Mạng xã hội Trump sắp ra đời… So what?

Van Pham  is with Phạm Đình Trọng

 Mạng xã hội Trump sắp ra đời… So what?

TRẦN TỊNH

Hôm thứ Hai, ngày 22-3-2021, cựu Tổng thống Donald Trump loan bố ông sẽ thành lập một mạng xã hội mới. Cố vấn của ông Trump là ông Jason Miller nói rằng việc này sẽ định dạng lại cuộc chơi về mạng xã hội.

Quyết định này được đưa ra đầu tiên qua kênh truyền hình Fox News, vốn đã và đang là cái loa của ông Trump. Hai phương tiện mạng xã hội mà ông Trump dùng vô cùng có hiệu quả trong suốt cả chục năm qua là Facebook và Twitter đã cấm cửa ông sau vụ bạo loạn 6-1-2021, trong đó ông được cho là đóng vai trò kích động bạo lực.

Ngoài ra ông Trump còn được cho là đầu dây mối nhợ của nhiều loại tin vịt, từ gian lận bầu cử cho đến thuốc sốt rét trị Covid-19.

Mới nghe thì thấy có lý, ông Trump sẵn tiền, với hàng chục triệu người ái mộ. Thêm một chọn lựa theo kiểu thị trường tự do. Quá hay đi chứ. Thậm chí có ông kia, ở trong nước, tín đồ của ông Trump, đã viết ngay một bài lê thê đánh giá tính khả thi tuyệt vời của dự án.

Nhưng câu chuyện không đơn giản. Đầu tiên thử phân tích xem nếu có thêm một platform riêng của ông Trump thì đó có phải là điều hay cho việc đón nhận thông tin, ý tưởng, chính kiến trong xã hội không?

Một chuyện ngược đời trong thời đại ngày nay là mạng xã hội tưởng chừng giúp mọi người nối kết lại với nhau nhưng hóa ra lại chia rẽ họ thêm. Cần biết rằng, các công ty mạng xã hội kiếm tiền qua quảng cáo (đừng ngộ nhận rằng mạng xã hội Facebook hay Twitter có mục đích đấu tranh cho tự do ngôn luận và dân chủ nhân quyền), và để kiếm tiền, họ sẽ viết chương trình (giải thuật) làm sao cho người dùng thấy cái gì mà họ thích, cùng quan điểm với họ.

Kết quả là tạo nên những cái gọi là phòng đồng vọng (echo chamber), nơi chỉ có những người cùng sở thích với nhau, tung hô và vuốt ve nhau.

Phòng đồng vọng của mạng xã hội còn đưa đến một điều nguy hại nữa là người ta không phân biệt được giữa tin tức và quan điểm.

Cứ quan điểm nào trái niềm tin của mình thì gọi nó là “tin giả” (fake news) mà thực ra đó là quan điểm chứ không phải tin tức.

Tin tức là điều xảy ra. Nó là fact. Trong khi đó, người ta cứ nhầm lẫn rằng điều-xảy-ra là quan điểm, và từ đó không tin rằng nó có thật, như chuyện nhiều người Việt nghe ông Trump nói Covid là giả, do truyền thông bày ra, nói quá lên để hại ông Trump.

Trái với Facebook hay Twitter, các mạng Parler hoặc Gab mới ra đời sau này lại có khách hàng hầu như chỉ gồm các nhóm cực hữu, tạo thành những phòng đồng vọng khép kín hơn. Mạng xã hội của ông Trump nếu có cũng sẽ giống như thế.

Khả năng những người trung lập hay cấp tiến kéo qua mạng của Trump…gì gì đó là rất thấp.

Ngay như hai mạng Parler và Gab cũng không có khách hàng này. Mà nói gì cho xa. Kể cả tín đồ ông Trump cũng vẫn còn ở lại Facebook, Twitter rất nhiều sau khi ông ta bị cấm, dù họ từng tuyên bố là sẽ bỏ đi để qua Parler hoặc Gab. Ấy là mới chỉ nói tín đồ người Việt.

Theo tác giả Larry Magid, cây bút chuyên về các đại công ty kỹ thuật vùng Silicon Valley, California, thì để thúc đẩy Trump… Gì đó, có khả năng ông Trump sẽ có các cách thức cổ điển như quảng cáo thương mại để kiếm tiền, kêu gọi quyên góp…, thậm chí có thể bắt trả tiền mới được dùng (subscribe).

Ông Magid viết như vậy vì căn cứ vào “lý lịch” của ông Trump như là một con buôn vẫn thường tính toán “Lời – Lỗ” từ trước đến nay.

Magid cũng cho rằng các doanh nghiệp, từ đại công ty đến công ty bình thường, cũng sẽ không quảng cáo bên đó làm gì với một nhóm thị trường hạn hẹp. Điều quan trọng nhất đối với mạng Trump… Gì đó là yếu tố kỹ thuật. Theo ông Magid, tình hình hiện nay đối với mạng xã hội không phải như khi Facebook mới ra đời mà phức tạp hơn nhiều, đòi hỏi phải có nhiều chuyên gia rất giỏi. Cần biết, việc dựng lên một platform không đơn giản như việc viết một ứng dụng (app). Dĩ nhiên, khi có nhiều tiền, người ta có thể làm gần như được tất cả.

Vấn đề đáng nói hơn hết là “ý nghĩa xã hội” của “mạng xã hội Trump” là gì. Nếu chỉ là chỗ để trút giận vào “dân chủ thổ tả” hoặc chỉ để bày tỏ sự “trung thành” với ông Trump rồi chuyện tiếp theo là gì?

Với những người Việt “cuồng Trump” trong nước, liệu chạy theo “mạng ông Trump” có thể giúp họ dùng cái mạng này để thay đổi được diện mạo bức tranh dân chủ và lật đổ được chế độ cộng sản Việt Nam được chăng?

Cuối cùng, cũng cần nói thêm, sở dĩ Twitter và Facebook thu hút người sử dụng vì đó là những nền tảng mở với sự tham gia của mọi tầng lớp và thành phần, từ “dân chủ thổ tả” đến những người cực đoan cánh hữu, từ dân quèn đến chính trị gia.

Liệu mạng ông Trump có mở ra cho những người chống đối ông tham gia không, hay đó chỉ là một sân khấu giới hạn cho fan cuồng của ông với ông là diễn giả duy nhất ở đó?

Mạng Trump, nếu ra đời, and then… so what?

Sự Thật về “Thành quả Giải phóng” miền Nam

Sự Thật về “Thành quả Giải phóng” miền Nam! Sự dối trá, lừa bịp đã không giảm từ ngày ấy… mà ngày càng trắng trợn, đểu cáng hơn gấp bội!

Chúng ta cùng nhìn lại nửa thế kỷ về trước đã tuyên truyền, bịp bợm dân miền Bắc thế nào?!

***

NHỚ LỜI BÁC HỒ & ĐẢNG ĐĨ DẠY!

“Hạt gạo cắn làm tư,

một phần giữ lại, một phần nuôi quân,

phần viện trợ cho các nước anh em Lào, Cam pu chia

và một phần chi viện vào Nam để nuôi đồng bào đói khổ”.

Cuộc tuyên truyền xảo trá ra rả hết ngày sang tháng, hết tháng sang năm, ngưòi dân không có bất cứ một phương tiện nào khác để tìm hiểu sự thật. Kết qủa là sau này đã được kể lại như sau:

“ Bây giờ nghĩ lại, chúng em thấy không hiểu tại sao thời ấy cả miền Bắc lại ngu ngốc đến như thế. Phần chúng em còn trẻ thì không nói làm gì, khi vào lớp chỉ nghe thầy cô bảo là trong Nam vô cùng đói khổ vì bọn Mỹ xâm lược.

Người dân nhiều khi phải ăn cả lá cỏ như nạn đói ở ngoài bắc vào năm 1945. Đã thế, không có vải che thân, phải lấy những túi bóng (ý nói những túi nylong để đựng đồ đi chợ) mà quấn vào người thay quần áo.

Các em ở đây, tuy có khó khăn, có ăn ít hơn một tý, nhưng vẫn có cơm gạo, có bác và đảng chăm lo, bảo vệ cho đời sống, nên đời sống còn sung sướng và hạnh phúc gấp trăm ngàn lần đồng bào ta ở trong Nam.

Nên chúng ta phải nhất trí thi đua, phải hoàn thành chiến dịch một chén gạo cho đồng bào ruột thịt miền Nam như bác đã đề ra…

Nghe thế là chúng em tin ngay, cả lớp òa lên khóc, rồi bảo nhau về nhà vận động. Không được thì lấy trộm gạo đem vào lớp để mà hoàn thành kế hoạch nuôi quân và cứu đói miền Nam.”

“Anh biết rồi đấy, gạo thì nhà nào có hộ khẩu thì được mua theo tiêu chuẩn người lớn, trước là bẩy ký, sau còn có năm, còn trẻ em thì 3 ký. Gạo bán theo tiêu chuẩn như thế, dĩ nhiên là phải ăn đói, nhưng chúng em vẫn cứ nghe cô thầy nói, về nhà lấy trộm gạo đem vào lớp gởi cho quĩ cứu đói miền Nam.” (Bác Hồ dạy chúng cháu thói bòn rút, ăn cắp từ đây…)

Người kể là một học sinh lớp tám vào niên khoá 74-75 tại trường trung học phổ thông tại Hà Nội.

Đến sau ngày “giải phóng”, chỉ có mấy hôm thôi, cả trường chúng em xôn xao lên vì bản tin ở chợ Đống Đa có bán gạo từ trong Nam mang ra.

Giời ơi, chúng em đến giờ nghỉ bỏ trường, chen lấn nhau vào hàng gạo để nhìn xem. Cả thầy, cả cô rồi mọi người đều kinh ngạc, mở toét cả mắt ra mà nhìn những hạt gạo dài, đầy đặn, trắng phau để trong những cái bao lớn.

Thật tình là cả đời chúng em ở miền Bắc chưa bao giờ nom thấy những hạt gạo trắng như thế. Có người nhanh chân mua sớm được vài ký. Nhưng ngay buổi chiều thì công an đến thu hết.

Họ bảo, gạo của Ngụy trong Nam để lại có tẩm thuốc độc, nhà nước phải đem về điều tra xử lý.

Giời ơi, chỉ có nói phét thôi anh ạ. Chúng cướp về chia nhau mà ăn đấy. Riêng bà bán gạo thì được đi cải tạo cả mấy tháng sau mới tha về.

Rồi ít lâu sau thì đến cán bộ nhớn nhỏ, chở từng xe cam nhông hàng , lấy ở miền Nam ra. Nào là tivi, tủ lạnh, máy quạt, đài, cho đến bàn ghế, giường tủ, không thiếu một thứ gì.

Ai nhìn thấy cũng lấy làm lạ, xầm xì hỏi nhau xem nó là cái gì. Mà có ai biết nó là cái gì đâu. Dễ thường cả đời chưa nhìn thấy lần nào thì làm sao mà biết nó là cái gì!

Khi đi xem về rồi mọi người đều bảo nhau. Giỏi , giỏi thật, chúng nó nói láo giỏi thật!

Vậy mà bảo rằng hạt gạo cắn làm tư và người trong ấy phải lấy túi giấy bóng mà mặc thay quần áo !!!

Bây giờ nghĩ lại, chúng em thấy không hiểu tại sao thời ấy cả miền Bắc lại ngu ngốc đến như thế.

Chuyện người trong Nam phải lấy túi bóng che thân là do tác giả “Vang bóng một thời” Nguyễn Tuân sáng tác ra đấy.

Nhưng sau này, Nguyễn Tuân vào Nam, mắt mở toét ra mà nhìn hàng vải cao cấp dệt bằng sợi nylông ở trong Nam, Tuân biết sự thật, nhưng không có liêm sỉ để nói lên một lời tạ lỗi.

Mà nào có riêng một Nguyễn Tuân láo lếu đâu! bọn văn nô Cộng phỉ thì cũng một phường! Họ viết theo “đơn đặt hàng ” kiếm cơm, kiếm rượu!

Chả thế mà Nguyễn Tuân phải thì thầm thú nhận :”tớ còn sống được tới ngày hôm nay, là nhờ biết sợ đấy”

May be an image of 2 people, people standing and outdoors

MỘT CUỘC ĐỜI ÂM THẦM-Giỗ lần thứ 46 của Cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn, CSsR

28.03: 1975-2021

Giỗ lần thứ 46 của Cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn, CSsR (08.09.1922-28.03.1975)

MỘT CUỘC ĐỜI ÂM THẦM

*Tôma Nguyễn

Ngày 28 tháng 3 năm 2021 là ngày giỗ thứ 46 của cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn, Dòng Chúa Cứu Thế, người đã sống một cuộc đời âm thầm để chuyển ngữ toàn bộ cuốn Kinh Thánh gồm Tân Ước và Cựu Ước từ tiếng Hipri, Aram và Hilạp ra tiếng Việt. Cuộc sống âm thầm là vậy, nhưng cái chết của ngài còn âm thầm lặng lẽ hơn so với những người đã chết tức tưởi trong vụ chôn sống tập thể tại Huế – Thừa Thiên hồi Tết Mậu Thân 1968. Cha Thuấn ra đi, để lại một công trình dịch thuật Thánh Kinh còn dang dở. Ngài chưa dịch xong ba quyển: Yob, Cách Ngôn, và Baruk. Khi xuất bản toàn bộ cuốn Kinh Thánh, ban Xuất bản gồm học trò và bạn bè của ngài đã dịch ba quyển này từ bản tiếng Pháp ‘Bible de Jerusalem’.

Ngày 28 tháng 3 năm 2021 là Chúa Nhật Lễ Lá, nhưng ngày 28 tháng 3 của năm 1975 là Thứ Sáu Tuần Thánh. Thân mời các bạn trở lại với bối cảnh của khu vực tỉnh Lâm Đồng khi chiến cuộc Việt Nam đang ở vào giai đoạn dầu sôi lửa bỏng nhất. Sau khi chiếm huyện Di Linh được một hai tuần, quân Cộng sản đã thủ tiêu cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn tại đồn điền Nguyễn Ngọc, xã Châu Thành, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Một Hạ sĩ quan Truyền Tin của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã can đảm vùi xác ngài tại vùng đó. Người ta nói ngài bị Cộng sản cuốc vào đầu, gây thêm một cái chết oan khiên vô tội vào một chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Nhưng tôi tin rằng, cha Thuấn trước khi chết đã theo gương Đấng mình tin để nói lên trong lòng,“Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm” (Luca 23 34).

Trong cuốn sách “Cha Eugène Larouche, 51 năm Thừa Sai Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt-Nam”, linh mục Rôcô Nguyễn Tự Do, CssR, có viết một đoạn về cha Thuấn:

“Năm 1945, quân Nhật chiếm Huế và giam giữ các cha Canada tại Morin. Cha Nguyễn Thế Thuấn lúc đó còn là một chú Đệ Tử đã dùng chữ Nho để bút đàm với viên sĩ quan Nhật lúc họ lui tới nhà Dòng, mà theo sự suy nghĩ của Cha Thuấn là ‘nhờ đó tạo được bầu không khí cởi mở hơn, thân thiện hơn'”.

Nhưng năm 1975, cha Thuấn đã không tạo được bầu không khí thuận lợi đó tại Di Linh với những người đồng chủng Việt Nam theo cộng sản khi ngài đi giảng Tuần Thánh ở Xứ đạo Di Linh theo lời mời của linh mục Chánh xứ Yuse Phùng Thanh Quang. Đây cũng là lý do dẫn đến cái chết của cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn, người thầy kính yêu của tôi.

Qua việc thủ tiêu một linh mục khá nổi tiếng như cha Thuấn, người Cộng sản đã để lộ chính sách: “Thà giết lầm hơn bỏ sót” của họ, đồng thời cũng để trấn áp bất cứ một suy nghĩ nào gây bất lợi cho chính sách đó. Trong thực tế, suốt trong chiều dài của cuộc chiến Việt Nam và nhất là sau biến cố 1975, chính sách dã tâm này của Cộng sản đã gây ra không biết bao nhiêu cái chết vô tội.

Giờ phút này, tôi nhớ đến câu chuyện của “Người Samari nhân hậu” trong Phúc âm Thánh Luca khi nghĩ đến người Hạ sĩ quan QLVNCH, người cũng mang một quả tim nhân hậu vì đã mai táng người thầy của tôi. Khi có ý định viết bài này, tôi đã liên lạc về Việt Nam tìm tông tích người Hạ sĩ quan ân nhân hầu tôi có thể biết thêm chi tiết về cái chết, việc chôn cất và dời hài cốt của cha Thuấn về nghĩa trang DCCT Đà Lạt, nhưng được biết người Hạ sĩ quan tốt bụng này cũng đã qua đời cách đây hơn chục năm.

Sau biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh Nguyễn Ngọc Lan, lúc ấy còn là linh mục, đã nhanh chóng áp dụng bài học bà Rebecca dạy cho Yacób để xin Bộ Thông Tin Văn Hóa-Cục Báo Chí Xuất Bản cấp giấy phép xuất bản toàn bộ cuốn Kinh Thánh. Khi xin phép, anh Nguyễn Ngọc Lan chỉ xin in cuốn Kinh thánh Tân Ước của cha Nguyễn Thế Thuấn có trước năm 1975, nhưng tiện dịp nên đã in luôn phần Cựu Ước. Tân Ước hay Cựu Ước cũng là Kinh Thánh cả và cũng cùng một dịch giả.

