NGƯỜI VỀ SAU CUỘC CHIẾN.

Tâm Trần
NGƯỜI VỀ SAU CUỘC CHIẾN.

Nếu ai từng học cấp 3 ở trọ ngay xóm Chùa gần Chợ Lộc Ninh, sẽ nhận ra ngay người thương binh này, 3 năm học rất nhiều người đã gắn liền với Bác, trong đó có tôi.

Ngày 30.04 tôi xin được Tri Ân Bác.

TRẦN THANH THUỶ.

********************* ·

BẠN ƠI !

Tao về chiến địa năm xưa 
Tìm mày nhưng mãi vẫn chưa thấy mày 
Chỉ nghe sống lại những ngày 
Mưa bom bão đạn xéo giày quê hương.

Mày – tao giã biệt người thương 
Xếp nghiên bút lại, lên đường tòng quân 
Đêm rừng giá lạnh chung chăn 
Chia nhau khói thuốc, trở trăn chuyện đời.

Mong khi chiến cuộc hết rồi 
Cùng xin cha mẹ cưới người mình yêu
Chẳng mong bạc lắm, tiền nhiều 
Chỉ mong hầu hạ sớm chiều song thân!

Ấy nhưng bom đạn vô tình.
Tao quăng một nửa thân mình nơi đây 
Còn mày chết chẳng thấy thây 😢
Dở dang ước nguyện về xây cuộc đời!

Chiến tranh kết thúc lâu rồi 
Tao nay cũng đã da mồi, tóc râm
Mẹ mày vẫn mấy chục năm 
Thâu đêm không ngủ chỉ nằm ngóng tin

Dẫu rằng biết đã hy sinh 
Chỉ mong đón cốt con mình về chăm 😢.
Hôm nay tao trở lại thăm
Bạn ơi hãy chỉ chỗ nằm cho tao

Mẹ mày chỉ mỗi ước ao 
Được ôm mày trước lúc vào cõi mê!
Chỉ đi! Tao dẫn mày về 
Về mà gặp Mẹ với quê hương mình!

Image may contain: one or more people, people sitting and outdoor

VIỆT NAM SAU KHI ĐẤT NƯỚC ĐƯỢC “HÒA BÌNH”!

Đau Thương Sau Ngày Phóng Giái 30/4/1975 Của hai miền bắc nam !!!””’

444.000 thanh niên miền Bắc và 282.000 thanh niên miền Nam bỏ mạng.
2 triệu người dân Việt Nam vô tội chết trong lửa khói 
100.000 người chết bị thủ tiêu 
1 triệu lính miền Nam bị bỏ tù cải tạo.
95.000 lính miền Nam bị chết trong trại cải tạo.
2 triệu người dân Việt Nam vượt biển trốn chế độ mới.
Hơn 500.000 người vượt biên chết bỏ xác trên biển.
90 triệu người dân bị tước mất quyền căn bản từ ngày này!
Ngoài những con số đau thương thì có gì để tự hào đi ăn mừng cái ngày chính quyền miền Nam hoàn toàn bị cuớp! .
( Những con số đau lòng )

VIỆT NAM SAU KHI ĐẤT NƯỚC ĐƯỢC “HÒA BÌNH”!

Tháng Tư lại về, tháng kỉ niệm những biến cố đau thương của dân tộc. Gần 40 năm kể từ sau biến cố 1975, đất nước chưa bao giờ được hưởng hòa bình đúng nghĩa.

90 triệu dân Việt đang trở thành công dân hạng 2, khi luôn xếp sau vài triệu đảng viên cộng sản.

Bất chấp sự tuyên truyền về “tính ưu việt XHCN”, dòng người Việt chưa khi nào ngưng tìm cách bỏ nước ra đi.

Dù cho lãnh đạo CSVN luôn nói của dân, do dân và “dân chủ gấp vạn lần tư bản”, sự thực là người dân Việt vẫn chưa được hưởng nền dân chủ, chưa được bầu cử, ứng cử, tự do ngôn luận, biểu tình,…

Trước đây, bị cộng sản cướp nhà đẩy lên vùng kinh tế mới và đánh tư sản. Ngày nay, quan chức chính quyền cướp đất, bóc lột bằng hàng ngàn khoản thuế phí, bôi trơn, bằng luận điệu xảo quyệt: “Đất đai thuộc sở hữu của toàn dân, do nhà nước quản lý.”
…………
Tháng Tư, tháng để mỗi người nhắc mình cần cố gắng nhiều hơn nữa trong chặng đường tranh đấu này!

Chốn lao tù, cùng số phận gian nan.
Sống đọa đày, nhắm mắt cũng lầm than,
Vết xiềng xích tím hằn trên xác lạnh.
Người bỏ xứ, liều tấm thân bất hạnh !!!

Image may contain: 1 person, standing and text

NGƯỜI TÌNH BÁO & CÂU DẶN DÒ TRƯỚC LÚC LÌA TRẦN…!

Lê Hồng Song
(Hien Nguyen Quả báo là có thật)

NGƯỜI TÌNH BÁO & CÂU DẶN DÒ TRƯỚC LÚC LÌA TRẦN…!( Xin cảm ơn fbker Đổ Hộp Sơn đã gửi bài..)

Chiến tranh Việt Nam kết thúc, dù được đồng đội tôn vinh và đối phương nể trọng ông vẫn luôn tự nhận mình là một con người bình thường – Phạm Xuân Ẩn (1927-2006) thiếu tướng tình báo Quân đội Bắc Việt. Người được bên thắng cuộc ca tụng như một trong những nhà tình báo chiến tranh thành công bậc nhất của thế kỷ 20.

Đã có hàng chục cuốn sách và hàng ngàn bài báo viết về cuộc đời tình báo được cho là hiển hách của ông. Những câu chuyện mang màu sắc huyền thoại về một “Điệp viên hoàn hảo” như đúng tên gọi của một quyển sách cùng tên được viết về ông bởi Larry Berman.

Ông được sinh ra tại Đồng Nai và trải qua phần lớn thời niên thiếu ở Sài Gòn. Được nuôi dưỡng và dạy dỗ bởi một nền giáo dục khai phóng, tự do và nhân bản của miền Nam.

Được nhà cầm quyền cộng sản Bắc Việt cử đi học ngành báo chí tại Quận Cam từ năm 1957-1959. Nhờ tài năng vượt trội, không lâu sau đó ông trở thành một ký giả lừng danh của các tờ tạp chí danh tiếng: New York Herald Tribune, Reuters, Time… một vỏ bọc hoàn hảo cho công tác tình báo của mình.

Ông tự nhận mình là người tiếp thu gần như tất cả những giá trị của Văn hóa Mỹ. Trên hết, ông ngưỡng mộ và tôn sùng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí mà người Mỹ đã dạy cho ông.

Giúp quân Bắc Việt có được những thông tin tình báo quan trọng nhờ vào mối quan hệ sâu rộng không chỉ với các tướng lĩnh và quan chức cấp cao miền Nam mà còn cả với các nhân vật chủ chốt của CIA tại Sài Gòn.

