Tôi tớ Chúa Gioakim Marcel Nguyễn Tấn Văn, C.Ss.R. 59 năm về với Chúa

Image may contain: 1 person, smiling, standing and beard
Kha Ngo Van

Tôi tớ Chúa Gioakim Marcel Nguyễn Tấn Văn, C.Ss.R. 59 năm về với Chúa

Nói về Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội, ngoài cha Giuse Vũ Ngọc Bích, trong số những con người đã ghi lại dấu ấn đậm nét trên bước đường tồn tại và phát triển của Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội phải kể đến Thầy Gioakim Marcel Nguyễn Tấn Văn – người tù không án, người tôi tớ Chúa, dám sống cho sự thật, bị bắt vì sự thật và chết cho sự thật.

Thầy Gioakim Nguyễn Tấn Văn sinh ngày 15 tháng 03 năm 1928, tại Ngăm – Giáo, một làng quê nhỏ nằm giữa Hà Nội và Hải Phòng, thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Ngày 17 tháng 10 năm 1944, thầy được nhận vào làm Dự tập sinh Dòng Chúa Cứu Thế và được nhận tên Dòng là Marcel. Ngày 8 tháng 9 năm 1946, lễ sinh nhật Đức Mẹ, thầy được khấn trong Dòng.

Ngày 7 tháng 2 năm 1950, thầy rời nhà Hà Nội tới phục vụ tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.

Ngược với dòng người đang hoảng loạn di tản vào Nam tránh nạn cộng sản, ngày 14 tháng 9 năm 1954, lễ Suy tôn Thánh giá, thể theo lời kêu gọi của các bề trên, thầy rời Nhà Đà Lạt trở về Hà Nội cùng với hai vị thừa sai Canada là các cha Thomas Côté và Denis Paquette. Trước khi lên máy bay trở lại Miền Bắc và sẽ không bao giờ trở lại, thầy đã quả quyết với những người khuyên thầy đừng trở lại Hà Nội rằng:“Không ai, không gì có thể tước được vũ khí của Tình yêu của tôi. Tôi ra đi để chứng tỏ giữa vùng cộng sản vẫn có người yêu mến Chúa, yêu mến Thiên Chúa nhân lành… Cái chết của tôi sẽ là sự sống của nhiều người. Cái chết của tôi sẽ đánh dấu thời kỳ bắt đầu hòa bình cho Việt Nam” (trích Tiểu sử Marcel Văn: “Tình yêu không thể chết”, tr. 10).

Lời đanh thép này đã là lời tiên báo con đường thập tự mà thầy sẽ trải qua và điều ấy đã xảy ra sớm hơn những gì thầy dự định: ngày 7 tháng 5 năm 1955, ngày kỷ niệm 26 năm thành lập Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội, Marcel Văn bị bắt khi đứng ra làm chứng cho sự thật. Chuyện kể rằng:

“Sáng ngày 7 tháng 5 năm 1955, Marcel Văn ra phố mua đồ dùng và nhân tiện lấy chiếc xe Môbilét gửi sửa từ hôm trước. Trên đường phố, Văn nghe thấy một số người bàn qua, tán lại câu chuyện hoàn toàn sai sự thật… về Miền Nam. Những người này cho rằng, ở Miền Nam, dân bị đưa đi làm khổ sai, thanh niên phải đi lính cho đế quốc… Trước những lời lẽ thô bỉ, những luận điệu sai trái này, nghĩ cần phải lên tiếng, Marcel Văn đã ôn tồn và lịch sự xác nhận: “Chính tôi đây, từ trong Nam ra…tôi xác nhận là Chính phủ Miền Nam không hành động như vậy” (theo Tiểu sử Marcel Văn: “Tình yêu không thể chết”, tr. 10).

Những năm tháng tù đầy đối với thầy là những năm tháng nghiệt ngã: bị tra tấn, biệt giam, đấu tố… bị mua chuộc, dụ dỗ ra nhập “Ủy Ban Liên Lạc Những Người Công giáo Yêu nước” và bị kết 15 năm tù không án, nhưng thầy vẫn kiên trung với sứ mạng và tiếp tục làm chứng cho sự thật. Trong một bức thư viết vội trong tù gửi cha bề trên Dòng, thầy đã viết:

“Nếu con muốn sống, thật quá dễ dàng: con chỉ việc tố giác cha. Chắc cha biết qua về “phong trào tố khổ” của những người “yêu nước”, những người “cách mạng Việt Nam” rồi chứ gì? Ôi! Tinh thần yêu nước! Ôi! Cách mạng! Người ta đã nhân danh ngươi để phạm biết bao tội ác!”