Tôi biết khá rõ chuyện này vì thời gian đó tôi còn ở tại quê nhà. Đó là cuốn sách in lậu đầu tiên sau năm 75 dưới chế độ Cộng sản. Thầy Robert Nguyễn Sĩ Nhàn phải chạy mượn tiền của giáo dân để mua thêm giấy lụa bên tòa Tổng Giám mục Sàigòn. Lần đó, tổng số in được 10.000 cuốn, vì không biết đến bao giờ mới được in lại.

Khi Nhà In Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã sắp chữ gần xong phần Tân Ước, ban Xuất Bản cử thầy Nguyễn Gia Trần và tôi lên giáo xứ Di Linh gặp cha Quang xin lại cuốn Tân Ước cha Thuấn hay dùng, nếu còn. Ý định là xem cha Thuấn có sửa chữa hay thêm bớt gì trong cuốn Tân Ước hay không, để có thể có một cuốn Tân Ước hoàn chỉnh theo ý dịch giả.

Chúng tôi lấy chuyến xe sớm nhất đi Đà Lạt, đến giáo xứ Di Linh thì chúng tôi xuống xe. Lúc này dân chúng còn đi lại không cần xin giấy phép của địa phương, chỉ có các linh mục bị phải cấm cung tại chỗ, do đó khi chúng tôi vào nhà xứ thì được gặp ngay cha Quang là chánh xứ họ đạo Di Linh.

Sau vài câu chào hỏi và biết sự yêu cầu của chúng tôi, cha Quang lúc đó đang cầm sẵn trong tay chiếc mũ “di tích” của cha Thuấn (không biết làm sao mà cha Quang lại có được hiếc mũ này) nói với anh em chúng tôi:

– Các thầy cho tôi cái mũ này để đội, xin cha Thuấn che chở cái đầu cho tôi.

Tôi trả lời:

– Thưa cha, cha muốn lấy cái gì để làm kỷ niệm cũng được, chúng con chỉ xin cuốn Tân Ước.

Tiếp đó, cha Quang bước vào bên trong mang ra chiếc cặp táp của cha Thuấn. Tôi nhận ra ngay chiếc cặp này, vì cha Thuấn thường đeo nó bên mình mỗi khi đi ra khỏi nhà Dòng. Tôi nhận chiếc cặp từ tay cha Quang và đi vội ra khỏi nhà xứ để tránh bị theo dõi.

Chúng tôi đi về cổng nhà thờ, liếc mắt nhìn phía nhà xứ thì thấy một tên công an cũng đang lò dò đi vào. Chúng tôi đi lên chợ Di Linh đón xe đi tiếp lên Đà Lạt và sáng sớm hôm sau về lại Sàigòn. Nhiệm vụ coi như đã hoàn thành.

Sau này, khoảng năm 1993, khi hội “Hột Lúa” của Madame Geneviève Jouan, người Pháp, có giúp giáo xứ Di Linh thuốc men để chữa bệnh cho người nghèo, tôi có dịp gặp lại cha Quang nhiều lần nhưng vấn đề cái chết của cha Thuấn quá ư là tế nhị nên tôi chẳng dám hé môi hỏi thêm điều gì.

Một thời gian sau, tôi được tin cha Yuse Phùng Thanh Quang cũng đã qua đời tại bệnh viện Nguyễn Trải, Sàigòn, hưởng thọ 77 tuổi. Ngài qua đời ngày 31 tháng 10 năm 2003, đúng vào ngày sinh nhật của mình. Cha Quang vẫn tin là cha Thuấn đã chết thay cho mình.

Cách đây vài năm, tôi tình cờ may mắn gặp được hai sĩ quan Địa phương quân VNCH đã đóng quân ở Di Linh trước năm 1975. Họ cho tôi biết chính cha Quang đã rửa tội cho Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu khi cha làm Tuyên Úy trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Nhưng khi Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, cha Quang đã không lợi dụng sự quen biết trước kia để trục lợi cho giáo xứ của mình.

Một lần Tổng Thống Thiệu lên Đà Lạt họp, có cho trực thăng đến đón cha Quang nhưng ngài từ chối. Cha nói, ban phép bí tích rửa tội là công việc mục vụ, chẳng vì quen biết mà làm mất ý nghĩa thánh thiêng.

Cuộc đời của cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn đã âm thầm lặng lẽ bao nhiêu thì cái chết của ngài càng lặng lẽ hơn nhiều.

Năm 1958, cha Yacôbê Nguyễn Hữu Sơn là bạn học cùng lớp với cha Thuấn dẫn một số Đệ tử Huế lên Đà Lạt nghỉ hè một tháng. Chúng tôi được trú ngụ tại nhà bà Paul trong Giáo xứ Tùng Lâm và thường được vào Nhà Dòng Đà Lạt chơi mà chẳng nghe cha Sơn nói gì về cha Thuấn.

Phải đến năm 1964 khi cuốn Tân Ước chào đời, chúng tôi mới biết Dòng mình có một cha biết dịch Kinh thánh từ tiếng Hipri là cha Nguyễn Thế Thuấn. Tôi nhớ là cha Gérard Gagnon, DCCT, cũng có dịch Kinh thánh nhưng chắc là từ tiếng Pháp. Lúc đó chúng tôi thán phục cha Gagnon về khả năng tiếng Việt của cha.

Cha Thuấn sống âm thầm để dịch cho xong cuốn Tân ước rồi mới bắt đầu đi giảng hay dạy học ở những nơi khác ngoài Học viện DCCT Đà Lạt. Các thầy Học viện cũng đã có dịp thấy bà con của cha Thuấn tới thăm ngài và đùa với ngài, “Chúng con biết cha có tổ quốc nhưng lại tưởng cha vô gia đình chứ”.

Tôi nghĩ, nếu ngài tiếp tục cấm cung trong phòng để dịch tiếp cho xong cuốn Cựu ước như ngài đã làm để hoàn tất cuốn Tân Ước thì hôm nay chúng ta đã có một bản dịch trọn bộ Kinh thánh của dịch giả Nguyễn Thế Thuấn.

Bản dịch nguyên thủy toàn bộ Kinh Thánh của cha Nguyễn Thế Thuấn, theo ngài cho biết, đã chứa đựng đầy đủ tính chất xác thực và tinh thần thần học xác tín của ngài. Nói cách khác, ngài không muốn có một sự sửa đổi nào của ai khác, nếu không được ngài thông qua.

Tôi cũng nhớ ngài có viết một bài đăng trên báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp để đính chính những chỗ trong bản dịch Kinh Thánh của mình mà linh mục Yuse Trần Hữu Thanh, DCCT, tự ý sửa đổi. Cha Thanh đã có sửa đổi một vài từ ngữ mà không hỏi qua ý kiến của cha Thuấn khi dùng bản dịch Tân Ước của cha Thuấn để in sách Kinh thánh theo chương trình “Mỗi quân nhân, một Tân Ước” trước năm 1975. Nghĩa là, khi cho in toàn bộ cuốn Kinh thánh, ban Xuất Bản đã thay thế một ít danh từ mà có thể họ cho là không quan trọng. Đặc biệt danh xưng ‘Thần Linh’ trong bản dịch đã được thay bằng danh từ ‘Thiên Chúa’ có lẽ để cho phù hợp với thông thường”.

Trong bản dịch nguyên thủy, khi dùng chữ Thần Linh, dịch giả Nguyễn Thế Thuấn có ý nói đến sự ‘Mặc khải tiệm tiến’ của Thiên Chúa dành cho con người. Ý của ngài muốn cho chúng ta biết rằng loài người trong quá trình nhận biết về Thiên Chúa cũng đã phải trải qua nhiều giai đoạn trong cuộc hành trình đức tin, nghĩa là chúng ta phải dần dần mới hiểu thêm về Thiên Chúa. Điều này dễ nhận ra hơn khi nói rằng con người, trong cuộc sống hằng ngày, cũng cần phải có yếu tố thời gian và kinh nghiệm rồi mới hoàn toàn hiểu được cuộc đời là gì. Huống hồ đây là một phạm trù của khoa Thánh kinh học.

Hiện nay tôi không có trong tay bài đính chính viết trên báo Đức Mẹ HCG của cha Thuấn, nhưng nếu tôi nhớ không lầm thì trong Phúc âm Thánh Luca (13,10) cha Thanh đã sửa chữ “Nhân ngày Hưu lễ” thành “Ngay ngày Hưu lễ”. Và cha Thuấn đã phải đính chính lại. Ngài phải đính chính ngay cả những chữ xem ra bình thường, huống chi là “danh xưng Thần Linh” đã bị thay thế bằng “danh từ Thiên Chúa”.

Thế mới biết lãnh vực kinh điển thật là tỉ mỉ từng chữ. Nhưng khi in bản Cựu Ước thì linh mục dịch giả Nguyễn Thế Thuấn đã qua đời. Ngài là dịch giả nhưng cũng chẳng có cơ hội để viết thêm vào trước bản dịch một lời tâm sự với người đọc bản dịch của mình. Ngài sống âm thầm, và chết cũng rất âm thầm. Âm thầm như chính công việc của ngài.

Rồi những lợi ích tinh thần mà bao nhiêu người lĩnh hội được do việc cha giảng dạy hoặc nhờ đọc cuốn Kinh Thánh của ngài dịch, cũng âm thầm chẳng kém. Tôi có một kỷ niệm liên quan đến tinh thần Kinh Thánh của cha Thuấn.

Năm 1965, ngài ra giảng tại Nhà Dòng Huế. Một anh bạn cùng lớp với tôi vào xưng tội với ngài về việc “chọc gái” sao đó. Tôi không nhớ anh ta lãnh bao nhiêu kinh phải đọc để đền tội để xem việc giải tội của một giáo sư Kinh thánh có màu sắc Kinh thánh không. Bù vào đó, người bạn có tâm sự với tôi điều cha Thuấn đã khuyên anh ta trong tòa giải tội. Cha khuyên bạn tôi: “Người ta không phải là đồ chơi”. Đến nay, tôi vẫn không quên lời khuyên đó. Sau này, một lần khi ngồi xem phim “Toy Story”, tôi thấy Woody nói to vào mặt Buzz, “You are a toy. T- O- Y”. Thỉnh thoảng khi có dịp dạy bảo con cái, tôi cũng nói với các con tôi, “We are not a toy”.

Từ “triết lý” của câu nói đó, tôi tìm ra một điều tâm niệm cho mình. Đó là, trong suốt cuộc đời tôi luôn ráng sống sao để không đối xử với người khác, nam cũng như nữ, và ngay chính bản thân mình nữa, như là đồ chơi. Tôi cảm thấy mình trưởng thành hơn nhờ vào bài học hàm chứa trong lời khuyên của cha Thuấn mà bạn tôi đã chia sẻ. Nhưng dù sao đó cũng chỉ là điều tôi gián tiếp học được qua câu chuyện của một người bạn.

Còn câu nói: “Các thầy đừng phí uổng cuộc đời, vì chỉ có một lần” thì chính tai tôi đã trực tiếp nghe và học được nơi cha Thuấn là giảng sư của lớp tôi ở Nhà Tập. Những lần phí phạm cuộc đời, tôi nhớ đến câu nói này.

Có thể cha Thuấn không hẳn là tác giả nguyên thủy của ý tưởng trong câu nói này, nhưng đối với tôi, tôi xem đó là của cha Thuấn vì lần đầu tôi nghe cha nói mà trước đó tôi chưa đọc được ở đâu hoặc nghe ai nói đến. Thông điệp của câu nói đó đã âm thầm nâng đỡ và dẫn lối cho tôi rất nhiều, nhất là trong thời gian tôi còn tu tập.

Trong khi viết bài này, tôi muốn tìm một tấm hình của cha Thuấn để kèm theo bài thì may mắn được cha Louis Đặng Đức Anh, DCCT, tiếp tay. Cha gửi ngay cho tôi một tấm ảnh hiếm quí của cha Thuấn mà một nhân viên trại gà Scala cũ ở Đà Lạt, chị Minh Phượng, còn giữ lại được qua bao năm tháng. Tấm ảnh do cha Bosco Phạm Minh Thiện, DCCT, học trò lớp đầu tiên của cha Thuấn, bấm máy. Hình chụp năm 1972 khi cha Đại diện Tổng quyền DCCT Roma qua kinh lý xem trại gà Scala hoạt động có đúng đường lối của Thánh Anphongsô trong phát triển kinh tế cho người nghèo hay không. Trong hình có cha Bề trên Giám Tỉnh Bạch Văn Lộc và cha Thuấn, khi đó đang là bề trên Nhà Dòng Đà Lạt.

Chân thành cám ơn cha Louis Anh và chị Minh Phượng đã chia sẻ tấm hình có một không hai của cha Thuấn, và cầu xin cho cha Bosco Thiện được hưởng nhan thánh Chúa.

THẾ NÀO LÀ LÒNG DÂN?

THẾ NÀO LÀ LÒNG DÂN?

Ngày duyệt binh long trọng của quân đội Myanmar diễn ra vào ngày Quân lực 27-03 là ngày lễ trọng của Myanmar (kỷ niệm cuộc nổi dậy của quân đội Miến Điện chống ách cai trị của quân phiệt Nhật Bản năm 1945). Từ khi Miến Điện được độc lập năm 1947 tới nay, năm nào ngày Quân lực cũng được tổ chức kỷ niệm long trọng với đại diện ngoại giao, quân sự các nước.

Năm nay, chỉ có một quan khách nước ngoài duy nhất đến dự: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga Alexander Fomin, theo trang tin Asia Nikkei Review. Ông ta được tướng Min Aung Hlaing, Tổng tư lệnh quân đội Miến Điện, người cầm đầu vụ đảo chính chào mừng: “Nga là người bạn thật sự.”

It nhất 328 người biểu tình bị giết trong các cuộc phản kháng đảo chánh, người nhỏ nhất mới có 7 tuổi.

Việc tổ chức duyệt binh nhân Ngày Quân lực và truyền hình trực tiếp tới cả nước thay vì để phô trương sức mạnh thì hình như làm rõ hơn tình hình thật sự của Myanmar hiện nay: người dân vẫn không chấp nhận sự lãnh đạo của quân đội và cuộc đối đầu đã bắt đầu tàn phá nền kinh tế Miến Điện, làm các nhà đầu tư lo sợ và tháo chạy.

Hiện nay, phong trào xuống đường biểu tình đã chuyển dần sang bất tuân dân sự; người dân không ra đường mà cố thủ trong nhà; hàng quán chợ búa đều đóng cửa; trường học và bệnh viện ngừng hoạt động. Công chức bỏ việc hàng loạt, nhân viên ngân hàng, nhân viên các ngành công nghiệp và dịch vụ then chốt đình công sâu rộng và đông đảo khiến cho đất nước Miến Điện gần như tê liệt.

Theo tin của báo địa phương Myanmar Now: Hai chuỗi siêu thị lớn nhất, City Mart Holding và Aeon Orange – liên doanh với tập đoàn Aeon Nhật Bản – đã đóng cửa tất cả các điểm kinh doanh, trong khi lãnh đạo một số ngân hàng tư nhân đã bị bắt giam vì không chịu mở của hoạt động.

Đến nay, các bệnh viện vẫn đóng cửa, hàng loạt y bác sĩ tham gia phong trào bất tuân dân sự, còn trường học thì chưa biết bao giờ mới hoạt động trở lại.

Về đối ngoại, Miến Điện đã rơi trở lại tình trạng cô lập về ngoại giao và kinh tế khi hàng loạt quốc gia phương Tây, từ Hoa Kỳ, Liên Âu đến Nhật Bản liên tục ban hành những biện pháp cấm vận, trừng phạt các tướng lĩnh cầm đầu đảo chính và yêu cầu các nhà đầu tư của mình rút về nước.

Báo Asia Nikkei nhận định: “Quân đội Miến Điện đang vật lộn với một tình huống hỗn loạn mà họ chưa có chiến lược để thoát ra.”

Theo Fb Vũ Kim Hạnh

* Hình:

– Một hình ảnh Lễ duyệt binh của QĐ Myanmar sáng nay tại thủ đô Naypyidaw chụp từ màn ảnh truyền hình quân đội MRTV (ảnh Asia Nikkei Review).

– Thành phố Yangoon, lớn nhất Myanmar khi người dân thực hiện phong trào bất tuân dân sự (ảnh Reuters sáng 24/3/2021).

NGÀY XẤU HỔ CỦA QUÂN ĐỘI MYANMAR: HƠN 90 NGƯỜI BIỂU TÌNH BỊ THIỆT MẠNG

Thế giới tiếp tục “đếm những con số đen tối”.

—-

NGÀY XẤU HỔ CỦA QUÂN ĐỘI MYANMAR: HƠN 90 NGƯỜI BIỂU TÌNH BỊ THIỆT MẠNG

Các bản tin và nhân chứng cho biết lực lượng an ninh đã gi.ết ch.ết hơn 90 người trên khắp Myanmar vào thứ Bảy ngày 27 tháng Ba trong một trong những ngày biểu tình đẫm máu nhất kể từ cuộc đảo chính quân sự vào đầu tháng 2.