Những báo cáo, những phân tích mang tầm chiến lược của ông đã góp phần quan trọng vào chiến thắng cuối cùng của quân Bắc Việt.

Chưa đầy một tuần sau khi tận mắt chứng kiến chiếc xe tăng húc đỗ cổng Dinh độc lập, đánh dấu sự sụp đỗ của Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975 với một nụ cười “khó hiểu”, theo như miêu tả của một người bạn thân, người di tản khỏi Sài Gòn chỉ vài phút sau đó. Ông một mình ở lại điều hành văn phòng tạp chí Time bất chấp vợ con ông và tất cả các phóng viên đã được di tản khỏi Sài Gòn.

Bài báo cuối cùng của ông viết cho tờ Time được gửi đi kèm với tấm hình chụp ông với vẻ mặt ngạo nghễ, đầy vẻ thách thức với điếu thuốc lá được ngậm chếch ngược lên trời.

Các điệp viên chiến tranh thường có một mẫu số chung là một cái kết không có hậu, ông Ẩn cũng không nằm ngoài qui luật đó.

Nhưng chắc có lẽ ông không thể ngờ rằng, sau ngày chiến thắng của quân Bắc Việt, một cuộc sống rắc rối và đầy ngờ vực vây phủ lấy mình theo cách tồi tệ nhất mà ông phải chịu đựng từ chính những người cùng chiến tuyến với ông. Hơn cả là những băn khoăn về mặt đạo đức, những dằn vặt lương tâm theo cách cay nghiệt nhất.

Gần một năm sau khoảnh khắc ngạo nghễ trước Dinh Độc Lập, danh tính ông được tiết lộ, ông được phong danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang”. Ba năm sau, ông được chính quyền Cộng sản triệu tập để tham gia một lớp học tập chính trị dành cho cán bộ cao cấp. Thật trớ trêu, danh hiệu, sự thừa nhận công trạng và sự nễ phục, thậm chí yêu mến từ chính những người bên kia chiến tuyến vẫn không đảm bảo cho ông một cuộc sống thoải mái, tự do căn bản nhất của một con người.

Ông bị nhà cầm quyền Cộng sản quản thúc tại gia, bị mật vụ theo dõi nghiêm ngặt, họ tách biệt ông với thế giới bên ngoài, cấm ông xuất ngoại và không được tiếp xúc với truyền thông quốc tế hàng chục năm cho tới khi ông Ẩn qua đời.

Ông đã tuyệt vọng khi chứng kiến những gì nhà cầm quyền Cộng sản đã làm sau cuộc chiến, người dân bị tước bỏ những quyền căn bản nhất của một con người. Ông chán ghét cái chế độ chính trị mà ông đã góp công lớn để cướp chính quyền. Hai lần ông đưa gia đình vượt biên nhưng đều thất bại.

Sự tuyệt vọng và chán ghét đã theo ông tới cuối đời bằng lời yêu cầu trước khi ông trút hơi thở cuối cùng, được tiết lộ bởi David Devoss: “Đừng chôn tôi gần Cộng sản”.

Lời trăn trối sau cùng đầy cay đắng đó liệu có làm cho những người dân miền Nam, nhất là những người Việt tị nạn Cộng sản tha thứ cho những việc làm của ông?

Không, lời trăn trối đó chỉ làm dày thêm những tranh cãi về cuộc đời đầy hư thực của ông.

Quang Kiệt

Image may contain: 1 person, text

Chuyện 39 thuyền nhân Việt Nam (VBP) chết và trôi dạt vào bờ biển Terengganu- Malaysia năm 1980-1981.

Image may contain: outdoor

Dominic PhamFollow

Chuyện 39 thuyền nhân Việt Nam (VBP) chết và trôi dạt vào bờ biển Terengganu- Malaysia năm 1980-1981.
============
Bia mộ này là do ân nhân người Hoa sống ở Malaysia làm, ông tự nguyện làm công việc chôn cất 39 thuyền nhân Việt Nam nhưng sau bao nhiêu năm qua không ai biết về việc ông làm mãi cho đến khi ông nằm xuống.

Ông để lại cuốn sách nói về vị trí các nấm mồ thuyền nhân đã chết trôi vào bờ biển Terengganu- Malaysia.

Thật đáng khâm phục là tất cả 39 thuyền nhân Việt Nam do chính tay một mình ông chôn cất.

Tên ông là Mr. Wong.

Xin chân thành cám ơn tấm lòng nhân hậu của Ông Bà và Gia đình.

ST.

” Tại sao lại ăn mừng chiến thắng ? Những người thất bại chẳng phải là đồng bào của chúng ta hay sao ? “

Image may contain: 1 person
Phuc Vo

” Tại sao lại ăn mừng chiến thắng ? Những người thất bại chẳng phải là đồng bào của chúng ta hay sao ? “

Abraham Lincoln-1865.

Lịch sử của cuộc nội chiến Hoa kỳ 1861-1865 và cách cư xử của những người trong cuộc đã là bài học lớn ! mặc dù , tận sâu xa , giữa họ chưa bao giờ là đồng bào ! chỉ là giữa những bậc trượng nghĩa , giữa con người và con người .

Nguyễn Thủy Tiên

Bằng yêu thương, họ bước qua nguy nan 

Bằng yêu thương, họ bước qua nguy nan 

Sự thật là những con người đó không có tội. Sự thật là những người đó không “ngụy” như lời tuyên truyền. Lúc này là lúc cần phải trả lại sự công bằng cho họ. Hơn nữa là phải cám ơn họ, tri ân họ, vì họ đã hy sinh một phần thân thể cùng tuổi thanh xuân của họ cho sự bình an của Miền Nam Việt Nam.

Linh mục Vinh Sơn Phạm Trung Thành

Năm 2013, linh mục Vinh Sơn Phạm Trung Thành nhận được lời đề nghị tiếp nối việc giúp đỡ cho các quý ông TPB-VNCH từ hòa thượng Thích Không Tánh. Lúc đó sức của chùa Liên Trì không còn đủ để lo cho các quý ông TPB-VNCH nữa, vốn số lượng tăng lên ngày càng nhiều, cũng như các cuộc ngăn cản của công an tại chùa Liên Trì, Thủ Thiêm, khi đó ngày càng gắt gao hơn.

Linh mục Phạm Trung Thành nói rằng lúc đó, ông chợt nhận ra một sứ mạng lớn phải theo đuổi, không chỉ là việc giúp đỡ cho kẻ khó, mà như ông tâm tình dưới đây, đó là một hành trình lên tiếng cho sự thật và công bằng.

