Người gốc Việt bị đánh trong lúc đi bộ ở Uptown, Chicago Mar 28, 2021 

Người gốc Việt bị đánh trong lúc đi bộ ở Uptown, Chicago

Mar 28, 2021 

CHICAGO, Illinois (NV) – Ông Châu Bửu, một người gốc Việt, 60 tuổi, bị đánh khi đang đi bộ ở khu Uptown của thành phố Chicago cách đây một tuần.

Báo Chicago Tribune dẫn lời cô Kaylee Công, con gái của nạn nhân, cho biết cha mình bị đánh khi đang đi bộ trong khu ông cư ngụ. Cô và gia đình sợ cha mình bị tấn công vì là người Á Châu, và đang kêu gọi cộng đồng cảnh giác.

Một góc khu vực trung tâm thành phố Chicago vào buổi tối. (Hình minh họa: KAMIL KRZACZYNSKI/AFP via Getty Images)

Cô Kaylee kể mình và gia đình sống ở khu Uptown đến nay được 15 năm, nhưng chưa bao giờ gặp chuyện này.

“Tôi rất bất ngờ vì không thể tin được chuyện này lại xảy ra với cha mình,” cô nói.

Cô kể cha mình bị tấn công trong lúc đi bộ tại ngã tư đường Broadway và đường Ainslie lúc 11 giờ sáng Thứ Bảy, 20 Tháng Ba, và đợi đến hôm sau mới kể lại cho gia đình nghe.

Đăng trên Instagram của tiệm nail, cô Kaylee cho biết cha mình, ông Châu Bửu, bị đấm vào đầu, nhưng không kể lại vì thế hệ của ông quen chịu đựng những “chuyện khó khăn” như vậy.

Cô nói với báo Chicago Tribune: “Tôi nghĩ cha mình không phải là nạn nhân đầu tiên vì những bậc cha mẹ người Á Châu thường giữ im lặng khi gặp những chuyện như vậy. Thế hệ con cái như chúng tôi thì nghĩ mình không nên im lặng.”

Báo Chicago Tribune liên lạc được với ông Châu Bửu, nhưng ông từ chối phỏng vấn, và nhờ con gái Kaylee thay mặt.

Cô cho hay ông Châu đứng lại sau khi bị đấm vào đầu, và thấy nghi can tiếp tục đi khoảng 100 foot. Ông lấy điện thoại ra chụp hình nghi can lại, nhưng hình không rõ.

Sau đó, ông quay lại nhìn phía sau thì thấy một người đàn ông đang đứng trên lề đường và đang giấu gậy bóng chày trên người.

Ông Châu thấy vậy liền áp điện thoại vào tai và la “Tôi sẽ gọi 911.” Người cầm gậy bóng chày và ông Châu nhìn nhau khoảng một phút, rồi ông Châu đi tiếp để tránh nguy hiểm.

Cô Kaylee nói cha mình không thấy rõ nghi can đấm vào đầu ông, chỉ thấy người đó mặc quần áo đen. Ông kể người cầm gậy bóng chày không phải là người Á Châu, và cả hai người đều cao to hơn ông.

Ông Châu không muốn gọi cảnh sát vì tiếng Anh, và cũng không muốn vào bệnh viện vì không có bảo hiểm, không muốn làm “gánh nặng tài chánh” cho gia đình.

Sở Cảnh Sát Chicago cho biết sẽ không dung thứ các hành vi bạo lực trong cộng đồng, và sẽ làm việc với các cộng đồng Á Châu để điều tra, cũng như có các biện pháp bảo vệ họ.

Tuy nhiên, sở cảnh sát chưa biết được sự việc này có phải là tội thù ghét hay không và đang điều tra.

Trong khi đó, cô Kaylee cho hay quá trình khai báo với sở cảnh sát rất phức tạp, và cô cho rằng chuyện cha mình bị tấn công là tội thù ghét.

“Tôi vẫn nghĩ đó là tội thù ghét vì đâu có ai muốn tấn công một người không đụng gì đến họ. Cha tôi chỉ đi bộ một mình, và không hề đụng đến ai cả,” cô nói. (TL) [kn]

Bàn tay vấy máu của hai đảng Cộng sản ở Myanmar

Bàn tay vấy máu của hai đảng Cộng sản ở Myanmar

Bởi  AdminTD

Đỗ Ngà

29-3-2021

Để triển khai dự án ‘Vành đai Con đường’ thì năm 2017, Trung Cộng cho triển khai hàng loạt dự án con tại các nước mà Trung Cộng đã có thỏa thuận, trong đó có Myanmar và Việt Nam.

Tại Myanmar, dự án đó mang tên Hành lang kinh tế Trung Quốc – Myanmar (CMEC). Mục đích dự án là tạo con đường vận chuyển thông suốt từ Vịnh Bengal đến tỉnh Vân Nam. Còn tại Việt Nam, Trung Cộng thực hiện dự án có tên “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” và 3 Đặc khu Kinh tế.

Hai dự án triển khai ở hai nước, tuy nhiên chỉ suông sẻ ở Việt Nam, còn ở Myanmar thì không. Được biết, đến năm 2019, Việt Nam công khai tuyên bố ủng hộ dự án “Vành đai Con đường” của Trung Cộng trên báo chí. Việt Nam khác Myanmar vì ĐCS Việt Nam chỉ biết quyền lợi của nó và không xem ý kiến của dân ra gì cả, bất chấp sự lên án, dư luận ĐCS cho xúc tiến mọi dự án kết nối.

Khác Việt Nam, tại Myanmar, chính quyền bà Aung San Suu Kyi bị áp lực bởi người dân nên bà đã cho đóng băng dự án CMEC. Để gỡ rối, ngày 1/9/2020, Tập Cận Bình cử Dương Khiết Trì – Ủy viên Quốc vụ viện sang gặp bà Aung San Suu Kyi. Tuy nhiên, sau khi gặp, bế tắc vẫn hoàn bế tắc vì bà Aung San Suu Kyi chọn đứng về phía dân không đứng về lợi ích nhóm, trong đó có quân đội Myanamar.

Để giải quyết bế tắc, vào tháng 1/2021 Tập Cận Bình cử ông Ngoại trưởng Vương Nghị sang Myanamar gặp tướng Min Aung Hlaing. Đó là những gì đã diễn ra trước cuộc đảo chính quân sự.

Từ sau ngày đảo chính là những cuộc biểu tình không dứt của người dân Myanmar. Tới nay cuộc biểu tình đã diễn ra 50 ngày và chưa có dấu hiệu dừng lại, điều đó cho thấy, kết quả bầu cử tháng 11/2020 mang lại chiến thắng cho đảng NLD của bà Aung Sang Suu Kyi là chiến thắng thật chứ không phải là gian lận. Đến bây giờ, chính quyền quân đội Myanmar vẫn bất chấp tất cả để giữ lấy quyền lực.

Điều đáng nói là, những biện pháp sau đảo chính của phía quân đội Myanmar đã áp dụng là rập khuôn toàn bộ những gì mà chính quyền CS thường làm: Thứ nhất là cắt internet, thứ nhì là đề xuất luật an ninh mạng kiểu Việt Nam và Trung Quốc đã áp dụng; chặn truyền thông đưa tin; dùng kênh Myawaddy TV của quân đội bóp méo sự thật, bao che cho tội ác quân đội, và cuối cùng là sẵn sàng xả súng vào dân.

Nói chung, phương pháp đối phó biểu tình của Quân đội Myanmar là những biện pháp y hệt như cộng sản đã áp dụng tại Tàu và tại Việt Nam. Rất có thể Trung Cộng đã cho xuất khẩu phương pháp kiểm soát biểu tình của họ sang Myanmar.

Cho đến nay, chính quyền Min Aung Hlaing đã giết trên 300 mạng người. Có thể nói đó là tội ác tột cùng. Ấy vậy mà phía phía chính quyền CS Việt Nam cũng hùa theo Bắc Kinh, ủng hộ chính quyền sát nhân tại Myanmar. Nếu nói Trung Cộng giúp Min Aung Hlaing một cách kín đáo thì Việt Cộng giúp công khai. Thông qua công ty Mytel, Việt Cộng đã giúp Min Aung Hlaing bóp nghẹt internet, ngăn chặn faccebook và áp dụng Luật An Ninh Mạng, đồng thời phát tán những trò vu khống, bịa đặt và bóp méo sự thật của phía chính quyền quân sự Myanmar nhắm vào dân họ.

Hẳn nhiều người còn nhớ, sau khi cho CSCĐ xả súng giết hại cụ Kình, chính quyền CS Việt Nam đã ra tay cướp tiền phúng điếu mà mọi người khắp nơi chuyển cho gia đình cụ, thông qua tài khoản Vietcombank của chị Nguyễn Thúy Hạnh?! Không biết phía Việt Cộng có xuất khẩu phương pháp này sang Myanmar hay không, nhưng hiện nay chính quyền sát nhân ở Myanmar đã áp dụng mô hình y hệt như vậy nhưng với quy mô lớn hơn nhiều.

