone phải trình Kế hoạch Ngân sách Dự thảo cho Ủy ban châu Âu trước ngày 15 tháng 10, sau đó được thảo luận và phê chuẩn tại các quốc hội trước cuối năm.

Chi tiêu quân sự toàn cầu tăng liên tục trong những năm gần đây:

  • +9,4% chỉ riêng năm 2024, theo Niên giám SIPRI 2025: Vũ khí, Giải trừ quân bị và An ninh quốc tế.

NATO – theo thỏa thuận tại Hội nghị Thượng đỉnh La Haye tháng 6 – đặt mục tiêu:

  • 5% GDP cho quốc phòng vào năm 2035
  • 3,5% cho vũ khí
  • 1,5% cho an ninh mở rộng

Tuy nhiên, quyết định chiến lược tái vũ trang sẽ tất yếu kéo theo việc chuyển nguồn lực khỏi:

  • chính sách xã hội
  • y tế
  • giáo dục
  • việc làm
  • bảo vệ môi trường

Tháng 3 năm 2025, Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, nhận định:

“Chính sách của Tòa Thánh từ Thế chiến thứ nhất luôn là thúc đẩy giải trừ quân bị chung và có kiểm soát trên bình diện quốc tế. Vì thế chúng ta không thể vui mừng trước hướng đi hiện nay.”

Những tình huống bị cảm nhận như mối nguy nghiêm trọng có thể khiến dư luận dễ dàng chấp nhận cuộc chạy đua tái vũ trang. Việc nhấn mạnh nguy cơ Nga xâm lược châu Âu – ngoài cuộc chiến ở Ukraine – cũng có thể thu hẹp không gian tranh luận phê phán, đúng vào lúc các ngân sách quốc gia đang được thông qua.

Cuộc chạy đua vũ trang trong lịch sử

Lịch sử cho thấy chi tiêu quân sự thường được coi là cần thiết theo chu kỳ.

Sau Thế chiến II, với 60 triệu người chết và sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh, việc tái vũ trang được xem là điều kiện sống còn.

Học thuyết răn đe hạt nhân và thế cân bằng giữa các khối khiến việc tăng chi tiêu quân sự gần như trở thành bắt buộc.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, tình hình thay đổi:

  • chi tiêu quân sự giảm hoặc ổn định
  • quân đội mở rộng nhiệm vụ sang
  • gìn giữ hòa bình
  • can thiệp nhân đạo
  • quản lý khủng hoảng khu vực

Nhưng ngày nay, chiến tranh lại quay trở lại trong đời sống quốc tế:

  • xung đột cường độ cao
  • cạnh tranh giữa các cường quốc
  • suy giảm tôn trọng luật pháp quốc tế

Một số hiệp ước kiểm soát vũ khí cũng không còn được gia hạn.

Ví dụ mới nhất là Hiệp ước New START, hết hạn ngày 5/2/2026, vốn nhằm giảm và giới hạn vũ khí hạt nhân giữa Mỹ và Nga.

So sánh các con số

Ước tính năm 2025 cho thấy:

NATO

  • GDP: 57.000 tỷ USD
  • Chi tiêu quân sự: 1.495 tỷ USD (2,62% GDP)

Trong đó:

  • Mỹ:
  • GDP: 30.620 tỷ USD
  • quân sự: 921 tỷ USD (3,01%)
  • Các nước NATO khác:
  • GDP: 26.380 tỷ USD
  • quân sự: 574 tỷ USD (2,18%)

Nga

  • GDP: 2.540 tỷ USD
  • quân sự: 187 tỷ USD (7,4%)

Trung Quốc

  • GDP: 19.398 tỷ USD
  • quân sự: 314 tỷ USD (1,62%)

Những con số này cho thấy sự bất cân xứng lớn giữa nguồn lực NATO và Nga.

Vì thế câu hỏi đặt ra:

Liệu cách chúng ta phản ứng với các mối đe dọa hiện nay có thực sự làm giảm chúng, hay lại càng làm chúng gia tăng?

