Một câu chuyện về học sinh nghèo trường Petrus Ký và ông chủ nhà sách Khai-Trí .
Một câu chuyện về học sinh nghèo trường Petrus Ký và ông chủ nhà sách Khai-Trí .
Gởi các bạn thích đọc sách
Thời chúng tôi còn học Trung học, tức dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, sách tiếng Việt ít nên muốn thi đậu bắt buộc phải dùng sách tiếng Pháp, như Toán hình học, Toán đại số, Toán vật lý… Học lớp Đệ tứ (lớp 9 bây giờ) mà làm hết cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs gồm 1.144 bài thì nhất, đi thi trung học chắc ăn như bắp.
Thời ấy các tiệm sách lớn như Khai Trí chẳng hạn không có nhân viên bảo vệ mặc đồng phục ngồi gác ở cửa như bây giờ, mà có các nhân viên giả làm khách hàng, trông nom, ngăn chặn những người muốn ăn cắp sách.
Buổi sáng hôm ấy, cậu học sinh này cứ lang thang mở coi hết cuốn này đến cuốn khác ở chỗ các giá sách tiếng Pháp.. Việc lấm lét nhìn tới nhìn lui của cậu bé khiến nhân viên trông coi khu sách tiếng Pháp nghi ngờ. Lúc cậu đi ra, họ giữ lại, sờ ngực áo cậu và lôi ra một cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs quý giá đã nói ở trên.
– Tại sao cậu ăn cắp sách?
Cậu bé tái mặt không nói nên lời. Chiếc phù hiệu trên ngực áo cậu cho biết cậu học trường Pétrus Ký, một trong bốn trường trung học công lập lớn nhất rất nổi tiếng tại Sài Gòn lúc bấy giờ: Gia Long, Trưng Vương, Pétrus Ký, Chu Văn An.
– Hừ, học sinh trường Pétrus Ký mà ăn cắp sách! Tôi gọi cảnh sát đến bắt để cậu chừa cái thói đó đi!
Họ lôi cậu bé tới chỗ quầy thâu tiền của cô thâu ngân viên, nhờ cô giữ cậu giùm rồi đi gọi cảnh sát. Cậu bé sợ hãi khóc như mưa như gió:
– Lạy chị, nhà em nghèo không có tiền mua sách, chị nói với chú ấy tha cho em đừng gọi cảnh sát…
Cậu bé khóc quá khiến cô thâu ngân viên cũng thấy mủi lòng:
– Ba má em làm gì mà nghèo?
– Ba em chết, má em quét chợ An Đông…
– Mẹ quét chợ An Đông mà con học Pétrus Ký? Em học đến đâu rồi?
– Dạ thưa quatrième année. Chị tha cho em, nếu cảnh sát bắt, đưa giấy về trường em bị đuổi học tội nghiệp má em…
– Các em quen với tiếng Pháp lắm phải không?
– Dạ.
– Bởi vậy nên mới lấy trộm sách Pháp. Bằng bấy nhiêu mà đã học lớp Đệ tứ, sắp thi Trung học là giỏi lằm. Nhưng chú ấy đã đi gọi cảnh sát thì biết làm sao…
Cậu bé sợ quá lại khóc…
Từ đầu đến giờ có một ông đã lớn tuổi, ăn mặc lịch sự vẫn đứng theo dõi câu chuyện. Thấy cô thâu ngân nói thế, ông bảo cô ta:
– Thôi được, cuốn sách giá bao nhiêu để tôi trả tiền. Học trò nghèo mà, lấy một cuốn sách, lỡ bị đuổi học tội nghiệp…
Cô thâu ngân viên chưa biết giải quyết thế nào thì đúng lúc đó ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách mà mọi người vẫn gọi là ông Khai Trí, từ ngoài đi vô. Thấy chuyện lạ, ông dừng lại hỏi chuyện gì. Cô thâu ngân viên thuật lại sự việc và ông khách cũng đề nghị trả tiền như ông đã nói với cô thâu ngân. Ông Khai Trí cầm cuốn sách lên coi sơ qua rồi nói:
– Phải học trò giỏi mới dùng tới cuốn sách này chứ kém không dùng tới. Cám ơn lòng tốt của ông nhưng để tôi tặng cậu ta, không lấy tiền và sẽ còn giúp cậu ta thêm nữa…
Ông trao cuốn sách cho cậu bé, thân mật vỗ vai khuyên cậu cố gắng học hành rồi móc bóp lấy tấm danh thiếp, viết vài chữ, ký tên và đưa cho cậu:
– Từ nay hễ cần sách gì cháu cứ đem danh thiếp này đến đưa cho ông quản lý hay cô thâu ngân, cô ấy sẽ lấy cho cháu. Ngày trước bác cũng là học sinh trường Pétrus Ký mà…
Ông bắt tay, cám ơn ông khách lần nữa rồi đi vào trong.
Ba năm sau, nghe nói cậu bé đậu xong Tú tài phần II, được học bổng du học nước ngoài, hình như sang Canada.
Thời gian qua đi. Một năm sau biến cố lịch sử 1975, nhà sách Khai Trí bị tịch thu, mới đầu người ta đặt tên là nhà sách “Ngoại văn”, sau đó đổi thành nhà sách “Fahasa” (viết tắt của 3 chữ “Phát hành sách”), hiện nay lại đổi lần nữa thành nhà sách “Sài Gòn”.. Hồi ấy nhà sách Khai Trí là nạn nhân của nạn hôi của, đốt phá, sách vở tung toé khắp nơi từ trong nhà sách ra ngoài đường, nhiều người đã chính mắt chứng kiến cảnh ấy trong nỗi bất lực… Kho sách 60 tấn bị tiêu hủy.
