Xứ “Thiên đường” và “cuộc giải phóng”

Xứ “Thiên đường” và “cuộc giải phóng”

J.B Nguyễn Hữu Vinh
2018-04-28
 

Người lính Bắc Việt trên một chiếc xe tăng tiến vào khu vực dinh Độc Lập, Sài Gòn hôm 30/4/1975

Người lính Bắc Việt trên một chiếc xe tăng tiến vào khu vực dinh Độc Lập, Sài Gòn hôm 30/4/1975

 AFP
 

Ngày 27/4/2018, hai nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) đã bắt tay nhau, hứa hẹn một hiệp ước chấm dứt chiến tranh trong năm nay.

Hai kẻ thù địch đã từng không ngại ngần dành cho nhau những ngôn từ thù địch, gọi nhau bằng những hỗn danh không mấy đẹp đẽ và thể hiện cho thiên hạ biết họ có thể nhai tươi xé xác nhau nếu có thể.

Họ cũng đã từng nã súng vào nhau và đe dọa biến một nửa đất nước thành tro bụi, chi biết bao nhiêu sức dân, tiền của để diễu võ dương oai đe dọa lẫn nhau dù người dân Bắc Hàn đang chết đói.

Nay đã tươi cười bắt tay nhau hứa hẹn một sự hòa bình.

Sự kiện này trùng vào những ngày Việt Nam đang hô hào kỷ niệm “Chiến thắng 30/4, giải phóng Miền Nam” gợi lại cho người ta nhiều suy nghĩ.

Thiên đường và địa ngục

Khi thế giới chia phe, hệ thống cộng sản đang trên đà phát triển làm mưa, làm gió gây bao tại họa trên thê giới, nhiều đất nước đã là nạn nhân của nó.

Trừ những đất nước hứng trọn những cuộc chiến tranh, những đất nước đã hoàn toàn nằm trong cơn bão cộng sản, rồi thoát ra và từ bỏ nó sau khi đã thấm đòn đại họa ấy, thì vẫn có những đất nước bị chia cắt bằng những cuộc chiến tranh hoặc phân chia ranh giới, giới tuyến. Thế rồi những người đồng chủng, đồng huyết trở lại trở thành kẻ thù của nhau, và xương máu lại cứ vậy mà đổ theo năm tháng.

Những đất nước bị họa cộng sản chia cắt có thể kể đến như Đức, Triều Tiên, Việt Nam và Trung Cộng.

Sở dĩ chúng ta nói rằng việc chia cắt là do đại họa cộng sản, dù ở đó có đủ cả hai bên. Chỉ vì những sự chia cắt đó,có nguyên nhân là sự tồn tại của cộng sản. Bởi sau đó, khi người dân đã hiểu ra thế nào là cộng sản, thế nào là dân chủ, thì họ sẵn sàng vứt bỏ và bằng mọi cách để trốn khỏi “Thiên đường Cộng sản”.

Cộng sản bằng hệ thống tuyên giáo hùng hậu thường xuyên tuyên truyền về chế độ và đất nước Cộng sản như một “thiên đường nơi trần thế” với những chiếc bánh vẽ mang tên “Ngày mai”. Thế rồi họ lại đánh tráo khái niệm tạo nhầm lẫn giữa cái “Ngày mai” và cái hiện tại, để ca ngợi cuộc sống khốn khó ở các vùng cộng sản như là khuôn mẫu và là mơ ước của loài người.

Ngược lại, cũng qua hệ thống tuyên truyền cộng sản, thì tại các lãnh thổ khác không cộng sản, chỉ có nghèo đói, lạc hậu, man rợ và… không đáng sống.

Thế nhưng, thực tế được sáng tỏ hơn sau khi bức màn sắt vây kín những vùng cộng sản cách biệt thế giới bên ngoài được gỡ bỏ.

Khi đó, cả đất nước, cả dân tộc giật mình.

Điều có thể nhìn thấy trước mắt không thể chối cãi, là cùng một dân tộc, cùng một màu da, cùng điều kiện thiên nhiên, địa lý và con người. Nhưng hễ vùng nào theo cộng sản, thì ở đó hiện diện sự nghèo đói, khốn khổ, lạc hậu và con người không còn nhân phẩm bởi quyền con người không được hiện diện.

Cùng là người Hán, nhưng thử nhìn xem vùng đại lục của Trung Cộng và Đài Loan, Hong Kong, Ma Cao là những nơi mà “bọn tư bản giãy chết” đã “cai trị nhân dân lao động” thì cuộc sống kinh tế, xã hội cũng như đời sống người dân hai bên ra sao.

Thử nhìn xem, cuộc sống của người dân Đông Đức và Tây Đức như thế nào khi một bên theo Chủ nghĩa Cộng sản.

Và hãy nhìn xem, Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc, hai miền của một đất nước, cùng một dân tộc, cùng màu da và điều kiện địa lý thì ở đâu mới là địa ngục và ở đâu thật sự là thiên đường.

Và ước mơ của những vùng đó, khu vực đó của người dân là mong rằng sớm có ngày để được có cuộc sống như những người dân đồng chủng, đồng tộc của mình bên kia giới tuyến.

Tôi đã đến Thâm Quyến, một thành phố đặc khu mới xây dựng và phát triển bên cạnh HongKong, Con sông Thâm Quyến ngăn chia giữa hai khu vực chưa đủ, giữa sông có cả một bức tường bê tông rất cao và trên đó là hệ thống dây điện trần.

Người dân ở đây cho chúng tôi biết rằng: Khi đất nước Trung Quốc dưới thời Cộng sản sắt máu nhất lính Trung Quốc lập đồn dọc theo bờ sông, sẵn sàng xả đạn bất cứ ai vượt qua ranh giới.

Thế nhưng, hàng năm vẫn có hàng đoàn người từ các làng trong nội địa đại lục, di chuyển ra bờ sông và đổ bộ vượt sông bất chấp mọi nguy hiểm bởi sông sâu, bởi lính xả đạn, bởi điện cao thế. Họ công kênh nhau qua hàng rào để vượt sang “địa ngục” dù cho trăm người chỉ có một ít người thoát.

Cũng bức tường Berlin là nơi đã chứng kiến những người liều mình vượt qua cõi chết để chạy trốn khỏi “thiên đường cộng sản”.

Điều đó, hầu như ai cũng biết, kể cả hệ thống tuyên giáo.

Thế nhưng, cái thói dối trá thành bản năng, sự lỳ lợm cố hữu và tính kiêu ngạo cộng sản đã không để cho họ nhìn nhận lại, lấy lợi ích của người dân, của dân tộc và đất nước làm trọng. Họ chỉ giữ chắc cái “chính quyền” mà họ đã cướp được từ tay người dân bằng mọi giá.

Và họ càng không thể từ bỏ cái ngai vàng cướp được để lo cho đời sống xã hội và đất nước.

Và vì thế, họ đày đọa cả dân tộc, cả đất nước chìm vào sự khốn khó, cái chết, sự nhục nhã và tối tăm.

Mặt khác, những người cộng sản luôn mồm kêu gào sẽ tiến hành “giải phóng” người dân ở bên kia giới tuyến. Mới đây thôi, Bắc Triều Tiên còn hô hào toàn dân chuẩn bị “Giái phóng” miền Nam.

Những cuộc “Giải Phóng”

Thế rồi các vùng lãnh thổ, đất nước cũng dần dần được thống nhất, hòa nhập với nhau. Điển hình là giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Dân chủ Đức.

Hai nước Đức đã sáp nhập ngoạn mục mà không cần tiêu hao một viên súng đạn. Có điều, bên “địa ngục” CHLB Đức đã phải oằn mình để chấp nhận cưu mang và gánh đỡ cho bên “thiên đường” CHDC Đức vốn nghèo đói, lạc hậu và chậm phát triển hơn nhiều lần. Mấy chục năm đã qua, gánh nặng đó vẫn chưa được thanh toán hết.

Các vùng lãnh thổ như HongKong và Macao cũng dần dần được trả về cho Trung Quốc. Tuy nhiên, nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc buộc phải chấp nhận để các vùng lãnh thổ đó một chế độ hành chính khác biệt bởi người dân ở đó không chấp nhận sự thống trị của hệ thống Cộng sản.

Và dù nhiều lầ tuyên bố, dụ dỗ, mua chuộc, đe dọa… nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc cũng không thể thuyết phục được Đài Loan “trở về” để thống nhất với đại lục. Chỉ bởi mọi người dân nơi đây sợ hãi chế độ “thiên đường cộng sản”.

Và giờ đây, Bắc và Nam Triều Tiên cũng bước đầu có những cái bắt tay hữu nghị để nói đến vấn đề hòa bình.

Tuy nhiên, để sáp nhập hay thống nhất làm một, thì chắc chắn bên “địa ngục” Nam Triều Tiên còn phải xem lại nhiều điều. Bởi những hệ lụy khi phải gánh cả một cái “thiên đường” mà ở đó, hàng triệu người dân chết đói thê thảm chỉ để cho cha con họ Kim đua nhau xây lâu đài tráng lệ và ăn chơi xa hoa rồi đổ tiền chế bom dọa cả thế giới cho xứng với danh hiệu “Côn đồ quốc tế” là vô cùng to lớn.

Thế mới hiểu là dù Bắc Triều Tiên có mời sang “xâm lược”, thì Nam Triều Tiên đâu dễ đồng ý.

Cho nên, những ngôn từ quen thuộc để tuyên truyền của hệ thống cộng sản như “Đế quốc Mỹ xâm lược” hay chế độ ngụy quyền, giải phóng… đã dần dần bị thực tế bác bỏ thẳng thừng.

Còn ở Việt Nam, sau khi “Hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” mới ký ráo mực được 2 năm, thì miền bên “thiên đường miền Bắc” đã mở cuộc tấn công bằng đại bác, bom đạn, súng và xương máu người dân để… “giải phóng” một vùng lãnh thổ giàu có, văn minh và hiện đại hơn mình rất nhiều lần.

Và ngày 30/4/1975, đánh dấu một “chiến thắng” của bên “thiên đường” trong cuộc chiến tàn khốc nhất trong lịch sử dân tộc mà mục đích là bảo vệ cho hai hệ thống tư tưởng khác nhau và đối tượng cũng chính là nạn nhân, là người dân Việt Nam cả hai miền đã phải bỏ mạng hàng chục triệu người.

Qua hệ thống tuyên truyền cộng sản, người dân cứ tưởng rằng, khi họ được “giải phóng” thì người dân sẽ được hưởng cuộc sống “độc lập – tự do – hạnh phúc” như người cộng sản rêu rao.

Nhưng, đã gần nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày được “giải phóng” người dân không chỉ miền Nam, mà cả đất nước đang đứng trước một tương lai mù mịt về số phận người dân.

Tài nguyên đất nước cạn kiệt bởi dưới sự lãnh đạo “thống nhất, tuyệt đối của đảng” cả hệ thống đua nhau đào lên bán, đua nhau tranh cướp tham nhũng và phá hoại.

