ĐIỂM LẠI LỊCH SỬ

 ĐIỂM LẠI LỊCH SỬ

 THÁNG 2 13, 2019 ĐỖ NGÀ 

Mối bất hoà giữa Trung Quốc và Liên Xô bắt đầu từ năm 1962, đến năm 1969 là coi nhau như thù địch. Cũng từ lúc đó trở về sau, CSVN đứng giữa 2 chọn lựa, theo anh hai Liên Xô hay theo anh ba Trung Cộng? Ngay từ lúc đấy, CSVN chẳng muốn bỏ ai, nên thực hiện trò chơi đu dây giữa 2 thằng anh Cộng Sản này. 

Trong chiến tranh Việt Nam, cả Liên Xô và Trung Cộng đều viện trợ cho Hà Nội đánh Sài Gòn. Nhưng mỗi thằng có một dụng ý khác nhau. Thằng anh Liên Xô đang chạy đua vũ trang với Mỹ nhưng cả Mỹ và Liên Xô đều không muốn nổ ra chiến tranh, nên Liên Xô viện trợ cho Hà Nội đánh Sài Gòn. Tức trong bàn cờ Chiến Tranh Lạnh 2 con tướng xúi 2 con tốt phân cao thấp thôi, chứ 2 tướng không đánh trực diện. 

Còn riêng Trung Cộng viện trợ Hà Nội nhằm mục đích gì? Trung Cộng thích làm ăn hơn thích thể hiện, nên Trung Cộng viện trợ là để đưa Hà Nội vào vòng phụ thuộc mình. Mục đích là để làm gì? Mục đích là từ các khoản nợ đó, Trung Cộng sẽ thu hồi giang sơn Việt Nam để cấn nợ. Dùng những món nợ ấy để nuốt dần Việt Nam như trăn nuốt mồi. Công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng chính là khoản trả nợ của Hà Nội với “ơn nghĩa” Trung Cộng. 

Riêng CSVN thì được 2 thằng hùng mạnh nhất nhì khối CS viện trợ, được hậu thuẫn quá mạnh, Hà Nội hăng máu tràn vào Miền Nam tắm máu đồng bào. Kết quả họ nướng 3 triệu đồng bào thành đống xương tàn để có được “mùa xuân đại thắng” cho ĐCSVN. 

Kể từ năm 1972, Trung Cộng bắt tay Mỹ để tranh thủ làm ăn kinh tế, lúc đó Liên Xô và Trung Cộng càng mâu thuẫn hơn nữa. Đến năm 1978, Trung Cộng mở cửa đón Mỹ vào làm ăn, từ đó mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Cộng đẩy lên cực độ. Giờ khoảng cách giữ Liên Xô và Trung Cộng quá xa, Việt Nam không thể đu dây được nữa, nếu tiếp tục đu, thì dây đứt CSVN sẽ chết. Cho nên, đến thời điểm này buộc CSVN phải chọn lựa 1 trong 2. Và Việt Nam đã chọn theo anh hai bỏ anh ba, thế là thằng Trung Cộng tức lồng lộn. 

Vậy là bao công sức tiền của của Trung Cộng đổ ra nuôi Việt Cộng để nhằm mục đích thu nợ bằng lãnh thổ Việt Nam giờ tan thành mây khói. Điên tiết vì mất cả chì lẫn chài, nên ngày 17/02/1979 Đặng Tiểu Bình xua hơn nửa triệu quân sang “dạy cho Việt Nam một bài học”. Sau 1 tháng Trung Cộng tàn sát nhân dân Việt Nam và phá hủy 6 tỉnh biên giới miền Bắc thành bình địa, Việt Nam đánh bật quân cướp nước ra khỏi biên giới.

Kể từ sau năm 1979, thằng em út Việt Nam có anh hai Liên Xô làm chỗ dựa, nên Hà Nội không việc gì phải hòa thuận với Trung Cộng. Thế nhưng, đến năm 1990, Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Việt Cộng bơ vơ, nên nhóm Linh – Mười – Anh mang chiếu sang Thành Đô lót gối quỳ lạy tạ lỗi với anh ba vì lỡ dại đã phản anh ba theo anh hai trong quá khứ. Giờ anh hai chết rồi, nay thằng em út xin làm trâu ngựa để nghe anh ba sai bảo, đang mồ côi nên em quỳ lạy anh ba che chở dùm. Mà một khi đã tự mình xin làm nô lệ, thì những kế hoạch mà anh ba định làm dang dở trước đó phải được phục hồi lại hoàn toàn. 

Như vậy kế hoạch dang dở của Trung Cộng với Việt Nam là gì? Như đã nói phần đầu, đó là làm cho Việt Nam nợ ngập đầu và tiến hành cấn trừ bằng lãnh thổ. Cho nên, từ năm 1990 đến nay, CSVN liên tục nhượng đất, nhượng biển cho Trung Cộng để trả hết món nợ cũ. Đó là cái giá mà CSVN theo đuổi chủ thuyết CS để bảo vệ  sự độc tài cai trị. Và tất nhiên, khi trả nợ cũ thì Trung Cộng cũng tròng thêm nợ mới trên đầu Việt Nam bằng thứ bẫy nợ mà Trung Cộng đã và đang áp dụng. Một khi CSVN đã gắn kết với Trung Cộng thì rứt không ra được, vì những món nợ đáng kinh tởm cứ lớn dần, và bắt buộc CSVN phải tìm cách nào đấy để giải quyết với dân nhằm thực hiện tiến trình nhượng địa cấn nợ. Và cứ như thế Trung Cộng cứ từ từ tùng xẻo lãnh thổ Việt Nam. 

Hiện nay Việt Nam đang mất dần lãnh thổ về tay Trung Cộng, nhân dân đang phẫn uất. Thêm vào đó, là sự hèn hạ của ĐCSVN trước sự lấn tới của Trung Cộng làm lòng dân vốn đã căm phẫn lại càng căm phẫn. Chưa hết, đầu năm 2019, XHCN Venezuela đang lâm vào đường cùng, sợ phẫn uất của dân cộng hưởng với biến động Venezuela làm dân tràn xuống đường, thế nên ngày 17/02 năm nay, Đảng bật đèn xanh cho Ban Tuyên Giáo mở lệnh cấm, cho phép báo viết về chiến tranh biên giới 1979. Đây là hình thức xả van để giảm nhiệt tức giận của dân mà thôi. Chẳng có gì đáng mừng, mọi thứ đều không thay đổi. Tất cả đều nằm trong kế sách trị dân của ĐCS. 

–Đỗ Ngà–

Cảnh sát hình sự chỉ huy côn đồ

Cảnh sát hình sự chỉ huy côn đồ

14-2-2019

Một đại uý cảnh sát hình sự thuộc lực lượng Công an tỉnh Nghệ An đã xuất hiện trong clip khi đang hò hét chỉ huy đám côn đồ bịt mặt hành hung và đập phá tài sản của người dân.

Đại uý cảnh sát hình sự Nguyễn Trung Dũng tỏ ra rất hung hãn khi liên tục kích động, ra lệnh cho một nhóm người bịt mặt xông vào hành hung và đập phá xe của một nhóm tài xế ngay trước cơ quan công an huyện Hưng Nguyên với sự chứng kiến của nhiều người dân lẫn cán bộ cảnh sát. Các cảnh sát không có phản ứng nào với hành vi vi phạm pháp luật của Dũng. Những hình ảnh trên được một người dân quay lại được và được nhà báo Trương Châu Hữu Danh đăng tải.

Trước đó, tưởng Dũng là côn đồ nên nhà báo Hữu Danh có tiếp cận để chụp hình chung và định hỏi chuyện nhưng Dũng không trả lời. Sự việc càng nghiêm trọng hơn khi nhóm người bịt khẩu trang đi cùng Dũng định châm lửa đốt xe có nhóm tài xế ngồi bên trong.

Một tài xế người Nghệ An, không quen biết với nhóm tài xế nói trên, bị côn đồ hành hung gây nhiều thương tích và phải nhập viện. Vợ của người này cũng bị hành hung. Xe của hai vợ chồng nạn nhân bị đập phá hư hỏng.

Theo nhà báo Hữu Danh, khi tìm đến nhà Dũng thì phát hiện ra Dũng đã từng bị giáng hai cấp xuống hạ sĩ khi còn là cảnh sát giao thông vì đạp một người dân ngã gãy xương sườn. Vụ việc này khiến người dân địa phương bức xúc lật một xe của lực lượng cảnh sát xuống ruộng và gây hỗn loạn. Vụ việc diễn ra vào năm 2009, và thật kỳ diệu, hiện tại Dũng đã leo lên quân hàm đại uý cảnh sát hình sự.

Việc làm của đại uý Dũng có nhiều dấu hiệu vi phạm Bộ luật Hình sự. Nguy hiểm hơn, việc làm của đại uý Dũng cho thấy sự hợp tác giữa công an và côn đồ như nhiều lời đồn đại lâu nay là có thật.

Những Giọt Nước Mắt Rơi Trên Nỗi Đau Người Đi Làm Nô Lệ – Nguyễn Vĩnh Long Hồ

Những Giọt Nước Mắt Rơi Trên Nỗi Đau Người Đi Làm Nô Lệ – Nguyễn Vĩnh Long Hồ (Danlambao)

Những công nhân XKLĐ sang Malaysia làm việc, họ bị lực lượng bảo vệ, tịch thu hết giấy tờ tùy thân, sống lang thang đầu đường xó chợ, không tiền mua vé máy bay hồi hương, một số người bị cảnh sát Malaysia bắt giam như một tội phạm, một số phụ nữ phải sa chân vào chốn lầu xanh rẻ tiền để sống lây lất qua ngày trên xứ người, nên có một số chị em vướng phải bệnh AIDS chết bỏ thay nơi xứ lạ quê người đã nói lên thảm cảnh địa ngục trần gian, tủi nhục và phẫn hận của người công nhân XKLĐ Việt Nam, thân phận của họ không khác gì thân phận của người Phi Châu bị bán làm nô lệ ở Tân Thế Giới vào thời xa xưa…

    *     *     *

Vào thế kỷ thứ 15, bọn con buôn Tây Ban Nha bắt cóc người Phi Châu, rồi chở họ đem bán cho Tân Thế Giới làm nô lệ. Người nô lệ da đen bắt đầu vào Hoa Kỳ từ năm 1696. Thảm cảnh người nô lệ da đen kéo dài kiếp sống nông nô trong các đồn điền miền nam Hoa Kỳ là địa ngục trần gian, nó thách thức lương tâm người Mỹ chân chính và họ phải chấp nhận nội chiến để giải quyết vấn nạn của lương tâm.

Vào cuối thập niên của Thế kỷ thứ 19, vua nước Bỉ là “King Leopold II” dùng quân đội đi săn lùng dân bản xứ “Congo” làm nô lệ, cạo mủ cao su hoang dã trong rừng cho đến khi kiệt sức và cứ thế hàng hàng lớp lớp người nằm xuống. Khoảng 10 triệu người đã chết trong rừng núi hoang dã. Ông ta thu được một tài sản khổng lồ trên xương máu của người nô lệ Congo.

Hannah Arendt viết trong cuốn: “The Origins of Totaliarianmism” (Những cội nguồn của chủ nghĩa toàn trị) đưa ra con số phỏng đoán là 12 triệu người Congo đã chết. Khi Mobutu Sese Seko trị vì từ năm 1965-1997, đổi tên nước là Zaire và đòi đất nước trả ơn ông ta là 4 tỷ USD, hơn mấy lần tài sản của vua Bỉ Leopold II vào lúc đó. Bạo chúa Mobutu, gia đình và đám viên chức cận thần trong chính quyền thối nát đã vắt cạn kiệt sinh lực của xứ sở họ còn thê thảm hơn thời kỳ 80 năm dưới chế độ thực dân thuộc địa.

Hình thức buôn nô lệ vào Thế kỷ 21 vẫn còn tồn tại ở nước VNCS dưới hình thức buôn nô lệ kiểu mới, thủ đoạn bóc lột sức người lao động nghèo tinh vi hơn, tàn nhẫn hơn, ĐCSVN gọi đó là “xuất khẩu lao động”. Con người được xuất khẩu ra nước ngoài làm nô lệ không cần phải đông lạnh như con tôm, con cá. Xuất khẩu lao động được ĐCSVN xem là một quốc sách, một “cơ hội vàng” để tập đoàn Mafia CSVN vắt cạn kiệt sinh lực đất nước còn dã man và tàn nhẫn hơn cả vua Bỉ King Leopold II & tập đoàn gia đình trị Mobutu Sese Seko.

Ngày 6/12/2012, dưới sự chủ trì của Phó chủ tịch Hoàng Ngọc Thanh – Tổng Liên đoàn Lao Động VN (TLĐLĐVN) – tổ chức Hội Nghị Tổng kết 4 năm công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục… Mục tiêu của “Đề án 3” do chính phủ giao cho TLĐLĐVN là đến hết năm 2012, phải phấn đấu đạt chỉ tiêu 70% tức 4 triệu công nhân xuất khẩu lao động.

Theo báo cáo của Tổ chức Walk Free Foundation, “The Global Slavery Index 2013” thì Việt Nam có 248.705 người VN được xem là nô lệ. Tổ chức WFF hy vọng việc công bố bản báo cáo nầy sẽ giúp các nước nghèo theo dõi và giải quyết nạn nô lệ thời hiện đại mà tổ chức nầy gọi là một “Tội ác được bao che”. Nô lệ thời hiện đại là hình thức nô lệ kiểu xa xưa, cộng với những thảm cảnh lao động khổ sai để trừ nợ, ép buộc những cuộc hôn nhân, buôn bán trẻ em, buôn người và lao động cưỡng bách.

Theo RFA đưa tin ngày 1/11/2013, tổng số người lao động VN được xuất khẩu đi làm nô lệ ở nước ngoài trong 10 tháng đầu năm 2013 là 70.200 người. Như vậy, con số trên đã gần đạt ngưỡng 80.000 như mục tiêu do ĐCSVN đặt ra. Chỉ riêng trong tháng 10 đã có gần 7.500 lao động được xuất khẩu.

Trong năm 2012, VN đã gởi đi tổng cộng xuất khẩu khoảng 80.000 lao động làm việc tại các thị trường châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Malaysia chiếm đến 70%. Theo Cục Quản lý Lao động nước ngoài, hiện tại có tới 4.500.000 người VN bị xuất khẩu đang làm nô lệ ở 100 quốc gia khác nhau. Ngược lại, có khoảng trên 1.000.000 công nhân Tàu khựa sang VN làm lao động chui…

ĐCSVN rất phấn khởi vào WTO, xem như cơ hội bằng vàng cho XKLĐ ồ ạt ra nước ngoài làm nô lệ để kiếm ngoại tệ. Năm 2004, các doanh nghiệp đã xuất khẩu được 67.000 lao động (vượt chỉ tiêu 7.000 người), hàng năm con số tăng dần đến mức độ chóng mặt là 4.500.000 có mặt trên 100 quốc gia khác nhau.

Đối với ĐCSVN, việc xuất khẩu lao động là một hình thức kinh doanh “không cần vốn”, một dịch vụ vô cùng béo bở nên Đảng và Nhà nước CSVN quyết liệt bám chặt lấy để khai thác và bóc lột xương máu mồ hôi và nước mắt của giai cấp công, nông dân Việt Nam trên địa bàn toàn quốc một cách khốc liệt. Thủ đoạn gian ác của bọn đầu gấu lãnh đạo ĐCSVN còn xảo quyệt và tinh vi hơn gắp mấy lần Vua Bỉ Leopold II và bạo chúa Mobutu. Xương máu của người nghèo khổ VN đang bị vắt cạn kiệt dưới ba tầng áp bức và bóc lột dưới chế độ CSVN.

Bởi chế độ độc tài toàn trị bất lực vì quốc nạn tham nhũng hết thuốc chữa, không còn khả năng lãnh đạo trong việc quản trị đất nước, không tạo nỗi công ăn việc làm cho người dân trong nước, nên người nghèo nào cũng muốn bán sức lao động làm việc cho các công ty hãng xưởng nước ngoài và đều phải miễn cưởng chịu chi một khoảng tiền hối lộ cho các cơ quan chính quyền liên hệ và bọn môi giới, bọn cò mồi mới giành được một chỗ bán thân, tình nguyện đi làm nô lệ xứ người.

