Những điểm bất thường quanh cái chết của Trần Bắc Hà!

Những điểm bất thường quanh cái chết của Trần Bắc Hà!

Diễm Thi, RFA
2019-07-18
Ông Trần Bắc Hà

Ông Trần Bắc Hà

 Courtesy of giaothong.vn

Trưa 18/7/2019, báo chí trong nước đồng loạt đưa tin ông Trần Bắc Hà, Cựu chủ tịch Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, chết trong thời gian bị tạm giam điều tra về tội vi phạm qui định về hoạt động ngân hàng. RFA phỏng vấn ông Phạm Chí Dũng, người từng có thời gian 30 năm làm việc trong quân đội, chính quyền và khối đảng.

Diễm Thi: Dư luận đang xôn xao về cái chết của ông Trần Bắc Hà vì ông này qua đời khi đang bị giam để điều tra. Nhận định của một người quan sát thời cuộc tại Việt Nam của ông về trường hợp này là gì?

Phạm Chí Dũng: Theo tôi thì có một số điểm bất thường trong cái chết này.

Điểm bất thường thứ nhất là theo thông tin của báo chí Nhà nước đưa, té ra Trần Bắc Hà bị tạm giam trong một trại giam của quân đội ở Sóc Sơn, Hà Nội chứ không phải một trại tạm giam của Bộ Công an, trong khi Bộ Công an bắt Trần Bắc Hà vào tháng 11/2018.

Theo quy trình của bộ luật tố tụng hình sự, cơ quan nào bắt thì cơ quan đó tạm giam.

Điểm bất thường thứ hai là khi Trần Bắc Hà chết, nơi giữ xác của Trần Bắc Hà lại là Bệnh viện 105 của Bộ Quốc Phòng, cũng không phải là bệnh viện của Bộ Công an. Đến chiều ngày 18/7, báo chí đã chụp một số tấm ảnh cho thấy một số sĩ quan mặc quân phục của Bộ Quốc Phòng vào Bệnh viện 105 và bệnh viện này được bảo vệ nghiêm ngặt tối đa.

Điều đó cho thấy vấn đề của Trần Bắc Hà dường như đã được chuyển toàn bộ sang Bộ Quốc Phòng. Phải chăng vấn đề của Trần Bắc Hà không đơn thuần là những vụ án sai phạm kinh tế, mà nó còn liên quan tới những vấn đề khác sâu bên trong nội bộ của ĐCSVN, đặc biệt liên quan tới những quan chức cấp cao về mặt kinh tế cũng như chính trị.

Điểm bất thường thứ ba là nguyên nhân ông Trần Bắc Hà chết thì có báo nói là do cao huyết áp, có báo nói do mắc bệnh hiểm nghèo về gan, nhưng Bệnh viện 105 xác định ông Hà chết bên ngoài bệnh viện, chết trước khi đến bệnh viện mà có thể hiểu là chết trong trại giam. Điều đó có nghĩa là cái chết này xảy ra rất nhanh. Liệu có một chất “xúc tác” gì đó mà nó gây đột tử cho Trần Bắc Hà hay không?

Điểm bất thường thứ tư cần xem xét là những cái chết trong trại tạm giam quân đội và công an đều rất bí mật mà bên ngoài không thể biết được. Nhưng chỉ đầu giờ sáng ngày 18/7/2019 thì trên mạng xã hội đã có thông tin Trần Bắc Hà chết, và đến buổi trưa thì được báo chí Nhà nước xác nhận.

Làm sao tin tức rất nội bộ trong trại giam có thể lên mạng xã hội và báo chí Nhà nước nhanh như thế. Liệu có một chủ trương nào đó cho phép báo chí Nhà nước đăng những tin tức như thế này hay không?

Diễm Thi: Vì sao ông lại có những kết luận bất thường như thế, thưa ông?

Phạm Chí Dũng: Trước đây Trần Bắc Hà được coi là trùm mafia tài chính, nhưng cũng được coi là một nhân vật có ảnh hưởng chính trị, thậm chí làm chính trị, làm công tác tổ chức nhân sự cấp ủy viên trung ương. Do đó việc Trần Bắc Hà bị bắt cũng có thể dính dáng đến những vụ việc khác như an ninh quốc gia, cho nên cả Bộ Công an và Bộ Quốc Phòng đều quản lý ông ta sau khi bị bắt. Đó là dấu hỏi thứ nhất.

Một dấu hỏi nữa là phải chăng khi chỉ đạo bắt Trần Bắc Hà, ông Nguyễn Phú Trọng không tin tưởng Bộ Công an cho nên đã giao Trần Bắc Hà cho nơi mà ông ta có vẻ tin tưởng hơn là Bộ Quốc Phòng mà cụ thể là Tổng cục 2, tức là tổng cục tình báo của Bộ Quốc Phòng.

Diễm Thi: Trước đây nhiều ý kiến nói rõ ông Trần Bắc Hà có mối liên hệ mật thiết với cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, về điều này ông có ý kiến gì?

Phạm Chí Dũng: Trần Bắc Hà được xem là một quan chức dù chỉ là doanh nghiệp nhưng trước đây đóng vai trò khá tích cực liên quan tới Ngân hàng Bản Việt của Nguyễn Thanh Phượng, con gái cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trần Bắc Hà cũng được coi là một cánh tay mặt của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình thời kỳ trước đây. Mà Thống đốc Bình lại là cánh tay mặt của Thủ tướng Dũng. Trần Bắc Hà nắm rất nhiều thông tin, rất nhiều vụ việc.

Ông Trần Bắc Hà (áo xanh ngoài cùng bên phải) trong chuyến công du Ấn Độ cùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi năm 2014
Ông Trần Bắc Hà (áo xanh ngoài cùng bên phải) trong chuyến công du Ấn Độ cùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi năm 2014 Courtesy Fb Truong Huy San

Khi Trần Bắc Hà bị bắt vào tháng 11/2018 thì đã dậy lên đồn đoán về khả năng từ nhân vật Trần Bắc Hà sẽ ‘phăng’ ra rất nhiều quan chức cấp cao khác.

Diễm Thi: Điều này khiến có liên tưởng đến một số trường hợp chết mà người ta thường dùng từ ‘giết người, diệt khẩu’, theo ông trong trường hợp ông Trần Bắc Hà vừa qua đời có thể có hay không?

Phạm Chí Dũng: Điều này làm chúng ta nhớ lại cái chết đầu năm 2014 của Thượng tướng  Phạm Quý Ngọ – Thứ trưởng Bộ Công an – thình lình chết trong quá trình dưỡng bệnh. Cái chết đó đến nay vẫn để lại một câu hỏi là liệu có bàn tay nào làm cho ông ta phải chết hay không.