Nợ nước ngoài chồng chất, hầu như công việc nhà nước có thể làm, là nghĩ ra đủ các loại thuế, phí, và cướp của dân bằng mọi cách để đổ cho đầy túi đám quan tham chỉ biết ăn tàn, phá hại.

Mỗi người dân được đảng và nhà nước chia đều và để lại cho món nợ nước ngoài hàng chục triệu đồng, tha hồ để làm hồi môn cho các thế hệ sau.

Con người bị tha hóa về mọi mặt, xã hội được “lãnh đạo” bởi hệ thống các “cháu ngoan của Bác” và là “con người mới XHCN” đưa đất nước sang lệ thuộc Bắc Kinh, lãnh thổ dần dần mất vào tay giặc, dân tộc lầm than và bị khinh miệt.

Môi trường sống về vật chất, chính trị, không khí cho đến văn hóa, tư tưởng và tâm hồn luôn bị đầu độc bằng mọi cách. Sự suy đồi được coi là chuyện bình thường, đạo đức xã hội chỉ là một khái niệm.

Đã gần nửa thế kỷ qua đi, nhưng, những thế lực “thắng cuộc” vẫn chưa hả hết cơn thù địch và tàn ác của mình với chính đồng bào ruột thịt chứ chưa nói đến cái bắt tay hoặc câu chào đối với bên “thua cuộc”.

Đó là tai họa của dân tộc này, khi sự thù địch vẫn được nuôi dưỡng hằng ngày một cách cực đoan thì đất nước, xã hội không thể tiến bộ.

Và tương lai đất nước, dân tộc mù mịt người dân lại tìm cách thực hiện “Cuộc bỏ phiếu bằng chân” lần thứ 3 với Chủ nghĩa Cộng sản – Chạy ra nước ngoài dù phải làm nô lệ.

Những ngày cuối cùng của VNCH

Những ngày cuối cùng của VNCH

Nam Nguyên, RFA
2015-04-20
 

Ảnh minh họa ngày 30 tháng tư năm 1975

Ảnh minh họa ngày 30 tháng tư năm 1975

 Files photos
Bốn mươi năm trước, vào ngày 30/4/1975, cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài 2 thập niên đã kết thúc. Cuộc chiến quốc-cộng đã làm 2 triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam-Bắc bỏ mạng cùng sự hy sinh của hơn 58 ngàn người thuộc lực lượng Hoa Kỳ và đồng minh.

Nam Việt Nam lúc đó đã kết thúc sứ mệnh “tiền đồn của thế giới tự do” một cách nhanh chóng và cay đắng. Những ngày cuối cùng của VNCH đã diễn ra như thế nào?

Vỡ trận

Tháng 3/1975 trước thực tế tiềm lực quân sự suy yếu, đạn dược chỉ còn đủ dùng trong 30 ngày, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu quyết định tái phối trí lực lượng. Tuy vậy quyết định triệt thoái khỏi cao nguyên Trung phần tức Quân khu II và cách thức mà các tư lệnh chiến trường thực hiện nó là một sai lầm lịch sử. Sự hỗn loạn dẫn tới việc mất luôn cả khu vực Quân khu I ở phía Bắc Việt Nam Cộng Hòa, Huế rồi Đà Nẵng thất thủ và sự sụp đổ dây chuyền kéo dài tới quê hương của Tổng thống Thiệu là Phan Rang.

Trước áp lực từ nhiều phía, ngày 21/4/1975 Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu quyết định từ chức và rời khỏi Việt Nam hai ngày sau đó.

“Thưa đồng bào, anh chị em chiến sĩ cán bộ các cấp, tôi tuyên bố từ chức tổng thống và theo Hiến pháp, Phó Tổng thống Trần Văn Hương sẽ đảm nhận chức Tổng thống…”

Khi nhà giáo Trần Văn Hương trở thành vị Tổng thống thứ ba của chế độ VNCH, thì cũng là lúc mặt trận Xuân Lộc tuyến phòng thủ cuối cùng của Saigon đã vỡ, các lực lượng của VNCH can trường chịu thiệt hại nặng và giữ vững được 12 ngày đêm.

Bàn giao – Diễn văn lịch sử

Giữ chức Tổng thống VNCH được 5 ngày và bất lực trước tình hình sụp đổ nhanh chóng, ngày 26/4/1975 Tổng thống Trần Văn Hương yêu cầu Quốc hội tìm người thay thế mình, một người mà theo ông có đủ khả năng tìm giải pháp vãn hồi hòa bình hòa giải dân tộc. Quốc hội VNCH ra nghị quyết chỉ định Đại tướng Dương Văn Minh vào chức vụ Tổng thống. Trên thực tế Hiến pháp VNCH đã không còn được thi hành từ thời điểm này.

Chiều 28/4/1975 lễ bàn giao giữa hai ông Trần Văn Hương và Dương Văn Minh được tổ chức tại Dinh Độc Lập. Nam Nguyên của ban Việt ngữ RFA lúc đó là Đặc phái viên của Hệ thống Truyền thanh Quốc gia đã thực hiện cuộc Trực tiếp Truyền thanh cuối cùng của mình từ Dinh Độc Lập. Đoạn ghi âm lịch sử mà quí thính giả sắp nghe là những lời của Tổng thống Trần Văn Hương đan xen với tường thuật của Phóng viên Nguyễn Mạnh Tiến thuộc Hệ thống Truyền thanh Việt Nam:

Tổng thống Trần Văn Hương: “…Làm thế nào cho dân được sống yên…làm thế nào cho máu đừng đổ thịt đừng rơi thì công của Đại tướng đối với hậu thế sẽ lưu lại đời đời, dầu thế nào tôi thiết nghĩ đất nước này không bao giờ quên công lao đó của đại tướng…(vỗ tay)

Phóng viên Nguyễn Mạnh Tiến : “…Sau khi nguyên Tổng thống Trần Văn Hương đọc xong bài diễn văn trao nhiệm, chúng tôi nhận thấy một sĩ quan đã gỡ huy hiệu Tổng thống hai con rồng bay xuống…và thay thế bằng một huy hiệu Tổng thống mới với hình một hoa mai năm cánh…Đây là Phóng viên Hệ thống Truyền thanh Việt Nam, quí thính giả đang theo dõi Trực tiếp Truyền thanh lễ trao nhiệm chức Tổng thống VNCH giữa ông Trần Văn Hương và cựu Đại tướng Dương Văn Minh…Thưa quí thính giả vào lúc này bên ngoài dinh Độc lập chúng tôi nhận thấy trời đã bắt đầu mưa nhỏ và Saigon đang trải qua một buổi chiều u ám như hoàn cảnh hiện tại của đất nước…”

Một trong hàng triệu thính giả đã nghe cuộc trực tiếp truyền thanh lịch sử ngày 28/4/1975 là ông Nguyễn Quốc Thái, một nhà báo thuộc nhóm tạp chí Hành Trình, Đất Nước và Trình Bầy. Ba tờ báo này do một nhóm trí thức công giáo được cho là thiên tả chủ trương và có khuynh hướng đối lập với chính phủ. 40 năm sau cuộc bàn giao lịch sử giữa hai vị Tổng thống Trần Văn Hương và Dương Văn Minh, từ Saigon ông Nguyễn Quốc Thái cho biết cảm nhận của ông vào thời điểm chiều 28/4/1975:

“Lúc đó tôi biết mọi chuyện đã xong rồi; có một hiển hiện rõ ràng là tất cả những người có thể giữ lại miền Nam thì đã rời khỏi miền Nam. Đây là một cuộc bàn giao theo sắp xếp, nhưng có người hoang tưởng rằng việc đảm nhận chức vụ đó có thể trao đổi thỏa thuận với phía bên kia là Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam… Nếu nhìn lại cuộc bàn giao đó thì thấy rằng đây là một cái gạch nối quá ngắn, mà chỉ làm một cái việc đã được sắp xếp, đã được hứa hẹn trong hoang tưởng của người nhận trách nhiệm lúc đó.”

Khí tiết Việt Nam: tướng chết theo thành

4 thập niên sau ngày sụp đổ của Miền Nam Tự do dưới danh xưng Việt Nam Cộng Hòa, nhiều tài liệu lịch sử đã được bạch hóa cho thấy Hoa Kỳ chỉ mong muốn việc rút quân của họ được an toàn trong một khoảng thời gian nhất định và thích hợp; tương lai của VNCH hầu như đã được quyết định trong Hiệp định Paris 27/1/1973. Nam Việt Nam rơi vào số phận nghiệt ngã vì bị đồng minh bỏ rơi, những mật ước của Tổng thống Nixon với TT Thiệu đã đi vào quên lãng. Hoa Kỳ đã không can thiệp quân sự khi phía Cộng sản vi phạm Hiệp định Paris lấn chiếm lãnh thổ với những cuộc tấn công qui mô.

Vào những ngày cuối cùng của Nam Việt Nam, Đại tướng Dương Văn Minh được xem là người thích hợp nhất để nhận trách nhiệm ra lệnh đầu hàng; mặc dầu bản thân ông Minh và bộ tham mưu của ông có thể có những người vẫn còn tin vào giải pháp chính phủ liên hiệp như Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Nhậm chức chưa đầy 48 giờ, Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, tuyên bố của ông được phát đi trên hệ thống Truyền Thanh Quốc gia vào buổi trưa ngày 30/4/1975.

“Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam…Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận Lễ bàn giao Chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào…”

Sau khi Đài Phát Thanh Saigon lập đi lập lại lệnh buông súng của Tổng thống Dương Văn Minh, cũng như nhật lệnh tương tự của Thiếu tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người được bổ nhiệm làm phụ tá cho Trung tướng Vĩnh Lộc vị Tổng Tham mưu trưởng sau cùng, quân đội đã thi hành lệnh giao nạp vũ khí cho những người chủ mới của đất nước. Nhiều vị tướng lãnh, sĩ quan cao cấp đã tuẫn tiết sau lệnh đầu hàng như Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn tướng Trần Văn Hai…

Xe tăng Cộng sản Bắc Việt tiến vào khuôn viên Dinh Độc Lập, bộ đội xe tăng treo lá cờ của Mặt trận Giải phóng trên nóc Dinh Độc Lập lúc 11g 30 trưa ngày 30/4/1975, đánh dấu sự cáo chung của chế độ VNCH. Miền Nam tự do hay VNCH là một chế độ được xây dựng bởi những người không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản và được Hoa Kỳ hỗ trợ. Chế độ ấy trải qua hai nền cộng hòa và tồn tại được 21 năm. Cuộc chiến Quốc – Cộng giữa những người cùng chung giòng máu nhưng khác ý thức hệ đã làm thiệt mạng hơn hai triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam-Bắc. Phía đồng minh của VNCH, 58.000 quân nhân Mỹ tử trận cùng hàng ngàn binh sĩ khác của các nước đồng minh như Nam Hàn, Thái Lan, Úc và Tân Tây Lan.