Thầy cũng viết cho cha linh hướng của mình:

“…thời gian qua con đã phải chiến đấu rất nhiều, và chịu đủ mọi khổ hình về tâm não. Kẻ thù dùng nhiều mưu bắt con phải đầu hàng, nhưng chưa bao giờ con lại để mình hèn nhát đến thế. Cũng có thể nói nếu con ham sống, thì ngày nay con không còn bị nhốt trong tù nữa. Nhưng kẻ thù lại không muốn để con chết một cách anh dũng và dễ dàng như thế. Cha hiểu con nói gì rồi. Cha cầu nguyện nhiều cho con, cách riêng cho các tín hữu Bắc Việt” Tù 304 A. (Thư 17.11.1955 gửi cha A. Boucher).

Theo các chứng từ còn để lại, chính quyền thời đó đã dùng mọi biện pháp để thuyết phục thầy “nhận tội”, nhưng thầy đã quả quyết: “Tôi không thú nhận tội ác mà không bao giờ tôi phạm” và sự kiên cường ấy khiến thầy phải trả giá bằng chính mạng sống mình.

Tháng 8 năm 1957, thầy bị chuyển tới trại số 2, Yên Bình, Yên Bái. Suốt hai năm sống tại đây phần lớn thời gian thầy bị biệt giam, không được tiếp tế thăm nuôi. Thầy bị lao phổi nặng.

Ngày 10 tháng 7 năm 1959, thầy đã an nghỉ trong cánh tay Chúa nhân từ, kết thúc một cuộc đời luôn dám sống cho sự thật và đã chết vì can đảm làm chứng cho sự thật. Chút xương tàn của thầy, giờ đây, vẫn còn đang chìm dưới lòng Hồ Thủy điện Thác Bà như một chứng tích tố cáo một thời kỳ lịch sử đầy bất công mà chế độ cộng sản đã gây ra cho đất nước và cho dân tộc.

Cuộc sống, cái chết và tấm gương anh dũng của thầy trong cuộc đấu tranh cho công lý và sự thật đã làm nẩy sinh những tín hữu trung kiên, đang và sẽ mãi là động lực thôi thúc các thế hệ kế tiếp của Nhà Dòng tại Hà Nội tiếp bước thầy trong cuộc đấu tranh, dấn thân cho những con người bị áp bức, bị đẩy ra bên lề.

Thầy đã ra đi, nhưng con người và sự nghiệp đấu tranh cho sự thật vẫn còn đó. Thầy đã ra đi, cái chết, sự khổ nhục trong chốn lao tù đã làm trổ sinh ơn phúc giúp Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội vượt qua được những giai đoạn gian khó nhất trong quá trình hình thành và phát triển suốt 90 năm qua.

Lm. Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong, C.Ss.R.

CẨM NANG CHỐNG PHẢN ĐỘNG TINH TẾ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Image may contain: 1 person
Vượng NguyễnFollow

CẨM NANG CHỐNG PHẢN ĐỘNG TINH TẾ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

1 – Nếu người phê phán Đảng đã lớn tuổi thì ta bảo họ thù hằn quá khứ , chỉ biết moi móc , ăn mày dĩ vãng chứ làm được gì.

2 – Nếu chúng còn trẻ thì ta bảo lũ trẻ trâu chưa biết sư đời , phải đi làm rồi hãy lên tiếng.
3. Nếu đã đi làm thì ta bảo toàn kẻ bất mãn vì thất bại .

4 – Nếu đã thành công có sư nghiêp như Lê Công Định , Cù Huy Hà Vũ, Lê Hoài Anh, Trần Huỳnh Duy Thức … ta bảo chúng không có cái tâm , không phải tri thức thật , được voi đòi tiên , sau khi đã no thân ấm cật bây giờ muốn mưu triều soán vị , tham danh tiếng .

5 – Nếu trí thức hẳn hoi như Ngô Bảo Châu , Lê Đăng Doanh , Hoàng Tụy … thì ta bảo họ chẳng có kinh nghiệm chính trị , dân khoa học biết gì chính trị mà bàn.

6 – Nếu có kinh nghiệm chính trị ta bảo chúng có dã tâm chính trị , mưu đồ bất chính .

7 – Nếu là dân thường ta thách chúng nhìn từ khía cạnh đảng viên , của người lãnh đạo để thấy khó.