Ông Khai Trí bị đi cải tạo vì tội “biệt kích văn nghệ”. Sau khi được thả, ông sang định cư bên Hoa Kỳ. 10 năm sau, ông ở Mỹ về Việt Nam một lần nữa, mang theo hy vọng làm được một chút gì cho đất nước. Ông đã mang về 2.000 đầu sách để tiếp tục làm văn hoá. Sách bị tịch thâu với lý do: in trước 75. Phần lớn sách bị tịch thâu là các loại sách Học Làm Người, báo chí quý hiếm trước 1954, như bộ Loa rất nổi tiếng.. Sách ông mang về ai cũng biết là sách về giáo dục, sách hiền, sách tốt cả. Mà dại gì ông mang sách dữ, mà làm gì kiếm ra đâu được sách dữ. Nó chỉ có một cái tội: Tội đã in trước 1975…Ông đau lòng vì sách, ôm đơn đi kiện. Kết cục chẳng đi đến đâu. Ông buồn bã nói:
– Chắc… năm 3.000 thì họ trả…
Ông mất năm 2005 tại Sài Gòn. Trước khi ông mất, người ta đã “không quên” đặt tên ông cho một con phố nhỏ (!?!). Một buổi chiều, người ta thấy một “ông già” khoảng ngoài 70 tuổi, ăn mặc theo lối Việt kiều, đứng ngắm trước cửa nhà sách Sài Gòn với nét mặt buồn buồn rồi bước vào hỏi thăm các cô bán sách về ông Khai Trí, các cô nói hình như ông đã mất cách đây đến hàng chục năm. “Ông già Việt kiều” lại ra đứng ngắm trước cửa tiệm sách hồi lâu, lấy khăn giấy lau nước mắt, chắp tay hướng lên trên trời khẽ vái ba vái rồi đi. Không ai biết ông ta là ai cả…
From: Cam Tuyet & Kim Bang Nguyen
Bệnh viện ở Nam Định 850 tỉ xây 11 năm mới được khung nhà
Lại lỗi hệ thống?
Bệnh viện ở Nam Định 850 tỉ xây 11 năm mới được khung nhà
TTO – 11 năm đã trôi qua, dự án Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định (phường Lộc Hạ, TP Nam Định) với tổng mức đầu tư hơn 850 tỉ đồng vẫn chỉ là những khung nhà trơ trọi.
Dự án Bệnh viện đa khoa Nam Định khởi công tháng 11-2007, dự kiến đi vào hoạt động năm 2011. Đây là tình trạng của dự án này thời điểm năm 2018 – Ảnh: CHÍ TUỆ
Dự án Bệnh viện đa khoa Nam Định có quy mô 700 giường được khởi công tháng 11-2007 trên diện tích đất gần 10ha tại phường Lộc Hạ, TP Nam Định, tỉnh Nam Định.
Dự kiến hoàn thành và đi vào hoạt động tháng 1-2011, vậy mà đến nay dự án đã chậm tiến độ 7 năm, chưa biết đến khi nào mới thành hình.
Dự án do Ban quản lý xây dựng các công trình trọng điểm tỉnh Nam Định làm chủ đầu tư. Ban đầu công trình có vốn đầu tư 598,5 tỉ đồng, nhưng đến cuối năm 2009 được tăng lên 850,8 tỉ đồng, sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ.
Bệnh viện được thiết kế hiện đại, gồm nhiều khu nhà cao tầng, có cả sân đỗ trực thăng… Đây được xem là công trình y tế trọng điểm của vùng nam đồng bằng sông Hồng.
Hoa Kỳ yêu cầu Việt Nam trả tự do cho Mẹ Nấm và thành viên Hội Anh Em Dân Chủ
Hoa Kỳ yêu cầu Việt Nam trả tự do cho Mẹ Nấm và thành viên Hội Anh Em Dân Chủ

Đối thoại nhân quyền Việt Nam và Hoa Kỳ lần thứ 22 tại Washington DC
Trong đối thoại nhân quyền thường niên lần thứ 22 giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vừa diễn ra hôm 17/5 tại Washington DC, Bộ Ngoại giao Mỹ tiếp tục nêu quan ngại về tình trạng nhân quyền Việt Nam và nêu một số trường hợp đặc biệt, yêu cầu phía Việt Nam phải trả tự do ngay lập tức. Nhân dịp này, Đài Á Châu Tự Do có cuộc phỏng vấn với ông Scott Busby, Phó Trợ lý Ngoại Trưởng Mỹ thuộc văn phòng phụ trách vấn đề dân chủ, nhân quyền, và lao động, về đối thoại lần này.
———————————
Scott Busby: đây là đối thoại nhân quyền thứ 22 mà chúng tôi có với Việt Nam, một trong những đối thoại dài nhất so với bất cứ nước nào khác trên thế giới. Trong đối thoại, chúng tôi tái khẳng định cam kết của chúng tôi là thắt chặt hơn mối quan hệ đối tác toàn diện với Việt Nam. Nói vậy, nhưng chúng tôi vẫn có nhiều quan ngại về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Chúng tôi đã nói với họ như đã nói trước kia rằng nếu không có sự tiến bộ và hợp tác trong vấn đề nhân quyền, bao gồm tự do tôn giáo và quyền của người lao động, mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam không thể đạt được triển vọng toàn bộ. Chúng tôi có nêu ra một số trường hợp cụ thể. Chúng tôi có chia sẻ với họ danh sách các cá nhân này. Có hai trường hợp đặc biệt mà chúng tôi nhấn mạnh là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hay còn được biết là blogger Mẹ Nấm, người đã nhận giải Phụ Nữ Quả Cảm từ Bộ Ngoại giao năm ngoái. Chúng tôi cũng nêu trường hợp luật sư Nguyễn Văn Đài và những người cùng cộng tác trong Hội Anh Em Dân Chủ. Họ vừa bị nhận những án tù nặng nề. Chúng tôi nói với đại diện Việt Nam là những bản án này không công bằng và đòi hỏi Việt Nam phải trả tự do cho họ và Mẹ Nấm. Trên thực tế, chúng tôi đòi hỏi họ phải trả tự do cho tất cả các tù nhân lương tâm mà chúng tôi chia sẻ danh sách với họ.