Liệu có bàn tay nào đó đã làm cho Trần Bắc Hà phải chết hay đó là cái chết tự nhiên, là điều dư luận đang dậy sóng và đặt câu hỏi. Thậm chí người ta còn nghi vấn liệu có việc “giết người diệt khẩu” hay không.

Tôi cho là không loại trừ khả năng đó, bởi Việt Nam hiện nay bên ngoài mang vẻ bình yên, êm ả nhưng bên trong lại rất lộn xộn. Chính trường lộn xộn, nội bộ lộn xộn, các phe phái tranh giành quyền lực lẫn nhau. Đã có rất nhiều thông tin được đưa lên mạng xã hội, tuy không được kiểm chứng, nhưng nó cho thấy khả năng bị đầu độc bằng cách này cách khác có thể đã xảy ra.

Diễm Thi: Ông Trần Bắc Hà được bệnh viện xác định ‘chết bên ngoài bệnh viện’. Điều này có ảnh hưởng gì đến nơi giam giữ ông Hà trước đó hay không, thưa ông?

Phạm Chí Dũng: Nếu như vụ việc Trần Bắc Hà bị giam giữ bên tuyến của quân đội chứ không phải bên công an là đúng, thì việc Trần Bắc Hà chết và thông tin tràn ngập ngay trong ngày đã ảnh hưởng khá nhiều về bên quân đội. Tôi nghĩ rằng điều đó không tốt cho cái được gọi là “uy tín” của cơ quan bên quân đội, nơi giam giữ Trần Bắc Hà.

Có lẽ sau sự việc này sẽ xảy ra một cuộc tranh cãi và vật lộn giữa các cơ quan với nhau, nghi ngờ lẫn nhau. Và có lẽ hứa hẹn sẽ là một cuộc đấu nảy lửa quanh việc truy tìm nguồn gốc vì sao Trần Bắc Hà chết và ai đã đưa tin Trần Bắc Hà chết ra ngoài.

Theo tôi thì những thông tin như thế này không thể lọt ra bên ngoài trừ khi có chủ trương; chiến thuật; thủ thuật nào đó về mặt chính trị. Dường như có bàn tay nào đó tung thông tin từ bên trong nội bộ ra bên ngoài.

Diễm Thi: Ông Trần Bắc Hà qua đời có ảnh hưởng đến việc điều tra vụ án không, thưa ông?

Phạm Chí Dũng: Theo Bộ luật Tố tụng hình sự, khi bị can chết thì vụ án được đình chỉ. Nhưng cần phải nói rõ là chỉ đình chỉ đối với bị can đó thôi, chứ còn những bị can khác liên quan đến ông Trần Bắc Hà thì vẫn tiếp tục điều tra.

Vấn đề tôi muốn nói là khi đình chỉ vụ án với Trần Bắc Hà thì một vụ án khác liên quan đến ông Hà có lẽ sẽ được mở ra, có thể còn dữ dội hơn, đó là liệu có bàn tay nào làm Trần Bắc Hà chết hay không?

Theo tôi là cuộc điều tra này sẽ huy động lực lượng còn lớn hơn cuộc điều tra cũ đối với Trần Bắc Hà bởi nó sẽ được mở rộng tới nhiều tuyến, nhiều giới, nhiều giới, nhiều quan chức khác nhau.

Chắc chắc cái chết của Trần Bắc Hà sẽ khiến một số quan chức vui mừng vì không muốn bị Trần Bắc Hà khai ra hoặc không muốn bị Trần Bắc Hà là nhân chứng tố cáo họ trước tòa án. Những gì Trần Bắc Hà đã khai trước đây (nếu có) thì vẫn có giá trị, chỉ có điều không biết Trần Bắc Hà đã khai ra những gì và những lời khai đó dẫn đến những vụ việc lớn nào và những quan chức lớn nào. Cái đó thì chưa thể biết vì nằm trong hồ sơ của Cơ quan Điều tra.

Diễm Thi: Cảm ơn ông đã dành thời gian cho RFA.

Việt Nam lấy cái gì để bảo vệ chủ quyền biển đảo?

Để trả lời câu hỏi này người ta cần xác định tranh chấp ở Biển Đông là loại tranh chấp gì?

Có ít ra bốn loại tranh chấp: 1/ tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 2/ Tranh chấp do đối nghịch lập trường về cách diễn giải Luật Biển (UNCLOS 1982). 3/ Tranh chấp do thiếu nghĩa vụ của một bên về những cam kết có giá trị ràng buộc pháp lý. 4/ Tranh chấp đến từ sự bất tuân của một (hay nhiều) bên đối với sự áp đặt về quyền (lịch sử) của bên kia.

Vụ lùm xùm TQ cho tàu nghiên cứu địa chất đến thăm dò địa chấn khu vực biển thuộc vùng kinh tế độc quyền (EEZ) của VN (trong vòng 200 hải lý tính từ đường cơ bản) từ đầu tháng 7 năm 2019 đến nay, về cơ bản, đến từ những yêu sách của TQ (mà yêu sách này) liên quan đến cả 4 vấn đề nói trên.

Thứ nhứt, về tranh chấp “chủ quyền”. Từ sau Hội nghị San Francisco 1951 TQ cho rằng họ có chủ quyền “bất khả tranh biện” đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đến thập niên 70 thì họ tuyên bố có chủ quyền đối với “vùng nước chung quanh”. Tuy nhiên, về phương diện lịch sử và pháp lý, TQ không có những bằng chứng thuyết phục để chứng minh (chủ quyền của họ tại HS và TS). TQ chiếm Hoàng Sa của VN bằng vũ lực (19 tháng giêng năm 1974). TQ chiếm một số bãi, đá thuộc Trường Sa của VN bằng vũ lực (tháng ba năm 1988). Tập quán quốc tế loại trừ hành vi khẳng định chủ quyền bằng phương pháp chinh phục lãnh thổ bằng vũ lực. Tức là hành vi xâm lăng HS và TS không đem lại danh nghĩa chủ quyền cho TQ.

2/ Sau khi tiếm nhận chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, TQ diễn giải Luật Biển 1982 bằng cách có lợi nhứt. TQ yêu sách hai quần đảo HS và TS có hiệu lực biển “nội hải” trường hợp “quốc gia quần đảo” đồng thời mỗi đảo có hiệu lực “đảo” theo tiêu chuẩn của UNCLOS (điều 121 khoản 3). Với 2 yêu sách này vùng biển EEZ của HS và TS rộng lớn, phù hợp với “đường chữ U chín đoạn” mà đường này “chống lấn” với hải phận kinh tế độc quyền của các quốc gia chung quanh, như VN, Phi, Mã Lai… Tuy nhiên hai yêu sách này bị loại trừ sau khi Tòa trọng tài ra phán quyết tháng 7 năm 2016. Theo đó các đảo HS và TS không có qui chế “nội hải” theo qui ước riêng dành cho các quốc gia quần đảo đồng thờ icasc đảo ở TS không có cái nào có đủ tiêu chuẩn “đảo”, theo điều 121 UNCLOS.