Theo báo Nikkei Asian, hiện nay chính quyền sát nhân ở Myanmar đang kiểm soát Ngân hàng Trung ương Myanmar, bắt các giám đốc ngân hàng thương mại phải thực hiện việc chiếm giữ các khoản tiền gửi của các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế. Mục đích là vừa để trả thù, vừa chặt đứt nguồn lực hỗ trợ tài chính cho các tổ chức dân sự nước này. Nói chung, chính quyền sát nhân Myanmar áp dụng rất tốt bài học chính quyền CS Việt Nam đã dạy. Đã giết người còn cướp tiền của họ, là thứ mà chỉ có CS mới dám làm và chính quyền quân sự ở Myanmar lại làm được.

Được biết ngày 9/3 Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ra tuyên bố chung “quan ngại sâu sắc” về các sự kiện ở Myanmar và lên án bạo lực chống lại những người biểu tình ôn hòa, trong đó có 4 nước phản đối Liên Hiệp Quốc bênh vực cho phe sát nhân ở Myanmar, mà Việt Cộng và Trung Cộng là 2 trong 4 nước đó. Đấy chỉ là bề nổi, còn phần chìm bên trong là cả Việt Cộng và Trung Cộng đã cấu kết với quân đội Myanmar từ lâu. Bàn tay hai ĐCS ở châu Á này đã vấy máu dân Myanmar.

Rất có thể cái kết xấu cho bà Aung San Suu Kyi và đảng NLD là bởi họ dám nói không với Trung Cộng để ngã về dân. Vậy thì câu hỏi đặt ra là, đứng giữa ý dân và yêu sách của quan thầy Trung Cộng thì ĐCS Việt Nam sẽ chọn bên nào? Chắc chắn là chiều ý quan thầy.

Và đó là lý do tại sao ngày 28/3 tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt văn kiện Đại hội XIII, ông Nguyễn Xuân Phúc đã nói “Tiếp tục nghiên cứu luật Đặc khu” để dọn đường mời tàu vào làm chủ.

____

Tham khảo:

http://vnll.com.vn/vi/quan-viet-trung-hai-hanh-lang-mot-vanh-dai-kinh-te-ket-noi-hieu-qua-voi-mot-vanh-dai-mot-con-duong/

https://tuoitre.vn/viet-nam-ung-ho-vanh-dai-con-duong-cung-co-loi-20190427093754177.htm

https://www.bbc.com/vietnamese/world-55903780

https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-51148461

https://www.voatiengviet.com/a/hon-90-nguoi-bi-giet-o-myanmar-trong-ngay-bieu-tinh-dam-mau-kinh-hoang/5830711.htm

https://asia.nikkei.com/Opinion/After-50-days-in-power-Myanmar-s-junta-is-flailing-desperately

https://thanhnien.vn/thoi-su/thu-tuong-nguyen-xuan-phuc-tiep-tuc-nghien-cuu-luat-dac-khu-1360367.html

Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới

Kimtrong Lam  Lương Văn Can 75.

Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới

Người Dịch: Nguyên Phong

Bác sĩ Elizabeth Kübler-Ross, người tiền phong trong lãnh vực nghiên cứu về hiện tượng hồi sinh cho biết:

“Con người sợ chết như con nít sợ ma, họ đã nhìn cái chết một cách sợ hãi, ghê tởm và cố gắng phủ nhận nó vì nó làm gián đoạn sự liên tục của đời sống. Nhưng nếu họ biết chấp nhận sự chết một cách bình thản, giản dị thì họ sẽ thấy chết là một sự kiện tự nhiên cũng như lúc sinh ra vậy. Bất kỳ lúc nào chung quanh chúng ta, sống và chết cũng luôn luôn tiếp diễn. Lá cây rụng để nhường chỗ cho những mầm non xuất hiện, hết mùa đông lại có mùa xuân. Một hiện tượng tự nhiên và cần thiết như thế không lẽ lại chẳng bao hàm một ý nghĩa thâm sâu nào đó? Phải chăng chính vì có sự chết mà sự sống hiện hữu, có sự xây dựng thì cũng phải có sự hủy diệt, đâu có gì tồn tại vĩnh viễn. Người ta không thể hiểu được ý nghĩa đích thực của sự sống nếu họ không chịu chấp nhận sự chết, và đã đến lúc người ta phải nghiên cứu cặn kẽ các sự kiện này chứ không thể chấp nhận những lý thuyết mơ hồ nào đó được.”

Sau đây là tài liệu được trích lại từ cuốn La Revue Spirite:

Bác sĩ Henri Desrives là một khoa học gia hoạt động, vui vẻ và yêu nghề. Như mọi nhà trí thức khác, ông sống một cuộc đời rất thực tế và không buồn lưu ý đến những điều mà khoa học chưa giải thích được. Ông không tin rằng có một linh hồn tồn tại sau khi chết vì thể xác chỉ là sự kết hợp của các vật chất hữu cơ và trí thông minh chẳng qua chỉ là sản phẩm của các tế bào thần kinh. Khi thể xác đã hư hoại thì trí thông minh cũng không thể tồn tại. Một hôm khi bàn chuyện với các con về đề tài đời sống sau khi chết, ông hứa sẽ liên lạc với các con nếu quả thật có một đời sống bên kia cửa tử.

Cậu con trai Piere Desrives, cũng là một y sĩ, đã nói: “Nếu đã chết, làm sao cha có thể liên lạc với con được?”

Bác sĩ Henri suy nghĩ một lúc rồi trả lời: “Cha không tin có một đời sống hay cõi giới nào ngoài đời sống này nhưng nếu sau khi chết mà cha thấy được điều gì thì cha sẽ tìm đủ mọi cách để liên lạc với các con.”

Vài năm sau, bác sĩ Desrives từ trần, các con ông vì bận việc nên cũng không để ý gì đến buổi bàn luận đó nữa.

Khoảng hai năm sau, một nhóm nhân viên làm việc trong bệnh viện lập bàn cầu cơ chơi, bất ngờ cơ bút đã viết: “Xin cho gọi bác sĩ Piere Desrives đến vì tôi là cha cậu đó và tôi có mấy lời muốn nhắn nhủ với các con tôi.”

Được thông báo, bác sĩ Piere không tin tưởng mấy nhưng nhớ lại lời dặn của cha, ông bèn gọi các em đến tham dự buổi cầu cơ này. Một người cầm giữ đầu một sợi dây, đầu kia cột vào một cây bút chì và chỉ một lát sau cây bút đã tự động chạy trên các trang giấy thành bức thư như sau:

Các con thân mến,

Cha rất hài lòng đã gặp đủ mặt các con nơi đây. Gần một năm nay, cha có ý trông đợi để kể cho các con về những điều ở cõi bên này mà cha đã chứng kiến nhưng không có cơ hội nói lại cho các con biết.

Như các con đã biết, hôm đó sau khi ở bệnh viện về, cha thấy trong người mệt mỏi lạ thường, cha bèn lên giường nằm và dần dần lịm đi luôn, không hay biết gì nữa. Một lúc sau cha thấy mình đang lơ lửng trong một bầu ánh sáng trong suốt như thủy tinh. Thật khó có thể tả rõ cảm tưởng của cha khi đó, nhưng không hiểu sao cha thấy trong mình dễ chịu, linh hoạt, thoải mái chứ không bị gò bó, ràng buộc như trước. Các con biết cha bị phong thấp nên đi đứng khó khăn, vậy mà lúc đó cha thấy mình có thể đi đứng, bay nhảy như hồi trai tráng. Cha có thể giơ tay giơ chân một cách thoải mái, không đau đớn gì. Đang vẫy vùng trong biển ánh sáng đó thì bất chợt cha nhìn thấy cái thân thể của cha đang nằm bất động trên giường. Cha thấy rõ mẹ và các con đang quây quần chung quanh đó và phía trên thân thể của cha có một hình thể lờ mờ trông như một lùm mây màu xám đang lơ lửng. Cả gia đình đều đang xúc động và không hiểu sao cha cứ thấy trong mình buồn bực, khó chịu. Cha lên tiếng gọi nhưng không ai trả lời, cha bước đến nắm lấy tay mẹ con nhưng mẹ con không hề hay biết và tự nhiên cha ý thức rằng mình đã chết. Cha bị xúc động mạnh, nhưng may thay lúc đó mẹ con và các con đều lên tiếng cầu nguyện, tự nhiên cha thấy mình bình tĩnh hẳn lại như được an ủi. Cái cảm giác được đắm chìm trong những lời cầu nguyện này thật vô cùng thoải mái dễ chịu không thể tả xiết. Lớp ánh sáng bao quanh cha tự nhiên trở nên sáng chói và cả một cuộc đời của cha từ lúc thơ ấu đến khi trưởng thành bỗng hiện ra rõ rệt như trên màn ảnh. Từ việc gần đến việc xa, ngay cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng đều hiện ra rõ rệt trong tâm trí của cha. Hơn bao giờ hết, cha ý thức tường tận các hành vi của mình, các điều tốt lành, hữu ích mà cha đã làm cũng như các điều xấu xa, vô ích mà cha không tránh được. Tự nhiên cha thấy sung sướng về những điều thiện đã làm và hối tiếc về những điều mà đáng lẽ ra cha không nên làm. Cả một cuốn phim đời hiện ra một cách rõ rệt cho đến khi cha thấy mệt mỏi và thiếp đi như người buồn ngủ.