Ngành công nghiệp vũ khí

Chỉ cần tăng 1% GDP cho quốc phòng tương đương khoảng 600 tỷ USD mỗi năm.

Cổ phiếu ngành vũ khí cũng tăng mạnh:

  • Europe Stoxx Aerospace & Defence: +28,97%
  • S&P Aerospace & Defense (Mỹ): +73,45%

Nhưng cuộc chạy đua vũ trang cũng mang theo:

  • chi phí chính trị
  • gánh nặng kinh tế
  • nợ công
  • hạn chế tự chủ của các quốc gia

Lời Đức Thánh Cha về giải trừ quân bị

Trong Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV viết:

“Những lời kêu gọi gia tăng chi tiêu quân sự thường được trình bày như một phản ứng hợp lý trước các mối đe dọa bên ngoài. Nhưng ý tưởng về sức mạnh răn đe quân sự – đặc biệt là răn đe hạt nhân – dựa trên một quan niệm phi lý về quan hệ giữa các quốc gia: không dựa trên luật pháp, công lý và niềm tin, mà trên nỗi sợ và sự thống trị bằng vũ lực.”

Chi tiêu quân sự toàn cầu đã đạt 2.718 tỷ USD, tương đương 2,5% GDP toàn cầu.

Theo Đức Thánh Cha, ngày nay còn xuất hiện cả:

  • chiến dịch truyền thông
  • chương trình giáo dục

nhằm nuôi dưỡng cảm giác đe dọa, và hứa hẹn rằng an ninh chỉ có thể đạt được bằng vũ trang.

Ngài nhấn mạnh:

An ninh ngày nay không thể chỉ được hiểu qua sức mạnh quân sự. Giải trừ quân bị – về văn hóa, chính trị và tinh thần – phải được coi là một con đường nghiêm túc.

Nguy cơ tận thế hạt nhân

Thế giới hiện có khoảng 12.000 đầu đạn hạt nhân:

  • Nga: 5.459 (1.718 sẵn sàng phóng)
  • Mỹ: 5.177 (khoảng 1.700 sẵn sàng)

Sức mạnh của chúng đủ để hủy diệt nền văn minh nhân loại hàng trăm lần.

Chỉ 50 đầu đạn cũng đủ gây thảm họa toàn cầu.

Học thuyết hủy diệt lẫn nhau (MAD) cho thấy:

  • không bên nào có thể thắng
  • bên tấn công trước cũng sẽ bị hủy diệt bởi đòn đáp trả.

Con đường duy nhất

Chiến tranh hiện đại – với công nghệ và trí tuệ nhân tạo – có sức tàn phá khổng lồ và kéo dài vô tận.

Vì thế giải pháp duy nhất, như Huấn quyền của các Giáo hoàng nhắc nhở, là:

  • ngoại giao
  • đối thoại
  • đàm phán
  • giải trừ quân bị

Đức Thánh Cha Lêô XIV nhắc lại lời Chúa Giêsu với thánh Phêrô trong vườn Cây Dầu:

“Hãy xỏ gươm vào vỏ.”

Ngài nói:

“Đó là lời gửi đến những người quyền lực trên thế giới: hãy can đảm giải trừ vũ khí! Nhưng đồng thời cũng là lời mời gọi mỗi người chúng ta giải trừ chính trái tim mình, bởi vì nếu chúng ta không có bình an trong lòng, chúng ta không thể trao ban bình an cho người khác.”

Và cũng là lời mời gọi:

hãy nhìn thế giới từ vị trí thấp hơn — từ đôi mắt của những người đang đau khổ, chứ không phải từ vị trí của kẻ quyền lực.

Andrea Tornielli

Nguồn: Vatican News


 

Iran bắn 700 hỏa tiễn và 3,600 ‘drone’ vào mục tiêu Mỹ, Israel

Ba’o Nguoi-Viet

March 15, 2026

TEHRAN, Iran (NV) – Iran bắn khoảng 700 hỏa tiễn và 3,600 chiếc “drone” (máy bay điều khiển từ xa) vào mục tiêu Mỹ và Israel từ khi chiến tranh bùng nổ, phát ngôn viên Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo (IRGC), lực lượng bán quân sự tinh nhuệ của Iran, tuyên bố hôm Chủ Nhật, 15 Tháng Ba, theo thông báo của IRGC trên Telegram, CNN đưa tin.