Tổng cộng đến nay đã có hơn 400 thường dân được báo cáo thiệt mạng kể từ cuộc đảo chính.

Cuộc đàn áp tàn bạo diễn ra vào Ngày Lực lượng Vũ trang Myanmar. Cùng lúc trong cuộc duyệt binh ở thủ đô Naypyitaw để đánh dấu sự kiện này, Thượng tướng Min Aung Hlaing, lãnh đạo quân đội đã nói “quân đội sẽ bảo vệ người dân và chiến đấu cho dân chủ”. Ông nhắc lại lời hứa sẽ tổ chức bầu cử mà không đưa ra bất kỳ khung thời gian nào.

Một ngày trước đó truyền hình nhà nước đã đưa ra lời đe doạ những người biểu tình có nguy cơ bị bắn “vào đầu và lưng”. Mặc dù vậy, những người biểu tình chống lại cuộc đảo chính ngày 1 tháng 2 vẫn đã xuất hiện trên các đường phố ở Yangon, Mandalay và các thị trấn khác.

Myanmar Now cho biết lực lượng an ninh đã sát hại ít nhất 91 người trên khắp đất nước. Nạn nhân trẻ nhất chỉ mới 5 tuổi. Một em bé một tuổi bị đạn cao su bắn vào mắt.

Một người dân tên Thu Ya Zaw ở thị trấn Myingyan nói với hãng thông tấn Reuters “Họ đang giết chúng tôi như chim hay gà, ngay cả trong nhà của chúng tôi. Nhưng chúng tôi sẽ tiếp tục phản đối. Chúng tôi phải chiến đấu cho đến khi chính quyền quân phiệt sụp đổ.”

Phái bộ Liên Minh Châu Âu tại Myanmar tuyên bố “Ngày Lực lượng Vũ trang Myanmar thứ 76 sẽ được khắc ghi là một ngày của khủng bố và ô nhục. Không có bất kỳ lý do gì có thể bào chữa cho việc giết hại thường dân không vũ trang, bao gồm cả trẻ em.”

Áp lực quốc tế đối với chính phủ quân phiệt gia tăng trong tuần này với các lệnh trừng phạt mới của Hoa Kỳ và châu Âu.

Nhưng đã có tám quốc gia – Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Việt Nam, Lào và Thái Lan – đã cử đại diện đến đã tham dự lễ duyệt binh ở Naypyitaw. Đặc biệt Nga đã gửi Thứ trưởng Quốc phòng Alexander Fomin đến tham dự và gặp gỡ các nhà lãnh đạo quân đội Myanmar một ngày trước đó. Tướng Min Aung Hlaing nói “Nga là một người bạn thực sự”

Sự ủng hộ của Nga và Trung Quốc rất quan trọng đối với chế độ quân phiệt Myanmar vì hai nước này là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và có thể ngăn chặn các hành động của Liên Hiệp Quốc.

Bất chấp đàn áp, người dân Miến Điện liên tục biểu tình phản kháng hàng ngày kể từ khi quân đội đảo chánh cướp chính quyền của chính phủ dân cử.

Nguồn: Reuters, Myanmar Now

#FreeMyanmar

Phước Long “ Chứng tích kẻ chạy làng ”

 Trận đánh Phước Long là khởi đầu cho việc thất thủ của miền Nam VN…. Đọc để thấy QLVNCH chiến đấu thật kiêu hùng dù cuối cùng… chịu thua cuộc!!!

Chiếm được Phước Long là bằng chứng cụ thể cho chế độ CS miền Bắc biết chắc nước Mỹ đã giữ lời hứa với Tàu cộng… và cũng để dân quân VNCH thấy rõ bộ mặt của kẻ “phản bội đồng minh”!!!

***

Phước Long “ Chứng tích kẻ chạy làng ”

Lê Đắc Lực

Ngày đầu năm 1975, đang hành quân ở Tây Ninh, Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù nhận được lệnh của Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III, phải gấp rút đưa đơn vị về Biên Hòa, nhận nhiệm vụ mới, chỉ để lại một Biệt Đội tăng cường, phòng thủ tại Phi trường Quân sự Trảng Lớn.

Nhiệm vụ mới, không nói mà cả Liên Đoàn ai cũng nhận biết được, đó là chiến trường Phước Long, một chiến trường “dầu sôi lửa bỏng, thập tử nhất sinh” cần khẩn cấp tiếp cứu.

Mặt trận Phước Long bắt đầu từ ngày 12 tháng 12 năm 1974, kéo dài cũng đã gần một tháng. Áp lực địch càng ngày càng mạnh. Bốn Quận của Phước Long đã bị Việt cọng đánh chiếm cả. Năm Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, với quân số còn lại, rút về phòng thủ quanh Thị Xã, ngoài ra còn được tăng cường thêm Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 7, Sư Đoàn 5 Bộ Binh, ba Đại Đội Trinh Sát của các Sư Đoàn 5, 18 và 25 Bộ Binh. Nếu cọng thêm với lực lượng ít ỏi của các đơn vị của Tiểu Khu, kể cả Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát và Cảnh Sát Dã Chiến, Nghĩa Quân, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, không hy vọng chống trả lại được với lực lượng đầy đủ và sung mãn tinh thần “điên khùng” của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 7 Bắc Việt xâm lược, cọng với một Tiểu Đoàn Đặc công, và hai Chi Đoàn Chiến xa T-54.

Vào thời điểm đó, quân cộng sản có nhiều thuận lợi về nguồn tiếp tế. Hướng Đông Bắc là căn cứ Bùi Gia Mập, hướng Tây Bắc là căn cứ Bù Đốp, cả hai nơi đều đã bị địch chiếm cứ và trở thành mật khu của chúng. Chắc chắn hậu cần và quân tiếp ứng, nếu cần, sẽ từ hướng nầy tuôn xuống một cách dồi dào. Phía Đông là hai Thị Trấn Gia Nghĩa và Bảo Lộc, không giúp đỡ gì được cho quân trú phòng. Quận Chơn Thành và Đồng Xoài ở phía Nam cũng đã bị địch chiếm mất rồi. Phía Tây Tỉnh Bình Long, cũng chưa hoàn toàn hồi sức từ sau trận chiến Mùa Hè 1972.

Tình hình quân sự đã căng như thế, trong khi Sài Gòn nhiều phong trào đang biểu tình dữ dội: “Phụ nữ đòi quyền sống, Ký giả đi ăn mày và Chống tham nhũng”. Tình hình chính trị như thế chỉ có lợi cho địch quân mà không chắc ở Sài Gòn có người nào nghĩ đến những người lính ở Phước Long đang lâm vào cảnh “thập tử nhất sinh”.

Về tới căn cứ, nắm biết được tình hình như thế, thêm vào đó trong lòng mang nỗi chán nản vì hành động vi phạm Hiệp Định Paris một cách trắng trợn của bọn Việt cọng. Biết là Biệt Đội cũng sắp sửa nhảy vào Phước Long, tôi vừa xúc động vừa buồn, không như ba năm trước đây, tại chiến trường Bình Long, An Lộc. Lúc đó, tôi cũng mang đầy lo lắng, nhưng nôn nóng, sôi sục muốn nhảy vào chiến trường, sớm chừng nào hay chừng đó, để chia xẻ và gánh vác gian nguy cùng Đồng Đội, Chiến Hữu.

Rạng sáng ngày 3 tháng 1 năm 1975, Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật do Trung Tá Vũ Xuân Thông chỉ huy, đã cùng Biệt Đội 811 Xung Kích, Biệt Đội Trưởng là Đại Úy Trương Việt Lâm và Biệt Đội 814 Xung Kích, Biệt Đội Trưởng là tôi, được chuyển vận tới Sân bay Quân Sự tại Căn cứ Long Bình. Đoàn Quân Biệt Cách Nhảy Dù, nằm trải dài trên bãi chờ Trực Thăng, được lót trải bằng những tấm vỉ sắt kết nối nhau, trong một khoảng thời gian dài, từ sáng cho đến quá trưa. Mãi tới 2 giờ chiều, một Phi Đội Trực Thăng do Phi Đội Trưởng Thiếu Tá Đào Vũ Anh Hùng chỉ huy, mới đáp xuống. Đến 2 giờ 30, các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù Biệt Đội 814 đã sẵn sàng lâm trận.

Từng chiếc UH.1B cất cánh, rồi nối đuôi theo sau chiếc C&C của Đại Tá Phan Văn Huấn trực chỉ về hướng Bắc. Khoảng cách từ Căn cứ Long Bình lên Phước Long theo đường chim bay trên 100 cây số. Khi đoàn Trực Thăng vừa đến vùng trời Phước Long, cao xạ 12.7 ly và 37 ly của bọn giặc cọng thay nhau bắn lên xối xả, dưới đất thì khói bụi mịt mù bay lên che khuất một vùng trời, các phi tuần A.37 oanh kích triệt hạ phòng không địch trên núi Bà Rá chẳng thấy xuất hiện.

Đoàn Trực Thăng bay lượn hai vòng trên trời cao, họ có thể đã ước tính, không còn đủ nhiên liệu và thời gian để đáp thả Biệt Đội 814, rồi quay trở về bốc thả tiếp Biệt Đội 811 và Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật còn lại, thì trời đã quá chiều tối, nên đã đồng loạt bay về hướng Nam, đáp khẩn xuống ở Tiểu Khu Định Quán để tiếp tế nhiên liệu, rồi bay đáp trở lại ở Phi Trường Long Bình.Thêm một đêm nằm ngủ giữa trời sao trôi qua nhanh.

Từ sáng sớm ngày 4 tháng 1 năm 1975, hai Biệt Đội đã túc trực chuẩn bị hành trang lên đường. Vào khoảng 9 giờ, đoàn Trực Thăng chở Biệt Đội 814 cùng Trung Tá Vũ Xuân Thông và BCH 1 Chiến Thuật cất cánh, bay cặp theo dòng Sông Bé về hướng Bắc, vừa qua khỏi Thị Xã Phước Long, đoàn Trực Thăng quay vòng trở lại hướng Nam, bay qua Sông Dak- Lung thì lần lượt đáp xuống lơ lửng trên một ngọn đồi, cây cối bị pháo địch bắn cháy, còn ngổn ngang gốc cành, nằm rãi rác khắp cả khu đồi, cách Thị Xã chừng 500 mét về hướng Bắc. Từ độ cao cách mặt đất khoảng 2 mét, các Trung Đội nhanh chóng nhảy xuống tìm nơi ẩn núp và phòng thủ, nhất là để tránh địch có thể trực xạ đại bác 75 ly từ đỉnh núi Bà Rá.

Tôi đã được cấp trên cảnh giác về tình huống nầy. Bà Rá đã bị Việt cọng chiếm ngay ngày đầu năm Dương Lịch. Bà Rá, Bà Đen và cả Mây Tào, là những ngọn núi cuối cùng của dãy Trường Sơn. Bà Rá có độ cao 736 mét, là con mắt và lỗ tai của Thị Xã Phước Long. Với vị trí chiến lược này, ngay từ đầu, Quân Đội VNCH đã đặt căn cứ trên đỉnh Bà Rá. Từ trên đó, chúng ta có thể quan sát khắp vùng, điều chỉnh và yểm trợ phi pháo cho các đơn vị Quân Đội, khóa họng súng của địch mỗi khi chúng pháo kích vào Thành Phố. Tại căn cứ nầy cũng có các Đài Truyền tin, phát tuyến, nối tiếp làn sóng với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa và giữa các đơn vị trong và ngoài khu vực Thị Xã Phước Long.

Tình hình căn cứ Bà Rá bây giờ ở thế ngược. Sau khi chiếm được đỉnh núi nầy, địch được ba cái lợi: Bố trí phòng không 12.7 ly trên núi và 37 ly dưới chân núi, Việt cọng gây khó khăn cho các hoạt động của Không Quân ta. Cũng từ đây, địch có thể trực xạ đại bác 75 ly vào vị trí của chúng ta, và cũng từ đây, địch dễ dàng quan sát cả Thị Xã, các hướng tiến quân của ta để điều chỉnh pháo binh đang bố trí chung quanh Phước Long mà tác xạ chính xác, hiệu quả.

Trong khi Biệt Đội 814 và BCH 1 Chiến Thuật đang trên đường tiến quân, thì Biệt Đội 811 và Thiếu Tá Nguyễn Sơn Chỉ Huy Phó, cũng đang đổ bộ xuống một bãi trống, nằm chếch về hướng Tây Bắc của Thị Xã Phước Long, để từ đó cánh quân này sẽ tiến vào bắt tay phối hợp với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, với Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 và năm Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, đang phòng thủ trong Thị Xã và Tòa Hành Chánh Tỉnh.

Biệt Đội 814 và BCH 1 Chiến Thuật tiếp tục băng qua các cánh đồng khô, các khu nhà, các dãy phố hoang tàn đổ nát, một vài nơi đã biến thành bình địa, không một tiếng súng, nhưng thỉnh thoảng đạn pháo địch vẫn nổ rải rác vài nơi trong trung tâm Thị Xã, mọi hiểm nguy vẫn chờ chực cận kề, thì ngay lúc này xuất hiện một chiếc xe jeep của BCH/ Tỉnh đến đón một mình Trung Tá Thông rời khỏi đội ngũ.

Tiếp tục theo như lệnh đã được ban hành tại Căn cứ Hành Quân ở Suối Máu. Biệt Đội 814 tiến sát hơn vào bên trong Thị Xã, đơn vị trú phòng mà Biệt Đội 814 tiếp cận đầu tiên để cùng phối hợp tác chiến là Ty Cảnh Sát Quốc Gia, nằm ngay góc một ngã tư đường lộ chính, dẫn vào Trung tâm Thị Xã. Nơi đây tôi được tiếp xúc cùng Thiếu Tá Nguyễn Văn Tư, Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia, và qua Ông tôi nắm biết phần nào về lực lượng địch, cùng hệ thống bố phòng của các đơn vị bạn trên trục tiến quân của Biệt Đội 814. Dĩ nhiên Ông ta và các chiến hữu của Ông hết sức mừng rỡ khi có Biệt Cách Nhảy Dù đến tiếp ứng.

Vượt qua Ty Cảnh Sát, là Doanh Trại của Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến, cũng nằm ngay góc ngã tư đường kế tiếp, mặt trước là cổng chính ngó vô Thành Phố, mặt hông phải, bên kia đường là khu nhà dân, nhà cửa hầu hết tan hoang không còn nguyên vẹn, vài nơi vẫn còn lửa cháy âm ỉ, khói bốc lên lan tỏa mờ nhòa tầm quan sát cả một khu vực, không có đơn vị nào còn phòng ngự ở đây, kể cả trong phòng tuyến của Trại Cảnh Sát Dã Chiến, họ đã rút về bố phòng tại các giao thông hào của Ty Cảnh Sát.

Vừa lúc đó, thì đạn pháo của địch không biết xuất phát từ đâu đã rơi xuống nổ khắp nơi. Tôi tức tốc cho lệnh các Trung Đội lao xuống bố trí tại các hầm hố, giao thông hào bao quanh ba mặt trong Trại Cảnh Sát Dã Chiến, chuẩn bị sẵn sàng tác chiến, đề phòng địch mở đợt tấn công. Bỗng đâu một tiếng súng nổ chát chúa, phá thủng một “cô-nét” gần bờ rào chính diện gây tử thương cho Hạ Sĩ I Sơn, một hiệu thính viên của Biệt Đội, hai trái đạn kế tiếp nổ ngay trên đường, sát bờ rào Ty Cảnh Sát. Đây là những viên đạn Đại bác 75 ly do địch trực xạ từ trên đỉnh Núi Bà Rá. Pháo Binh của ta đã hoàn toàn tê liệt, không còn có khả năng phản pháo.

Đạn pháo vừa ngưng, tiếng gầm rú của các xe tăng của địch lại từ từ tiến lên, không có bộ đội tùng thiết, xe tăng vừa chạy vừa quay nòng đại bác tác xạ như để áp đảo tinh thần đối phương, nhưng bọn chúng đã không ngờ đang đụng phải khắc tinh của chúng.

Từ bên trong các công sự chiến đấu, những hỏa tiễn M.72 của các xạ thủ Biệt Đội 814 đã dương cao sẵn sàng chờ đợi. Ầm..ầm..ầm, Hạ Sĩ I Ẩn và Hạ Sĩ Sáng, Trung Đội 2, đã tác xạ chính xác chiếc T.54 chạy đầu tiên, lửa đang rực cháy thiêu rụi toàn bộ đám địch quân. Hai T.54 kế tiếp vẫn trườn lên, ầm..ầm..ầm, chiếc trước đứng sững lại một chốc, xong tiếp tục chạy trườn tới tông sập đổ cột trụ đèn, rồi chạy thẳng ra bìa rừng hướng Tây Bắc, chiếc còn lại quay đầu, leo lấn lên lề đường, Thiếu Úy Nguyễn Tấn Mẫn, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1, không chần chờ bắn ngay một quả M.72, đạn trúng bên hông trái, phía đàng sau đuôi, chiến xa địch hầu như chẳng hề hấn gì, vẫn cứ chạy trên đường lộ, về hướng Tây rồi mất hút trong màn đêm đang đổ xuống toàn Thị Xã Phước Long.