RFA: Hoa Kỳ đã nhiều lần yêu cầu Việt Nam phải trả tự do cho các tù nhân lương tâm nhưng phía Việt Nam đã không thực hiện. Những tù nhân lương tâm được trả tự do, trong một số trường hợp là được yêu cầu phải sang Mỹ. Vậy ông có thể cho biết đây có phải là những gì đang xảy ra đối với danh sách các cá nhân phía Mỹ đưa ra không? Phía Việt Nam có hứa hẹn gì?
Scott Busby: Tôi không thể đi vào chi tiết cụ thể những gì mà chúng tôi bàn với phía Việt Nam nhưng tôi có thể nói là chúng tôi đã đàm phán với họ và yêu cầu họ phải trả tự do cho những tù nhân lương tâm. Không có một lời hứa nào (của Việt Nam) được đưa ra trong đối thoại.
Chúng tôi nói với đại diện Việt Nam là những bản án này không công bằng và đòi hỏi Việt Nam phải trả tự do cho họ và Mẹ Nấm. Trên thực tế, chúng tôi đòi hỏi họ phải trả tự do cho tất cả các tù nhân lương tâm mà chúng tôi chia sẻ danh sách với họ. – Scott Busby
RFA: Trước đối thoại, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã có báo cáo về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, Ủy Hội tự do tôn giáo quốc tế trước đó cũng có báo cáo về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Ông đánh giá thế nào về tình hình nhân quyền Việt nam trong năm qua so với năm trước đó và khi phía Mỹ đưa ra đánh giá như vậy thì phía Việt Nam nhìn nhận thế nào?
Scott Busby: Chúng tôi cho rằng đã có sự gia tăng bắt bớ và đàn áp đối với những người thực hiện các quyền cơ bản. Chúng tôi đã nêu ra quan ngại về vấn đề này. Chúng tôi cũng nêu quan ngại về những bản án nặng nề mà những người này phải chịu. Phía Việt nam giải thích rằng những người này đã vi phạm luật pháp và đó là lý do họ bị bắt và bỏ tù.
RFA: Các tổ chức nhân quyền quốc tế vừa qua đã có những chỉ trích chính phủ Mỹ hiện nay đã không cứng rắn trong vấn đề nhân quyền với Việt Nam và đó là lý do khiến Việt Nam gia tăng đàn áp nhân quyền. Ông có nhận xét gì về điều này.
Scott Busby: Chúng tôi thường xuyên nêu quan ngại của chúng tôi về vấn đề nhân quyền với phía Việt Nam bất cứ khi nào có cơ hội. Tôi gần đây có gặp Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam là ông Daniel Kristenbrink và ông ấy thừa nhận là vấn đề nhân quyền nằm trong phần lớn các đối thoại giữa ông ấy với phía Việt Nam. Tôi cũng lưu ý là trong thảo luận của Hội đồng Nhân quyền ở Geneva (UN Human Right Council), chúng tôi đã nêu quan ngại về tình trạng đàn áp đối với những người Việt Nam thực hiện các quyền căn bản của họ.
RFA: Hoa Kỳ có những mặc cả nào cụ thể để gây sức ép lên Việt Nam?
Scott Busby: Việt Nam muốn có quan hệ gần gũi hơn với Mỹ. Họ có lo ngại về bạn láng giềng phương Bắc như bạn đã biết. Việt Nam muốn có quan hệ tốt hơn với Mỹ. Chúng tôi nói với họ rằng là nếu họ muốn có quan hệ tốt hơn với Mỹ thì họ cần phải cải thiện tình trạng nhân quyền.
RFA: Mới đây, Phó Đại diện Thương Mại Mỹ Jeffrey Gerrish có gặp Phó Thủ tướng Việt Nam Vương Đình Huệ và nêu quan ngại về luật an ninh mạng mà Việt Nam đang đề xuất. Ông đánh giá luật này nếu được thông qua sẽ ảnh hưởng thế nào tới quan hệ hai nước?
Scott Busby: Chúng tôi rất lo ngại về luật này. Chúng tôi có cùng mối quan ngại như Phó Đại diện Thương Mại Mỹ Jeffrey Gerrish đã nói đến khi ông ấy ở Việt Nam. Chúng tôi nghĩ là luật này được viết để hạn chế hơn nữa quyền tự do bày tỏ ý kiến, tự do tụ tập, và cũng cản trở sự phát triển và sáng tạo của nền kinh tế số trong nước. Trong suốt đối thoại, chúng tôi cũng thúc giục Việt Nam hoãn lại việc thông qua luật này để có thêm thời gian cho quá trình tư vấn để xem xét những quan ngại của những bên sẽ bị ảnh hưởng bởi luật này.
RFA: Xin cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn này
Hàng loạt ôtô dính ‘bẫy chông’ trên quốc lộ 18
Interpol ra lệnh dẫn độ trung tướng CA Đường Minh Hưng sang Đức trị tội

Một quốc gia mà dám làm trái luật quốc tế,một chính phủ mà dám nói dối dân thì làm sao đối mặt với nhân dân đây?

Giá Trị Tinh Thần Lập Hiến Việt Nam Cộng Hòa.

Phan Thị Hồng is with Nguyễn Vô and 3 others.
Giá Trị Tinh Thần Lập Hiến Việt Nam Cộng Hòa.
Phân tích của Nguyễn Quang Duy Melbourne Úc
Giá Trị Tinh Thần Lập Hiến Việt Nam Cộng Hòa.
Nguyễn Quang Duy
I. Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1956
II. Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967 (Ấn bản chánh)
Nền Cộng Hòa non trẻ của miền Nam Việt Nam đã chấm dứt vào 30 tháng 4 năm 1975, nhưng giá trị tinh thần cộng hòa vẫn tồn tại cho đến ngày nay.