Cục Quản lý Lao Động với nước ngoài trực thuộc Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội chuyên lo dịch vụ XKLĐ. Ngoài ra, một nghiệp vụ XKLĐ của QĐNDVN cũng rất quan trọng, nó trực thuộc Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc Phòng. Bạo quyền CSVN là bọn “ngồi mát ăn bát vàng” vừa ăn hối lộ, vừa thâu lợi nhuận từ các hợp đồng XKLĐ với các đối tác nước ngoài, vừa ăn chận đô la của người XKLĐ từ nước ngoài gởi về.

Các công ty nước ngoài thuê mướn XKLĐ phải trả 40% cho nhà nước CSVN và 10% cho công ty môi giới. Thí dụ: Mức lương của một người XKLĐ tại Hàn Quốc là 600 USD/tháng. Sau khi trừ hết chi phí, phần còn lại là 300 USD. Trung bình một người công nhân lao động muốn bán thân làm nô lệ cho các công ty nước ngoài, họ phải làm việc ít nhất 2 năm mới trả hết số nợ vay lúc ban đầu, năm thứ ba mới có lợi nhuận thì hợp đồng sắp hết hạn.

Hiện nay, Đảng & Nhà nước CSVN mở hết công suất hệ thống tuyên truyền, cơ quan tín dụng khuyến khích và động viên công nhân & nông dân nghèo vay tiền để làm thủ tục đi XKLĐ, làm bùng lên phong trào cực kỳ quy mô, săn lùng người lao động trong tình trạng thất nghiệp, không có công ăn việc làm, còn nông dân bị bọn cường hào ác bá địa phương cướp hết điền sản nên không còn đất cày. Chiến dịch săn lùng XKLĐ được phát triển rầm rộ như hiện nay, còn hơn cả thời bọn thực dân Tây Ban Nha săn đuổi người nô lệ da đen vào thế kỷ 15 & 16 để bán qua Tân Thế Giới.

Tính đến cuối năm 2012, trên toàn quốc đã thành lập “40 Tổ Tư vấn Pháp Luật”, có “154 doanh nghiệp” nhà nước chuyên làm dịch vụ XKLĐ và mạng lưới có trên “1.000 chi nhánh” hoạt động trên 45 tỉnh, thành phố kinh doanh trên xương máu, mồ hôi và nước mắt của những người cùng khổ một cách tàn nhẫn.

Trong 4 năm qua (2009-2012), Tổng LĐLĐVN hỗ trợ kinh phí thành lập 40 tổ Tư vấn Pháp luật tại một số địa phương có đông công nhân lao động nghèo, sống trong các khu công nhân, khu cư xá ổ chuột… các tổ tư vấn lao động này phối hợp với công nhân tự quản khu nhà trọ để tuyên truyền pháp luật và quyền lợi cho công nhân vào giờ tan ca, giờ nghỉ trưa hoặc tại khu nhà trọ… điều quan trọng là cán bộ tư vấn pháp luật, vận động chủ nhân các hãng xưởng, cho họ tiếp xúc với giới công nhân lao động ngay tại cơ sở sản xuất. Qua đó, lựa chọn thời điểm thích hợp để tập hợp các công nhân lao động để giải thích chính sách XKLĐ của Nhà nước và giải đáp những thắc mắc nếu có.

Một trong những hoạt động tuyên truyền phổ biến của Tổng LĐLĐVN là hướng dẫn thành lập các tổ “công nhân tự quản”. Tính đến năm 2012, theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước có trên 3.000 tổcông nhân tự quản đang hoạt động. Riêng tại Sài Gòn có trên 2.400 tổ. Thông qua các tổ công nhân tự quản, khu nhà trọ, phối hợp với công an khu vực, các ngành nghề tổ chức, các hoạt động tuyên truyền pháp luật cho công nhân XKLĐ tại các địa phương có đông công nhân lao động.

Công nhân XKLĐ đi làm nô lệ xứ người bị ngược đãi tàn tệ:

Chính những người XKLĐ này là nhân chứng, chứng kiến cảnh bị đày ải như nô lệ của nhau và đã được bày tỏ để cảnh báo những người nào muốn bán thân đi làm nô lệ xứ người. Sau đây chỉ là những trường hợp điển hình.

Nam Hàn:

Các công ty Nam Hàn chỉ sử dụng công dân VN vào các ngành hóa chất độc hại để bảo vệ sức khỏe cho công nhân bản xứ. Ngành công nghiệp đó gọi là 3D: “Difficult – Dirty – Dangerous” (khó khăn- dơ bẩn – nguy hiểm). Cực nhọc và nhục nhã nhất là làm phu trên các tàu đánh cá của họ. Họ phải làm quần quật liên tục từ 24 tới 36 tiếng và chỉ nghỉ được 4 tới 5 tiếng. Nếu làm việc liên tục 48 tiếng thì được nghỉ 6 tiếng. Khủng khiếp nhất là làm việc từ 13 tới 16 tiếng liên tục trong các hầm nước đá lạnh dưới -60 độ âm. Có người chịu không nổi phải sặc máu mũi, máu họng trào ra tại hầm nước đá. Ngoài ra, các tên “cọp rằn” dữ dằn như cọp, lúc nào cũng lăm le gậy sắt, sẵn sàng đập, quất vào những người nô lệ Việt Nam không thương xót.

Chắc hẳn chúng ta chưa quên vụ chủ hảng may “Darwoosa” của Đại Hàn trên đảo Samoa trước đây đã bị chánh phủ Hoa Kỳ bỏ tù vì quịt lương của 250 thợ VN và đánh đập, giam giữ trái phép, bớt khẩu phần ăn và chỗ ở cho công nhân VN theo tiêu chuẩn súc vật.

Mã Lai:

Vô địch man rợ nhất, có lẽ thuộc về công ty Yikon Jenellry Industry ở Malaysia. Trong lúc đang làm việc, 3 nữ công nhân VN tên Nguyễn Thị Sữa, Trần Thị Điểm và Hồ Ngọc Dương bị một nhóm người quản lý của Yikon gọi lên phòng làm việc. Sau đó dùng hành động bạo lực, túm tóc lôi kéo, đánh vào mặt, đạp vào ngực bụng, có người bị đánh đến ngất xỉu rồi mới gọi cảnh sát tới áp giải, đưa ra sân bay trục xuất về VN, mà trên người chỉ có một bộ đồ công nhân đang mặc mà thôi. Lý do, họ chỉ yêu cầu tăng thêm giờ để bảo đảm thu nhập mà họ bị ép vào tội đình công.

Không thấy công ty XKLĐ tên Sovilaco (Quận 3) giải quyết quyền lợi và sứ quán VN tại Malaysia không dám lên tiếng phản đối để giúp công nhân XKLĐ khiếu nại chủ hãng Yikon. Vô trách nhiệm đến thế là cùng vì tiền thầy đã bỏ túi, còn sống chết mặc bây!

Hiện nay, có khoảng trên 120.000 công nhân XKLĐ Việt Nam đang lao động theo hợp đồng tại xứ sở man rợ này. Ngay khi đặt chân tới phi trường, mọi giấy tờ tùy thân của họ đều bị tịch thu; vì vậy, trong thời gian làm việc, nhiều công nhân VN bị chủ nhân Mã Lai tha hồ đánh đập họ tàn nhẫn như súc vật, bỏ đói, khủng bố tinh thần, sách nhiễu tình dục. Ngoài ra, giới chủ nhân còn khất nợ, cuối cùng quịt nợ bằng cách sa thải họ không có lý do, rồi mới báo cho cảnh sát. Theo luật tại Malaysia, các công nhân không có giấy tờ tùy thân sẽ thành những người cư trú bất hợp pháp và sẽ bị trục xuất trong 24 giờ nên họ không cách nào khiếu kiện bọn chủ nhân mọi rợ để đòi lương.

Tờ The Star của Malaysia số ra tháng 3/2 đưa tin về thảm cảnh của 42 người phụ nữ XKLĐ Việt Nam, sống tại thành phố George Town, bán đảo Penang, Malaysia. Họ sống trong một căn hộ 4 phòng, mỗi phòng chỉ đủ chỗ cho 5 người và tất cả chỉ có một chỗ đi vệ sinh duy nhất. Họ từ VN sang Malaysia lao động nhưng đang không có việc làm, không có tiền gởi về nhà trả nợ và giúp gia đình trong khi hộ chiếu đã hết hạn.

Đây không phải là lần đầu tiên báo chí nói về cuộc sống bi kịch của công nhân XKLĐ Việt Nam ở Malaysia. Nếu tiếp tục ở lại thì phải đối diện với muôn vàn khó khăn, nhất là trong hoàn cảnh cư trú bất hợp pháp mà muốn trở về nước càng khổ nhục hơn vì nợ nần chưa trả, nên họ phải nhắm mắt buông xuôi với kiếp sống phiêu bạc giang hồ. Nữ công nhân XKLĐ Việt Nam phải làm nghề mại dâm rẻ tiền để mưu sinh, đó là nghề rất phổ biến ở Malaysia.

Một Đại biểu Quốc hội chất vấn Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội vô cảm. Nguyễn Thanh Hòa, Thứ trưởng bộ nầy tiết lộ từ năm 2004 đến nay có khoảng 400 ca đột tử, trung bình cứ 6 người thì có 1 người XKLĐ chết. Ông cho biết: “Hiện nay có khoảng 120.000 người XKLĐ đang làm việc tại Malaysia, nguyên nhân chất lượng khám sức khỏe kém, không quen với nếp sống đô thị hiện đại, tác phong làm việc công nghiệp nên thường xảy ra tai nạn lao động, tai nạn giao thông? Tất cả đều chối bỏ sự thật là công nhân XKLĐ bị ngược đãi, hành hạ và làm việc quá sức lao động, bằng chứng là có người bị đột tử trong nhà vệ sinh.

Đài Loan:

Các hãng Đài Loan đối xử với công nhân XKLĐ Việt Nam tàn nhẫn không thua Đại Hàn và Malaysia. Hãng Bi – Shiang Enterprise tại làng Sha-Kun, thành phố Hsinchu chuyên sản xuất xe lăn bán sang Canada & Pháp. Ngoài công nhân địa phương, họ mướn thêm 18 nữ công nhân XKLĐ Việt Nam. Theo sự tố cáo của Linh mục Peter Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc Hope Worker’s Centertại Chungli: Các nữ công nhân VN bị cấm ra khỏi hãng sau giờ làm việc, ngày nghỉ không được thăm viếng bạn bè.

Theo luật lao động, công nhân được cung cấp chỗ ở và thức ăn miễn phí, nhưng bọn chủ nhân tự động trừ tiền mua thực phẩm mỗi tháng 2.500 Đài tệ. Hãng chỉ trả lương công nhân 3 tháng/ một lần; thay vì phải trả hàng tháng theo đúng luật. Mỗi cô thợ VN đã bị chủ hãng bắt buộc phải hầu bàn cho các công nhân Đài Loan như bọn đầy tớ hầu hạ bọn quí tộc Đài Loan thời phong kiến.

Vào tháng 2/2005, chính quyền Costa Rica cho biết 6 thủy thủ người VN trong một tàu cá Đài Loan đến cảng Puntarenas đã bỏ trốn khỏi tàu. Họ đã tố giác rằng, họ đã bị tên thuyền trưởng Đài Loan ngược đãi, đánh đập, tra tấn dã man và nhờ chánh quyền sở tại bảo vệ an ninh cho họ. Chỉ huy trưởng sở tại là Luis Diego Solano cho biết, không ai muốn ở lại Costa Rica mà muốn trở về VN. Điều kiện sống và làm việc trên các tàu cá Đài Loan nổi tiếng là tàn tệ, năm nào cũng có những thủy thủ trên tàu đánh cá nổi loạn, cướp tàu, thậm chí giết cả thuyền phó, như vụ xảy ra năm 2002 trên chiếc “Full Means 2” ngoài khơi biển Hawaii.

Ngày 5/10/2009, các thủy thủ VN nổi loạn trên tàu cá Đài Loan tại Nam Phi, đã dùng dao uy hiếp thuyền trưởng và sau đó bị cảnh sát Nam Phi bắt giữ. Cảnh sát Nam Phi ghi nhận rằng, họ làm như vậy vì họ đã bị tên thuyền trưởng Đài Loan đánh đập họ vô cùng dã man trong nhiều tháng liền trên biển. 10 người trên tàu Balena đã trói thuyền trưởng và tấn công thuyền phó ngoài khơi biển Nam Phi. Các thủy thủ VN đã hành động trong cơn tuyệt vọng sau nhiều tháng bị thuyền trưởng người Đài Loan đánh đập và ngược đãi tàn tệ. Sự kiện đã xảy ra vào tháng 8/2013, có 4 thuyền viên XKLĐ Việt Nam tố cáo họ bị hành hạ như nô lệ và phải trốn khỏi tàu cá Hsieh Ta của Đài Loan ở vùng biển của Pháp và đã về tới VN vào tối 12/8/2013.

Theo tin của Vietnamese Missionaries in Taiwan, thân phận của các thiếu nữ XKLĐ sang Đài Loan làm công việc nội trợ (domestic helpers) hoặc giúp đỡ người già, bệnh nhân, các cô được gọi là “osin” thân phận đày tớ không hơn gì thân phận nô lệ, thật khốn khổ và nhục nhã, có khi còn bị sách nhiễu tình dục. Các cô phải làm việc quần quật từ 2, 3 giờ sáng đến 10 giờ đêm cực như một con chó… ăn phải ăn sau chủ nhà, thường là loại “cơm thừa canh cặn” của gia đình nhà thải ra, dành cho người “osin” và cho chó ăn.

Số phận của người công nhân XKLĐ tại Đài Loan hoàn toàn lệ thuộc quyền sinh sát của người chủ của mình vì trong hợp đồng XKLĐ có khoảng ghi là: “Người công nhân hoàn toàn do chủ xử lý và sử dụng”. Nói trắng ra, đây là hình thức “bán đứng dân XKLĐ làm nô lệ cho ngoại nhân”, sống chết mặc bây của ĐCSVN. Người công nhân XKLĐ không có quyền đòi hỏi bất cứ điều gì, kể cả quyền xin chủ nhân đối xử với họ như một con người chớ không phải súc vật…

Saudi Arabia:

Ngày 1/1/2015, chị Vinh về tới Việt Nam. Chị Vinh kể: “Lúc sang làm việc cho chủ thứ hai, chị đã phải làm cả việc nhà của mẹ bà chủ, buộc phải dọn dẹp liên tục, ngày chỉ được ngủ 3-4 tiếng. Nếu mệt quá ngồi nghỉ thì bị gọi chửi, có người bị chủ nhổ nước bọt lên đầu. Ăn chỉ có ăn cơm với ớt, không có thịt, có lúc phải nhặt xương trong thùng rác lên ăn. Không chịu nổi cảnh đời làm nô lệ, chị đòi về nước thì bị chủ nhốt trong phòng một tuần liền, không cho ăn uống. Chị Vinh còn bị chủ nhà cùng mấy người đánh đập, bỏ sỏi vào miệng, lấy lửa bật đốt trước mặt…”

Khi bị họ đánh đập tàn nhẫn, em gọi điện về cho chị Trang (Cty Vĩnh Cát). Chị Trang nói: “Muốn trở về nước phải nộp 58 triệu đồng,” em không chịu, chị ta nói: “Thế thì đừng làm phiền chị ấy nữa!” Thế rồi, công văn số 259 ngày 10/12/2014 của Cty Vĩnh Cát cho rằng: “Chị Vinh muốn về nước, nhưng không muốn bồi thường, nên đã giở các chiêu trò, thủ đoạn… vu cáo chủ ngược đãi là không đúng”. Sau cùng, chị Vinh khẩn thiết đề nghị cơ quan chức năng kịp thời giải cứu nhiều nữ XKLĐ bị kẹt tại Saudi Arabia do không thể chịu đựng được cảnh bị ngược đãi, nhưng không thể về nước vì gia đình quá nghèo không có tiền nộp phạt cho Cty XKLĐ Vĩnh Cát.