Đêm hôm đó, thời gian đang chầm chậm trôi đi trong yên tĩnh. Nhưng rất bất ngờ, Đại Úy Thứ gọi điện thọai thông báo : Trung Tá Thông ra lệnh cho các Biệt Đội Biệt Cách Dù sửa soạn rút quân, theo hai hướng khác nhau, BCH 1 Chiến Thuật, Đặc Huấn và Ban Quân Y sẽ rút về một hướng (?), còn Biệt Đội 811 và 814 sẽ rút lui theo một hướng khác (?).

Tôi thật qúa đổi ngạc nhiên, khó khăn lắm mới vào được đây để tiếp cứu, vừa chân ướt chân ráo, chưa được một ngày một đêm, và cũng chỉ mới đụng độ sơ khởi với địch, chẳng có tổn thất gì lớn lao, trầm trọng, mà sao Trung Tá Thông lại cho lệnh rút quân.

Tôi suy đoán, chắc có điều gì không ổn chăng ? Hay cấp trên đã nhận thấy kế hoạch thả hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù vào Phước Long, trong biển lửa này như những con thiêu thân, như đem muối bỏ biển, như đem con bỏ chợ, chỉ là làm vật hy sinh tế thần, nên đã cho lệnh triệt thoái khẩn cấp ?

Sáng hôm sau, ngày 5 tháng 1 năm 1975, Biệt Đội liên lạc với BCH 1 Chiến Thuật để am tường rỏ ràng về kế hoạch rút quân, nhưng chẳng có động tỉnh hay lệnh lạc gì khác cả. Và nếu như theo đúng diễn tiến hành quân từ trước, thì Biệt Đội 814 sẽ tiến lên hướng Công viên Lệ Thủy, gần khoảng giữa Trung tâm Thị Xã, để bắt tay cùng các Đại Đội Trinh Sát, sau đó sẽ mở đường, giải tỏa áp lực địch để tiến vào Tòa Hành Chánh Tỉnh.

Chưa kịp hành động, thì đạn pháo của địch bắt đầu tác xạ và nổ ầm ỉ khắp nơi. Trước hỏa lực pháo tới tấp này, với kinh nghiệm chiến đấu cùng giặc cộng ở mặt trận An Lộc, Quảng Trị, tôi biết chắc chắn trước sau gì địch cũng sẽ tấn công, nên cho Biệt Đội nằm yên tại các giao thông hào, chờ đợi nghênh chiến với lủ giặc Cộng. Đúng y như tôi dự đoán, Việt cọng mở cuộc tấn công ào ạt, lực lượng chính của nó vẫn là xe tăng.

Bốn chiếc xe tăng T-54, không phải từ phía ngoài bìa rừng, hướng Tây, hướng Bắc hay hướng Đông, mà từ hướng Nam trong Thành Phố, tiến thẳng về phía phòng tuyến Cảnh Sát Dã Chiến mà Biệt Đội 814 đang trấn giữ. Hai bên mỗi xe tăng, là năm sáu tên bộ đội tùng thiết, cầm AK, CKC, B.40 và B.41 lom khom chạy theo. Tới ngã tư giao lộ, chúng chạy tản ra hai phía, như để bao vây, rồi xoay pháo tháp nổ súng bắn thẳng vào bên trong Đồn Cảnh Sát Dã Chiến.

Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngọc, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, với M.72 trên vai, nhắm ngay chiếc T.54 đang rẽ hướng về phải, ngay trước tuyến phòng ngự. Lửa từ chiếc xe tăng bùng lên, bọn bộ đội tùng thiết hoảng loạn, chạy dạt vào một bên vệ đường, nhưng không còn kịp, Đại Liên 60, Phóng Lựu M.79, Lựu Đạn của Trung Đội 3 đã tiêu diệt chúng, không còn một tên sống sót. Chiếc T.54 kế tiếp vẫn liều lĩnh chạy tới, càn qua hàng rào kẽm gai, để tiến vào bên trong, nhưng đã bị các vòng dây kẽm gai cuộn, dính chặt trong các mắt xích, xe đứng khựng lại, ngay tức thì, Hạ Sĩ Dữ, một xạ thủ XM. 202 của Trung Đội 2 đứng lên tác xạ, quả đầu tiên bị trượt, quả thứ 2, thứ 3, thứ 4 đều trúng vào thành xe tăng, nhưng không kết quả gì, xe tăng vẫn gầm rú, nhưng chỉ nhúc nhích một hai thước.

Không chần chờ, Thượng sĩ Hùng, Trung Đội Phó, cùng Trung sĩ Sơn, Tiểu Đội Trưởng, đã nhanh nhẹn bò lên, mở nắp pháo tháp, tung vào bên trong hai quả lựu đạn. Chiếc T.54 giờ đây đã hoàn toàn bất động. Dĩ nhiên, không có tên nào trong và ngoài xe có thể sống sót, không có “phép lạ” đến với chúng cả, dù là phép lạ của ông Lenin, ông Mác, ông Mao hay ông Hồ. Có một điều kỳ lạ, là đã hai ba lần sử dụng M.72 và XM.202 tác xạ diệt tăng, nhưng đều không hiệu quả, chẳng lẽ hai loại hỏa tiễn nầy chưa thích ứng hoặc vô hiệu với chiến thuật diệt xe tăng hay Việt cọng rút kinh nghiệm, có thể chúng che chắn thêm cho xe tăng bằng một thứ vật liệu gì đó, khiến trái hỏa tiễn không thể xuyên thủng được.

Hai chiếc T.54 chạy về hướng cổng chính của Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến và Ty Cảnh Sát cũng đã bị Trung Đội 3 và 4 dưới sự chỉ huy của Chuẩn Úy Chuyển và Chuẩn Úy Lân, đã chận đứng và tiêu diệt hai đợt xung phong của đám bộ đội tùng thiết, và sau khi sử dụng M.72 bắn nhưng không chận đứng được chiếc T.54 đang húc đổ cổng trại Cảnh Sát Dã Chiến, Tổ vũ khí nặng, dưới sự điều động của Trung Úy Qúi, Biệt Đội Phó, đã mang Đại bác 90 ly không giựt tác xạ phá hủy, lửa bốc cháy hừng hực, đã làm cho chiếc T.54 theo sau quay bánh xích, gầm rú tháo chạy mất dần về hướng cũ, sau những khu nhà đổ nát, mờ mịt bụi khói mù trời.

Trời tối, đêm dần dần trôi qua trong lo lắng.

Tờ mờ sáng ngày 6 tháng 1 năm 1975, Việt cộng cố dứt điểm trận chiến Phước Long. Sau nhiều đợt pháo kích dữ dội bằng đại pháo, không riêng gì ở Núi Bà Rá, mà tất cả các phía chung quanh, nã vào cái Tỉnh Lỵ nhỏ bé mỗi bề chưa tới nửa cây số, như rải cát trên đầu chúng tôi vậy. Không nơi nào không bị đạn pháo cày xới tơi tả. Quân địch dốc toàn bộ 2 Tiểu Đoàn Xe Tăng và các Trung Đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 7 tràn ngập các cứ điểm còn lại của Quân Đội ta đang trú phòng.

Từ dưới phố, từ bìa rừng hướng Tây Tây Nam, xe tăng địch ào ạt chạy lên đông vô số kể. Thật ra, không phải đông vô số kể, nhưng ít ra cũng phải đếm bằng con số chục, không phải bằng con số lẻ. Tình hình nầy thì “căng lắm đây”, tôi thầm nghĩ ! Biệt Đội 814 không có đủ Hỏa tiễn M-72, lại không có loại mìn tự chế của Đại Tá Huấn như ở trận Bình Long, hai cấp số đạn dược mang theo cũng đã tiêu tán trong hơn một ngày qua, trong khi tình trạng tiếp tế rất khó khăn. Ở cứ điểm núi Bà Rá, với nhiều loại vũ khí phòng không, hầu như địch quân đã khống chế bầu trời Phước Long. Máy bay yểm trợ của Sư Đoàn 3 Không Quân Biên Hòa, không bay thấp được, dù là máy bay tiếp tế hay oanh tạc cơ, còn trên đường bộ thì xe tăng của chúng đang đầy rẫy khắp các ngỏ ngách, để chuẩn bị cho một cuộc tấn công qui mô.

Trong khi tại Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, Biệt Đội đang tả xông hữu đột, vật vả chống trả các đợt tấn công của bộ binh địch và xe tăng ở hướng bên hông và hướng trước mặt thành phố, thì bất ngờ, một đơn vị Việt cộng khác, từ phía Ty Cảnh Sát, đã vượt rào cản, tràn lên đánh ập vào hậu tuyến Biệt Đội, nhưng bọn chúng gặp phải sức kháng cự của Ban Chỉ Huy Biệt Đội, đã sử dụng lựu đạn và M.79 tiêu diệt hơn 10 tên địch quân. Lúc bấy giờ, tôi mới biết là Ty Cảnh Sát đã hoàn toàn bỏ trống, toàn bộ nhân viên trong Ty và Cảnh Sát Dã Chiến đã di tản, tháo chạy từ trong đêm hôm qua.

Ngay trong thời điểm đang phải chiến đấu cam go, nóng bỏng, hiểm nguy như thế này, thì Âm thọai viên Biệt Đội cho tin: “Đại Úy Thứ vừa gọi máy, thông báo lệnh của Trung Tá Thông, toàn bộ đơn vị sẳn sàng rút quân. Lại rút quân !!!”.

Nghe tin, chưa kịp định thần, thì ba bốn chiến xa T.54 của địch đã cán sập tường rào, lù lù càn tới, bất kể sự phản công mãnh liệt của Biệt Đội. Đại bác 75, XM.202, M.72 hết hiệu quả tác xạ trong tầm quá ngắn, chỉ còn Đại Liên, XM.16, M.79 và lựu đạn là còn xử dụng, để tiêu diệt đám Cộng quân tùng thiết, đang la hét khủng hoảng tinh thần đối phương và chận đứng các xe tăng địch, đang nặng nề xoay chuyển trong Doanh Trại Cảnh Sát Dã Chiến, với đầy dẫy kẽm gai và công sự.

Đã quá trưa, tình hình chiến sự trong toàn khu vực vẫn còn sôi động, Cộng quân không ngừng pháo và tấn công khắp nơi. Tôi vẫn bình tĩnh chỉ huy Biệt Đôi. Một mặt vẫn giử liên lạc với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật để nhận chỉ thị, một mặt biết chắc không thể tiếp tục đối đầu cùng địch, trước những đàn chiến xa mỗi lúc mỗi gia tăng. Tuân hành theo lệnh rút quân đã được ban hành từ Trung Tá Thông, mà cũng nhằm để bảo toàn lực lượng, tôi quyết định rút Biệt Đội ra khỏi Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, di chuyển khoảng 1 cây số, về hướng Đông Bắc, chiếm lĩnh lợi thế trên một đồi rừng non, đâu lưng với sông Dak-Lung chừng 500 mét.

Các Trung Đội dàn trải đội hình bao quanh đỉnh đồi, đào hầm hố, bố trí sẵn sàng nghênh chiến. Và, y như rằng, không đợi lâu, bọn Việt cọng đã đuổi theo truy kích, chúng lố nhố, vừa leo đồi vừa nổ súng bắn tới tấp, bất chấp sự phản công ác liệt của các Chiến sĩ Biệt Cách Dù Biệt Đội 814 từ trên cao điểm. Tuy nhiên, sau hơn hai giờ giao tranh, mặc dù Biệt Đội tiêu diệt được nhiều địch quân, chận đứng kịp thời các đợt xung phong, tiến chiếm đỉnh đồi của địch, nhưng Biệt Đội đã phải hy sinh Thượng Sĩ Thủy Trung Đội Phó và B.1 Tài khinh binh, riêng Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngọc thì bị trọng thương, máu chảy lênh láng, Trung sĩ Đức Y Tá Biệt Đội phải sử dụng nhiều lượng thuốc cầm máu, rửa sạch vết thương, nẹp cây hai bên cánh tay để băng bó mới dứt hẳn được.

Ngay trong lúc này, hai công việc tôi phải làm : Việc trước tiên là tiếp tục liên lạc vô tuyến với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật và được biết BCH đã rút ra khỏi Tòa Hành Chánh Tỉnh. Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Long hầu như đã bị Việt cộng chiếm cứ mất rồi. Giờ này chắc Trung Tá Thông, Thiếu Tá Sơn, đang trên đường bôn tập, không biết có được an toàn?. Nếu có nhanh chân tẩu thoát được, thì đang ẩn núp, lẩn trốn đâu đó. Việc thứ hai, dù khó khăn, nguy hiểm thế nào đi chăng nữa, dưới tầm pháo địch, Biệt Đội cũng phải đào hố chôn cất thi hài Thượng Sĩ Thủy và Binh I Tài, những chiến binh đã Anh Dũng Hy Sinh đền nợ Nước.

Trời chiều xuống dần, cả một không gian mờ nhạt bao trùm Tỉnh Lỵ Phước Long, trong giờ phút này đã hoàn toàn rơi vào tay giặc cọng. Thấp thoáng từ xa, một vài đám cháy rãi rác trong Thị Xã, thỉnh thoảng bùng sáng lên, rồi lại lụn tắt dần cùng với ánh chiều tà.

Phước Long thật sự đã mất, mất theo với Đại Tá Nguyễn Thống Thành, Tỉnh Trưởng Tỉnh Phước Long, với Trung Tá Quận Trưởng Quận Châu Thành, với Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2, Sư Đoàn 5 Bộ Binh và còn nhiều nhiều Quân Dân Cán Chính khác nữa, làm sao kể xiết.

Liên lạc với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật để báo cáo tình hình và kế hoạch rút quân, nhưng đường vô tuyến bị nhiễu loạn. Không thể chậm trể, chiến trường đã phó mặc cho tôi chỉ huy chiến đấu sống còn, thì tự tôi phải biết định đoạt vận mạng cho các Chiến sĩ và bản thân. Chỉ cần một đợt pháo hỏa tập của địch, cùng với sự hợp đồng tác xạ đại bác 75 ly từ đỉnh Núi Bà Rá, thì Biệt Đội 814, tất cả đều sẽ trở thành cát bụi.

Không còn chần chờ, mạng sống của trên 150 Binh sĩ Biệt Đội 814 đều nằm trong giải pháp dứt khoát của tôi. Lợi dụng màn đêm buông xuống, tôi ra lệnh cho các Trung Đội cấp tốc, lặng lẽ rút xuống đồi, di chuyển về hướng Đông Bắc tiếp cận bờ sông Dak-Lung, nơi đây bằng mọi giá, ngay trong đêm, phải tìm cách vượt sông Dak-Lung. Qua bên kia sông, Biệt Đội sẽ được an toàn hơn.

Dòng sông Dak-Lung nước chảy xiết, rất mạnh. Hai bờ sông cách nhau khá xa, ít nhất là 50 mét. Một số Binh sĩ không biết bơi, với vũ khí đạn dược còn lại trên người, sẽ không an toàn tính mạng. Sau một thoáng suy nghĩ, tôi quyết định cho một Toán Tiền Sát dưới sự chỉ huy của Trung Úy Biệt Đội Phó Nguyễn Văn Qúi, đi ngược bờ sông hy vọng sẽ tìm thấy một khúc sông hẹp hơn.

Cũng trong lúc này, đức tin của một Phật Tử trổi dậy trong lòng, tôi chắp tay ngưỡng mặt lên trời với vô số vì sao, thầm cầu nguyện đến Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, hầu mong Đấng Từ Bi gia hộ phù trì cho tôi tìm ra sinh lộ, đưa Biệt Đội thoát cơn nguy biến. Và như linh ứng hay là một trùng hợp thiêng liêng, chỉ sau một quãng thời gian ngắn, Trung Úy Qúi báo về, đã tìm thấy được mấy cái bè tre của người Thượng Stieng cư ngụ vùng nầy bỏ lại, đang neo đậu bên một lùm cây cổ thụ.

Nhờ vào khả năng bơi lội của người vùng biển Nha Trang, Trung Úy Qúi đã đưa một Tiểu Đội qua sông, và trong sáng kiến chung, những sợi dây rừng, dây ba chạc, dây dù “mưu sinh thoát hiểm” được nhanh chóng kết nối, nhờ vậy mà cả Biệt Đội lần lượt vượt sông nhanh chóng, chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ, trong im ắng nhưng cũng đầy bất trắc có thể xảy ra.

Trong ngày qua, hôm nay và ngay thời điểm này, rất đông đồng bào Tỉnh Lỵ Phước Long, đã liều chết băng qua cây Cầu Thác Mơ, nằm về hướng Đông Thị Xã, bắc ngang sông Dak-Lung. Việt cọng tuy không ra đón đường ngăn chặn đồng bào, nhưng từ nhiều phía, chúng đã rót pháo vào đoàn người chạy giặc, nhiều thường dân không nhanh chân, đã bị chết hay bị thương, không người cấp cứu, nằm lăn lóc trên bờ đường, phía bên này và bên kia cầu. Cũng như ở Quảng Trị, cũng như ở Bình Long năm 1972, Việt cọng đã gây nên ở đây, một “Đại Lộ kinh hoàng” giữa rừng hoang, đem lại thảm khốc cho người dân lành vô tội.

