Trump mời Petro tới Tòa Bạch Ốc sau vài ngày dọa đánh Colombia

Ba’o Nguoi-Viet

January 8, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Tư, 7 Tháng Giêng, loan báo ông mời Tổng Thống Gustavo Petro của Colombia tới Tòa Bạch Ốc, chỉ sau vài ngày ông Trump hăm dọa tấn công nước này, theo Reuters.

Tổng Thống Trump công bố thông tin này sau khi điện đàm với ông Petro, tổng thống cánh tả đầu tiên của Colombia, trước đó cùng ngày. Hai nhà lãnh đạo cho biết họ nói chuyện về mối quan hệ giữa Mỹ với Colombia.

Tổng Thống Gustavo Petro của Colombia phát biểu tại buổi mít tinh ở thủ đô Bogota, Colombia, hôm 7 Tháng Giêng. (Hình: Andres Rot/Getty Images)

Đó là lần đầu tiên Tổng Thống Trump nói chuyện với Tổng Thống Petro kể từ khi ông Trump tuyên bố hôm Chủ Nhật ông thấy ý tưởng mở chiến dịch quân sự nhắm vào chính phủ Colombia “nghe hay.” Ông Trump hăm dọa Colombia ngay sau ngày lực lượng Mỹ tấn công Venezuela, bắt Tổng Thống Nicolas Maduro rồi đưa về Mỹ để truy tố tội về ma túy và vũ khí.

“Tôi vinh hạnh nói chuyện với Tổng Thống Gustavo Petro của Colombia. Ông gọi điện thoại giải thích tình hình ma túy và những điều bất đồng giữa chúng tôi thời gian qua. Tôi đánh giá cao cuộc điện thoại và giọng điệu của ông, và mong gặp ông trong tương lai gần,” Tổng Thống Trump viết trên mạng xã hội Truth Social của ông.

Tổng Thống Trump cho biết thêm hai bên “đang sắp xếp” để ông và ông Petro gặp nhau, nhưng không nói rõ ngày giờ.

“Chúng tôi điện đàm lần đầu tiên từ khi ông (Trump) làm tổng thống,” ông Petro nói với người ủng hộ ông tại buổi mít tinh ở thủ đô Bogota tôn vinh chủ quyền của Colombia. Ông cho hay ông đề nghị Mỹ và Colombia bắt đầu đối thoại trở lại.

Nguồn tin từ văn phòng ông Petro cho Reuters biết cuộc điện đàm diễn ra “thân mật” và “tôn trọng nhau.”

Mối quan hệ giữa Tổng Thống Trump với Tổng Thống Petro lạnh nhạt từ khi ông Trump trở lại Tòa Bạch Ốc hồi Tháng Giêng năm ngoái tới nay.

Ông Trump liên tục cáo buộc, mà không đưa ra bằng chứng, chính quyền ông Petro để ma túy bị buôn lậu đều đặn vào Mỹ. Hồi Tháng Mười, chính quyền ông Trump áp đặt lệnh trừng phạt ông Petro.

Hôm Chủ Nhật, Tổng Thống Trump gọi ông Petro là “một ông bệnh hoạn, thích làm cocaine rồi bán qua Mỹ.”

Tháng Chín năm ngoái, Mỹ tước visa ông Petro sau khi ông tham gia cuộc biểu tình ủng hộ Palestine ở New York sau khi dự họp Đại Hội Đồng Liên Quốc và kêu gọi lính Mỹ “bất tuân lệnh ông Trump.”

Ông Petro cực lực phản đối cuộc chiến của Israel ở Gaza. Ông từng cáo buộc ông Trump “đồng lõa diệt chủng” ở Gaza và kêu gọi truy tố ông Trump về vụ Mỹ không kích tàu thuyền bị nghi buôn lậu ma túy ở Caribbean.

Từ đầu Tháng Chín năm ngoái tới nay, chính quyền Tổng Thống Trump hơn 30 lần không kích tàu thuyền bị nghi buôn lậu ma túy, làm thiệt mạng ít nhất 110 người. (Th.Long)


 

Sau Venezuela, án tử đang treo lơ lửng ở Cuba?

Ba’o Nguoi-Viet

January 5, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Sự kiện Tổng Thống Venezuela Nicolás Maduro bị Mỹ bắt ngày 3 Tháng Giêng, 2026, đã gây chấn động toàn khu vực Mỹ Latin.

Chủ tịch nước Cuba là Miguel Díaz-Canel (giữa) nhưng Raúl Castro (phải), hiện 94 tuổi, em của Fidel Castro, vẫn là “quan nhiếp chính.” (Hình: Yamil Lage/AFP via Getty Images)

Cuba, đồng minh thân cận nhất của Venezuela, đang rơi vào tình thế vô cùng nguy hiểm. Tổng Thống Donald Trump nói “Cuba trông như sắp sụp đổ” và đảo quốc này “không còn thu nhập nào nữa” vì mất nguồn dầu mỏ trợ cấp từ Venezuela. Phát biểu này không chỉ là lời cảnh báo mà còn hé lộ khả năng Washington mở rộng áp lực lên Havana những ngày sắp tới.

Mất thế chống lưng về kinh tế

Quan hệ giữa Cuba và Venezuela được vun đắp mạnh từ thời Tổng Thống Hugo Chávez, khi Caracas trở thành “nguồn máu” kinh tế cho Havana. Trong hơn 25 năm, quan hệ Cuba-Venezuela không chỉ là ngoại giao hay ý thức hệ mà là quan hệ sinh tồn.

Kể từ khi Hugo Chávez lên nắm quyền ở Venezuela năm 1999, Caracas trở thành phao cứu sinh cho Havana sau cú sốc Liên Xô tan rã. Tình “đồng chí” giữa Hugo Chávez và Fidel Castro “như keo sơn” đến mức Castro đã đích thân can thiệp để bảo vệ Chávez trong một âm mưu đảo chính năm 2002.

Nhà lãnh đạo Venezuela đáp lại lòng biết ơn bằng cách hỗ trợ tài chính cho Cuba, cung cấp nguồn sống kinh tế dưới dạng dầu mỏ, một chính sách được duy trì vào thời tổng thống kế nhiệm Nicolás Maduro.

Theo chuyên gia năng lượng Jorge Piñon thuộc Đại Học Texas, tính đến quý IV năm 2025, Cuba nhận trung bình 35,000 thùng dầu/ngày từ Venezuela, cộng thêm một ít từ Mexico và Nga. Với tình trạng Venezuela đang rơi vào hỗn loạn sau vụ Tổng Thống Maduro bị bắt, nguồn dầu từ Venezuela gần như bị cắt đứt hoàn toàn và ngay lập tức, ít nhất thời điểm hiện tại. Piñon nhận định: “Đây là bản án tử nếu Venezuela ngừng cung cấp dầu cho Cuba.”

Kinh tế Cuba vốn kiệt quệ bởi cấm vận Mỹ, quản lý yếu kém và đại dịch COVID-19, nay càng rơi vào khủng hoảng sâu sắc: mất điện kéo dài, thiếu thực phẩm, thuốc men, và làn sóng “ngay cả cột điện” phải bỏ xứ mà đi. Hơn một triệu người đã rời Cuba kể từ 2021, tương đương 10% dân số.

Cuba không có tài nguyên hấp dẫn như dầu mỏ Venezuela nên khả năng Mỹ can thiệp quân sự là rất thấp. Trong thực tế, Mỹ không cần thực hiện một chiến dịch quân sự để lật đổ chính quyền Miguel Díaz-Canel. Cuba có thể tự sụp đổ vì họ đang cheo leo bên bờ vách núi.

Một tháng trước khi Nicolás Maduro bị bắt, áp lực Mỹ lên Venezuela đã khiến chính quyền Cuba lo lắng. Có quá nhiều ngòi nổ âm ỉ ở đất nước này. Không chỉ kinh tế khó khăn, những ngày cuối năm, người dân còn vật lộn sống sót sau trận bão Melisa. Đó là chưa kể sự bùng nổ của dịch sốt xuất huyết. Bây giờ, cơn ác mộng khiến chính quyền Cuba mất ăn mất ngủ đã thành sự thật.

Ngày 4 Tháng Giêng, Ngoại Trưởng Cuba Bruno Rodríguez Parrilla nói, việc lật đổ Nicolás Maduro “buộc chúng ta phải đối mặt một thế tiến thoái lưỡng nan mang tính sống còn, với tư cách là quốc gia độc lập và có chủ quyền.”

Dân Cuba có thể “tự xử”?

Nhiều năm qua, cả Havana lẫn Caracas đều bị bủa vây bởi chính sách “Áp Lực Tối Đa” (“Maximum Pressure”) của cựu cố vấn an ninh quốc gia John Bolton, được thiết kế nhằm vào “Bộ Ba Chuyên Chế” (“Troika of Tyranny”), gồm Cuba, Venezuela và Nicaragua.

Năm 2019, trong nhiệm kỳ đầu, Tổng Thống Trump áp dụng chính sách khắc nghiệt hơn; đồng thời tăng cường hỗ trợ thành phần đối lập. Đòn này được thiết kế với ý nghĩa rằng cấm vận khiến dân chúng điêu đứng và họ tự khắc nổi dậy lật đổ chính phủ.

Dù ngân sách chung của USAID (U.S. Agency for International Development) bị cắt nhưng Ngoại Trưởng Marco Rubio (kiêm ghế cố vấn an ninh quốc gia) đã nới lỏng phần ngân sách USAID dành hỗ trợ những người chống đối chính phủ Cuba. Song song, gần như tất cả dân Cuba đều bị cấm đến Mỹ, và Washington cũng tăng cường thực thi các lệnh cấm đối với hầu hết người Mỹ đến Cuba.

Ngày 30 Tháng Sáu, Trump ra lệnh cho tất cả nhánh của chính phủ phải thắt chặt các lệnh trừng phạt hiện có.

Áp lực Mỹ đã khiến Cuba lẫn Venezuela rơi vào tình trạng bi thảm. Năm 2014, kim ngạch thương mại Cuba-Venezuela chỉ đạt dưới $1 tỷ, so với $4.2 tỷ năm 2015. Cách đây 10 năm, Caracas chở hơn 100,000 thùng dầu mỗi ngày cho Havana. Năm 2025, con số này còn chưa đến một phần ba. Một thập niên trước, có hàng chục liên doanh giữa hai quốc gia, trong khi năm 2024 không có liên doanh nào. Không có dấu hiệu nào cho thấy bất kỳ liên doanh nào vẫn còn hoạt động ở Venezuela.

Tháng Bảy, 2025, Bộ Trưởng Kinh Tế Cuba Joaquin Alonso cho biết, kinh tế quốc gia đã giảm hơn 11% kể từ năm 2019; nông nghiệp, chăn nuôi và khai thác mỏ giảm 53.4% trong cùng thời kỳ, và sản xuất giảm 23%.

Đòn trừng phạt nặng của Mỹ, từ Trump 1.0 sang thời Joe Biden rồi đến Trump 2.0 không thể loại trừ khỏi những nguyên nhân khiến Cuba điêu đứng nhưng sự khốn khó của Cuba cũng đến từ chính họ. Cho đến tận giờ, nhà nước Cuba vẫn không sẵn lòng đoạn tuyệt với mô hình kế hoạch hóa tập trung cứng nhắc. Việc mở rộng khu vực tư nhân trong lĩnh vực kinh tế vẫn không được thực hiện đến nơi đến chốn, trong khi chính sách tiền tệ sai lầm tiếp tục góp phần gây ra lạm phát nghiêm trọng. Còn nữa, chính phủ cũng không muốn có bất kỳ thay đổi đáng kể nào đối với hệ thống độc đảng.

Những ngày cuối cùng đang đến?

Dù trên lý thuyết chủ tịch nước Cuba là Miguel Díaz-Canel nhưng Raúl Castro, hiện 94 tuổi, em của Fidel Castro, vẫn là “quan nhiếp chính.”

Năm 2010, Raúl Castro nói: “Chúng ta phải cải cách, nếu không chúng ta sẽ sụp đổ.” Raúl Castro đã làm gì? Ông cho thu hẹp bộ máy nhà nước cồng kềnh bằng cách sa thải nửa triệu người; mở rộng khu vực kinh tế tư nhân để người dân “tự làm chủ;” các nhà đầu tư nước ngoài được phép nắm cổ phần đa số trong các dự án; và nhà nước sẽ giao đất công bỏ hoang cho nông dân.