Tiếp thu dinh Độc Lập

Thưa quí thính giả, cũng là một sự tình cờ lịch sử, khi cờ của Mặt trận Giải phóng đã tung bay trên Dinh Độc Lập, thì các đại diện chính trị của bên Cộng sản chưa vào tới Saigon để tiếp nhận Chính quyền. Do vậy ông Bùi Tín lúc đó là Trung tá trong vai trò một nhà báo Cộng sản Bắc Việt, cũng là người có cấp bậc cao nhất và được bộ đội xe tăng ủy quyền vào Dinh gặp Chính quyền Dương Văn Minh. Ông Bùi Tín hiện nay tỵ nạn chính trị ở Pháp. Năm 2005 từ Paris ông Bùi Tín kể lại giây phút lịch sử khi ông giáp mặt ông Dương Văn Minh và toàn thể nội các Vũ Văn Mẫu:

SB: “ Tôi là người đầu tiên tiếp xúc, ông Dương Văn Minh và tất cả đứng dậy…ông Minh nói là chúng tôi chờ quí vị tới từ sáng nay, đặng chuyển giao chính quyền….Tôi có trả lời là, tất cả chính quyền các ông không còn nữa qua cuộc tấn công của chúng tôi…cho nên không thể bàn giao cái gì đã không còn nữa…”

Do sự kiện cựu Đại tá Bùi Tín, Phó Tổng biên tập báo Nhân dân đã tỵ nạn chính trị khi sang Pháp dự Hội Báo L’humanité năm 1990, kể từ đó báo chí Hà Nội tường thuật những câu chuyện hoàn toàn khác với lời kể của ông Bùi Tín.

Vào những thời khắc sau cùng của chế độ VNCH, chuyện gì xảy ra ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ? Câu hỏi này đã được chúng tôi đặt ra với ông Robert Funsett, người vào thời điểm đó đang là Người Phát Ngôn cho Bộ Ngoại Giao Mỹ. Năm 2005 ông Funsett kể lại với Ban Việt Ngữ chúng tôi như sau:

“Ðúng giờ này, vào chiều ngày 29 tháng Tư năm 1975, giờ Washington tức rạng sáng 30/4 theo giờ Việt Nam, Sài Gòn bắt đầu sụp đổ. Từ Trung Tâm Ðiều Hành ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Phụ Tá Ngoại Trưởng Phillip Habib và tôi nói chuyện lần cuối cùng với ông Ðại Sứ Graham Martin.

Ðại Sứ Martin chưa muốn rời Việt Nam, vì ông ta muốn kéo dài thì giờ để có thể cứu thêm những người khác. Cuối cùng, chúng tôi phải chỉ thị  ông đại sứ phải rời nhiệm sở. Ông đại sứ Martin nói chuyện với chúng tôi và tôi còn nhớ là ông ta bảo là sẽ lên sân thượng của Tòa Ðại Sứ, dùng trực thăng để ra hạm đội. Không đầy một giờ đồng hồ sau đó, đại sứ Martin gọi điện lại báo đã ra tới hạm đội bình yên.”

Đồng minh bội ước

Sau 4 thập niên từ khi chấm dứt chiến tranh các tài liệu hồ sơ của Tòa Bạch Ốc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã được bạch hóa. Số phận của Việt Nam Cộng Hòa đã được định đoạt và Nam Việt Nam sẽ chỉ tồn tại cho đủ thời gian để Hoa Kỳ rút chân khỏi cuộc chiến một cách an toàn. Đây là một thực tế phũ phàng của lịch sử. Việt Nam Cộng Hòa có cái giá phải trả khi hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ của Hoa Kỳ.

Bị Washington cắt viện trợ quân sự và kinh tế, VNCH đơn độc trong cuộc chiến chống cộng. Vào năm 1975 không có nhiều người ở miền Nam tự do thấy trước là số phận của mình đã được các siêu cường sắp đặt. Khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và ra đi, quân dân VNCH chịu nhiều nỗi thống khổ với muôn vàn oán hận ông. 15 năm sau sự sụp đổ của VNCH, xuất hiện tại California Hoa Kỳ năm 1990, cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đăng đàn trả lời chất vấn của cộng đồng người Việt. Sau đây là một trích đoạn những biện giải của ông Nguyễn Văn Thiệu:

“ Tổng Thống Nixon có nói nếu như không có vụ Watergate thì tình trạng Việt Nam không đến nỗi như vậy. Chúng ta tin hay không tin là quyền của chúng ta. Nhưng chúng ta chỉ làm việc trên sự kiện người ta cúp viện trợ quân sự, cúp viện trợ kinh tế, ngoại giao thì áp lực và không có phản ứng mãnh liệt. Trong lúc đó Nga Xô và Trung Cộng thì tăng cường viện trợ cho cộng sản và họ thừa thắng xông lên để xâm chiếm miền Nam đặt thế giới và Hoa Kỳ trước một việc đã rồi. Cho nên tôi phải từ chức, cái hành động mà tôi từ chức ngay lúc đó chính tôi cũng đã thấy khó chịu rồi. Nhưng mà tôi không có một sự lựa chọn nào khác, nếu như tôi còn ngồi thì tôi mang tội với nhân dân, là vì ông còn ngồi mà Mỹ không viện trợ bởi vì ai nấy cũng được cho hiểu như vậy, vì ông còn ngồi mà Việt Cộng không thương thuyết, phải có Dương Văn Minh lên mới được thương thuyết vì ông còn ngồi mà chiến tranh còn triền miên chết chóc. Tôi thấy lịch sử sẽ chứng minh cái đó trúng hay trật, cái đó để cho lịch sử và nhân dân, nhưng bổn phận của tôi là một Tổng thống lúc đó tôi phải ra đi.”

Lịch sử đã sang trang từ 40 năm qua, những người chịu trách nhiệm hay là chứng nhân một giai đoạn lịch sử của VNCH đều đã khuất bóng. Việt Nam đã thống nhất từ năm 1976 nhưng 40 năm qua những người cộng sản chiến thắng đã tự ru ngủ mình, theo cách nói của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

4 thập niên sau chiến tranh, vào tháng 3/ 2015 Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng nhìn nhận Việt Nam phát triển quá chậm, kém xa 6 nước sáng lập ASEAN, hiện nay có nhiều lãnh vực còn thua kém cả Lào và Campuchia.

Nước Việt Nam thống nhất đã 40 năm nhưng vẫn còn quá nhiều câu hỏi được đặt ra về sự tụt hậu cũng như vấn đề dân chủ, dân quyền và nhân quyền.      

Chính quyền xã ở Bình Định bắt dân đóng phí ‘vịt ăn mót trên đồng’

 
 
VanHieu Nguyen shared a link.
 
NGUOI-VIET.COM
 

BÌNH ĐỊNH, Việt Nam (NV) – Nhiều năm qua, người chăn nuôi ở xã Ân Phong, huyện Hoài Ân phải nộp tiền nếu muốn thả vịt ăn mót lúa sau khi gặt trên chính cánh đồng của họ.

Theo báo Người Lao Động, ông Lưu Đáy (ngụ thôn An Hậu) là một trong những người chăn nuôi lớn ở xã Ân Phong, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, với đàn vịt khoảng 1,000 con. Sau khi người dân gặt lúa xong, ông Đáy thường lùa đàn vịt xuống cánh đồng để ăn những hạt lúa còn sót lại. Đồng của người dân, thế nhưng từ nhiều năm qua, ông Đáy muốn lùa vịt xuống đồng ăn mót lúa cũng phải nộp phí 1 triệu đồng (khoảng $44)/năm cho Ủy Ban Nhân Dân xã Ân Phong.

Huỳnh Thục Vy: Tôi không thích đảng cộng sản Việt Nam

Thuong Phan and Huỳnh Phi Long shared a post.
Image may contain: 1 person

Mai Tú Ân is with Phuong Ho and 4 others.

 Lâu lắm rồi anh MTA không liên lạc gì với em gái Huỳnh Thục Vy cả. Tình cờ lượm được tấm hình mới nhất của em trên mạng. Thì ra em gái vẫn trẻ, đẹp và vẫn oai phong như ngày nào.

Thế mới biết thời thế đang “Âm thịnh, dương suy”, các chị, các em nữ của chúng ta đang chứng tỏ bản lĩnh hơn người của họ trên đường đấu tranh dân chủ.

Từ những bậc cao nhân vang danh như cụ Lê Hiền Đức cho đến các nữ tướng Bùi Hằng, Tạ Phong Tần, Cấn Thị Thêu, Đoan Trang, Mẹ Nấm, Thúy Nga, Huỳnh Thục Vy… những cái tên không chỉ làm cho cường quyền phải khiếp sợ, mà còn khiến cho cánh đàn ông chúng tôi phải ngả đầu bái phục….

Mai Tú Ân

Nghị sĩ Canada hy vọng kiến nghị Biển Đông sẽ khiến Việt Nam hành động


Tàu chiến và máy bay chiến đấu của hải quân Trung Quốc tham gia tập trận trên Biển Đông hôm 12/4. Canada vừa thông qua một khuyến nghị chỉ trích cách ứng xử 'thù nghịch' của Trung Quốc trên Biển Đông.
Tàu chiến và máy bay chiến đấu của hải quân Trung Quốc tham gia tập trận trên Biển Đông hôm 12/4. Canada vừa thông qua một khuyến nghị chỉ trích cách ứng xử ‘thù nghịch’ của Trung Quốc trên Biển Đông.

Bản kiến nghị do thượng nghị sỹ gốc Việt thuộc đảng bảo thủ bảo trợ đã được Thượng viện Canada thông qua hôm 24/4 với tỷ lệ 43/29 phiếu.

 
 
 Kiến nghị được đưa ra từ năm 2016 tuy nhiên chỉ mới được thông qua sau 2 năm tranh luận ở Thượng viện, theo nghị sỹ có nhiều hoạt động trong cộng đồng người Việt tại thành phố Ottawa.

“Trong kiến nghị của tôi, tôi muốn Canada đóng một vai trò chủ đạo trong vấn đề thúc giục các quốc gia tranh chấp trong vùng (biển Đông) phải công nhận luật pháp quốc tế và chấm dứt mọi hành động làm leo thang tranh chấp để bảo vệ nền an ninh trong vùng biển Đông.” 

Sen. Thanh Hai Ngo

“This week, adopted my motion to urge the government to take the steps necessary to de-escalate tensions and restore peace and stability in the South China Sea” http://senatorngo.ca/statement-on-the-adoption-of-the-south-china-sea-motion/  It is now up too @CanadaFP to take action

 

Statement on the Adoption of the South China Sea Motion

April 24, 2018 Senator Thanh Hai Ngo today made the following statement regarding the adoption of the Senate motion to urge the government to take the steps necessary to de-escalate tensions and…

senatorngo.ca

Một ngày sau khi bản kiến nghị được thông qua, Trung Quốc lên tiếng phản pháo, nói rằng kiến nghị không có tính ràng buộc của Thượng viện Canada, kêu gọi chấm dứt các hành động của Trung Quốc trên Biển Đông là “vô trách nhiệm và sẽ “khuấy động rắc rối.”

Trong một thông cáo, Đại sứ quán Trung Quốc tại Ottawa nói nghị sĩ Ngô Thanh Hải đang tìm cách “khuấy động rắc rối” một tình hình đang yên ổn.