Và rồi chương trình tri ân “Bên nhau đi nốt cuộc đời” bắt đầu và ngày càng lớn mạnh. Hàng ngàn người đã tìm đến Phòng công lý và hòa bình của Dòng Chúa Cứu Thế, 38 Kỳ Đồng, Sài Gòn. Những món quà được trao đi, những bữa cơm thân tình chia sẻ và những niềm vui hiếm hoi sau hàng chục năm, ngày miền Nam Việt Nam được “giải phóng”. Nhưng điều lớn lao hơn là những con người từ lịch sử của một cuộc chiến tranh gặp nhau, thanh thản vì thấy mình được trả lại phẩm giá, được sống với sự thật và danh dự.

Trong cuộc trò chuyện với linh mục Phạm Trung Thành vào cuối năm 2018, có lúc ông ngừng lại một chút vì điện thoại, rồi sau đó quay sang cười lớn “an ninh nào đó cảnh báo rằng sân nhà thờ treo cờ hoàng kỳ, nhưng đâu có, chỉ là những băng rôn có mai vàng mừng Tết thôi”.  Gương mặt ông lúc nào cũng vậy, cười vui và thanh thản với mọi thứ ập đến.

Và ngay trong phần trả lời về những điều xấu nhất có thể đến, ông vẫn luôn xen kẻ bằng nụ cười hiền lành của mình. An nhiên.

Đây đã là năm thứ 6 của chương trình Tri ân TPB-VNCH “Bên nhau đi nốt cuộc đời”, đến năm nay thì chương trình đã có những điều gì đáng lưu ý, thưa Cha?

Lm Phạm Trung Thành:Mỗi năm, chi phí cho hoạt động này mỗi năm lại tăng. Thí dụ năm 2106 là 21 tỷ, đến năm 2017 đã là 26 tỷ. Đến hôm nay, vừa rồi chúng tôi tổng kết là 28 tỷ. Con số tăng nói lên một điều là người đến tham gia mỗi ngày một nhiều. Việc này đồng nghĩa với việc những người góp sức thực hiện chương trình này cùng chúng tôi cũng đã biết đến chương trình nhiều hơn để tiếp cận.

Chỉ là những hoạt động mang tính từ thiện, nhưng theo Cha, vì sao nhà cầm quyền lại tìm nhiều cách, hết lần này đến lần khác ngăn cản chương trình TPB-VNCH, thậm chí nối kết với các tỉnh xa để ngăn chận?

Lm Phạm Trung Thành:Phải nói là nhà nước này không tiết kiệm một lực lượng nào, một ảnh hưởng nào, sức mạnh nào… để can thiệp điều họ không thích. Tôi rút ra được điều này từ việc sống 44 năm dưới chế độ cộng sản. Họ không muốn một tập hợp nào, một thành phần nào lớn lên, mạnh lên mà không thuộc hệ thống của họ. Bất cứ điều gì tập hợp, phải thuộc về họ như Đoàn thanh niên của họ, Hội phụ nữ của họ, Hội luật sư của họ…

Nhưng phải nói là cái gì hiện nay mà đụng đến chế độ VNCH là họ rất sợ.(cười)Cho dù đó là những ông đã què cụt hay đui mù, già yếu gì đó thì họ cũng rất sợ.

Nhưng cũng không thể phủ nhận là chính quyền rất sợ những hoạt động của tôn giáo nói chung, đặc biệt lúc này là giới Công giáo. Một phần thì người theo đạo đã nhiều, và bên cạnh đó còn có phần là họ thấy mình không đủ sức kiểm soát được đám đông này.

Trực diện mà nói thì riêng nhà Dòng chúng tôi cũng bị coi là có “vấn đề” với chính quyền do chúng tôi luôn lên tiếng trước bất công, luôn suy nghĩ độc lập… Với những điều nói trên, họ ra sức đánh phá nhưng nhiều năm qua, với nhiều hình thức, nhiều cách… họ đã không thành công trong việc ngăn cản. Nhưng dù vậy, công việc chăm sóc các quý ông TPB-VNCH ngày càng rộng, ngày càng sâu hơn.

Chúng tôi được kể lại nhiều chuyện mà họ ngăn cản. Tệ nhất là họ chọn tấn công từ phía các quý ông từ chính quyền địa phương nơi các quý ông cư ngụ. Nhưng càng ngày càng không thành công do nhiều ông đã thoát ra được nỗi sợ hãi thường ngày để ghi danh và tham gia chương trình này.

Gần đây râm ran tin đồn là nhà cầm quyền ở Sài Gòn đã rất khó chịu, muốn chấm dứt các hoạt động TPB-VNCH tại Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Thậm chí có tin họ là sẽ tìm cách cho chương trình ngừng hoạt động trong năm 2019 này, theo Cha nghĩ, mọi thứ sẽ còn được tiếp tục bình yên không, trong năm nay?

Lm Phạm Trung Thành:Khi nãy anh nói một ý về hoạt động từ thiện của chúng tôi. Nhưng tôi xin phép được nói thêm đôi chút về chuyện này. Với tư cách là linh mục, và là linh mục Dòng Chúa Cứu Thế chúng tôi không coi công việc chúng tôi đang làm là chuyện từ thiện.

Nghĩa là, với chúng tôi từ thiện là chia sẻ, nâng đỡ về vật chất cho những người kém may mắn nhưng hiện tại, chúng tôi coi đây là sứ mạng của nhà Dòng, của anh em chúng tôi trong việc đi nói lên sự thật, nói lên lẽ phải và trả lại công bằng cho những người bị tước đoạt. Chúng tôi không đơn thuần gây quỹ, chi tiền, giúp cư trú… Những việc đó chỉ là một phần thôi, vì chúng tôi không phải là một tổ chức hoạt động từ thiện, chúng tôi làm vì sứ mạng công bố một sự thật. Chúng tôi phải tiếp tục, phải làm theo sức cúa mình.

Sự thật là những con người đó không có tội. Sự thật là những người đó không “ngụy” như lời tuyên truyền. Lúc này là lúc cần phải trả lại sự công bằng cho họ. Hơn nữa là phải cám ơn họ, tri ân họ, vì họ đã hy sinh một phần thân thể cùng tuổi thanh xuân của họ cho sự bình an của Miền Nam Việt Nam.

Có vẻ như các Cha đang rất cô đơn trong xã hội này, dù chỉ khởi đi bằng lòng yêu thương. Hiện tình đất nước cho thấy những gì làm trái ý nhà nước độc tài, thường đem lại những kết quả rất xấu. Và liệu khi điều xấu nhất đến, thưa Cha, mọi người đã chuẩn bị gì cho bối cảnh đó?

Lm Phạm Trung Thành:Chúng tôi luôn luôn sẳn lòng đối diện với mọi sự khó khăn. Vì đó cũng là điều căn bản trong sự dấn thân mà chúng tôi đã chọn. Trong cuộc đời của chúng tôi, Chúa chưa bao giờ hứa hẹn cho chúng tôi sự vinh quang của trần gian này, nhưng Chúa lại chỉ rõ nơi đến của thập gía và nỗi khổ đau. Thậm chí, lúc này Chúa hứa hẹn những khung cửa hẹp, những sự bắt bớ những không phải là con đường thênh thang dễ bước.