Tuy nhiên, kế hoạch được thực thi rất nửa vời. Thí dụ, nông dân được giao đất nhưng họ phải bán lại sản phẩm cho hệ thống phân phối giá cả được nhà nước kiểm soát, chứ không được bán ra thị trường tự do. Thời Tổng Thống Barack Obama, quan hệ Cuba-Mỹ được nới lỏng. Dù vậy, Cuba vẫn không nắm bắt cơ hội. Giới đầu tư Mỹ nhanh chóng cuốn gói khi đụng phải vô số rào cản hành chính. Đến thời Trump 1.0, toàn bộ các cánh cửa bị đóng sập.

Năm 2018, Miguel Díaz-Canel được Raúl Castro chọn làm người kế nhiệm. Tuy nhiên, không ai có thể “hốt vỏ” với một đống di sản tệ hại thâm căn cố đế.

Hè 2020, Miguel Díaz-Canel công bố một chiến lược mới để xử lý tình trạng khẩn cấp ngày càng leo thang. Tuy nhiên, như được Giáo Sư Michael J. Bustamante (Đại Học Miami) phân tích trong bài viết trên Foreign Affairs (“Cuba on the Brink”) ngày 1 Tháng Giêng, 2026, việc thực hiện và trình tự thực hiện những cải cách này chỉ cho thấy nhà nước Cuba tạo ra thêm thảm họa.

Cụ thể, thay vì ưu tiên mở rộng khu vực tư nhân, chính quyền lại “tái cơ cấu tiền tệ,” thống nhất tỷ giá hối đoái trên toàn nền kinh tế ở mức 24 peso đổi $1 vào đầu năm 2021. Với các doanh nghiệp nhà nước vốn quen hoạt động ở tỷ giá 1 đổi 1, việc phá giá đã gây áp lực tăng giá đối với hàng nhập cảng. Tiếp đó, việc tăng lương cho công chức nhà nước bắt đầu làm trầm trọng thêm lạm phát. Vụ in tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách cũng làm cho tình hình tồi tệ hơn. Hậu quả, thị trường tiền tệ chợ đen bùng nổ. Đến cuối năm 2021, giá trị của đồng peso đã giảm 75%, giao dịch ở mức 100 peso đổi $1, dù tỷ giá chính thức vẫn là 24 peso đổi $1.

Ngày 11 Tháng Bảy, 2021, 50 thành phố và thị trấn xuống đường. Chính phủ đáp trả bằng đàn áp bạo lực. Cuối cùng, Havana cầu cứu hai người anh lớn là Bắc Kinh và Moscow. Tuy nhiên, đời vốn rất “phũ” và chính trị còn… “đểu” hơn. Nga hứa đến năm 2023, họ đầu tư $1 tỷ vào Cuba. Phần mình, Trung Quốc bắt đầu xây dựng hàng chục trang trại năng lượng mặt trời. Cả Moscow lẫn Bắc Kinh đều giục Cuba giảm trợ cấp cho các công ty nhà nước thua lỗ, cũng như giảm các hạn chế đối với đầu tư nước ngoài và khu vực tư nhân.

Trong khi đó, Cuba tiếp tục thâm hụt thương mại với cả hai quốc gia trên và thường xuyên nài nỉ xin “tái cấp vốn” (Cuba hiện nợ Trung Quốc vài tỷ đô la). Trong thực tế, Nga và Trung Quốc không dại dột bỏ thêm tiền để nuôi một con bệnh đang chờ chết. Sở dĩ Bắc Kinh và Moscow còn ban chút ân tình với Havana vì họ nhìn thấy ít nhiều yếu tố địa chính trị của Cuba trong mối quan hệ an ninh với họ…

Giờ đây, đồng hồ dường như đang đếm ngược. Không ai biết chính quyền Trump làm gì với Cuba những ngày sắp tới nhưng số phận Cuba, một tiền đồn cộng sản ở Mỹ Latin, có thể thật sự đang đếm những ngày cuối cùng. [kn]


 

Quyền TT Venezuela: Sẵn sàng hợp tác với Mỹ trên cơ sở « quan hệ cân bằng » và « luật pháp quốc tế » (RFI)

(RFI)

Hai ngày sau vụ quân đội Mỹ đột kích bắt giữ vợ chồng tổng thống Venezuela Nicolas Maduro, hôm qua, 05/1/2026, bà Delcy Rodriguez, quyền tổng thống Venezuela, khẳng định sẵn sàng hợp tác với Washington trong khuôn khổ « quan hệ cân bằng và tôn trọng, dựa trên nguyên tắc bình đẳng về  quyền và không can thiệp ».

Đăng ngày: 05/01/2026 

Phó Tổng thống kiêm Bộ trưởng Dầu mỏ Venezuela, Delcy Rodriguez, phát biểu trước giới truyền thông tại Caracas, Venezuela, ngày 10/03/2025. REUTERS – Leonardo Fernandez Viloria

Trọng Thành

Theo AFP, sau cuộc họp nội các đầu tiên kể từ khi nhậm chức quyền tổng thống, bà Delcy Rodriguez cho biết chính quyền Venezuela « mời chính phủ Mỹ phối hợp xây dựng lộ trình hợp tác, tập trung vào việc cùng phát triển trong khuôn khổ luật pháp quốc tế ».

Về phía Washingotn, trả lời báo giới tối qua, tổng thống Donald Trump một lần nữa khẳng định Hoa Kỳ « đang điều hành » Venezuela, đồng thời cảnh báo quyền tổng thống Delcy Rodriguez sẽ gánh chịu số phận tồi tệ hơn tổng thống Maduro « nếu không tuân phục ».

Tuy nhiên, chưa có gì cho thấy chế độ Venezuela sẵn sàng khuất phục tổng thống Mỹ. Đài Nhật NHK, dẫn lại phát biểu trên truyền hình của bộ trưởng Quốc Phòng Venezuela Vladimir Padrino hôm qua, khẳng định chính quyền đương nhiệm tiếp tục điều hành đất nước và lên án « tham vọng thực dân » của Mỹ.

Từ Caracas, thông tín viên Alice Compagnole gửi về bài phóng sự cho thấy thái độ hoang mang của dân chúng Venezuela trước tương lai bất định của quốc gia Nam Mỹ này:  

« Mặc dù cuộc sống đã trở lại bình thường trên đường phố Caracas hôm qua, nhưng sự hoang mang vẫn còn đọng lại trong tâm trí người dân. Cô Maria Mercedes nói : Chúng tôi vẫn đang mù mịt về tiến trình chính trị hiện nay. Chúng tôi không biết điều gì sẽ xảy ra. Vẫn còn những người nắm quyền đáng lẽ cũng phải bị bắt giữ. Họ đã đóng vai trò chính trong việc đàn áp người dân.’’

Đối với người phụ nữ trẻ này, đã đến lúc phải nhường chỗ cho lãnh đạo phe đối lập. Cô nói: ‘‘Họ chắc hẳn phải có chiến lược, và tôi cảm thấy bà Maria Corina Machado có vai trò trong đó. Nhưng đây chỉ là những giả định. Từ hai ngày nay chỉ toàn là các giả định !”

Những người ủng hộ ông Nicolas Maduro đã tập trung tại trung tâm thành phố hôm qua. Đối với họ, bất chấp vụ tấn công, đời sống chính trị vẫn tiếp diễn bình thường, như giải thích của hai người ủng hộ Maduro: ‘‘Mọi việc đang diễn ra một cách có trật tự, các nhà lãnh đạo vẫn tại vị. Phó tổng thống nay trở thành tổng thống’’, ‘‘chính bà Delcy Rodriguez đang điều hành đất nước’’, ‘‘tôi nghĩ họ đã tính sai, họ tưởng rằng đất nước này sẽ rơi vào hỗn loạn.’’

Liệu quyền tổng thống Delcy Rodriguez sẽ đàm phán với chính quyền Washington, sẽ tuân theo mệnh lệnh của Donald Trump? Chúng ta sẽ có câu trả lời trong những ngày tới. »

Quyền tổng thống Venezuela hôm qua quyết định thành lập một ủy ban cấp cao để vận động trả tự do cho cựu tổng thống Nicolás Maduro và vợ ông, Cilia Flores. Ủy ban do chủ tịch Quốc Hội Jorge Rodríguez và ngoại trưởng Iván Gil đồng chủ trì.

Biểu tình ở một số nước châu Á phản đối Mỹ bắt giữ tổng thống Venezuela

Theo Le Monde, hôm nay, 05/01/2026, đã diễn ra nhiều cuộc biểu tình tại châu Á, lên án Mỹ đột kích bắt giữ tổng thống Venezuela Nicolas Maduro. Tại Manila, người biểu tình tập hợp gần đại sứ quán Hoa Kỳ, hô vang các khẩu hiệu chống Washington và kêu gọi tôn trọng chủ quyền của Venezuela. Biểu tình lên án cuộc can thiệp của chính quyền Trump cũng diễn ra gần đại sứ quán Hoa Kỳ ở Seoul.

Hôm qua, chính quyền Trung Quốc một lần nữa lên án cuộc can thiệp của Mỹ « chà đạp luật pháp quốc tế », và kêu gọi « bảo đảm an toàn, trả tự do ngay lập tức cho tổng thống Venezuela cùng phu nhân, ngừng tìm cách lật đổ chính quyền Venezuela ».

Về phần mình, chính quyền Iran khẳng định quan hệ với Venezuela không thay đổi bất chấp vụ bắt giữ tổng thống Venezuela, lên án hành động « bất hợp pháp » của Mỹ và kêu gọi trả tự do cho ông Maduro.

Về phản ứng của Pháp, theo hãng tin AFP, trích lời phát ngôn viên chính phủ, tổng thống Emmanuel Macron hôm nay tuyên bố trong một cuộc họp nội các rằng “phương pháp” mà Hoa Kỳ sử dụng để bắt giữ tổng thống Venezuela Nicolas Maduro “không được Pháp ủng hộ”. Ông Macron nhấn mạnh: “Chúng tôi bảo vệ luật pháp quốc tế và tự do của các dân tộc”. Nhưng tổng thống Pháp thừa nhận Nicolas Maduro là “một nhà độc tài” và việc ông ta ra đi là “tin tốt cho người dân Venezuela.” 


 

‘Tôi đã đưa tin về 40 cuộc chiến tranh nhưng chưa từng thấy năm nào đáng lo ngại như 2025’ (BBC)

(BBC)

Tác giả,  John Simpson

Vai trò, Biên tập viên Các Vấn đề Thế giới

30 tháng 12 2025

Tôi đã đưa tin về hơn 40 cuộc chiến tranh trên khắp thế giới trong suốt sự nghiệp của mình, bắt đầu từ những năm 1960. Tôi đã chứng kiến Chiến tranh Lạnh diễn biến đến cao trào, rồi sau đó bốc hơi. Nhưng tôi chưa từng thấy một năm nào đáng lo ngại như năm 2025 – không chỉ bởi một số cuộc xung đột lớn đang diễn ra mà còn bởi vì, rõ ràng là, một trong số đó có những hệ quả chính trị chưa từng có.

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã cảnh báo rằng cuộc xung đột hiện nay tại đất nước của ông có thể leo thang thành một cuộc chiến tranh thế giới.

Sau gần 60 năm quan sát xung đột, tôi có linh cảm xấu rằng ông ấy đúng

Tổng thống Ukraine đã cảnh báo rằng cuộc xung đột hiện tại ở Ukraine có thể leo thang thành một cuộc chiến tranh thế giới

Các chính phủ thành viên NATO đang ở trong tình trạng cảnh giác cao độ trước bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy Nga đang cắt đứt các tuyến cáp ngầm vận chuyển luồng dữ liệu số vốn giúp xã hội phương Tây vận hành.

Nga đã bị cáo buộc sử dụng drone để thăm dò hệ thống phòng thủ của các nước NATO.

Tin tặc của Nga đang phát triển phương pháp làm tê liệt các bộ, dịch vụ khẩn cấp và các tập đoàn lớn.

Chính quyền phương Tây đoan chắc rằng các cơ quan tình báo bí mật của Nga đã sát hại và âm mưu sát hại những người bất đồng chính kiến đang tị nạn ở phương Tây.

Một cuộc điều tra về vụ mưu sát hụt cựu điệp viên Nga Sergei Skripal ở Salisbury (miền nam nước Anh) năm 2018 (cộng với vụ đầu độc một phụ nữ địa phương, Dawn Sturgess) đã đưa tới kết luận rằng vụ tấn công đã được phê chuẩn ở cấp cao nhất tại Nga.