Trong những năm qua từ khi TQ tăng cường lấn chiếm biển Đông bằng cách xây dựng các cơ sở quân sự trên biển Đông, không có quốc gia nào đứng ra tiếp tục lên án TQ.
Ngô Thanh Hải, Nghị sỹ Canada

Giải thích lý do ông đứng ra bảo trợ kiến nghị này, Thượng nghị sĩ đại diện cho tỉnh bang Ontario cho biết ông muốn thông qua kiến nghị để “yêu cầu chính phủ Canada phải chủ động ủng hộ các quốc gia đồng minh ngoại giao của mình tại vùng Đông Nam Á” vì “chính phủ Canada không thể làm ngơ trước thực tế đang phát sinh từ các cuộc tranh chấp trên biển Đông.”

“Trong những năm qua từ khi TQ tăng cường lấn chiếm biển Đông bằng cách xây dựng các cơ sở quân sự trên biển Đông, không có quốc gia nào đứng ra tiếp tục lên án TQ,” theo nghị sỹ Canada. “Họ im lìm để cho các quốc gia có liên quan tại vùng Đông Nam Á phải đương đầu trực tiếp với TQ.”

Công trình xây dựng của Trung Quốc trên Đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa mà Việt Nam cũng có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông qua hình ảnh vệ tinh được CSIS công bố tháng 6/2017.
Công trình xây dựng của Trung Quốc trên Đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa mà Việt Nam cũng có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông qua hình ảnh vệ tinh được CSIS công bố tháng 6/2017.

Đô đốc Mỹ Philip Davidson hôm 17/4 nói Trung Quốc đã “bắt đầu” phát triển các tiền đồn quân sự trên Biển Đông từ tháng 12/2013, và từ đó tới nay đã “bồi đắp xây đảo nhân tạo”, “xây hanga chứa máy bay” và các hệ thống phòng thủ.” Trung Quốc phủ nhận các hoạt động này.

Phillipines từng đưa Trung Quốc ra tòa án trọng tài quốc tế ở La Haye và tòa án này bác bỏ đường lưỡi bò 9 đoạn của Trung Quốc trong đó nước này muốn mưu chiếm hầu như toàn bộ biển Đông. Tuy nhiên Trung Quốc không công nhận phán quyết của tòa trọng tài quốc tế đưa ra vào đầu tháng 7/2016.

“Trung Cộng không bao giời chấp nhận phán quyết của tòa án quốc tế La Haye do đó tời giờ phút này vấn đề đó vẫn chưa giải quyết được,” Nghị sỹ Canada nhận định với VOA. “Với hành động đó chúng ta thấy rằng Trung Cộng có thể dùng biển Đông để áp lực tất cả các quốc gia trên thế giới. Trung Cộng muốn làm bá chủ vùng châu Á Thái Bình Dương.”

Hy vọng (Đảng) Cộng sản Việt Nam sẽ nhận thấy rõ vai trò của mình đối với nhân dân Việt Nam là không thể nào để mất được Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngô Thanh Hải, Nghị sỹ Canada

Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải, từng phục vụ trong vai trò Thẩm phán Di trú và Quốc tịch tại Ottawa, nói “Nếu chúng ta không quan tâm đến vấn đề biển Đông cứ để TQ xâm chiếm và không ai lên án thì TQ sẽ làm tới, chiếm đóng và mặc hồi phân giải.”

Việt Nam, trong chưa đầy 1 năm qua, đã phải 2 lần dừng dự án thăm dò dầu khí trên biển Đông vì áp lực của Bắc Kinh. Chính phủ Việt Nam chưa lên tiếng chính thức về động thái này nhưng tập đoàn dầu khí nhà nước PetroVietnam trong 1 lần hiếm hoi đã lên tiếng thừa nhận rằng tình hình căng thẳng trên biển Đông sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động dầu khí của tập đoàn trong năm nay.

View image on Twitter

Press.Info.Dept.@PressDept_MoFA
  in response to media question concerning China’s recent activities in the area of Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) archipelagos
Gần đây nhất, Trung Quốc lắp đặt các thiết bị tác chiến điện tử mới gây nhiễu sóng trên Đá Chữ Thập và Đá Vành Khăn. Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm 24/4 đã liên tiếng phản đối các động thái này nhưng một số chuyên gia nghiên cứu Biển Đông nhận định với VOA rằng những lời “phản đối” lập đi lập lại của Việt Nam trước những hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông tạo ra một vòng “luẩn quẩn”.

Tiến sỹ Nguyễn Nhã, một nhà sử học nhiều năm nghiên cứu về Biển Đông, nói với VOA rằng nếu không phản đối, theo luật pháp quốc tế, kể như Việt Nam công nhận những gì Trung Quốc làm là thuộc chủ quyền của Trung Quốc, cho nên đó là một việc làm đương nhiên”.

Theo Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, động thái “phản đối” của Việt Nam “ sẽ không đủ vì Trung Quốc hung hăng lắm. Họ cứ thế mà làm thôi. Việt Nam cứ phản đối, còn họ cứ làm.”

Về kiến nghị vừa được thông qua, Thượng nghị sĩ Canada Ngô Thanh Hải hy vọng “(Đảng) Cộng sản Việt Nam sẽ nhận thấy rõ vai trò của mình đối với nhân dân Việt Nam là không thể nào để mất được Hoàng Sa và Trường Sa” trên Biển Đông.

Hạnh phúc là chia sẻ phúc lành bằng cả tấc lòng trong sáng (*).

 
 
Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh and Đào Nguyên.

Tác giả: GS Phan văn Tường.

…Năm 1963, 17 tuổi, tôi bị cướp sạch tài sản trong đêm đầu tiên du học Pháp…

Năm ấy là năm 1963, tôi 17 tuổi.

Thật tôi sẽ nhớ mãi cái năm Mão ấy, tôi vừa bước chân tới nước Pháp để du học, thì tôi đã bị một người đồng hương tước mất gần hết tài sản ngay đêm đầu tiên.

Nếu vào thời điểm ngày hôm nay thì thực tình mà nói số tiền tôi mất hồi đó cũng không quá to, 3 ngàn đô-la. Nhưng đó là tất cả số tiền tôi đem đi để làm vốn cho ít nhất hai năm học, đối với một sinh viên không có nhà cửa gia đình anh em bên cạnh thì nó to lắm. Mà nó cũng rất to đối với cha mẹ tôi, vì đó cũng là tất cả số tiền cha mẹ tôi dành dụm để chuẩn bị cho con đi học ở nước ngoài. Với đồng lương công chức của cha tôi thì đó là công dành dụm từ nhiều năm về trước.

Thế nhưng ngay hôm đầu tiên tôi tới Pháp, mắt nhắm mắt mở, chân ướt chân ráo, giờ giấc ngược xuôi, thì tôi đã bị tước mất số tiền đó do một băng đảng du đãng ăn chơi, họ chuyên môn đón đầu những sinh viên còn ngây thơ vừa bước sang nước xa lạ. Tôi đã bị dọa bởi vũ khí, và tôi đã để tuột tất cả những gì có trong tay, cả số tiền khổng lồ được dành dụm bằng tình yêu của cha, được gói ghém từ bàn tay của mẹ. Và từ một thanh niên mới ra đời với nhiều ưu đãi, tôi đã biến trong khoảnh khắc thành một thằng bé vô gia cư, chưa có nghề nghiệp và nhất là không còn gì trong tay để phấn đấu, cũng như không có chỗ vịn thực sự, trên một đất nước mà mình chưa nói sõi tiếng người, chưa hiểu thực văn hóa, chưa có bạn, chưa có cả một tấm mền để trải nằm ban đêm.

Ngày đó đâu có như bây giờ, không có điện thoại di động, chỉ có telegram để báo tin khi cần, nhưng linh tính đã khuyên tôi không thông báo cho gia đình ở nước nhà. Vì chuyện đã rồi, việc báo tin chỉ làm cho cha mẹ lo thêm.

Thế là tôi một mình ôm bí mật rằng tôi đã trắng tay.

Vài chục năm sau, khi nghĩ lại sự cố đã xảy ra cho mình, thì tôi mới ngỡ ra là chính cái sự cố vô cùng bi đát ấy đã giúp cho tôi, một thằng bé 17 tuổi, sớm thành người.

Trùng lúc ở bên Pháp tôi bị trắng tay hết tiền, thì cha tôi lại bị sự cố tại nước nhà.

Một người bạn của cha đi công cán sang Pháp mới cho tôi thông tin không mấy vui về cha. Mẹ tôi có gửi ông bạn đó một lá thư trong đó mẹ dặn đi dặn lại là con cố cầm cự với số tiền mang theo càng lâu càng tốt, rồi đến khi gia đình ổn định trở lại thì mẹ sẽ gửi tiếp. Nào mẹ có biết sự thật phũ phàng phía bên này… Và tôi cũng viết vội vài hàng gửi mẹ qua tay của ông bạn rằng “mẹ đừng lo, số tiền cha mẹ cho con còn nguyên và nhờ đó con sẽ sống được thoải mái nhiều năm sắp tới”. Đó là lần đầu tiên tôi đã nói dối mẹ.

Vào những năm 60, xã hội Pháp không như ngày nay, đó là một xã hội tuy không kỳ thị nhưng vẫn khép kín. Người Pháp thì đã đành, nhưng ngay cả người Việt sống bên Pháp cũng không cởi mở như ngày nay. Ngày đó, chưa có các tiệm fastfood hay hamburger như McDonald’s hay Kingburger, nơi mà một người trẻ như tôi có thể kiếm việc dễ dàng để tự nuôi sống.

Thế nhưng, cũng vì tôi sang Pháp trễ so với niên học, nên tôi chỉ được đăng ký vào nội trú một trường ở ngoại ô xa, trường Francisque Sarcey ở Dourdan, cách Paris hơn 50 km. Cũng may cho tôi là tôi không được nhận vào các trường tại Paris, vì có lẽ tôi sẽ phải bỏ dở việc học do đời sống Paris quá đắt đỏ. Ngày ấy tại Dourdan, cái gì cũng rẻ, thêm vào đó, đây là một thị trấn rất nhỏ, gần như một cái làng lớn. Chính vì Dourdan nhỏ bé mà tôi đã tìm ra nơi nương tựa.

Trước hết tôi phải kể tới Cha Paul. Cha là cố đạo của nhà thờ Dourdan. Không có Cha có lẽ tôi đã không có ngày hôm nay.

Lần đầu tôi gặp Cha, là chính tôi đã mạnh dạn đến gõ cửa nhà thờ. Tối hôm đó, bụng đói, tôi đã mạo muội tìm đến nơi Thánh. Tôi vào nhà thờ, lòng bất an. Nhưng cánh cửa bên trong nhà thờ bất thình lình mở và Cha xuất hiện. Cha hiểu ngay tôi đang có vấn đề. Cha mời tôi vào nơi Cha tiếp khách. Cha không hỏi han gì mà lại chia ngay với tôi một khúc bánh mì. Cha nói: “Em vào đây chia sẻ bữa cơm của tôi.”

Thị trấn Dourdan – Nay trở thành một địa điểm du lịch tại Pháp.