Cha ở trong tình trạng vật vờ, nửa ngủ nửa thức này một lúc khá lâu cho đến khi tỉnh dậy thì thấy mình vẫn lơ lửng trong một bầu ánh sáng có màu sắc rất lạ không giống như màu ánh sáng lần trước. Cha thấy mình có thể di chuyển một cách nhanh chóng, có lẽ vì không còn xác thân nữa. Cha thấy cũng có những người đang di chuyển gần đó nhưng mỗi lần muốn đến gần họ thì cha lại có cảm giác khó chịu làm sao. Một lúc sau cha đi đến một nơi có đông người tụ họp. Những người này có rung động dễ chịu nên cha có thể bước lại hỏi thăm họ một cách dễ dàng. Một người cho biết tùy theo các rung động thích hợp mà cha có thể tiếp xúc được với những người ở cõi bên này. Sở dĩ cha không thể tiếp xúc với một số người vì họ có sự rung động khác với “tần số rung động” (frequency) của cha. Sự giải thích có tính cách khoa học này làm cha tạm hài lòng. Người nọ cho biết thêm rằng ở cõi bên này tần số rung động rất quan trọng, và tùy theo nó mà người ta sẽ lựa chọn nơi chốn mà họ sống. Cũng như loài cá ở ngoài biển, có loài sống gần mặt nước, có loài sống ở lưng chừng và có loài sống dưới đáy sâu tùy theo sức ép của nước thì ở cõi bên này, tùy theo tần số rung động mà người ta có thể tìm đến được các cảnh giới khác nhau. Sự kiện này làm cha cảm thấy vô cùng thích thú vì như vậy quả có một cõi giới bên kia cửa tử và cõi này lại có nhiều cảnh giới khác nhau nữa.

Khi xưa cha không tin những quan niệm như thiên đàng hay địa ngục nhưng hiện nay cha thấy quan niệm này có thể được giải thích một cách khoa học qua việc các tần số rung động. Những tần số rung động này như thế nào? Tại sao cha lại có những tần số rung động hợp với một số người? Người nọ giải thích rằng tùy theo tình cảm của con người mà họ có những sự rung động khác nhau; người có tình thương cao cả khác với những người tính tình nhỏ mọn, ích kỷ hay những người hung ác, không hề biết thương yêu. Đây là một điều lạ lùng mà trước nay cha không hề nghĩ đến. Cha bèn đặt câu hỏi về khả năng trí thức, phải chăng những khoa học gia như cha có những tần số rung động đặc biệt nào đó, thì người nọ trả lời rằng, khả năng trí thức hoàn toàn không có một giá trị nào ở cõi bên này cả. Điều này làm cho cha ít nhiều thất vọng. Người nọ cho biết rằng cái kiến thức chuyên môn mà cha tưởng là to tát chẳng qua chỉ là những mảnh vụn của một kho tàng kiến thức rất lớn mà bên này ai cũng có thể học hỏi được.

Người nọ nhấn mạnh rằng, điều quan trọng là con người biết làm gì với những kiến thức đó. Sử dụng nó để phục vụ hay tiêu diệt nhân loại? Sử dụng nó vào mục đích vị tha hay ích kỷ? Sử dụng nó để đem lại niềm vui hay để gây đau khổ cho người khác? Thấy cha có vẻ thất vọng, người này bèn đưa cha đến một thư viện lớn, tại đây có lưu trữ hàng triệu cuốn sách mà cha có thể tham cứu, học hỏi. Chưa bao giờ cha lại xúc động như vậy. Có những cuốn sách rất cổ viết từ những thời đại xưa và có những cuốn sách ghi nhận những điều mà từ trước tới nay cha chưa hề nghe nói đến. Sau một thời gian nghiên cứu, cha thấy cái kiến thức mà mình vẫn hãnh diện thật ra chẳng đáng kể gì so với kho tàng kiến thức nơi đây. Đến khi đó cha mới thấm thía điều người kia nói về khả năng trí thức của con người và bắt đầu ý thức về tần số rung động của mình.

Nơi cha đang sống có rất đông người, đa số vẫn giữ nguyên tính nết cũ như khi còn sống ở thế gian. Có người hiền từ vui vẻ, có người tinh nghịch ưa chọc phá người khác, có người điềm đạm, có kẻ lại nóng nảy. Quang cảnh nơi đây không khác cõi trần bao nhiêu; cũng có những dinh thự đồ sộ, to lớn; có những vườn hoa mỹ lệ với đủ các loại hoa nhiều màu sắc; có những ngọn núi rất cao hay sông hồ rất rộng. Lúc đầu cha ngạc nhiên khi thấy những cảnh vật này dường như luôn luôn thay đổi, nhưng về sau cha mới biết cảnh đó hiện hữu là do sức mạnh tư tưởng của những người sống tại đây. Điều này có thể giải thích giống như sự tưởng tượng ở cõi trần. Các con có thể tưởng tượng ra nhà cửa dinh thự trong đầu óc mình, nhưng ở cõi trần sức mạnh này rất yếu, chỉ hiện lên trong trí óc một lúc mà thôi. Bên này vì có những rung động đặc biệt nào đó phù hợp với sự rung động của tư tưởng làm gia tăng thêm sức mạnh khiến cho những hình ảnh này có thể được thực hiện một cách rõ ràng, chính xác và lâu bền hơn.

Các con đừng nghĩ rằng những người bên này chỉ suốt ngày rong chơi, tạo ra các hình ảnh theo ý muốn của họ; mà thật ra tất cả đều bận rộn theo đuổi các công việc riêng để chuẩn bị cho sự tái sinh. Vì mọi tư tưởng bên này đều tạo ra các hình ảnh nên đây là môi trường rất thích hợp để người ta có thể kiểm soát, ý thức rõ rệt hơn về tư tưởng của mình. Vì đời sống bên này không cần ăn uống, làm lụng nên người ta có nhiều thời giờ theo đuổi những công việc hay sở thích riêng. Có người mở trường dạy học, có kẻ theo đuổi các nghành chuyên môn như hội họa, âm nhạc, kiến trúc, văn chương thơ phú, v.v…

Tóm lại, đây là môi trường để họ học hỏi, trau dồi các khả năng để chuẩn bị cho một đời sống mai sau. Phần cha đang học hỏi trong một phòng thí nghiệm khoa học để sau này có thể giúp ích cho nhân loại. Càng học hỏi, cha càng thấy cái kiến thức khi xưa của cha không có gì đáng kể và nền y khoa mà hiện nay các con đang theo đuổi thật ra không lấy gì làm tân tiến lắm nếu không nói rằng rất ấu trĩ so với điều cha được biết nơi đây. Hiển nhiên khoa học phát triển tùy theo khả năng trí thức của con người, mỗi thời đại lại có những sự phát triển hay tiến bộ khác nhau nên những giá trị cũng vì thế mà thay đổi. Có những giá trị mà thời trước là khuôn vàng thước ngọc thì đời sau lại bị coi là cổ hủ, lỗi thời; và như cha được biết thì những điều mà ngày nay đang được người đời coi trọng, ít lâu nữa cũng sẽ bị đào thải. Tuy nhiên cái tình thương, cái ý tưởng phụng sự mọi người, mọi sinh vật thì bất kỳ thời đại nào cũng không hề thay đổi, và đó mới là căn bản quan trọng mà con người cần phải biết. Càng học hỏi cha càng thấy chỉ có những gì có thể tồn tại được với thời gian mà không thay đổi thì mới đáng được gọi là chân lý. Cha mong các con hãy suy ngẫm về vấn đề này, xem đâu là những giá trị có tính cách trường tồn, bất biến để sống theo đó, thay vì theo đuổi những giá trị chỉ có tính cách tạm bợ, hời hợt.

Cha biết rằng mọi ý nghĩ, tư tưởng, hành động đều có những rung động riêng và được lưu trữ lại trong ta như một cuốn sổ. Dĩ nhiên khi sống ở cõi trần, con người quá bận rộn với sinh kế, những ưu phiền của kiếp nhân sinh, không ý thức gì đến nó nên nó khép kín lại; nhưng khi bước qua cõi bên này thì nó từ từ mở ra như những trang giấy phô bày rõ rệt trước mắt. Nhờ vậy mà cha biết rõ rằng hạnh phúc hay khổ đau cũng đều do chính ta tạo ra và lưu trữ trong mình. Cuốn sổ lưu trữ này là bằng chứng cụ thể của những đời sống đã qua và chính nó kiểm soát tần số rung động của mỗi cá nhân. Tùy theo sự rung động mà mỗi cá nhân thích hợp với những cảnh giới riêng và sẽ sống tại đó khi bước qua cõi giới bên này. Do đó, muốn được thoải mái ở cõi bên này, các con phải biết chuẩn bị. Cha mong các con hãy bắt tay vào việc này ngay. Các con hãy rán làm những việc lành, từ bỏ những hành vi bất thiện. Khi làm bất cứ việc gì, các con hãy suy gẫm xem hậu quả việc đó như thế nào, liệu nó có gây đau khổ hay tổn thương cho ai không? Đừng quá bận rộn suy tính những điều hơn lẽ thiệt mà hãy tập quên mình. Đời người rất ngắn, các con không có nhiều thời giờ đâu.