Nếu không dám chọn đối diện, chúng tôi đã không chọn làm linh mục, không chọn Tin mừng để đi.

Điều quan trọng mà tôi đã thưa chuyện với anh, là chúng tôi đi để công bố một sự thật, lấy lại sự công bằng cho những con người đã bị tước đoạt. Chúng tôi luôn tin rằng nếu đó là việc của Chúa thì không ai có thể phá được. Còn nếu đó không phải là việc của Chúa, tức nó sẽ bị tiêu diệt. Tôi vừa mới nói với anh em cộng tác viên của chương trình TPB-VNCH là chúng ta không cần lo gì cả khi phụng sự ý Chúa. Nếu đây là điều mà chúng ta tạo dựng để tìm tên tuổi hay quyền lợi cho riêng chúng ta – thì tự chúng ta sẽ bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn tin rằng mình sẽ đối diện với khó khăn nhưng sẳn lòng chấp nhận và tin, và hy vọng.

Nếu Chúa đóng cánh cửa này, thì ắt sẽ mở một cánh cửa khác. Những gì đã diễn ra trong những năm qua, đều chứng minh rõ như vậy.  

Tuấn Khanh

44 năm sau, ai còn nhớ hay ai đã quên ?

Image may contain: one or more people, crowd and outdoor
Phạm Dương Đức Tùng

Cách đây đúng 44 năm, ngày 27/4/1975, anh Trần Văn Bá cùng bạn bè sinh viên Paris & Orsay xuống đường tuần hành để hướng về đồng bào miền Nam đang bị bức tử và để tri ân các chiến sĩ QLVNCH đã nằm xuống vì lý tưởng Tự Do.

44 năm sau, ai còn nhớ hay ai đã quên ?

Tháng Tư… Ngu! – Tạp Ghi Huy Phương

Đại đa số quân cán chính VNCH qúa ngây thơ hay nói huỵch tẹc là qúa ngu, để bị lừa đi tù cải tạo không có ngày về. Nếu ai cũng hiểu rõ thủ đoạn của CS, có lẽ tất cả đã cầm súng chiến đấu đến viên đạn cuối cùng….

Thế nhưng… than ôi!!! sau ngày vượt biển tìm tự do, đã an cư lạc nghiệp nơi miền đất tạm dung. Nhiều người đã lại quay về để hưởng thụ, để tiếp tay với bạo quyền,vội quên lời thề trước ngày ra đi…. Họ sáng suốt hay lại ngu tiếp tục?!!!
**************

Tháng Tư… Ngu! – Tạp Ghi Huy Phương

Trước hết, tôi xin tự kiểm điểm cái ngu của bản thân mình trước, trong hàng nghìn cái ngu của thiên hạ, vì ngu mà phải mất nước, “lỗi tại tôi mọi đàng” hay “tôi làm tôi mất nước.” Là một cán bộ chiến tranh chính trị trung cấp, hết làm tâm lý chiến, rồi chính huấn, tức là huấn luyện chính trị cho hàng nghìn tân binh tại một trung tâm huấn luyện lớn nhất nước, mà khi nghe Cộng Sản vào đến Sài Gòn, không chịu tìm đường chạy, vì cứ nghĩ mình gốc nhà giáo, hòa bình rồi, đi ‘học” mấy ngày rồi về dạy học lại!

Tôi ngu vì đã suy diễn hay hiểu sai thời gian đi “học tập,” nên chỉ đem theo 10 gói mì ăn liền Vifon, để ăn sáng trong 10 ngày, ngày thứ 11 đã ăn cơm nhà rồi!

Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn-Gia Định ra thông cáo tất cả các quân nhân cấp úy phải trình diện đi “học tập cải tạo,” mang theo tiền ăn trong 10 ngày, cấp tá mang theo tiền ăn cho một tháng. Sau này có người đi tù 17 năm ròng rã, chúng ta “chửi” Cộng Sản lừa dối, nhưng xem kỹ lại các văn bản, không thấy đoạn nào nói, cấp úy chỉ đi tù 10 ngày, cấp tá một tháng, mà chỉ nói “đóng tiền ăn.”

Chẳng qua, vì chúng ta hay suy luận, và ngây thơ, khờ dại nên mắc mưu sự khôn lanh, xảo quyệt của kẻ thù, đó chính là vì chúng ta ngu!

Sau này, ra Bắc, chính tai tôi đã nghe một quản giáo cai tù nói rằng: “Đưa các anh ra biển thì cũng từ từ, trước hết là gần bờ, sau mới dần dần đưa các anh ra xa hơn, nếu không các anh chóng mặt, say sóng, chịu làm sao nổi!”

Tôi đoan chắc anh em chúng ta, nhất là quý vị tướng lãnh, nếu biết được những ngày tù không bản án, mà có người ra đi biền biệt 17 năm trời, chịu bao nhiêu khổ ải, nhọc nhằn, nhục nhã, thì một nửa trong chúng ta đã tự sát tại nhà mà chết, hoặc chạy vào rừng để rồi cũng chết vì súng đạn của Việt Cộng. May hay rủi, vì ngu mà chúng ta mới sống đến ngày hôm nay.

Khi đến các địa điểm trình diện, không ai nghĩ “đi tù” mà chỉ nghĩ “đi học.” Tại trường Trưng Vương, là nơi trình diện từ cấp phó giám đốc trở lên, hai vị, một từng là phó thủ tướng VNCH, dân biểu, một vị đã là thượng nghị sĩ, đi học còn mang theo gối ôm, và khi xếp hàng vào cổng, có vị đã giành đi trước, vì có giấy giới thiệu của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn-Gia Định. Sau đó, bộ đội Cộng Sản mới ra lệnh: “Ai có giấy giới thiệu thì đứng qua một bên!” Giấy giới thiệu đây là giấy gọi “trình diện” cho các viên chức cấp cao, còn đối với cấp nhỏ thì chỉ có thông cáo chung trên báo chí, đài phát thanh.

Những ai còn đứng lấp ló ngoài cửa chưa chịu vào, còn nghi ngại dò la thì những chiếc xe mang tên nhà hàng Soái Kình Lâm, Đồng Khánh… mang thức ăn vào quý vị dùng bữa tối, hẳn đã đánh tan mối hoài nghi về thiện ý của người thắng trận.

Đến khi lên xe Molotova, phủ bạt kín rồi, chúng tôi vẫn còn lạc quan tin lời Cộng Sản được đưa đến chỗ đầy “đủ tiện nghi,” (chắc là có đủ điện nước, máy lạnh, sân bóng chuyền…) để học tập và khi biết đoàn xe ra đến xa lộ Biên Hòa, thì việc di chuyển lên Đà Lạt như cầm chắc trong tay. Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trường Chỉ Huy Tham Mưu, trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị là những nơi lý tưởng nhất để “học tập.” Khi đến nơi ở tù rồi, Cộng Sản đưa tù vào một cái nhà kho, một trại gia binh hay một cánh rừng thì vẫn tin tưởng vào số ngày trong thông cáo, chờ ngày ra sân vận động Cộng Hòa làm lễ mãn khóa: “Quỳ xuống hỡi những cải tạo viên – Đứng lên hỡi những công dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!”