Có nghĩa là chính Tổng thống Putin.

Lần này cảm giác khác hẳn

Năm 2025 được đánh dấu bởi ba cuộc chiến tranh rất khác nhau.

Đầu tiên là Ukraine, nơi Liên Hợp Quốc nói 14.000 dân thường đã thiệt mạng.

Tại Gaza, nơi Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã thề “trả thù mạnh mẽ” sau khi 1.200 người bị sát hại và 251 người khác bị bắt làm con tin khi Hamas tấn công Israel vào ngày 7/10/2023.

Kể từ đó, hơn 70.000 người Palestine đã thiệt mạng do các chiến dịch quân sự của Israel, trong đó có 30.000 phụ nữ và trẻ em, theo số liệu của Bộ Y tế do Hamas điều hành ở Gaza – các số liệu mà Liên Hợp Quốc cho rằng đáng tin cậy.

Giữa lúc đó, một cuộc nội chiến khốc liệt giữa hai phe phái quân sự ở Sudan đang diễn ra.

Hơn 150.000 người đã thiệt mạng tại Sudan trong vài năm qua; khoảng 12 triệu người phải rời bỏ nhà cửa.

Nếu như đó là cuộc chiến duy nhất trong năm 2025, có lẽ thế giới bên ngoài đã có thể làm nhiều hơn để chấm dứt nó.

Nhưng đó không phải cuộc chiến duy nhất.

“Tôi giỏi giải quyết chiến tranh,” Tổng thống Mỹ Donald Trump nói, khi máy bay đưa ông đến Israel sau cuộc đàm phán về một thỏa thuận ngừng bắn ở Gaza.

Đúng là hiện số người chết ở Gaza đã giảm.

Nhưng bất chấp thỏa thuận ngừng bắn, cuộc chiến ở Gaza chắn chắn vẫn chưa được giải quyết.

Xét mức độ khủng khiếp của Trung Đông, có vẻ kỳ quặc khi nói rằng cuộc chiến ở Ukraine ở một cấp độ hoàn toàn khác.

Nhưng thực tế là như vậy.

“Tôi giỏi giải quyết chiến tranh,” Tổng thống Donald Trump nói

Ngoại trừ Chiến tranh Lạnh, hầu hết các cuộc xung đột mà tôi đưa tin trong các năm qua đều ở quy mô nhỏ: tất nhiên là gớm ghiếc và nguy hiểm, nhưng không đủ nghiêm trọng để đe dọa nền hòa bình của toàn thế giới.

Một số cuộc xung đột, như Chiến tranh Việt Nam, Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, và chiến tranh ở Kosovo, đôi khi trông như thể chúng có thể leo thang thành điều gì đó tồi tệ hơn nhiều, nhưng điều đó đã không xảy ra.

Các cường quốc đã quá lo lắng về nguy cơ một cuộc chiến tranh cục bộ, thông thường, có thể biến thành một cuộc chiến tranh hạt nhân.

“Tôi sẽ không gây ra Thế chiến thứ ba cho các người đâu,” tướng Anh Mike Jackson được cho là đã hét lên trên sóng phát thanh ở Kosovo vào năm 1999, khi cấp trên của ông tại NATO ra lệnh cho quân đội Anh và Pháp chiếm một sân bay ở Pristina sau khi quân đội Nga đến đó trước.

Tuy nhiên, trong năm 2026 sắp tới, Nga, nhận thấy Tổng thống Trump dường không quan tâm tới châu Âu, có vẻ sẵn sàng đẩy mạnh hơn nữa sự bành trướng.

Đầu tháng này, Putin nói Nga không có kế hoạch gây chiến với châu Âu, nhưng sẵn sàng “ngay lúc này” nếu châu Âu muốn.

Tại một sự kiện được truyền hình trực tiếp sau đó, ông Putin nói: “Sẽ không có bất cứ chiến dịch nào nếu quý vị đối xử với chúng tôi một cách tôn trọng, nếu quý vị tôn trọng chúng tôi như chúng tôi luôn tôn trọng quý vị.”

Putin nói rằng Nga không có kế hoạch gây chiến với châu Âu, nhưng sẵn sàng “ngay lúc này” nếu châu Âu muốn như vậy

Nhưng Nga, một cường quốc thế giới, đã xâm lược một quốc gia châu Âu độc lập, gây ra thương vong lớn về cả dân thường và binh lính.

Ukraine cáo buộc Nga bắt cóc ít nhất 20.000 trẻ em.

Tòa Hình sự Quốc tế (ICC) đã ban hành lệnh bắt giữ Tổng thống Nga Vladimir Putin vì liên quan đến vụ việc này, điều mà Nga luôn phủ nhận.

Nga nói rằng nước này tấn công để bảo vệ mình trước sự bành trướng của NATO, nhưng Tổng thống Putin đã gợi ra một động cơ khác: mong muốn khôi phục phạm vi ảnh hưởng của Nga trong khu vực.

Sự phản đối của Mỹ

Putin nhận thức rõ rằng chính năm 2025 là năm mà hầu hết các nước phương Tây từng coi là không thể tưởng tượng nổi: khả năng một tổng thống Mỹ quay lưng với hệ thống chiến lược đã vận hành từ Thế chiến II.

Washington hiện không chỉ không chắc chắn về việc họ có muốn bảo vệ châu Âu hay không, mà thậm chí còn phản đối đường hướng mà họ tin rằng châu Âu đang đi theo.

Báo cáo Chiến lược quốc phòng mới của chính quyền Trump khẳng định rằng châu Âu hiện đối mặt với “viễn cảnh tàn lụi về văn minh”.

Điện Kremlin hoan nghênh báo cáo này, nói rằng nó phù hợp với tầm nhìn của Nga.

Thật vậy.

Bên trong nước Nga, Putin đã dập tắt mọi tiếng nói phản đối ông ta và cuộc chiến, theo báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về nhân quyền ở Nga.

Tuy nhiên, Putin cũng có những vấn đề riêng: khả năng lạm phát lại tăng cao sau đợt giảm gần đây, doanh thu dầu mỏ giảm và chính quyền của ông ta phải tăng thuế VAT để chi trả cho cuộc chiến.

Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky có cuộc gặp căng thẳng tại Nhà Trắng vào tháng 2/2025

Các nền kinh tế của Liên minh châu Âu lớn gấp 10 lần Nga; thậm chí lớn hơn thế rất nhiều nếu tính cả nền kinh tế Anh.

Dân số EU khoảng 450 triệu người, gấp ba lần dân số Nga – khoảng 154 triệu.

Tuy nhiên, các nước Tây Âu có vẻ vẫn lo ngại sẽ đánh mất mức sống hiện có của mình và luôn lưỡng lự trong việc chi trả cho ngân sách quốc phòng chừng nào vẫn còn có thể thuyết phục được Mỹ bảo vệ họ.

Nước Mỹ nay đã khác: tầm ảnh hưởng giảm, hướng nội hơn và ngày càng khác với nước Mỹ mà tôi đưa tin trong suốt sự nghiệp của mình.

Nay, rất giống với giai đoạn những năm 1920 và 1930, nước Mỹ muốn tập trung vào lợi ích quốc gia của riêng mình.

Ngay cả khi Tổng thống Trump mất đi nhiều quyền lực chính trị trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào năm tới, ông ta có thể đã đẩy chủ nghĩa biệt lập của Mỹ đi quá xa đến mức mà một tổng thống Mỹ có tư tưởng thân NATO hơn vào năm 2028 có thể cũng khó lòng giúp được châu Âu.

Đừng tưởng Vladimir Putin không nhận thấy điều ấy.

Nguy cơ leo thang

Năm tới, 2026, có vẻ sẽ rất quan trọng.

Zelensky có thể cảm thấy buộc phải chấp thuận một thỏa thuận hòa bình, nhượng một phần lớn lãnh thổ Ukraine.

Liệu điều này có đủ chắc chắn đảm bảo ngăn Tổng thống Putin quay lại đòi thêm đất trong vài năm tới?

Đối với Ukraine và các đồng minh châu Âu, những người vốn đã cảm thấy họ đang trong cuộc chiến với Nga, đó là một câu hỏi quan trọng.

Châu Âu sẽ phải gánh vác một phần lớn hơn trong việc duy trì sự tồn tại của Ukraine, nhưng nếu Mỹ quay lưng với Ukraine, như nước này từng vài lần đe dọa sẽ làm như vậy, thì đó sẽ là một gánh nặng khổng lồ.

Nếu Mỹ quay lưng với Ukraine, đó sẽ là gánh nặng cho châu Âu

Nhưng liệu cuộc chiến có biến thành một cuộc đối đầu hạt nhân?

Chúng ta biết rằng Tổng thống Putin là một người thích mạo hiểm; một lãnh đạo cẩn trọng hơn hẳn đã không xâm lược Ukraine vào tháng 2/2022.

Những tay chân của Putin đã đưa ra những lời đe dọa rùng rợn về việc xóa sổ Anh và các quốc gia châu Âu khỏi bản đồ bằng những vũ khí mới mà Nga luôn khoe khoang, nhưng bản thân ông ta thường kiềm chế hơn nhiều.

Trong khi người Mỹ vẫn còn là thành viên tích cực của NATO, thì nguy cơ họ có thể đáp trả bằng một cuộc tấn công hạt nhân hủy diệt của riêng mình vẫn rất lớn. Ít nhất là vào lúc này.

Vai trò toàn cầu của Trung Quốc

Về phần Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình gần đây hiếm khi đưa ra những đe dọa trực tiếp đối với hòn đảo tự trị Đài Loan.

Nhưng hai năm trước, giám đốc CIA lúc bấy giờ là William Burns nói rằng ông Tập Cận Bình đã ra lệnh cho quân đội sẵn sàng xâm lược Đài Loan vào năm 2027.

Nếu Trung Quốc không có hành động quyết liệt để thâu tóm Đài Loan, Tập Cận Bình có thể cho rằng Trung Quốc sẽ bị xem là quá yếu ớt. Ông ta không muốn điều đó xảy ra.

Bạn có thể nghĩ rằng Trung Quốc hiện đã quá mạnh và giàu có đến mức không cần quan tâm đến các ý kiến của công chúng trong nước.

Không phải vậy.

Kể từ cuộc nổi dậy chống lại Đặng Tiểu Bình vào năm 1989, kết thúc bằng vụ thảm sát Thiên An Môn, các lãnh đạo Trung Quốc đã theo dõi phản ứng của đất nước một cách hết sức thận trọng.

Tôi đã tận mắt chứng kiến các sự kiện diễn ra ở Thiên An Môn, đưa tin và đôi khi sống ngay tại quảng trường.

Chủ tịch Tập Cận Bình (giữa) gần đây hiếm khi đưa ra lời đe dọa trực tiếp đối với Đài Loan

Câu chuyện ngày 4/6/1989 không đơn giản như chúng ta nghĩ vào thời điểm đó: lính vũ trang bắn vào những sinh viên không vũ trang.

Điều đó chắc chắn đã xảy ra, nhưng đã có một cuộc chiến khác xảy ra ở Bắc Kinh và các thành phố khác ở Trung Quốc.

Hàng ngàn dân thường xuống đường, quyết tâm sử dụng vụ tấn công vào sinh viên như một cơ hội để lật đổ sự kiểm soát của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Khi tôi lái xe qua các đường phố hai ngày sau đó, tôi nhìn thấy ít nhất năm đồn cảnh sát và ba trụ sở cảnh sát an ninh địa phương bị đốt cháy.

Tại một vùng ngoại ô, đám đông giận giữ đã thiêu một cảnh sát và dựng cái xác cháy đen của anh ta vào tường.

Một cái mũ công an được đặt lệch trên đầu anh ta và một điếu thuốc lá được nhét vào giữa đôi môi sạm đen.

Hóa ra quân đội không chỉ dập tắt cuộc biểu tình kéo dài của sinh viên, mà còn đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân Trung Quốc.

Giới lãnh đạo chính trị Trung Quốc, vẫn chưa thể chôn vùi ký ức của những gì đã xảy ra 36 năm trước, nay thường cảnh giác với những dấu hiệu của sự phản đối – bất kể từ những nhóm có tổ chức như Pháp Luân Công hay giáo hội Kitô giáo độc lập, phong trào dân chủ Hong Kong, hay chỉ là những người phản đối tham nhũng ở địa phương.

Tất cả đều bị đàn áp thẳng tay.