Lẫn lộn trong đám người chạy loạn đó, có một số Quân Nhân, Cán Bộ, Cảnh sát… trong giờ phút này không thể phân biệt được. Họ đã nhập đàn, lũ lượt cùng với Biệt Đội 814, để vạch lá băng rừng chạy thoát giặc cọng.

Suốt đêm, Biệt Đội cứ theo La Bàn nhắm về hướng Đông Đông Bắc mà đi, đi mãi, không ai nghỉ ngơi hay chợp mắt ngủ. Tôi tránh không đi lên hướng Đông Bắc, phía có mật khu Bùi Gia Mập. Đó là phía Cộng quân di chuyển, tiếp tế hoặc tăng viện cho chiến trường Phước Long.

Theo hướng Đông Đông Bắc, đường đi Gia Nghĩa, Bảo Lộc, dẫu sao cũng an toàn, bất ngờ hơn, dù rừng rậm, rất hiểm trở, nhưng hy vọng không phải đụng độ với địch quân. Đồng Bào đang đi theo sau Biệt Đội, nếu có chạm địch, chắc chắn Cộng quân sẽ không ngần ngại khi bắn vào dân chúng, thiệt hại không nhỏ.

Khi mặt trời lố dạng, nhìn vào tấm Bản Đồ thì Biệt Đội đã vượt xa hơn 10 cây số.

Biệt Đội 814 vào trận ngày 4 tháng 1. Phước Long thất thủ hôm qua, ngày 6 tháng 1. Đã một đêm, một ngày trôi qua, tầng số máy PRC.25 truyền tin cứ bị giao thoa, nhiễu sóng, chẳng liên lạc được ai và chẳng ai liên lạc được. Di chuyển suốt cả ngày, chỉ ăn qua loa, cầm chừng bằng gạo sấy, không có nước sôi, không một phút nghỉ ngơi, chợp mắt. Với tình trạng này, đêm nay không cho Biệt Đội lấy lại sức, lỡ bất ngờ tao ngộ chiến, Biệt Đội không còn một chút hơi tàn nào để cầm cự.

Sáng hôm sau, Biệt Đội tiếp tục lên đường. Nhìn lại đoạn đường Biệt Đội đã đi qua, thì Phước Long bấy giờ đã quá mịt mù, xa lắc xa lơ. Rừng núi từ đây tương đối thấp dễ đi, thỉnh thoảng có nhiều con suối nước trong và chảy xiết. Khoảng gần trưa, Biệt Đội vừa băng qua một trảng trống, thì Hạ Sĩ Huệ, truyền tin Biệt Đội, với bộ mặt mừng rỡ, trao ống bồ đàm cho tôi và nói :

– “Đại Úy, Thái Dương đang gọi Đại Úy”.

Đây là lần đầu tiên liên lạc được với cấp Chỉ Huy cao nhất của Liên Đoàn : Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn, sau gần một tuần lễ chiến đấu và bôn tập. Tiếng nói từ Đại Tá đã xoa dịu được phần nào nỗi trầm uất của một đội quân chiến bại, đang trên đường cao bay xa chạy.

Suốt ngày nay, vị Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn không ăn không ngủ. Thất lạc những đứa con: Biệt Đội 811 và 814 cùng Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật, Đại Tá Huấn lo lắng, bồn chồn như ngồi trên đống lửa.

Ông liên tục theo Phi cơ Quan Sát L.19, bay miết trên vòm trời cao của Phước Long, để tìm kiếm cho ra những chiến binh của mình. Hỏa tiễn Việt cọng bắn lên dữ dội, khiến Ông phải dùng L.19 cho được an toàn. Có khi Ông muốn dùng trực thăng, bay thấp hơn, để dễ tìm thấy, nhưng cao xạ phòng không của địch vẫn là mối đe dọa, không thể liều lĩnh được.

Vậy là sau hai đêm, hai ngày, Đại Tá Huấn tìm ra được Biệt Đội 814.

Sau khi chấm tọa độ chính xác vị trí của Biệt Đội đang dừng quân. Theo hướng dẫn của Đại Tá từ trên Phi cơ L.19, Biệt Đội rẽ về hướng chính Đông, lội qua một con suối, đi chừng khoảng nửa cây số thì dừng quân bố trí tại một trảng tranh rộng nằm lọt giữa một khu rừng tre dày đặc.

Không đầy một giờ đồng hồ sau, một đoàn Trực Thăng UH.1B tuần tự đáp xuống, bốc Biệt Đội 814 đưa về Căn cứ Hành Quân tại Suối Máu, Biên Hòa. Tiếp theo sau là số Quân Dân chạy loạn. Tất cả cũng đều được Đại Tá Huấn đưa về Biên Hòa, chuyển giao cho Quân Đoàn III, Phòng Xã Hội chăm sóc.

Khi tôi vừa từ Trực Thăng phóng ra là đã thấy một số đông phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền hình đứng đầy trên bãi. Phước Long mất đã hai ngày nay rồi. Dân chúng Saigon dao động, lo lắng. Bóng ma cọng sản gần kề hơn!!!

Đang bắt tay cùng các chiến hữu, với nét mặt vui tươi, mừng rỡ, chào đón Biệt Đội tôi sống sót trở về từ cỏi chết, thì một cô gái người nhỏ nhắn, mảnh mai, trong bộ trang phục quần Tây dài, áo bốn túi, màu xanh nhạt, bước đến bên tôi, vừa bắt tay vừa tự giới thiệu tên là : “Thục Viên, phóng viên Nhật Báo Sóng Thần, muốn phỏng vấn…”

Tôi chưa kịp nói gì cả, cảm thấy chân tay như rã rời, chỉ thèm được uống một ly cà phê đá, hay một ly soda chanh cho đã cái khát chất chứa trong suốt mấy ngày qua. Nhưng, miễn cưỡng, tôi nghĩ cũng khó mà từ chối trước lời đề nghị nhiệt thành và đầy thân thiện của cô ta. Thế là một hai câu hỏi và trả lời bắt đầu và trôi qua.

Về sau, tình cờ tôi đọc được bài phỏng vấn này trên Nhật Báo Sóng Thần, với lời mở đầu đầy hài tính, nhưng phản ảnh trung thực về cá tính của con người tôi :

“Sau khi Phước Long thất thủ, các đơn vị tham chiến tại đây, trong đó có Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật và hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù đã phải tìm đường thoát nạn. Sau hai ngày hai đêm băng rừng, vượt núi, đơn vị đầu tiên được Đại Tá Phan Văn Huấn tìm thấy và đưa trở về lại căn cứ hành quân trú đóng tại Biên Hòa, đó là Biệt Đội 814 do Đại Úy Lê Đắc Lực chỉ huy.

Đại Úy Lê Đắc Lực, người cao to, có để bộ râu mép đậm dài, tướng đi bệ vệ trông chẳng khác gì một con gấu. Nhưng khi tôi tiếp xúc phỏng vấn thì thấy Đại Úy Lực rất hiền lành, trả lời câu hỏi từ tồn, nhã nhặn, chân tình, nhìn Đại Úy Lực lúc này thì lại giống như một con nai, phản ảnh trái ngược hoàn toàn với tướng dáng con người của Đại Úy Lê Đắc Lực……”

Ngay chiều hôm đó và qua sáng ngày hôm sau, Đại Tá Phan Văn Huấn đã tìm và đưa được Biệt Đội 811, Đại Úy Trương Việt Lâm, cùng Trung Tá Thông, Thiếu Tá Sơn và một số Quân nhân của Bộ Chỉ Huy I Chiến Thuật trở về. Nhưng Liên Đoàn và riêng Đại Tá Phan Văn Huấn, vẫn mang nặng nỗi đau buồn lớn lao khi đã để lại tại chiến trường Phước Long một số xác thân của các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù đã hy sinh, và còn nhiều quân nhân khác vẫn chưa tìm thấy, mà sau này được biết đã bị Việt cọng bắt làm tù binh bao gồm: Trung Úy Đức, Chuẩn Úy Cấp, Chuẩn Úy Phước (BCH.I / CT), Thiếu Úy Long, Chuẩn Úy Bảo, Chuẩn Úy Lịch, Chuẩn Úy Linh (BĐ.811). Mãi cho đến ngày Miền Nam sụp đổ họ mới được trở về, để rồi sau đó không lâu lại phải đi tù “ cải tạo” khổ sai.

*******

Trên bãi Trực Thăng dã chiến, tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu, Biên Hòa, một Nghi Lễ được tổ chức để tưởng thưởng Huy Chương, Cấp Bậc cho hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù và Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật “Bại trận trở về”.

Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, vừa thay thế Trung Tướng Dư Quốc Đống, trong chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III, đứng trước mặt tôi, cầm chiếc Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, dí hai mũi kim vào trên nắp túi áo trái ấn mạnh, kim chạm vào ngực làm hơi buốt nhói, tôi cảm nhận máu đang ứa rỉ bên trong, nhưng đó chỉ là những bụi máu nhỏ so với muôn ngàn dòng máu thắm mà Đồng Đội tôi, Chiến Hữu tôi của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã chảy đổ ra để hiến dâng cho Tổ Quốc, trong suốt chiều dài của cuộc chiến tranh Quốc cộng. Tôi bắt chặt tay Trung Tướng Tư Lệnh, rồi kính cẩn chào trong nỗi xót xa, đau đớn tận cùng.

Và tôi đã khóc, vì tôi cảm thấy chưa hoàn thành sứ mạng : “ Bảo Quốc An Dân ”.

– Mot hop doan truc thang UH1 bat trong lua dan hoang hon .jpg

– Cac chien si LD81BCND chuan bi nhay vao Phupc Long .jpg

– CAC CHIEN SI LD81 BIET CACH NHAY DU PHUC KICH DICH.jpg

– Truc thang đổ quân phi truong TK Phuoc Long .jpg

Dominion Voting Systems đã đâm đơn kiện Fox News ra tòa đòi bồi thường $1.6 tỷ.

  Đúng như dự đoán, Dominion Voting Systems đã đâm đơn kiện Fox News ra tòa đòi bồi thường $1.6 tỷ.

Mặc dù trước đó Fox News đã có làm chương trình đính chính về những tin đồn thất thiệt đã đăng.

Cuộc kiện này dự kiến sẽ còn kéo dài và từng nơi tung tin giả sẽ được gọi tên.

Đã có người quan sát dự đoán Domnion sẽ từng bước tiến tới kiện đảng Cộng hòa và trùm cuối chuyên tung tin giả là cựu tổng thống và cộng sự.

Đây là chiến trường thật sự chứ không phải kiểu như cõi mạng Twtter mà dễ dàng chém gió vù vù cho con nhang lên đồng là phủi tay xong trách nhiệm

Theo lẽ thường, Fox News trước giờ nếu bị kiện thì đội ngũ luật sư của ho (trong đó có một người gốc Việt) sẽ tiến hành đàm phán với nguyên đơn để giải quyết ngoài toà mà không phải tranh tụng chi cả.

Hãy cùng quan sát xem trường hợp này họ có đàm phán thành công hay không. Vì nếu phải hầu tòa, vụ việc sẽ trở nên phức tạp và thu hút sự chú ý hơn.

Nói một cách khác, nếu gặp nhau ở tòa án thì bản chất của Fox News dễ dàng bị phơi bày, mà đã lộ chân tướng thì làm ăn sao được nữa.

Trước đó trong phần bào chữa cho Tucker Carlson, một người dẫn chương trình, luật sư của Fox News đã đưa ra lập luận “có điên mới tin được Carlson”.

Lý lẽ này cũng được “nữ anh thư đội đá vá trời, Đông Ky Sốt hiện đại” Sydney Powell lặp lại để phủ nhận vụ kiện đòi bồi thường $1.3 tỷ của Dominion sau khi thoải mái tung tin vịt.

Tan nát bao nhiêu con tim đã trao gửi cho những tay lừa đảo chuyên nghiệp trong băng đảng quy mô này.

  Oath Keepers đã phối hợp với Proud Boys trước cuộc bạo loạn

  Oath Keepers đã phối hợp với Proud Boys trước cuộc bạo loạn

Kế hoạch thành lập liên minh đã được thảo luận giữa hai nhóm Oath Keepers và Proud Boys trước cuộc bạo loạn ngày 6/1. Trong tài liệu mới do tòa án công bố cho thấy Kelly Meggs, một thủ lĩnh có uy tín của Oath Keepesr ở Florida đã bàn bạc và phối hợp hành động với Proud Boys.

Meggs nằm trong số 10 thành viên và cộng sự của Oath Keepers bị buộc tội âm mưu ngăn chặn việc chứng nhận chiến thắng của Tổng thống Joe Biden.

Vào ngày 19/12/2020, Meggs đã gửi ra thông điệp trên Facebook rằng anh ta “tổ chức một liên minh” giữa Oath Keepers, Proud Boys và Three Percenters (một phong trào chống chính phủ khác) tại Florida. “Chúng tôi đã quyết định làm việc cùng nhau và kết thúc vụ việc này” . Đây là thông tin mà các công tố viên nộp lên tòa để ngăn chặn việc tòa án cho phép Meggs tại ngoại trong khi chờ xét xử.

“Oath Keepers có thể sẽ canh chừng vào ban ngày, nhưng đến đêm khuya chúng tôi đã lên kế hoạch với Proud Boys. Chúng tôi sẽ tuần hành với họ một lúc sau đó lùi lại phía sau đám đông và lủi đi. Sau đó, chúng tôi sẽ để Proud Boys đứng trước mặt họ, cảnh sát sẽ ở giữa antifa và Proud Boys. Chúng tôi sẽ chuồn ra sau antifa và đánh bại họ” – thông tin Meggs đã viết trên mạng xã hội do hồ sơ công bố.

Laura Steele một thành viên khác của Oath Keepers ở North Carolina đã được trả tự do trong khi chờ xét xử. Theo thẩm phán Amit Mehta không có bằng chứng cho thấy Steele đã phá hủy tài sản, hành hung bất kỳ ai tại Điện Capitol. Ngoài ra, Steele cũng không tham gia vào việc tuyển dụng hoặc đào tạo nhân lực như các bị cáo khác trước vụ tấn công.

Ngoài ra tài liệu từ tòa án cũng công bố rất nhiều thông tin liên quan đến cuộc gọi, tin nhắn của Stewart Rhodes – người sáng lập Oath Keepers làm ‘bằng chứng đáng giá’ về âm mưu bạo loạn

Người sáng lập Oath Keepers, Stewart Rhodes, đã có cuộc điện đàm dài 97 giây với một người nào đó đang giúp lãnh đạo đội ngũ các thành viên và cộng sự của Oath Keepers 9 phút trước khi nhóm này qua mặt cảnh sát và phá cửa để tiến vào Điện Capitol hôm ngày 6 tháng 1. Đây được xem như bằng chứng xác thực nhất cáo buộc âm mưu ngăn chặn xác nhận của Quốc hội về cuộc bầu cử tổng thống năm 2020 của các thành viên Oath Keepers và những người khác.

Stewart Rhodes đã tiếp xúc trực tiếp với những kẻ bạo loạn trước và trong khi vi phạm Capitol. Mặc dù Stewart Rhodes đã khẳng định rằng ông không có mặt tại Điện Capitol khi cuộc bao vây bắt đầu. Tuy nhiên hồ sơ từ các cơ quan chức năng đã chứng minh điều ngược lại.

Các công tố viên cáo buộc rằng Rhodes đã chỉ đạo nhóm chống chính phủ cánh hữu biểu tình trong cuộc bạo động đến các bậc thang phía đông nam của Điện Capitol, sau đó một số thành viên đã xâm nhập bất hợp pháp tiến vào phía đông của tòa nhà.

Tin nhắn được khôi phục trong nhóm chat Signal đã mã hóa có ký hiệu “DC OP: Ngày 6 tháng 1” “cho thấy các cá nhân, bao gồm cả những người bị cáo buộc đã âm mưu với [người khác], đang tích cực lên kế hoạch sử dụng vũ lực và bạo lực”. Thành viên của nhóm chat này bao gồm Rhodes và hai thành viên Jessica Watkins (38 tuổi) và Kelly Meggs (52 tuổi) cả hai đều là thủ lĩnh của Oath Keepers ở Ohio và Florida.

Jessica Watkins (38 tuổi) chịu trách nhiệm “tổ chức lực lượng phản ứng nhanh” của Oath Keepers và chiêu mộ những người khác, bao gồm cả Donovan Crowl để chuẩn bị cho hành động bạo loạn. Để chuẩn bị cho điều này, Watkins đã chuẩn bị sẵn vũ khí và giấu ở một số địa điểm rải rác xung quanh thủ đô Washington D.C. Ngoài ra hồ sơ từ các công tố viên nộp lên tòa còn cho thấy các thành viên của nhóm Oath Keepers đã khảo sát các dãy núi ở bang Kentucky để đào hầm và địa đạo, lên kế hoạch phá hoại tiến trình chuyển giao quyền lực cho ông Joe Biden.

Trong tài liệu bổ sung lên tòa ngày 24/3, nội dung trao đổi giữa các bị cáo bị hé lộ cho thấy sau khi cuộc bạo loạn thất bại, Oath Keepers tiếp tục bàn bạc kế hoạch “sơ tán khẩn cấp” để phá hoại tiến trình chuyển giao quyền lực cho Tổng thống Joe Biden.