Câu chuyện những người trên con tàu Việt Nam Thương Tín, Tháng Năm, 1975, sang đến đảo Guam rồi, lại đốt “barrack,” tuyệt thực đề đòi “về với tổ quốc,” là một bài học xót xa cho những người trong cuộc, có người phải trả giá bằng 17 năm tù. Nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh kể chuyện, anh em “tù cải tạo” tại trại tù K2, Nghệ Tĩnh, gọi những người này bằng biệt danh “đội q…!”

Tại trại 15 NV. Long Thành, một nhạc sĩ đã hồ hởi sáng tác những bản nhạc được cai tù bắt cả trại hát: “Trồng rau, trồng đậu, trồng tình thương trong tâm hồn người…” Ra tới Bắc Thái lại thêm một bài “Ngày vui đã tới!” nhưng mà “ngày về” thì xa lắc xa lơ!

Thậm chí khi lên con tàu chở súc vật Sông Hương lưu đày ra Việt Bắc rồi, có người vẫn lạc quan “biết đâu nó chở tù miền Nam ra Đệ Thất Hạm Đội Hoa kỳ hay đi thẳng qua Guam để giao cho Mỹ!” Tàu chạy hơn một ngày một đêm rồi mà vẫn nghĩ là cập bến Đà Nẵng chứ không ai nghĩ là lên cảng Hải Phòng.

Ở trong nhà tù vẫn còn người tin tưởng “học tập, lao động” tốt thì được “Cách Mạng” cứu xét cho về với gia đình sớm, nên làm trối chết, kiệt sức, đấu tố anh em… để lấy điểm với cán bộ, cũng như đau xót cho quý bà ở nhà, dắt díu con cái đi vùng “kinh tế mới” cho chồng sớm được tha! Sau 10 “bài học tập,” tới buổi “thu hoạch” thì cứ nghĩ là viết hay thì được tha về, viết dở thì ở lại “học” tiếp.

Trước ngày 29 Tháng Ba, 1975, khi Cộng Quân chưa vào Đà Nẵng, một số người thuộc phe hòa hợp hòa giải tin tưởng thời cơ đã đến nên đã sắp đặt đưa Bác Sĩ Phạm Văn Lương lên làm thị trưởng Đà Nẵng, tin sau đó được đài BBC loan báo. Trong lần phỏng vấn bà quả phụ Phạm Văn Lương tại Nam California, bà xác nhận với chúng tôi Bác Sĩ Phạm Văn Lương chưa bao giờ là thị trưởng Đà Nẵng, nhưng có chuyện là khi có nguồn tin này, một vị trung tá đã đến gặp ông xin làm tài xế cho ông, để nhờ ông che chở, lánh nạn. Sao có người “ngu” đến mức như thế!

Ngày 5 Tháng Tư, 1975, Bác Sĩ Phạm Văn Lương cùng nhiều y sĩ khác bị đưa vào nhà tù Kỳ Sơn, và một năm vào ngày 3 Tháng Tư, 1976, Bác Sĩ Lương đã uống thuốc ngủ cùng 10 viên cloroquine để tự tử.

Trong những ngày cuối cùng của miền Nam, Tướng Dương Văn Minh vẫn còn tin tưởng Thượng Tọa Thích Trí Quang, người hứa sẽ đưa người “phía bên kia” đến thương lượng để thành lập chính phủ liên hiệp. Nhưng cuối cùng, tiếng than cuối cùng tuyệt vọng của “Tổng Thống” Dương Văn Minh là: “Thầy giết tôi rồi!”

Có những người làm lớn hoặc từng “làm rung rinh nước Mỹ” mà còn ngây thơ như vậy, thì đừng trách chi một thằng lính như tôi tin tưởng vào lời của “cách mạng” đem đủ 10 gói mì ăn liền, là… ngu!

Quân tử, ngay thẳng, ngây thơ mà đối đầu với tiểu nhân, xảo trá, độc ác thì không chết cũng bị thương. Tôi đâm ra nghi ngờ rằng, khó “đem đại nghĩa để thắng hung tàn,” và thời nay thấy nhan nhản chuyện “cường bạo áp đảo cả chí nhân!”

Image may contain: text
Image may contain: 2 people
Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: ocean, sky, outdoor and water

Những Thiên tài không bằng cấp

Những Thiên tài không bằng cấp

1. Frederick Douglass

Một trong những tấm gương tự học nổi tiếng trong lịch sử là Frederick Douglass. Ông sinh năm 1818 trong một gia đình nô lệ ở Maryland. Khi còn là một đứa trẻ, ông đã tự mày mò học chữ khi gia đình ông đang sống ở Baltimore. Kể từ đó, ông luôn tự tìm cơ hội trau dồi thêm kiến thức bằng cách đọc thật nhiều.

Vào năm 20 tuổi, ông thoát khỏi chế độ nô lệ và định cư ở Massachusetts. Tại đây, ông vẫn tiếp tục con đường tự học, tự đào tạo và sau đó ông trở thành một trong những nhà văn, một người theo chủ nghĩa bãi nô có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ.

2. Ando Tada

Ando Tada là một kiến trúc sư nổi tiếng người Nhật dù ông chưa hề qua một trường lớp đào tạo về kiến trúc nào. Ông đã từng kiếm sống bằng nghề tài xế, làm một võ sĩ quyền Anh và là một thợ mộc trước khi tự học để trở thành một kiến trúc sư. Ông đã từng một mình thực hiện một chuyến đi từ Đông sang Tây để tự quan sát và học hỏi về nghệ thuật kiến trúc bằng cách đến thăm những công trình nổi bật trên thế giới. Năm 1969, ông thành lập hãng kiến trúc Ando Tadao.

Công trình nhà lô ở Sumiyoshi (Azuma House) hoàn thành năm 1972 là công trình đầu tiên bộc lộ những đặc điểm kiến trúc của ông. Năm 1995, Ando được nhận giải thưởng Pritzker và 100.000 đô la Mỹ. Ông đã tặng số tiền đó cho những trẻ em mồ côi trong cuộc động đất Hanshin.

3. Janes Goodall

Tiến sĩ Janes Goodall, một trong những nhà hoạt động bảo vệ môi trường nổi tiếng thế giới, đồng thời là sứ giả hoà bình của Liên hiệp quốc, là một nhà nghiên cứu nổi tiếng người Anh trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã. Năm 1960, khi ngoài 20 tuổi, bà đã đến Kenyathuộc châu Phi để nghiên cứu về tập tính và đời sống của loài tinh tinh. Bà đã có 40 năm sống và làm việc ở châu Phi và những nghiên cứu của bà được nhiều người đánh giá là “đã ảnh hưởng đến toàn thế giới, nói chung và thế giới động vật, nói riêng”. Điều thú vị về bà là phần lớn những công trình nghiên cứu khoa học quan trọng của bà được thực hiện khi bà chưa qua một trường lớp đào tạo nào.