Tôi đã có thời gian dài đưa tin về Trung Quốc kể từ năm 1989, chứng kiến nước này trỗi dậy về kinh tế và chính trị.

Tôi thậm chí còn quen biết một chính trị gia hàng đầu, đối thủ cạnh tranh của Tập Cận Bình.

Tên ông ấy là Bạc Hy Lai, một người hâm mộ văn hóa Anh, người có thể nói khá cởi mở về chính trị Trung Quốc.

Một lần, ông nói với tôi: “Anh sẽ không bao giờ hiểu được một chính phủ cảm thấy bất an như thế nào khi biết rằng mình không được bầu.”

Về phần Bạc Hy Lai, ông bị tù chung thân vào năm 2013 sau khi bị kết tội nhận hối lộ, tham ô và lạm quyền.

John Simpson đã dành khá nhiều thời gian đưa tin về Trung Quốc kể từ năm 1989 (ảnh chụp tại Quảng trường Thiên An Môn, năm 2016)

Tóm lại, năm 2026 được dự báo là một năm quan trọng.

Sức mạnh của Trung Quốc sẽ gia tăng và chiến lược thâu tóm Đài Loan – tham vọng của Tập Cận Bình – sẽ trở nên rõ ràng hơn.

Có thể cuộc chiến ở Ukraine sẽ được giải quyết, nhưng với những điều khoản có lợi cho Tổng thống Putin.

Ông ta có thể thoải mái quay trở lại, đòi thêm đất của Ukraine khi ông ta sẵn sàng.

Và Tổng thống Donald Trump, dù quyền lực chính trị của ông ta có thể bị hạn chế trong cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng 11, sẽ làm cho nước Mỹ xa rời châu Âu hơn.

Nhìn từ quan điểm của châu Âu, triển vọng khó có thể ảm đạm hơn thế.

Nếu bạn nghĩ Thế chiến III có thể là một cuộc đấu bằng vũ khí hạt nhân, hãy nghĩ lại.

Nhiều khả năng đó sẽ là một chuỗi các thủ đoạn ngoại giao và quân sự, nơi chế độ độc tài trỗi dậy.

Nó thậm chí có thể đe dọa phá vỡ liên minh phương Tây.

Và quá trình này đã thực sự bắt đầu.


 

Nếu Mỹ thực sự đã bắt ông Maduro, tiếp theo có thể là gì? BBC

BBC

Mỹ tấn công Venezuela

Mỹ chưa từng thực hiện một can thiệp trực tiếp như vậy ở Mỹ Latinh kể từ khi nước này xâm lược Panama năm 1989 để lật đổ nhà lãnh đạo quân sự lúc bấy giờ là Manuel Noriega.

Nếu ông Maduro thực sự bị loại bỏ khỏi chính trường Venezuela như ông Trump nói, điều này sẽ được xem là một thắng lợi lớn đối với một số nhân vật diều hâu trong chính quyền Mỹ – những người trong số đó từng công khai ủng hộ thay đổi chế độ.

Mỹ đã cáo buộc ông Maduro đứng đầu một tổ chức tội phạm buôn lậu ma túy, điều mà ông phủ nhận. Mỹ cũng không công nhận ông là tổng thống hợp pháp của Venezuela sau cuộc bầu cử năm 2024, vốn chủ yếu bị đánh giá là không tự do và không công bằng.

Trong khi đó, Venezuela đã cáo buộc Mỹ muốn chiếm đoạt các mỏ dầu béo bở của họ – vốn được cho là lớn nhất thế giới.

Điều thực sự chưa rõ là chuyện gì sẽ xảy ra ở chính Venezuela nếu Maduro thực sự đã bị loại bỏ.

Những người ủng hộ can thiệp của Mỹ cho rằng điều này sẽ mở đường cho phe đối lập Venezuela nắm quyền, do nữ chủ nhân giải Nobel Hòa bình Maria Corina Machado hoặc ứng viên đối lập từ cuộc bầu cử 2024 Edmundo Gonzalez dẫn dắt.

Tuy nhiên, những người khác tin rằng tình hình sẽ không hề đơn giản như vậy.

Quân đội và lực lượng bán quân sự ở Venezuela vẫn trung thành với ông Maduro, và thậm chí một số người chỉ trích ông cũng lo ngại rằng can thiệp trực tiếp của Mỹ có thể khiến Venezuela càng thêm bất ổn.

Chắc chắn sẽ còn những đồng minh thân cận khác của ông lo sợ cho tương lai của chính họ sau khi có tin về việc ông Maduro bị bắt.

Xem tiep  BBC

https://www.bbc.com/vietnamese/live/c77k48de146t

Donald Trump : Quân đội Mỹ oanh tạc Caracas, Maduro bị « bắt và đưa ra khỏi » Venezuela  (RFI)


 

IRAN TÊ LIỆT: KHI ĐÁM ĐÔNG KHÔNG CÒN SỢ VÀ NHÀ NƯỚC MẤT ĐỘC QUYỀN KIỂM SOÁT

Chau Trieu is with Can Pham

Những gì đang diễn ra ở Iran hôm nay được mô tả là “biểu tình”, nhưng dưới lăng kính thuyết âm mưu quyền lực, đó giống một khoảnh khắc đứt gãy hệ thống hơn là phản kháng thông thường. Khi người biểu tình xông vào trụ sở chính quyền, khi nhiều thành phố rơi vào tay đám đông, vấn đề không còn là giá xăng, lạm phát hay đạo luật cụ thể. Vấn đề là: nỗi sợ đã biến mất.

Trong các chế độ kiểm soát cứng, quyền lực không dựa chủ yếu vào pháp luật, mà dựa vào tâm lý: khiến đa số tin rằng phản kháng là vô ích và nguy hiểm. Khi tâm lý đó sụp đổ, bộ máy, dù còn quân đội, cảnh sát, vũ khí, cũng bắt đầu tê liệt. Iran hôm nay cho thấy dấu hiệu của giai đoạn này: lực lượng an ninh không còn hiện diện khắp nơi, phản ứng chậm, hoặc đứng ngoài quan sát.

Theo giới phân tích, đây không hẳn là một cuộc nổi dậy “tự phát”.

Nó có thể là kết quả của khủng hoảng tích tụ: kinh tế bị siết bởi trừng phạt, đấu đá nội bộ giữa các phe quyền lực, và đặc biệt là sự rạn nứt trong tầng tinh hoa, nơi một số nhóm không còn mặn mà bảo vệ hiện trạng. Khi thượng tầng không còn đồng thuận, hạ tầng xã hội sẽ bùng nổ.

Một giả thuyết khác cho rằng Iran đang bị đẩy vào “kịch bản mệt mỏi”: không cần đảo chính, không cần chiến tranh trực tiếp, chỉ cần để hệ thống tự nghẽn. Biểu tình lan rộng khiến hành chính tê liệt, kinh tế đình trệ, đồng tiền mất giá, và cuối cùng chính quyền buộc phải lựa chọn giữa đàn áp toàn diện (đầy rủi ro) hoặc nhượng bộ dây chuyền.

Điều đáng chú ý là cách đám đông hành động: không chỉ hô khẩu hiệu, mà chiếm không gian quyền lực. Trụ sở chính quyền, quảng trường, cơ quan hành chính,  đó là biểu tượng. Khi biểu tượng bị chiếm, tính chính danh bị khoét rỗng.

Lịch sử cho thấy, chế độ không sụp đổ vào lúc còn mạnh nhất, mà vào lúc không còn dám dùng hết sức mạnh. Iran hôm nay có thể chưa đến hồi kết, nhưng rõ ràng đã bước vào vùng nguy hiểm: nơi một sự kiện nhỏ cũng có thể kích hoạt hiệu ứng domino. Và khi đám đông đã nếm cảm giác “không còn gì để mất”, không một bộ máy an ninh nào có thể kiểm soát hoàn toàn bằng mệnh lệnh.

Chân dung lãnh đạo


 

Thuỵ Sĩ: hoả hoạn tại quán bar Le Constellation

Tai nạn kinh hoàng nhất trong lịch sử Thuỵ Sĩ: hoả hoạn tại quán bar Le Constellation ở khu trượt tuyết nổi tiếng Crans-Montana, thuộc bang Valais.

Quán bar đã bị thiêu cháy, khiến cho hơn 40 nạn nhân bị thiệt mạng và 115 người bị thương nặng. Đó là các con số cho đến thời điểm hiện tại. Điều đó cũng có nghĩa là sẽ có nhiều nạn nhân hơn trong những giờ tới…

Các nạn nhân chỉ trong độ tuổi 16-18. Họ muốn đón chào đêm Giao thừa tại quán Le Constellation nổi tiếng. Các cuộc điều tra vẫn đang được tiến hành nhằm làm rõ nguyên nhân của vụ cháy.

Theo các nhân chứng sống sót, tất cả chỉ diễn ra trong vài giây khiến tầng dưới của quán bar, nơi diễn ra các màn lễ hội, đã bị bốc cháy, khiến cho hàng trăm người giẫm lên nhau, tranh nhau, để tìm lối thoát…

Chính phủ Liên bang Thuỵ Sĩ đã quyết định treo cờ rũ tại các trụ sở hành chính trong vòng 5 ngày để tưởng niệm các nạn nhân.

Các bệnh viện lớn thuộc các đại học y khoa tại các thành phố lớn ở Thuỵ Sĩ đã tiếp nhận điều trị các nạn nhân bị thương nặng. Các trường hợp nặng nhất được chuyển về bệnh viện CHUV (Le Centre hospitalier universitaire vaudois) tại Lausanne.

Nhiều quốc gia láng giềng đã bày tỏ tình đoàn kết với Thuỵ Sĩ khi ngỏ ý giúp đỡ và đón nhận các nạn nhân bị phỏng nặng.

Trong số các nạn nhân, sẽ có nhiều người nước ngoài vì Crans-Montana là một khu du lịch nổi tiếng sang trọng bậc nhất tại Thuỵ Sĩ.

Nơi tôi làm việc cách không xa bang Valais. Tôi chỉ cầu mong không ai trong số những người quen biết có mặt trong cái đêm định mệnh đón chào năm mới tại quán bar Le Constellation!


 

Vì sao sếp nhà máy quốc phòng Nga tự thiêu ở Quảng trường Đỏ? – BBC

BBC

Hình ảnh các xe tăng và xe bọc thép của Nga bị phá hủy tại làng Dmytrivka, phía tây Kyiv, Ukraine hồi năm 2022

28 tháng 12/ 2025

Cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine đã mở ra một mỏ vàng tiềm năng cho Vladimir Arsenyev, theo Reuters.

Nhà khoa học 75 tuổi này đứng đầu một công ty tại Moscow chuyên sản xuất linh kiện cho thiết bị liên lạc dùng trong các kíp lái xe tăng.

Khi xe tăng Nga tiến vào Ukraine năm 2022, doanh nghiệp của ông ngập trong các đơn đặt hàng quốc phòng.

Nhưng những đơn hàng mà ông giành được hóa ra lại là chén thuốc độc, ông kể lại trong một loạt cuộc phỏng vấn. Đây là lần đầu tiên ông lên tiếng công khai về những khó khăn của mình. Ông đã phải tăng tốc sản xuất với tốc độ chóng mặt và giao hàng đúng hạn với mức giá do Bộ Quốc phòng Nga ấn định.

Thất bại là điều không thể chấp nhận. Gợi lại bóng ma của nhà độc tài Xô Viết Joseph Stalin, chính phủ Nga đã đe dọa các nhà sản xuất quốc phòng bằng án tù nếu họ không thực hiện đúng các nghĩa vụ hợp đồng.  

Đến mùa xuân năm 2023, nhà máy của Arsenyev đã bị chậm tiến độ sản xuất và các giám đốc cấp cao bắt đầu đấu đá lẫn nhau, theo các cuộc phỏng vấn với hai nhân vật chủ chốt và hồ sơ tòa án.

Sergei Mosiyenko, một cổ đông thiểu số, cho hay ông nhận thấy công ty sắp lỡ thời hạn bàn giao nên đã báo cáo vụ việc. “Bộ Quốc phòng là khách hàng,” ông nói. “Họ luôn luôn đúng.”

Vị giám đốc nhà máy nói những quan chức mà ông tìm đến để nhờ giúp đỡ đều phớt lờ ông.