3/ Phía TQ luôn vịn vào công hàm 1958 của cố thủ tướng VNDCCH là ông Phạm Văn Đồng, nội dung công nhận và tuân thủ “tuyên bố đơn phương về hải phận và chủ quyền” của TQ tháng 9 năm 1958. Qua công hàm này TQ cho rằng VN đã chính thức nhìn nhận HS và TS thuộc TQ. Ngoài ra ta không thể loại trừ các “cam kết miệng” giữa các lãnh đạo cộng sản, như sự trao đổi lãnh thổ lấy viện trợ (vũ khí, đạn dược, thực phẩm, nhân sự..) phục vụ cho cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước”… Ngoài ra, một tài liệu công bố cách đây hơn 10 năm, ta biết rằng VN “công nhận có 3 vùng biển tranh chấp” với TQ.

4/ TQ yêu sách “quyền lịch sử” ở Biển Đông theo bản đồ “U chín đoạn”. Yêu sách “quyền lịch sử” cũng bị loại trừ. Phán quyết Tòa trọng tài tháng 7 năm 2016 không nhìn nhận yêu sách “quyền lịch sử” vì quyền này không phù hợp với Luật Biển 1982.

Trở lại câu hỏi: VN lấy cái gì để bảo vệ quyền và lợi ích ở Biển Đông?

Có 3 phương cách: 1/ chiến tranh (pháp lý), 2/ chiến tranh (ngoại giao, kinh tế…) và 3/ chiến tranh nóng.

Ngoài phương cách thứ nhứt, sử dụng “luật”. VN không có phương cách nào khác để tự bảo vệ mình tốt hơn phương pháp này.

VN làm gì có đủ khả năng ngoại giao để thuyết phục các quốc gia Mỹ, Pháp, Anh, Nga…, các đại cường có thẩm quyền quyết định các lãnh thổ mà Nhật phải từ bỏ sau Thế chiến II, nhìn nhận VN có chủ quyền ở HS và TS? VN cũng không có trọng lượng kinh tế để “cấm vận” trừng phạt TQ. Thực tế cho thấy ngược lại, VN quá lệ thuộc kinh tế vào TQ, khiến những yêu sách hợp tình hợp lý của VN bị che dưới nhu cầu phát triển kinh tế.

Còn “chiến tranh nóng”, VN làm gì có đủ khí tài để ngăn chặn lực lượng hải quân, không quân, hùng hậu của TQ ở Biển Đông? Ta thấy sau khi thử nghiệm thành công (?) hỏa tiễn chống hạm, chống tiếp cận đời mới phóng từ lục địa ra vùng biển Trường Sa, TQ gia tăng áp lực chèn ép VN trên vùng biển của mình như đã thấy những ngày gân đây. VN cũng không thể “nghiêng” về Mỹ, vì nước Mỹ thời TT Trump chủ trương “co cụm” với “bảo hộ chủ nghĩa”, bất cần thế giới bên ngoài hỗn loạn, cá lớn nuốt cá bé ra sao.

Cuối cùng chỉ có “chiến tranh pháp lý” mới có thể giúp VN khẳng định được quyền và lợi ích của mình trước những áp lực từ TQ. Nhưng để đạt được chiến thắng, VN phải “hóa giải” thành công những tuyên bố đơn phương, những cam kết “mật” giữa lãnh đạo cộng sản VN và TQ. Mà việc này, tôi đã từng nói đi nói lại nhiều lần, là đảng CSVN phải “hòa giải quốc gia” thông qua một đạo luật, mục đích “kế thừa” di sản của VNCH.

Hòa giải quốc gia là gì? những người “trong cuộc” đã chết. Hòa giải với ai? Vấn đề là “người ” chết nhưng “di sản” của VNCH vẫn không (hay chưa) “tàn” đi. Hòa giải quốc gia thực ra là cách nói khác của “dân chủ hóa đất nước”. Phải trả lại chủ quyền đất nước thực sự cho người dân định đoạt.

Chớ nếu không làm, như bây giờ, thì không lâu nữa TQ sẽ chiếm trọn Biển Đông, chiếm trọn tất cả những gì lý ra là của người VN. Lãnh đạo đảng CSVN có thể bị gò bó trong mục tiêu sao cho sự lãnh đạo của đảng được trường tồn. Nhưng đất nước không phải chỉ là của thế hệ hôm nay. Thế hệ hôm nay không thể ăn tàn phá nát đất nước, bất kể hậu quả để lại cho thế hệ mai sau.

BAOTIENGDAN.COM
Việt Nam lấy cái gì để bảo vệ chủ quyền biển đảo? Bởi AdminTD – 18/07/2019 Trương Nhân Tuấn 18-7-2019 Để trả lời câu hỏi này người ta cần xác định tranh chấp ở Biển Đông là loại tranh chấp gì? Có ít ra bốn loại tranh chấp: 1/ tra…

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đất Đai Thủ Thiêm & Đồ Mã Ba Đình

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đất Đai Thủ Thiêm & Đồ Mã Ba Đình (RFA)

Ảnh của tuongnangtien

Đề nghị chúng ta hãy làm dân thường một vài giờ thì sẽ thấy tính mạng, nhân phẩm và tài sản của người dân dễ bị xâm hại, dễ bị xúc phạm như thế nào.

Đại biểu Trương Trọng Nghĩa

Sinh lão bệnh tử là lẽ tự nhiên của kiếp người. Tuy thế, khi còn trẻ, tôi vẫn cứ tưởng rằng đó là chuyện của người nào khác (thôi) chớ không mắc mớ gì ráo tới mình. Tưởng vậy, tất nhiên, là Tưởng Tầm Bậy. Mấy năm nay, những năm cuối đời, tôi phát bệnh tùm lum (suyễn, thống phong, cao huyết áp …) nên mới chợt nhận ra là cái chết – ngó bộ – cũng không còn xa xôi mấy.

Từ đó, tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện hậu sự với không ít âu lo. Dù gần cả đời sống ở Hoa Kỳ nhưng tôi nói tiếng Anh không được rành rẽ lắm. Cứ hình dung ra cảnh một đêm trăng ngà, trong cái nghĩa trang toàn là ma (Mỹ) đang chuyện trò rôm rả mà mình lại ngồi thu lu (ở một góc xa) thì buồn bã và cô đơn hết biết luôn.