“Chắc hơn 20 người đang tới vùng núi Kentucky rộng vài trăm mẫu. Chỗ đó có điện mặt trời, mọi thứ đều ổn”, Crowl nhắn. Một người khác, dường như là Watkins, lập tức chỉ đạo lại: “Hãy chọn chỗ cao, đào địa đạo chiến đấu (nhớ phải trên đường nước). Hãy làm giống như cộng sản Bắc Việt và mạng lưới địa đạo của họ”.

Trong hồ sơ bên công tố bổ sung cho tòa hồi ngày 11/2/2021 có đề cập đến việc phối hợp hành động có mục tiêu và có tổ chức của Thomas Edward Caldwell, 66 tuổi, người từng là cựu quan chức FBI, cựu chiến binh Hải quân bị các công tố viên cáo buộc là “nhân vật chủ chốt” trong vụ bạo loạn tại Tòa nhà Quốc hội.

Caldwell là thủ lĩnh Oath Keepers ở Virginia đã gởi tin nhắn cho một thành viên khác của Oath Keepers hôm 23/12/2020, đề cập đến sự phối hợp tổ chức với các nhóm khác (như Proud Boys của North Carolina) và tất nhiên sẽ có 2 xe bus chở người Việt Nam tại địa phương như lần trước “of course the local Vietnamese will probably have at least 2 bus loads like last time”. Chữ “like last time” ở đây được hiểu là cũng như sự kiện trước đó (đó chính là cuộc biểu tình ngày 12/12/2020 của các nhóm người Việt ở DC).

Nói một cách khác là Oath Keepers đã phối hợp với các nhóm người Việt từ trước đó chứ không chỉ cho sự kiện ngày 06/1 không thôi.

Như vậy câu hỏi đặt ra phải chăng bọn chủ mưu, đầu sỏ tổ chức cuộc bạo loạn 06/1 đã có móc nối và lợi dụng các nhóm “local Vietnamese Trump supporters” để làm nền, tạo thêm đám đông ủng hộ. Trước hết là lôi kéo tụ tập ngày 12/12/2020, rồi sau đó tiếp tục giữ liên lạc để chuẩn bị cho kế hoạch quay lại DC vào ngày 06/1/2021.

Câu hỏi đặt ra ai là những người đại diện cho “local Vietnamese Trump supporters” để đứng ra tổ chức tập hợp đồng bào, hẹn hò, lên lịch, địa điểm tập trung ngoài thủ đô rồi đổ về tập trung tại DC? Để tìm được những thông tin này tôi tin rằng không khó, vì các nhóm gốc Việt đã đăng và khoe đầy hình ảnh biểu tình ngày 12/12/2021.

Ai là những người liên lạc, liên hệ để lên lịch với Cadwell và Proud Boys?

Trước đó, cảnh sát người Mỹ gốc Việt, ông Tam Dinh Pham, người có thâm niên công tác 18 năm cũng thừa nhận với tòa án rằng “Joe Biden đã chiến thắng trong một cuộc bầu cử hợp pháp và công bằng”, và luật sư bào chữa cho ông Pham nói rằng ông là một Phật tử thuần thành. Ông Pham chỉ vào bên trong điện Capitol tham quan các công trình lịch sử cùng với những kẻ bạo loạn

P/s: Hình ảnh có tính chất minh họa lượm được trên Internet.

Tin tổng hợp từ Washington Post, The Hill, NPR

You and 52 others
11 Comments
4 Shares
Wow
Wow

 

Comment
Share

Comments

Most Relevant

Trí thức Miền Nam sau 1975

Trí thức Miền Nam sau 1975

Bởi  AdminTD

Huy Đức

25-3-2021

LGT: Ông Huỳnh Kim Báu, cựu Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước thành phố, cựu chủ nhiệm CLB Lê Hiếu Đằng đã qua đời lúc 7h30′ sáng 25-3-2021. Nhân dịp này, xin được giới thiệu một phần nội dung có liên quan tới ông Báu, được trích trong “Chương VI: Vượt Biên“, sách “Bên Thắng Cuộc”, của tác giả Huy Đức:

Sau ngày 30-4-1975, Chu Phạm Ngọc Sơn là một nhà chuyên môn hợp tác toàn diện với chế độ. Ông và một số nhà khoa học khác, thường không câu nệ khi nhận các đơn đặt hàng thực hiện những công trình “khoa học” phục vụ nhu cầu chính trị. Theo Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh Huỳnh Kim Báu: “Những năm ấy, các trí thức Sài Gòn vẫn nhận được điện thoại từ Văn phòng Thành ủy hỏi xem: ‘Có công trình khoa học chào mừng 3-2 hay 19-5 không?’. Những Giáo sư như Phạm Biểu Tâm, Lê Văn Thới thì mắng ngay: ‘Không có thứ khoa học nào gọi là khoa học chào mừng cả’. Nhưng một số người khác thì có, người thì làm ra chất tẩy rửa ‘pentonic’, người chứng minh ‘ăn mấy ký khoai mì bổ bằng một ký thịt bò’, người thì ‘ăn bo bo nhiều dinh dưỡng hơn cả gạo’. Nhưng ngay cả những ‘nỗ lực’ đó cũng không giúp kiến tạo được lòng tin”.

Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn kể: “Nhìn vào lý lịch, thấy trước đây năm nào tôi cũng đi Mỹ nghiên cứu hoặc đi dạy, người ta cứ thắc mắc sao đi Mỹ quá trời. Tôi nộp đơn xin vô Hội Trí thức Yêu nước, mấy lần bị từ chối”. Năm 1980, trong thời gian Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn đi Liên Xô, một người con của ông vượt biên không thành. Người con gái của ông cũng cảm thấy bế tắc khi thi không đậu vào dự bị y khoa. Biết chuyện, ông Võ Văn Kiệt thỉnh thoảng qua lại, trò chuyện, khi hiểu thêm nội tình, ông nói với Giáo sư Sơn: “Thôi, anh cứ để cho cô ấy và mấy cháu đi, đi chính thức. Bên đó có điều kiện cho các cháu học hành. Sau này nếu các cháu trở về thì tốt, nếu không, tôi với anh cũng được làm tròn bổn phận”.

Ông Huỳnh Kim Báu kể: Sau giải phóng, Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn vào Sài Gòn, sau khi nghe Mai Chí Thọ, Trần Trọng Tân báo cáo tình hình, ông nói: “Nãy giờ có một chiến lợi phẩm rất lớn mà các đồng chí không đề cập, đó là lực lượng trí thức được đào tạo từ nhiều nguồn. Lenin nói, không có trí thức là không có xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Kim Báu, cách mà chính quyền sử dụng trí thức chủ yếu là “làm kiểng”.

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ tuy ở thời điểm đó vẫn còn là Hiệu phó Đại học Khoa học, nhưng theo ông Báu: “Đấy chỉ là một chức vụ bù nhìn, không có vai trò gì trong giáo dục”. Giáo sư Hộ là Hiệu phó nhưng không phải đảng viên, nên khi có vấn đề gì thì những người trong Đảng họp riêng, quyết định xong, có việc nói với ông, có việc ông không bao giờ được biết. Từ rất sớm, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã phản đối cách đào tạo đưa thời gian học chính trị quá nhiều vào chương trình. Ông cảnh báo: “Nếu chính trị can dự quá mạnh, các nhà khoa học sẽ mất căn bản”.

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ nói lên điều này sau khi chính ông đã được trải nghiệm trong những ngày học chính trị. Năm 1977, một lớp học kéo dài mười tám tháng về “Chủ nghĩa xã hội khoa học” dành riêng cho các trí thức miền Nam đã được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Ba, người tham gia tổ chức lớp học này, kể: “Chính quyền tưởng rằng sau lớp học sẽ có được một tầng lớp trí thức của chế độ cũ yêu mến và phụng sự chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nếu như Marxism đã từng được các trí thức miền Nam quan tâm như là một môn khoa học, thì giờ đây họ lại nghe những giảng sư miền Bắc nói về Marx hết sức giáo điều. Chưa kể, những người đứng lớp còn rao giảng với tư thế của người chiến thắng, tự tôn, tự đắc”. Những đảng viên tham gia lớp học như ông Võ Ba cũng thừa nhận: “Trước giới trí thức Sài Gòn, chính quyền đã thất bại ngay trong lần trình diễn đầu tiên”.

Chưa kết thúc lớp học, Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung, một giáo sư triết học nổi tiếng của Sài Gòn, một người được coi là “hằn học với Giáo hội”, đã coi cộng sản cũng là “một giáo hội”. Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung cho rằng hình thức “kiểm điểm” mà cộng sản áp dụng trong sinh hoạt chính là một thứ “xưng tội man rợ”. Về đường lối, ông cho rằng: “Có thể có những điều Lenin nói đã đúng vào năm 1916, nhưng sau bảy mươi năm mà ta áp dụng là không lý trí”. Thậm chí, tại thời điểm kinh tế tan hoang, Thành ủy đã họp khẩn vấn kế các trí thức, Ông Kiệt đã thực bụng trải lòng: “Các Anh Chị suy nghĩ đề xuất giải pháp, nếu một năm nữa tình hình không chuyển biến, các Anh Chị tùy ý ra đi hay ở lại”. Gs Trung đã khẳng khái đáp: “Khi đó, nếu còn lòng tự trọng, các Anh nên tự xử cho hợp lẽ, tại sao lại đặt vấn đề chúng tôi ra đi!?”. Ông Mai Chí Thọ tím mặt. Đêm đó đòi bắt Gs Trung, nhưng Ông Kiệt “năn nỉ” bỏ qua.

Còn Giáo sư Châu Tâm Luân thì khi nghe các giảng sư miền Bắc say sưa nói về con đường “tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản” đã mỉa mai: “Sao không tìm hiểu xem sau chủ nghĩa cộng sản là gì để nhân tiện bỏ qua, mình bỏ qua luôn hai, ba bước”. Giáo sư Châu Tâm Luân lấy bằng tiến sỹ về kinh tế nông nghiệp ở Đại học Illinois, Mỹ, năm hai mươi lăm tuổi, trở về dạy cùng lúc ở hai trường đại học Minh Đức và Vạn Hạnh. Ông là một trong những trí thức phản chiến hàng đầu, bị chế độ Sài Gòn bắt giam đầu năm 1975 cho tới những ngày cuối tháng 4-1975 mới được Chính quyền Dương Văn Minh thả ra. Giáo sư Châu Tâm Luân là một thành viên của nhóm “sứ giả” được ông Dương Văn Minh phái vào trại Davis và được giữ lại ở đây cho đến trưa ngày 30-4-1975. Sau giải phóng, chính quyền xếp ông vào diện “người của ta”. Ông là đại biểu khóa I Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời là ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Về phía mình, Giáo sư Châu Tâm Luân cũng là một trong những trí thức kỳ vọng nhiều vào chế độ mới. Mấy tháng “sau giải phóng”, giá cả sinh hoạt tăng vọt lên, trong khi dân tình lo âu thì ông lại cho là giá tăng vì “tâm lý”, giống như cách giải thích thời ấy của chính quyền. Sau khi cho rằng nhà nước không thể dùng ngoại tệ để nhập hàng như trước đây, Giáo sư Châu Tâm Luân viết: “Giờ đây không còn bọn tay sai đem máu của con em nhân dân đổi lấy đô la nữa thì cần phải tiết kiệm tối đa số ngoại tệ mà dân phải lao động đổ mồ hôi mới đem về được cho quốc gia… Vì vậy ngoài sự tiếp tay chánh quyền kiểm soát gian thương, chúng ta cũng cần kềm hãm bớt kẻ địch ở ngay trong lòng mình…”

Khi trao cho Giáo sư Châu Tâm Luân nhiều trọng trách, Chính quyền nghĩ đơn giản ông là người “dùng” được. Nhưng, cũng như nhiều trí thức Sài Gòn, ông đã không hành xử như là một công cụ. Từ năm 1976, Giáo sư Châu Tâm Luân không được đứng lớp vì kiến thức kinh tế của ông là “kinh tế tư bản”, tuy nhiên, ông vẫn còn được để ngồi trong Hội đồng Khoa học của trường. Chỉ ít lâu sau, Đảng ủy trường nhận xét ông muốn “tranh giành lãnh đạo với Đảng”.

Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi ngạc nhiên, chế độ cũ hai lần giao chức cho tôi mà tôi có màng tới đâu”. Nhưng té ra vấn đề không phải là “ghế”, mà là những ý kiến của ông ở Hội đồng Khoa học luôn luôn khác với ý kiến của chi bộ. Trong một cuộc họp, khi nghe ông Đỗ Mười thao thao nói về “hợp tác hóa”, về chủ trương phải đưa những người bần cố nông lên làm lãnh đạo hợp tác và “phải đào tạo họ”, Giáo sư Luân hỏi: “Nhà nước định đào tạo trong bao lâu?”. Ông Đỗ Mười nói: “Tình hình gấp rút, đào tạo ba ngày”. Giáo sư Châu Tâm Luân nhớ lại: “Tôi bắt đầu ngao ngán vì muốn thay đổi thì phải bắt đầu từ cái đầu, mà những ‘cái đầu’ thì như thế!”. Sau lần gặp ông Đỗ Mười, nhà kinh tế nông nghiệp Châu Tâm Luân được đưa về Viện Khoa học Xã hội. Không chỉ có những đụng độ tại cơ quan. Ở Hội đồng Nhân dân, Giáo sư Châu Tâm Luân là trưởng Ban Nông nghiệp. Trong một phiên họp toàn thể thảo luận về các chương trình khoa học của Thành phố, sau khi nghe ông Luân tranh luận, một đại biểu trong Hội đồng mặc quân phục đứng dậy xin ngưng cuộc cãi vã, và lớn tiếng: “Các chuyên viên đã để ra rất nhiều thời giờ soạn thảo, đại biểu đó tư cách gì mà đòi sửa qua sửa lại”. Ông Luân cố dằn lòng: “Tôi xin ngưng cuộc thảo luận, bởi như vị đại biểu vừa nói, đã có các chuyên viên nghiên cứu cho chúng ta rồi thì chúng ta chỉ còn là chuyên viên giơ tay thôi”. Chủ trì phiên họp, ông Mai Chí Thọ không nói gì, chỉ yêu cầu biểu quyết. Nhìn thấy ông Luân không giơ tay, ông Mai Chí Thọ hỏi: “Ai không chấp thuận?”. Ông Luân cũng không giơ tay, ông nói: “Toàn thể chấp thuận, một phiếu trắng”.

Một số cán bộ cách mạng tốt bụng bắt đầu lo lắng cho vị giáo sư trẻ tuổi này, một Trưởng Ban Đảng khuyên: “Tôi sáu mươi tuổi, người ta vẫn xem tôi như con nít, phải ăn nói thận trọng lắm. Anh nhớ, anh chỉ mới hơn ba mươi tuổi”. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tại diễn đàn của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi đề nghị phải áp dụng ‘kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước”. Ông Xuân Thủy nghe, nói với tôi: ‘Anh phải có người đỡ đầu, anh về nói với Sáu Dân đi”. Tôi trả lời ông Xuân Thủy: ‘Nếu tôi nói đúng thì các anh phải nghe chứ sao lại cần người đỡ đầu?’.

Sau đó, ông Mai Chí Thọ nhắc: ‘Cậu đúng, nhưng áp dụng như vậy thì phức tạp quá, làm sao chúng tôi quản lý được. Muốn làm phải có những người như cậu. Mà nói thật chúng tôi chưa thể tin hoàn toàn những người như cậu’”.Theo ông Luân: “Những năm ấy, tôi chê ông Võ Văn Kiệt nhát, ‘xé rào’ là vá víu; phải “phá vỡ ” để áp dụng kinh tế thị trường, chứ không thể phá những đoạn rào. Ông Mai Chí Thọ nghe, nhắc: ‘Phải giữ chính quyền trước hết, chính sách sai thì còn sửa được chứ mất chính quyền là mất hết”. Về sau tôi mới thấy ông Mai Chí Thọ đã nói rất thật lòng, họ đã ngủ rừng hàng chục năm để có chính quyền, làm sao họ để mất cái mà họ vừa giành được đó”.

Hai vợ chồng Giáo sư Châu Tâm Luân đều học ở Mỹ. Trước năm 1975, gia đình ông đã định cư ở một nước Bắc Âu, nhưng cả hai đều chọn con đường về nước. Sau năm năm cố gắng chòi đạp trong chế độ mới, ông không tìm thấy một cơ may thay đổi nào. Đầu năm 1979, ông vẫn còn được trả lời phỏng vấn các phóng viên nước ngoài, nhưng càng về sau thì không thấy nhà báo nào gặp ông nữa. Giáo sư Châu Tâm Luân nói: “Tôi bắt đầu có dự cảm bất ổn. Khi tình cờ gặp một vài phóng viên, nghe họ nói mấy lần đến Việt Nam xin gặp tôi, đều được chính quyền trả lời là Giáo sư Châu Tâm Luân đang đi công tác xa. Tôi biết tôi đang dần dần bị cô lập”.

Dù từng hoạt động trong các phong trào chống đối dưới chế độ Sài Gòn, ông Huỳnh Kim Báu vẫn phải thừa nhận: “Trước 1975, mặc dù chính quyền bị coi là bù nhìn, nhưng trí thức vẫn được trọng dụng, họ có quyền thực sự trong chuyên môn. Sau giải phóng, chính quyền được nói là của mình, nhưng trí thức gần như chỉ được dùng như bù nhìn, trong khi đa phần họ là những người khẳng khái”.