Khi còn sống, đã có lúc cha dạy các con phải biết đầu tư thương mại để dành tiền bạc vào những trương mục tiết kiệm, những bất động sản, những chứng khoán… nhưng bây giờ cha biết rằng mình đã lầm. Một khi qua đến bên đây, các con không thể mang những thứ đó theo được. Danh vọng, địa vị, tài sản vật chất chỉ là những thứ có tính cách tạm bợ, bèo bọt, đến hay đi như mây trôi, gió thổi, trước có sau không. Chỉ có tình thương mới là hành trang duy nhất mà các con có thể mang theo mình qua cõi giới bên này một cách thoải mái, không sợ hư hao mất mát. Tình thương giống như đá nam châm, nó thu hút những người thương nhau thực sự, để họ tiến lại gần nhau, kết hợp với nhau. Nó là một mãnh lực bất diệt, mạnh mẽ, trường tồn và chính nhờ lòng thương này mà người ta có thể tìm gặp lại nhau trải qua không gian hay thời gian. Chắc hẳn các con nghĩ rằng người cha nghiêm nghị đầy uy quyền khi trước đã trở nên mềm yếu chăng? Này các con, chỉ khi nào buông xuôi tay bước qua thế giới bên này, các con mới thực sự trải nghiệm được trạng huống của mình, tốt hay xấu, hạnh phúc hay đau khổ, thích hợp với cảnh giới thanh cao tốt lành hay những nơi chốn thấp thỏi xấu xa. Hơn bao giờ hết, cha xác định rằng điều cha học hỏi nơi đây là một định luật khoa học thật đơn giản mà cũng thật huyền diệu. Nó chính là cái nguyên lý trật tự và điều hòa hằng hiện hữu trong vũ trụ. Sự lựa chọn để sống trong cảnh giới mỹ lệ đẹp đẽ hay tăm tối u minh đều do những tần số rung động của mình mà ra cả và chính mình phải chịu trách nhiệm về cuộc đời của mình hay lựa chọn những nơi mà mình sẽ đến.

Khi còn sống cha tin rằng chết là hết, con người chỉ là sự cấu tạo của các chất hữu cơ hợp lại, nhưng hiện nay cha biết mình đã lầm. Cha không biết phân biệt phần xác thân và phần tâm linh. Sự chết chỉ đến với phần thân xác trong khi phần tâm linh vẫn hoạt động không ngừng. Nó đã hoạt động như thế từ thuở nào rồi và sẽ còn tiếp tục mãi mãi. Hiển nhiên cá nhân của cha không phải là cái thể xác đã bị hủy hoại kia mà là phần tâm linh vẫn tiếp tục hoạt động này, do đó cha mới cố gắng liên lạc với các con để hoàn tất điều mà cha đã hứa với các con khi xưa. Cha nghiệm được rằng sự sống giống như một dòng nước tuôn chảy không ngừng từ nơi này qua nơi khác, từ hình thức này qua hình thức khác. Khi trôi chảy qua những môi trường khác nhau nó sẽ bị ảnh hưởng những điều kiện khác nhau; và tùy theo sự học hỏi, kinh nghiệm mà nó ý thức được bản chất thiêng liêng thực sự của nó. Cũng như sóng biển có đợt cao, đợt thấp thì đời người cũng có những lúc thăng trầm, khi vinh quang tột đỉnh, lúc khốn cùng tủi nhục, nhưng nếu biết nhìn lại toàn vẹn tiến trình của sự sống thì kiếp người có khác chi những làn sóng nhấp nhô, lăng xăng trên mặt biển đâu. Chỉ khi nào biết nhận thức về bản chất thật sự của mình vốn là nước chứ không phải là sóng thì các con sẽ ý thức được tính cách trường cửu của sự sống. Từ đó các con sẽ có một quan niệm rõ rệt rằng chết chỉ là một diễn tiến tất nhiên, một sự kiện cần thiết có tính cách giai đoạn chứ không phải một cái gì ghê gớm như người ta thường sợ hãi. Điều cần thiết không phải là trốn tránh sự chết hay ghê tởm nó, nhưng là sự chuẩn bị cho một sự kiện tất nhiên phải đến một cách thoải mái, ung dung vì nếu khi còn sống các con đã đem hết khả năng và phương tiện của mình để giúp đời, để yêu thương mọi loài thì lúc lâm chung, các con chẳng có gì phải luyến tiếc hay hổ thẹn với lương tâm cả. Trước khi từ biệt các con, cha muốn nói thêm rằng hiện nay cha đang sống một cách thoải mái, vui vẻ và an lạc chứ không hề khổ sở.

Nguyên Phong dịch

TẦNG ĐỊA NGỤC – Uyên Nguyên

 No photo description available.

   

TẦNG ĐỊA NGỤC – Uyên Nguyên

Nơi Gặp Gỡ Không Hẹn Mà Ðến:

Ðiểm gặp gỡ không hẹn mà đến của nhóm “Ngụy Quân Ngụy Quyền Sài Gòn ” thoạt tiên là Trại Cải Tạo Long Thành, tọa lạc tại Long Thành Tỉnh Ðồng Nai do Ủy Ban Quân Quản quản lý . Sau trở thành Trải Tạo 15 NV do Bộ Nội Vụ quản lý.

Sáng ra, chúng tôi mới định thần và chuẩn bị tinh thần cho một sống đổi đời bắt đầu. Tôi được phân bổ ở nhà 6. Ðội trưởng Ðội 3 là Phạm Ngọc Cửu. Nhà Trưởng là Trần Tấn Toan.

Ngày đầu đến trại chúng tôi nhận diện được những nhân vật có tên tuổi sau đây:

Về phía đảng phái gồm có Nghị Sĩ , LS Trần Văn Tuyên, Vũ Hồng Khanh…

Về phía Nghị sĩ , có Trần Tấn Toan, nguyên trước là chủ tịch Hội Ðồng Tỉnh Gia Ðịnh.

Về phía dân biểu có Ông Nguyễn Bá Lương, chủ tịch hạ Viện, Quốc Hội Ðệ Nhị Cộng Hòa, Dân biểu Lê Minh Ðăng, Khiếu Thiện Kế, Trần Ngọc Châu….

Về phía toà án thì có rất nhiều Chánh Án, Biện Lý, Dự Thẩm các toà án ở Sài Gòn và các tỉnh ở Miền Nam Việt Nam. Trong đó có những ông chánh án mà người viết biết tên, biết mặt như ông Trần Ðại Khâm, Nguyễn Cần (tức Tú Gàn), Ðào Minh Lượng, Nguyễn Ðắc Trọng, Ngô Văn Cân, Biện Lý Trần Thành Ðô, Dự Thẩm Nguyễn Thành Hương, Trần Cẩm Tựu, Phạm Minh Tâm, Hoàng Phùng Võ, Dương Lân, Ðặng Xuân Nhẫn, Nguyễn Công Ðàn ( tục là “Bò Ðàn” , tiếng chúng tôi hay gọi thân thiết vì anh ta phụ trách giữ mấy con bò cho trại) , Trần Gia Tá, Cao Quãng Chơn…. .

Về phía Phó Tỉnh Trưởng Hành Chánh : Phạm Ngọc Cửu ( Bình Thuận); Nguyễn Thanh Sử ( Bình Tuy, Trần Huỳnh Thanh, Nguyễn Văn Thích ( Bình Ðịnh); Nguyễn Chí Vy ( Quảng Ngãi ) Nguyền Văn Hoàng (Phú Yên) và còn nhiều phó tỉnh trưởng hành chánh khác nữa mà tôi quên tên và nơi phục vụ rồi.

Về phía hành chánh cao cấp : Kỹ sư Dương Kích Nhưởng, Phó Thủ Tướng; Lê Văn Trường, Bộ Trưở ng Tài Chánh; Nguyễn Văn Chi, Tổng Giám Ðốc Trung Tâm Chuẩn Chi- Bộ Tài Chánh; Bùi Hữu Tiể n, Tổng Giám Ðốc Ðiền Ðịa; Trần Huỳnh Châu, Tổng Thư Ký Bộ Nội Vụ; Nguyễn Văn Tương, Ðặc Ủy Trưởng Hành Chánh, Kỹ Sư Ngô Trọng Anh, Cưụ Tổng Trưởng Công Chánh Nội Các Nguyễn Cao Kỳ, Kiến Trúc Sư Ngô Viết Thụ, Ông Phạm Trọng Nhân, cựu Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Lào và các Phó Tổng Giám Ðốc Thuế Vụ, Kế Hoạch thuộc các Bộ nữa mà tôi quên mất tên rồi. Ngoài ra còn có rất nhiều Giám Ðốc Nha Sở thuộc Hành Chánh Trung Ương, một số Quận Trưởng các Quận như Trung Tá Kiều Văn Út mà người viết biết mặt, biết tên và cũng như các Ty, Sở Trưởng, Phó Quận Hành Chánh thuộc hành chánh địa phương, các tỉnh thành cũng có mặt trong nhóm này.

Về phía cảnh sát thì ngoài những cấp chỉ huy cảnh sát trung ương như Thiếu Tá Ðoàn Ðình Từ,Trung Tá Phấn Bộ Tư Lệnh Cách Sát Quốc Gia… còn có một số Trưởng Ty Cảnh Sát điạ phương mà người viết được biết như Trung Tá Phan Trần Bảo… và còn nhiều người nữa, lâu quá quên tên.