Nhân kỷ niệm 60 ngày bản Hiến pháp Đệ Nhất Cộng Hòa ra đời ngày 26-10-1956 xin được ôn lại các giá trị có thể học hỏi từ tinh thần lập hiến Việt Nam Cộng Hòa.
I. HIẾN PHÁP 1956
Ngày 26/10/1955 Thủ tướng Ngô Đình Diệm chính thức thông báo kết quả Trưng cầu Dân Ý truất phế Bảo Đại, thành lập Việt Nam Cộng hòa, với Hiến ước Tạm thời làm cơ sở pháp lý điều hành quốc gia.
Tháng 3/1956 một Quốc hội Lập hiến với 123 dân biểu được bầu. Đến tháng 7-1956 Quốc Hội bỏ phiếu thông qua bản Hiến Pháp. Ngày 26/10/1956 Hiến Pháp được Quốc Trưởng Ngô Đình Diệm ban hành.
1- Tinh thần lập hiến và dân chủ chưa đủ
Chiếu điều 95 và 96 của bản Hiến pháp 1956, Quốc Hội Lập Hiến tự động trở thành Quốc Hội Lập Pháp và Quốc Trưởng Ngô Đình Diệm trở thành Tổng thống đầu tiên Việt Nam Cộng Hòa.
Lẽ ra hai điều này không nên có vì đã mâu thuẫn với Điều 2 là điều căn bản nhất của thể chế Cộng Hòa: “Chủ quyền thuộc về toàn dân”.
Nói cách khác Quốc Hội Lập Hiến đã tước quyền người dân bầu chọn một Quốc Hội Lập Pháp và một Tổng thống đầu tiên của nước Việt Nam Cộng Hòa.
Điều 3 “Tổng thống lãnh đạo Quốc dân” mang xu hướng suy tôn chức danh Tổng thống. Điều 89 “Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này (89) của Hiến pháp.”, Nghĩa là Điều 3 được đặt ngang hàng và được bảo vệ tuyệt đối như Điều 2 “Chủ quyền thuộc về toàn dân”.
Nói cách khác quyền lực tuyệt đối đã được Hiến Pháp trao cho Tổng Thống do đó quyền dân chủ đã bị giới hạn trong Hiến Pháp Đệ Nhất Cộng Hòa.
Trong khi miền Nam đang bị cộng sản đe dọa lẽ ra vai trò của các đảng chính trị và của địa phương phải được đặt hàng đầu, Hiến pháp 1956 lại chỉ tập trung vào Trung ương không hề đề cập đến địa phương, thành phố, tỉnh, xã, thị xã… cũng không đề cập đến vai trò các đảng chính trị.
Thiên thứ 9, quy định việc sửa đổi Hiến pháp, với nhiều bước chặt chẽ. Chương này chỉ thuận lợi cho những chính trị gia đã tham gia guồng máy công quyền, nhưng lại giới hạn cơ hội của dân và của thành phần cấp tiến muốn thay đổi đất nước thông qua việc sửa đổi Hiến Pháp.
2- Tam Quyền Phân Nhiệm
Vai trò và nhiệm vụ của Tổng Thống, của Quốc Hội và của Thẩm phán được nêu rõ trong các Thiên (Chương) ba, bốn và năm của bản Hiến Pháp 1956.
Thiên thứ sáu dành cho Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo Hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
Thiên thứ bảy về Hội đồng Kinh tế Quốc gia do Phó Tổng thống là Chủ tịch có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
Thiên thứ tám về Viện Bảo Hiến nhằm phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
3- Kinh Tế Tự Do
Chương hai nêu rõ việc Quốc gia (chính phủ) công nhận và bảo đảm tất cả các quyền tự do cá nhân.
Đặc biệt Điều 20: “Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu.” Cùng với việc khuyếch trương kinh tế tự do, chiếu theo điều 20 này chính phủ đã có những chính sách vô cùng tích cực.
Lấy thí dụ, chính phủ quy định các loại xe chuyên chở công cộng như xe taxi, xe lam, xe xích lô… cho nhập cảng xe mới và đem bán trả góp cho tài xế. Các loại xe này nhanh chóng trở thành những phương tiện di chuyển thông dụng nhất tại miền Nam.
Chương trình Người cày có ruộng, chính phủ mua lại ruộng đất của điền chủ đem bán lại cho tá điền qua phương cách trả góp.
Ngoài một số hoạt động công ích xã hội, như điện, nước, hàng không,… sinh hoạt kinh tế hoàn toàn tự do. Chính phủ không cạnh tranh với tư nhân. Chính phủ chỉ giữ vai trò khuyết trương kinh tế và bảo đảm tư nhân cạnh tranh một cách công bằng và hợp pháp.
Ngay trong giáo dục Chương trình tư thục được chính phủ khuyến khích và nâng đỡ. Nhờ đó chia sẻ gánh nặng với chính phủ và đã đào tạo nhiều thế hệ thanh niên sẵn sàng đóng góp cho quốc gia dân tộc.
Chính phủ còn cho thành lập các khu kỹ nghệ như Thủ Đức, An Hòa, Nông Sơn, … nhiều nhà máy được xây dựng như nhà máy xi măng Hà Tiên, nhà máy thủy điện Đa Nhim, nhà máy vải sợi Vinatexco Đà Nẵng, Vimytex Sài Gòn, Nhà máy thủy tinh, mỏ than Nông Sơn…
Các quốc gia khác sau khi giành được độc lập đều có khuynh hướng bảo vệ thị trường, chính phủ trực tiếp làm kinh tế, quốc hữu hóa công xưởng, đề ra các chính sách bảo vệ thị trường.
Trong khi miền Nam lại theo kinh tế tự do nên kinh tế và kỹ nghệ đã phát triển nhanh hơn các quốc gia trong vùng.
4- Hòa giải tranh chấp lao công
Thiên thứ bẩy về Hội đồng Kinh tế Quốc gia mà hội viên gồm các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
Chính phủ cũng đề ra chính sách dung hòa quyền lợi giữa chủ và thợ, giảm thiểu các tranh chấp lao công, khiến cho xã hội hài hòa cùng nhau phát triển sản xuất nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.