Năm 1977, có lần hệ thống nước máy của Thành phố bị đục, ông Võ Văn Kiệt mời các nhà trí thức tới hiến kế. Nhiều người phát biểu, riêng ông Phạm Biểu Tâm ngồi im. Ông Kiệt hỏi: “Sao vậy anh Tâm?”. Ông Phạm Biểu Tâm nguyên là chủ tịch Hội Sinh viên Hà Nội trước 1945. Năm 1963, con gái Ngô Đình Nhu là Ngô Đình Lệ Thủy thi Y khoa đã bị ông đánh rớt, dù bị nhà Ngô gây áp lực. Ông là một nhà giáo được sinh viên kính nể. Ông Tâm được nói là rất quý ông Kiệt, nhưng có lẽ do quá bị dồn nén, ông đứng dậy nói: “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khỏe, vì cái gì cũng đã có mấy anh nghĩ hết. Nước dùng hàng ngày là chuyện mấy anh đâu phải chuyện tụi tui”.

Một thời gian sau, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ trả lại chức Hiệu phó. Trường sợ mang tiếng không nhận, ông khóa phòng, giao chìa khóa, tự chấm dứt vai trò “chim kiểng” của mình. Theo ông Võ Văn Kiệt, Thành ủy vẫn để Giáo sư Phạm Hoàng Hộ hàng năm sang Pháp dạy học. Trong một lần đi Pháp, ông ở lại luôn bên đó rồi viết thư về cho ông Kiệt nói rằng, công việc nghiên cứu nhiều, ông cần phải ở nơi có phương tiện cho ông làm việc, khi nào đất nước thực sự cần, ông sẽ về.

Còn Giáo sư Châu Tâm Luân, nhân một buổi tối rủ ông Võ Ba tới nhà chơi, đã đưa cho Võ Ba coi một tập đánh máy hai mươi trang về “tình hình kinh tế nông nghiệp miền Nam”, rồi nói: “Võ Ba ơi, mình rất mừng vì bản báo cáo này của mình đã được Mặt trận Tổ quốc đánh máy gởi đi. Hai lần trước thì họ không chịu đánh máy. Nhưng, Võ Ba ạ, họ đánh sai hết, những thuật ngữ như ma trận họ đánh thành mặt trận ông ạ”. Mấy hôm sau, Võ Ba chạy qua nhà Giáo sư Luân thì thấy cửa đóng, bên trong thấp thoáng bóng mấy công an đến “chốt nhà”. Cho dù, sang tới Thái Lan ông bị các thuyền nhân khác đánh rất đau, khi viết thư về, trả lời câu hỏi của ông Huỳnh Kim Báu, “liệu vượt biên có phải là một quyết định sai lầm”, Giáo sư Châu Tâm Luân vẫn cả quyết: “Không, Báu! Dù phải trả giá đắt, mình vẫn thấy đi là đúng”.

Trong số các trí thức miền Nam, ông Võ Văn Kiệt “xếp” Giáo sư Châu Tâm Luân vào hàng “khó tính”. Tuy nhiên, ông kể: “Đến nhà Châu Tâm Luân mình rất thích vì ảnh thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy, có khi như búa bổ. Ảnh hy vọng khi đất nước hòa bình, với sự phì nhiêu của đất đai miền Nam, sẽ có dịp thi thố giúp phát triển nền nông nghiệp. Nhưng một thời gian sau, thấy cơ chế như thế thì không thể nào đóng góp được”.

Một người khác từng quen biết Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt nhưng cũng phải vượt biên là Kỹ sư Phạm Văn Hai, giám đốc nhà máy dệt Phong Phú. Ông Phạm Văn Hai là người đưa kỹ nghệ nhuộm vào miền Nam. Ông có hai người con, một người được đặt tên là Phạm Chí Minh, một người là Phạm Ái Quốc. Sau ngày 30-4, ông Phạm Văn Hai vẫn nhiệt tình tư vấn để phục hồi ngành dệt và nghiên cứu chất kích thích cây cỏ. Nhưng năm 1977 ông quyết định “đi”. Vượt biên hai lần, cả hai lần đều bị bắt. Lần đầu bị bắt ở Kiên Giang, Thành ủy lãnh. Lần hai, bị bắt ở thành phố, ông Võ Văn Kiệt vào thăm, ông Hai nói: “Cho dù anh quan tâm nhưng như thế này thì không làm được”. Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận: “Những người như Kỹ sư Phạm Văn Hai, như Giáo sư Châu Tâm Luân…, nếu chỉ khó khăn về cuộc sống họ sẽ vượt qua, nhưng nếu bị đặt vào hoàn cảnh không thể đóng góp thì họ không chịu được. Tôi cũng không biết làm gì hơn, chỉ đề nghị mấy ảnh đừng vượt biên nguy hiểm”.

Ông Võ Văn Kiệt nhớ lại: “Tôi tiếc đứt ruột khi để những anh em trí thức ấy ra đi, nhưng biết là nếu họ ở lại, thì cơ chế hiện thời cũng chưa cho phép mình sử dụng họ”. Trước khi vượt biên, ông Dương Kích Nhưỡng, một công trình sư cầu cống, thủy điện, nói với ông Võ Văn Kiệt: “Ước mơ của các anh rất đẹp, nhưng các anh làm như thế này là không được. Đi đâu cũng nghe nói tới nghị quyết, làm cái gì cũng chỉ theo tinh thần nghị quyết này, chủ trương kia thay vì theo pháp luật. Trị nước mà bằng nghị quyết và chỉ thị chung chung thì không được”.

Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Huỳnh Kim Báu nhớ lại: ông Kiệt biết là các trí thức bắt đầu vượt biên, ông gọi tôi lên và dặn “Nghe ngóng, nếu có anh em trí thức bị bắt ở đâu, anh phải lãnh về”. Khi nhận được tin công an Bình Thuận bắt giam Kỹ sư Dương Tấn Tước, ông Kiệt cấp giấy cho ông Báu ra Bình Thuận xin “di án về Thành phố”. Ông Báu kể: “Công an Bình Thuận thấy giấy của Thành ủy thì cho nhận ‘can phạm’. Nhưng khi anh Tước thấy tôi mừng quá định kêu lên, tôi đã phải giả vờ làm mặt lạnh, bước tới, còng tay anh Tước. Dọc đường, tôi cứ phải làm thinh mặc cho Kỹ sư Dương Tấn Tước ngơ ngác. Qua khỏi Bình Thuận, tôi mới mở còng và giải thích: Công an Bình Thuận mà biết, người ta chụp đầu cả tôi”.

Đích thân ông Kiệt cũng nhiều lần đến các trại giam để bảo lãnh các trí thức.

Theo ông Phạm Văn Hùng và Nguyễn Văn Huấn, hai người giúp việc thời đó của ông Kiệt, hình thức “xử lý” đối với những trí thức vượt biên của “Anh Sáu Dân” là kêu tụi tôi đích thân đi làm lại hộ khẩu và sổ gạo cho họ. Nhưng phần lớn các trí thức đã ra đi lặng lẽ. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi đi tất cả sáu lần. Lần bị giữ lâu nhất là ở Rạch Giá, cả tháng trời. Nhưng tôi không khai mình là ai. Như bốn lần trước, ở nhà cứ lo một cây vàng thì được thả”.

Có những người không chịu nhờ Thành ủy, hoặc “lo” bằng vàng. Theo ông Huỳnh Kim Báu, khi vượt biên bị bắt, Giáo sư Lê Thước đã tự sát…

Bác sĩ… ngụy

Bác sĩ… ngụy

Có những câu nói sẽ thay đổi theo từng ngữ cảnh, theo từng thời gian và thậm chí còn đi ngược lại ý nghĩa ban đầu, chẳng hạn như chữ “ngụy”. Khi “bên thắng cuộc” vào Miền Nam năm 1975, người Sài Gòn thường nhíu mày, khó chịu khi nghe đến chữ “ngụy”.

Ấy thế mà 45 năm sau, đôi khi lập lại cũng từ ngữ đó người ta lại cảm thấy “ngụy” không còn là cách nói miệt thị, không phải cứ “ngụy” là xấu mà trái lại nó tượng trưng cho điều gì đó tốt đẹp. Bằng chứng cụ thể, ngày nay có nhiều người ca ngợi… Bác sĩ Ngụy!

Chỉ mới đây thôi, một cuộc giải phẫu tách rời hai trẻ sơ sinh dính liền nhau từ trong bụng mẹ đã được dư luận, kể cả lề trái lẫn lề phải, bàn tán xôn xao. Có đến gần 100 y bác sĩ tham gia cuộc mổ mà trong đó người đứng đầu ê-kíp lại là một bác sĩ tuổi đã ngoài 70, được đào tạo từ thời còn “mồ ma” VNCH!

   Cặp song sinh Trúc Nhi – Diệu Nhi cùng bố mẹ trước khi mổ tách rời

Cũng vị bác sĩ quân y này năm 1988 đã là “nhạc trưởng” vì ông giữ vai trò phẫu thuật viên chính ca mổ tách cặp song sinh dính liền Nguyễn Việt – Nguyễn Đức với sự hỗ trợ thiết bị của Nhật Bản. Sự thành công của ông vang danh thế giới và được ghi tên vào Sách kỷ lục Guinness Thế giới năm 1991.

   Cặp song sinh Việt – Đức trên báo Nhật Bản

Hơn 30 năm sau ông lại là một trong 9 bác sĩ ngoại viện chủ chốt, tham vấn cho kíp mổ tách rời hai cháu Trúc Nhi – Diệu Nhi, lúc này ông đã ở vào tuổi 79. Đó là Bác sĩ Trần Đông A, ông tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn theo diện tình nguyện nhập ngũ để sẽ phục vụ ngành quân y trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Sau khi ra trường, ông phục vụ trong Binh chủng Nhảy dù, từng tham gia Trận Làng Vây và Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh với tư cách là một Bác sĩ Quân y. Ông được khen thưởng nhiều huy chương trong đó có anh dũng bội tinh, kể cả một huân chương của Sư đoàn Không kỵ Hoa Kỳ.

BS Đông A đã  từng được gửi đi tu nghiệp phẫu thuật tại Texas, Hoa Kỳ. Năm 1975, ông là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn Quân y, Sư đoàn Nhảy dù Quân lực VNCH, với cấp bậc Thiếu tá. Sau 2 năm học tập cải tạo tại Suối Máu, ông được phân công về công tác tại Bệnh viện Nhi đồng 2

    Bác sĩ Trần Đông A sau ca mổ song sinh ngày 15/7/2020

VNCH đào tạo sĩ quan quân y ra sao? 

Trong bài viết “Khóa 21 Sinh viên Sĩ quan Quân y Hiện dịch” của Bạch Thế Thức & Phạm Anh Dũng chúng ta được biết nhiều thông tin về việc huấn luyện “bác sĩ khoác áo lính” trong quân lực VNCH:

“Đa số họ gia nhập Quân y khi còn là sinh viên y khoa năm thứ 1 hay thứ 2. Học qua hết học trình Y Khoa, các năm thứ 3, năm thứ 4, năm thứ 5 và năm thứ 6. Sau khi ra trường, chúng tôi có một thời gian ngắn học Hành Chánh ở trường Quân Y và thêm về Cấp cứu Hồi sinh ở Tổng Y Viện Cộng Hòa rồi cuối cùng ra đơn vị… Thời gian khi là sinh viên quân y của chúng tôi ít nhất là 5 năm hay 6 năm hoặc có vài trường hợp 7, 8 năm nếu là những người học lớp trước bị ở lại…”

Trường Quân Y là một trong ba trường “sĩ quan hiện dịch” của Quân Lực VNCH, các trường kia là Võ bị Quốc gia Đà Lạt và trường Chiến tranh Chính trị. Những trường Sĩ quan Hải quân và Sĩ quan Không Quân đào tạo “sĩ quan trừ bị”, giống như trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.

Tân sinh viên Quân y ngoài việc “huấn nhục” thể xác và tinh thần, họ vẫn còn thêm sự lo lắng như những sinh viên Y Nha Dược ngoài dân sự, vẫn phải đi học, vẫn phải “gạo” bài. Nếu không thi đỗ thì bị ở lại lớp hay “ra trường sớm” tức là bị loại khỏi trường nếu thi trượt hai lần.

Trong sáu tuần lễ huấn nhục, ngày nào cũng vậy, sáng dậy sớm tập thể dục một giờ rồi mới đi đến trường Y Khoa học và buổi chiều về lại học thêm môn cơ bản thao diễn. Buổi tối lại còn có những lớp “đặc biệt”, xếp hàng học căn bản quân sự. Có nghĩa là học bù đầu, từ sáng sớm cho đến tối.

    Huấn nhục tại Trường Quân Y

   (Tranh của Y Sĩ Đại Úy Nguyễn Hữu Thường thuộc Tiểu Đoàn 1 Quân y Nhảy dù)

Suốt cuộc đời sinh viên quân y, ngoại trừ lúc có lý do như ốm đau, đi nghỉ phép… mỗi sáng Thứ Hai phải mặc quân phục, đeo khăn đỏ, đi sớm vào trường Quân Y để làm lễ chào cờ hàng tuần và nhận chỉ thị. Quên lễ chào cờ sẽ bị phạt trọng cấm.

Riêng việc huấn luyện quân sự, vào mùa hè sinh viên phải đi đến các trường huấn luyện, mỗi kỳ kéo dài 6 tuần lễ. Có khóa được gửi về Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt nhưng cũng có khóa đến Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức và Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.

    Lễ mãn khóa Quân y VNCH

Trong thời gian “học tập cải tạo” tôi đã có dịp tiếp xúc và sinh hoạt với nhiều “bác sĩ ngụy”. Chúng tôi được đưa đến Trảng Lớn, Tây Ninh, trại cải tạo mang bí số L1T5, “hòm thơ” 7590. Nơi đây đã nảy sinh nột thứ tình bạn “chân chính” giữa những người cùng cảnh ngộ trong thời “điêu linh”.

Cũng là điều may mắn khi bạn “ăn cùng thau cơm” với những bác sĩ quân y. Thật tình trước khi vào đây họ chỉ là những người mà công việc thường ngày là thuốc men nhưng vẫn bị coi là “có nợ máu với nhân dân”. Họ chỉ biết “truyền máu” chứ làm sao có thể “hút máu” người bệnh?

Bác sĩ Lâm thường được anh em gọi là “Lâm Bột” chỉ vì anh trắng như bột trong vóc dáng thư sinh. Bs Như là “một cây văn nghệ” thường giúp vui anh em bằng những bản “nhạc vàng” trong những buổi tối vắng bóng quản giáo, vệ binh. Anh tên Như nhưng lại có biệt danh là “Nhôn Lừ”, một cái tên xuất phát từ lối nói lái!

Bác sĩ Sơn là dân trường Tây nên thỉnh thoảng vẫn xưng “toa, moa” với bạn bè. Anh có dáng người to con nhưng lúc nào cũng hòa nhã trong giao tế. Chúng tôi còn có “Tý Điệu” đặt tên theo truyện tranh “Xì Trum” (Schtroumpf) của Pháp. Bác sĩ “Tý Điệu” là người nhỏ tuổi nhất trong nhóm nhưng lại có tài “xủi” (khắc) những thanh nhôm săn nhặt được ở phi trường L19 bỏ hoang trong căn cứ.

Người lớn tuổi nhất là trong nhóm là Đại úy Quân y, Bác sĩ Phạm Kỳ Nam, trước khi “tan hàng” anh phục vụ tại Quân y viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Nam thuộc tuýp người “ăn to, nói lớn” lại còn có tác phong “lãnh đạo” nên trong những buổi lao động anh đứng ra điều khiển cả nhóm.

Anh cũng có máu “tiếu lâm” nên thường kể cho anh em nghe những chuyện vui để quên ngày tháng “các chậu, chim lồng”. Cũng có những lúc buồn cho tương lai của mình anh lại than thở: “Không biết mai này sẽ ra sao… chẳng lẽ lại cưới một cô bộ đội cái, đít to như cái lu?”.

Đại úy Nam là người được ra trại sớm nhất trong bọn tôi sau hơn 2 năm ở trong trại. Anh được về Nông trường Phú Mỹ, Củ Chi, rồi sau chuyển về Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình, trước đây là Bệnh viện Sùng Chính ở quận 5. Cuộc đời của anh thăng tiến trong ngành y cũng chẳng kém gì Bác sĩ Trần Đông A, có khác chăng là ở lý tưởng chính trị.

Bác sĩ Đông A sau này dấn thân vào chính trị, con cưng của nhà nước, được chính phủ tặng Huân chương Lao động và danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân. Ông còn là đại biểu Quốc hội khóa XI và XII, đại diện cho Thành phố Hồ Chí Minh. Lại còn nghe đồn ông là… đảng viên!

Trong khi đó, Bác sĩ Nam chỉ hoạt động thuần túy trong lãnh vực y tế nhưng cũng đã thành công trên lãnh vực tình cảm với việc kết hôn với ca sĩ Phương Hồng Quế, “TV chi bảo”, vì cô thường xuất hiện trên đài truyền hình trước năm 1975 với những bản nhạc ca tụng chiến sĩ VNCH.