8 – Nếu là đảng viên như Bùi Tín , Trần Độ, Chu Hảo … ta bảo chúng là bọn phản bội , ăn cháo đá bát .

9 – Nếu chưa đi nước ngoài ta hãy bảo ra nước ngoài để thấy Viêt Nam tốt như thế nào , nước nào chẳng như nhau .

10. Nếu đã ra nước ngoài thì ta bảo lũ vọng ngoại , ham bơ thừa sữa cặn , cõng rắn cắn gà nhà.

11 – Nếu ở Hải Ngoại thì ta bảo chúng là bọn đu càng , 3 que , tàn dư Mỹ Ngụy , bè lũ tư bản , giỏi về Việt Nam đấu tranh này.

12 – Nếu ở trong nước ta bảo chúng bị kích động , nhận tiền của thế lực thù địch , lũ bị giựt dây , cút ra nước ngoài mà sống.
13 – Nếu viết bài trên mạng ta bảo bọn chỉ biết gõ bàn phím , ăn không ngồi rồi , sao không hành động đi.

14 – Nếu hành động xuống đường biểu tình đòi quyền lợi ta nói toàn bọn gây rối mất trật tự xã hội , chắc hẳn nhận tiền của các thế lực thù địch , quay về nhà làm ăn đi. Mọi việc đã có Đảng và Nhà Nước lo.

Sưu tầm các nguồn comment trên Facebook của các cháu ngoan.

Nguồn: Thầy Lê Kim Cương.

Tại sao cứ tiếp tục giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa?

Tại sao cứ tiếp tục giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa?

Vì thế mà không có gì là lạ, khi mới đây lãnh đạo Cộng sản Việt Nam kêu gọi toàn đảng toàn dân “Tiếp tục giương cao ngọn cờ xã hội chủ nghĩa”. Họ làm điều đó, khi mà xu hướng thế giới hiện nay là dân chủ, khi mà hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa còn sót lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Vậy thì lời kêu gọi đó có mục đích gì? Và tại sao họ lại kêu gọi toàn dân tiếp tục đi ngược lại với sự phát triển và tiến bộ của nhân loại như thế?

Xét một cách khách quan, việc tiếp tục chế độ độc đảng toàn trị và kiên định con đường tiến lên Chủ nghĩa xã hội không hề có lợi cho người dân, ngược lại họ còn phải chịu đựng vô số những sai trái, bất công của chế độ. Vậy thì đã rõ, chỉ có nhà nước là có lợi, nói chính xác hơn, chỉ một số ít những thành phần cầm quyền cai trị là có lợi do mô hình chính trị độc quyền và sai trái đó mang lại. Nói theo cách mà ở Việt Nam hay nói là: Ý Đảng không hợp với lòng dân vậy.

Tại đại hội lần thứ V của Đảng Cộng Sản năm 1982, họ nêu lên hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng trong giai đoạn mới là: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời, xác định hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên, đường lối sai lầm nghiêm trọng đó đã làm cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế – xã hội kéo dài.

Để khắc phục những sai lầm đó, tại đại hội lần thứ VI năm 1986 của Đảng, họ lại đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để, nhưng vẫn ngoan cố kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Mặc dù đó mới chính là nguyên nhân của mọi thất bại và khủng hoảng đất nước. Liên tục từ đó, tại các kỳ đại hội tiếp theo của đảng, họ vẫn không chịu từ bỏ lý tưởng chủ nghĩa xã hội, như là một cái phao cứu sinh cho chế độ, nhưng lại gây nên thảm họa cho toàn dân tộc.

Ngày nay, con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của đảng Cộng sản gặp phải những thách thức to lớn của thời đại. Tình trạng suy thoái, biến chất về phẩm chất đạo đức, lối sống trong đại bộ phận cán bộ, đảng viên; vấn nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu diễn biến phức tạp, tinh vi, chưa có giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi một cách triệt để. Hệ thống chủ nghĩa xã hội trên thế giới đã sụp đổ và tan dã; các thế lực dân chủ không ngừng tiến bộ, thách thức sự cầm quyền độc tôn của đảng Cộng sản.

Dưới đây ý kiến của một số thành phần trí thức về vấn đề phát triển Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:

Giáo sư Trần Phương, nguyên Phó thủ tướng chính phủ tại cuộc Hội thảo góp ý cho văn kiện Đại hội XI, ông đã nói như sau: “Thế bây giờ Chủ nghĩa xã hội của ông là cái gì đây? Thật ra mà nói, chúng ta nói và chúng ta biết là chúng ta bịp người khác. Đến tôi bây giờ, tôi cũng không biết cái Chủ nghĩa xã hội mà chúng ta sẽ đi là cái Chủ nghĩa xã hội gì đây?”.