Đây là một điểm son của của xã hội miền Nam, nhờ đó cộng sản không thể lợi dụng biến các cuộc biểu tình đình công đòi hỏi quyền lợi của giới thợ thuyền thành những cuộc biểu tình chính trị.
5- Tinh thần nhân bản, khai phóng và dân tộc
Trong lời mở đầu Hiến Pháp nêu rõ: “…dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.”
Nhìn chung Hiến Pháp 1956 xây dựng trên tinh thần nhân bản, khai phóng và dân tộc, tinh thần này được tiếp tục duy trì trong Hiến Pháp 1967.
II. HIẾN PHÁP 1967
Sau đảo chánh 1-11-1963, miền Nam bị đẩy vào tình trạng khủng hoảng chính trị. Các chính phủ quân sự và dân sự liên tiếp được thành lập. Để có cơ sở pháp lý mỗi chính phủ đã ban hành Hiến Chương riêng.
Mãi đến tháng 9/1966, một Quốc Hội Lập Hiến gồm 117 Dân biểu được bầu ra. Một Ủy ban soạn thảo Hiến pháp được thành lập rút ưu khuyết điểm Hiến Pháp 1956, nghiên cứu và tham vấn nhiều bản Hiến pháp các quốc gia khác, đặc biệt là Pháp, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc.
1- Hiến Pháp 1967 tam quyền phân lập, dân chủ và phân quyền
Ngày 01/04/1967 Hiến Pháp 1967 được công bố theo đó nguyên tắc kiểm soát và đối trọng giữa các nhánh quyền lực được triệt để tuân thủ.
Lập pháp gồm lưỡng viện, hành pháp và tư pháp hoàn toàn độc lập. Vai trò và nhiệm vụ của lập pháp, của hành pháp và của tư pháp được nêu rõ trong các Chương ba, bốn và năm của bản Hiến Pháp.
Để tránh nguy cơ độc tài, Hiến pháp 1967 đặt ra chế độ Tổng thống với Lưỡng viện Quốc Hội và với chức vụ Thủ Tướng nhằm chia sẻ trách nhiệm và quyền hành của Tổng thống.
Đặc biệt, Chương 5 Điều 70 nêu rõ: “Nguyên tắc địa phương phân quyền được công nhận cho các tập thể địa phương có tư cách pháp nhân như: xã, tỉnh, thị xã và thủ đô.” Các Điều 65, 70, 71, 72, 73, 74, 75 và 114 tạo cơ sở pháp lý cho các chính quyền địa phương.
Chương 6 về vai trò và nhiệm vụ của các Định Chế Đặc Biệt bao gồm Đặc Biệt Pháp Viện, Giám Sát Viện, Hội Đồng Quân Lực, Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục, Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội, Hội Đồng các Sắc Tộc.
Vai trò chống tham nhũng của Giám Sát Viện được nêu rõ: “Thanh tra, kiểm soát và điều tra nhân viên các cơ quan công quyền và tư nhân đồng phạm hay tòng phạm về mọi hành vi tham nhũng, đầu cơ, hối mại quyền thế hoặc phương hại đến quyền lợi quốc gia.”
2- Chính Đảng và Đối Lập
Chương 7 về Chính Đảng và Đối Lập, nền Đệ Nhị Cộng Hòa khuyến khích việc tiến tới chế độ lưỡng đảng đối lập như sau:
Điều 99
1- Quốc Gia công nhận chánh đảng giữ vai trò thiết yếu trong chế độ dân chủ.
2- Chánh đảng được tự do thành lập và hoạt động theo các thể thức và điều kiện luật định.
Điều 100 – Quốc Gia khuyến khích việc tiến tới chế độ lưỡng đảng.
Điều 101 – Quốc Gia công nhận sự định chế hóa đối lập chính trị.
Điều 102- Một đạo luật sẽ ấn định quy chế chánh đảng và đối lập chính trị.
Sinh hoạt chính trị ở miền Nam cho đến 30-4-1975 đã chiụ nhiều ảnh hưởng chủ trương lưỡng đảng đối lập, các đảng Khối hay chính trị gia đã hình thành những liên kết đối lập về đường lối và chánh sách quốc gia.
Thêm vào đó để tránh tình trạng Quân Đội cấu kết với các đảng phái chính trị làm đảo chánh, Chương 2, Điều 23 cấm “Quân nhân tại ngũ không được sinh hoạt đảng phái”.
3- Hữu sản hóa nhân dân
Điểm mạnh nhất của mô hình Đệ Nhất Cộng Hòa là phát triển kinh tế tự do, điểm mạnh này đã được tiếp tục trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Về Công Nghiệp, Khu Kỷ Nghệ Biên Hòa là một thành tựu phát triển vào bậc nhất trong vùng Đông Nam Á. Mặc dù chiến tranh kinh tế và kỹ nghệ miền Nam vượt hẳn các quốc gia trong vùng.
Điểm đặc biệt của Hiến Pháp 1967 Điều 19 phần 2 “Quốc Gia chủ trương hữu sản hóa nhân dân” và Điều 22 “Quốc Gia chủ trương nâng cao đời sống nông dân và đặc biệt giúp đỡ nông dân có ruộng đất canh tác.” Sự thành công của chánh sách Người Cày Có Ruộng và Chương trình cơ giới hóa nông nghiệp chính là nhờ các điều khoản nói trên.
4- Hiến pháp nhân bản, khai phóng và dân tộc
Thừa kế tinh thần Đệ Nhất Cộng Hòa, Hiến pháp 1967 lấy nhân bản, khai phóng và dân tộc làm quốc sách. Điều 11 ghi rất rõ “Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản.”