Jordan:

Cuối tháng 2/2008, có một số nữ công nhân VN được XKLĐ sang Jordan bị đánh đập tàn tệ. Gần 200 công nhân VN được một hãng may mặc Đài Loan tên W&D Apparel qua môi giới ở VN đã được đưa sang ngoại ô Amman, thủ đô Jordan, với lời hứa sẽ trả 220 Mỹ kim/ tháng. Nhưng khi tới nơi, các công nhân XKLĐ bị tịch thu hết cả giấy tờ tùy thân, phải lao động 16 tiếng một ngày, chỉ được trả từ 80 – 150 USD/ tháng. Đa số các công nhân XKLĐ đình công, chủ nhân người Đài Loan xua nhân viên bảo vệ với sự hổ trợ của cảnh sát sở tại hành hung dã man, kể cả những người đang nằm trên giường bệnh, có người bị chúng nắm đầu quật vào thành giường đến bất tỉnh.

Nô Lệ Tình Dục:

Mới đây, mụ tú bà Trần thị Mỹ Phương và chồng là Tsai Hsein, người Đài Loan đã khai trước vành móng ngựa đã bán 126 cô gái VN sang Mã Lai với giá 1.800 USD một cô. Tại tỉnh Hà Tây, một cặp uyên ương buôn người tên Trần Thị Tình và Phạm Thế Dân đã khai bán phụ nữ VN sang Hoa Lục với giá bèo 1 triệu đồng (50 USD) mỗi cô gái. Và số cô dâu VN tại Hoa Lục ước tính hàng trăm ngàn người. Trong số nầy, có không ít đã vào lò “mổ nội tạng” của bọn kinh doanh đẫm máu trên xác người.

Tờ báo Apple Daily Taiwan đưa tin: “Một cô dâu VN tên Tuân, 20 tuổi đã bị người chồng độc ác đâm kim vào các đầu ngón tay, rồi nhúng vào nước muối. Cô bị hắn lấy ná thung bắn vào mí mắt, đập bằng gậy và lấy dao cứa chằng chịt vào lưng. Theo hồ sơ của tòa án, hung thủ tên Liu Cheng Chi, 39 tuổi và tòng phạm cũng là vợ của y (giả ly dị) tên Lin Li Ju, vì muốn có con trai nên cho Liu về VN cưới vợ.

Khi cô Tuân sang Đài Loan mới vỡ lẽ, họ vẫn sống chung với nhau thì cuộc hành hạ bắt đầu. Ngoài chuyện bị đánh đập dã man, cô Tuân còn bị bỏ đói, một ngày chỉ ăn được một bữa cơm. Sau nửa năm bị cực hình tra tấn đủ mọi kiểu, cô chỉ còn 20 kg da bọc xương. Lin sợ cô chết nên chở cô bỏ giữa đường. Cô Tuân đã lết tới một tiệm ăn gần đó để xin ăn và may mắn được cảnh sát sở tại chở vào nhà thương cứu cấp.”

Tính đến năm 2006, tại Đài Loan có trên 100.000 cô dâu VN và công nhân XKLĐ, so với năm 1999 chỉ có 21 người. Hầu hết cô dâu VN là người ĐBSCL. Ê chề nhất là cảnh “chợ người”, các cô gái công nhân XKLĐ Việt Nam bất hạnh bị bày bán công khai, người ta tranh nhau trả giá, rồi thì các cô bị lôi kéo, xô đẩy, sỉ vả, khinh bỉ, nhưng các cô cắn răng chịu đựng vì các công ty môi giới XKLĐ của VN, họ chỉ cần thâu được lợi nhuận là họ phủi tay, họ bất cần thân phận người XKLĐ ra nước ngoài làm việc, sống chết mặc bây, không có ai bảo vệ họ.

Người nữ công nhân XKLĐ bị bày bán như một món hàng người nô lệ. Nhiều trường hợp mua vợ để thỏa mãn thú tính như trường hợp cô PTT, 28 tuổi, quê ở Nghệ An, trong một tháng phải đi làm thuê cho 8 ông chủ. Chị bị luân phiên hãm hiếp mà không dám khai báo vì công ty môi giới giữ hộ chiếu và giấy tờ tùy thân của chị. Họ còn hù dọa sẽ trục xuất cô về VN. Nhiều công ty môi giới ở Việt Nam đã móc ngoặc với những công ty môi giới bên Đài Loan để họ tha hồ bóc lột sức lao động của công nhân XKLĐ Việt Nam và bảo đảm không bị thưa gởi hay phản đối vì tiền vé máy bay, tiền nghĩa vụ, thủ tục lót đường lên đến vài ngàn đô la, nên khi họ gặp những chuyện áp bức, họ cũng không dám lên tiếng.

Cô dâu Việt Nam “for sale”:

Nhóm nghiên cứu thực trạng hôn nhân Đài Loan của viện Khoa Học Xã Hội tại Sài Gòn cho biết: “Qua cuộc phỏng vấn trực tiếp 200 cô gái từ 18 tới 21 tuổi, đang lập thủ tục lấy chồng Đài Loan, cho thấy 40% cô dâu VN chỉ học hết lớp 1 (có tới 8% mù chữ), còn lại học hết cấp II. Trên 63% cô dâu VN do môi giới qua đường dây “CÒ”. Số tiền gia đình mỗi cô dâu nhận được sau khi cưới khoảng 500 – 1000 Mỹ kim. Thời gian cô dâu VN gặp chú rể Đài Loan chỉ trong vòng 1 tuần tới 3 tháng là cùng. Các chú rể Đài Loan ngang nhiên mua “cô dâu VN” một cách công khai, rồi đem về Đài Loan để biến cô dâu thành “nô lệ tình dục” cho cả gia đình nhà họ, xài chán chê rồi bán cho lầu xanh ở Cao Hùng hay Đài Bắc, có khi bán cho các lò mổ nội tạng, chẳng những họ lấy được vốn mà còn được lãi “nhất bản vạn lợi”.

Triển lãm cô dâu VN ngay giữa hội chợ Singapore:

Chắc hẳn chúng ta chưa quên được sự kiện vào ngày 16/3/2005 có cuộc triển lãm cô dâu VN ngay giữa Hội chợ Singapore làm cho các hội tranh đấu nữ quyền trên thế giới hết sức bất mãn, khi nhìn thấy những người con gái VN bị đem ra làm những mối hàng bày bán như “thú vật” tại một hội chợ ở Singapore để quảng cáo cho chương trình đi VN lấy vợ ở quốc gia nầy.

Gian hàng có bày hàng 3 cô gái VN mang tên “Trung tâm hôn nhân trái tim hạnh phúc”. Tại đây, có người đứng phân phát truyền đơn quảng cáo những dịch vụ như “Lấy vợ VN ngay tại chỗ với giá 9.000 đô la Singapore” hay dịch vụ sang trọng hơn lên đến 13.000 đô la Singapore. Bà Breama – Chủ tịch Hiệp hội Bảo vệ Nhân phẩm Phụ nữ tại Singapore – nói rằng: “Đây là một hành động không thể chấp nhận được,” bà kêu gọi. “Chính phủ Singapore phải có những biện pháp cụ thể để ngăn chận những việc này tái diễn và cho rằng, đây không khác gì như tình trạng buôn người mà thôi.

Người Tàu mua phụ nữ VN làm nô lệ tình dục và lấy nội tạng:

Theo bản tin Tân Hoa Xã, ngày 20/8, thông báo họ đang tiến hành điều tra vụ rất đông các cô gái VN trong khu làng thuộc huyện miền núi Song Phong trong tỉnh Hồ Nam bên Tàu bị mất tích. Gần đây, báo chí VN cũng đã nhiều lần đăng tin về những vụ lừa đảo thiếu nữ VN nhẹ dạ bán sang Hoa Lục làm gái mãi dâm hoặc làm cô dâu, nhưng họ tránh né không muốn đề cập đế một thực tế ghê rợn là họ bị đánh cấp nội tạng đem bán.

Buôn bán “thận” là một nghề đang nở rộ và cực kỳ béo bở ở Đại Lục. Nguồn cung cấp nội tạng từ học viên Pháp Luân Công, tù hình sự, người vô gia cư và đặc biệt Việt Nam hiện nay là nguồn cấp nội tạng vô tận cho các bệnh viện chuyên mổ lấy nội tạng ở Đại Lục. Tính theo thời giá hiện nay, mua một cô dâu VN giá di động từ 1.000 – 2.000 USD là cùng, còn giá trẻ em từ 500 – 1500 USD. Đem họ về Đại Lục, bán lại cho các lò mổ nội tạng sẽ có thu nhập từ 80.000 – 100.000 USD cho 2 quả thận, đó là chưa kể những bộ phận khác như tim, gan sẽ được giá cao hơn. Hầu hết các dịch vụ mua buôn người đều diễn ra tại các tỉnh vùng biên giới phía bắc như: Hà Giang, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng… với sự tiếp tay của chính quyền địa phương.

Ngàn giọt nước mắt rơi trên nỗi đau Dân Tộc:

Hình ảnh một cảnh sát Campuchia đang áp giải một bé gái VN 11 tuổi đời ra khỏi một động mãi dâm tại “khu đèn đỏ” Tuol Kork, Nam Vang. Có 6 bé gái VN từ 11 – 13 tuổi đã được cứu ra khỏi khu nhà thổ nầy. Các em đều bị chở sang đây qua ngã Tây Ninh hoặc Châu Đốc do các đường dây buôn người ở Việt Nam vận chuyển.

Tại khu đèn đỏ Svay Pak, cảnh sát Campuchia cứu thoát được ít nhất 36 em bé VN bị cưỡng bách bán dâm, nhỏ tuổi nhất dưới 10 tuổi đời. Quận ven đô có 5,6 nhà chứa ở các đường hẻm trong khu ổ chuột. Ông Khut Sopheang (công tố viên địa phương) nói: “22 người có vẻ trẻ hơn 10 tuổi, trong nhà chứa khác có 9 đứa trẻ gái từ 6 – 9 tuổi. Vài bé gái khác có lẽ chỉ mới 5 tuổi. Các em khóc khi chúng tôi tìm thấy các cháu,” ông nói. “Có tới 70% gái mãi dâm ở Campuchia đều là trẻ em VN, phần đông đến từ vùng ĐBSCL.”

Tại khu đèn đỏ ở Toul Kork hay Svay Pak, nơi nào cũng giống nhau. Hình ảnh những em bé gái VN thật đáng thương, tuổi đời chừng 5 tới 7 tuổi, thân mình mãnh mai yếu đuối, đứng chen chúc sau một khe hở của căn phòng dưới ánh đèn điện mờ mờ ảo ảo. Các em đang chờ cha, chờ mẹ, chờ chị, chờ anh tới đón các em về nhà? Không, không có một ai cho các em chờ đợi cả! Chỉ có những con yêu râu xanh rước các em đi vào địa ngục, các em sẽ bị chúng hành hạ thân xác đau đớn tột cùng, những cơn đau banh da xé thịt khi các em bị chúng phá hoại trinh tiết, các em nhỏ xấu số đáng thương phải tiếp khách từ 15 tới 20 lần một ngày. Còn nỗi đau đớn nào dành cho các em bé VN đáng tội nghiệp kia?

Kết luận:

Đài VOA đưa tin ngày 20/6/2013, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố: “VN là điểm xuất phát của nhiều công nhân XKLĐ sang nhiều quốc gia trên thế giới như Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc… và nhiều người trong số đó phải làm việc như nô lệ khổ sai”.

Theo báo cáo “Phúc trình thường niên về nạn buôn người”, nhiều công ty XKLĐ ở Việt Nam mà đa phần có liên hệ tới các “tập đoàn nhà nước”, cùng với các công ty trái phép đã lấy tiền môi giới đi XKLĐ ở nước ngoài với giá quá cao, khiến các công nhân vướng vào cảnh nợ nần chồng chất thuộc loại cao nhất trong các công nhân XKLĐ châu Á, nên họ buộc phải lao động khổ sai trong điều kiện rất tồi tệ để có tiền gởi về Việt Nam chỉ đủ để trả nợ.

Anh Trần Ngọc Sơn, một công nhân XKLĐ ở Nam Hàn cho biết: “Có nhiều công nhân XKLĐ phải bỏ ra rất nhiều tiền, quá nhiều so với quy định nhà nước,” anh nói. “Một số người nhà có điều kiện, họ không phải vay mượn. Nhưng, đối với một số gia đình nghèo, không đủ chi phí trang trải, họ phải đi vay nặng lãi. Một số người đi theo các đường dây đưa người ra nước ngoài thì họ phải chạy chọt này nọ.”

Phúc trình còn cho biết, nhiều công ty tuyển dụng VN chỉ cho phép người công nhân XKLĐ, đọc các hợp đồng ngay trước khi lên đường đi làm việc ở nước ngoài và buộc một số công nhân phải ký vào các hợp đồng viết bằng một thứ ngôn ngữ mà họ không thể hiểu được, trong đó có điều khoản chết người như: “Người công nhân hoàn toàn do chủ xử lý và sử dụng” điều nầy có nghĩa người công nhân XKLĐ thuộc quyền sinh sát của giới chủ nhân và không được một ai trợ giúp khi xảy ra các tình huống bất ngờ như vậy.

Theo báo cáo của Trafficking in Person ngày 15/7/2013, một trong những vấn đề là các công ty XKLĐ và lực lượng cò mồi trung gian thường xuyên thu phí quá cao so với quy định của pháp luật và công nhân XKLĐ của các nước khác ở châu Á, khiến họ rơi vào cảnh nợ nần trong nhiều năm. Phần lớn trong số công nhân XKLĐ này muốn trở về VN sớm, thường thì 1 hoặc 2 năm và họ không có đủ tiền để trả nợ. Ngoài ra, các nạn nhân XKLĐ thường bị tịch thu hết các giấy tờ tùy thân, hộ chiếu hoặc thường xuyên bị lực lượng môi giới dọa trục xuất họ, để buộc họ làm việc trong điều kiện tồi tệ với mức lương thấp hoặc không trả lương.

Cũng theo báo cáo nầy, rất nhiều công nhân trong số nầy trở thành nạn nhân buôn người bị hệ thống “cò mồi” vô lương tâm hay các ông chủ buộc họ phải làm công việc ngoài thỏa thuận ban đầu trong điều kiện bị bóc lột vô cùng. Nhiều công nhân buộc phải đóng tiền tuyển dụng lên tới 7.700 USD, khoản nợ nầy rất lớn đối với họ.

Itar-Tass ngày 10/7/2013, đưa tin: Cơ quan di trú Liên Bang Nga và cảnh sát đã đột kích một khu công nghiệp ở phía đông Matxcova, bắt giữ 250 người VN cư trú bất hợp pháp. Hồi đầu tháng 5, RIA Novosti cũng trích nguồn tin cảnh sát Nga, nói đã bắt giữ khoảng 500 người VN nhập cư trái phép, đang làm việc bất hợp pháp tại một xưởng may áo khoác ở làng Malakhovka, Matxcova. Trước đó không lâu, vụ 15 thiếu nữ VN bị lường gạt sang Nga với những lời hứa hẹn việc làm, nhưng thực tế bị đẩy vào ổ mại dâm của tú bà Thúy An, cũng được báo giới đưa tin. Năm 2012, có hơn 100 công nhân XKLĐ Việt Nam nghề may mặc đưa sang Nga và bị ép làm việc như nô lệ cho đến khi cơ quan di trú Nga giải cứu và đưa họ về nước.

XKLĐ là một dịch vụ kiếm ăn không cần vốn rất béo bở nên Đảng & Nhà nước CSVN và Bộ LĐ-TB-XH và 154 doanh nghiệp nhà nước của chế độ giữ chặt lấy cơ hội vàng để bóc lột tham nhũng thả giàn, ngồi mát ăn bát vàng làm giàu trên xương máu, mồ hôi, nước mắt của những công nông dân nghèo lại tàn mạt thêm. Ngoài các khoản chi phí tổng nộp cho nhà nước để giành một chỗ bán thân đi làm nô lệ để cho ngoại nhân chà đạp nhân phẩm mà còn phải hối lộ cho bọn môi giới và bọn cò mồi vô lương tâm.