 Khi công ty đang bên bờ vực phá sản, Arsenyev đã đi bộ vào Quảng trường Đỏ ở Moscow vào ngày 26 /7/2024. Phía ngoài Điện Kremlin, gần lăng của người sáng lập nhà nước Xô Viết Vladimir Lenin, ông đã đổ xăng lên người và tự thiêu.

Ông kể mình đã phải nằm viện nhiều tuần với những vết bỏng nặng.

Trả lời từ bệnh viện, Arsenyev phủ nhận việc các hợp đồng đang gặp rắc rối. Ông cho rằng những người muốn hãm hại ông đã gửi các khiếu nại vô căn cứ đến cơ quan chức năng.

“Tại sao một công ty – vẫn nhận được đơn hàng ngày càng nhiều và vẫn hoàn thành các đơn hàng đó – lại có thể đang chết dần được?” ông đặt câu hỏi. “Điều đó cho thấy có thể đang có một vấn đề nào đó.”

Điện Kremlin và Bộ Quốc phòng Nga đã không phản hồi các câu hỏi chi tiết về trường hợp của Arsenyev cũng như cách họ xử lý các hợp đồng quốc phòng nói chung.

Công nghiệp quốc phòng chịu áp lực

Hình ảnh những chiếc xe tăng Nga bị phá hủy gần làng Bohorodychne thuộc vùng Donetsk, Ukraine năm 2024

Những khó khăn tại công ty của Arsenyev, Viện Nghiên cứu Khoa học Trung ương Volna, đã phơi bày các áp lực đè nặng lên các doanh nghiệp quốc phòng Nga, vốn đã phải đối mặt với yêu cầu tăng tốc sản xuất trong nhiều năm qua.

Khó khăn của Arsenyev không phải là cá biệt, theo kết quả các phán quyết của tòa án Moscow.

Dựa trên các tài liệu được đăng tải trên trang web của các tòa án thẩm quyền chung tại Moscow, đã có ít nhất 34 người phải đối mặt với cáo buộc hình sự vì làm gián đoạn các đơn đặt hàng quốc phòng của nhà nước kể từ khi cuộc chiến Ukraine bắt đầu. Trong số đó có ít nhất 11 giám đốc công ty và 2 quản lý cấp cao.

Kể từ khi Tổng thống Nga Vladimir Putin ra lệnh đưa quân vào Ukraine vào tháng 2/2022, các nhà sản xuất của nước này đã tăng sản lượng đạn pháo, tên lửa, xe tăng và thiết bị không người lái (drone), vượt xa khả năng sản xuất hoặc nguồn cung từ các đồng minh phương Tây của Kyiv.

Tuy nhiên, theo Mathieu Boulegue, chuyên gia tư vấn tại Viện nghiên cứu Chatham House (Anh), cùng một số nhà phân tích an ninh phương Tây khác, lĩnh vực này cũng đang bị kìm hãm do sự kém hiệu quả và tham nhũng, dẫn đến chi phí leo thang, trì hoãn sản xuất và không đạt chỉ tiêu.

Trả lời phỏng vấn, ông Boulegue cho hay phản ứng của Điện Kremlin – bao gồm việc tập trung quyền quyết định vào Bộ Quốc phòng và tập đoàn quốc phòng nhà nước Rostec, đồng thời áp đặt các quy tắc cứng nhắc lên các nhà thầu – đang làm tổn hại đến khả năng đổi mới và hiện đại hóa của các công ty.

Trong một bài viết hồi tháng Bảy, ông Boulegue đánh giá trong ngắn hạn, điều này có thể sẽ không ảnh hưởng đến khả năng đe dọa của Nga đối với Ukraine và phương Tây, nhưng “sẽ khiến Nga khó duy trì sức cạnh tranh với các đối thủ của mình hơn”.

Tập đoàn Rostec đã bác bỏ và gọi những khẳng định về sự “suy thoái” của ngành công nghiệp quốc phòng Nga là “những câu chuyện tuyên truyền”.

“Mọi thứ của ngành công nghiệp quốc phòng Nga đều ổn,” Rostec tuyên bố trên tài khoản Telegram của mình. “Các đối thủ phương Tây chỉ có thể mơ về tốc độ tăng trưởng mà Rostec đang thể hiện.”

Tuy nhiên, rốt cuộc thì quân đội đã không nhận được các thiết bị cần thiết đúng hạn, theo Luch Factory – đơn vị lắp ráp các thiết bị liên lạc và thuộc sở hữu chung của Rostec thông qua một chuỗi công ty.

Trong báo cáo thường niên năm 2023, Luch Factory chỉ ra nguyên nhân một phần là do công ty của Arsenyev đã không cung cấp linh kiện đúng dự kiến, một cáo buộc mà Arsenyev phủ nhận. Báo cáo không nêu rõ quy mô đơn hàng hay thời gian trì hoãn là bao lâu.

Giám đốc Luch Factory, ông Andrei Pestryaev, từ chối cung cấp chi tiết.

Arsenyev cho biết một tranh chấp với chính phủ về giá linh kiện của Volna đã khiến công ty rơi vào tình trạng thiếu hụt tài chính.

Sau đó, các tài khoản của công ty đã bị phong tỏa do nợ thuế, theo thông tin từ Arsenyev và SPARK, một cơ sở dữ liệu do hãng thông tấn Interfax của Nga tạo ra để tổng hợp thông tin từ các hồ sơ doanh nghiệp và nhà nước. Lương nhân viên không được chi trả, dẫn đến các vụ kiện tụng.

“Chúng tôi đột nhiên thấy mình cận kề bờ vực phá sản,” ông Arsenyev nói.

Trang web của các nhân viên thi hành án cho thấy, khi họ được triệu tập để thu hồi nợ vào tháng 9/2024, họ đã không thể tìm thấy tài sản nào có thể tịch thu.

Để đáp ứng nhu cầu của quân đội, Luch Factory đã phải tự thiết kế và sản xuất phiên bản linh kiện riêng thay thế cho Volna, ông Pestryaev nói.

Tính đến tháng Một, các thiết bị của Luch Factory đang bị thiếu hụt, một thương nhân kinh doanh thiết bị quân sự, người cung cấp hàng cho các đơn vị tiền tuyến của Nga, cho hay trong điều kiện ẩn danh. Chưa thể xác định liệu tình trạng này còn tiếp diễn hay không. Ông Pestryaev từ chối bình luận.

Rostec đã không trả lời các câu hỏi về vụ việc này hay cách xử lý các hợp đồng quốc phòng. Phía quân đội cũng không đưa ra bình luận nào.


 

Ở Thụy Điển, có một sáng kiến nhỏ bé nhưng khiến người ta phải mỉm cười thật lâu

Những Câu Chuyện Thú Vị

Người cao tuổi sống trong các viện dưỡng lão được “mượn” chó từ trại cứu hộ để cùng nhau đi dạo mỗi tuần. Không phải để huấn luyện, không phải để trị liệu theo cách khô khan, mà đơn giản là để cùng bước chậm lại, cùng thở và cùng hiện diện.

Điều ít ai biết là chương trình này ra đời từ một thực tế rất đời thường. Nhiều người cao tuổi từng có thú cưng suốt nửa đời người, nhưng khi về già, họ không còn đủ sức khỏe hay điều kiện để nuôi một con chó trọn vẹn. Trong khi đó, các trại cứu hộ lại có rất nhiều chú chó cần vận động, cần được vuốt ve và cần cảm giác được ai đó chờ đợi. Thế là hai thế giới tưởng như xa nhau ấy được kết nối bằng… một sợi dây dắt chó.

Mỗi tuần, các cụ già đội mũ, khoác áo, tay cầm dây dắt, chậm rãi bước ra ngoài cùng những chú chó từng bị bỏ rơi. Không ai vội vàng. Chó không thúc ép, người cũng không bị giục giã. Chỉ có tiếng bước chân đều đều, hơi thở hòa nhịp và cảm giác mình có lý do để ra ngoài hôm nay. Nhiều nhân viên chăm sóc cho biết, những cụ trước đây gần như không muốn rời phòng, nay lại háo hức hỏi: “Hôm nay đến lượt tôi dắt chó chưa?”.

Lợi ích không chỉ nằm ở vận động thể chất. Các bác sĩ và người chăm sóc ghi nhận rõ rệt sự cải thiện về tâm trạng, khả năng ăn uống và giao tiếp xã hội của người cao tuổi. Với các chú chó, những buổi đi dạo đều đặn cùng con người lớn tuổi – nhẹ nhàng, kiên nhẫn – lại giúp chúng trở nên bình tĩnh hơn, thân thiện hơn và dễ được nhận nuôi hơn. Một vòng tròn tử tế cứ thế hình thành, không cần khẩu hiệu, không cần chiến dịch truyền thông rầm rộ.

Nhưng có lẽ điều sâu sắc nhất nằm ở chỗ này: chó không hỏi bạn đã từng là ai, không quan tâm bạn còn lại bao nhiêu sức. Chúng chỉ biết bạn đang ở đó. Và với nhiều người cao tuổi, cảm giác được một sinh linh khác tin tưởng, chờ đợi và bước đi cùng mình – dù chỉ một vòng quanh khu nhà – là liều thuốc tinh thần vô cùng quý giá.

Giữa một thế giới ngày càng số hóa, câu chuyện từ Thụy Điển nhắc chúng ta rằng đôi khi, chữa lành không đến từ công nghệ cao hay phương pháp phức tạp, mà từ những kết nối rất giản dị. Một con đường nhỏ, một buổi chiều yên tĩnh, một người già và một chú chó – thế là đủ để cả hai cùng khỏe hơn, cả về thể chất lẫn tâm hồn.

#ChuyenTuTe #NhanVan #NguoiGia #ChoCuuHo #ChuaLanhTinhThan #KetNoiConNguoi #DulichVanHoa #Plutos_Sales #Hotdeal365 #Dulichvanhoa

ST.


 

CHI TIẾT TỪNG GIỜ TRONG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA CHẾ ĐỘ CS LIÊN XÔ – Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo

Giới thiệu: Mikhail Sergeyevich Gorbachev qua đời ngày 30 tháng 8, 2022, sau một cơn bệnh dài, thọ 91 tuổi. Ông là lãnh đạo thứ 8 và cũng là lãnh đạo cuối cùng của Liên Xô. Ngoài chức vụ Tổng Bí Thư, ông còn kiêm chức vụ Chủ tịch Nhà Nước Liên Xô và Chủ tịch Chủ Tịch Đoàn Xô Viết Tối Cao.  Gorbachev được bầu vào chức vụ Tổng Bí Thư đảng CSLX vào tháng 3, 1985. Dưới thời ông, hai chính sách nổi tiếng Glasnost (Cởi mở) và Perestroika (Cải tổ) được giới thiệu vào năm 1985. Sau sáu năm với nhiều thay đổi và xáo trộn, ngày 25 tháng 12, 1991 Gorbachev “ngưng chức”.

Ngày này được đánh dấu là ngày cuối cùng của Liên Xô mặc dù trên thực tế chế độ CSLX đã chấm dứt trước đó khi 15 nước “Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Xô” trong đó có cả Nga tuyên bố độc lập.

Bài viết khá dài này gồm hai phần:

1) Tóm tắt diễn tiến ngày cuối cùng của  Mikhail Gorbachev trong cương vị lãnh đạo Liên Xô.

2) Nhận định của người viết (1) về sự chuyển động không ngừng của xã hội con người đã thúc đẩy các mâu thuẫn có tính triệt tiêu của chế độ CS bộc phát nhanh, (2) Tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và, riêng tại LX, trung ương không giữ được các địa phương đã dẫn tới sự sụp đổ không tránh khỏi của chế độc CSLX.

——

“Merry Christmas!” Một viên chức trong đoàn tùy tùng của Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev chào Ted Koppel và nhóm phóng viên của hãng tin ABC đang đứng chờ trước bậc thềm điện Kremlin. Ted Koppel chào lại nhưng anh chàng Rick Kaplan, phụ tá của Ted Koppel, phản đối, “Với tôi anh phải chúc là Happy Hanukkah mới phải.” Rick Kaplan nói thế chỉ vì anh ta gốc Do Thái. Viên chức Liên Xô không hiểu Hanukkah nghĩa là gì và tưởng là Honecker nên hỏi ngược, “Tại sao tôi phải chào Happy Honecker chứ nhỉ?”