Thông báo của IRGC không nói rõ họ bắn số vũ khí đó lúc nào, mục tiêu ở đâu hay thiệt hại ra sao.

Một phụ nữ ngồi giữa căn nhà bị đổ nát của bà ở Tehran, Iran, hôm Chủ Nhật, 15 Tháng Ba, sau hai ngày căn nhà này bị không kích. (Hình: Majid Saeedi/Getty Images)

Cũng hôm Chủ Nhật, thông tấn xã bán chính thức Tasnim của Iran loan báo chiến dịch không kích của Mỹ và Israel từ khi cuộc chiến bắt đầu hôm 28 Tháng Hai tới nay làm hư hại hơn 54,000 căn nhà, cơ sở thương mại và cơ sở y tế.

Theo Tasnim, 29,146 căn nhà ở hàng loạt tỉnh bị hư hại, cùng với 6,851 cơ sở thương mại khắp Iran. Ở tỉnh Tehran, nơi có thủ đô Tehran, 18,180 căn nhà và cơ sở thương mại bị hư hại.

Tổng cộng 236 cơ sở y tế, như bệnh viện và tiệm thuốc tây, bị hư hại, theo Tasnim.

Cùng ngày, phát ngôn viên chính phủ Iran xác nhận chiến dịch không kích của Mỹ và Israel làm hư hại hơn 42,000 cơ sở dân sự khắp đất nước, gồm nhà cửa, trường học, bệnh viện, và làm hàng trăm người chết, hàng ngàn người bị thương, theo đài Al Jazeera.

Bộ Y Tế Iran công bố hơn 1,200 dân thường thiệt mạng và trên 10,000 người bị thương trong chiến dịch của Mỹ và Israel, theo đài NPR hôm Thứ Bảy. (Th.Long) [kn]


 

Cuba xác nhận đàm phán với Mỹ giữa khủng hoảng phong tỏa dầu mỏ (BBC)

(BBC)

Chủ tịch Cuba Díaz-Canel cho biết lưới điện của đảo quốc này ngày càng “không ổn định”

  • Tác giả, Malu Cursino

Chủ tịch Cuba Miguel Díaz-Canel cho biết chính phủ nước này đang tiến hành các cuộc đàm phán với chính quyền Donald Trump nhằm tìm kiếm giải pháp cho những bất đồng giữa hai nước, trong bối cảnh quốc gia vùng Caribe này tiếp tục chịu ảnh hưởng từ lệnh phong tỏa dầu mỏ của Mỹ.

Ông Díaz-Canel cho biết suốt ba tháng qua Cuba đã không nhận được bất kỳ nguồn nhiên liệu nào.

Các cuộc đàm phán giữa hai nước hiện mới chỉ ở giai đoạn đầu, theo thông báo được phát sóng toàn quốc vào hôm 13/3 của Chủ tịch Miguel Díaz-Canel, người chỉ đạo đoàn đàm phán của Cuba.

Hôm 9/3, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói rằng Cuba đang gặp “rắc rối lớn” và cảnh báo về khả năng “tiếp quản một cách thân thiện” đảo quốc này.

Cuba hiện đang trải qua nhiều đợt mất điện, khi đất nước thiếu nhiên liệu để vận hành hệ thống điện – tình trạng càng trầm trọng hơn do áp lực từ Mỹ.

Kể từ khi trở lại Nhà Trắng, ông Trump đã thể hiện rõ mong muốn thay đổi ban lãnh đạo của Cuba. Ông cũng đe dọa áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ từ bất kỳ quốc gia nào cung cấp dầu cho Cuba.

“Như Tổng thống Trump đã tuyên bố, chúng tôi đang đàm phán với Cuba. Các nhà lãnh đạo của họ nên đạt được một thỏa thuận, điều mà ông Trump tin rằng ‘sẽ rất dễ dàng đạt được'”, Nhà Trắng nói với BBC hôm 13/3.