Còn tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã thẳng thắn phân tích rõ ràng như thế này: “Thể chế như một cơ thể bị xé đôi, nửa kinh tế thị trường muốn chạy lên phía trước, nửa ‘định hướng xã hội chủ nghĩa’ cố lưu lại phía sau. Nửa kinh tế là kinh tế trí thức, nửa chính trị Mác Lê thì phản trí thức. Đây là trường hợp phân thân của một cơ thể được ghép bởi hai nửa dị hợp, như người đi hai chân trên hai băng chuyền ngược chiều nhau. Đây là quá trình làm xiếc vô cùng vất vả đầy bất trắc”.

Đại tá Phạm Đình Trọng thì cho chúng ta thấy được cái hậu quả tai hại do đảng Cộng sản đưa dân tộc Việt Nam theo con đường Xã hội chủ nghĩa gây ra: “Đảng CSVN đã đưa dân tộc Việt Nam vào cuộc thí nghiệm xây dựng Xã hội chủ nghĩa suốt gần nửa thế kỷ và nhân dân Việt Nam phải trả giá quá đắt. Mấy thế hệ người Việt Nam trở thành vật hy sinh cho cuộc thí nghiệm đó! Hàng chục vạn người bị giết, bị tù đày trong những cuộc đấu tranh giai cấp sắt máu diễn ra triền miên và rộng khắp từ nông thôn tới thành phố, từ giới kinh doanh đến giới trí thức! Mấy thế hệ trí thức, nghệ sĩ, những tinh hoa, tài sản quí giá nhất của dân tộc bị khinh rẻ, đày đọa, bị biến thành bung xung, bị biến thành chim mồi, cá cảnh! Trả giá đắt như vậy để có một Chủ nghĩa xã hội hiện hình là một nền văn hóa thấp kém, lạc hậu, đạo đức xã hội suy đồi, hạ tầng xã hội tồi tàn, kinh tế suy sụp, cuộc sống người dân đến đáy cùng cực nghèo đói!”

Thực tế, Chủ nghĩa xã hội được đảng Cộng sản thực thi ở Việt Nam đã bị phá sản, nó bị phá sản ngay từ nơi xuất phát ra nó: Liên Xô và cả các nước Đông Âu.

Sự phát triển trong thời gian qua của Việt Nam thực chất là do áp dụng đường lối của chế độ tư bản, nhưng Chủ nghĩa xã hội thì lại cứ vơ nhận công lao mà mình không có. Chuyện kể cũng thật nực cười.

Đã đến lúc phải đặt ra câu hỏi nghiêm túc đối với nhà cầm quyền hiện nay ở Việt Nam: “Tại sao lại phải tiếp tục giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa”, khi mà cái học thuyết Cộng sản chính là lực cản đối với sự phát triển của đất nước? Khi mà người ta đã biết rằng nó sai trái và phi nhân?

Tuổi Trẻ, Pháp luật TP HCM-những vị nhạc trưởng không biết nốt nhạc bẻ đôi

About this website

RFA.ORG
Những nhà báo già dặn với nghề không thể hình dung một người không có chút hiểu biết nào về chuyên môn lại có thể chỉ đạo cho họ phải thực hiện một phóng sự, một bài phỏng vấn, một bài bình luận…

ĐẤT NƯỚC ĐÁNG SỐNG VÀ LÀM VIỆC ??

Lam Giang Ngô is feeling sad with Hue Nguyen.

ĐẤT NƯỚC ĐÁNG SỐNG VÀ LÀM VIỆC ??

….khi nhìn thấy những hình ảnh này, tôi thấy nghẹn ngào khi một người cao niên phải mưu sinh bằng từng nãy chuối khi dân tộc đã được GIẢI PHÓNG hơn 44 năm rồi.

Có thể những hình ảnh này đã trở thành BÌNH THƯỜNG trong XH hiện nay tại quê hương tôi…nhưng không BÌNH THƯỜNG khi đất nước không còn chiến tranh gần nữa thế kỷ, phải chăng sự THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC đã mang lại cho dân tôi sự ĐÓI KHỔ, NGHÈO NÀN, LẠC HẬU ??