Từ ngày hôm đó, tôi mới thực sự có một người bạn đầu tiên trên đất Pháp, đó chính là Cha Paul. Cứ đến chủ nhật là tôi đến giúp việc trong nhà thờ Dourdan và được Cha cho một bữa cơm ấm áp. Lần đầu ra đời gặp “nhân loại” tôi đã có ngay được cảm nhận là nhân loại không phải là một ý niệm gì trừu tượng, mà là những gương mặt cụ thể và tích cực. Gương mặt đầu tiên của nhân loại đối với tôi là Cha Paul.

Cha đã có những nghĩa cử đơn giản nhưng chứa chan tình người. Cha Paul đã là người đầu tiên làm cho tôi thấu hiểu được rằng hạnh phúc là một thứ gì rất chân thật, trong sáng, ấm áp. Và chỉ cần mỗi tuần một buổi sáng chủ nhật giúp việc trong lễ nhà thờ cũng đủ cho tôi cảm nhận phẳng phất được niềm hạnh phúc đó suốt tuần.

Và cũng không có gì sung sướng hơn là biết rằng Chúa ở trên cao đã đoái nhìn xuống ban cho tôi phúc lành, mà vẫn biết rằng phúc lành chỉ là một mẩu bánh mì mộc mạc.

Trong đời sống nhà trường, tôi được nội trú, tôi còn nhận được sự yêu thương của vợ chồng gác dan. Nhìn từ ngoài, ông bà Jean trông rất dữ dằn. Có lẽ nghề gác cửa, cấm kẻ lạ xâm nhập vào khu vực nhà trường, cấm học sinh thoát ra ngoài đi bụi đời đã vẽ lên nét mặt của cặp vợ chồng tất cả cái nghiêm nghị của thế gian. Tuy nhiên, trái tim của họ bằng vàng. Ông bà Jean đã thấu hiểu cảnh ngộ của tôi ngay từ lúc tôi nhập học ngày đầu.

Bà ấy thường hay rày tôi, nhưng lúc nào bà cũng quan tâm. Một hôm bà bảo tôi: “Mày giặt giũ làm sao? Trông mày dơ bẩn thế kia, mày cởi hết quần áo ra đưa tao giặt”. Thế là tôi được bà giặt quần áo miễn phí, bà còn ngụy biện rằng đằng nào ông bà cũng có máy giặt, nhiều ít gì cũng thế. Tuy nhiên, bà còn ủi thẳng thắn cho từng chiếc sơ mi, chiếc quần. Đến khi tôi chụp ảnh gửi về cho mẹ thì mẹ tôi rất ngạc nhiên hồi âm ngay hỏi rằng ai giặt và trông nom cho tôi mà áo quần ngay ngắn thế. Sau này khi mẹ tôi sang Pháp, mẹ đã tỏ ý muốn đến cám ơn tận nơi ông bà Jean.

Tôi thì cứ bị bà Jean mắng hoài hoài, nhưng tôi hiểu đó là lời mắng của sự quan tâm, lời mắng để cải thiện một thanh niên không được sống bên gia đình của mình. Những lời mắng này thật mát mẻ trong lòng tôi.

Ông Jean thì lại thương tôi một cách cụ thể hơn. Cứ đến hai ngày cuối tuần, ông rủ tôi đi làm thêm. Ông chuyên sửa điện nước, đổ rác, sơn nhà, đổ nền, nạo ống khói… Thế là ông và tôi chia nhau việc. Ông nhận việc chuyên môn, còn tôi thì việc chân tay. Có lần, tôi nạo xong ống khói mặt mũi đen đủi quần áo lọ lem làm mọi người cười. Tôi cũng cười, cái cười của một đứa thanh niên thật hãnh diện vừa nhận được chút tiền để tự nuôi thân. Ông bà Jean dần dần coi tôi như một đứa cháu trong nhà. Tôi cảm nhận được hạnh phúc sâu đậm đó, rằng tôi đã được người bản xứ nhận lãnh. Chỉ được nhìn nhận như vậy thôi cũng đủ để làm cho tôi cảm thấy mình thật quá may mắn.

Ở trong trường tôi còn được một người khác giúp đỡ tôi rất nhiều. Đó là bà Monique, bà là y tá săn sóc sức khỏe của học sinh nội trú. Gọi là bà, nhưng bà chưa có chồng tuy đã quá trạc 50. Người ác miệng nói là bà không có nhan sắc nghiêng thành do đó mới khó lấy chồng. Nhưng đối với tôi, thì bà là một con người nhân hậu mà tôi sẽ không bao giờ quên. Tôi gặp bà lần đầu lúc tôi bị bệnh. Mùa đông năm 1963 kỷ lục lạnh, nhiệt độ xuống hơn 15 độ âm. Tôi thiếu quần áo ấm và sau một lớp thể dục ngoài trời tôi bị lạnh phổi và được đưa vào nằm phòng bệnh hai tuần.

Bà Monique mới hỏi tôi gia đình ở đâu, vì trên nguyên tắc, học sinh nhuốm bệnh phải được trả về gia đình, chứ giường bệnh nội trú chỉ là tạm thời, quá lắm là 2, 3 ngày. Sau khi tôi khai hết cảnh ngộ thì không những bà cho phép tôi ở lại mà bà còn chăm lo cho tôi thật tận tụy. Sau này, tôi thường hay lên thăm bà trong giờ chơi, tôi hay tặng bà một miếng bánh sô cô la hoặc là một bó hoa tôi hái trong rừng. Bà cũng thường viết thư trấn an mẹ tôi. Đây không phải là trách nhiệm của bà, tôi cảm nhận đó là lòng thương. Từ lúc đó, tôi mới lại hiểu cụ thể hơn thế nào là hạnh phúc. Hạnh phúc rút cục là sự cảm nhận tình thương mà mọi người dành cho mình. Nhưng trên hạnh phúc đó, còn có cái duyên mà Đấng trên cao đã sắp sẵn cho mình. Tại sao mình lại được hưởng đặc ân đó thì mình thực sự không biết.

Trường học của tôi có một tục lệ là cứ mỗi 15 ngày thì nhà trường tổng vệ sinh nên yêu cầu tất cả học sinh nội trú ra ngoài trong hai ngày cuối tuần. Tất cả học sinh đều đợi dịp đó để về với gia đình nên họ vui tíu tít. Ngược lại đối với tôi thì dịp đó lại gây cho tôi nhiều khó khăn vì tôi không có gia đình, không có nơi để về… Vào hai ngày cuối tuần đó người ta dọn giường của sinh viên nội trú, mở toang cửa số, khóa máy sưởi, rải thuốc Javel, phun vòi nước sát trùng để tổng tẩy uế.

Bà Monique là người đầu tiên cứu tôi, bà đề nghị tôi ở lại trong trường, nhưng ở tạm trong căn phòng dành cho người bệnh. Bà coi đó là một trường hợp bất khả kháng, do đó tôi không thể coi đó là giải pháp thường trực.

Tôi cũng có mấy người bạn Việt Nam ở trong nhà Lào Việt tại Cư Xá quốc tế cho phép tôi trải nệm ngủ lậu qua đêm. Ở đây ông gác dan biết chuyện nhưng ông ấy cũng tốt nên ông không cằn nhằn.

Nhưng riêng tôi lại còn có thêm một phương án khác. Một hôm, tôi gặp lại một bạn xưa tên là Lân, Lân mới rủ tôi tới nhà chị Trà. Chị Trà là một phụ nữ đã đứng tuổi có chân tu.
Nhà của chị Trà là một căn hộ nhỏ bé, vỏn vẹn có một phòng, ở ngoại ô Levallois. Tuy căn nhỏ bé nhưng lúc nào cũng đông sinh viên tới xin ngủ qua đêm. Chị bảo nhà của chị là nhà của Chúa, các em cứ tới trú.

Thế là đêm nào cũng có đứa trải nệm nằm la liệt dưới đất, có hôm năm đứa chúng tôi phải nằm sít gần nhau vì căn phòng nhỏ quá. Nhưng chúng tôi rất vui, vì không những được qua đêm miễn phí nhưng còn có sẵn một bếp nhỏ để nấu xào. Đông như thế làm cho chúng tôi như có gia đình bên cạnh. Hơn thế nữa, chính vì gặp gỡ nhau tại nhà chị Trà mà chúng tôi truyền cho nhau công việc làm để kiếm tiền thêm. Lân thì rủ tôi cùng đi hầu bàn, Hà thì chỉ cho những chỗ để mua trái cây rẻ, những hoa trái già héo sắp thối nhưng vẫn còn ăn được. Huy thì lại chỉ cho tôi một chỗ làm đêm được trả rất hậu hĩnh. Đó là những dịch vụ tại bệnh viện ít ai muốn làm và có chút rủi ro nếu không cẩn thận.

Từ lúc thường gặp những người bạn mới này, tôi không thiếu việc. Hễ mình chấp nhận viêc khó hoặc nặng nhọc thì kế sinh nhai đơn thuần không phải là một vấn đề. Nhận định này cho tôi có được tự tin. Tự tin rằng mình sẽ chẳng bao giờ sợ đói, chỉ một ý tưởng đó thôi đã làm cho tôi thấy cuộc đời đượm tươi màu hồng. Thật vui, thật hạnh phúc. Duy một cái là trong lớp học tôi không được xuất sắc cho lắm.

Trường Francisque Sarcey ngày nay

Cuối niên học 63-64, cuối cùng tôi cũng thi đậu. Điểm suýt soát, nhưng vừa vặn để lên Đại Học. Vừa đúng lúc đó thì cha tôi cũng hồi sức. Bao nhiêu mây đen phủ trên bầu trời của tôi như dần dần tản bay.

Phải mấy chục năm sau, tôi mới dám hồi tưởng lại cái thời kỳ kinh khủng đó. Vì khách quan mà nói, nó kinh khủng quá. Nhưng tại sao tôi không giữ lại một chút đắng cay là một điều tôi khó lý giải. Mẹ tôi, khi gặp lại tôi vài năm sau đó mới rõ sự thật, bà cứ khóc mãi, bà tự trách sao trót để đứa con yêu lâm vào cảnh ngộ quái dị như vậy. Nhưng trong lúc mẹ khóc thì tôi lại vui cười sung sướng ôm mẹ. Tôi còn nói với mẹ: “Mẹ ạ, suốt năm học ấy con không khổ chút nào mà rất sung sướng mẹ ạ, mẹ đừng khóc nữa vì chẳng có gì để khóc.”

Một hôm, vào năm 1994, tôi được cô thư ký đưa lên một đơn xin việc, lúc đó tôi đang làm phó Tổng giám đốc một tập đoàn đa quốc gia. Hồ sơ xin việc có cả hình của người nộp đơn. Tôi nhận ra ngay, đúng hắn, không thể sai, người đã cướp hết tài sản của tôi vào lúc tôi đang tập tễnh ra đời. Cô thư ký nể tôi, cứ mỗi khi có người Việt xin việc thì cô hay báo cáo trực tiếp cho tôi.