Ngoài ra cũng có một số nhân viên thuộc Trung Ương Tình Báo, Thiên Nga…

Những nhân vật này lần lược được chuyển trại dưới hình thức mà chúng tôi gọi là Bao Bố . Ở đây tôi xin mở một dấu ngoặc để giải thích tại sao có tên là Bao Bố. Những đợt chuyển trại lớn, đông người thường xảy ra trong đêm khuya để dễ bề kiếm soát an ninh lộ trình , người ngoài không ai hay biết. Ðợt chuyển trại đầu tiên đi ra Bắc gọi là Bao Bố I vì sau khi có lệnh tập trung trong đêm khuya, và gọi tên từng người rồi sau đó trao cho mỗi người môt cái bao bố đựng gạo để bỏ hành trang đi tù vào. Ðợt chuyển trại nầy gồm những nhân vật cao cấp trong chính phủ cũng như trong hàng ngũ đảng phái, cảnh sát, trung ương tình Báo…. Ðợt di chuyến ra Bắc lần thứ hai được gọi là Bao bố II đa phần gồm những giám đốc, nha sở thuộc trung ương. Ðể trấn an các trại viên cũng như để bảo dảm an ninh lộ trình, Ban Chỉ Huy Trại đã động viên tất bằng cách nói láo rằng các anh được di chuyển đến những địa điểm học tập an toàn hơn. Nếu có người thắc mắc hỏi có phải chuyển đi Bắc không thì được cán bộ trấn an bằng cách trả lời không thật là các anh sẽ được đưa về miền Nam như Rừng Ðước, Năm Căn… Nhưng thật tình là xuống tàu ra Bắc cải tạo mút mùa lệ thủy.

Sau hai đợt chuyển trại ra Bắc, Trại chỉ còn độ 250 trại viên. Chúng tôi được tái phân bổ lực lượng lao động và tôi đã được công tác trong tổ Vệ Sinh cho đế n ngày chuyển lên trại Xuyên Mộc Ðồng Nai và tiếp lao động cải tạo trong Ðội trồng trọt, rồi tiếp đến là Ðội Văn Nghệ cho đến khi “ học tập tiến bộ” đượ c trại xét tha về vào cuối tháng 8 năm 1989.

Trong thời gian đầu học tập chính trị, chúng tôi có dịp học chung với những chịnh trị gia quen thuộc. Trong đó phải kể đến LS Trần Văn Tuyên, Vũ Hồng Khanh . Không biết mấy ông này trình diện vì lý do gì . Chắc thuộc đảng phái thì phải. Nghe nói Luật Sư Tuyên vì liên hê đến bà vợ nhỏ nên bị kẹt lại và đi tù luôn. Nhiều chánh khách, nhà ngoại giao, hành chánh cao cấp cũng đã rơi vào trường hợp này, hối không kịp vì đã vào rọ rồi. Ngày trở về còn xa lắm nếu không muốn nói là bỏ thây nơi những trại giam nổi tiếng là hắc ám nhất ở miền Bắc. Ls Trần Văn Tuyên là một điển hình. Tôi còn nhớ khi lên lớp học chính trị, sau khi giảng xong bài , cán bộ giảng huấn kêu Ls Trần Văn Tuyên đứng dậy và dùng lời lẽ thô bạo để mắng chưởi ông ta. LS Tuyên đã nói một câu rất bất hủ: “Việc tôi làm chỉ có lịch sử phán xét chứ không ai có quyền phán xét tôi” . Sau bữa lên lớp đó, thì chúng tôi không thấy mặt của LS Tuyên nữa vì người ta đã dẫn ông ta đi đâu mất rồi.

Làm ở đội rau xanh một thời gian tôi được xung vào Ðội Văn Nghệ Trại. Tôi nhớ không lầm đội Trưởng là nhạc sĩ Vũ Thành An. Vì chức vụ cuối cùng của anh ta là trưởng cơ sở Dân Vận & Chiêu Hồi Tỉnh Gia Ðịnh, cho nên anh phải đi trình diện học tập cải tạo theo diện “Ngụy Quân Ngụy Quyền” .

Có một điều cũng nên nói ở đây mặc dù Vũ Thành An nổi tiếng với những ca khúc không tên trước 75 nhưng khi vào trại bên cạnh ca khúc anh viết nhân đêm giao thừa năm đầu tiên ở trại 1975 có đoạn rất hay và rất “ tiểu tư sản” và được mọi người chấp nhận : “Thắp nến hồng lên em, giao thừa về rồi đó. Ánh sáng bừng trong đêm. Như bình minh đã lên….” Nhưng khi anh viết theo nhu cầu chính trị tuyên truyền anh lại viết một ca khúc lạc lõng, không giống ai. Lời ca như một lời xưng tội và sặc màu “vô sản chuyên chính” . Tôi nghĩ rằng chỉnh những ngườ i bị rối loạn tâm thần, đánh mất bản ngã, lương tri thì mới viết một ca khúc tồi như thế. Vì vậy anh đã bị hết thảy trại viên chê trách và lên án dữ dội.. Ca khúc có đoạn : “ Nếu biết rõ đế quốc Mỹ là quân xâm lược. Lũ ngụy quyền là bọn tay sai. Bao nhiêu năm cặm cụi miệt mài…”. Ðộc hại hơn nữa là các trại viên bị bắt buộc phải hát ca khúc này trong những lần sinh hoạt vă n nghệ. Nhưng dù anh có viết trăm ngàn bài ca tôn vinh chế độ đáng nguyền rủa kể trên thì cộng sản cũng không tha cho anh đâu và thực tế anh phải ra Bắc sau đó và cải tạo dài dài hơn mười năm mới được tha về vì anh thuộc diện “ác ôn” ( dân vận chiêu hồi bên hành chánh- chiến tranh chính trị hay chiến tranh tâm lý bên quân đội ) . Kịp đến khi Vũ Thành An bị chuyển ra Bắc thì người thay thế anh ta là anh Trần Thiên Ân . Anh nầy là một người còn rất trẻ, xuất thân từ học viện quốc gia hành chánh, chức vụ cuối cùng là phó quận trưởng ở đâu đó. Vì có một thời gian học ở chủng viện khi còn nhỏ, nên nhạc lý anh ta rất rành và rất vững. Anh viết hòa âm cho những bài hợp xướng rất dễ dàng và rất hay.

Kịp đến khi nhóm hình sự di chuyển về đây thì Ðội Văn Nghệ có sự tăng cường nam và đặc biệt là nữ trại viên thì sinh hoạt văn nghệ trại khởi sắc hơn. Có những giọng ca trẻ tân nhạc cũng như cổ nhạc, kịch.. dưới sự dìu dắt và hướng dẫn của anh em trại viên thuộc diện chính trị chúng tôi. Trong đó có tôi dù sau này tôi không còn ờ trong Ðội Văn Nghệ nữa mà ở trong Tổ Vệ Sinh.

Chuyện anh Nguyễn Văn Tri :

Anh Tri là người cũng xuất từ học viên quốc gia hành chánh, làm giám đốc hành chánh Tổng Nha Ðiền Ðịa do kỹ sư Bùi Hữu Tiển làm Tổng Giám Ðốc. Sau khi học tập cải tạo ở trại một thời gian thì anh Tri có triệu chứng bất bình thường. Cứ vào lúc trời mưa, chúng tôi thấy anh ta ra ngồi ngoài mưa. Miệng thì lẩm bẩm những câu gì không ai hiểu cả. Một thời gian sau đó không biết sao anh ta được trại thả về. Không biết vì lý do bị bệnh tâm thần hay anh thuộc ngành mà cách mạng đang cần người hay không hay vì nguyên do khác không ai hay biết. Chỉ biết rằng sau khi được thả về một thời gian sau thì người ta thấy anh ở Sài Gòn và không có biểu hiện gì bất bình thường cả. Ðược thêm sau đó anh và gia đình qua Mỹ theo diện HO.

Chuyện Cụ Nguyễn Bá Lương, cựu chủ tịch Hạ Viện, Quốc Hội Ðệ Nhi Việt Nam Cộng Hòa.