Xin đồng bào trong nước sớm tỉnh táo từ bỏ ý định XKLĐ. Hãy nhìn những thảm cảnh của những người công nhân XKLĐ Việt Nam bị bọn chủ nhân nước ngoài ngược đãi, lao động khổ sai, đánh đập, bỏ đói, không trả lương hoặc trả thấp đủ sống cầm hơi để đủ sức lao động khổ sai cho chúng mà không có một ai can thiệp, bênh vực quyền lợi cho họ, vì Đảng & Nhà nước CSVN đã đem con bỏ chợ, sống chết mặc bây vì tiền thầy đã bỏ túi. Đừng trông mong gì các tòa Đại sứ hoặc Tổng Lãnh Sự hay Lãnh Sự Quán Việt Nam ở hải ngoại can thiệp vì họ đã nhận chỉ thị của ĐCSVN ngậm miệng ăn tiền.

Hãy nhìn những tấm gương của những công nhân XKLĐ sang Malaysia làm việc, họ bị lực lượng bảo vệ, tịch thu hết giấy tờ tùy thân, sống lang thang đầu đường xó chợ, không tiền mua vé máy bay hồi hương, một số người bị cảnh sát Malaysia bắt giam như một tội phạm, một số phụ nữ phải sa chân vào chốn lầu xanh rẻ tiền để sống lây lất qua ngày trên xứ người, nên có một số chị em vướng phải bệnh AIDS chết bỏ thay nơi xứ lạ quê người đã nói lên thảm cảnh địa ngục trần gian, tủi nhục và phẫn hận của người công nhân XKLĐ Việt Nam, thân phận của họ không khác gì thân phận của người Phi Châu bị bán làm nô lệ ở Tân Thế Giới vào thời xa xưa…

Trước khi kết thúc chủ đề của bài viết nầy, tôi xin mượn danh ngôn của nhà thơ Voloshin để nhắn gởi đồng bào trong và ngoài nước: “Hãy cho đi! Hãy nhường tất cả đi! Rồi bạn sẽ dành được tủi nhục, nghèo đói và làm tên nô lệ khốn khổ nhất.”

24.09.2016

Tổng hợp & nhận định

Nguyễn Vĩnh Long Hồ

danlambaovn.blogspot.com

Đà Nẵng: Xuất hiện nước biển đen ngòm và bốc mùi hôi bất thường

(NLĐO)- Trước tình trạng nước biển đen ngòm như nước thải kéo dài gần 4km tại vịnh Đà Nẵng, ông Tô Văn Hùng (Giám đốc Sở Tài nguyên và môi trường TP Đà Nẵng)…
NLD.COM.VN

Cecilia Thúy Nguyễn, người đã mặc áo dài màu vàng có điểm ba sọc màu đỏ, đã bị công an Phan Thiết mời lên làm việc

Trần Bang and 3 others shared a post.
Image may contain: 4 people, people standing
Image may contain: 8 people, people smiling, indoor
Đinh Văn HảiFollow

2 hrsS.O.S

Cecilia Thúy Nguyễn, người đã mặc áo dài màu vàng có điểm ba sọc màu đỏ, đã bị công an Phan Thiết mời lên làm việc vào lúc 2g chiều nay 14/2. Gia đình gọi điện thoại không liên lạc được. Rất mong mọi người quan tâm.
(Fb Lai Nguyễn)

  • Trần Bang shared a post.
    Cecilia Thúy Nguyễn, người đã mặc áo dài màu vàng có điểm ba sọc màu đỏ, đã bị công an Phan Thiết mời lên làm việc vào lúc 2g chiều nay 14/2. Gia đình gọi điện thoại không liên lạc được. Rất mong mọi người quan tâm.

    (Fb Lai Nguyễn)

Tin tức ở Việt Nam

           * Hậu quả của một cơn giận

Cãi nhau, chồng lao xe hơi chở vợ con xuống sông Hoài, 3 người chết

Cãi vã nhau, người chồng tức giận lái xe hơi đang chở vợ và hai con lao thẳng xuống sông Hoài ở thành phố Hội An, khiến 3 người chết. Trong xe hơi lúc này có bốn người gồm hai vợ chồng và hai đứa con. Hai vợ chồng cùng con trai tử vong, riêng bé gái (14 tuổi) biết bơi nên khi xe lao xuống sông đã nhanh chóng thoát ra ngoài, bơi vào bờ kêu cứu.

Hiện trường trục vớt chiếc xe hơi và thi thể các nạn nhân. (Hình: Tuổi Trẻ)

*Giàu có quyền lực cũng đau khổ, thất vọng.

Một phó phòng Ban quản lý khu đô thị mới Thủ Thiêm vừa được phát hiện tử vong sau khi rơi xuống từ tầng 9 tòa nhà trụ sở cơ quan vào sáng 28/1, trong thời gian đang nghỉ phép.

Trong lúc truyền thông trong nước trích dẫn nhận định ban đầu từ Ban quản lý khu đô thị cho rằng có thể cán bộ này tự vẫn vì “áp lực công việc”, các ý kiến trên mạng đang đặt ra nghi ngờ xung quanh cái chết của ông.

Theo tường thuật của Vietnamnet, ông Nguyễn Minh Long, 43 tuổi, Phó phòng Quản lý quy hoạch-kiến trúc của Ban quản lý khu đô thị mới Thủ Thiêm, được phát hiện đã chết sau khi bảo vệ của trụ sở Ban quản lý phát hiện có người rơi từ tầng 9 xuống đất.

https://www.voatiengviet.com/a/pho-phong-ban-quan-ly-thu-thiem-tu-vong-tai-tru-so-trong-thoi-gian-nghi-phep/4761865.html?fbclid=IwAR1jZbgGXAcciFjzLYKgIe7hP4qL1efE6DJcQAkLHmaJXnZrmVLlnMLSEP8

                *Sự tàn bạo, bất nhân

 Người đàn ông nghèo bị đánh chết vì trộm bó anh đào

Nam thanh niên nằm chết bên bó đào ở số A1 – 15 đường An Dương Vương, phường Cốc Lếu, TP Lào Cai khiến dân tình xôn xao.

Theo người chứng kiến, thanh niên ăn trộm một bó anh đào và bình đựng hoa của chủ sạp hoa thì bị phát hiện.

3 người đuổi đánh thanh niên trộm đào. Về sau, một người lấy điếu cày đập vào gáy khiến thanh niên nằm bất động, sau đó họ bỏ đi.

Không chạy kịp, anh ta bị người bán cây đào ném gạch trúng đầu và đánh tử vong tại chỗ.

*Sự vô cảm và bất lực của nhà cầm quyền.

Xã hội Việt Nam bây giờ, sau 43 năm cộng sản cai trị.

Bà cụ 85 tuổi dầm mình dưới biển bán ngao, sò nuôi cháu tâm thần

Báo Nguoi- viet.com

https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/ba-cu-85-tuoi-dam-minh-duoi-bien-ban-ngao-so-nuoi-chau-tam-than/

Khi chờ khách mua sò, cụ Rớt gỡ những sợi dây trôi dạt đem về nhà dùng. (Hình: Thanh Niên)

 

KIÊN GIANG, Việt Nam (NV) – Ngay khu ẩm thực nhộn nhịp nổi tiếng ăn chơi ở cầu cảng Hàm Ninh, huyện Phú Quốc, có một bà cụ 85 tuổi nhưng hằng ngày vẫn phải ngâm mình dưới nước biển để bán ngao, sò nuôi người cháu gái tâm thần 61 tuổi…

Trả lời thắc mắc của báo Thanh Niên tại sao không đem lên trên bờ mà bán để khách dễ mua. Vả lại, dầm mình dưới nước cả ngày như vậy không tốt cho sức khỏe, bà Rớt  giải thích

bà Rớt  giải thích: “Tui già rồi không bưng nổi. Bỏ ngao, sò vô can nhựa này kéo đi dưới nước mới được. Mỗi ngày mua mấy ký sò, ký ngao bán kiếm chút tiền để nuôi con cháu khùng 61 tuổi.”

Bùa ngải trở lại Việt nam

Bùa ngải trở lại Việt nam

Nguyễn thị Cỏ May

Thật vậy vì trong thời gian gần đây, trên nhiều mạng xã hội, bổng xuất hiện thị trường bùa ngải náo nhiệt không thua chợ Trời vùng biên giới . Bùa ngải được quảng cáo rầm rộ là vô cùng linh nghiệm. Tình duyên trắc trở, bị tình phụ, nợ không đòi được, làm ăn thất bại, mua chức, mất tiền mà đợi hoài chưa có kết quả, bệnh tật kéo dài chạy chửa đủ thầy hết thuốc…Còn đợi gì nữa ? Hảy tìm thầy thỉnh bùa, chuộc ngải là mọi chuyện sẽ được giải quyết vô cùng tốt đẹp .

Hìện tượng bùa ngải ở Việt nam ngày nay, không chỉ sôi nổi trên mạng xã hội, chợ thông tin vô thưởng vô phạt, mà cả trên báo Sài gòn Giải phóng, Cơ quan của đảng cộng sản ở Sài gòn (Ngày 29/09/2018) cũng loan tin nhưng không quên thêm câu thiệu «Việc bán bùa ngải và tuyên truyền mê tín dị đoan là hành vi vi phạm pháp luật, gây nhiễu loạn đời sống» .

Trước đây, vào nửa đầu thế kỷ XX, giai đoạn cuối của chế độ thực dân, ở Việt nam, nhứt là ở Nam kỳ, cũng rộ lên những hoạt động bùa, ngải, lên đồng, gồng, …vừa thỏa mản mê tín dân gian, vừa là bình phong cho những hoạt động chống Tây của các các Hội kín .

Cho tới chiến tranh kết thúc, hiện tượng bùa ngải, lên đồng mới tàn lụi .

Loại «khoa học huyền bí» này thật ra không phải chỉ có ở Việt nam vì nước chậm tiến mà ngày nay cũng đầy rẫy ở cả những nước tiên tiến như Pháp và Âu châu . Nó là sản phẩm của con người và xã hội .

Khi nói về bùa ngải ở Việt nam, người ta có nhận xét người Nam giỏi về bùa ngải, người Trung giỏi về thư phù, người Bắc thì giỏi về độc trùng (nuôi thuốc độc). Sự nhận xét này nếu đúng, phải chăng là do hoàn cảnh lịch sử và địa lý ? Người Nam chịu ảnh hưởng của huyền bí Cao Miên và Lào nên sự phát triển về ngãi nghệ cũng do đó mà ra. Người Trung chịu nặng ảnh hưởng của văn hóa và đạo thuật Chiêm Thành nên thịnh về phù thư, ếm đối và người Bắc thì chịu ảnh hưởng nặng của Trung Hoa do gần gủi, nơi xưa kia từ vua quan tới thứ dân chuyên dùng hương mê và thuốc độc để triệt hạ đối thủ .

Nhưng cũng may mắn là số người sử dụng những thứ huyền bí này chỉ là số rất thật ít . Và có sử dụng nhưng sự ứng nghiệm có được như ý mong muốn hay không lại là chuyện khác nữa . Bỡi xưa nay người ta thường nói «Đức trọng quỉ thần kinh» . Hay giử được «Chánh niệm» thì mọi thứ tà đạo đều không thể ảnh hưởng .

Đủ mặt hàng

Cứ lướt một vòng qua các chợ bùa ngải trên mạng, người ta sẽ thấy rất nhiều trang đăng bán bùa ngải, với đủ các loại được giới thiệu quả quyết là có tác dụng thần kỳ không có gì bằng khi muốn nhờ giúp giải quyết thuận lợi tình duyên, kinh doanh . Đặc biệt có nhiều loại có thể sai khiến người khác hành động theo lời mình, hoặc làm cho đối phương tán gia bại sản, hay đem lại may mắn tiền vào như nước… Chưa biết sự lợi hại thật sự như thế nào nhưng thực tế đã có không ít người, đang trong hoàn cảnh bức bách hay vì lòng tham thúc đẩy, đã dám bỏ ra số tiền lớn để mua về sử dụng .

Hể có người bán thì có người mua . Đã bảo là chợ mà !

Cách thức mua bán cũng rất đơn giản . Giá cả hoàn toàn phụ thuộc theo độ linh ứng của bùa . Bùa mắc tiền dĩ nhiên phải mạnh hơn bùa rẻ tiền .

Mua bán tuy nói là chợ nhưng chỉ diển ra trên mạng . Chợ trên mạng . Sau khi giá cả ngã ngũ qua thương lượng bằng điện thoại, hàng sẽ được giao tận nhà bằng đường bưu điện . Cách quảng cáo bán hàng cũng vô cùng hiện đại . Họ đưa ra nhiều người đã xài bùa rồi, nói cho biết kết quả, làm nhân chứng . Chưa đủ thuyết phục những người khó tánh, họ vận dụng cả kỷ thuật livestream giới thiệu khách hàng đã hài lòng và cả thầy bùa đang luyện bùa . Cho sống động hơn . Ai coi mà không tin?

Giá của một đạo bùa ? Từ 5 triệu đồng tới 10 triệu và 20 triệu đồng nữa . Bùa của Việt nam rẻ hơn bùa Thái lan . Hàng nội dĩ nhiên giá rẻ hơn hàng nhập . Qui luật thị trường nước ta mà .

Chế độ cộng sản phủ nhận mọi sanh hoạt tâm linh, cả tôn giáo còn bị lên án là thuốc phiện . Thế mà sau hơn nửa thế kỷ cai trị Miền Bắc và gần 50 năm ở Miền Nam, ngày nay bùa ngải lại xuất hiện trở lại, với mức độ ồ ạc phi thường . Đặc biệt hơn, giới trẻ tin tưởng mạnh ở quyền lực bùa ngải, rất nhiều người mua về xài . Chợ bùa ngải đang phát đạt . Người buôn bán bùa ngải đang ăn nên làm ra.

Tìm hiểu đôi chút về chợ bùa ngải

Nhiều người đều nghe nói về bùa ngải . Công dụng của bùa ngải là đem lại  lợi lạc cho người sử dụng hoặc điều xấu cho người bị ám hại .

Tuy sản phẩm có nhiều nhản hiệu khác nhau, có thứ nội hóa (thứ lô-can), có thứ nhập ngoại nhưng tựu trung đó đều là thứ pháp thuật sai khiến theo ý muốn nhằm đạt mục đích của người sử dụng . Nên có thể nói bùa ngải tự nó không có «tốt» hay «xấu», «lành» hay «dữ» mà hoàn toàn do lòng người thiện hay ác khi sử dụng mà thôi .

Mời bạn đọc theo chơn nhà báo của báo Dòng Đời (Em Đẹp, 26/01/2016, internet) viếng một thầy bùa tại nhà riêng của ông ở Quận Bình Thạnh để có vài ý niệm về người của bùa ngải . Đặc biệt ông thầy bùa này là một người có bằng cấp Cử nhơn Luật, năm nay hơn bốn mươi tuổi, không làm ăn theo sự hiểu biết của mình mà chuyên tâm học hỏi, nghiên cứu bùa ngải . Điều này cho thấy ông khác hơn nhiều thầy bùa khác phần đông đều học ít, thích làm thầy vì sướng hơn làm việc khác . Ông ở đây một mình vì gia đình ở nước ngoài .

Căn nhà của ông khá rộng nhưng thường cửa  đóng then gài . Bên trong, ông để rìêng một căn phòng làm nơi làm việc, đèn nhang nghi ngút . Dụng cụ làm việc của ông trên bàn là giấy, viết và mực . Trên tường treo đầy hình ảnh các Tổ sư bùa ngải của Tàu, Thái, Ấn độ, …Theo ông, ngoài bùa ngải, còn có nhiều pháp thuật khác như thần thông, thôi miên, nham độn, …

Bùa ngải và các pháp thuật liên hệ, theo ông, có lịch sử lâu đời, ít nhứt phải từ 8000 năm . Nó gần gửi với sanh hoạt con người và tôn giáo .