Điều 2 phần 2 nêu rõ tinh thần cộng hòa “Quốc Gia chủ trương sự bình đẳng giữa các công dân không phân biệt nam nữ, tôn giáo, sắc tộc, đảng phái. Đồng bào thiểu số được đặc biệt nâng đỡ để theo kịp đà tiến bộ chung của dân tộc.”
5- Các điểm nổi bật
Nhìn chung Hiến pháp 1967 vừa ngắn gọn, rõ ràng, vừa nêu rõ chính phủ phải bảo đảm những quyền tự do căn bản, kể cả quyền đối lập chính trị. So với các quốc gia trong vùng Đông Nam Châu Á cùng thời, Hiến pháp 1967 chỉ rõ sự tiến bộ vượt bực của Việt Nam Cộng Hòa.
Còn so với thực tế Việt Nam Cộng Hòa có một số đặc điểm nổi bật như:
1. Các quyền tự do căn bản đã được chính phủ bảo đảm, đặt biệt là quyền tư hữu;
2. Xây dựng được một nền dân chủ tam quyền phân nhiệm, phân lập và phân quyền;
3. Xây dựng thành công một nền văn hóa giáo dục, lấy nhân bản, khai phóng và dân tộc làm căn bản;
4. Tôn giáo, văn học, văn nghệ, nghệ thuật phát triển;
5. Báo chí tự do;
6. Theo kinh tế thị trường tự do;
7. Nhưng vẫn bảo đảm được công bằng xã hội và dân sinh như y tế đại chúng hay thực hiện luật Người Cày Có Ruộng;
8. Một xã hội dân sự phát triển.
Kinh nghiệm thế giới cho thấy các yếu tố trên là căn bản trong việc phát triển quốc gia. Nghĩa là nếu miền Nam không rơi vào tay cộng sản thì Việt Nam Cộng Hòa sẽ không thể kém xa các quốc gia Đông Nam Châu Á như hiện nay. Nếu không nói là sẽ vượt trội hơn nước người.
Tinh thần lập hiến và thượng tôn pháp luật pháp thời Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đó và sẽ được học hỏi kế thừa khi Việt Nam có tự do dân chủ.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Australia (Úc).
25-10-2016





Viện lý do ‘chưa chuẩn bị xong,’ CSVN tiếp tục hoãn Luật Biểu Tình
HA HA HA.
CHƯA CÓ LUẬT LÀ NHIỆM VỤ CỦA NHÀ NƯỚC.
BIỂU TÌNH LÀ VIỆC LÀM CẦN CÓ CỦA NHÂN DÂN.
CHƯA CÓ LUẬT THÌ CHÚNG TA CỨ LÀM MỖI KHI CHÚNG TA MUỐN THÔI.
CÒN THẰNG NÀO BẮT NGƯỜI BIỂU TÌNH LÀ CHÚNG SAI CHỨ DÂN KHÔNG HỀ SAI.

‘Tình trạng công an vi phạm pháp luật đáng báo động’

Thuong Phan shared a link.

Dự án nạo vét 72 tỷ tăng ‘sốc’ lên thành 2.595 tỷ đồng
A đây rồi ??? Chùm khế ngọt mà
😭

Khối tài sản hàng triệu USD của Bí thư Thành ủy TP Thanh Hóa Nguyễn Xuân Phi
Khối tài sản hàng triệu USD của Bí thư Thành ủy TP Thanh Hóa Nguyễn Xuân Phi
–
Sau một khóa đảm nhiệm chức Chủ tịch UBND TP Thanh Hóa và nay là Khóa thứ 2 trên cương vị Thường vụ tỉnh ủy, Bí Thư Thành ủy TP Thanh Hóa, ông Nguyễn Xuân Phi hiện sở hữu cho mình một tài sản kếch xù lên đến nhiều nghìn tỷ đồng, nhưng lại “núp” dưới danh nghĩa người thân đứng tên. Tài sản của ông nhiều đến mức mà ở xứ Thanh không một đại gia nào có thể sánh được. Ông Nguyễn Xuân Phi còn được mệnh danh là “một tư bản mại bản”. Thậm chí ông thuê người đẻ được 2 con trai mà không cần khai báo với Tổ chức…

Khối tài sản “kếch xù”
Khối tài sản “kếch xù” đầu tiên của ông Nguyễn Xuân Phi, Thường vụ tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy TP Thanh Hóa đứng tên người thân là một hệ thống chuỗi khách sạn, nhà hàng sang trọng từ 3- 4 sao, tọa lạc tại các vị trí đắc địa, trung tâm TP Thanh Hóa, gồm: Khách sạn Phù Đổng 99 phòng (4 sao) bên cạnh Quảng trường Lam Sơn; Nhà hàng Phù Đổng (số 1, Nguyễn Chí Thanh, phường Đông Thọ). Khách sạn Phù Đổng ông Phi xây dựng cách đây 10 năm và lúc đó mới chạy chức từ vị trí Giám đốc Cty Sông Mã lên Chủ tịch TP Thanh Hóa nên nhờ một doanh nhân trên địa bàn đứng tên. Chuỗi tài sản này hiện đứng tên con gái ông Phi.
Tài sản tiếp theo của đương kiêm Bí thư Thành ủy TP Thanh Hóa mà bất cứ ai bằng mắt thường cũng đều nhìn thấy là vườn cây cảnh “độc nhất vô nhị” và những bức tượng bằng đá quý, gỗ hóa thạch “có một không hai” tại Việt Nam và khu vực Đông Nam Á được trưng bày tại 2 nơi là: Trung tâm Văn hóa – Thể thao Trường Thi, rộng gần 2ha (phường Trường Thi – TP Thanh Hóa) và Khu sinh thái rộng hơn 8ha tại phường Quảng Thịnh, TP Thanh Hóa. Theo dân chơi trong lĩnh vực này, thì khối tài sản nêu trên của ông Phi phải tỉnh bằng nhiều triệu USD, chứ không thể tính bằng giá trị tiền tỷ.