Vậy là tôi lật đật hỏi thăm giá cả mộ phần ở quê nhà. Thằng con ông anh hồi đáp tức thì, qua email: “Hai mét vuông đất ở nghĩa trang Thánh Mẫu, phường 8, Đà Lạt hiện đang có giá là 300 triệu đồng. Chú nhắm có khả năng chôn thì hãy chết, bằng không thì thôi nhá.”

Thôi sao được, Trời. Sinh lão bệnh tử mà! Suy nghĩ cả buổi tôi mới tìm ra một giải pháp vẹn toàn. Đốt. Xong dặn con cái bỏ tro vô cái lon sữa bò mang gửi về VN đặt ké trong phần mộ của song thân.

Khoẻ!

Khỏi tốn kém cắc nào mà còn được hưởng lợi nữa nha. Lợi cái là khi tụi nhỏ đốt vàng mã cho ông bà thì làm gì mà hai người không chia cho tui chút ít. Con mà ai lại không thương chớ, kể cả cái thứ con cái hư đốn và tệ bạc như tui, đúng không?

Thiệt là một phát kiến thần tình. Ai cũng “chơi” kiểu đó thì xứ sở đỡ hao tốn đất đai, lại còn bớt được nạn ô nhiễm môi sinh vì số vàng mã mang đốt hàng năm sẽ giảm đi không ít. Cứ như thế, không chóng thì chầy, cái phố Hàng Mã ở Hà Nội sẽ  đi đong là cái chắc.

Vấn nạn nghìn tỷ vàng mã mang đốt hằng năm, như thế, kể như xong. Vấn đề còn lại, nan giải hơn, là phải giải quyết dứt điểm mớ đồ mã của Đảng Cộng Sản Việt Nam kìa – một đảng chuyên làm hàng giả và làm rất khéo.

 Xin nói qua về vài ba mặt hàng tiêu biểu, đã được bầy bán khắp nơi: 

Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (M.T.G.P.M.N) chả hạn. Nó được nặn ra vào ngày 20 tháng 12 năm 1960, và nặn khéo đến độ khiến có người tưởng là đồ thật. Ðến khi được mang ra đốt, nó cháy như điên. Sự nghiệp cách mạng của nhiều người miền Nam cũng cháy theo (luôn) như đuốc! Đám tro tàn còn lại đã được Đảng bỏ vô Mặt Trận Tổ Quốc (M.T.T.Q) để khỏi vương vãi tùm lum.

Cái Mặt Trận này mới thực sự là một sản phẩm đặc sắc của dân làng Ba Ðình, có mặt từ tháng 9 năm 1955, tập hợp nhiều món đồ mã linh tinh khác (Hội Cựu Chiến Binh, Ủy Ban Tôn Giáo, Hội Nông Dân Việt Nam, Hội Phụ Nữ Việt Nam, Tổng Công Ðoàn…) khác. So với mặt hàng chiến lược này thì những thứ đồ mã vớ vẩn như M.T.G.P.M.N, Mặt Trận Giải Phóng Tây Nguyên, Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ & Hoà Bình … đều là chuyện nhỏ, nếu chưa muốn nói là đồ bỏ, chỉ có tính cách giai đoạn mà thôi. 

Điều 9 của mước C.H.X.H.X.N.V.N (2013) quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”

Tất nhiên là nói chơi vậy chớ không phải vậy đâu. Ai mà tưởng vậy là Tưởng Tầm Bậy, và hậu quả rất khó lường. Trong một phiên họp của M.T.T.Q, vào ngày 30 tháng 10 năm 1956, luật sư  Nguyễn Mạnh Tường lỡ góp ý với ĐCSVN (“Qua Những Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất”) nên ông bị bị vùi dập thê thảm cho mãi đến khi nhắm mắt lìa đời.

Sáu mươi ba năm sau, sau hôm L.S Nguyễn Mạnh Tường đọc diễn văn trước M.T.T.Q, bà Nguyễn Thị Thùy Dương (một dân oan ở Thủ Thiêm) uất ức cho biết: 

“Cả đêm 18 đến rạng sáng 19/6/2019, tôi thức trắng sau bao nổ lực cố gắng giành cho được 2 lá phiếu để phát biểu trong lần tiếp xúc cử tri. Mặt trận tổ quốc Quận 2 cho đến Mặt trận tổ quốc phường Bình Trưng Đông nơi tôi sinh sống nhất quyết không cho tôi đăng kí. Họ đổ lỗi lẫn nhau, họ chặn mọi con đường để tôi không thể nói.”

Nói cách khác kể từ năm 1955 cho đến nay, cái gọi là M.T.T.Q không làm gì khác hơn là mượn danh nhân dân để bịt mồm của chính họ bằng nhiều phương cách mà điển hình nhất là “tổ chức hiệp thương” (đảng cử dân bầu) – theo nhận xét của ông Hà Sỹ Phu:

“Anh nắm hết mọi sức mạnh trong tay, muốn bầy đặt cái gì cũng được, anh có dành cho nhân dân một hội đồng để giúp anh thu thập tiếng nói của dân, hay anh lại tìm cách đưa Bí thư tỉnh ủy, Bí thư thành ủy sang phụ trách luôn… cho nhất quán?” 

Do sự “nhất quán” này mà bi kịch Thủ Thiêm đã kéo dài gần hai mươi năm qua  trong nín lặng. Cho đến khi sự việc không thể ém nhẹm được nữa, Đại Biểu Quốc Hội phải lộ diện thì họ hành sử trơ tráo đến độ khiến cho người dân phải ném giầy vào mặt.

                                                       Ảnh: báo Nghệ An

Blogger Trân Văn kết luận:

“Hệ thống công quyền như thế chính là hậu quả của một hệ thống chính trị ‘ưu việt’ hơn phần còn lại của nhân loại. Dưới sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của đảng, ba đại biểu của Quốc hội đại diện cho cơ quan đại diện ‘ý chí, nguyện vọng của toàn dân’ chỉ làm được một chuyện: Mỗi năm vài lần, trước và sau các kỳ họp Quốc hội phơi mặt để dân chửi như một cách giúp họ hạ hỏa, đồng thời cũng là để xiển dương thể chế ‘dân chủ gấp vạn lần thiên hạ’. Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) – tập hợp các tổ chức chính trị đại diện cho tất cả các giới, các thành phần khác nhau trong xã hội – cũng thế và cũng vì thế, mới bị cô Dương tố cáo: Cử tri muốn tiếp xúc với đại diện của mình tại Quốc hội phải… đăng ký với MTTQ và nỗ lực duy nhất của là… ngăn cản.”