Ở Việt nam có nhiều thứ pháp thuật bản địa hoặc du nhập . Như trường phái xuất phát từ các dòng Nam Tông (Ấn độ, Thái lan, Miến điện, Cao miên, Lèo, …), hoặc dòng Tiên Đạo (Tàu, Tây tạng, …) và bản địa như từ người Thượng ( người Mường) . Mỗi thứ có cái hay, có mặt yếu nhưng đều vận dụng để chửa bệnh cứu người, chớ không để ám hại người cho những mục đích mờ ám như thưòng xảy ra .

Người làm bùa ngải hay pháp thuật với mục đích hại người đã phạm vào đại kỵ và quả báo rất lớn . Như trường hợp một thầy bùa ở Tây Ninh chuyên ếm bùa hại người theo yêu cầu . Ông này sống đến 60 tuổi thì bị điên rồi chết. Con cháu ông không hiểu vì sao đều bị điên cùng lúc. Thầy khẳng định việc trả giá như vậy trong huyền giới không hiếm.

Có những dòng huyền thuật hơn 2.000 năm vẫn báo ứng, nhiều thế hệ “chịu tội” là chuyện bình thường. “Đáng buồn là cuộc sống càng phát triển, dục vọng con người càng lớn. Thầy bùa hoạt động công khai, nhiều người chỉ học lỏm được ít kỹ năng đã xưng thầy và hành nghề”.

Ông kể có người bạn chuyên vẽ bùa ở Sài Gòn, khách đông đến nỗi mỗi ngày ông “vẽ bùa” gần 10 tiếng đồng hồ. Mỗi khách như vậy lại “cúng tổ” ít nhất 100 ngàn đồng. Mỗi ngày ông này thu nhập trên dưới 10 triệu đồng. “Nghề” thầy bùa hấp dẫn đến mức con trai ông đang là sinh viên đại học cũng nghỉ ngang, theo cha học lóm 3 năm và đến nay cũng đang vẽ bùa để làm giàu.

Để minh chứng cho “đẳng cấp” thu nhập thầy bùa, ông «Thầy bùa Cử nhơn Luật» dẫn nhà báo Dòng Đời đi gặp pháp sư N., một thầy có tiếng cao tay nghề ở Sài Gòn . Trước khi đi, ông dặn kỹ không được quay phim hay ghi âm và không được nêu danh ông thầy này vì để tránh phiền phức (làm lén, ổng biết được sẽ ếm bùa làm hại ?). Nhà thầy N. nằm sâu trong một con hẻm ngoằn nghoèo ở Quận Bình Thạnh . Căn nhà được canh gác cẩn mật, vòng trong vòng ngoài cả chục người và thường xuyên đổi địa điểm để tránh bị phát hiện. Phòng khách nhà thầy N. dù còn sớm đã có vài chục người ngồi chờ . Những người đến xin bùa phép đều ăn mặc sang trọng, có cả nhiều cô gái trẻ xinh đẹp.

Theo “giá cả” mà mọi người dặn nhau, vào diện kiến thầy N. thì ít lắm cũng phải “đặt tổ” 500.000 đồng mới xứng với tên tuổi của thầy . Vì vậy, thu nhập của thầy N. mỗi ngày vài chục triệu, thuộc loại «đỉnh» của giới thầy bùa.

Khách xin bùa đều thuộc giới giàu có . Các cô xinh đẹp tới xin bùa yêu để ếm các đại gia. Nghe đâu trong giới đại gia cũng có lắm người là thân chủ trung thành của thầy .

Thầy bùa Cử nhơn Luật cho biết hiện tại có rất nhiều người xưng pháp sư, quảng cáo tràn lan, công khai trên mạng. Nhưng để học được huyền thuật, phải có duyên, người không được chọn thì suốt đời không học được. Tùy vào dòng phái mà thời gian cảm thụ huyền pháp dài hay ngắn. Ít nhất cũng phải mất 5 năm tu luyện khổ cực .

Chính ông dù chưa ở ngưỡng giới cao nhứt nhưng để duy trì pháp lực, một năm phải mất một trăm ngày luyện công. Mỗi lần như vậy phải giử trai giới, ở một mình trong phòng, cắt hết liên lạc với thế giới bên ngoài. Phải làm như vậy thì huyền lực mới thẩm thấu, mới lưu giữ được.

Làm pháp sư phải chịu gian khổ . Việt Nam hiện có 200 pháp sư . Nếu nói đạt đến bực cao thủ thì chỉ có 3 người. “Muốn đi đến bực Thầy thật sự, bực chơn sư, thì không thể dùng huyền thuật mưu sinh hay làm giàu”. Hiện nay, chính người cho bùa chú cũng không hiểu mục đích chơn truyền của huyền thuật. Còn người ham mê bùa chú thì tin mù quáng nên chợ bùa nhờ đó mới nở rộ.

Bùa ngải

Theo thói quen, người ta thường nói chung thành một danh từ ghép «bùa ngải» . Thật ra «bùa» và «ngải» là 2 thứ hoàn toàn khác nhau tuy mục đích sử dụng không khác nhau .

Bùa là ký tự viết hay vẽ trên gìấy, trên một mặt phẳng nào đó để «ếm», tạo chuyện lành hay chuyện dữ . Vì là ký tự nên chữ bùa không đọc được . Thầy bùa chỉ nhớ tự dạng mà biết đó là loại bùa xài cho mục đích gì . Khi trẻ con mới tập viết, thường chúng viết chữ nghuệch ngoạc, bị rầy là «viết như vẽ bùa» !

Nhưng nếu bùa chỉ là những chữ lăng quăng thì sẽ không có nghĩa gì hết . Nó phài có một sức mạnh để nó sai khiến . Nên bùa là những ký tự sai khiến nhằm đạt mục đích mong muốn . Như vậy, thầy bùa phải luyện bùa . Bằng nhiều cách . Điều kiện là chổ yên tịnh, sạch sẻ, ngồi tập trung tư tưởng vào chữ bùa vừa hiện trong đầu . Giử như vậy, đầu óc không xao lảng, càng lâu, càng vững, càng tốt, rồi nuốt chữ bùa vào bụng . Giai đoạn kế, người luyện tập tiếp tục với tư thế ngồi nhìn mặt trăng, rồi nhìn mặt trời, hình dung chữa bùa, hít hơi dài và nuốt vào bụng . Sau cùng, nhìn ánh chớp khi Trời chuyển mưa, trong trí vẻ mau chữ bùa và nuốt vào . Tới đây là đạt được nội lực cao rồi, có thể vận dụng bùa theo ý muốn của mình được . Để giử cho bùa linh ứng, thầy bùa phải năng luyện tập . Và giử nhiều kiêng cử . Như thầy tu giử giới luật . Đúng là «Văn ôn, võ luyện» . Nếu không thì bùa chỉ còn là hình vẽ mà thôi .

   Bùa yêu (tặng ai thât tình hoặc muốn có bồ)

Ở Nam kỳ, vào tiền bán thế kỷ trước, bùa Lỗ Bang thịnh hành nhứt . Là bùa của thợ mộc . Lỗ Bang là ông Tổ của thợ mộc . Thợ mộc cất nhà là phải ếm chủ nhà . Tùy theo sự đối sử của chủ nhà mà ếm nặng hay nhẹ . Nặng là gia chủ làm ăn ngày càng suy sụp, bệnh hoạn, có khi mất mạng vì tai nạn . Nhẹ là chỉ gây xáo trộn trong nhà . Như ếm ở cửa giữa nhà trên và nhà sau . Khi con dâu đi qua cửa thì vổ vào cửa và cười mấy tiếng, làm cho bà mẹ chồng nổi giận vì cho rằng con nhỏ này sao cứ giởn hoài, không giử gìn ý tứ của đàn bà con gái .

Xin kể lại trường hợp của chính tác giả . Đúng vậy . Nhà của Cỏ May ở nhà quê trước kia bị thợ mộc ếm bùa lỗ bang trên đầu cây cột cái, tức hàng cột chánh giữa nhà . Tôi còn nhớ nghe ba tôi nói chuyện lại . Hôm sáng dựng đòn vong, vào đúng giờ tốt được chọn lựa, má tôi sửa soạn một mâm cơm cúng đất đai . Thợ chánh leo lên để điều khìển đưa cột kèo, đòn vong, … Gia chủ cũng leo lên đở cây đòn vong, gác lên, một cử chỉ biểu hiện uy quyền chủ nhà . Nhưng đúng vào lúc đó, người thợ chánh không bước lên thang được, và miệng lại ú ớ không ra lệnh được . Thợ phụ làm theo tay chỉ trỏ của thợ chánh . Sườn nhà vẫn được dựng lên đàng hoàng .

Nhà cất xong . Cả nhà sống trong nhà mới .

Cứ đến tối, sau khi tắc đèn, thì ở chưn cột cái liền với vách, phát ra tiếng gỏ cộp… cộp … . Ba tôi ngồi dậy, thắp đèn, thì tiếng động hết . Tắc đèn, nằm trở lại, thì tiếng cộp cộp lại vang trở lại .

Sáng ra, ba tôi tìm kiếm chung quanh gốc cột, xới đất bên ngoài coi có con gì ẩn núp không, thì không thấy có gì hết . Dỉ nhiên ba tôi cũng rước thấy bùa, thầy ngải, ếm, cúng kiến nhưng vẫn không hết .

Một hôm, ba tôi lên Chợ lớn, vùng Phú thọ, thăm Tổ đình, nơi thờ ông thầy bùa mà ba tôi trước đó có theo học tuy ông là y tá học ở nhà thương Chợ Rẩy . Vừa bước vào, người học trò giừ đền, úng khẩu, nói với ba tôi “Hôm lên đòn vong nhà mầy, thằng thợ chánh muốn leo lên ếm trên đầu cột cái, ếm nặng hại mầy . Thấy vậy, tao bóp họng nó, không cho nó leo lên . Nó ếm dưới chưn cột . Nó lấy cây đinh, xỉa răng chảy máu, vẻ bùa ở dưới chưn cột . Cứ để đó, lâu ngày, nó hết . Không hại gì đâu . Nó sợ nên không dám làm ác” .

Thợ mộc ở Cần đước (Quận của tỉnh Chợ lớn thời đó, sau này thuộc tỉnh Long an) có tiếng thợ giỏi . Ghe Cần đước nổi tiếng ghe đẹp . Và ở đây cũng là xứ sở của bùa Lỗ bang .

Thầy bùa Lỗ Bang cao thắp là do công phu luyện tập . Chuyện khá ly kỳ xảy ra ở Cần đước . Một gia đình làm ăn khá giả, cất nhà mới . Rước thợ tới cất nhà . Việc làm phải mất nhiều tháng, có khi cả năm . Gia chủ có trách nhiệm nuôi ăn, nuôi ở cho ê-kiếp thợ . Thường gia chủ rất mực hầu hạ thợ mộc để tránh mích lòng, sanh ra “chuyện không hay” sau này . Thế mà nhà cất xong, gia chủ vẫn bị ếm nặng . Việc làm ăn gặp rủi nhiều hơn may . Ông chủ nhà bị bệnh liên miên . Người xuống sắc, trông phờ phạt . Một hôm đi trên lề đường liên tỉnh (Cần đước đi Gò công), bổng ông băng qua lộ trong lúc xe đò chạy tới . Ông bị xe đụng, té xuống đường nhưng may mà tánh mạng an toàn .

Có lẽ do chuyện ở nhà làm tinh thần của ông bị khủng hoảng trầm trọng mà ông trở thành như người mất trí . Cứ tối, sau khi tắc đèn đi ngủ, chỉ còn để trên bàn thờ ngọn đèn nhỏ, ai còn thức, sẽ thấy thằng nhỏ từ trên đầu cột cái, tuột xuống gần tới đất thì mất .

Cả nhà phải rút vào một phòng cho khỏi sợ .

Nghe tiếng ông Hương thân Lịch ở làng Vỉnh thanh, Cần giuộc, là thầy bùa giỏi . Ông chủ nhà tới rước thầy giải bùa cứu giúp . Nghe chuyện, ông Hương thân Lịch bảo ông về mời ông thợ mộc tới ăn cơm và báo tin để ông cũng tới gặp ông thợ mộc . Tại bửa cơm, ông Hương thân Lịch bảo ông thợ mộc ếm như vậy lá quá nặng trong khi gia chủ ăn ở biết điều với mình . Thôi, tới nay, như vậy cũng đã quá lắm rồi . Hảy giải cho người ta đi .

Ông thợ mộc chối, bảo ông có ếm gì đâu . Ông Hương thân Lịch nghiêm mặt “ Nếu ông không làm, để tôi làm, thì có hại cho ông . Chắc ông biết điều đó mà ?

Ông thợ mộc vẫn chối .

Ông Hương thân Lịch bèn lột cái khăng đỏ đội trên đầu, thắc làm một hình nộm như con chuột, bước tới cây cột, hất tay một cái, con chuột phóng lên đầu cột .

Mọi người đang ngồi đó đều xanh mặt . Dỉ nhiên có cả ông thợ mộc .

Tới lúc này, ông thợ mộc mới chịu giải bùa . Ông mượn thang, leo lên đầu cột, gởi ra đồng tiền có hình người, bỏ túi .

Mọi người, ai cũng thở ra nhẹ nhỏm . Ông Hương thân tỏ ra vui vẻ với ông thợ mộc .

Từ đó, gia đình ông chủ nhà trở lại bình thường .

Ngải là thảo mộc . Nó là loại củ . Ngải trở thành linh nghiệm cũng do người ta đem vào nó sức mạnh tinh thần để sai khiến theo ý của người luyện ngải . Giống như với bùa . Nhưng với Ngải, ngưòi ta nói là «nuôi ngải» . Tức người luyện ngải là sống với ngải . Cho ngải ăn uống, nói chuyện với nó . Nuôi ngải bằng máu tươi của người chủ ngải, và bằng gà, hay một con vật sống, .. . Nghe nói tới ngày cho ngải ăn, người ta đem con gà buộc vào chổ trồng ngải . Chỉ trong một chốc lác, bổng nghe con gà kêu lên . Sau đó, tới coi, chỉ thấy một nhóm lông gà .

                   

  1 giống Ngải mã-lai

Nhưng ông Hương thân Lịch thì cắt nghĩa ngải đơn giản hơn . Ông chỉ mấy chậu kiểng trước nhà và bảo «Đó, ngải của tôi đó» . Bên cạnh, ông có giăng cái vỏng .

Ông nói tiếp «Muốn biết ngải linh hay không, lên năm vỏng, thì biết» .

Có người lên vỏng nằm thử . Vừa nằm gọn trong vỏng, chỉ vài phút sau là buồn ngủ và nhắm mắt lại ngủ . Nhưng chỉ kịp ngủ là bị té xuống đất . Thử vài lần, cũng đều bị như vậy .

Ông Hương thân nói rỏ hơn ngải là bất kỳ cây, cỏ, bông hoa gì cũng đều được . Nó trở thành ngải linh là do mình sai khiến nó làm theo ý của mình (Muốn biết chuyện bùa ngải ở Nam kỳ, coi Sociétés secrètes en Terre d’Annam, luận án Tiến sĩ Văn chương của Georges Coulet, in ở Sài gòn, 1926, Giáo sư dạy ở P. Ký trong những năm 1930) .

Sau này, ông tu theo đạo Cao Đài và nơi ông ở, cất lại, thành Thánh thất Vĩnh thanh . Ngày nay chắc còn .

Bùa ngải và Phan Xích Long Hoàng đế

Bùa ngải ở xứ Nam kỳ vào đầu thế kỷ XX là một thứ quyền lực giúp kẻ yếu chống lại kẻ mạnh . Phan Xích Long và đảng của ông tập luyện bùa ngải làm thứ võ khí vừa hộ thân, vừa chống thực dân pháp bênh vực người dân bị ức hiếp .

Lúc bấy giờ, Thiên Địa Hội theo chơn người Minh Hương qua Việt nam nhưng Thiên Địa Hội đó là tổ chức của người Minh Hương mưu cầu phản Thanh phục Minh . Nhưng cho tới đầu thế kỷ XX, họ vẫn chưa làm được việc gì ngoài việc cướp bốc, bảo vệ những sòng bạc, …

Theo cách tổ chức hội kín, người Việt nam cũng tổ chức Thiên Địa Hội, qui tụ những người Việt nam yêu nước chờ cơ hội đánh Tây, cướp chánh quyền .