TS Janes Goodall đã được trao tặng nhiều danh hiệu cao quý và giải thưởng về bảo tồn động vật hoang dã, Đại sứ hoà bình của Liên hợp quốc năm 2002, Huy chương Benjamin Franklin vì sự nghiệp khoa học năm 2003. Bà còn được biết đến với tên gọi “người phụ nữ của tinh tinh”.

4. Michael Faraday

Michael Faraday là một nhà Hóa Học và Vật Lý người Anh đã có công đóng góp cho lĩnh vực Điện từ học và Điện hóa. Là con thứ ba trong một gia đình nghèo có bốn người con, cậu bé Faraday chỉ có được những kiến thức cơ bản nhất từ nhà trường nhưng bù lại cậu là một đứa trẻ ham học và đã nổ lực tự học không mệt mỏi.

Năm 14 tuổi, Faraday học việc ở một cửa hiệu sách và trong suốt 7 năm học việc, ông đã đọc được rất nhiều sách, trong đó có sách của Isaac Watts, quyển mở mang trí tuệ, ông say mê tiến hành các nguyên lý và quan điểm trong quyển sách. Từ đó, ông đã biểu lộ niềm đam mê khoa học, nhất là trong lĩnh vực điện năng.

Mặc dù Faraday được đào tạo ở trường rất ít và biết ít về toán cao cấp nhưng ông là một trong những nhà khoa học có uy tín trong lịch sử khoa học. Ông là vị giáo sư hóa học đầu tiên và lỗi lạc nhất của Viện Hoàng Gia Anh Quốc và đã giữ vị trí này trong suốt cuộc đời.

5. Hai anh em nhà Wright

Hai anh em nhà Wright, Orville  Wilbur Wright, là những người đầu tiên thử nghiệm thành công làm cho máy bay bay được. Chuyến bay đấu tiên trong lịch sử nhân loại được thực hiện vào ngày 17/12/1903 tại đồi Kill Devil, Kitty Hawk, bang Bắc Carolina, Mỹ. Mỗi anh em thực hiện hai chuyến bay vào ngày hôm đó. Lần bay đầu tiên do Orville thực hiện kéo dài 12 giây và bay được khoảng 36.5mét (120 ft).

Lần bay cuối cùng do Wilbur thực hiện kéo dài 59 giây và đi được 296 mét. Chiếc máy bay lúc đó được gọi là Flyer I. Nó có sải cánh khoảng 12 mét và nặng khoảng hơn 300kgs với động cơ xăng 12 mã lực. Hiện nay, nó đang được đặt tại Viện bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ tại Washington, D. C..

Điều đặc biệt là cả hai người đều chưa từng học qua trường đào tạo kỹ sư hay nhận được bất cứ bằng cấp chuyên môn nào. Thành công của họ đến từ niềm đam mê khoa học kỹ thuật cộng với nỗ lực tìm tòi học hỏi không ngừng. Thiên tài của hai anh em nhà Wright đã biến giấc mơ từ ngàn xưa của loài người thành sự thật.

6. Srinivasa Ramanujan

Srinivasa Ramanujan là nhà toán học huyền thoại người Ấn Độ, nổi tiếng là người dù không được đào tạo bài bản về toán học lý thuyết nhưng đã có nhiều đóng góp quan trọng cho nhiều ngành toán học như giải tích, lý thuyết số, dãy vô hạn. Ông sinh ra và lớn lên tại Erode, Tamil Nadu, Ấn Độ và làm quen với toán học từ năm lên 10 tuổi.

Ông bộc lộ năng khiếu đặc biệt về toán khi được tặng một quyển sách lượng giác cao cấp của S L Loney. Năm 13 tuổi, ông đã thành thục quyển sách này và bắt đầu tìm cách tự phát minh ra các định lý toán học. Năm 17 tuổi, ông tự nghiên cứu về số Bernoulli và hằng số Euler-Mascheroni.

Trong quãng đời ngắn ngủi của mình (1887-1920), Ramanujan đã độc lập công bố gần 3.900 kết quả nghiên cứu phần lớn thuộc lĩnh vực phương trình và đồng nhất thức mà ngày nay hầu hết đã được công nhận là chính xác. Tạp chí Ramanujan ra đời để công bố các nghiên cứu toán học có ảnh hưởng từ các công trình của ông.

  1. Mark Twain

Mark Twain, một tên tuổi lớn trong nền văn học Mỹ, tên thật là Samuel Langhorne Clemens. Gia cảnh của ông khá chật vật và túng thiếu. Năm 12 tuổi, sau khi cha qua đời vì căn bệnh viêm phổi, Mark Twain phải kiếm sống bằng nghề sắp chữ. Có thời gian ông phải bỏ học, theo nghề lái tàu để kiếm sống.

Sau đó, ông tiếp tục tự học ở các thư viện công cộng tại những thành phố mà ông sinh sống và bắt đầu dấn thân vào công việc của một nhà báo. Những cuộc hành trình lênh đênh trên miền sông nước trước đó đã trở thành cảm hứng thôi thúc ông viết nên những kiệt tác như Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, Cuộc sống trên sông Mississippi…

8. Steven Paul Jobs

Steven Paul Jobs là một tỷ phú, là ông trùm kinh doanh và sáng chế người Mỹ. Ông là đồng sáng lập viên, chủ tịch và cựu tổng giám đốc điều hành của hãng máy tính Apple. Ông cũng từng là tổng giám đốc điều hành của xưởng phim hoạt hình Pixar (hãng sở hữu nhiều giải oscar cho phim hoạt hình hay nhất như Đi tìm Nemo, Gia đình siêu nhân, Chú chuột đầu bếp, WALL-E, Up và Câu chuyện đồ chơi 3. Sau đó, ông trở thành thành viên trong ban giám đốc của công ty Walt Disney sau khi Disney mua lại Pixar.

Jobs sinh ra tại thành phố San Francisco, bang California, là con nuôi của Paul và Clara Jobs. Ông theo học trường trung học Cupertino và Homestead tại thành phố Cupertino, bang California. Năm 1972, Jobs tốt nghiệp trung học và đăng kí vào học tại cao đẳng Reed College ở Portland, bang Oregon nhưng bị đuổi chỉ sau 1 học kỳ.

Mặc dù vậy ông vẫn tiếp tục dự thính các lớp học tại Reed, trong đó có một lớp học viết chữ đẹp. Trong thời gian “học ké” đó, ông phải ngủ dưới sàn nhà của những người bạn, đổi lon nước ngọt để lấy tiền ăn và nhận các suất ăn miễn phí mỗi tuần tại đền Hare Krishna. Sau này, Jobs bày tỏ rằng: “Nếu tôi chưa từng tham dự những khoá học lẻ đó tại trường, Mac sẽ không bao giờ có nhiều kiểu chữ hay phông chữ cách nhau tỉ lệ cân xứng như vậy”.