Đã thế, người dân còn phải đóng thuế để nuôi dưỡng cái “lực cản vỹ đại” này. Trang Quản Lý Nhà Nước (State Management Review) tiết lộ:

“Nghiên cứu gần đây về ngân sách cho các hội, đoàn thể của Viện Nghiên cứu chính sách kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy, NSNN ước tính chi khoảng 14 nghìn tỉ đồng cho toàn bộ khối này, gấp đôi dự toán cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế và gấp 5 lần cho Bộ Khoa học và Công nghệ…  Nếu tính cả dự toán ngân sách cho Liên minh Hợp tác xã Việt Nam thì tổng chi lên đến 1.615,710 tỷ đồng. Hầu hết các hệ thống hội đoàn, trong đó đặc biệt là các tổ chức CTXH, được tổ chức theo mô hình hành chính, có biên chế, trụ sở, xe…”

Thế còn Quốc Hội?

Đại biểu Trần Quốc Tuấn từ tỉnh Trà Vinh cho biết ông có được nghe một chuyên gia cung cấp thông tin rằng: “nếu mỗi một phút chúng ta ngồi tại hội trường này thì nhà nước phải bỏ ra khoảng 2 triệu đồng, bình quân mỗi một kỳ họp như thế một ngày chúng ta mất khoảng 1 tỷ đồng.”

Blogger Trân Văn chi tiết hơn xíu nữa: “Nếu cộng thêm khoản lương phải trả cho cả các đại biểu Quốc hội lẫn hệ thống tham mưu, giúp việc và chi phí kinh tế – xã hội (bao gồm: đất đai, nhà cửa, xe cộ, các tài sản khác) dành cho Văn phòng Quốc hội và 63 Đoàn Đại biểu Quốc hội, tổng chi phí hàng năm cho việc vận hành, duy trì hoạt động của Quốc hội Việt Nam có lẽ không dưới mức ngàn tỉ.”

Toàn là Đồ Mã không mà mắc dữ vậy, mấy cha? Mang đốt hết đi cho rảnh nợ. Mà dù không muốn đốt chăng nữa thì cũng đã đến lúc chúng phải cháy thôi.

Nhà thơ lãng tử dễ thương Nguyễn Tất Nhiên

Image may contain: 1 person, closeup
Image may contain: 1 person, smiling, closeup

Mai-Agnetha Pham is with Mai-Agnetha Pham.

Nguồn: FB Lam Son Le

Bài viết giới thiệu văn nghệ sỹ miền nam tự do: Nhà thơ lãng tử dễ thương Nguyễn Tất Nhiên

Đoàn Dự

Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, là một nhà thơ được nhiều người Việt Nam yêu thích. 

Đối với các nhà thơ khác thì người ta hâm mộ, còn đối với Nguyễn Tất Nhiên, người ta yêu thích do thơ của Nhiên rất hay, phóng khoáng, có những nét gần như kỳ lạ nhưng lại rất trẻ, rất hồn nhiên, cứ viết là viết, hễ thích là viết và viết rất gần gũi với cuộc sống con người. Ví dụ: “Người từ trăm năm/ Về ngang sông rộng/ Ta ngoắc mòn tay/ Trùng trùng gió lộng/ Thà như giọt mưa/ Vỡ trên tượng đá/ Thà như giọt mưa/ Khô trên tượng đá/ Có còn hơn không…” (Trích: Khúc tình buồn. 
Phạm Duy phổ nhạc và đổi tên thành ‘Thà như giọt mưa’ nhưng xem ra cái tên Khúc tình buồn hay hơn). 

Ôi, tình yêu mà chỉ có “một khúc” thôi – một khúc ngắn ngủi, nhỏ bé, giống như những giọt mưa rơi trên tượng đá, sau đó khô đi và tác giả tự an ủi: “Có còn hơn không”. 
Thật dễ hiểu, dễ gần gũi, vì ai cũng đã từng trải qua thứ tình cảm ấy nên thấy yêu thơ Nguyễn Tất Nhiên.

Thời trẻ tuổi: Nguyễn Tất Nhiên sinh ngày 30 tháng 5 năm 1952 tại quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa, mất ngày 3 tháng 8 năm 1992 tại California, Mỹ, hưởng dương 40 tuổi. 
Lúc còn là một học sinh với cái tên khai sinh Nguyễn Hoàng Hải, Nhiên theo học tại trường Trung học Công lập Ngô Quyền – Biên Hòa từ năm lớp 6 (1963) cho tới năm lớp 12 (1970).

Biên Hòa trước 1975 có hai trường trung học lớn, là trường Ngô Quyền (công lập) và trường Khiết Tâm (tư thục, công giáo). Trường Ngô Quyền nay vẫn còn nhưng trường Khiết Tâm đã bị tịch thu ngay sau 30-4 và trở thành trường bán công.

Khi còn là một học sinh Trung học Đệ Nhất cấp (lớp 6 đến lớp 9), cậu học sinh Nguyễn Hoàng Hải đã làm thơ và thơ rất hay, rất tình cảm, với những ý tưởng đặc biệt nên được bạn bè hâm mộ. Mới học lớp 7 nhưng cậu rủ cậu bạn cùng lớp cũng yêu thơ như mình tên là Đinh Thiên Thọ thành lập thi văn đoàn Tiếng Tâm Tình và khuyến khích bạn bè hợp tác. Các “tác phẩm” cả thơ lẫn văn trong thi văn đoàn đem quay ronéo rồi chuyền tay nhau đọc.

Năm sau, lên lớp 8, mới 14 tuổi (năm 1966), hai “nhà thơ học trò” này chung tiền nhau xuất bản tập thơ đầu tay Nàng thơ trong mắt. 
Gia đình Nguyễn Hoàng Hải có tiệm may âu phục lớn ngay trong trung tâm thành phố, còn gia đình Đinh Thiên Thọ có tiệm tạp hóa cũng rất khá giả, nên tiền in thơ cũng “lo được”.

Đinh Thiên Thọ lấy bút hiệu là Đinh Thiên Phương còn Nguyễn Hoàng Hải lấy bút hiệu Hoài Thi Yên Thi. Như vậy, Đinh Thiên Phương và Hoài Thi Yên Thi là hai nhà thơ “nhí” có tác phẩm xuất bản rất sớm, vào năm 14 tuổi (Đinh Thiên Thọ và Nguyễn Hoàng Hải bằng tuổi nhau).