Thật ra, thắc mắc của viên chức Liên Xô không phải là không có lý do. Ngày 25 tháng 12, 1991 không chỉ là ngày cuối cùng của hệ thống CS Liên Xô mà có thể cũng là ngày cuối của Erich Honecker nữa. Tên lãnh tụ CS Đông Đức này bị truy tố tại Đức và được Gorbachev cho phép tỵ nạn chính trị tại Liên Xô. Erich Honecker sợ bị Boris Yeltsin tống cổ về Đức nên hôm qua đã chạy sang tòa đại sứ Chile ở Moscow xin tỵ nạn. Báo chí loan tin sáng hôm đó Erich Honecker vừa xin tỵ nạn chính trị lần nữa nên viên chức trong đoàn tùy tùng Gorbachev liên tưởng đến y khi nghe “Happy Hanukkah.”

Ngày 25 tháng 12 là ngày nhiều tỷ tín đồ Thiên Chúa Giáo trên thế giới kỷ niệm ngày Chúa Jesus giáng trần nhưng tại Moscow, ngày 25 tháng 12, 1991 là ngày chính thức cáo chung của chế độ Cộng Sản. Thật khó tin nhưng đang diễn ra trước mắt nhân loại. Ngày cuối cùng của chế độ CS Liên Xô được tường thuật theo từng giờ trong tác phẩm Moscow, December 25, 1991, the last day of Soviet Union của Conor O’Clery mà người viết tham khảo.

Tối ngày 24

Thời tiết Moscow lạnh xuống gần 0 độ F. Những lớp tuyết dày trên dưới chân tường điện Kremlin là dấu vết của cơn bão tuyết ba ngày trước. Nửa đêm 24 tháng 12, một đoàn hành hương đến cầu kinh dưới chân tháp Thánh Nicholas. Từ khi chính sách Glasnost ra đời, việc tiếp xúc tôn giáo có phần cởi mở. Nhiều đoàn hành hương có cơ hội đến thăm viếng các nhà thờ lớn ở Liên Xô. Phần đông người trong đoàn đến từ Hoa Kỳ. Dù Giáng Sinh theo lịch Julian do Giáo Hội Chính Thống Giáo Nga dùng là ngày 7 tháng Giêng, những người hành hương này muốn đón Giáng Sinh theo lịch Mỹ ở Moscow. Những ngọn đèn cầy được thắp lên trong đêm đông tại quốc gia CS hàng đầu thế giới. Những người hành hương không biết một cách chi tiết những gì sắp xảy ra trên đất nước này trong vài giờ nữa.

Sáng sớm ngày 25

Mikhail Sergeyevich Gorbachev, Tổng Bí Thư đảng CS kiêm Chủ tịch Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết thức dậy sớm. Ông ta ý thức ngay rằng, tất cả những gì ông sắp sửa làm từ bữa ăn sáng do đầu bếp Shura phục vụ và cả biệt điện nguy nga mà vợ chồng ông ta nghĩ trước đó sẽ ở cho đến chết đều sẽ là lần cuối. Chiếc xe đặc biệt ZIL-41047 chờ ông. Hai viên đại tá có khuôn mặt lạnh như tiền ngồi trên chiếc Volga theo sau xe của Gorbachev. Họ không phải là cận vệ nhưng là người mang chiếc cặp trong đó chứa các thông tin tuyệt mật để phát động chiến tranh nguyên tử. Hai đại tá này biết chiều tối nay họ sẽ chào từ biệt Mikhail Gorbachev để phục vụ lãnh đạo Cộng Hòa Nga Boris Yeltsin.

Mikhail Sergeyevich Gorbachev được thế giới ca ngợi như là người đã thổi vào không khí chính trị Liên Xô làn gió mới và được trao tặng giải Nobel Hòa Bình 1990 nhưng trong nước dân chúng đổ hết công phẫn lên ông ta. Tên Gorbachev đồng nghĩa với suy thoái, thất nghiệp, vật giá leo thang, tem phiếu. Người dân thường dĩ nhiên vội biết và cũng không cần biết, Gorbachev là lãnh đạo CS thứ tám và cũng là người kế thừa một gia sản lạc hậu, ung thối từ trong máu của chế độ.

Nhiều câu chuyện cười ở Moscow về thái độ bất mãn của người dân đối với Gorbachev. Ví dụ, trong một tiệm rượu, một người khách đứng dậy bỏ đi, các bạn anh ta hỏi đi đâu, anh chàng đáp đi giết Gorbachev chứ đi đâu, anh ta mở cửa ra đi thật nhưng trở lại ngay, bạn bè hỏi sao giết Gorbachev mà nhanh thế, anh chàng đáp không giết được vì phải sắp hàng dài quá.

9 giờ sáng ngày 25

Mikhail Gorbachev và đoàn tùy tùng đến dinh chủ tịch ở điện Kremlin hơi trễ hơn thường lệ chút ít. Hãng tin Mỹ ABC gồm Ted Koppel và Rick Kaplan có mặt ngay tại chỗ dừng xe. Họ được Gorbachev cho phép tường thuật biến cố lịch sử này. Theo lời kể lại của Ted Koppel, Gorbachev rất trầm tĩnh. Nhân viên làm việc trong điện Kremlin vẫn tới đủ nhưng không có việc nào làm khác hơn là dọn dẹp. Thời khóa biểu tiếp khách trước đây được tính từng phút, hôm đó trống không. Mặc dù theo thỏa thuận, Gorbachev có đến cuối năm để dời ra khỏi điện nhưng thực tế Yeltsin đã tóm thu hết quyền hành và các phương tiện thông tin. Đơn vị phòng vệ điện Kremlin vẫn túc trực nhưng không đặt dưới quyền chỉ huy của Gorbachev mà trực thuộc thẳng Yeltsin. Chiếc điện thoại màu trắng trên bàn làm việc của Gorbachev còn hoạt động nhưng không ai gọi vào.

10 giờ sáng ngày 25

Trong lúc điện Kremlin chìm trong im lặng, Tòa Nhà Trắng Nga lại sôi nổi với hàng loạt chương trình hoạt động trong ngày mới của nền Cộng Hòa. Tòa nhà quốc hội Nga này là biểu tượng của trận chiến chống chế độ toàn trị khi Yeltsin đứng trên xe tăng thách thức đám lãnh đạo CS cực đoan hồi tháng Tám trước đó. Boris Yeltsin lãnh đạo Nga đến văn phòng làm việc. Ông lên văn phòng đặt trên tầng thứ năm bằng cầu thang riêng phía sau. Trên bàn làm việc hàng loạt sắc lịnh chờ ông ký. Một chế độ hình thành bằng máu, dao búa và súng đạn đang được giải thể bằng sắc lịnh. Một trong những sắc lịnh ông phải ký hôm nay là giải tán cơ quan KGB và thay bằng Federalnaya Sluzhba Bezopasnosti gọi tắt là FSB tức Cơ Quan An Ninh Liên Bang Nga. Không chỉ trong ngành an ninh, mật vụ mà cả sắc lịnh về các hí viện, nhạc viện, các viện hàn lâm, trường đại học, viện bảo tàng v.v… từ nay đều trực thuộc Cộng Hòa Nga.

Các cơ quan ngoại giao quốc tế cũng vậy. Bộ trưởng Ngoại Giao Eduard Shevardnadze nổi tiếng thời Gorbachev bị trục xuất ra khỏi nhiệm sở và thay bằng Bộ trưởng Ngoại Giao Nga Andrey Kozyrev. Tại tất cả nhiệm sở ngoại giao khắp các múi giờ trên toàn thế giới, cờ Liên Xô bị hạ xuống và cờ Cộng Hòa Nga ba màu được kéo lên. Nhiều đại sứ vội vã đánh điện cho Yeltsin tuyên bố trung thành. Tòa đại sứ lớn nhất của Liên Xô là tòa đại sứ tại Washington DC với hơn 300 nhân viên thuộc nhiều sắc tộc. Các nhân viên chia thành nhiều nhóm theo sắc dân và tự tuyên bố họ là đại diện cho cộng hòa của họ tại Hoa Kỳ.

Gần 11 giờ sáng Tổng thống Nga Boris Yeltsin qua phòng họp quốc hội Nga ở lầu 1. Tổng cộng 252 đại biểu quốc hội đang tập trung để chứng kiến ngày lịch sử. Nhân dịp này, Boris Yeltsin thông báo tin vui rằng 11 quốc gia cựu Liên Xô trong phiên họp tại Kazakhstan đã đồng ý thành lập Khối Thịnh Vượng chung.

12 giờ trưa ngày 25

Mikhail Gorbachev ăn trưa xong. Phía sau phòng ăn có một phòng nhỏ bỏ trống. Tổng bí thư CS Liên Xô vào, đóng cửa lại và nằm nghỉ. Các phụ tá của ông hớt hải đi tìm. Gorbachev phải có mặt để ký thư từ biệt gởi các lãnh đạo thế giới mà ông có quan hệ tốt. Một danh sách khá dài từ Tổng thống Hoa Kỳ George H. W. Bush cho đến Thủ tướng Anh John Major và cả các ông hoàng như Vua Juan Carlos và Nữ Hoàng Sofia của Spain.

Bài bình luận trên báo Nga buổi sáng hôm đó chẳng tốt lành gì cho lãnh tụ CS Mikhail Gorbachev. Tờ Rossiyskaya Gazeta tiết lộ các cam kết mật Yeltsin dành cho Gorbachev khi về hưu bao gồm số phụ cấp bằng với mức lương hiện nay của ông ta có điều chỉnh theo mức lạm phát, hai chiếc xe riêng và một đoàn tùy tùng 20 người kể cả tài xế và an ninh. Đây là thỏa thuận kín giữa Gorbachev và Yeltsin nhưng đã bị cánh Yeltsin tiết lộ cho báo chí biết. Các báo còn cho rằng Gorbachev đòi hỏi một đoàn phục vụ lên đến 200 người. Thật ra, theo Chernyaev, phụ tá của Gorbachev, ông ta chưa bao giờ đòi hỏi một số lượng nhân viên phục vụ đông như thế. Phe Yeltsin chỉ bịa ra để làm nhục Gorbachev.

4 giờ chiều ngày 25

Gorbachev và phụ tá Andrei Grachev xem lại diễn văn mà 4 giờ nữa ông sẽ đọc và quyết định thay chữ “từ chức” bằng chữ “ngưng các hoạt động” trong chức vụ chủ tịch Liên Bang Xô Viết. Diễn văn được sửa tới sửa lui nhiều lần chung quanh các điểm xung khắc giữa Yeltsin và Gorbachev.

Cũng trong buổi chiều cuối cùng này, Gorbachev gọi điện thoại chào từ giã tổng thống Hoa Kỳ George H. W. Bush.

Buổi điện đàm được truyền hình ABC thu. Gorbachev mở đầu trước bằng gọi một cách thân mật “George thân mến, chúc mừng Giáng Sinh đến anh và Barbara!” và nói tiếp “George, tôi muốn báo anh biết một tin quan trọng. Trước mặt tôi là diễn văn từ nhiệm. Tôi sẽ rời khỏi chức vụ tổng tư lịnh và chuyển giao quyền sử dụng vũ khí nguyên tử sang tổng thống Liên Bang Nga.”

Buổi điện đàm diễn ra trong không khí rất thân mật và tổng thống Hoa Kỳ mời Gorbachev viếng thăm Hoa Kỳ lần nữa. Cả hai đều tránh nhắc tới tên Yeltsin.

Trời đã về chiều. Gorbachev và hai phụ tá thân cận nhất của ông ngồi quanh nhau bên ly cà phê cuối cùng. Cả ba đồng ý, sau khi đọc diễn văn, Gorbachev sẽ ký quyết định từ nhiệm thay vì ký trước như dự tính.

Trong lúc nhấp cà phê, câu chuyện về số phận Nicolae Ceausescu của Romania được nhắc đến. Mặc dù Gorbachev ví Ceausescu như là Hitler của Romania, cả hai đã duy trì một quan hệ lãnh đạo các quốc gia trong khối CS. Chỉ ba tuần trước khi vợ chồng Nicolae Ceausescu bị xử bắn, Gorbachev đã tiếp y tại điện Kremlin. Trong dịp đó Gorbachev khuyên Ceausescu đừng ngại thực hiện các cải cách dân chủ và tiên đoán “đồng chí sẽ còn sống trong dịp hội nghị các lãnh đạo CS Liên Xô và Đông Âu” tổ chức ngày 9 tháng Giêng, 1991. Ngày đó không bao giờ đến và Nicolae Ceausescu cũng đã chết rồi.