Các bạn nghĩ sao khi ông già này có thể là Ông, Cha, Chú của các bạn…tại sao họ rơi vào hoàn cảnh như vậy và do AI gây ra ??

NGƯỜI ĐÀN ÔNG CỨU 669 TRẺ EM DO THÁI THOÁT KHỎI TRẠI GIAM PHÁT XÍT

NGƯỜI ĐÀN ÔNG CỨU 669 TRẺ EM DO THÁI THOÁT KHỎI TRẠI GIAM PHÁT XÍT

✪ Vào năm 1988, tại phòng ghi hình của BBC, có một người đàn ông 79 tuổi được mời đến tham gia chương trình. Ông lặng lẽ ngồi ở hàng ghế đầu, nheo mắt nhìn, khuôn mặt của ông không có biểu cảm gì đặc biệt.

Bỗng tất cả khán giả xung quanh ông đứng dậy quay sang nhìn ông. Khi ấy không một ai nói gì cả, họ chỉ lặng lẽ, mỉm cười chăm chú nhìn ông cụ. Ông cụ ngơ ngác rồi ngạc nhiên quay đầu lại nhìn mà không hiểu đang xảy ra chuyện gì.

Sau vài phút yên lặng, đột nhiên cả khán phòng vỗ tay vang dội, tất cả mọi người nhìn ông bằng ánh mắt kính trọng và vỗ tay không ngừng.

Thì ra là người đàn ông này đã giấu một bí mật rất lớn mà không ai biết được ngoài bản thân ông suốt 50 năm.

Câu chuyện này rất dài, dài đến tận thế kỷ trước khi mà thế giới còn chìm trong khói lửa chiến tranh.

Người đàn ông này tên là Nicholas Winton. Vào năm 1938, ông chỉ là một thanh niên 29 tuổi bình thường ở Anh, nhưng vào Thế chiến thứ II, ông đã cứu sống hàng trăm đứa trẻ Do Thái từ trong đống xác người.

Trong chiến tranh loạn lạc, ông đã âm thầm giúp 669 trẻ em Do Thái chạy thoát khỏi doanh trại của phát xít Đức, ông đã sắp xếp 8 chuyến tàu đưa các em đến nước Anh và dùng tất cả tiền tiết kiệm của mình để giúp các em tìm được gia đình mới chỉ với mong muốn là để các em được sống tiếp. Ông đã một mình cứu sống 669 em nhỏ, khiến cho ánh sáng của lòng nhân đạo trở nên hết sức rực rỡ trong khoảng thời gian đen tối nhất ấy.

Chỉ là ông đã khóa tất cả câu chuyện và tài liệu về việc này vào một cái rương, rồi vứt vào một góc đầy bụi bặm ở tầng hầm.

Suốt 50 năm, ông chưa từng nhắc đến việc này với bất cứ ai, dù là người thân nhất. Ông tự giấu mình vào dòng người, như thể chuyện này chưa từng xảy ra trên trái đất hoặc đã vĩnh viễn biến mất…

Cho đến năm 1988, khi vợ của ông Winton quét dọn tầng hầm, bà bất cẩn đá phải một cái rương cũ. Khi mở ra, bà nhìn thấy hình ảnh của các trẻ em và danh sách được cứu bên trong chiếc rương, cánh cửa bí mật này cuối cùng đã bị mở ra. Mà khi cửa mở, bên ngoài kia là những người đang rơi nước mắt.

Khi bí mật được bật mí thì sự vinh dự cũng nhanh chóng đến theo. Nữ hoàng Anh đã đích thân phong ông làm Huân tước, nhà lãnh đạo của cộng hòa Séc dành tặng cho ông sự vinh dự cao quý nhất, trạm xe London cũng đúc tượng của ông, thậm chí người ta còn đặt tên ông cho một ngôi sao.

Đối với những việc này, ông Winton vẫn lặng lẽ như xưa: “Làm việc tốt không phải là để người khác biết đến. Tôi không cố ý giấu, chỉ là không nói ra mà thôi.”

Sau khi biết được sự việc, đài BBC đã mời ông Winton đến tham gia chương trình truyền hình. Người dẫn chương trình chậm rãi kể lại câu chuyện khi ấy, bỗng nhiên cô nói lớn tiếng về phía khán đài: “Xin hỏi, ở đây có ai là đứa trẻ đã từng được ông Winton cứu hay không?”

Một tiếng “Woah” vang lên, tất cả khán giả có mặt đều đứng dậy.