Cho tới năm 1912-1913, thanh niên Phan Xíxh Long ở Chợ Lớn, mới 20 tuổi, học hành ít nhưng có chí lớn, tự xưng Đông cung Thái tử, con vua Hàm Nghi, nhà vua yêu nước, rồi xưng Hoàng đế để lãnh đạo phong trào Thiên Địa Hội nổi lên đánh Pháp.

Ông có tên thật là Phan Phát Sanh, tự Lạc, sinh năm Quý Tị (1893), con trai của Phan Núi làm nghề cảnh sát cho Pháp ở Chợ Lớn. Ông làm bồi cho Tây, rồi bỏ việc . Sau khi xưng Hoàng Đế, ông tự sắm áo mão, dây đai vàng, và lập đảng kín, tuyển mộ người, chế tạo súng, bôm, rồi kêu gọi dân chúng cùng nổi dậy chống Pháp. Nhiều người biết chuyện, không ai dám tin việc làm của ông là thiệt. Nhưng ông lại cho mình có số mệnh Thiên Tử, có bùa phép không sợ súng đạn, có thể thắng được Pháp để cứu nước thoát khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp .

Phan Xích Long cũng đưa ra tuyên cáo “Phản Pháp phục Nam” như Nghĩa Hòa Đoàn của người Trung Hoa “Phản Thanh phục Minh”. Từ đây người Việt nam bắt đầu ủng hộ ông .

Thấy lực lượng của mình với 300 người như vậy đã đủ sức đánh Tây, Phan Xích Long đưa ra tuyên cáo đêm 28 tháng 3 năm 1913, toàn dân Việt nam sẽ nổi lên chống Pháp. Vì vậy, đêm 28 tháng 3 hàng trăm người từ Mỹ tho, Tân an, Cần giuộc, Cần đước, Gò công, Chợ lớn, kéo nhau lên Sài Gòn. Họ đều chít khăn trắng, mặc áo trắng không cổ, tay cầm kiếm gổ, gậy, tầm vông, đao, búa… tiến vào trung tâm Sài Gòn. Nhưng vì bọn mật thám biết trước nên cuộc xuất phát mới bắt đầu từ Chợ Lớn đã bị lính Pháp tới bao vây bắt trọn và dẹp tan.

Phan Xích Long bị Pháp bắt tại Phan Thiết trước đó hai ngày. Nhưng nhiều hội viên của Thiên Địa Hội lẩn trốn được nên tiếp tục hoạt động lẻ tẻ ở nhiều tỉnh miền Tây, miền Đông Nam Kỳ.  

                                                                               

 Phan Xích Long bị giải về Sài Gòn, đưa ra Tòa xét xử chung với 111 người khác cùng đảng . Ông và 5 người nữa bị án chung thân.

Trước tòa, Phan Xích Long dám nói: ông chống đối chính sách thuế khóa nặng nề của người Pháp và đặt những trái bom trong thành phố là để hăm dọa người Pháp, để mong người Pháp giảm thuế cho dân. Và cách chế tạo mấy quả bom là học được ở bên Xiêm-la (Thái Lan) . Phan Xích Long vẫn giữ được tinh thần vững chắc, trả lời với tòa rằng ông xem thường cái chết “sẵn sàng chết vì nước và muốn được xử tử”.

 

Phan Xích Long đặt cơ sở đầu tiên trên đất Cao Miên tại Cần Vọt, cất ngôi chùa do tiền lạc quyên để làm nơi tụ họp. Trước đây, vùng Cần Vọt (Kampot) được xem là nơi trú ngụ lý tưởng của những chiến sĩ Cần Vương sau khi phong trào ở làng An Định (núi Tượng) thất bại, dân làng bị tống xuất về quê cũ.

y chém trong Khám

Sau khi xử vụ Phan Xích Long ở phiên tòa Đại hình, người Pháp coi như Thiên Địa Hội là rắn mất đầu, vì một số tay chân của Phan Xích Long đã bị xử tử, còn Phan Xích Long thì bị giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Song, một số dư đảng của Thiên Địa Hội vẫn còn lẩn trốn, Pháp chưa bắt hết được.

Bốn năm sau, nhơn Pháp bị thua ở Đệ I Thế chiến, dư đảng của Thiên Địa Hội liền qui tụ những đảng viên còn lại chuẩn bị một cuộc nổi loạn tại Sài Gòn, dự trù vào đêm 12 tháng giêng Âm lịch, để giải thoát “Hoàng đế” Phan Xích Long khỏi Khám Lớn . Ngay chiều ngày 11 tháng Giêng, ở dưới chân cầu Móng Khánh Hội đã có nhiều ghe thuyền từ lục tỉnh kéo lên đậu sẵn ở đó. Đúng 3 giờ đêm thì họ khởi sự. Các đảng viên Thiên Địa Hội từ ghe thuyền lên bờ, người nào cổ cũng đeo bùa phù hộ, súng bắn không chết, tay cầm kiếm gổ, dao, rựa, tầm vông… kéo vào trung tâm Sài Gòn, hướng về Khám Lớn .

Khi đoàn người đến gần Khám Lớn để xông vào phá khám, bị lính Pháp bắn chết 2 người. Tuy họ cũng gây thương tích cho một vài lính pháp nhưng sau cùng, tất cả đều thoát chạy về hướng Chợ lớn .

Ngày xưa, dân chúng dùng bùa ngải làm sức mạnh chống lại thực dân đô hộ để giành độc lập . Trong tay không ai có tất sắt làm võ khí . Ngày nay, dân chúng ở Việt nam chạy theo bùa ngải để mưu cầu quyền lợi cho bản thân bỡi họ không thể tin tưỏng ở luật pháp hay sự công bằng xã hội . Bùa ngải vì thế cũng không còn là thần quyền, mà trở thành thứ tà quyền – như đảng cộng sản và Nhà nước hán ngụy ở hà nội – và được rao bán trên thị trường bùa ngải .

Nguyễn thị Cỏ May

Vương Văn Hùng là cháu nội cán bộ công an cấp cao của tỉnh Lai Châu (cũ) đã nghỉ hưu.

Vương Văn Hùng là cháu nội cán bộ công an cấp cao của tỉnh Lai Châu (cũ) đã nghỉ hưu.

Theo thông tin riêng của Dân Viêt , Vương Văn Hùng là con trai lớn của ông N.T.Th (trú tại khối Xuân Thủy, thị trấn Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên). Ông Th là con trai của một cán bộ công an cao cấp của tỉnh Lai Châu (cũ) đã nghỉ hưu. Như vậy Vương Văn Hùng là cháu nội cán bộ công an cấp cao của tỉnh Lai Châu (cũ) đã nghỉ hưu.

DANVIET.VN
Vương Văn Hùng là cháu nội cán bộ công an cấp cao của tỉnh Lai Châu (cũ) đã nghỉ hưu.

600.000 quân Trung Quốc được huy động để thực hiện một cuộc phá hoại rộng lớn trên đất Việt Nam. Mọi chuyện không như ý muốn của kẻ thù

600.000 quân Trung Quốc được huy động để thực hiện một cuộc phá hoại rộng lớn trên đất Việt Nam. Mọi chuyện không như ý muốn của kẻ thù.

***

Nhiều năm sau này, người trong vùng vẫn kể về cái đêm con trai cô Dén chết. Đoàn người sơ tán từ thị xã Cao Bằng, lần rừng về cầu Tài Hồ Sìn, tìm đường xuôi về Bắc Kạn, Thái Nguyên, những vùng chiến sự chưa lan tới. Gặp một trại lính Trung Quốc, đoàn người bấm nhau đi thật khẽ. Đúng lúc, từ phía nhà cô Dén có tiếng ọ ọe của trẻ con. Thằng bé bú no nê và được ủ ấm, đã thức giấc. Cô Dén loay hoay tìm cách để nó thôi khóc.

Ai nấy nín thở, đã có tiếng thì thào gắt gỏng. Dưới áp lực sống của hàng trăm con người, người mẹ đã bịt chặt miệng con để nó không còn phát ra tiếng kêu nữa. Thằng bé càng giãy, mẹ nó càng bịt chặt. Đoàn người vượt qua bản, thằng bé cũng không còn thở nữa. Nó mới hai tháng tuổi.

Người mẹ ôm chặt con không nấc lên được tiếng nào. Một ngôi mộ cỏn con được đắp vội bên đường. Những bước chân nặng nề bước tiếp.

Đó là một khung cảnh biên giới phía Bắc Việt Nam tháng 2 năm 1979, nơi Đặng Tiểu Bình tuyên bố đang tìm kiếm “sự bình yên nơi biên viễn”.

Ngày 2 tháng 2 năm 1979, trên khán đài một buổi đua ngựa ở bang Texas, Mỹ, một người đàn ông châu Á thấp bé mặc bộ đồ Tôn Trung Sơn tối màu tay giơ chiếc mũ cao bồi, cười tươi. Khoảnh khắc đó, được các hãng thông tấn khắp thế giới truyền tải, trở thành một biểu tượng ngoại giao. Người đàn ông đó là Đặng Tiểu Bình, Phó thủ tướng Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

27 ngày sau khi quan hệ ngoại giao Mỹ-Trung được ký kết, 28 tháng 1 năm 1979, chiếc Boeing 707 từ Bắc Kinh cất cánh, nhắm hướng Washington. Đặng Tiểu Bình bắt đầu chuyến thăm chính thức nước Mỹ.

Trong tiệc chiêu đãi cùng ngày, Đặng yêu cầu một cuộc gặp riêng với Tổng thống Jimmy Carter về vấn đề Việt Nam. Yêu cầu của Đặng được thực hiện ngay hôm sau. Hai mươi vị lãnh đạo đôi bên dành tròn 7 tiếng cho cuộc hội đàm, từ 10 giờ 40 đến 17 giờ 40.

Đặng Tiểu Bình và Jimmy Carter tháng 1/1979. Ảnh: UPI.

Trong sáu tiếng đầu tiên, Đặng nhấn mạnh về “chủ nghĩa bá quyền của Liên Xô”, cảnh báo “nguy cơ chiến tranh bắt đầu từ Liên Xô”, “Mỹ chưa chống trả Liên Xô thỏa đáng”; “Mỹ và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng trong cuộc chiến này”.

Bàn đến Việt Nam, Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đề nghị chuyển địa điểm sang phòng Bầu Dục. Cuộc họp rút xuống chỉ còn 8 người. Đặng Tiểu Bình đề cập đến “Việt Nam xâm lược Campuchia” để tiếp tay cho ý đồ bá chủ của Liên Xô. “Campuchia hy vọng Trung Quốc giúp đỡ, nhưng chúng tôi quá hiền lành”.

Ngày hôm sau, Việt Nam tiếp tục là chủ đề chính của cuộc hội đàm, lần này, của riêng Đặng và Carter. Trong biên bản cuộc họp có trích một phát biểu của Đặng: “Trung Quốc phải dạy Việt Nam một bài học”.

Jimmy Carter gọi ý định của Đặng là một “serious mistake”- sai lầm nghiêm trọng và từ chối giúp đỡ. Tổng thống Mỹ đích thân đọc một lá thư tay, nêu 8 lý do tại sao Trung Quốc không nên tấn công Việt Nam tại thời điểm này. Trong đó có “ảnh hưởng đến hình ảnh về một Cộng hòa nhân dân Trung Hoa yêu chuộng hòa bình”.

Đặng trả lời: “Cuộc chiến sẽ giới hạn trong quy mô nhỏ. Chúng tôi chỉ tìm kiếm một sự bình yên nơi biên viễn”.

2019: Việt Nam sẽ đưa 120.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài     

Thay vì tạo công việc làm cho nhân dân trong nước, đồng thời xuất khẩu hàng hóa để mang ngoại tệ về cho quốc gia.

Nhưng chế độ chỉ biết buôn người, mang con dân Việt bán ra thế giới để làm thân nô lệ lấy tiền nuôi báo cô “bộ máy kềm kẹp” bất nhân, tàn độc!!!
************

2019: Việt Nam sẽ đưa 120.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài

Năm 2019, Việt Nam đặt mục tiêu đưa 120.000 người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, nhắm vào các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Romania và Bulgaria.

Trang tin Novinite hôm 12/2 dẫn thông tin vừa nói từ TTXVN.

Theo lời của ông Nguyễn Gia Liêm, Phó Cục trưởng Quản lý Lao động Ngoài nước thuộc Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, nhiều nước Đông Âu quan tâm đến lao động Việt Nam. Cùng với các thị trường truyền thống, hàng trăm ngàn việc làm có sẵn cho người Việt Nam ở Châu Âu nhờ các thỏa thuận hợp tác lao động được ký kết vào cuối năm 2018.

Cũng theo ông Liêm, Bulgaria cần 50.000 công nhân Việt Nam trong ngành xây dựng, quần áo và dệt may, nông nghiệp công nghệ cao và dịch vụ y tế.

Số lượng lao động Việt Nam ở nước ngoài đã tăng lên tới 142.860 trong năm 2018, cao hơn khoảng 30% so với mục tiêu hàng năm. Theo dữ liệu từ Cục quản lý lao động ngoài nước, năm 2018 là năm thứ 5 liên tiếp khi số lượng lao động Việt Nam gửi ra nước ngoài vượt hơn100.000 người.

Nhật Bản vẫn là thị trường lao động nước ngoài lớn nhất đối với người Việt Nam với 68.737 lao động, tiếp theo là Đài Loan 60.369 lao động và Hàn Quốc là 6.538 lao động.

Một trong những động lực chính giúp Việt Nam phát triển như một trong những nền kinh tế mới nổi hàng đầu thế giới là sự phát triển của ngành sản xuất. Hiện ngành này đóng góp vào GDP của Việt Nam rất lớn, ngoài ra lĩnh vực này tiếp tục đạt mức tăng trưởng đáng kể khi Việt Nam giữ vững vị thế là một trung tâm sản xuất chi phí thấp trên toàn cầu.

Chết vào tay Trung Quốc?

Chết vào tay Trung Quốc?

From: lucie1937

Tác giả:Nguyễn Văn Lục Nguồn:Đàn Chim Việt Ngày đăng: 2019-02-11

Gần đây sôi nổi vụ tình báo gián điệp Trung Quốc của công ty Huawei với bà Mạnh Vãn Chu phải ra hầu tòa. Bộ tư pháp Mỹ đã đưa ra hơn 10 chứng cớ buộc tội bà Mạnh Vãn Chu và công ty của bà. Xem ra nó có vẻ mới mẻ như một vụ xi căng đan lớn?

Tập Cận Bình lãnh tụ của Trung Cộng.

Thật ra, người hiểu chuyện xứ Tầu trong việc làm ăn, giao thiệp cho dù tầm cỡ quốc tế đi nữa thì có bao giờ nước Tầu tôn trọng luật lệ và làm ăn sòng phẳng đâu! Chủ nghĩa thực dụng với tích lũy kinh nghiệm buôn bán kế thừa từ đời nọ sang đời kia cho phép các nhà buôn Tầu làm ăn phát đạt. Phi thương bất phú. Đúng như thế. Nhưng làm giàu bằng cách nào là một chuyện khác.

Chỉ biết rằng ngày nay nước Tầu đang phát triển vào bậc nhất. Nhưng nạn nhân cũng chính là họ. Nạn nhân ấy là Môi trường. 20 thành phố ô nhiễm nhất thế giới thì riêng nước Tầu chiếm đến 16 thành phố. Giàu bất chính nên 2/3 những thương gia giàu có ở nước này đều co giấy xuất cảnh đi nước ngoài. Cho nên, chỉ cần một biến cố nhỏ đụng chạm đến quyền lợi, họ rụng như lá.

Thế giới nay kinh ngạc, hoảng sợ trước sức mạnh kinh tế của Tầu. Cũng đúng. Nhưng người ta quên rằng hơn ai hết người Tầu sợ chính họ. Có thể chỉ các doanh nhân và các công ty lớn của Mỹ đụng chạm với thực tế họ hiểu rõ điều này hơn ai hết.