Trong thời gian này, Hoài Thi Yên Thi (Nguyễn Tất Nhiên) thầm yêu một cô bạn cùng lớp gốc “Bắc kỳ di cư 54” tên là Duyên (Hoài Thi Yên Thi người miền Nam) với những tình cảm nhẹ nhàng, trong sáng, nhưng không đi đến đâu vì tình yêu thuở học trò thời đó là như vậy, “yêu rất nhiều mà chẳng được bao nhiêu” chứ không như bây giờ. 
Tuy nhiên, dù sao thì cô bạn gái cùng lớp tên Duyên cũng là niềm cảm hứng cho nhà thơ Hoài Thi Yên Thi và sau này “chàng” đổi bút hiệu thành Nguyễn Tất Nhiên, sáng tác khá nhiều bài thơ rất có giá trị: “Khúc tình buồn” 
(Phạm Duy phổ nhạc thành “Thà như giọt mưa”), “Linh mục” 
(Nguyễn Đức Quang phổ nhạc thành “Vì tôi là linh mục”), “Ma sơ” (Phạm Duy phổ nhạc thành “Em hiền như ma sơ”), “Cô Bắc Kỳ nho nhỏ”,v.v… Người ta tìm được 71 bài đã đăng báo và 3 tập thơ đã xuất bản, trong đó có một tập in ở Mỹ khi Nhiên còn sống.

Tâm hồn nghệ sĩ của Nguyễn Tất Nhiên đã bộc lộ từ lúc còn rất ít tuổi. Đầu óc Nhiên được mô tả là lúc nào cũng như mơ mộng, suy nghĩ đâu đâu, không tập trung ngay cả trong khi còn đang đi học. 

Bạn bè thời đó gọi đùa Nhiên là “Hải-ngố” hay “Hải-khùng”. 

Có câu chuyện do bạn bè kể lại là một buổi sáng, Nguyễn Tất Nhiên đứng giữa ngã tư trong thành phố Biên Hòa, hai tay đút túi quần, cặp mắt mơ mộng nhìn lên trời như không biết đó là ngay giữa ngã tư.

Theo lời kể của nhà thơ Thái Thụy Vy, hồi chưa nổi tiếng, trời nắng chang chang mà “Hải-khùng” vẫn mặc chiếc áo măng-tô mua ở khu Dân sinh dưới Sài Gòn, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, đạp xe đạp đi theo “cô Bắc Kỳ nho nhỏ” tên Duyên.

Giai đoạn từ 1971 trở về sau:
Sự nghiệp của Nguyễn Tất Nhiên thời gian đầu không mấy thành công, thơ in ronéo tặng cho các nữ sinh chẳng ai buồn đọc.

Hai tập thơ xuất bản, gửi bán trong tiệm sách ở đầu chợ Biên Hòa, để lâu giấy vàng cả ra cũng chẳng ai mua.
Cho đến khi thơ của Nhiên được một giáo sư trong trường Ngô Quyền (trước năm 75 các thầy cô giáo dạy trung học gọi là giáo sư, dạy tiểu học gọi là giáo viên; sau 75 tất cả đều là giáo viên giống như ngoài Bắc), vốn yêu thơ và biết thơ của Nhiên có giá trị nên gửi tới tạp chí Sáng Tạo ở Sài Gòn do nhà văn Mai Thảo chủ trương. 
Lúc ấy, hễ có bài đăng trên tạp chí Văn của Trần Phong Giao, tạp chí Sáng Tạo của Mai Thảo hay Bán nguyệt san Thời Nay của Nguyễn Văn Thái v.v… là rất dễ được mọi người chú ý. 
Các nhạc sĩ Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang thấy thơ của tác giả Nguyễn Tất Nhiên nào đó đăng trên Sáng Tạo rất hay và có ý lạ nên phổ nhạc, từ đó Nguyễn Tất Nhiên bắt đầu nổi tiếng.

Bị… lính chê!
Đầu năm 1972, Nguyễn Tất Nhiên nhận được giấy gọi nhập ngũ Trường Sĩ quan Thủ Đức, nhưng mới đi trình diện, khám sức khỏe tại Trung tâm Nhập ngũ số 3 đường Tô Hiến Thành thì bị các bác sĩ trong Hội đồng Giám định Y khoa… chê và cho về với lý do “tâm thần không ổn định”.

Đối với anh chàng lãng tử đầu óc luôn luôn để đâu đâu này thì đi lính cũng được, không đi lính cũng được, chẳng sao cả. 
Nhưng đã đi rồi lại bị cho về vì… đầu óc không bình thường thì cũng hơi mắc cỡ với bạn bè. Do đó, chàng bèn nói dóc rằng chính chàng giả bộ tâm thần, đánh lừa được Hội đồng Giám định nên họ cho về. 
Giải thích riết rồi… chính chàng cũng tưởng rằng mình có tài “giả điên” thật, nên bèn lấy làm khoái chí lắm, hễ gặp bạn bè là khoe tới khoe lui hoài.

Thế rồi, sau 1975, ai cũng nghèo, Nguyễn Tất Nhiên may mắn xin được một chân làm nhân viên điều hành trong Hợp tác xã xe lam ở bến xe Tam Hiệp, Biên Hòa, đồng lương tuy chẳng bao nhiêu nhưng cũng đỡ phải chơi không. Ngoài ra, Nhiên cũng có một người anh và một người chị ở bên Pháp làm ăn từ trước rất khá giả, luôn luôn gửi quà (tức các thùng hàng, lúc đó chưa được gửi tiền như bây giờ) về giúp đỡ nên gia đình không đến nỗi nào.

Không phải lo cho chuyện gia đình, buổi tối buồn tình chàng đi học đàn ghi-ta và học sáng tác âm nhạc với nhạc sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa nhưng không thành công. Chàng chẳng sáng tác được bản nhạc nào. Cuối năm 1980, gia đình được bảo lãnh sang Pháp, trong đó có Nhiên. Lúc ấy chàng 28 tuổi.

Ba năm sau, có một cô gái tên Lê Minh Thủy từ bên Mỹ đi du lịch Âu châu, sang Pháp.
Cô này vẫn hâm mộ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, nhất là qua các bài đã được nhạc sĩ Phạm Duy và nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ nhạc, bèn tìm đến thăm. 
Họ gặp nhau, yêu nhau rồi ít lâu sau chàng sang Mỹ làm đám cưới với nàng và ở lại với vợ tại Mỹ, sống ở Quận Cam, California.

Năm 1987, theo gợi ý của vợ, chàng gia nhập Hội Nhà Văn Việt Nam tại hải ngoại. Đó là một mối tình đẹp, họ rất yêu nhau và có với nhau hai con trai.