Vào giây phút ấy, dường như cả thế giới đều nhớ, còn ông Winton thì lại quên mất. Những đứa trẻ ngơ ngác bước xuống xe lửa năm đó nay đã già đi nhiều, có người tóc đã bạc. Những giọt nước mặt hòa cùng tiếng nấc giữa những tràng pháo tay rào rào!

Trong 50 năm qua, thậm chí họ không biết là từng có người vì để họ được sống tiếp mà đã dùng hết toàn bộ sức lực của mình để chống lại bóng tối của cả một thời đại. Sau khi thắp sáng cuộc đời họ, người này lại lặng lẽ giấu mình ở một góc khuất.

Vào năm 2015, ông Winton đã qua đời bình yên, hưởng thọ 106 tuổi.

● Trên con đường làm người tốt, có thể chúng ta phải chiến đấu một mình, cô đơn lặng lẽ, nhưng lại luôn đáng để chúng ta lựa chọn. Bởi vì khi mà lựa chọn làm điều tốt, tâm hồn của chúng ta sẽ được bình yên.

Trên thế gian này, mỗi con người đều có quyền lựa chọn làm người lương thiện cũng như làm người thấp hèn tùy vào hành động của ta lúc đó. Sự lương thiện luôn tỏa sáng dù cho chỉ xảy ra ở nơi mà người khác không thấy được.

MINH NGỌC

(Theo TTVN)

——–

“Người hùng” Nicholas Winton. (Ảnh: Li-sung/Wikipedia)

Image may contain: 1 person, eyeglasses

CHẲNG CÒN GÌ ĐỂ NÓI!

Image may contain: 1 person, text
Ngô Trường AnFollow

CHẲNG CÒN GÌ ĐỂ NÓI!

Xưa nay người cộng sản thường tuyên truyền, họ giành quyền lãnh đạo là để phục vụ nhân dân, phụng sự đất nước. Nhưng, có đúng như họ nói không? Chúng ta hãy nhìn vào giàn lãnh đạo của tỉnh Hà Giang sẽ thấy.

Ông Triệu Tài Vinh trong thời gian giữ chứ bí thư tỉnh ủy Hà Giang, ông bổ nhiệm tất cả anh em, vợ con của ông vào các chức vụ lãnh đạo trong tỉnh, cụ thể:

Ông đưa vợ ông là bà Phạm Thị Hà vào giữ chức phó GĐ sở NN&PTNT tỉnh. Ông bổ nhiệm 3 em trai của ông là: Triệu Tài Phong làm bí thư huyện ủy huyện Quang Bình; ông Triệu Sơn An làm phó chủ tịch UBND huyện Hoàng Su Phì; ông Triệu Tài Tân làm phó GĐ sở bưu chính viễn thông; em gái ông là bà Triệu Thị Giang thì giữ chức phó GĐ sở KH&ĐT; em rễ ông là Mạc Văn Cường thì giữ chứ phó GĐ Công An thành phố Hà Giang. Ngoài ra, còn một số chức danh khác ông cũng giành cho con nhà chú, nhà bác, nhà cậu, nhà cô… của mình.

Khi được báo chí hỏi, tại sao ông đưa hết anh em nhà mình vào guồng máy lãnh đạo? Ông chẳng ngần ngại mà sẵn sàng đánh bài ngửa luôn, nói thẳng thừng luôn: “anh em tôi giúp nhau để thoát nghèo thì có gì sai”?

Đấy! Người cộng sản họ giành quyền lãnh đạo cho bằng được là để làm giàu, chứ chả có mục đích, lý tưởng, hy sinh, cống hiến…. Con mẹ gì đâu. Ông Vinh là ủy viên trung ương đảng, từng mài đủng quần trên ghế học viện lý luận chính trị cao cấp, từng phát động học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách HCM mà còn như thế, huống chi các đảng viên làng nhàng cấp huyện, sở, xã phường thì chúng nó kiếm cách thoát nghèo ở đâu ngoài bòn vét nguồn thuế của nhân dân?

Nói chung, điều này thì xưa nay ai cũng ngầm hiểu (trừ các cháu bò đỏ đã bị tẩy não). Nhưng, để chính những người trong đảng phải tự thừa nhận hành vi làm giàu của mình bằng con đường giành quyền lãnh đạo, thì có nghĩa, câu nói của ông Nguyễn Phú Trọng: ” đảng luôn lấy việc phục vụ nhân dân làm lẽ sống”.

Chỉ là lời nói dối trơ trẽn!