Nói về Khu Trung tâm văn hóa – Thể thao Trường Thi. Đây vốn là đất nông nghiệp của người dân, sau quá trình phát triển TP Thanh Hóa lên đô thị loại 2 và hạng 1 như hiện nay, tỉnh Thanh Hóa có chủ trương thu hồi để xây dựng Khu vui chơi giải trí, trung tâm văn hóa phục vụ nhân dân phường Trường Thi, có diện tích trên 16.000 m2 (nay đã thành khu đất vàng, nằm giữa trung tâm TP Thanh Hóa. Nhận thấy đây là “miếng bánh” béo bở nên Cty CP Sông Mã của Bí thư Nguyễn Xuân Phi dễ dàng thâu tóm được. Tuy nhiên, mục đích sử dụng đất là để xây dựng công trình công cộng phục vụ người dân đến vui chơi giải trí. Nhưng dưới bàn tay của ông Phi và Cty Sông Mã, khu đất vàng rộng gần 2 ha này đã bị chuyển đổi công năng, biến đất công thành đất tư nhân – Công ty Sông Mã đã biến công trình thành trụ sở của các loại hội, phục vụ cho nhóm lợi ích và cá nhân bí thư Phi để trưng bày đá phong thủy, đá quý, các loại đồ gỗ hóa thạch quý hiếm, sân tenis và thậm chí làm nơi thờ tự cho mục đích riêng cá nhân ông Bí thư thành ủy.
Ông Hoàng Văn Hưng, nguyên Tổng giám đốc Cty CP Sông Mã cho biết sự thật, tất cả khối tài sản tại Trung tâm văn hóa – thể thào Trường Thi là sở hữu riêng của gia đình Bí thư Nguyễn Xuân Phi. Cty Sông Mã hiện ông Phi đã thâu tóm 100% CP. “Không có một DN nào lại đổ cả trăm tỷ đồng vào cây cảnh, đồ đá, gỗ quý mà chỉ để ngắm chơi và không vì mục đích lợi nhuận. Ông là người quá giàu nên ông ấy không cần lợi nhuận. Dưới vỏ bọc là tài sản Công ty Sông Mã nên rất khó để kiểm tra đây là tài sản của riêng Bí thư Phi” – ông Hưng cho biết thêm. Các tài sản gồm cây cảnh, đồ gỗ, đá quý tại đây được bảo vệ rất nghiêm ngặt bới nhân viên bảo vệ và hàng chục thiết an ninh Camera an ninh giám sát ngày đêm.

Một tài sản lớn khác mà ông Nguyễn Xuân Phi sở hữu là Khu sinh thái phường Quảng Thịnh, Tp Thanh Hóa. Nơi đây dưới vỏ bọc là khu sinh thái nhưng thực chất nơi đây lại là chỗ để khoe tài sản “khủng” của Bí thư Phi cho thiên hạ biết.
Theo một cán bộ phường Quảng Thịnh cho hay, Khu sinh thái được ông Phi vừa thu mua đất đai của dân, vừa thuê lại đất nhà nước, có diện tích hơn 8ha. Công trình được xây dựng từ vài năm nay và đã hoàn thiện khoảng 80%. Cũng giống như mục đích hoạt động của Trung tâm văn hóa – Thể thao Trường Thi, Khu sinh thái Quảng Thịnh hoạt động cũng không vì lợi nhuận.
Được biết trong kế hoạch của mình, ông Phi muốn xây dựng Khu sinh thái này khang trang, hiện đại vào loại bậc nhất cả nước để thỏa mãn thú vui và xứng tầm một không gian rộng lớn để trưng bày các kiệt tác “có một không hai” mà mình bỏ hàng trăm tỷ ra sở hữu.
Hiện tại đây đã có hàng trăm cây cảnh quý, hàng nghìn tác phẩm nghệ thuật đồ gỗ, đá quý…trưng bày trong với 3 ngôi nhà sàn 2 tầng làm toàn gỗ quý, có diện tích rộng hàng trăm m2. Sự đồ sộ của Khu sinh thái này còn thể hiện bằng chiếc Cổng chào “kì vĩ” được đúc bằng những khối đá lớn nặng hàng trăm tấn ghép lại. Khu sinh thái phường Quảng Thịnh ông Nguyễn Xuân Phi nhờ em trai mình tên là Nguyễn Xuân Dương đứng tên.

Bên cạnh các khu sinh thái trưng bày hàng nghìn cây cảnh cổ, đồ đá, gỗ quý hiếm trị giá ước tính hàng trăm tỷ đồng kể trên. Tài sản của ông Nguyễn Xuân Phi còn được biết đến là hàng loạt các Công ty và hàng chục mỏ đất đá đều dưới dạng “núp” tên người thân.
Điển hình là Công ty CP Sông Mã. Trước đây là Cty nhà nước và ông Phi cũng nhiều năm làm Giám đốc. Ngày nay, Công ty CP Sông Mã đã hoàn toàn thuộc sở hữu của ông Phi, khi ông bỏ ra hàng chục tỷ đồng mua lại 100% CP từ các cổ đông khác. Nhưng để che mắt thiên hạ, ông Phi đã nhờ người thân đứng tên chủ sở hữu.
Công ty CP Sông Mã chuyên kinh doanh bất động sản, khai thác VLXD và hiện làm mưa làm gió trên địa bàn TP Thanh Hóa. Đặc biệt là sở hữu hàng loạt các dự án bất động sản lớn như: Dự án Núi Long, Cầu qua sông nhà Lê, Tây bắc ga…. Hàng chục mỏ đất đá thuộc Núi Nhồi (huyện Đông Sơn) nay là Phường An Hoạch, Đông Hưng, TP Thanh Hóa. Công ty Sông Mã của ông Phi còn nổi tiếng thu mua đất nông nghiệp của dân trên địa bàn Tp Thanh Hóa và sau đó là hợp thức hóa thành đất đô thị để thu siêu lợi nhuận.