Ngày 3 tháng 8 năm 1992, người ta thấy nhà thơ lãng tử Nguyễn Tất Nhiên chết trong chiếc xe hơi của mình đậu dưới bóng cây trong một sân chùa thuộc California, có lẽ do bị trụy tim bất ngờ.

Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ

Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian

Phải đau theo từng hớp rượu tàn

Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định

Đây là những câu thơ được coi là “tiền định” trích trong bài “Giữa trần gian tuyệt vọng” làm năm 1972, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 20 tuổi. 
Những câu thơ này được khắc trên mộ bia của chàng. Mộ Nguyễn Tất Nhiên nằm tại Vườn vĩnh cửu trong nghĩa trang Westminster, phía tây Little Saigon, California. 
Rất thường xuyên, các du khách Việt đến thăm khu phố Bolsa – Little Saigon có ghé ngang qua thăm mộ thi sĩ.

Theo lời nhà báo Đoàn Thạch Hãn thì bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên là do nhà thơ Du Tử Lê đặt. Ông Hãn kể rằng theo nhà thơ Phạm Chu Sa, “có lần Nhiên bộc bạch rằng bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên là do Du Tử Lê đặt. 
Nhiên bảo, ngay lần đầu mới gặp, Du Tử Lê đã chê cái bút hiệu Hoài Thi Yên Thi. 
Nhiên hỏi Du Tử Lê: 
– “Bạn bè em ai cũng chê. Cái bút hiệu này hơi sến phải không?”

Lê đáp: – ‘Tất nhiên’. 
Du Tử Lê nói thêm: 
– “Họ Nguyễn hả? Ừ thì lấy luôn là NguyễnTất Nhiên đi”.
Thế là cái tên định mệnh đó ra đời, gắn chặt với thi nghiệp của một con người tài hoa bạc mệnh.

Bài thơ dưới đây được xem là cuối cùng của Nguyễn Tất Nhiên:

Tình ơi hỡi tình

Lâu rồi…, không nhớ bao lâu
Tìm nhau trong cõi bạc đầu nhân gian.
Em về, dưới gót trăng tan
Có nghe thiên cổ tiếng ngàn thông đau?

* * *

Lâu rồi…, lâu lắm xa nhau
Còn chăng hư ảnh trong màu thời gian.
Em đi, tóc lộng mây ngàn
Ngàn mây lộng khổ mây bàng bạc theo

Lâu rồi…, không biết bao nhiêu
Nắng mưa trên những tàn xiêu đổ đời.
Hôm em êm ả điệu ngồi,
Sau lưng là những tình ơi hỡi tình..

“Người xưa” lên tiếng:
Trong số những bài thơ Nguyễn Tất Nhiên để lại, người con gái tên Duyên có một vị trí đặc biệt. Trong “Khúc tình buồn”, Nguyễn Tất Nhiên đã thấy “Người từ trăm năm về qua sông rộng. Ta ngoắc mòn tay (nhưng chỉ thấy) trùng trùng gió lộng”.

Anh yêu người con gái ấy song không thể đến gần, bởi vì người đó cứ xa cách muôn trùng. 
Anh yêu, cuồng nhiệt, bỏng cháy mà không được đáp lại nên điều ước thật… điên: “Thà như giọt mưa/ Vỡ trên tượng đá/ Thà như giọt mưa/ Khô trên tượng đá/ Có còn hơn không”.

Sau này, một người bạn của Nguyễn Tất Nhiên kể lại là đã hỏi tại sao lại “thà như giọt mưa” thì anh trả lời hết sức cắc cớ: “Ai biểu Duyên không yêu tôi thì tôi làm giọt mưa… vỡ trên vai nàng”.

Người con gái xứ Bắc tên Duyên đã đi vào thơ Nguyễn Tất Nhiên là ai? Bóng hồng ấy có sức hút mãnh liệt thế nào khiến nhà thơ đắm say, si tình, điều đó gợi ra trí tò mò của người yêu thơ Nguyễn Tất Nhiên… 
Chính từ thắc mắc ấy, nhà báo Hà Đình Nguyên đã bỏ công ra truy tìm nguyên mẫu trong hàng chục năm ròng rã từ nhiều nguồn tin, bằng các mối quan hệ và bằng cả cơ duyên.

Trong một lần tâm sự với nhà thơ Lê Minh Quốc, anh thành thật nói rằng mấy chục năm nay đã cố tìm tòi về người đẹp tên Duyên trong các bài thơ nhưng “bó tay”. 
Lê Minh Quốc lục trong trí nhớ và giới thiệu Hà Đình Nguyên tìm gặp nhà báo Lưu Đình Triều, người học cùng trường Ngô Quyền thuở trung học với người đẹp tên Duyên và cả nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên ở Biên Hòa, Đồng Nai.

Qua trí nhớ của người bạn của Nguyễn Tất Nhiên, cô gái tên Duyên cũng hé mở. 
Theo Lưu Đình Triều, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải sinh năm 1952, sau mới lấy bút danh Nguyễn Tất Nhiên.

Còn cô Duyên, tên đầy đủ là Bùi Thị Duyên dân “Bắc Kỳ”, gia đình di cư vào Nam năm 54. 
Tình yêu của Hải dành cho Duyên cả trường Ngô Quyền ai cũng biết. Ngoài ra, Duyên còn là nguồn cảm hứng, là nguyên mẫu cho nhiều bài thơ của Nguyễn Tất Nhiên khi anh ở độ tuổi đôi mươi.

Những tưởng Nguyễn Tất Nhiên sẽ chiếm được trái tim “người đẹp” khi tên cô ngân vang cùng nhạc Phạm Duy trong lòng bao nhiêu người yêu mến. 
Thế nhưng, người đẹp tên Duyên và nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên vẫn đường hai lối rẽ.

Sau này, họ cùng sống ở Mỹ nhưng không biết có cơ hội nào gặp lại nhau không, vì một người ở Michigan, một người ở California.

Cô gái xứ Bắc mang tên Bùi Thị Duyên ngày nào hiện nay vẫn sống tại Michigan, Hoa Kỳ. 
Sau này, qua những người bạn của Nguyễn Tất Nhiên, cô đã nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp của tuổi học trò: 
– “Tụi này học chung cùng lớp với nhau từ năm đệ Tứ. Nhưng lúc đó tôi ngây thơ, chưa nghĩ gì hết, còn Nguyễn Tất Nhiên nghĩ gì hay không thì tôi không biết. Gặp nhau, biết nhau từ lúc 14, 15 tuổi. Tôi được tặng một quyển thơ mà Nguyễn Tất Nhiên nói là có ba bản đặc biệt. 
Một bản của Nhiên, một bản tặng tôi và một bản cho ai tôi quên mất rồi. In ra khoảng chừng 100 quyển thôi. Tôi biết sự hình thành tập thơ của Nguyễn Tất Nhiên chứ không phải không. Tất cả bạn bè trong lớp ai cũng biết, nhưng đó là chuyện hồi nhỏ”.