Tôi đã hít một hơi thở thật mạnh. Và chỉ trong một chớp mắt, tôi đã chỉ đạo “để cho Ban nhân sự xử lý bình thường đơn xin việc”, tôi không để lộ cho ai chuyện riêng của tôi. Có lẽ hắn cũng đã quên tôi và cả sự việc rồi, hơn 30 năm đã qua. Trong lòng tôi không có chút hận thù mà ngược lại tôi lại có cảm giác nhẹ nhõm hơn, cứ như đã trút được cái gì còn vướng mắc.

Nghĩ lại chuyện của tôi, tôi không khỏi bàng hoàng và cùng một lúc tôi có cảm giác hạnh phúc. Bàng hoàng vì có lẽ tôi sẽ không bao giờ sẵn sàng sống lại một thời kỳ như thế.

Nhưng tại sao tôi lại có cảm giác hạnh phúc từ sự trải nghiệm đó thì thực tình tôi không rõ.

Phải chăng tôi đã được hưởng trọn niềm hạnh phúc của một con người tự tạo nên. Từ bàn tay trắng tôi đã thành con người tôi ngày nay. Tôi đã lông bông nhưng chưa bao giờ bụi đời. Tôi mới khám phá ra rằng tôi đã được hưởng một cái ADN cứng cỏi, lấy tính hiền từ làm cách hành xử. Lấy nụ cười can trường để làm khiên bảo vệ. Những thứ đó như có sẵn trong cơ thể. Rõ ràng tôi chỉ biết mỉm cười mà không biết khóc.
Phải chăng đó là do tính lạc quan. Tôi chưa bao giờ nhìn nỗi khó trước mặt như là một cực hình mà ngược lại tôi đã chỉ trông thấy những cơ hội được mở ra, thậm chí những thách thức rất đáng sống.

Phải chăng là tôi đã hiểu rất sớm rằng hạnh phúc bắt nguồn từ tình yêu thương. Tôi đã được nhà trường Dourdan yêu thương, Cha Paul yêu thương, ông bà gác dan yêu thương, bà y tá Monique yêu thương, chị Trà thánh thượng yêu thương. Thế giới của tôi vào lúc đó chỉ có thế nhưng đó là thế giới của những người tình nghĩa. Tình nghĩa và đoàn kết, biết cảm nhận, biết xót xa, biết chia sẻ. Chia sẻ hột cơm, chia sẻ mồ hôi, chia sẻ ngọt bùi.

Phải chăng là tôi luôn luôn có trong người tế bào hy vọng. Tương lai sẽ luôn luôn sáng nếu còn hy vọng. Thực ra, chính khi mình nằm tận đáy thì mình mới bám vào hy vọng để trông chờ. Từ đáy thì mình chỉ có thể vươn lên, tương lai chỉ có thể sáng hơn.

Phải chăng là tôi có một niềm tin mãnh liệt nơi Đấng trên cao. Tôi đã cầu nguyện rất nhiều. Nhưng, trong lời cầu nguyện tôi luôn luôn chỉ xin có thêm sức mạnh và sự soi sáng của Thượng đế chứ tôi chưa bao giờ xin những thứ khác. Và tôi ngạc nhiên tôi chưa bao giờ bị Đấng trên cao bỏ rơi.

“Hạnh phúc là cái gì con cảm nhận được khi con đã chia sẻ thật nhiệt tình, với tất cả lòng trong sáng từ bi”.

Có lần tôi hỏi cha tôi: “Bố ạ, thế nào là thành công? Thế nào là một cuộc đời sung mãn và hạnh phúc ?”

Ông nhìn đứa con và chậm rãi trả lời: “Người thành công là người muốn khẩn khoản chia lại những gì phúc lành đã ban cho mình. Chia lại tài sản, chia lại kiến thức, chia lại kinh nghiệm sống”.

Tôi lại hỏi cha: “Còn thế nào là hạnh phúc?” thì cha mới mỉm cười và ôn tồn chia sẻ với tôi: “Con ạ, hạnh phúc là cái gì con cảm nhận được khi con đã chia sẻ thật nhiệt tình, với tất cả lòng trong sáng từ bi.”

Và cha còn nói thêm: “Con hãy đem cả thân thế của con để xây dựng tình người, con hãy dùng tài sản riêng tư như là những viên gạch để kết nối và đoàn kết người với người. Con đừng bao giờ nhìn lên hay nhìn xuống mà coi mỗi người như là một người bạn đồng hành, đón nhận họ với những cá tính của họ, con hãy quý trọng ý kiến của mỗi người, vì chỉ có sự đa dạng mới làm nên một xã hội hùng mạnh, một đất nước trù phú.”

Những lời của cha còn văng vẳng bên tai. Nghĩ lại tôi vẫn choáng váng, và tôi chỉ mong suốt cuộc đời xứng đáng với ước niệm của cha.

Phan Văn Trường

Ảnh: Gs. Phan Văn Trường ký tặng sách.

***
(*): Tiêu đề do người đăng tự đặt.
Hạnh phúc là chia sẻ phúc lành bằng cả tấc lòng trong sáng.

Về tác giả:

Giáo sư Phan Văn Trường là chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực đàm phán quốc tế, và là cố vấn của chính phủ Pháp về thương mại quốc tế. Ông được Tổng thống Pháp đã trao tặng Huy chương Hiệp sĩ Bắc Đẩu Bội Tinh (Chevalier de la Légion d’Honneur) năm 2007 nhờ công lao đóng góp vào việc phát triển nước Pháp.

Ông từng tham gia vị trí quản lý cấp cao của nhiều tập đoàn lớn trên thế giới, tham gia đàm phán các dự án lớn tại hàng chục quốc gia với tổng giá trị các hợp đồng hơn 60 tỷ USD. Ông là tác giả cuốn sách “Một đời thương thuyết”, gồm rất nhiều câu chuyện, kinh nghiệm hàng chục năm đàm phán ở hàng chục quốc gia.

*
Hạnh phúc bắt nguồn từ tình yêu thương.
Nhiệt thành giúp đỡ người không may và vị tha là niềm hạnh phúc vô biên.
Giàu có không nên là tiêu chuẩn đánh giá sự thành công.
Được cống hiến, được sống với đam mê, được nhìn nhận nhân phẩm… là đã hạnh phúc tuyệt vời.
Phan Thị Hồng

Image may contain: 3 people, people sitting
 

 

CÁI THẾ PHẢI HÒA

Huỳnh Phi Long and 2 others shared a post.
Image may contain: outdoor
Image may contain: one or more people, people standing, suit and outdoor

Bong Lau is with Trịnh Việt Anh and 7 others.

Cộng Sản ở đâu và thời nào đều mang bản chất lật lọng hiếu chiến và tàn bạo như nhau.

Tuy nhiên lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong Un rất phong độ và ngạo nghễ khi dám chửi lộn tay đôi với TT. Trump và chĩa hỏa tiễn dọa san bằng Washington. Trong khi đó lãnh đạo Việt Cộng thì hèn hơn, một mặt vuốt đuôi nịnh bợ đế quốc Mỹ, mặt ngầm thì vẫn chống Mỹ cứu nước và bưng bô cho Nga Tàu, mặt ngầm khác thì vơ vét của cải của dân nghèo để đi định cư bên xứ giãy chết.

Năm 1973 Hà Nội bị buộc ngồi vào bàn hội nghị để ký Hiệp Định Paris, sau khi TT. Nixon ra lịnh oanh tạc Bắc Việt đêm ngày vào Giáng Sinh 1972. Mở màn cho cái gọi là “rút lui có danh dự”.

Năm 1973 Hoa Kỳ bị đặt vào cái thế phải ép buộc VNCH ký đại vào cái Hiệp Định tháo chạy của phe đồng minh và cho phép mấy trăm ngàn quân CSBV ở lại miền Nam.

Nixon nhượng bộ để cứu mấy trăm tù binh con tin Mỹ đưa về nước. Chính quyền Nixon – Ford muốn đánh nữa cũng không được vì Quốc Hội thiên tả do đảng Dân Chủ nắm quyền đã bắt đầu khóa sổ hầu bao. Và đa số dân Mỹ khi ấy không muốn dính líu tới Việt Nam nữa.

Nhiều người hay tin vào thuyết âm mưu cho rằng Mỹ bán miền Nam cho Trung Cộng. Nhưng thực tế là Quốc Hội Hoa Kỳ nắm ngân sách quốc phòng. Và khi ngân sách ấy bị khóa sổ thì Tổng Thống và Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ chỉ ngồi ngáp ruồi.

Sau khi Hoa Kỳ rút quân, VNCH cô đơn chống trả đối chọi lại hàng hàng lớp lớp quân Cộng nô được Liên Xô, Trung Cộng và cả một hậu phương lớn của Cộng Sản quốc tế yểm trợ. Và dư luận thế giới khi ấy bị lừa bịp cho rằng phe CSBV có chính nghĩa, là cuộc giải phóng dân tộc. Đó là cái thế Nam Việt phải thua. Thua trong cô đơn.

Ngày hôm nay tình thế đảo lộn hoàn toàn ở bán đảo Triều Tiên. Bắc Hàn đang ở một vị trí cô đơn như VNCH trước khi mất nước 1975. Bắc Hàn đang đối đầu với cả thế giới, với các đồng minh hùng mạnh của Hoa Kỳ như Nhật, Nam Hàn, Úc, Âu Châu v.v. và nhứt là với các phi đạn mang đầu nổ nguyên tử của Mỹ sẵn sàng biến xứ thiên đàng Hàn Cộng thành một khối thủy tinh, nếu cần phải nhấn “những cái nút bự hơn”.

Đa số dân Mỹ cảm thấy bị Hàn Cộng đe dọa. Nhứt là không thích bị ăn hỏa tiễn liên lục địa của Kim Jong Un nên quần chúng Mỹ ủng hộ lập trường cứng rắn của chính quyền Trump. Hình ảnh Kim Jong Un đối với dân Mỹ là một thằng điên nguy hiểm.

Trong khi đó đồng minh thân cận của Bắc Hàn là Trung Cộng bị chính quyền Trump gây áp lực, để hợp tác phong tỏa cấm vận chế độ Kim Jong Un đến tận chân tơ kẽ tóc.

Trump có một ê kíp kinh doanh chuyên nghiệp biết cách bóp bao tử đối phương hiệu quả hơn các đợt cấm vận của những chính quyền Hoa Kỳ trước đây.

Những yếu tố áp lực trên làm Kim Jong Un tìm một lối thoát ôn hòa. Để cứu vãn một nền kinh tế đang hấp hối. Tổng Thống Nam Hàn Moon Jae-In đã cho Kim Jong Un lối thoát danh dự đó.

Kim Jong Un và Moon Jae-In thân ái nắm tay nhau là hình đẹp của “hòa hợp hòa giải” làm nhiều người cảm động. Nhưng đó là bề ngoài. Hãy đợi đến cuộc họp Thượng Đỉnh giữa Kim Jong Un và Trump trong một hai tháng tới để phối kiểm thêm một lần nữa về những toan tính của lãnh tụ Hàn Cộng.