7 giờ tối ngày 25

“Kính thưa toàn thể nhân dân,”giọng Mikhail Gorbachev hơi lạc đi vì xúc động, gò má ông rung lên. Trong chốc lát, ông lấy lại bình tĩnh, “Số phận đã quyết định rằng, khi tôi trở nên lãnh đạo đất nước, hiển nhiên đã có những sai trái trầm trọng trong quốc gia này. Chúng ta có đầy đủ mọi thứ, đất đai, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và Tạo Hóa đã ban cho chúng ta trí tuệ và tài năng – Tuy nhiên, mức sống của chúng ta tệ hại hơn nhiều so với các quốc gia kỹ nghệ khác và khoảng cách mỗi ngày rộng thêm. Lý do rõ ràng vì xã hội bị bóp ngặt trong tay của một hệ thống quan quyền được tạo ra để phục vụ một ý thức hệ, và phải chịu gánh nặng chạy đua vũ trang, căng thẳng tột cùng. Tất cả cố gắng để thực hiện các cải cách nửa vời đều lần lượt dẫn đến thất bại. Đất nước không còn hy vọng gì nữa.”

Gorbachev tiếp tục nói về các cải cách ông thực thi từ 1985, dù sao, đã là những viên gạch cần thiết lót lên con đường dẫn đến chế độ dân chủ và theo ông “xã hội đã đạt được tự do, tự do về chính trị và tự do về tinh thần.”Gorbachev chấm dứt diễn văn lúc 7:12 phút tối. Ông nhìn lên ống kính truyền hình và thêm vào câu nữa “Chúc quý vị mọi điều tốt đẹp.”

Tại sao Liên Xô sụp đổ?

Các lý do làm Liên Xô sụp đổ là nguồn thúc đẩy sự nghiên cứu của nhiều sử gia, nhà nghiên cứu, nhà phân tích và vẫn còn đang được nghiên cứu, phân tích. Tuy nhiên, như nhiều người đồng ý, nguyên nhân sâu xa vẫn là (1) những mâu thuẫn có tính triệt tiêu trong bản chất của chế độ CS độc tài toàn trị, (2) sự chuyển hóa không ngừng của xã hội và (3) các nguyên nhân trực tiếp gồm tình trạng tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương.

Mâu thuẫn có tính triệt tiêu của chế độ CS

Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, chế độ CS Liên Xô không thể nào sụp đổ. Sau Thế Chiến thứ Hai, Liên Xô có một đạo quân khổng lồ gồm 500 sư đoàn trong đó có 50 sư đoàn thiết giáp. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh với Mỹ và Tây phương, Liên Xô duy trì một đạo quân từ 3 triệu người đến 5 triệu người. Khoảng thời gian Liên Xô sụp đổ, Liên Xô có 210 sư đoàn với một phần tư là các sư đoàn thiết giáp. Kho vũ khí hạt nhân Liên Xô có 27 ngàn đầu đạn nguyên tử trong đó 11 ngàn đầu đạn có tầm bắn xa đến tận nước Mỹ. Mỗi đầu đạn nguyên tử có thể tàn phá một thành phố của Mỹ.

Bên ngoài hùng mạnh nhưng bên trong, Liên Xô là một cơ chế chính trị chứa đựng các mâu thuẫn nội tại dẫn đến thối rữa. Chủ nghĩa Marx-Lenin đề cao “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” nhưng thật sự từ Cách mạng CS tại Nga, Trung Cộng, Cu Ba, Bắc Hàn, Việt Nam v.v… đều phát xuất từ một nhóm nhỏ cán bộ CS biết vận dụng các lý do lịch sử và bất đồng nhất thời trong xã hội để phát động chiến tranh và sau đó tiếp tục cai trị nhân dân bằng súng đạn, nhà tù, sân bắn. Người dân không có quyền chọn lựa. Mâu thuẫn đối kháng mang tính triệt tiêu nhau giữa chế độ độc tài toàn trị và quyền sống, quyền tự do chọn lựa của con người vì thế đã bắt đầu ngay khi cách mạng CS thành công và sâu sắc dần theo thời gian.

Sự chuyển hóa tri thức xã hội

Như người viết đã có dịp phân tích bài Trung Cộng không đáng sợ, sự chuyển hóa tri thức của xã hội là nguồn lực chính thúc đẩy cách mạng dân chủ tại các quốc gia CS. Nguồn lực đó nhanh hay chậm tùy theo điều kiện mỗi nước nhưng là một tiến trình không thể bị ngăn chặn bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào. Những nguồn đối kháng từ bên trong các nước CS đã âm thầm lớn mạnh chỉ chờ cơ hội là bùng vỡ. Sức sống của đất nước cũng như của xã hội là một dòng chảy không bao giờ ngừng nghỉ, các thế lực cầm quyền độc tài chỉ là những khe đá, có thể làm chậm dòng thác văn minh nhưng không thể nào ngăn chặn được.

Khi nhận thức con người được mở rộng, sự sợ hãi sẽ giảm dần. Điều này thể hiện không chỉ ở người dân Liên Xô lúc đó mà cả các cấp lãnh đạo CS Liên Xô cũng không còn sợ các biện pháp chế tài của trung ương đảng. Chưa bao giờ trong lịch sử đảng CS Liên Xô có một ủy viên bộ chính trị từ chức. Không cần phải tìm hiểu cũng biết điều gì sẽ xảy ra cho Boris Yeltsin nếu ông ta từ chức trong thời kỳ Lenin, Stalin.

Yếu tố chính tác động vào sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống CS tại châu Âu và sẽ diễn ra tại Trung Cộng cũng như Việt Nam chính là nội lực phát xuất từ xã hội, kết quả của các phong trào xã hội và sự chuyển hóa không ngừng của xã hội. Các quốc gia CS còn lại như Trung Cộng, Việt Nam tìm mọi cách để ngăn chặn sự phát triển tự nhiên của văn minh con người, cố tình che đậy, bưng bít thông tin nhưng chỉ làm chậm lại tiến trình cách mạng dân chủ một thời gian ngắn mà thôi. Cuộc chiến tranh xói mòn từng mảnh nhỏ này đang diễn ra từng giờ, từng phút và phần thắng đang nghiêng dần về phía người dân.

Tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương

Thập niên 1970 Liên Xô có vẻ trong vị trí ổn định và có ảnh hưởng quốc tế nhất. Vị trí của Liên Xô lên cao tại Phi Châu, Trung Đông và Á Châu. Tuy nhiên sau cuộc gặp thượng đỉnh Vladivostok giữa Leonid Brezhnev và Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford tình hình bắt đầu đổi khác. Nền kinh tế Liên Xô suy sụp dần vì hơn 30%, nhiều phân tích cho rằng hơn một nửa, ngân sách quốc gia phải đổ vào cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ. Giống như đòn kinh tế Mỹ đang áp dụng hiện nay đối với Vladimir Putin, thập niên 1980, Hoa Kỳ cũng thỏa thuận với Saudi Arabia để giữ giá dầu thấp nhằm đánh vào nền kinh tế sống nhờ xuất cảng dầu khí của Liên Xô.

Gorbachev kế thừa một “sự nghiệp cách mạng” nhưng trong thực tế một gánh nặng của chủ nghĩa độc tài toàn trị kéo dài từ 1917 cho đến tháng 3 năm 1985, thời gian ông được chọn làm tổng bí thư đảng. Cơ chế chính trị trung ương không giữ được các cộng hòa địa phương. Trước Giáng Sinh 1991 vài ngày, 11 nước cộng hòa Xô Viết gồm Ukraine, Liên Bang Nga, Belarus, Armenia, Azerbaijan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Turkmenistan, Tajikistan và Uzbekistan tuyên bố họ không còn là những tiểu quốc trong Liên Bang Xô Viết. Bốn nước Estonia, Lithuania, Latvia, Georgia chọn nghiêng hẳn về phía Tây Phương thay vì theo Nga.

Không có con đường nào khác dành cho các lãnh đạo độc tài CS

Chế độ CS là một chế độ đi ngược dòng phát triển văn minh nhân loại và quyền con người như Mikhail Sergeyevich Gorbachev xác nhận “hệ thống toàn trị đã ngăn chặn một quốc gia để trở nên giàu có và thịnh vượng, hệ thống đó phải bị giải thể.” Điều đó đã xảy ra tại Nga, Đông Âu, Phi Châu và đương nhiên sẽ xảy ra tại Trung Cộng và Việt Nam.

Cách mạng dân chủ là một tiến trình không thể nào đảo ngược. Các lãnh đạo CSVN chỉ có một trong hai chọn lựa, hoặc như Mikhail Gorbachev hoặc như bị lật đổ như Nicolae Ceausescu, Erich Honecker chứ không có chọn lựa thứ ba nào.

Trần Trung Đạo


 

Đan Mạch Nổi Giận Vì Đặc Phái Viên Mỹ Muốn “Biến Greenland Thành Một Phần Của Mỹ”

Ba’o Dat Viet

December 23, 2025

Căng thẳng ngoại giao giữa Mỹ và Đan Mạch bất ngờ bùng lên khi Copenhagen triệu tập đại sứ Mỹ hôm 22.12 để phản đối việc Tổng thống Donald Trump bổ nhiệm Thống đốc Louisiana Jeff Landry làm đặc phái viên tại Greenland – và đặc biệt là tuyên bố gây sốc rằng ông muốn “biến Greenland thành một phần của Mỹ”.

Trên Truth Social, Tổng thống Trump nhấn mạnh Greenland có “tầm quan trọng thiết yếu” đối với an ninh quốc gia Mỹ, không chỉ cho Washington mà còn cho các đồng minh và “cả thế giới”. Từ khi trở lại Nhà Trắng hồi tháng 1, ông Trump liên tục đề cập khả năng tăng cường sự hiện diện của Mỹ tại Greenland – thậm chí không loại trừ sử dụng vũ lực để bảo vệ lợi ích tại hòn đảo giàu tài nguyên chiến lược này, theo AFP.

Ngay trong ngày được bổ nhiệm, Jeff Landry đăng trên X một tuyên bố đầy khiêu khích: “Thật vinh dự khi phục vụ để biến Greenland thành một phần của Mỹ.”

Lời tuyên bố này lập tức khiến giới lãnh đạo Đan Mạch phẫn nộ. Ngoại trưởng Lars Lokke Rasmussen cho biết ông “vô cùng tức giận”, khẳng định Washington phải tôn trọng chủ quyền của Đan Mạch và Greenland. Không lâu sau, Bộ Ngoại giao Đan Mạch triệu tập đại sứ Mỹ để yêu cầu làm rõ. “Chúng tôi đã vạch ra một lằn ranh đỏ rất rõ ràng,” ông Rasmussen nói với Đài DR, cho biết cuộc họp có sự tham dự của đại diện Greenland.

Nhà lãnh đạo Greenland Jens-Frederik Nielsen cùng Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen tuyên bố chung: “Không thể sáp nhập một quốc gia khác. Chúng tôi yêu cầu tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ.”

Trong thông điệp gửi người dân Greenland, ông Nielsen nhấn mạnh việc Mỹ bổ nhiệm đặc phái viên không thay đổi hiện thực chính trị: “Chúng ta sẽ tự quyết định tương lai của mình. Greenland thuộc về người Greenland.”

Liên minh châu Âu lập tức lên tiếng ủng hộ Copenhagen. Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen và Chủ tịch Hội đồng châu Âu Antonio Costa khẳng định chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là nguyên tắc cốt lõi của luật pháp quốc tế, đồng thời tuyên bố EU “hoàn toàn đoàn kết với Đan Mạch và người dân Greenland”.

Greenland từ lâu là tâm điểm cạnh tranh chiến lược nhờ vị trí địa lý độc nhất: nằm trên tuyến đường ngắn nhất của quỹ đạo tên lửa giữa Nga và Mỹ, sở hữu trữ lượng đất hiếm lớn chưa khai thác và trở nên quan trọng hơn khi băng Bắc Cực tan, mở ra các tuyến hàng hải mới. Mỹ hiện duy trì căn cứ không quân Pituffik tại Greenland và đã mở lãnh sự quán trên đảo từ năm 2020.

Mặc dù Tổng thống Trump từng nhiều lần bày tỏ tham vọng “mua” Greenland – điều mà Đan Mạch từng gọi là “điên rồ” – lãnh đạo của cả Đan Mạch lẫn Greenland đều tái khẳng định rằng hòn đảo này “không phải để bán” và tương lai của nó sẽ do người Greenland quyết định.