Trong tập thơ Thiên Thai, Nguyễn Tất Nhiên có rất nhiều bài nói về người thiếu nữ tên Duyên và tập thơ này viết bởi nguồn cảm hứng duy nhất đó. “Dĩ nhiên là phải xúc động bởi nguyên một tập thơ viết cho tôi. Nhưng tôi đã nói với Nguyễn Tất Nhiên ngay từ đầu rằng mình là bạn thôi. Nếu có ý gì đó thì tôi không gặp nữa. Về sau anh ấy phải công nhận là muốn làm bạn, để còn được tiếp tục gặp một người bạn như tôi. Chắc anh ấy cũng quý tôi lắm” – người con gái tên Duyên chia sẻ.

Mới hay, tình yêu đơn phương, hay tình dang dở khiến người ta nghĩ đến nhau nhiều. 
Những vần thơ đã sống cùng thời gian, và người con gái tên Duyên thành biểu tượng thơ của Nguyễn Tất Nhiên. Những bài thơ đã làm cho cái tên Duyên trở nên nổi tiếng và ý nghĩa. Cái ý nghĩa gắn với một tình yêu cuồng si của một tài thơ điên, phận mỏng.

Nguyễn Tất Nhiên yêu và chẳng ngại ngùng khi gọi tên người mình yêu trong thi ca. 
Trong bài “Duyên của tình ta con gái Bắc”, anh viết: “Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc/ Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền/ Nhớ dịu dàng nhưng thâm ý khoe khoang/ Nhớ duyên dáng, ngây thơ mà xảo quyệt/ Nếu vì em mà ta phải điên tình/ Cơn giận giữ đã tận cùng mê muội/ Thì đừng sợ, Duyên ơi, thiên tài luôn yếu đuối…”

Đoàn Dự ghi chép
Khúc Buồn Tình

Người từ trăm năm
về ngang sông rộng
ta ngoắc mòn tay
trùng trùng gió lộng

(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không

mưa ôm tượng đá)……
người từ trăm năm
về như dao nhọn
ngọt ngào vết đâm

ta chết âm thầm
máu chưa kịp đổ
(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá

thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)

(1970)
Hình ảnh bên dưới là hình Nguyễn Tất Nhiên và Bùi Thị Duyên (Người con gái tên Duyên trong thơ của Nguyễn Tất Nhiên )

Xả nước hồ Tây cuốn trôi toàn bộ kết quả thí nghiệm làm sạch sông Tô Lịch

Tổ chức Xúc tiến Thương mại – Môi trường Nhật Bản cho biết việc Hà Nội xả hơn 1 triệu m3 nước hồ Tây vào sông Tô Lịch khiến toàn bộ hệ vi sinh vật có lợi do các tấm Bioreactor kích hoạt trong vòng gần 2 tháng qua đã trong chốc lát bị cuốn trôi, bây giờ phải làm lại từ đầu.

Công nghệ xử lý nước của Nhật Bản nếu được ứng dụng ở VN thì chẳng phải là chúng mất đi miếng ăn à.

Trần Vũ Việt is with Lê Dũng.

Các chuyên gia Nhật Bản sang xử lý nước sông Tô Lịch mới chỉ có 2 tháng mà đã làm cho nước trong veo thì chúng nó chẳng phá chứ sao. 

Công nghệ xử lý nước của Nhật Bản nếu được ứng dụng ở VN thì chẳng phải là chúng mất đi miếng ăn à.

Ở cái đất nước này, quan chức chúng chỉ cướp, phá, vơ vét để thỏa mãn lòng tham của chúng thôi chứ nó có nghĩ cho dân, cho nước đâu.

P/S: trong việc này, bố thằng cấp thoát nước cũng không dám xả nước Hồ Tây vào sông Tô Lịch nếu không có sự cho phép từ trên.
———–
https://www.facebook.com/100009565927431/posts/2288335191495323?s=100028492545193&sfns=mo

Image may contain: 1 person, suit

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân than phiền đại biểu bỏ họp Quốc hội nhiều

Đài Á Châu Tự Do
Bà Nguyễn Thị Kim Ngân than phiền đại biểu bỏ họp Quốc hội nhiều

Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân lần đầu thừa nhận trong phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng nay 16/7 về tình trạng các đại biểu Quốc hội bỏ họp rất nhiều trong kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV vừa qua.

“Chưa kỳ nào đại biểu Quốc hội vắng nhiều như kỳ họp này. Không hôm nào vắng dưới 30 đại biểu, trung bình mỗi ngày có 30-50 đại biểu vắng họp.

Có những đoàn vắng một nửa số đại biểu. Cá biệt có hôm vắng trên dưới 100 đại biểu”, mạng báo Zing dẫn lời bà Kim Ngân khẳng định.

Trong phiên họp sáng nay cũng có các ý kiến của Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại, Chủ nhiệm Ủy ban tư pháp,… đề cập tới tình trạng vắng quá nhiều đại biểu trong các phiên họp và mong muốn có sự chấn chỉnh, nâng cao trách nhiệm.

Kỳ họp thứ 7 của Quốc hội Việt Nam khóa XIV bắt đầu từ ngày 20/5 và kết thúc vào hôm 14/6.

Trong 20 ngày họp các đại biểu Quốc hội đã biểu quyết thông qua tổng cộng 7 dự án Luật bao gồm: Luật Phòng, chống tác hại của rượu bia, Luật Giáo dục được sửa đổi, Luật Thi hành án hình sự sửa đổi, Luật Đầu tư công sửa đổi, Luật Quản lý thuế sửa đổi, Luật Kiến trúc và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Ngoài ra, hai Nghị quyết quan trọng cũng được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 trong đó có Nghị quyết gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về Áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể. 

Các bạn nghĩ sao về tình trạng này?

Image may contain: 1 person

Bà Hồng Xuân với lời về lu, lụt và an ninh mạng

Ý kiến nói nếu đại biểu Hội đồng Nhân dân không có hiểu biết chuyên môn thì không nên phát biểu hoặc phải tìm hiểu, hỏi ý kiến chuyên gia, chứ phát biểu khinh suất, rồi đe dùng Luật An ninh mạng đe nẹt người dân như cách của bà Xuân thì quả là một yếu kém.