Sau đó là các báo cáo của tình báo đồng minh về các chương trình phóng phi đạn mang đầu đạn nguyên tử của Kim Jong Un. Nếu không có dấu hiệu đe dọa nữa. Khi ấy chúng ta sẽ an tâm chào mừng nền hòa bình ló dạng trên bán đảo Triều Tiên. Dân tộc họ sẽ ấm no và hùng mạnh.

Bỗng nhớ lại lịch sử nước nhà vào thập niên 60 khi công dân Nam Hàn ùa qua miền Nam kiếm việc làm. Bi giờ thì công dân Việt Nam ùa qua Nam Hàn để mần dziệc. Nhưng điều kiện và tư thế bi thảm hơn.   

Ngày trở về của “người thua cuộc”

Phía thất thế.

Ngày trở về của “người thua cuộc” (Đúng hơn là người của Phía THẤT THẾ)

Người đàn ông râu tóc bạc phơ trong ảnh là nguyên Đại tá VNCH Nguyễn Công Vĩnh. 13 năm sau ngày chiến tranh kết thúc (1975-1988), ông từ trại cải tạo trở về theo chuyến xe lửa dừng lại ga Hòa Hưng, Sài Gòn.

Người vợ vẫn còn phảng phất nét xuân sắc một thời, duy chỉ có những chiếc răng đã rụng dần theo năm tháng chờ trông. Người con trai tóc ngã hoa râm đã nắm tay cha và khóc như một đứa trẻ. Nhiều người nhìn tấm ảnh này cũng đã khóc theo anh, như để chia sẻ nỗi đau ngút ngàn mà anh đã trải qua và niềm hạnh phúc mà gia đình anh đã tìm lại được sau những tháng năm đầy ác mộng. Dù sao “người thua cuộc” Nguyễn Công Vĩnh cũng còn có những năm tháng cuối đời được sống trong vòng tay thương yêu của gia đình. Nhiều người bạn tù của ông không có được diễm phúc này, họ vĩnh viễn gửi nắm xương tàn nơi đất lạ quê người.

Image may contain: 4 people, people smiling, people standing
 

Quyết – FLC nhận tiền của Tàu Cộng để mua nước Việt Nam hộ Tàu.

Image may contain: 1 person, closeup
No automatic alt text available.

Phạm Thành is with Võ Hồng Ly and 18 others.

1. Đã từ lâu tôi nghi ngờ tay đại gia Quyết – FLC này và một số đại gia khác đã nhận tiền của Tàu Cộng để mua nước Việt Nam hộ Tàu Cộng. Nhưng trên mạng truyền thông xã hội chưa có bộc lộ ra bằng chứng, sợ nói ra, không có mấy người tin, nên không dám viết. Nhưng nay, đã có thông tin xác thực, Trịnh Văn Quyết (Quyết – FLC) lộ mặt vay tiền của Ngân hàng Công thương Trung Quốc: 105 tỷ đồng. Không phải ngẫu nhiên con số vay tiền của Tàu Cộng được công khai lộ ra. Con số này lộ ra là có chủ đích. Bởi tình hình thôn tính Việt Nam đến hồi Trung Quốc phải ngã bài, sau cú ngã bài năm 2017, 2018, Việt Nam phải ký 27 văn bản nhập nước Việt Nam vào nước Trung Quốc.

Con số vay 105 tỷ công khai này, cũng là con số nhỏ xíu, trong một dãy số tiền tệ lớn mà Tàu Cộng đã bơn cho đại gia Quyết – FLC này. Không thế, sao từ một thằng ất ơ vô nghề nghiệp, bỗng dưng năm 2008 vốn điều lệ có 18 tỷ đồng, đến năm 2014 vốn điều lệ đã tăng lên 3.140 tỷ, năm 2015 tăng lên 8.400 tỷ… sau 7 năm vốn tăng lên gấp hơn 465 lần, một mức tăng siêu tưởng. Nhờ đâu mà Quyết – FLC lớn nhanh như thổi vậy? Chưa kể, với số vốn ban đầu chỉ vỏn vẹn 18 tỷ, liệu Quyết – FLC có thể mua nổi những miếng đất vàng trị giá hàng chục nghìn tỷ hay không?

Một tên trộm tài ba trong nghề cướp nhà băng, cũng không thể giàu có nhanh chóng đến mức chóng mặt như vậy.

Quyết có tiền từ đâu? Hiện tại tổng số nợ của Quyết la 4.500 tỷ đồng. Quyết nợ ai, bao nhiêu? Nếu được bạch hóa, hẳn sẽ lộ ra, ai là chủ nợ của Quyết, ai thực sự là ông chủ chăn dắt Quyết.

Tôi dám chắc, phi Tàu Cộng, không còn có ai khác.

2. Hãy xem bước chân của đại gia Quyết thường đi đến đâu và nhìn ngắm ở chỗ đất, nước nào của nước ta, cũng có thể đoán định được.

Mặc dù Quyết có đầu tư kinh doanh ở Hà Nội, Sài Gòn với những dự án khủng, nhưng chỉ là đắp chiếu để đó. Chẳng hạn như dự án trúng thầu 6,4 ha ở quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, với số vốn đầu tư tới cả ngàn tỷ đồng, nhưng đến tháng 4 năm 2018, đã qua 8 tháng trúng thầu mà dự án vẫn đứng yên tại chỗ, thậm chí tiền mua đất (quyền sử dụng đất), Quyết – FLC còn nợ tới 762 tỷ đồng. Vậy mà quan chức Hà Nội vẫn bảo kê là chưa có lý do để bác kết quả trung thầu của Quyết, trong khi quy định phải nộp tiền đầy đủ không quá 20 ngày sau khi nhận thông báo kết quả trung thầu. Bản chất Quyết – FLC đầu tư ở Hà Nội hay Sài Gòn chỉ là nhằm lấy tiếng, thậm chí là cái khiên che lá chắn nhằm che mắt thiên hạ, làm mù lòa thiên hạ để không mấy ai nghi ngờ khi Quyết – FLC thự hiện nhiệm vụ chính của mình theo kế hoạch chỉ định của Tàu Cộng.

Mục tiêu trọng tâm của Quyết – FLC là phải mua cho kỳ được đất nước Việt Nam ở những vị trị quan trọng xung yếu nằm dọc theo bờ biển từ Thanh Hóa cho đến Nha Trang, Khánh Hòa. Tại Thanh hóa, điểm Quyết – FLC phải mua kỳ được là bãi biển Sầm Sơn. Tại Khánh Hòa, Quyết FLC phải mua cho được bãi biển ở gần Vịnh Cam Ranh.

Tại sao Quyết lại hăm hở, rốt ráo, quyết tâm mua cho kỳ được đất, nước ở những vùng biển này? Vì đây là hai địa điểm mà tàu chiến của Trung Quốc sẽ đổ bộ khi tiến hành đánh chiếm Việt Nam. Người Trung Quốc cần có hoa tiêu, cần có cơ sở và lực lượng cài cắm trước, để kế hoạch đổ bộ đạt kết quả tối ưu. Mua cho kỳ được, rồi tiến hành xây dựng cơ sở vật chất tại đây, là nhiệm vụ bắt buộc Quyết – FLC phải làm trước khi trở nên giàu có nhờ tiền đầu tư của Tàu Cộng.

Sau Quyết – FLC lộ mặt, tới đây, ông chủ Tàu Cộng sẽ còn bật mí nhiều đại gia Việt Nam trở nên giầu có nhưng đang phải gánh món nợ khổng lồ từ Tàu Cộng. Trong số đó không thể không có đại gia Tiên Văn Vũ.

Ảnh hướng tân công tư biển vào đất liện Việt Nam của Tàu Coongjj.

Kim Jong-un và Hội nghị Thượng đỉnh Nam – Bắc Triều Tiên.

 
 
 
Image may contain: 2 people, people smiling, people standing and suit
Image may contain: 2 people, people smiling, people standing and suit
Image may contain: 4 people, people smiling, people standing
Image may contain: 2 people, people sitting and outdoor
Image may contain: 2 people, people smiling, people standing
+2

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh and 4 others.

Việc trong nước viết không hết, nhưng cũng xin góp chút xíu quan điểm về việc nhà cai trị tối cao của cộng sản Triều Tiên – kể từ năm 1953 – lần đầu tiên bước chân qua vĩ tuyến 38.

Hôm nay 27/4/2018, nhiều hình ảnh “thân thiện”, những cái bắt tay “nồng ấm”, những nụ cười “cởi mở”, những lời nói “chân thành” vang lên ở làng Hòa bình Bàn Môn Điếm trong một khu phi quân sự Hàn quốc – Triều Tiên.

Báo chí cả thế giới lên tiếng chúc mừng và ca ngợi.

Tôi cảm thấy rất vui và sung sướng cho một cơ hội hòa bình cho đất nước Nam-Bắc Triều Tiên (!?).

Tự thưởng cho mình một niềm vui êm ái, giơ bàn tay nhỏ vuốt mái tóc sau gáy, tôi bổng giật mình kinh hoàng cho sự “ăn mừng” quá sớm của cả thế giới.

Thông báo chung: Chỉ toàn là những lời HỨA HẸN và SẼ GIẢI TRỪ, mà – chúng ta – ai cũng biết: Cộng sản hứa hẹn thì cũng như nước đổ lá môn.

Một nguồn tin ngoại giao riêng, báo chí Nhật cho biết: Trong chuyến gặp gỡ với Tập Cận Bình tại Bắc Kinh, Kim Jong Un đã tuyên bố Bắc Hàn có thể cân nhắc xem xét việc từ bỏ vũ khí hạt nhân, với điều kiện Hoa Kỳ chấp thuận 3 yêu cầu sau:

1- Hoa Kỳ giúp Kim Jong Un bảo vệ chế độ cộng sản hiện tại, bảo vệ vị trí lãnh đạo hiện tại của cộng sản Bắc Triều Tiên.
2- Hoa Kỳ rút quân khỏi Nam Hàn và bán đảo Triều Tiên.
3- Hoa Kỳ bỏ cấm vận và viện trợ cho Bắc Hàn cũng như ký kết các hiệp định thương mại song phương.

Điều này cho thấy Kim Jong-Un – Chủ tịch Bắc Triều Tiên – chỉ muốn duy trì chế độ độc tài và bảo vệ ngôi vi lãnh tụ độc tôn của mình. Kim Jong-Un – một tên cai trị tàn ác – không hề có thiện chí hòa bình hay tấm lòng vì sự thống nhất đất nước, dân tộc dân chủ, tự do cho đất nước bán đảo Triều Tiên !

Chẳng có gì bảo đảm là vài năm sau Kim Jong-Un – Chủ tịch Bắc Triều Tiên – lại không lật lọng ra lệnh cả nước chuẩn bị chiến tranh, tiếp tục khôi phục và thử nghiệm hạt nhân.

Kim Jong-Un đã từng 2 lần không giữ lời cam kết, lật lọng chữ ký của chính mình. Nếu thêm một (hay vài lần lật lọng nữa) thì cả thế giới cũng chỉ biết bản chất nó là cộng sản, tự trách mình chứ không làm gì được tên cộng sản độc tài và man rợ !