Cụ Nguyễn Bá Lương, vốn là một dân biểu. Người ta thường gọi cụ là “Dượng Năm Xe Ðò Bủu Hiệp”. Cụ có người con trai -thiếu Tá Nguyễn Bá Di. Khi cụ nhập trại thì tuổi của cụ khá cao, sức khỏe yếu kém nên chỉ có thể lao động nhẹ mà thôi. Ở tù được mấy năm trại xét tha cụ và cho cụ về. Trước đó Ban Giám Thị trại đã mời cụ lên dùng trà và mời thuốc đồng thời thông báo cho cụ hay là cụ đã được nhà nước cách mạng xét tha. Nhưng ói ăm thay về đâu chẳng thấy mà chỉ thấy bỏ thây nơi rừng thiêng nước độc- trại Xuyên Mộc Ðồng Nai. Số là như vầy : sau khi mời cụ ra trại và thông báo quyết định tha cụ, Giám Thị trại dự tính là sáng hôm sau sẽ ký lệnh xuất trại .. Nhưng chưa kịp ký lệnh thì thành phố gọi giám thị về họp khẩn. Cho nên lệnh xuất trại chưa được ký và sẽ được ký khi họp xong. Nhưng than ôi, sau khi đi họp về thì lệnh xuất trại của cụ đã không được ký vì quyết định tha cụ đã bị đình hoãn lại trong một thời gian nữa cho đến khi có lệnh mới của trung ương. Thế là hy vọng được sớm trở về sum họp với gia đình tiêu tan theo mây khói. Kịp đến khi nhóm hình sự đã “đủ lông đủ cánh” để điều hành trại thì toàn bộ trại viên “khối chính trị” còn lại ở Trại Long Thành phải chuyển lên Trại Xuyên Mộc Ðồng Nai. Một thời gian sau đó vì không chịu nổi thời tiết khí hậu khắc nghiệt của núi rừng Xuyên Mộc, cụ đã ngã bệnh và qua đời . Sáng cụ ra đi vì tôi bị bệnh nên tôi đã có mặt nơi chỗ cụ nằm, vuốt mắt cho cụ và nguyện cầu hương linh cụ sớm về nơi chín suối chấm dứt những chuỗi ngày đen tối nhất của cuộc đời. Trong thời gian ở Trại Xuyên Mộc, tôi có dịp đàm đạo với cụ và được cụ kể nhiều chuyện thuộc loại “ thâm cung bí sử” ít ai biết trong cuộc đời tình ái và sinh họat chính trị chính em của cụ. Rất sôi nổi vì theo diện tướng số cụ có khuôn mặt tướng hầu. Ngoài ra giới “ thân cận” của cụ có nói cho tôi biết cụ có thêm một cái ẩn tướng khác là “gậy”, “ của quý” của cụ chạm đất khi cụ ngồi chổm hổm. Không biêt có đúng không. Nếu đúng thì cụ từ một thư ký đồn điền rồi lên làm Dượng Năm Xe Ðò Bủu Hiệp , rồi đắc cử dân biểu Hạ Viện. Rồi đắc cử chủ tịch Hạ Viện cũng là lẽ thường tình dễ hiểu thôi. Như ông Thiệu có tướng hầu như cụ, làm đến chức cao nhất nước thì cũng không ngoa gì. Tướng số nhiều khi cũng đúng cho nhiều người lắm.

Ăn mà cấm không được nói cho ai biết. Thế mới là lạ chứ.

Những ngày bên Thành :

Vào khoảng cuối năm 1978 trong khi các trại viên thuộc diện chính trị còn lại ở Trại Long Thành phải chuyển trại lên Trại Xuyên Mộc Ðồng Nai, tôi và Phạm Ngọc Thành được “may mắn” ở lại trại để tiếp tục gánh vác một số công việc mà chưa thể giao ngay cho nhóm hình sự vừa mới chuyển đến từ các trại như Bù Ðăng , Bù Gia Mập …. Nhóm này bị tù từ sau ngày Sài Gòn mất. Sau một thời gian dài bị giam trong các trại lao động khổ sai, thiếu đủ mọi thứ nên khi chúng nó về đây chúng nó chết như rạ. Do đó với nhu cầu “ đột xuất”, tổ Vệ Sinh của chúng tôi phải làm một lúc hai công tác. Một là công tác đổ phân . Hai là công tác “khâm liệm” cũng như “di quan” người vừa mới chết ra nghĩa địa liền tù tì. Có ngày có đến hơn 5 đứa “mò- cua” ( tiếng lóng là chết ). Có khi cả chục đứa cho nên tổ Vệ Sinh của chúng tôi rất đắt khách . Chúng tôi phải “ khẩn trương” đem đi chôn mệt nghỉ cả ngày lẫn đêm. . Nhiều khi phải đem đi chôn vào giữa ban đêm ngày rằm. Không có một chút ánh sáng gì ngoài ánh trăng chiếu vằng vặc. Vào những đêm như thế này, không biết các bạn của tôi nghĩ ra sao chứ riêng tôi tôi rất thích vì bản tính nghệ sĩ, ưa mơ mộng của tôi dù phải lao động cật lực để có thể về trại sớm để ngày mai có sức “đi cày” tiếp . Chuyện sợ ma thì không thể nào nghĩ đến vì làm việc bở hơi tai thì giờ đâu mà nghĩ chuyện vu vơ. Phải nói mệt nhất là việc đào huyệt vì nghĩa địa, nói cho oai chứ thực ra là một mô đất cao toàn là đá ong, cứng như đá nên đào huyệt không thể nào đào sâu được, khoảng chừng độ hơn nửa thước là cùng. Không có vật dụng gì khác ngoài mấy cái xẻn cùn. Sức người là chính. Sở dĩ tôi phải dông dài như vầy là vì có liên hệ đến việc đi chôn cất Thành sau này.

Vì phải di chuyển khiêng phân hằng ngày hay phải khiêng quan tài đem đi chôn nên tôi thường gặp Thành trong bồ đồ lính được nhuộm đen và trên đầu đội một cái mũ “phở” không giống ai đi rảo trong trại. Chúng tôi chỉ chào nhau rồi ai làm phận sự người ấy. Thành vốn người dong dỏng cao, nước da tái tái . Nước da này vốn dĩ như vậy kể cả lúc còn làm Phó Quận Hàm Thuận rồi Hòa Ða. Ngoài ra không có biểu hiện gì là bệnh hoạn cả.

Thời gian cứ trôi đi. Rồi đến kỳ thăm nuôi . Bà xã của tôi và bà xã của Thành đi thăm nuôi chúng tôi cùng một ngày vào dịp cuối năm 1978 . Tôi được Trại bố trí thăm nuôi trước, Thành thăm nuôi sau. Trước đó bà xã của tôi cũng đã gặp Thành ở nhà thăm gặp , có chào hỏi đôi điều và cũng không thấy Thành không có biểu hiện gì là bệnh hoạn trầm trọng cả.

Một thời gian ngắn sau khi thăm nuôi nhất là gần Tết năm đó sức khỏe của Thành có triệu chứng giảm sút thấy rõ. Mắt và da trở nên vàng nhiều, triệu chứng của bệnh viêm gan. Mặc dù Thành được BS cán bộ tên Hùng cũng như BS trại viên Tùng giúp đỡ rất nhiều nhưng không có kết quả gì vì thiếu thuốc đặc chế. Vì vậy thể theo đề nghị của BS trại Viên Tùng và được đồng ý của BS Hùng, trưởng trạm xá đã ghi cho Thành một toa thuốc và xin cho người nhà của Thành đem lên cho Thành. Nhưng than ôi! chưa kịp đem lên thì Thành đã ra người thiên cổ. Tôi nhớ không lầm là Thành ra đi vào ngày mồng một Tết (nhằm ngày 28 tháng giêng) năm 1979 .

Nghe tin Thành qua đời tôi tìm cách để viếng thăm anh. Ðược biết xác Thành được để ở bệnh xá Trại, trong một gian phòng tối như bưng.

Tôi cứ nhớ mãi cây đèn cầy duy nhất mà tôi đã thắp lên quan tài của Thành. Cây đèn cầy này tôi đã cất kỹ trong gói “hành trang” khi đi tù vì nghĩ rằng sẽ có dịp để xử dụng nó. Nhưng chưa có dịp nào để xử dụng thì nay lại đem ra cắm trên quan tài của người bạn đồng môn hành chánh và cũng là người bạn thiết thân lúc còn làm việc chung với nhau ở tỉnh Bình Thuận. Dù cây đèn cầy đã bị gãy nhưng dù sao cũng là vật quý báu và rất cần thiết trong lúc này. Chắc Thành cũng thông cảm cho tôi vì cây đèn cầy không phải đơn thuần là một vật vô tri vô giác nhưng nó biểu tượng cho sự tiếc thương cũng như gói ghép một tình cảm thiết thân không thể phai nhòa.

Một điều hy hữu là khi Thành mất tổ Vệ Sinh của chúng lo tẩm liệm và đem Thành ra nghĩa địa. Chúng tôi chỉ biết ngậm ngùi thương tiếc cho người bạn xấu số đã ra đi quá sớm như vậy. Chúng tôi cố ngăn những dòng lệ nhưng không thể nào được. Những giọt nước mắt cứ tuông chảy, cứ lăn dài trên má . Khóc cho Thành một phần mà khóc cho số phận của kiếp đọa đày của những người tù còn lại như chúng tôi thì nhiều.

Thành đã từ giã cõi đời bỏ lại vợ con và các bạn tù. Bây giờ Thành có thể yên phận về phần nơi chín suối, không bị ràng buộc với những hệ lụy khổ đau nơi trần thế nữa. Còn lại chúng tôi tiếp tục chịu đựng số kiếp đọa đày nơi chốn tù ngục. Còn lại gia đình với vợ và các con trong nỗi thương đau chất ngất…

NHỮNG CHUYỆN BÊN LỀ:

Chuyện Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn

Nhà văn Nguyễn mạnh Côn , nổi tiếng với tác phẩm “Ðem Tâm Tình Viết Lịch Sử” cũng được mọi người biết đến khi ông ta tuyệt thực để phản đối chính sách giam cầm của cộng sản. Rồi ông ông bệnh, ông chết ở đây.