Cặp “bác sĩ – nghệ sĩ” có với nhau 2 đứa con, một trai một gái, nay cả hai cháu đã đều thành đạt. Chỉ tiếc một điều “Nam Già” (còn được gọi là “Nam Đầu Bạc”) đã bỏ lại sau lưng tất cả để về cõi vĩnh hằng năm 2012.

R.I.P. Bác sĩ Phạm Kỳ Nam, người bạn đồng cam cộng khổ!

     Bác sĩ Phạm Kỳ Nam với người thân tại Sài Gòn

Với chủ đề “Bác sĩ Ngụy”, chúng tôi qua bài viết này muốn vẽ lại bức tranh của các bác sĩ đã được đào tạo từ thời VNCH. Bức tranh có những nét chấm phá, chỗ sáng – chỗ tối, khi đậm khi lạt, kể cả lúc đúng lúc sai.

Phần nhận xét và phê bình còn tùy thuộc vào chính kiến của người đọc.

Nguyễn Ngọc Chính

From: TU-PHUNG

Luật sư của Trump: Chỉ ‘người mất lý trí’ mới tin cáo buộc ‘gian lận bầu cử’

Luật sư của Trump: Chỉ ‘người mất lý trí’ mới tin cáo buộc ‘gian lận bầu cử’

Mar 24, 2021 

WASHINGTON, DC (NV) – Trong hồ sơ nộp tòa án hôm Thứ Hai, 22 Tháng Ba, Luật Sư Sidney Powell lập luận rằng chỉ những người “mất lý trí” mới tin những cáo buộc trong các vụ kiện “gian lận bầu cử” do bà tuyên bố và nộp đơn kiện trước đây, theo CBS News.

Bà Sidney Powell được những người ủng hộ cựu Tổng Thống Donald Trump xưng tụng là một “thanh gươm báu” trong nhóm luật sư đại diện cho vị tổng thống thứ 45 trong các vụ kiện “bầu cử gian lận.” 

Bà Sidney Powell, luật sư từng đại diện ông Donald Trump trong các vụ kiện “bầu cử gian lận” không chứng cứ. (Hình: MANDEL NGAN/AFP via Getty Images)

Người “có lý trí” sẽ biết các tố cáo không phải là sự thật

Lập luận gọi những ai ủng hộ các tố cáo trong những đơn kiện “gian lận bầu cử” là “mất lý trí” được nhóm luật sư bào chữa cho bà Powell đưa ra nhằm xin tòa hủy bỏ vụ kiện, mà trong đó bên nguyên đơn, công ty Dominion Voting System, đòi bà bồi thường $1.3 tỷ.

“Những người có lý trí đều nhận ra” các tuyên bố được đưa ra là ý kiến riêng và lập luận của bà Powell chứ không phải là “bằng chứng,” công chúng “được tự do” đưa ra kết luận liệu công ty Dominion có “gian lận” hay không, luật sư đại diện bà Powell lập luận trong hồ sơ gửi tòa.

“Trước một tuyên bố, người nghe cần phải tự xét xem những gì được nói có được xác minh là đúng hay sai,” phía bà Powell biện hộ. “Sau khi phân tích các bằng chứng, và ngay cả, giả định, người ‘có lý trí’ sẽ không kết luận những tuyên bố đó là sự thật.”

Đi xa hơn, phía bà Powell còn lập luận cuộc bầu cử năm 2020 rất cay đắng và gây tranh cãi nên bà có quyền đưa ra những tuyên bố (sai lạc) để ủng hộ cho ứng cử viên mà bà ưa thích và dùng trong lập luận pháp lý cũng như quan điểm chính trị ở vị thế luật sư của bà.

Biện hộ của phía bà Powell nhằm đòi tòa bỏ vụ kiện dựa vào lập luận chính là những người “có lý trí” sẽ không xem những tuyên bố của bà Powell là sự thật, mà chỉ xem đó chỉ là những cáo buộc cần được xác minh, do đó, cáo buộc bị thiệt hại vì mất uy tín của công ty Dominion không đúng.

Nguyên ủy vụ Dominion kiện bà Sydney Powell

Ngày 8 Tháng Giêng, công ty Dominion Voting Systems Inc. nộp đơn kiện đòi Luật Sư Sidney Powell phải bồi thường $1.3 tỷ, do các thiệt hại gây ra khi bà này nộp các đơn kiện, theo đó tìm cách hủy bỏ kết quả bầu cử, và đều bị tòa án mọi nơi bác bỏ do các cáo buộc không bằng cớ và dựa trên các thuyết âm mưu từng bị chứng minh là bịa đặt, có liên quan đến công ty.

Trong các cuộc họp báo và trả lời phỏng vấn trên truyền thông, bà Powell luôn tuyên bố rằng “nhân viên tình báo Venezuela, Cuba, và có thể là Trung Quốc, đã xâm nhập vào các máy của Dominion để giúp ứng cử viên Joe Biden, nghĩa là lấy phiếu của ông Trump đưa qua cho ông Biden, và nhu liệu điều hành các máy này do nhà độc tài Hugo Chavez chỉ huy.”

Ông Chavez là tổng thống Venezuela, và qua đời năm 2013.

Công ty Dominion, có văn phòng tại Toronto ở Canada, và Denver ở Mỹ, nói trong đơn kiện rằng các cáo buộc của bà Powell là hoàn toàn bịa đặt. Công ty nói bà này hợp cùng với các đồng minh và một số cơ quan truyền thông, có cùng một ý định là đưa ra hình ảnh sai lạc về cuộc bầu cử 2020. Đơn kiện nói thêm: “Bà Powell mở chiến dịch tung tin thất thiệt về công ty Dominion tới nhiều triệu người, gây thiệt hại lớn lao cho công ty.”

Đơn kiện này là phát súng khởi đầu của các đơn kiện khác nhắm vào cá nhân cũng như một số cơ quan truyền thông bị cáo buộc là làm thiệt hại uy tín của công ty Dominion khi liên tục phát biểu hoặc loan tải các thuyết âm mưu sai lạc để giải thích lý do vì sao Tổng Thống Trump thất cử.

Luật Sư Rudy Giuliani, đài Fox News, và ngay cả Tòa Bạch Ốc, là những nơi nhận được thư cảnh cáo của luật sư đại diện Dominion hồi Tháng Mười Hai, 2020.

Ông Giuliani là cựu thị trưởng New York và từng là luật sư riêng của ông Trump trong thời gian vừa qua.

Bà Sidney Powell (bìa trái) xuất hiện cùng với ông Rudy Giuliani (thứ hai từ trái), cựu luật sư riêng của ông Donald Trump, tại một cuộc họp báo. (Hình: MANDEL NGAN/AFP via Getty Images)

Vai trò của bà Powell trong các vụ kiện đòi lật ngược kết quả bầu cử

Sau khi không chấp nhận thua cuộc bầu cử ngày 3 Tháng Mười Một, 2020, ông Trump lập ra nhóm pháp lý đòi kiện nhiều tiểu bang trọng điểm để lật ngược kết quả bầu cử.

Trong tin nhắn đưa ra ngày 14 Tháng Mười Một, 2020, ông Trump xác nhận bà Powell là thành viên của nhóm pháp lý bao gồm những luật sư tuyệt vời.

Ông Trump từng nói: “Tôi chờ đợi mũi tấn công pháp lý của Thị Trưởng Giuliani để bảo vệ quyền được tự do và bầu cử công bằng. Rudy Giuliani, Joseph diGenova, Victoria Toensing, Sidney Powell, và Jenna Ellis, một nhóm người thực sự giỏi , những luật sư và người đại diện tuyệt vời.”

Sau đó, bà Powell cùng xuất hiện ở những sự kiện họp báo liên quan đến các vụ kiện về bầu cử cùng với ông Rudy Giuliani.

Bất ngờ, ngày 22 Tháng Mười Một, 2020, ông Giuliani đưa ra thông báo: “Bà Sidney Powell là luật sư đại diện cho chính bà ta. Bà Powell không còn thuộc nhóm pháp lý của Tổng Thống Trump nữa.”

Việc “khai trừ” này tiếp theo sau những tuyên bố không bằng chứng của bà Powell như “cố lãnh đạo Venezuela, ông Hugo Chavez, và nhiều người khác cài đặt máy và phần mềm Dominion phá hoại bầu cử Hoa Kỳ,” hay bà tố cáo ông Brian Kemp, thống đốc Georgia, một người Cộng Hòa, có âm mưu chống lại Tổng Thống Trump, và cũng không có bằng chứng nào được đưa ra.

Những tuyên bố không bằng chứng của bà Powell bị các thành viên cao cấp của đảng Cộng Hòa phản ứng mạnh mẽ.

Khi ra khỏi nhóm của ông Giuliani, bà Powell phối hợp với Luật Sư L. Lin Wood ở Georgia tiếp tục các vụ kiện đòi lật ngược kết quả bầu cử.

Theo báo mạng Politico, ngày 18 Tháng Mười Hai, 2020, ông Trump muốn bổ nhiệm bà Powell làm điều tra viên đặc biệt về vụ bầu cử, nhưng việc này không thành vì bị ông Mark Meadows, chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc, và ông Rudy Giuliani phản đối.

Không lạ kiểu lập luận nhập nhằng “người có lý trí” sẽ không tin

Cách lập luận phủ nhận trách nhiệm những tuyên bố sai trái của mình bằng cách “bán cái” kiểu những ai “có lý trí” đều hiểu rằng những gì bà Powell nói là không đúng sự thật, đã được sử dụng trong những vụ kiện liên quan đến kết quả bầu cử trước đó.

Giới luật gia chỉ ra nhiều mánh khóe trong những đơn kiện thất bại của nhóm luật sư L. Lin Wood và Sidney Powell.

Trong đơn kiện ngày 18 Tháng Mười Hai, 2020, trong phần xác nhận những tố cáo và bằng chứng, ông L. Lin Wood viết “I declare and verify under plenty of perjury,” tạm dịch: “Tôi tuyên bố và xác nhận với đầy những lời khai man.”

Đúng ra phải viết là: “I declare and verify under penalty of perjury,” tạm dịch: “Tôi tuyên bố và xác nhận sẽ chịu hình phạt nếu khai man.”

Còn trên đơn kiện viết ngày 3 Tháng Mười Hai, 2020, được hai luật sư Wood và Powell ký tên, phần nêu hoàn cảnh viết rằng: “Có nhiều kiểu tạo phiếu gian lận khác nhau… bao gồm dùng máy móc kiểm soát, công ty Dominion Voting System, nói chung, đã lấy 2.5% phiếu của ông Biden chuyển cho ông Trump làm cho ông Biden có thêm 5% phiếu gian lận.”

Lý do mà họ đưa đơn kiện là cuộc bầu cử gian lận làm bất lợi cho ông Trump, nhưng khi trình bày lại viết “ngược lại” với con số được ước lượng 2.5% có lợi cho ông Trump, người bị thiệt hại lại là ông Biden.

Do đó, không ngạc nhiên là những đơn kiện kể trên bị tòa từ thấp lên cao đều bác bỏ.

Có người cho rằng đây là “lỗi đánh máy” của thư ký.

Tuy nhiên, nhiều người nghi ngờ rằng có thể đây là cách “lách” của luật sư vì các vụ kiện mà phe ông Trump đưa ra đều không có bằng chứng và dựng lên những câu chuyện không kiểm chứng, nên khi viết như thế luật sư không bị trách nhiệm trước tòa và sự “sơ sót” này xảy ra để đơn kiện mau chóng bị bác. 

Những “mánh khóe” này, những ai “có lý trí” sẽ nhận ra từ sớm. 

Gia đình 3 người bị bắt, công an đòi xử lý hình sự ông Trịnh Bá Khiêm vì live stream lên mạng

 Hôm 24-3-2021, công an huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình mời ông Trịnh Bá Khiêm lên làm việc, đồng thời yêu cầu xóa bỏ các video phát trực tiếp trên Facebook và không chia sẻ các bài đăng khác nếu không sẽ bị xử lý hình sự.

Gia đình ông Trịnh Bá Khiêm hiện có 3 người hiện đang bị chính quyền Việt Nam giam giữ vì các cáo buộc “phát tán tài liệu nhằm chống nhà nước” gồm vợ là bà Cấn Thị Thêu và 2 con trai là Trịnh Bá Phương và Trịnh Bá Tư.

Gia đình 3 người bị bắt, công an đòi xử lý hình sự ông Trịnh Bá Khiêm vì live stream lên mạng
RFA.ORG

Gia đình 3 người bị bắt, công an đòi xử lý hình sự ông Trịnh Bá Khiêm vì live stream lên mạng 

Hôm 24-3-2021, công an huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình mời ông Trịnh Bá Khiêm lên làm việc, đồng thời yêu cầu xóa bỏ các video phát trực tiếp trên Facebook và không chia sẻ các bài đăng khác nếu không sẽ bị xử lý hình sự.

Gia đình ông Trịnh Bá Khiêm hiện có 3 người hiện đang bị chính quyền Việt Nam giam giữ vì các cáo buộc “phát tán tài liệu nhằm chống nhà nước” gồm vợ là bà Cấn Thị Thêu và 2 con trai là Trịnh Bá Phương và Trịnh Bá Tư.

Ông Khiêm vào chiều cùng ngày thuật lại buổi làm việc với phóng viên Đài Á Châu Tự Do như sau:

“Họ lấy các thông tin mà tôi live stream trên mạng xã hội và họ yêu cầu tôi là không được live stream trên mạng xã hội nữa. 

Họ nói là ‘Tôi nói như vậy sẽ gây cho nhân dân hoang mang và nói xấu đảng Cộng sản, không tố cáo cá nhân mà lại nói chung cả đảng Cộng sản’ và yêu cầu tôi không được live stream trên mạng xã hội. 

Nếu còn live stream trên mạng xã hội như thế nữa thì chế độ Cộng Sản sẽ bắt giam tôi và xử án nặng, những viên công quyền nó nói với tôi là như vậy.

Tôi dùng những lời lẽ bác bỏ hết tất cả những những điều quy chụp của bọn cộng sản dành cho tôi. 

Tôi bảo với bọn cơ quan công quyền, công an hôm nay là ‘nếu không có Đảng Cộng sản thì người dân chúng tôi đã không bị mất đất’. 

Nó bảo tôi sao không làm đơn kiện, nó bảo kiện từng cá nhân. Tôi bảo: ‘Kiện từng cá nhân nhưng chế độ Cộng sản có giải quyết đâu?’.”

Trong đoạn video ông Khiêm phát trực tiếp trên Facebook cá nhân vào sáng ngày 24-3 cho thấy, một người trong đoàn công tác yêu cầu ông phải xóa bỏ các video có dấu hiệu vi phạm luật An ninh mạng. Người này nói:

“Chúng tôi đề nghị, yêu cầu anh thứ nhất là xóa bỏ những video clip có nội dung vi phạm ví dụ như là chửi…, ví dụ như là anh gây hoang mang, các video có nội dung đi ngược lại với đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Đề nghị anh là gỡ bỏ!

Thứ hai là không tiếp tục đăng tải, chia sẻ những bài viết, video có các nội dung có thể – như chúng tôi nói là dẫn đến việc anh phải chịu trách nhiệm hình sự.”

Ông Trịnh Bá Khiêm nhận định rằng, có đến 70% khả năng chính quyền sẽ bắt giữ ông theo sau việc bắt giữ 3 thành viên của gia đình, nhưng ông không lo lắng và khẳng định rằng:
“Tôi không lo sợ một tí nào cả, vợ con tôi đang ở trong tù thì máu của tôi lúc nào cũng sôi lên đối diện với bọn cộng sản chúng nó. 

Tôi coi thường chúng nó, không coi chúng nó là cái gì. Tôi đã xác định rồi!

Dù thế nào thì tôi cũng không sợ bọn cộng sản, dù bọn cộng sản có bắt giam tù tôi 20 năm.

Tôi tuyên bố với bọn cộng sản, Bộ Công an, an ninh tỉnh Hòa Bình như vậy. 

Hai mươi năm tôi cũng không sợ, kể cả chết trong tù tôi cũng không sợ chế độ độc tài của bọn cộng sản. Tôi không lo lắng một tí nào!”

Trong buổi làm việc, ông Khiêm cũng đồng thời yêu cầu được gặp con trai là nhà hoạt động Trịnh Bá Phương, hiện bị công an Hà Nội chuyển từ trại tạm giam sang bệnh viện Tâm thần trung ương 1 để giám định từ hồi đầu tháng 3 vì giữ quyền im lặng và bất hợp tác với an ninh điều tra.

Ông Trịnh Bá Khiêm làm một người nông dân khiếu kiện đất đai ở phường Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Ông và những người dân làng cho rằng, đất đai bị chính quyền tịch thu giao cho doanh nghiệp với giá đền bù rẻ mạt.

Hồi năm 2014, ông Khiêm bị tuyên án 15 tháng tù giam với cáo buộc “chống người thi hành công vụ”, trong khi đó các video về cuộc cưỡng chế đất cho thấy ông bị các nhân viên an ninh đeo băng đỏ trấn áp.
Vợ của ông là bà Cấn Thị Thêu bị tuyên 18 tháng tù cùng một tội danh khi chỉ đứng trên chòi cao và quay phim lại vụ việc cưỡng chế.