9. A braham Lincoln

Là vị Tổng thống thứ 16 trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, cha mẹ ông là những nông dân mù chữ. Ông không có điều kiện đi học chính thức. Thời gian theo học thực sự của ông có lẽ chỉ kéo dài 18 tháng do các giáo viên không chuyên nghiệp dạy. Kiến thức của ông chủ yếu có được từ việc tự học qua việc đọc mọi cuốn sách có thể mượn được từ Kinh Thánh đến các sách tiếu sử và sách văn chương.

Ông thông thạo Kinh thánh, các tác phẩm của William Shakespeare, lịch sử Anh và lịch sử Mỹ. Ngoài ra, ông còn học được phong cách trình bày giản dị trước thính giả. Ông dành nhiều thời gian đọc sách đến nỗi những người hàng xóm cho rằng ông cố tình làm vậy để khỏi phải làm những công việc chân tay nặng nhọc.

Lincoln nổi tiếng nhất với vai trò gìn giữ Hợp chủng quốc và chấm dứt chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ với bản Tuyên ngôn Giải phóng và Sửa đổi thứ mười ba của Hiến pháp Hoa Kỳ về việc bác bỏ̉ chế độ nô lệ.

10. Henry Ford

Nếu con bạn luôn tìm cách đối phó với việc học mà thay vào đó là ngồi lỳ lau chùi chiếc xe máy thì đừng vội buồn. Biết đâu bé sẽ có thể trở thành Henry Ford của Việt Nam.

Henry Ford ngày nhỏ cũng lười học và say mê sửa chữa đồ cũ, hỏng. Máy móc có sức quyến rũ với ông một cách kỳ dị. Năm ông mười hai tuổi, ông đã bắt chước chế tạo được một máy nhỏ chạy bằng hơi nước. Năm hai mươi tám tuổi, khi là một công nhân điện, ông quyết tâm theo đuổi chinh phục phát minh máy nổ của người Đức.

Thành công đã tới với người kiên trì bền bỉ 5 năm sau chiếc xe hơi đầu tiên của thế giới chào đời. Tuy nó cao lồng cồng, không mui, không thắng và chạy dật lùi được, tốc độ tối đa 30 km/giờ.

Vài năm sau, ông thành lập Công ty xe hơi Detroit rồi Công ty xe hơi Cadillac. Tuy không được học hành bài bản nhưng Henrry có đầu óc lãnh đạo tuyệt vời. Bên cạnh việc những mẫu xe hơi liên tục được cải tiến nâng cao chất lượng và mẫu mã với nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng, Henrry có chiến lược phát triển hoàn hảo.

Năm 1906, ông sản xuất được 8.400 chiếc xe. Bốn năm sau, con số đó tăng lên 34.000. Một năm sau nữa, nó tăng lên 78.000 và tới năm 1927 thì mỗi ngày ông sản xuất được 7.000 chiếc xe. Tính ra cứ 7 giây đồng hồ có một chiếc xe hơi ở trong xưởng ông từ từ chạy ra để được gửi đi khắp thế giới.

11. Soichiro Honda

Năm 1980, Soichiro Honda đã được tạp chí uy tín “People” vinh danh là “người đặc biệt nhất của năm”, còn thế hệ nay coi ông như một “huyền thoại Henry Ford của Nhật Bản”.

Từ tuổi thơ khốn khó đến địa vị Chủ tịch tập đoàn Honda hùng mạnh, chuyện nghề, chuyện đời của Soichiro Honda đã trở thành huyền thoại “thiên tài không bằng cấp”.

Khi mới 2 tuổi, cậu bé Soichiro đã bị thu hút và thích mày mò chiếc cối xay gió. Lớn thêm chút nữa, cậu tự “chế tạo” chiếc máy bay đồ chơi bằng tre có gắn “động cơ” làm bằng dây cao su. Cậu suốt ngày lấm lem mặt mũi do hay giúp đỡ cha mình trong xưởng đến mức bạn bè đặt cho cậu biệt danh “chú chồn nhọ mũi”.

Chú chồn nhọ mũi” không ham thích học hành, chỉ quan tâm đến những môn kỹ thuật và bảng điểm của cậu dở tệ. Năm 15 tuổi, Soichiro Honda bỏ học để lên Tokyo học nghề tại xưởng cơ khí ôtô Shokai, thắp lửa niềm đam mê cùng tốc độ mãi cho tới sau này.

Bốn năm sau, Honda đã mở xưởng sản xuất của riêng mình. Chỉ sau một thời gian ngắn, xưởng sản xuất “doanh nghiệp một thành viên” cho ra đời xe đạp gắn động cơ. Ngay lập tức, Sản phẩm len lỏi khắp các ngõ ngách ở Nhật Bản.

Từ đây, Honda Technical Research Institute của ông đã thành công và không ngừng phát triển. Đến năm 1948, Công ty Honda Motor Co. Ltd được thành lập và trở thành một tập đoàn số 1 thế giới về sản xuất xe máy, top 10 sản xuất ô tô.

12. Bill Gates

Tại khuôn viên trường Harvard mang tên “Harvard Crimson” có một tấm biển ghi “Bill Gates là người bỏ học thành công nhất của Harvard” trong khi phần còn lại của thế giới vẫn gọi ông là “người đàn ông giàu nhất thế giới” trong hơn một thập kỷ qua. Bây giờ, mặc dù không giữ vị trí dẫn đầu, ông vẫn còn trong danh sách những người giàu có của thế giới.

Gates nhập học tại Harvard vào mùa thu năm 1973. Hai năm sau, ông ta đã bỏ học để thành lập công ty Microsoft với người bạn Paul Allen. Sau khi thành danh, Bill Gate mới quay trở lại trường để tiếp tục sự nghiệp học hành. Và trong năm 2007, cuối cùng ông cũng nhận được học vị Tiến sĩ danh dự từ trường cũ của mình.

Khi được mời phát biểu tại buổi lễ phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên Havard, Bill Gates nói: “Tôi là một ví dụ xấu. Đó là lý do tại sao tôi được mời tới đây để nói chuyện tốt nghiệp của bạn.. Nếu gặp tôi trước khi nhập học, có thể số lượng sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp có mặt ở đây sẽ ít hơn nhiều.”

13. Frank Lloyd Wright

Theo kiến trúc sư nổi tiếng nhất của Mỹ, Wright đã dành nhiều thời gian hơn vào việc thiết kế các trường cao đẳng, đại học hơn là tham dự các lớp học trong đó. Sau khi dành một năm học tại Đại học Wisconsin-Madison, ông bỏ học để đến Chicago và trở thành một người học việc của Louis Sullivan, “cha đẻ của chủ nghĩa hiện đại”.