Tên cộng sản Kim Jong-Un mặt dày, cộng sản nói chung, tất cả bọn chúng đều quen thói dối trá, không có lòng tự trọng ! Người cộng sản luôn sẵn sàng nói láo, lừa bịp, lật lọng mà không một chút ngại ngùng !

Xin ghi lại vài lời nhắc nhở của của những người cộng sản đã từng nắm giữ các cấp lãnh đạo tối cao:

*Cựu Tổng bí thư đảng cộng sản Liên xô Mr. Gorbachev: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”

*Cố Tổng thống Nga Boris Yeltsin: ” Cộng sản không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó.”

*Tổng thống Nga Putin: “Kẻ nào tin những gì cộng sản nói là không có cái đầu. Kẻ nào làm theo lời của cộng sản, là không có trái tim“.

Phan Thị Hồng

Quốc Hận!

 
 
 
Image may contain: water and nature

Van Pham

Quốc Hận!

Nước đã mất, nhà đã tan, gia đình ly tán! Ý nghĩ nầy in sâu vào trong trí não của những người đang lênh đênh trên biển cả, trong những chiếc thuyền nhỏ bé mong manh, phú thác mạng sống của mình cho vận mệnh rủi may, những mong thoát khỏi ngục tù của những người cộng sản từ miền Bắc, đang xây cất trên toàn cõi quê hương yêu dấu.

Trên đường trốn chạy, lìa bỏ quê cha đất tổ, đã có hàng trăm ngàn người vùi thây trong biển cả, trong bụng cá, trong bàn tay sát nhân của bọn hải tặc khát máu. Cũng có những người vượt thoát bằng đường bộ, xuyên qua ngã Cambochia, Lào, và cũng không ít người đã chết đói vì lạc đường, hoặc bị giết bởi bọn Miên cộng, Lào cộng. Số còn lại, hơn 2 triệu người đã đến được bến bờ tự do với hai bàn tay trắng, và có rất nhiều người bỏ lại sau lưng những người thân yêu trong gia đinh, dòng họ. Hầu hết những thuyền nhân đó đã nói với các phái đoàn tiếp nhận định cư của các nước: “Thà chết trên biển cả còn hơn sống trong chế độ của Việt cộng (tạm dịch: Rather die on the high sea than live under the Vietnamese communist regime). Điều đó đã nói lên cái ý chí liều chết để đi tìm TỰ DO.

Thảm cảnh đó đã làm cho thế giới bàng hoàng, xúc động. Họ đã gọi những người trốn chạy khỏi quê hương nầy bằng một biệt danh, mà trong lịch sử loài người chưa từng có: “BOAT PEOPLE” (Thuyền Nhân).

Thảm cảnh đó khởi đầu vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà bọn cộng sản Việt Nam, từ miền Bắc, đã bất chấp hiệp định Paris 1973, với sự trợ giúp của khối cộng sản quốc tế, đã tấn công và chiếm lãnh miền Nam, nước Việt Nam Cộng Hòa, với sự hững-hờ của thế giới không cộng sản.
Cái hận đã mất nước và cái hận đã bị đồng minh phản bội, đưa đến cảnh nước mất nhà tan, gia đình phân cách, chia ly, đã tạo nên sự thống hận trong lòng người dân Việt kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Từ đấy, chúng ta, những người Việt hải ngoại và kể cả đồng bào quốc nội, gọi ngày 30 tháng tư hàng năm là NGÀY QUỐC HẬN.

Không có từ ngữ nào để diễn tả ngày đó chính xác hơn từ ngữ Ngày Quốc hận. Nó diễn tả không những đúng về mặt hiện thực mà còn đúng về mặt tâm linh. Ngày đó, đời sống của những con người Việt Nam trên toàn quốc đã bị thay đổi một cách toàn diện, từ tốt đẹp biến thành cùng khổ; từ tương lai trong sáng trở thành tăm tối, không có ngày mai. Trong lòng mỗi người đều bị đè nặng bởi nỗi niềm u uất, căm phẫn vì đang bị một lũ người vong bản, tay sai của ngoại bang, dốt nát, tàn ác cai trị bằng chánh sách vô nhân nhứt trần gian. Đời sống của người Việt Nam không hơn không kém gì với đời của một con vật: ngoan ngoãn thì được cho ăn, bằng không thì bị bỏ đói cho đến ngày tàn tạ.

Trong lòng mỗi con dân Việt, ai mà không nhớ đến ngày 30 tháng tư, ngày đổi đời đó? Tuy nhiên, mỗi người nhớ đến nó một cách khác nhau.

Cái nhớ sâu sắc nhất, không bao giờ quên là tuổi thanh niên đã bị hủy hoại trong các nhà tù gọi là trại “cải tạo”. Những rường cột của Quốc Gia đã bi kềm hãm trong ngục tù khổ sai, ăn không đủ no, bệnh không thuốc chữa. Bọn người ác độc lợi dụng sức người hom hem yếu đuối đó, bắt họ đi làm muớn, làm thuê, làm những việc khổ sai, chúng lấy tiền bỏ vào những cái túi tham không đáy. Những người tù “cải tạo” đó, bị hành hạ không những trên thể xác, mà cả tinh thần của họ cũng bị dày vò cả ngày lẫn đêm, bằng những lời chửi bới,hăm dọa, kể cả những đòn thù bằng đánh đập, biệt giam trong những thùng sắt ngột ngạt, nóng bỏng khi nắng lên, không cho nước uống, và còn nhiều trường hợp đem người chống đối bọn chúng ra xử bắn tại nơi đông người. Những hành động nầy, bọn cai tù tàn ác, gọi là những bài “học chính trị”, do “Bác” và Đảng chủ trương đối với những người sa cơ, thất thế.

Những người tù lương tâm đó là ai?

Họ là những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã xả thân mình để bảo vệ phần đất miền Nam của Tổ Quốc, giữ gìn an ninh cho người dân miền Nam được sống một đời sống thanh bình, an cư lạc nghiệp.

Họ là những công chức phục vụ cho chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa, để xây dựng một quốc gia hùng mạnh phú cường, có phần trội hơn so với các nước lân bang như Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Thái Lan, Đại Hàn, Đài Loan.

Họ là những nhà tư bản đã góp công xây dựng nền kinh tế phồn thịnh cho nước Việt Nam Cộng Hoà.

Họ là những người trong ngành giáo dục, đã tận tụy và miệt mài với trách nhiệm mở mang trí óc cho những thanh thiếu niên, mong xây dựng nên một thế hệ kế tiếp, văn minh, thông thái hữu dụng cho quốc gia.

Những người tù lương tâm nầy đã bị buộc tội là đã phục vụ cho chánh quyền trước, đã giúp đỡ cho “Ngụy Quân, Ngụy Quyền” chống phá lại “cách mạng của nhân dân” (sic).

Ngoài những người đã bị bắt đi tù “cải tạo”, những người dân thường sống tại các đô thị cũng bị đày đọa không kém. Họ đa bị ép buộc đi đến những nơi hoang dã, thâm sơn cùng cốc, mà bọn cầm quyền ác ôn là “nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” (hiện giờ là cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), gọi là “vùng kinh tế mới”. Nơi đây chỉ với hai bàn tay trắng, không thể nào tìm được cách sinh nhai. Sau khi đuổi họ đi vùng kinh tế mới, “nhà nước” đã tịch thu tất cả tài sản, cơ ngơi của họ để phân phát cho những cán ngáo (ngố), đã có công với “nhà nước” trong việc cưỡng chiếm miền Nam.

Ở nông thôn, không còn ai có quyền có ruộng đất, dù rằng những mảnh đất do ông cha từ nhiều đời trước để lại cho con cháu. Tất cả ruộng đất đều quy về “hợp tác xã”. Người nông dân canh tác trên những mảnh đất ruộng vuờn đó, được thu hoạch do quyết định của bọn đầu sỏ xã ấp, bằng một chính sách gọi là “bảng chấm công”. Ai nịnh bợ hay theo phe chúng thì được chia nhiều hơn. Do vậy, đời sống của người ở nông thôn thiếu thốn rất trầm trọng, có nơi đã có người chết vì đói, mà điều nầy chưa hề xảy ra trong lịch sử của miền Nam Việt Nam.

Tóm lại, sau khi bọn cường bạo cộng sản Việt Nam nhờ súng đạn của Trung cộng, của Liên sô, đã cưỡng chiếm được nước Việt Nam Cộng Hòa, thì toàn thể trên 26 triệu người dân miền Nam, bị cướp giựt một cách trắng trợn, không khoan nhuợng, bị nhốt trong một nhà tù vĩ đại, đó là quê hương của mình, bị đày đọa vô cùng tàn ác, sống như một con thú không hơn không kém.

Tình cảnh của người dân Việt Nam hiện nay, năm 2018, đã qua 43 năm, không khác gì ngày bắt đầu cuộc đổi đời 30 tháng 4 năm 1975. Có khác chăng là lối sống giàu sang, xa hoa, trụy lạc của những “cán bộ” Việt cộng và gia đình họ. Còn người dân ngày càng bị đàn áp mạnh mẽ hơn, bằng những thủ đoạn, bằng những xảo thuật nghề nghiệp, gian manh hơn, ác độc hơn.

Đã là người Việt Nam thì không ai có thể quên, trong lòng ai cũng đang âm ỉ một nỗi hận. Những kẻ nào quên đi là họ cố ý bị “bịnh quên” để đổi lấy những đồng tiền dơ bẩn, đẫm ướt máu của đồng bào quốc nội. Họ đã quên đi ơn nghĩa của quốc gia cưu mang họ như một người tỵ nạn. Họ đã quên đi lòng bao dung của cộng đồng tỵ nạn đã đùm bọc, giúp đỡ họ, đến khi họ thành tài, nổi tiếng, thì vì họ xem đồng tiền lớn hơn bánh xe trâu (câu nói khinh miệt của dân miền Nam), họ phủi hết đi ơn nghĩa, trở lại hợp tác với kẻ thù, tiếp tay với bọn Cộng Phỉ, đàn áp ngược lại đồng bào của mình.

Để kết luận, cầu mong tất cả đồng bào Việt Nam hãy ghi nhớ, ngày Quốc Hận 30 tháng 4, bởi vì ngày đó là ngày mang đến nỗi hận xót xa cho cả nước, chúng ta hãy tưởng niệm đến quê hương đã mất đi, tưởng nhớ và tri ơn đến những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã hy sinh mạng sống để bảo vệ tự do cho quê hương và đồng bào. Hãy tưởng nhớ đến những người tỵ nạn kém may mắn đã chết trên đường đi tìm tự do. Và quan trọng nhất là hãy làm một vài việc gì đó mà mình có thể, để góp bàn tay với đồng bào quốc nội, đập nát chế độ Việt cộng, để sớm gây dựng lại một Nước Việt Nam Tự Do Nhân Bản và Phồn Vinh, để cho ngày quốc hận trở thành không còn hận nữa, mà chỉ còn là ngày đen tối nhất được ghi lại trong lịch sử Việt Nam.