 *    *    *     *

Nguyên nhân nào đã giúp nước Tầu vươn lên hàng cường quốc

Điểm quan trọng mà người viết muốn lưu ý bạn đọc là: Hầu như các tác giả Mỹ cũng như Tây Âu ít chú trọng đến biến cố “bắt tay” giữa Mao Trạch Đông và TT Nixon.

[DCVOnline: Truy cập bằng Google search người đọc sẽ có khoảng hơn 2 triệu kết quả từ những bài báo, luận văn nghiên cứu cho đến sách bằng Anh ngữ viết về “Mao và Nixon”; ví dụ “Sino-American Relations and Détente: Nixon, Kissinger, Mao and the One-China Policy, with special reference to Taiwan” (Luận án 2008) của Chun Yen Hsu (Chris); “Seize the Hour – When Nixon Met Mao” của Margaret MacMillan, “Ping-Pong Diplomacy: The Secret History Behind the Game that Changed the World” của Nicholas Griffin, “Nixon’s” Women: Gender Politics and Cultural Representation in Act 2 of “Nixon in China”, của Matthew Daines đăng trên The Musical Quarterly Vol. 79, No. 1 (Spring, 1995), pp. 6-34, và vô số những tác phẩm khác.]

Cho đến năm 1970, ai muốn có chiếu khán vào nước Tầu thì phải xin chiếu khán ấy qua tòa đại sứ Canada ở Ottawa. Nước Tầu lúc đó bị cô lập, không có chân trong LHQ cũng như Việt Nam.

Nếu không có cú bắt tay này liệu Trung Quốc có thể dễ dàng ra vào nước Mỹ, lợi dụng xuất cảng ồ ạt, ăn cắp kỹ thuật, gửi sinh viên đi du học, ngay cả chi phối cuộc bầu cử của TT. Clinton.

Đây là một trong những bằng chứng xâm nhập.

Trong bài “Chinese denies seeking White House Visit” do Steven Mufson đăng trên tờ Washington Post Foreign Service, ngày chủ nhật 13 tháng 6 năm 1997, Trang A0I, trong đó một thương gia Trung Quốc có thế lực tên Wang muốn đóng góp vào quỹ tranh cử của Clinton qua trung gian một chủ nhà hàng tên Charles Yah Lin Trie, bạn lâu năm của TT Clinton. Việc này được phát ngôn viên chính phủ chính thức cho biết Trung Quốc đóng góp 2 triệu đô la cho Clinton. Về điều này thủ tướng Li Peng thời bấy giờ của Trung Quốc tại Bắc Kinh cũng lên tiếng phủ nhận.

Tôi chỉ tóm tắt sơ lược, không đưa ra kết luận, nhưng chủ ý nhấn mạnh vào những mánh khóe mua chuộc mà Trung Quốc rất có thể làm.

Nguồn: Henry A. Kissinger’

Cho đến nay thì có thể gọi đó là điểm sai lầm chiến lược của Mỹ và hậu quả của nó thì ngày hôm nay mới thấy rõ. Trong khi đó, người dân miền Nam hơn ai – là nạn nhân của chính sách của Mỹ – nên hiểu rõ cú bắt tay của đôi bên đưa đến chỗ Người Mỹ đã “hy sinh” miền Nam như thế nào.

Người được TT. Nixon giao trọng trách nối lại mối liên hệ đứt đoạn giữa Mỹ và Trung Quốc từ hơn 20 năm nay, kể từ sau chiến tranh Triều Tiên, không ai khác là tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn an ninh Quốc Gia của Nixon.

Trong Hồi ký của Kissinger ông cho hay ông đã qua lại Trung Quốc như con thoi cả thẩy 50 lần để tiếp xúc với các lãnh đạo Trung Quốc như Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.

Ông đủ khôn ngoan và láu cá khi cho rằng mục đích của các chuyến đi ấy chỉ vì muốn đi tìm hòa bình. ông viết:

“At the same time, all my life I have reflected on the building of peace, largely from an American perspective. I have had the good luck of being able to pursue these two stands of thinking simultaneously as senior official, as a carrier of messages, and as scholar.”(Henry Kissinger, “On China”, (2011) with a new afterword)

[DCVOnline: Ngay đoạn đầu tiên trong “Lời nói đầu” của cuốn “On China” (The Penguin Press, New York, 2011), tác giả Kissinger viết,

“Forty years ago almost to the day, President Richard Nixon did me the honor of sending me to Beijing to reestablish contact with a country central to the history of Asia with which America had had no high-level contact for over twenty years. The Ameri can motive for the opening was to put before our people a vision of peace transcending the travail of the Vietnam War and the ominous vistas of the Cold War.”

“Gần như đúng bốn mươi năm trước, Tổng thống Richard Nixon đã cho tôi vinh dự được gửi đến Bắc Kinh để tái thiết bang giao với một quốc gia là trung tâm trong lịch sử Châu Á mà nước Mỹ đã không có liên hệ cao cấp trong hơn hai mươi năm. Động cơ thúc đẩy Mỹ mở cửa với Trung Quốc là để trình bầy với nhân dân Mỹ một viễn tượng hòa bình vượt xa hơn cả những gì người Mỹ đang cố gắng trong Chiến tranh Việt Nam và những viễn cảnh đáng ngại của Chiến tranh Lạnh.”]

Người viết rất tiếc là không biết ông đã viết “Lời nói đầu” như thế nào của lần đầu tiên.

Nhưng Kissinger hơn ai hết đều hiểu rằng có một mối căng thẳng giữa Liên Xô- Stalin và sau này tiếp theo với Khruschev với Trung Quốc thời Mao Trạch Đông ngay từ Đại Hội Đảng của các nhà lãnh đạo Đông Âu ở Moskva vào năm 1957. Năm 1958, Khruschev đã phải thân hành sang Bắc Kinh để làm hòa dịu mối bất hòa giữa đôi bên.

Và đến tháng giêng năm 1972, TT Nixon sang Bắc Kinh. Cú bắt tay ấy tạo sự hòa dịu giữa đôi bên, đồng thời làm gẫy đổ một liên minh Sino-Soviet vốn đã mong manh từ thời Stalin.

Phải chăng, đấy là mục đích chính của Kissinger và TT Nixon, cô lập hóa sự liên minh giữa khối cộng sản với nhau? Và con đường tiếp cận với Mỹ mở ra cho Trung Quốc một tương lai đầy hứa hẹn như ngày nay?

Có phải đây là chuyện nuôi ong tay áo hay chuyện tò vò mà nuôi con nhện? Nixon đã không nhìn thấy mối hiểm nguy từ nước Tầu nên mua chuộc Tầu để làm giảm thế lực của khối cộng sản.

Vậy mà trong cả cuốn sách của ông Kissinger, dày 604 trang, xuất bản năm 2011, người viết không tìm thấy “một cái nhìn lại” chính sách sai lầm của Nixon như thế nào ?

Nhưng trong một cuốn sách khác cũng của ông, “Henry Kissinger. À la Maison Blanche 1968-1973”, ông lại dành 98 trang để nói về cái mà ông gọi là “Les affaires du Viêt Nam” (Vấn đề Việt Nam). Ông viết:

“Cho mãi đến tận bây giờ, tôi không thể nói về Việt Nam mà không cảm thấy một nỗi phiền muộn, một nỗi buồn sâu xa nhất.” (H. Kissinger. À la maison Blanche 1968-1973).

Đọc suốt gần trăm trang tài liệu này, người viết thấy ông không tin tưởng chiến thắng cuối cùng nào của VNCH. Vì thế, ông đã ngỏ ý riêng với TT Nixon là mời Sainteny sang hội kiến với Nixon. Đó là ngày 15-7 năm 1969. Và yêu cầu Sainteny – một nhà ngoại giao Pháp thân thiện với HCM – làm trung gian giao thiệp với Xuân Thủy một cách hoàn toàn bí mật. Nhưng Xuân Thủy chỉ là thứ công chức không có quyền quyết định gì. Người có quyền hành chính trị chính là Lê Đức Thọ.

Muốn hiểu cuộc thương thuyết và kết quả là Hiệp Định Ba Lê như thế nào, bạn đọc có thể tìm đọc một cuốn sách khá đầy đủ của phe cộng sản hai biên tập viên là: Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ nhan đề “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ-Kissinger tại París”.

Một tài liệu khác của bà Han Suyn đưa ra một số chi tiết mà Kissinger đã bỏ trong Hồi ký của ông. Tác giả Han Suyn cho rằng vào tháng 8, năm 1969, TT Nixon và ông H. Kissinger đã sang Romania. Tại nơi đây, họ đã bàn thảo về mối liên hệ Đông-Tây, trong đó đề cập đến Liên Xô và Trung Quốc.

Đối với vấn đề Á Châu thì Nixon khẳng định rõ ràng, dứt khoát: Máu của người Mỹ phải ngừng chảy ở đây. Chiến tranh Việt Nam phải được Việt Nam hóa.

Đối với Trung Quốc, lần đầu tiên, Nixon dùng chữ: Cộng Hòa nhân dân Trung Quốc. Đó chứng tỏ một hảo ý từ phía Nixon. Tiếp theo đó là những nhượng bộ nhỏ như công dân Mỹ đến nước Trung Hoa nay có quyền mua 100 đô la hàng hóa của Tầu mang về Mỹ. Các công ty Mỹ bắt đầu liên hệ thương mại với nước Tầu.

Nhưng quan trọng hơn là qua trung gian nhà báo Edgar Snow, Han Suyn viết:

“Ngày 1 tháng 10, Mao đã yêu cầu nhà báo Edgar Snow và bà vợ ông đứng bên cạnh ông trong buổi lễ tại khán đài La Paix céleste; Đó là một dấu hiệu tốt. Đến tháng 12-1970, Mao Trạch Đông cũng đã dành cho Snow một buổi phỏng vấn và Mao Trạch Đông đã trả lời công khai điều mà người ta trông đợi ở ông: “ông rất vui mừng được tiếp chuyện với TT Nixon, bởi vì ông Nixon là TT được nhân dân Mỹ bầu lên, ông Nixon có thể đến nước Tầu với tư cách một khách du lịch hay một tổng thống, Nixon sẽ được đón tiếp ở đây.” (Han Suyn. Le premier jour du monde, trang 432-433)

Trở về Mỹ, Snow cho đăng bài phỏng vấn của Mao Trạch Đông trên tờ Life, 30-4-1971.

Cũng vào tháng tư, một phái đoàn thể thao Ping-pong của Mỹ đến Bắc Kinh. Cho đến năm 1971, Kissinger từ Pakistan sang Bắc Kinh gặp Thủ tướng Chu Ân Lai để chuẩn bị cho chuyến viếng thăm chính thức của TT Nixon vào tháng 2-1972. Tháng 10, nước Tầu chính thức vào Liên Hiệp Quốc và công việc bình thường hóa giữa Mỹ với Trung Quốc, có nghĩa loại bỏ Đài Loan.

Một quá trình đối đầu căng thẳng và Mao Trạch Đông đánh giá công việc của Nixon đã làm là vô giá. Việc Nixon sang nước Tầu là một trong những biến cố lơn lao nhất được trình chiếu trên Vô Tuyến truyền hình và truyền thanh tại Trung Quốc cũng như trên toàn thế giới. Đây có thể ví như một bước nhảy vĩ đại về chính trị giữa hai nước chẳng khác gì việc đặt chân lên mặt trăng của Mỹ.

Mao tuyên bố, “Thời gian và lịch sử đứng về phía chúng ta.

Thật đúng vậy, nước Tầu được tất cả và Mỹ được gì? Mao nay có thể làm ăn buôn bán chẳng những với Mỹ và tất cả các nước Tây Âu khác theo chân Mỹ. Mối lo ngại tranh chắp biên giới với Nga cũng sẹp xuống cũng như với Ấn Độ. Tham vọng làm thay đổi thế giới, thay đổi con người dần dần lộ diện!

Phần Nixon đã gửi riêng cho Hồ Chí Minh một lá thư. Và cảnh ngoại giao đi đêm bắt đầu với đầy vẻ bí mật và mánh khóe che đậy như sang Paris là để gặp Tổng thống Pompidou lúc bấy giờ; chính ở Paris, ông Kisinger đi găp Sainteny.

Sự tiết lộ này của Kissinger cho thấy, chính quyền Nixon đã bán đứng Việt Nam cho cộng sản Hà Nội. Và Việt Nam hoàn toàn không biết gì cái giai đoạn khởi điểm này.

Xin trích lại nguyên văn:

“Nous optames pour la première suggestion. Une lettre personnelle de Nixon à Ho Chi Minh fut rédigée. Nous demandames à Sainteny de la remettre en mains propres. La lettre insistait sur notre volonté de paix, proposait de discuter des plans de Hanoi en même temps que des nôtres, et concluait en ces termes:

“L’heure est venue de s’acheminer, à la table de conférence, vers une résolution rapide de cette guerre tragique. Vous nous trouvenez disponibles, prêts à apporter avec vous, dans un effort commun, les bienfaits de la paix au courageux peuple du Vietnam. Que plus tard l’on puisse dire qu’en cet ínstant critique les deux parties ont choisi la paix plutôt que le conflit et la guerre.” (Henry Kissinger, À la Maison Blanhce 1968-1973, Fayard, 1979, trang 290-291.

Chúng tôi đã chọn giải pháp đầu tiên. Một lá thư riêng của TT. Nixon được thảo ra và được gửi cho Hồ Chí Minh. Chúng tôi đã yêu cầu Sainteny đưa tận tay cho Hồ Chí Minh. Lá thư nhấn mạnh đến ý muốn của chúng tôi là mong muốn hòa bình và đề nghị thảo luận những kế hoạch từ phía Hà Nội và cả từ phía chúng tôi và lá thư đã được kết thúc bằng những dòng sau đây.

“Đã đến thời điểm phải đi đến bàn Hội Nghị để tìm ra một giải pháp nhanh chóng về cuộc chiến bi đát này. Các quý ông sẽ thấy chúng tôi đã sẵn sàng trong một nỗ lực chung để đem lại những điều tốt đẹp cho hòa bình cho người dân Việt Nam can đảm. Và để sau này người ta có thể nói rằng ngay trong những giờ phút khó khăn này hai bên đã chọn hòa bình thay vì những xung đột và chiến tranh.”

Lá thư gửi đi ngày 15-7 thì hơn tháng sau, HCM trả lời Nixon vào ngày 30-8-1969. Chỉ ba ngày sau thì HCM chết bằng một giọng điệu cứng rắn và sắt máu không thưa gửi Tổng thống như Nixon đã làm. Đại khái chúng tôi sẽ chiến đấu tới cùng không ngại những hy sinh và khó khăn gặp phải. Rồi yêu cầu này nọ đủ thứ.

Tôi thiết nghĩ cũng cần đưa ra lá thư trả lời của Hồ Chí Minh mà tôi đã không tìm thấy trong các tài liệu bằng tiếng Việt. Lá thư có một phần nội dung như sau:

“Dân tộc Việt Nam chúng tôi rất tha thiết vào hòa bình, một hòa bình thực sự với sự dành được độc lập và tự do. Dân tộc Việt Nam cũng quyết tâm chiến đấu đến cùng, không ngaị hy sinh hay những khó khăn gặp phải, để bảo vệ sự sống của mình và bảo vệ những quyền lợi thiêng liêng của đất nước. Chương trình tổng quát 10 điểm, do Mặt trận thống nhất dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và của chính quyền Cách Mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là cơ sở căn bản hợp lý để giải quyết vấn đề Việt Nam. Chương trình ấy được sự hưởng ứng đồng thuận và ủng hộ của các dân tộc trên toàn thế giới.