Havana phụ thuộc rất lớn vào nhiên liệu nhập khẩu để sản xuất điện, trong khi Mỹ đã thu giữ một số lô dầu đang trên đường tới Cuba.

Trước đây, Venezuela được cho là cung cấp khoảng 35.000 thùng dầu mỗi ngày cho Cuba, đáp ứng khoảng một nửa nhu cầu dầu của đảo quốc.

Tuy nhiên, việc Mỹ tiến hành chiến dịch tại Venezuela và bắt giữ Tổng thống Nicolás Maduro vào đầu tháng 1/2026 đã làm gián đoạn nguồn cung này.

Trong bài phát biểu toàn quốc, Chủ tịch Cuba Miguel Díaz-Canel cho biết việc trong ba tháng qua không nhập khẩu được bất kỳ nguồn nguyên liệu nào đã khiến dự trữ dầu diesel và dầu nhiên liệu của nước này dần cạn kiệt. Vì vậy, hệ thống điện quốc gia ngày càng trở nên “không ổn định”, ông nói.

Nhằm giảm bớt tác động, Cuba đã tăng sản lượng dầu thô và khí đốt trong nước, đồng thời mở rộng sản xuất điện mặt trời.

Play video, “Cuộc sống thiếu điện và nhiên liệu ở Cuba”, Thời lượng 1,42

01:42

Quan hệ giữa Mỹ và Cuba đã trở nên căng thẳng kể từ khi lãnh đạo cộng sản Fidel Castro lật đổ chính phủ được Mỹ hậu thuẫn vào năm 1959.

Các lệnh trừng phạt và cấm vận thương mại của Mỹ đối với Cuba đã được áp đặt từ đầu những năm 1960.

Đảo quốc này chỉ cách bang Florida của Mỹ khoảng 145km về phía nam. Do khoảng cách gần, nhiều người Cuba không ủng hộ chính quyền Havana đã di cư sang Mỹ. Đây cũng là một trong những lý do khiến thành phố Miami có cộng đồng người Mỹ gốc Cuba rất lớn.

Liên quan đến các cuộc đàm phán hiện tại, Tổng thống Donald Trump cho biết Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio – người là con của những người Cuba nhập cư – đang tham gia vào quá trình này.

Ông Rubio hồi tháng Hai đã phát biểu rằng Cuba cần phải thay đổi.

“Cuba cần phải thay đổi mạnh mẽ, vì đó là cơ hội duy nhất để cải thiện đời sống cho người dân,” ông nói với các phóng viên vào ngày 25/2.

Năm 2024, cộng đồng người Mỹ gốc Cuba tại thành phố Miami đã biểu tình ủng hộ tù nhân chính trị đang bị giam giữ tại Cuba, đồng thời vận động cho ông Donald Trump trở lại Nhà Trắng

Ngoài ra, chính phủ Cuba cho biết nước này sẽ thả 51 tù nhân trong những ngày tới như một cử chỉ “thiện chí” sau các cuộc trao đổi với Vatican.

Động thái này diễn ra vài tuần sau khi Ngoại trưởng Cuba Bruno Rodriguez gặp Giáo hoàng Leo tại Vatican.

Cuba không cho biết liệu những người sắp được thả có bao gồm tù nhân chính trị hay không, nhưng cho biết tất cả họ đều “đã chấp hành phần lớn thời gian bản án và có thái độ cải tạo tốt trong thời gian ở tù.”

Làm rõ về kế hoạch thả tù nhân sắp tới, Bộ Ngoại giao Cuba cho biết từ năm 2010, Havana đã ân xá cho 9.905 tù nhân.

Cơ quan này cũng cho biết thêm rằng trong ba năm qua, khoảng 10.000 người bị giam giữ khác đã được thả “thông qua nhiều hình thức giảm án khác nhau.”

Chính phủ Cuba khẳng định quyết định này là “chủ quyền” của Cuba và phù hợp với thời điểm tuần Thánh trong lịch Kitô giáo.