Chuyện ông Hồ Hữu Tường:

Khi chúng tôi đến đây thì có gặp nhà văn Hồ Hữu Tường. Ông Tường nổi tiếng với “Phi Lạc SangTàu”.

Hằng ngày, tập họp đi lao động thấy ông gánh đôi gánh. Nghe nói ông bị bệnh phù nên ông được bố trí làm công việc nhẹ là nấu nước cho đội uống. Ông Tường dáng người thấp lùn vả lại ông bị chứng phù thủng nên hai chân ông phù ra. Dáng đi chậm chạp uể oải. Biết ông là nhà văn, là người hiểu biết rộng nên trại đã trao giấy bút để ông viết “thu hoạch, hiến kế.” Nghe nói sau một thời gian sợ ông chết trong trại nên trại đã cho ông về nhà và một thời gian sau thì ông mất.

Lại chuyện Ông Nguyễn Bá Lương, dân biểu quốc Hội, chủ tịch Hạ Viện:

Sau khi ông mất một cơ hội trở về sum họp với gia đình ờ trại Cải Tạo Long Thành, ông phải theo chúng tôi lên Khu B Xuyên Mộc Ðồng Nai. Ông được bố trí ở cùng phòng với chúng tôi. Lúc này ông bị bệnh thường hay ở nhà. Khi có dịp rảnh rỗi tôi thường là cà đến nói chuyện với ông. Ông kể cho tôi rất nhiều chuyện thuộc diện “thâm cung bí sử”. Ðiển hình là gán ghép ông và Bà DS Nguyễn Cao Thăng. Không biết ông nói có thật không hay ông phịa ra nhưng chính tai tôi nghe được như vầy: Khi ông Nguyễn Cao Thăng qua đời, giới dân biểu thân chính quyền muốn gán ghép ông với Bà Thăng nhưng chuyện không thành.

Ở Khu B một thời gian thì ông bị bệnh nặng và qua đời. Ngày ông mất tôi bệnh phải ở nhà và đã đến tại chỗ nằm của ông để vuốt mắt cho ông .

Cuộc vui nào rồi cũng tàn. Chúng tôi đã đi vào giấc ngủ với nhiều mộng đẹp và ước vọng tương lai khi đèn của trại tắt.

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi đuợc lệnh trịệu tập, mang theo hành lý để di chuyển sang Khu B làm thủ tục xuất trại.

Chúng tôi đã đến văn phòng làm việc của trại lúc 9 giờ sáng hôm đó. Lần lượt các trại viên ký tên nhận lệnh xuất trại, giấy ra trại và 10 đồng lộ phí đi đường.

Khi đã xa cách trại một khoảng khá xa rồi thì tôi bắt đầu vẫy các xe đi qua để xin quá giang. Từng chiếc rồi từng chiếc xe đủ loại đủ cỡ đi qua nhưng không có chiếc xe nào dừng lại cả. May thay cuối cùng có một chiếc xe chở rạ còn ướt vì vừa mới gặt ngừng lại và cho tôi quá giang. Nhìn cách phục sức của tôi, Anh ta hỏi tôi có phải là dân tù cải tạo mới ra không và định về đâu. Tôi trả lời tôi về Sài Gòn. Anh ta bảo tôi chỉ về Biên hòa mà thôi. Tôi đồng ý .

Trong khoang xe chất đầy người nên tôi phải ngồi, rồi nằm ngất ngưởng trên đống rạ. Ngước nhìn trời cao và hít thở không khí tự do mà từ lâu vắng bóng và nghĩ về một cuộc đoàn viên trùng phùng sắp đến.

Ðến ngã ba Biên Hòa tôi xin anh tài xế cho tôi xuống xe và từ đó tôi lên xe để về Sài Gòn. Vì trong túi tôi chỉ có vỏn vẹn 10 đồng trại phát nên tôi đưa ra cho anh tài xế xe lam. Anh ta nhìn tôi rồi hỏi “dân tù cải tạo mới về hả? rồi anh ta nhận tiền và mời tôi lên xe và không nói thêm một lời nào nữa.

Xe đến đường Ðinh Tiên Hoàng, tôi xin tụt xuống và không quên ngỏ lời cám ơn anh tài xế tốt bụng. Trên đường về tôi hình dung đến bài học thuộc lòng của Thanh Tịnh rồi lẩm bẩm trong miệng “cảnh vật xung quanh tôi hoàn toàn thay đổi như chính lòng tôi đang có một sự thay đổi lớn hôm nay tôi trở về lại mái nhà xưa.”

Vì cha mẹ của tôi ở xa lắm tận Cam Ranh nên địa chỉ tôi về là nhà của Cha Mẹ vợ của tôi.

Bước vào nhà người đầu tiên tôi gặp không phải là bà xã của tôi vì bà đi làm chưa về,mà là ông gia của tôi. Ông ôm tôi với ràng rụa nước mắt. Rồi đến mẹ vợ tôi, cũng với hai hàng nước mắt . Rồi đến con trai út của tôi. Hai đứa lớn đi học chưa về. Nhìn đứa con trai út của tôi thấy thân hình nó gầy ốm tôi không cầm được nước mắt.

Trong đêm trước khi từ giã trại, tôi mường tượng cảnh đoàn viên và cứ tưởng người tôi gặp đầu tiên là vợ tôi và tôi sẽ ôm vợ tôi vào lòng hôn lên môi lên má cho vơi đi những nhớ thương. Nhưng tất cả những sự kiện vừa mới xảy ra ngoài sự tiên đoán của tôi. Nhưng tôi không ân hận điều gì vì trước sau gì tôi cũng sẽ gặp lại vợ con tôi dù hơi muộn màng, không như mình tưởng.

Cuối cùng tôi đã gặp vợ con tôi trong sự xúc động đến nghẹn ngào. Tôi ôm hôn vợ tôi, các con tôi cùng với những giọt nước mắt trào dâng vì sung sướng. Hy vọng những ngày tiếp theo sẽ là những ngày hoan ca, hạnh phúc dù tôi biết sẽ rất ngắn ngủi vì sẽ phải đối đầu với những khó khăn, bất trắc, hiểm nguy chực chờ bủa vây trước mặt. ..

SanDiego

Uyên Nguyên

 Mạng xã hội Trump sắp ra đời… So what?

Van Pham  is with Phạm Đình Trọng

 Mạng xã hội Trump sắp ra đời… So what?

TRẦN TỊNH

Hôm thứ Hai, ngày 22-3-2021, cựu Tổng thống Donald Trump loan bố ông sẽ thành lập một mạng xã hội mới. Cố vấn của ông Trump là ông Jason Miller nói rằng việc này sẽ định dạng lại cuộc chơi về mạng xã hội.

Quyết định này được đưa ra đầu tiên qua kênh truyền hình Fox News, vốn đã và đang là cái loa của ông Trump. Hai phương tiện mạng xã hội mà ông Trump dùng vô cùng có hiệu quả trong suốt cả chục năm qua là Facebook và Twitter đã cấm cửa ông sau vụ bạo loạn 6-1-2021, trong đó ông được cho là đóng vai trò kích động bạo lực.

Ngoài ra ông Trump còn được cho là đầu dây mối nhợ của nhiều loại tin vịt, từ gian lận bầu cử cho đến thuốc sốt rét trị Covid-19.

Mới nghe thì thấy có lý, ông Trump sẵn tiền, với hàng chục triệu người ái mộ. Thêm một chọn lựa theo kiểu thị trường tự do. Quá hay đi chứ. Thậm chí có ông kia, ở trong nước, tín đồ của ông Trump, đã viết ngay một bài lê thê đánh giá tính khả thi tuyệt vời của dự án.

Nhưng câu chuyện không đơn giản. Đầu tiên thử phân tích xem nếu có thêm một platform riêng của ông Trump thì đó có phải là điều hay cho việc đón nhận thông tin, ý tưởng, chính kiến trong xã hội không?

Một chuyện ngược đời trong thời đại ngày nay là mạng xã hội tưởng chừng giúp mọi người nối kết lại với nhau nhưng hóa ra lại chia rẽ họ thêm. Cần biết rằng, các công ty mạng xã hội kiếm tiền qua quảng cáo (đừng ngộ nhận rằng mạng xã hội Facebook hay Twitter có mục đích đấu tranh cho tự do ngôn luận và dân chủ nhân quyền), và để kiếm tiền, họ sẽ viết chương trình (giải thuật) làm sao cho người dùng thấy cái gì mà họ thích, cùng quan điểm với họ.

Kết quả là tạo nên những cái gọi là phòng đồng vọng (echo chamber), nơi chỉ có những người cùng sở thích với nhau, tung hô và vuốt ve nhau.

Phòng đồng vọng của mạng xã hội còn đưa đến một điều nguy hại nữa là người ta không phân biệt được giữa tin tức và quan điểm.

Cứ quan điểm nào trái niềm tin của mình thì gọi nó là “tin giả” (fake news) mà thực ra đó là quan điểm chứ không phải tin tức.

Tin tức là điều xảy ra. Nó là fact. Trong khi đó, người ta cứ nhầm lẫn rằng điều-xảy-ra là quan điểm, và từ đó không tin rằng nó có thật, như chuyện nhiều người Việt nghe ông Trump nói Covid là giả, do truyền thông bày ra, nói quá lên để hại ông Trump.