Trong sự nghiệp thiết kế và sáng tạo không ngừng nghỉ của mình, Wright đã tạo ra hơn 500 công trình kiến trúc kỳ vĩ, nổi tiếng nhất trong số đó là Fallingwater và New York City của Solomon R. Guggenheim Museum.

14. Buckminster Fuller

Bị trục xuất khỏi Harvard hai lần, kiến trúc sư đồng thời là nhà phát minh vĩ đại người Mỹ Buckminster Fuller đã phải trải qua rất nhiều thăng trầm, biến cố. Một số ý tưởng kinh doanh ban đầu thất bại và trải qua nỗi đau đớn của việc mất đi cô con gái đầu lòng, ông tưởng chừng như không thể gượng dậy.

Tuy nhiên, ở tuổi 32, cuộc sống của Fuller bắt đầu thay đổi. Những ý tưởng sáng tạo của ông như các thiết bị ghép năng động áp dụng cho nhà ở và cả xe ôtô nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình từ công chúng. Đặc biệt là kết cấu xây vòm hình tượng của ông đã đưa tên tuổi của ông lên tầm cao mới và được quốc tế công nhận.

15. Mark Zuckerberg

Bỏ học ở Harvard, Mark Zuckerberg phát triển Facebook trong ký túc xá trường mình. Bây giờ Facebook đã trở thành một trong những trang web phổ biến nhất trên thế giới mạng xã hội. Theo sự bùng phát của Facebook, Zuckerberg đã bỏ học để di chuyển địa điểm công ty của anh đến California.

Mark Zuckerberg đã chứng minh rằng quyết định của anh là sáng suốt. Theo Forbes, Zuckerberg là tỷ phú trẻ nhất thế giới với trị giá tài sản năm 2010 là 4 tỷ USD. Tuy nhiên, mới đây Ông chủ Facebook nhận bằng tốt nghiệp Harvard sau 12 năm bỏ học.

From : TU-PHUNG

Chân dung Khoa học gia 17 tuổi của Nasa

Chân dung Khoa học gia 17 tuổi của Nasa

Moshe Kai Cavalin có hai bằng đại học nhưng lại chưa đủ tuổi đi bầu cử. Cậu sắp có bằng lái máy bay nhưng chưa đủ tuổi lấy bằng lái xe hơi.

 Cavalin, người không thích bị gọi là thiên tài.

 Theo AP, đó là chân dung đầy tương phản của Cavalin, 17 tuổi, người San Gabriel, California, Mỹ. Cậu có bằng đại học từ năm 11 tuổi, 4 năm sau, cậu lấy tiếp bằng cử nhân toán học ở đại học California, Los Angeles.

Năm nay, cậu bắt đầu học trực tuyến lớp thạc sĩ về an ninh mạng của đại học Brandei. Tuy nhiên, Cavalin quyết định hoãn lại việc học để giúp Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) phát triển công nghệ giám sát máy bay nói chung và máy bay không người lái nói riêng.

 


Cậu cũng vừa xuất bản cuốn sách thứ hai, dựa trên trải nghiệm bị bắt nạt hồi đi học và những câu chuyện người khác kể lại. Cavalin dự định sẽ lấy bằng phi công cuối năm nay. 

Trong nhà cậu ở Los Angeles, là một bộ sưu tập giải thưởng và danh hiệu các giải đấu võ thuật của Cavalin.

Tuy nhiên, cậu khẳng định mình cũng giống mọi thiếu niên khác. Lớn lên trong một gia đình có mẹ là người Đài Loan, bố người Brazil, Cavalin được tự do làm điều mình thích sau giờ học ở trường.

“Trường hợp của tôi không có gì đặc biệt. Chẳng qua là sự kết hợp giữa giáo dục gia đình, động lực và cảm hứng”, Cavalin nói, sau khi vào làm việc trong Trung tâm nghiên cứu bay Armstrong của NASA ở Edwards, California.

“Tôi không hay so sánh bản thân với người khác. Tôi chỉ luôn cố gắng hết sức mình”.

Bố mẹ Cavalin kể lại, con trai thông minh từ nhỏ. Lúc 4 tháng tuổi, cậu nói ra từ đầu tiên trong cuộc đời, bằng cách chỉ vào một máy bay phản lực trên trời và đọc tên hãng bằng tiếng Trung Hoa. Năm 7 tuổi, Cavalin hoàn thành môn học lượng giác cuối cùng trong chương trình tự học ở nhà và mẹ chuyển cậu vào học ở cao đẳng cộng đồng.

“Tôi cho rằng, mọi người đều nghĩ rằng thằng bé là một thiên tài bẩm sinh”, Daniel Judge, giáo sư toán học, người dạy Cavalin hai năm ở cao đẳng East Los Angeles cho biết, “Nhưng thực ra, đó là một học trò rất chăm chỉ, người nỗ lực nhất mà tôi từng dạy”.

Năm đầu tiên ở cao đẳng, cậu ước mơ trở thành một nhà thiên văn học.. Khi bắt đầu học vật lý cao cấp, hứng thú này giảm dần rồi chuyển sang mật mã học. Cậu lại theo đuổi khoa học máy tính.

 

Việc này thú vị hơn nhiều, Cavalin nói. Cậu rất bất ngờ, khi NASA gọi tới mời làm việc, sau khi từng từ chối cậu vì chưa đủ tuổi. Ricardo Arteaga, cấp trên kiêm người hướng dẫn Cavalin tại NASA cho biết cậu là người hoàn hảo cho dự án kết hợp toán học, khoa học máy tính và công nghệ bay.

“Tôi cần một người biết viết phần mềm, am hiểu về thuật toán toán học”, Arteaga nói, “Đồng thời, tôi cũng cần một phi công biết điều khiển máy bay Cessna”. 

 Tại văn phòng làm việc, Cavalin là một nhân viên ít nói nhưng luôn toát lên vẻ hài hước tinh tế, Arteaga nhận xét. Họ bàn luận và cười đùa về nhiều vấn đề khoa học. Công việc thường ngày của Cavalin ở NASA là điều hành mô phỏng va chạm của máy bay và máy bay mô hình, tìm cách đưa chúng đến mục tiêu đã định an toàn.

“Cậu ấy thực sự rất giỏi toán”, Arteaga nói, “Chúng tôi đang cố khơi gợi tài năng này ở cậu ấy”. 

 Sau khi lấy bằng thạc sĩ, Cavalin hy vọng sẽ học tiếp thạc sĩ kinh doanh ở Học viện Công nghệ Massachusetts. Sau đó, cậu sẽ mở công ty an ninh mạng riêng. Còn bây giờ, Cavalin đang đếm từng ngày chờ sinh nhật 18 tuổi để lấy bằng lái theo luật California. Cậu nóng lòng muốn tự lái xe đi làm vì đến giờ, đồng nghiệp vẫn chở cậu đi làm mỗi ngày.

Về chuyện yêu đương như bao thiếu niên khác, Cavalin nửa đùa nửa thật nói rằng sẽ tìm bạn gái khi nào học xong tiến sĩ.

From: TU-PHUNG