Bên cạnh đó, ông Phi còn bỏ tiền ra mua (100% CP) để sở hữu nhà máy gạch tuy nel Quảng Thịnh, doanh thu hàng năm lên đến cả trăm tỷ đồng. Đồng thời, ông Phi cũng sở hữu siêu thị điện máy HC trên trục đường Đại lộ Lê Lợi, TP Thanh Hóa.
Như vậy, chỉ tính riêng tài sản bề nổi, gồm hệ thống KS, nhà hàng Phú Đổng, Công ty Sông Mã, nhà máy gạch tuy nel, siêu thị điện mày HC, các khu sinh thái tại phường Trường Thi, Quảng Thịnh, hàng chục mỏ VLXD… thì tải sản của Bí thư Thành ủy Nguyễn Xuân Phi lên đến nhiều nghìn tỷ đồng.
Người dân Thanh Hóa luôn mệnh danh Bí thư Thành ủy TP Thanh Hóa là một nhà “tư bản” mại bản đích danh, chứ không thể xem đó là một quan chức vì dân, vì nước. Dưới “vỏ bọc” là quan chức, Nguyễn Xuân Phi đã dùng mọi thủ đoạn, chức vị để làm “lũng đoạn” kinh tế thu vét cho hầu bao của mình số tài sản “kếch xù”; đồng thời còn thao túng chính trị, hình thành nên phe cánh “lợi ích nhóm” chính trị, nhóm lợi ích “xã hội đen” trên địa bàn TP Thanh Hóa nhiều năm gần đây. Thậm chí ông ta còn dùng Văn phòng làm việc Thành ủy để chuyên giao dịch, buôn bán bất động sản…
Thuê đẻ 2 con trai không cần khai báo với tổ chức
Là một người giàu có, cùng với khối tài sản khổng lồ ước đạt hàng chục nghìn tỷ đồng, ông Nguyễn Xuân Phi luôn mong muốn mình sẽ có con trai để thừa hưởng gia sản kếch xù (vợ cả là 2 cô con gái). Và nay khi lợi dụng chính sách của nhà nước cho đẻ thuê, ông Phi đã có cho mình hẳn 2 cậu quý tử, đem hẳn về nhà trên phố Trần Xuân Soạn, phường Đông Thọ, TP Thanh Hóa tiện cho việc chăm sóc và trên danh nghĩa là con nuôi nên cũng “bất cần” báo cáo với Tổ chức biết. Hai cậu quý tử của ông Phi hiện nay đã hơn 2 tuổi.
Trước đây, cũng thèm khát con trai, ông Bí thư Nguyễn Xuân Phi gần như công khai cặp bồ với cô gái trẻ tên Lã Thị Thanh Hằng, rồi cung phụng xe hơi, mua chung cư cao cấp Kengnam (Hà Nội) để mong người tình sinh cho quý tử. Vì chỉ sinh được con gái không đạt yêu cầu, cộng với việc cô bồ trẻ dám lên mặt thách thức bà vợ cả, sợ mất chức nên ông Phi hạn chế tiếp xúc với người tình hơn.
Việc thuê người đẻ 2 con trai của ông Bí thư Nguyễn Xuân Phi và công khai đem về nhà chăm sóc khiến cho cán bộ, đảng viên và nhân dân xứ Thanh rất bức xúc. Tại sao một cán bộ cấp cao như ông Phi lại ngang nhiên làm chuyện “động trời” mà không bị xử lí? Ai đã bao che? Ai đã dung túng? Phải chăng cấp ủy Đảng, chính quyền tại Thanh Hóa đã bị những đồng tiền của Bí thư Phi làm cho tê liệt? Ông Nguyễn Xuân Phi là đảng viên hay là dân thường mà bất tuân Tổ chức như vậy?
Nhưng với Thanh Hóa, một tỉnh mà bấy lâu nay mọi vấn đề đều được đem lên bàn cân giải quyết bằng tiền một cách như chợ búa, thì việc một quan chức như ông Nguyễn Xuân Phi coi thường, lộng quyền có gì đâu là lạ đâu. “Gần 20 Thường vụ Tỉnh ủy của Đảng bộ Thanh Hóa chỉ cần thông qua ba nhân vật đó là: ông Bí thư tỉnh ủy Trịnh Văn Chiến; ông Trịnh Xuyên – Giám đốc Công an tỉnh và đặc biệt là “bố già” Nguyễn Văn Lợi, Nguyên Chủ tịch UBND, Bí thư tỉnh ủy tỉnh Thanh Hóa – người trực tiếp nâng đỡ, thao túng Phi lên chức Chủ tịch TP và Bí thư Thành ủy TP Thành Hóa” – ông Phi tự đắc rằng, mình là người có quyền, có tiền nên thuê đẻ thêm 2 con chứ thêm nhiều con cũng không cần khai báo.
(Nguồn: FB Xuân Du)
Họ nói dân nghèo Thủ Thiêm & tu sỹ là “phản động”, táng tận lương tâm đến thế là cùng!

Đau Khổ Việt Nam shared a link.
Điều duy nhất tôi dặn lòng sau nhiều năm sống ở Thủ Thiêm là sẽ không bao giờ dạy học trò mình rằng ai đó là “phản động”, “nhận tiền nước ngoài”, hay “biểu tình lấy tiền”. Tôi sẽ không bao giờ đủ miệng mồm để kết luận một người đàn ông đổ xăng lên người là “nhận tiền nước ngoài” để đánh đổi sinh mạng. Chỉ có nhà cửa, tổ ấm, và con cái mới khiến người ta sẵn sàng đánh đổi sinh mạng.
Làm nhà báo, có khi sự bất lực của việc thiếu kiến thức, khả năng và yếu đuối khiến mình không thể tường thuật và viết bài.
Nhưng đổ lỗi rằng nhân vật của mình “phản động” để không viết bài về họ là một tội ác.”
Khải Đơn