Ngài đã viết trong lá thư bày tỏ ý muốn đạt tới một nền hòa bình dựa trên sự công bằng. Từ đó, Chúng tôi yêu cầu phía chính quyền Mỹ phải chấm dứt việc xâm lấn và rút quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam và tôn trọng quyền của dân chúng miền Nam cũng như tôn trọng quyền của người dân miền Nam mà không có sự can thiệp của người ngoại quốc. Đó là cách thức đứng đắn để giải quyết vấn đề Việt Nam.” (H. Kissinger À la Maison Blanhche, 1968-1973, trang 295)

Lá thư mà nội dung toàn là những lời lẽ khuôn mẫu thuộc lòng và khô lạnh, không một chút hé lộ bất cứ một sự nhượng bộ dù nhỏ nhoi nào. Đòi Mỹ rút quân, nhưng không đả động gì đến việc đòi quân đội cộng sản rút về Bắc.

[DCVOnline: Văn bản chính thức (bằng tiếng Anh) của lá thư Nixon gởi Hồ Chí Minh (đề ngày 15 tháng 7, 1969, công bố ngày 3 tháng 11, 1969) và thư Hồ Chí Minh gởi Nixon (viết ngày 25 tháng 8, 1969). Nguồn: Richard Nixon: “Letters of the President and President Ho Chi Minh of the Democratic Republic of Vietnam.,” November 3, 1969. Online by Gerhard Peters and John T. Woolley, The American Presidency Project.

Tuy nhiên, theo Cheng Guan Ang viết trong cuốn “Ending the Vietnam War: The Vietnamese Communists’ Perspective” do Routledge xuất bản năm 2004, ở trang 26: 1/ Mỹ nhận được thư của Hồ Chí Minh ngày 30 tháng 8, 1969; 2/ Hồ không đọc và cũng không trả lời thư của Nixon; 3/ Vũ Kỳ, thư ký của Hồ Chí Minh, cho biết vào cuối tháng 8 Hồ Chí Minh đã không còn sức làm việc, không tiếp phái đoàn Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam ra miền Bắc từ 16-20. Tin của Trung Quốc cho biết bệnh tình của Hồ đã nguy kịch vào cuối tháng 8 và bị đã hôn mê, rồi sau đó chết vào ngày 2 tháng 9, 1969. Do đó có thể cho rằng lá thư Nixon nhận được không thể nào do Hồ Chí Minh viết.]

Trong khi quân đội VNCH vẫn xả thân chiến đấu thì trên Bàn Hội Nghị, phía Hà Nội đòi hỏi loại bỏ Thiệu, Kỳ và Hương để lập một chính phủ Liên Hiệp trước khi họ muốn nói chuyện.

Tôi viết lại những dòng này để thế hệ sau đọc cho biết. Còn thế hệ chúng tôi coi như bỏ.

Memoirs của Andrei Gromyko tiết lộ nhiều chi tiết liên quan đến chủ nghĩa Bá quyền Trung Quốc.

Cuốn Hồi ký của ngoại trưởng Gromyko giúp người đọc hiểu biết được nhiều truyện bí mật trong khối cộng sản Quốc Tế. Do là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, làm việc dưới nhiều đời Tổng Bí Thư cộng sản, giao thiệp nhiều, khôn ngoan và lịch thiệp nên quen biết hầu hết các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới ở cả hai phía.

Hồi ký của Andrei Gromyko. Nguoodn: Amazon UK

Cuốn Hồi ký không dầy lắm, 353 trang, nhưng hầu như điểm mặt và đưa ra những nhận xét khá khách qua`n về các sự kiện lịch sử của một nhà nhà giao chuyên nghiệp. Tôi nhận thấy có nhiều điểm tương đồng giữa ngoại trưởng Gromyko và Thủ tướng Chu Ân Lai.

Trong hồi ký của Gromyko, phần dành cho vấn đề bang giao giữa Liên Xô-Trung Quốc là một trong những tài liệu quý hiếm. Đọc phần tài liệu này, mặc dầu không nhiều, nhưng cũng giúp người đọc nắm được phần nào mối liên hệ tay đôi của hai nước cộng sản anh em, và giúp hiểu rõ hơn, tại sao Hoa Kỳ đã bắt tay với Mao Trạch Đông.

Mối liên hệ Stalin-Mao Trạch Đông lạnh nhạt và đi đến đối đầu

Cho đến nay thì người ta thấy rằng trong khoảng 70 năm trước đây – kể từ khi Mao Trạch Đông thống nhất toàn bộ nước Tầu, mối liên hệ Nga-Hoa bên không bình thường.

Bỏ qua những vấn đề nội bộ của hai bên, người ta thấy có thể có một xung đột về cá tính giữa Mao-Stalin. Mao Trạch Đông luôn giữ tính cách độc lập trong mọi chính sách nội bộ cũng như sự giao thiệp với các nước khác. Không hề bàn thảo hay thông báo cho nước cộng sản anh em Liên Xô những gì mà Trung Quốc làm.

Lần đầu tiên khi lên nắm chính quyền vào năm 1949, Mao Trạch Đông có sang Liên Xô từ tháng 12-1949 đến tháng 2-1950.

Mặc dầu chính quyền Liên Xô tổ chức một buổi đón tiếp rất trân trọng, tỉ mỉ từng chi tiết một biểu lộ tình bạn bè giữa đôi bên. Hai bên cũng đã có thỏa thuận với nhau trong mối quan hệ giữa hai đồng minh để ký vào ngày 14-2-1950 trước khi Mao Trạch Đông về nước.

Thế nhưng đó có thể chỉ là việc trên giấy tờ mà nội dung cụ thể vẫn là phải tiến hành trên bình diện con người.

Một bữa tiệc đã được tổ chức tại khách sạn Metropolitain do Stalin và các ban lãnh đạo Sô Viết chủ trì. Gần như hai vị lãnh đạo hai nước hầu như không nói với nhau. Gromyko nhận xét:

“Even so, I was not the only one to notice that conversation between the two leaders, who sat side by side at dinner, was sporadic, to say the least. They would exchange a few phrases, through an interpreter of course, and then a seemingly endless pause would ensue. I sat sitting opposite and did my best to help them out, but without much success. My chief impression was that they did not have enough in common of a personal nature to make the necessary minimum of contact.”(Andrei Gromyko “Memoirs”, Lời tựa của Henry Kissinger, Bản dịch của Harold Shukman. 1989, trang 248-249)

Vài ngày sau, tình trạng lạnh nhạt ấy cũng không thay đổi gì.

Sang đến 1957, tình trạng lạnh nhạt giữa đôi bên nay không còn là giữa hai nhân vật mà là giữa hai nước càng ngày càng trở nên tồi tệ hơn.

Mao Trạch Đông lại sang Moskva lần thứ hai. Và lần này gặp riêng Gromyko. Mao hứa không làm cho tình trạng đôi bên căng thẳng hơn và cần phải sát cánh bên nhau để tranh đấu cho hòa bình.

Cũng theo sự nhận xét riêng của ông Gromyko thì Mao mong muốn Trung Quốc trở nên một siêu cường, nhất là trong lãnh vực kinh tế. Và ông cứ nhắc đi nhắc lại: Mỹ chỉ là một con hổ giấy. Ông trù liệu là Mỹ có thể dùng bom nguyên tử tấn công nước Tầu. Và ông chờ đợi điều đó xảy ra và để cho quân đội Mỹ lấn sâu vào trong đất liền, lúc đó Mao mới ra tay. Gromyko sững sờ khi nghe Mao trình bày như vậy về cách thí quân.

Tháng 10, năm 1959, một phái đoàn Liên Xô một lần nữa sang Bắc Kinh. Dẫn đầu là Khrushchev cùng với các Suslov, Nikolaev và Gromyko.

Một lần nữa, nhiều bất đồng nữa nổi lên giữa đôi bên. Trong đó có tranh cãi về việc khai thác nguồn lợi thiên nhiên tại sông Amurn và việc thiết lập một đường xe lửa qua các vùng Xinjiang-Uyghur-Kazakhstan.

Với một biên giới rộng và trải dài như vậy, cộng thêm rất nhiều tài nguyên thiên nhiên, cộng thêm vốn liếng văn hóa cổ truyền bắt buộc hai bên phải ngồi lại thảo luận để nhìn nhận nhu cầu quan trọng của láng giềng và tình bạn. Phải củng cố tình bạn giữa các nước XHCN.

Cuốn Hồi ký của một nhà ngoại giao như Gromyko là nên đọc và phải đọc.

Ông đề cập đến mọi vấn đề tranh chấp Quốc tế cũng như những nhà lãnh đạo cả hai phía.Vậy mà rà soát đi soát lại, người viết đã không tìm thấy dù chỉ một vài dòng nói về chiến tranh Việt Nam cũng như các nhà lãnh đạo như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, v.v.. Theo thói quen, đọc phần Index vẫn không tìm ra tên một nhân vật cộng sản Việt Nam nào.

Điều đó cho thấy Stalin và cả Gromyko có vẻ coi thường và không cần che dấu sự đánh giá thấp lãnh đạo miền Bắc như những kẻ án bám.

Đây hẳn là một nỗi nhục của đám lãnh đạo miền Bắc, mỗi lần sang chầu chực nhờ vả Liên Xô. Việc Hồ Chí Minh sang Liên Xô mà mới đầu Stalin không muốn tiếp ai cũng biết cả.

Sự coi thường ấy hiểu được vì họ chỉ là thứ ăn mày đi nhờ vả kẻ mạnh. Việt Nam là con số không đối với Gromyko và nhất là đối với Stalin.

Khám phá này đối với người viết là một điều nhục nhã cho tập đoàn cộng sản Hà Nội.

Trong cái dở có cái may Sự tranh chấp đối đầu giữa Stalin và Mao Trạch Đông là một sự kiện hiển nhiên. Stalin còn tìm cách đỡ đầu Lâm Bưu để tìm cách lật đổ và ngay cả ám sát Mao Trạch Đông. Nhưng công việc bất thành. Moskva còn tấn công Trung Quốc bằng ngoại giao ve vãn các nước tư bản như qua các tòa đại sứ Mỹ tại Washington, tại Paris, tại Bonn và Londres về thảm họa Péril jaune (Hiểm họa da vàng, tiếng Anh: Yellow Peril). Người viết thắc mắc không biết cụm từ này có phải do Liên Xô đưa ra hay không?

[DCVOnline: Hiểm họa da vàng (tiếng Anh: Yellow Peril) là thuật ngữ xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 ám chỉ việc những công nhân và phu phen người Trung Quốc nhập cư đến các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ; sau đó vào giữa thế kỷ 20, thuật ngữ này còn liên quan đến người Nhật với việc Nhật Bản bành trướng quân sự. Có nhiều nguồn cho rằng Kaiser Wilhelm II là người đã tạo ra cụm từ “hiểm họa da vàng” (tiếng Đức: gelbe Gefahr) vào tháng 9 năm 1895. Wilhelm II đã cho vẽ một bức chân dung với tiêu đề này. Bức tranh mô tả cảnh tổng lãnh thiên thần Michael biểu trưng cho nước Đức, ra lệnh chống lại mối đe dọa từ châu Á, đại diện là bức tượng một vị Phật bằng vàng, thường được treo trên tất cả cá tàu trên con đường biển Hamburg – Hoa Kỳ. Dường như bức họa do chính Kaiser Wilhelm II vẽ. Nguồn: Daniel C. Kane, introduction to A.B. de Guerville, “Au Japon, Memoirs of a Foreign Correspondent in Japan, Korea, and China, 1892-1894” (West Lafayette, IN: Parlor Press, 2009), p. xxix]

Trong cuộc tranh chấp giữa đôi bên về hòn đảo Chen Pao. Người Trung Hoa đã vận dụng các cuộc biểu tình lên đến 300 triệu người với biểu ngữ: “Đả đảo bọn Nga Hoàng mới.”

Thời Brezhnev, tháng giêng 1967. Ông ra lệnh cho điều 13 sư đoàn lính Nga dàn quân ra biên giới trước hiểm họa Cuộc Cách mạng văn hóa của Tầu..

Ở vào thế kẹt trong vụ tranh chấp giữa hai quan thầy, vì thế, trong chúc thư để lại trước khi chết vào đầu tháng 9, họ Hồ mong mỏi hai nươc đàn anh tìm được sự hòa giải.

Đại diện trong đám tang Hồ Chí Minh, có Chu Ân Lai về phía Tầu, Kosygin phía Nga hẳn là cả hai đều đã nhận được chúc thư của Hồ Chí Minh.

Trên đường trở lại Nga, Kosygin đã ghé qua Bắc Kinh gặp Chu Ân Lai và họ Chu đã đưa ra ba đề nghị: Giữ tình trạng status quo về tranh chấp biên giới; giải giới quân đội hai bên ở một khoảng cách chiến lược, ở những điểm nhạy cảm để tránh các cuộc nổ súng; chấm dứt các vụ tuyên truyền đả phá trên báo chí, đài phát thanh trong thời gian hai bên thương thuyết, v.v..

Cuối cùng chẳng biết việc ám sát Mao có thật hay giả, con “gà nòi” Lâm Bưu cùng với vợ là Yeh Chun, người con trai là Lin Likuo và 6 đồng chí khác đã tẩu thoát trên một chiếc máy bay Trident. Nhưng chẳng may máy bay bị rớt ở Nội Mông, tại vùng Oundour Khan. (Han Suyn. “Le premier jour du monde”, Stankes/Stock các trang từ 417- 423)

Chính sự tranh chấp giữa hai nước XHCN Tầu và Liên Xô đã mở đường cho nước Tầu có một địa vị trong thế giới tự do mà trước đây họ không thể có. Trước đây, nước Tầu trù tính có thể phải phải đối đầu cùng một lúc với bốn kẻ thù là: Mỹ, Liên Xô, Ấn Độ theo Liên Xô, Nhật ngả về phía Mỹ.

Han Suyn đã phỏng vấn Chu Ân Lai vào năm 1971. Chu Ân Lai trả lời là:

“Nước Tầu phải sẵn sàng, trong mọi trường hợp đẩy lui sự xâm chiếm của một trong hai siêu cường, hoặc hai siêu cường cùng một lúc. Và trong một tình huống tệ hơn, nước Tầu phải đối đầu với 4 nước cùng một lúc.” (Han Suyn, Ibidm trang 425)

Tình huống ấy đã không xảy ra vì cú bắt tay với Nixon! Phải nói là trong cái rủi có cái may cho nước Tầu, nhờ đó có cơ hội trở thành cường quốc trên thế giới.

Bởi vì dưới mắt Mao Trạch Đông, Á Châu phải do người Á Châu tự giải quyết. Vì thế, để chuẩn bị cho tình huống có thể xảy ra. Mao Trạch Đông đã kêu gọi dân Tầu: Hãy đào sâu các đường hầm, hãy tích trữ ở khắp nơi lúa gạo,, v.v.” Vì thế, mọi thành phố đều đào những đô thị ngầm dưới đất có tích trữ lương thực đầy đủ. Cho dù chiến tranh không xảy ra đi nữa thì tốt hơn hết cứ đề phòng những tình huống xấu nhất có thể xảy ra.

Vậy mà có một chiều hướng chính trị thuận lợi đã làm thay đổi tất cả.

Một nước Tầu ngày hôm nay, một tham vọng bá chủ toàn cầu theo đúng tham vọng của Mao Trạch Đông đề ra ngay từ khi làm chủ nước Tầu năm 1949. Nhưng lời căn dặn của Đặng Tiểu Bình dặn các thế hệ sau:Hãy kiên nhẫn, ẩn mình. Phải chăng lời căn dặn ấy vẫn còn có giá trị. Phải chăng cái tội lớn nhất của Tập Cẩn Bình là phô trương quá lộ liễu sức mạnh kinh tế lẫn quân sự làm mất niềm tin nơi nhiều quốc gia chậm tiến?

Cái sai lầm về chính sách của Nixon bắt tay Tầu, chia rẽ hai đại cường cộng sản nay còn có chút hy vọng Mỹ tìm lại được sức mạnh vốn có của mình nhờ sụ liên minh với phần đông các nước kỹ nghệ cả trên đất liền và cả trên biển, nhất là trên biển với liên minh với Ấn Độ? Hơn một tỷ người Trung hoa được thay thế bằng một tỉ người Ấn Độ ?

Đó là một chọn lựa khôn ngoan nhất hiện nay với chính sách xoay trục này để thấy ai xử dụng được sức mạnh mềm thì kẻ đó thắng.

Nguyễn văn Lục 
© 2019 DCVOnline