Động thái mới của ông Trump và phát biểu của đặc phái viên Jeff Landry vì thế bị xem là bước leo thang gây tổn hại quan hệ đồng minh, đồng thời khiến châu Âu cảnh giác trước ý định mở rộng ảnh hưởng của Washington tại Bắc Cực.


 

 Joseph Stalin không ngủ như một con người tin tưởng vào quyền lực của mình

Phuong Tran

 Joseph Stalin không ngủ như một con người tin tưởng vào quyền lực của mình.

Khi ông đã thống trị Liên Xô một cách tuyệt đối – nắm trong tay quốc gia rộng lớn nhất thế giới, chỉ huy hàng triệu binh sĩ, định đoạt số phận của cả những dân tộc – ông vẫn đặt bên gối một khẩu súng lục đã lên đạn. Mỗi đêm, ông thay đổi phòng ngủ, không bao giờ nằm lại cùng một chiếc giường hai đêm liền. Ông từ chối đi lại trên cùng một con đường cũ. Ông không ngừng cải tạo các dinh thự, thêm những hành lang bí mật, những cánh cửa khóa layered, những lối thoát hiểm ngoằn ngoèo nhằm đánh lừa kẻ ám sát tiềm tàng.

Đó không phải là thói lập dị. Đó là bản năng sinh tồn của một người hiểu rõ hơn ai hết cách mà các nhà độc tài rời bỏ thế gian.

Vì Stalin đã trèo lên đỉnh quyền lực bằng cách khiến người khác chết trước mình.

Ông thấu suốt cơ chế của những vụ ám sát chính trị. Chính ông đã đạo diễn chúng. Ông đã chứng kiến đối thủ tan biến trong ngục tù, thấy đồng chí cũ bị bắn trong tầng hầm tối, ra lệnh những cuộc thanh trừng nuốt chửng hàng ngàn sinh mạng. Ông biết rằng những lưỡi dao ông đã phóng ra có thể bất cứ lúc nào quay ngược lại. Người trung thành hôm nay có thể đang mài dao ngày mai. Đồng minh đáng tin nhất cũng có thể hóa thành kẻ sát nhân.

Thế nên Stalin không tin ai. Và ông dựng nên cả cuộc đời mình trên nền tảng duy nhất ấy: sự nghi kỵ tuyệt đối.

Nỗi sợ ấy định hình lại mọi ngóc ngách trong cuộc sống ông. Một buổi sáng, nhân viên đến làm việc và bỗng thấy mình bị đuổi mà không một lời giải thích. Lính gác bị thay phiên liên tục để không ai kịp thuộc lòng nhịp sống của ông. Đội cận vệ thay đổi khuôn mặt thường xuyên đến mức sự quen thuộc trở thành điều xa xỉ.

Ngay cả các bác sĩ cũng run rẩy khi chữa trị cho ông – một chẩn đoán sai, một liều thuốc không hiệu nghiệm, và họ có thể bị kết tội là kẻ phá hoại hay gián điệp ngoại bang. Họ tiếp cận sức khỏe của Stalin như những người tháo ngòi nổ, tim đập trong lồng ngực.

Các cố vấn học được rằng sống sót nghĩa là cúi đầu và im lặng. Không đưa ra nhận định trung thực. Không báo tin xấu. Đặc biệt không được phản biện Tổng Bí thư. Họ chỉ nói những gì ông muốn nghe, gật đầu trước mọi lời ông phán, và thầm cầu mong được về nhà nguyên vẹn đêm ấy.

Vì vòng tròn thân cận của Stalin đều thấu một chân lý lạnh lẽo: gần quyền lực tức là gần tử thần.

Nhưng nỗi kinh hoàng không dừng lại bên trong tường thành Kremlin. Nó lan tỏa như ung thư, nhiễm độc toàn bộ cơ thể nhà nước Xô Viết.

Qua cuộc Đại Thanh trừng những năm 1930, chế độ Stalin hành quyết hàng trăm nghìn người, giam cầm và lưu đày hàng triệu linh hồn khác. Các tướng lĩnh từng dẫn quân chiến thắng bị bắn như phản tặc. Các bộ trưởng trung thành suốt mấy thập kỷ tan biến trong đêm. Nhà khoa học, nghệ sĩ, giáo viên, công nhân – bất kỳ ai cũng có thể bị bóng đêm nuốt chửng. Cảnh sát mật gõ cửa lúc nửa đêm, và con người bỗng hóa thành hư vô.

Trung thành không mua được sự an toàn. Năng lực đôi khi lại là lời mời gọi tử thần. Quá giỏi việc, bạn có thể bị coi là mối uy hiếp. Quá được lòng cấp dưới, bạn có thể bị nghi xây dựng phe cánh. Vị trí an toàn nhất là tầm thường và vô hình.

Cả nhà nước Xô Viết dần mang tâm lý của lãnh tụ: đa nghi, bí ẩn, tàn nhẫn. Sự thật trở thành lưỡi dao, nên người ta nói dối. Trung thực mời gọi roi vọt, nên mọi người giấu nhẹm vấn đề. Hệ thống lẽ ra kiến tạo thiên đường cộng sản lại dựng nên một cỗ máy khổng lồ chuyên ăn thịt chính con dân mình.

Stalin không tin ai vì ông tin rằng chẳng ai đáng tin. Và có lẽ ông đúng – bởi chính ông cũng chẳng đáng tin. Sao người khác lại khác được?

Sự mỉa mai thật nghiệt ngã: chính nỗi đa nghi ông tưởng sẽ che chở cho mình lại gây ra những thảm họa khôn lường.

Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, văn hóa sợ hãi của Stalin làm tê liệt mọi quyết sách của Liên Xô. Sĩ quan biết rõ điểm yếu quân sự nhưng không dám báo – báo tin xấu đồng nghĩa với viên đạn. Tình báo về cuộc xâm lược của Đức bị bỏ ngoài tai vì dám trái ý Stalin là tự sát. Báo cáo giả thay thế báo cáo thật, bởi sống sót nghĩa là nói những lời lãnh đạo muốn nghe.

Thế nên khi Đức Quốc xã tràn qua biên giới tháng 6 năm 1941, Hồng quân thảm khốc không chuẩn bị dù đã có vô số lời cảnh báo. Cuộc tấn công chớp nhoáng của Đức xé nát lực lượng Xô Viết. Hàng triệu binh sĩ ngã xuống, bị bắt hoặc bị bao vây chỉ trong vài tháng đầu. Thành phố sụp đổ. Cả quân đoàn tan rã như cát bụi.

Những cuộc thanh trừng đa nghi trước đó đã làm suy kiệt Hồng quân – Stalin hành quyết hoặc giam cầm nhiều tướng tài nhất vì sợ họ thành đối thủ. Giờ đây, văn hóa dối trá và sợ hãi khiến đất nước trần trụi trước lưỡi hái chiến tranh mà ai cũng thấy trước nhưng không ai dám chuẩn bị.

Cái giá phải trả thật kinh hoàng. Hơn 26 triệu công dân Xô Viết bỏ mạng trong cuộc chiến – cả quân nhân lẫn thường dân. Nhiều sinh mạng ấy có thể quy trực tiếp hoặc gián tiếp về những rối loạn do nỗi đa nghi của Stalin gây ra.

Song chiến thắng trước phát xít Đức chỉ khiến ông nghi ngờ thêm.

Những năm cuối đời, nỗi đa nghi quay ngược vào trong với cơn cuồng nộ mới. Ông tin rằng chính các bác sĩ – những người giữ mạng sống cho ông – đang âm mưu hại ông. “Âm mưu Bác sĩ” 1952-1953 chứng kiến hàng loạt y sĩ danh tiếng, nhiều người gốc Do Thái, bị bắt và buộc tội mưu sát lãnh đạo.

Đó là cơn điên rồ. Nhưng là cơn điên có gốc rễ – Stalin đã xây một hệ thống nơi lý thuyết âm mưu thành chính sách quốc gia, nơi đa nghi được thưởng, nơi nhìn kẻ thù khắp nơi được ca tụng là trí tuệ thay vì bệnh hoạn.

Stalin tự cách ly mình khỏi thực tại ngày một xa. Càng ít người được tiếp cận ông. Càng ít tiếng nói đến được tai ông. Vòng tròn tin tưởng – vốn đã nhỏ bé – co lại thành hư vô. Ông là người quyền lực nhất Liên Xô, cai trị một siêu cường trải dài từ Đông Âu đến Thái Bình Dương.

Và ông cô độc đến tận cùng đáy lòng.

Ngày 1 tháng 3 năm 1953, Joseph Stalin bị đột quỵ nặng. Ông ngã quỵ trong dinh thự Kuntsevo, không thể cất tiếng kêu cứu.

Và đây là vòng tròn định mệnh của nỗi đa nghi: lính gác do dự hàng giờ không dám bước vào phòng.

Tại sao? Vì ông đã ra lệnh nghiêm cấm làm phiền. Vì bước vào mà không được phép – dù để cứu mạng – có thể lãnh án tử. Vì văn hóa kinh hoàng ông gieo rắc khiến người ta sợ cơn thịnh nộ của ông hơn là lo cho sinh mạng ông.

Nhà độc tài nằm trên sàn lạnh, nửa người tê liệt, không nói không động, trong khi cận vệ và nhân viên đứng ngoài cửa, run rẩy không dám hành động.

Khi bác sĩ cuối cùng được gọi đến và dám bước vào, Stalin đã nằm đó hàng giờ. Sự chậm trễ làm tình trạng ông tồi tệ hơn nhiều. Họ cố cứu chữa, nhưng tất cả đã quá muộn.

Joseph Stalin qua đời ngày 5 tháng 3 năm 1953, thọ 74 tuổi.

Khẩu súng dưới gối không cứu được ông. Những căn phòng luân phiên không cứu được ông. Biện pháp an ninh, thanh trừng, hành quyết, cả một đế chế kinh hoàng – chẳng gì cứu nổi ông.

Cuối cùng, chính nỗi đa nghi đã định nghĩa cả cuộc đời ông lại góp phần đưa ông đến cái chết. Nỗi sợ ông gieo vào lòng người khác khiến không ai dám kịp thời ra tay khi ông cần nhất.

Cuộc đời Stalin chứng minh một chân lý sâu thẳm và đáng sợ: quyền lực tuyệt đối không xua tan nỗi sợ, nó chỉ nhân nó lên gấp bội.

Khi cai trị bằng kinh hoàng, bạn tạo ra một thế giới mà mọi người – kể cả chính mình – sống trong nỗi sợ triền miên. Khi trung thành bị ép buộc bằng bạo lực, bạn mãi mãi không thể tin nó chân thật. Khi đã loại trừ mọi mối đe dọa, bạn chỉ còn lại những kẻ che giấu sự thật vì trung thực đồng nghĩa với tử thần.

Stalin tưởng mình đang dựng nên pháo đài an toàn. Thực ra ông đã xây một nhà tù. Và ông là tù nhân chính – cô đơn nhất.

Ông thống trị một siêu cường vĩ đại. Ông chỉ huy đạo quân hùng mạnh. Ông nắm trong tay sinh mạng hàng trăm triệu người. Các quốc gia run sợ trước sức mạnh Xô Viết. Các nguyên thủ coi ông ngang hàng trên trường quốc tế.

Vậy mà mỗi đêm, ông ngủ như một kẻ bị truy nã. Thay giường liên tục. Vũ khí kề bên. Không tin ai. Sợ hãi mọi người.

Người gieo rắc kinh hoàng cho triệu triệu con người lại sống trong chính kinh hoàng ấy. Kiến trúc sư của nhà nước giám sát lại là kẻ bị giám sát chặt chẽ nhất. Nhà độc tài có quyền giết bất kỳ ai lại biết rằng bất kỳ ai cũng có thể muốn giết mình.

Đó là cái giá cuối cùng của bạo quyền. Không chỉ những gì nó gây ra cho nạn nhân – dù đã đủ kinh hoàng. Mà còn những gì nó làm tan nát tâm hồn chính kẻ bạo chúa.

Stalin dành những năm cuối đời trong cô lập, đa nghi và sợ hãi. Ông chết một mình trên sàn lạnh, bên ngoài là những con người quá kinh hoàng để cứu ông. Hệ thống kinh hoàng ông tạo dựng đã hoàn tất vòng tròn: nuốt chửng cả chính người sinh ra nó.

Quyền lực không có lòng tin chẳng phải sức mạnh. Đó chỉ là một xiềng xích vô hình mà không khẩu súng nào có thể bắn đứt.

Như Like Thần Chưởng