Trái với Facebook hay Twitter, các mạng Parler hoặc Gab mới ra đời sau này lại có khách hàng hầu như chỉ gồm các nhóm cực hữu, tạo thành những phòng đồng vọng khép kín hơn. Mạng xã hội của ông Trump nếu có cũng sẽ giống như thế.

Khả năng những người trung lập hay cấp tiến kéo qua mạng của Trump…gì gì đó là rất thấp.

Ngay như hai mạng Parler và Gab cũng không có khách hàng này. Mà nói gì cho xa. Kể cả tín đồ ông Trump cũng vẫn còn ở lại Facebook, Twitter rất nhiều sau khi ông ta bị cấm, dù họ từng tuyên bố là sẽ bỏ đi để qua Parler hoặc Gab. Ấy là mới chỉ nói tín đồ người Việt.

Theo tác giả Larry Magid, cây bút chuyên về các đại công ty kỹ thuật vùng Silicon Valley, California, thì để thúc đẩy Trump… Gì đó, có khả năng ông Trump sẽ có các cách thức cổ điển như quảng cáo thương mại để kiếm tiền, kêu gọi quyên góp…, thậm chí có thể bắt trả tiền mới được dùng (subscribe).

Ông Magid viết như vậy vì căn cứ vào “lý lịch” của ông Trump như là một con buôn vẫn thường tính toán “Lời – Lỗ” từ trước đến nay.

Magid cũng cho rằng các doanh nghiệp, từ đại công ty đến công ty bình thường, cũng sẽ không quảng cáo bên đó làm gì với một nhóm thị trường hạn hẹp. Điều quan trọng nhất đối với mạng Trump… Gì đó là yếu tố kỹ thuật. Theo ông Magid, tình hình hiện nay đối với mạng xã hội không phải như khi Facebook mới ra đời mà phức tạp hơn nhiều, đòi hỏi phải có nhiều chuyên gia rất giỏi. Cần biết, việc dựng lên một platform không đơn giản như việc viết một ứng dụng (app). Dĩ nhiên, khi có nhiều tiền, người ta có thể làm gần như được tất cả.

Vấn đề đáng nói hơn hết là “ý nghĩa xã hội” của “mạng xã hội Trump” là gì. Nếu chỉ là chỗ để trút giận vào “dân chủ thổ tả” hoặc chỉ để bày tỏ sự “trung thành” với ông Trump rồi chuyện tiếp theo là gì?

Với những người Việt “cuồng Trump” trong nước, liệu chạy theo “mạng ông Trump” có thể giúp họ dùng cái mạng này để thay đổi được diện mạo bức tranh dân chủ và lật đổ được chế độ cộng sản Việt Nam được chăng?

Cuối cùng, cũng cần nói thêm, sở dĩ Twitter và Facebook thu hút người sử dụng vì đó là những nền tảng mở với sự tham gia của mọi tầng lớp và thành phần, từ “dân chủ thổ tả” đến những người cực đoan cánh hữu, từ dân quèn đến chính trị gia.

Liệu mạng ông Trump có mở ra cho những người chống đối ông tham gia không, hay đó chỉ là một sân khấu giới hạn cho fan cuồng của ông với ông là diễn giả duy nhất ở đó?

Mạng Trump, nếu ra đời, and then… so what?

Sự Thật về “Thành quả Giải phóng” miền Nam

Sự Thật về “Thành quả Giải phóng” miền Nam! Sự dối trá, lừa bịp đã không giảm từ ngày ấy… mà ngày càng trắng trợn, đểu cáng hơn gấp bội!

Chúng ta cùng nhìn lại nửa thế kỷ về trước đã tuyên truyền, bịp bợm dân miền Bắc thế nào?!

***

NHỚ LỜI BÁC HỒ & ĐẢNG ĐĨ DẠY!

“Hạt gạo cắn làm tư,

một phần giữ lại, một phần nuôi quân,

phần viện trợ cho các nước anh em Lào, Cam pu chia

và một phần chi viện vào Nam để nuôi đồng bào đói khổ”.

Cuộc tuyên truyền xảo trá ra rả hết ngày sang tháng, hết tháng sang năm, ngưòi dân không có bất cứ một phương tiện nào khác để tìm hiểu sự thật. Kết qủa là sau này đã được kể lại như sau:

“ Bây giờ nghĩ lại, chúng em thấy không hiểu tại sao thời ấy cả miền Bắc lại ngu ngốc đến như thế. Phần chúng em còn trẻ thì không nói làm gì, khi vào lớp chỉ nghe thầy cô bảo là trong Nam vô cùng đói khổ vì bọn Mỹ xâm lược.

Người dân nhiều khi phải ăn cả lá cỏ như nạn đói ở ngoài bắc vào năm 1945. Đã thế, không có vải che thân, phải lấy những túi bóng (ý nói những túi nylong để đựng đồ đi chợ) mà quấn vào người thay quần áo.

Các em ở đây, tuy có khó khăn, có ăn ít hơn một tý, nhưng vẫn có cơm gạo, có bác và đảng chăm lo, bảo vệ cho đời sống, nên đời sống còn sung sướng và hạnh phúc gấp trăm ngàn lần đồng bào ta ở trong Nam.

Nên chúng ta phải nhất trí thi đua, phải hoàn thành chiến dịch một chén gạo cho đồng bào ruột thịt miền Nam như bác đã đề ra…

Nghe thế là chúng em tin ngay, cả lớp òa lên khóc, rồi bảo nhau về nhà vận động. Không được thì lấy trộm gạo đem vào lớp để mà hoàn thành kế hoạch nuôi quân và cứu đói miền Nam.”

“Anh biết rồi đấy, gạo thì nhà nào có hộ khẩu thì được mua theo tiêu chuẩn người lớn, trước là bẩy ký, sau còn có năm, còn trẻ em thì 3 ký. Gạo bán theo tiêu chuẩn như thế, dĩ nhiên là phải ăn đói, nhưng chúng em vẫn cứ nghe cô thầy nói, về nhà lấy trộm gạo đem vào lớp gởi cho quĩ cứu đói miền Nam.” (Bác Hồ dạy chúng cháu thói bòn rút, ăn cắp từ đây…)

Người kể là một học sinh lớp tám vào niên khoá 74-75 tại trường trung học phổ thông tại Hà Nội.

Đến sau ngày “giải phóng”, chỉ có mấy hôm thôi, cả trường chúng em xôn xao lên vì bản tin ở chợ Đống Đa có bán gạo từ trong Nam mang ra.

Giời ơi, chúng em đến giờ nghỉ bỏ trường, chen lấn nhau vào hàng gạo để nhìn xem. Cả thầy, cả cô rồi mọi người đều kinh ngạc, mở toét cả mắt ra mà nhìn những hạt gạo dài, đầy đặn, trắng phau để trong những cái bao lớn.

Thật tình là cả đời chúng em ở miền Bắc chưa bao giờ nom thấy những hạt gạo trắng như thế. Có người nhanh chân mua sớm được vài ký. Nhưng ngay buổi chiều thì công an đến thu hết.

Họ bảo, gạo của Ngụy trong Nam để lại có tẩm thuốc độc, nhà nước phải đem về điều tra xử lý.

Giời ơi, chỉ có nói phét thôi anh ạ. Chúng cướp về chia nhau mà ăn đấy. Riêng bà bán gạo thì được đi cải tạo cả mấy tháng sau mới tha về.

Rồi ít lâu sau thì đến cán bộ nhớn nhỏ, chở từng xe cam nhông hàng , lấy ở miền Nam ra. Nào là tivi, tủ lạnh, máy quạt, đài, cho đến bàn ghế, giường tủ, không thiếu một thứ gì.

Ai nhìn thấy cũng lấy làm lạ, xầm xì hỏi nhau xem nó là cái gì. Mà có ai biết nó là cái gì đâu. Dễ thường cả đời chưa nhìn thấy lần nào thì làm sao mà biết nó là cái gì!

Khi đi xem về rồi mọi người đều bảo nhau. Giỏi , giỏi thật, chúng nó nói láo giỏi thật!

Vậy mà bảo rằng hạt gạo cắn làm tư và người trong ấy phải lấy túi giấy bóng mà mặc thay quần áo !!!

Bây giờ nghĩ lại, chúng em thấy không hiểu tại sao thời ấy cả miền Bắc lại ngu ngốc đến như thế.

Chuyện người trong Nam phải lấy túi bóng che thân là do tác giả “Vang bóng một thời” Nguyễn Tuân sáng tác ra đấy.

Nhưng sau này, Nguyễn Tuân vào Nam, mắt mở toét ra mà nhìn hàng vải cao cấp dệt bằng sợi nylông ở trong Nam, Tuân biết sự thật, nhưng không có liêm sỉ để nói lên một lời tạ lỗi.

Mà nào có riêng một Nguyễn Tuân láo lếu đâu! bọn văn nô Cộng phỉ thì cũng một phường! Họ viết theo “đơn đặt hàng ” kiếm cơm, kiếm rượu!

Chả thế mà Nguyễn Tuân phải thì thầm thú nhận :”tớ còn sống được tới ngày hôm nay, là nhờ biết sợ đấy”

May be an image of 2 people, people standing and outdoors

MỘT CUỘC ĐỜI ÂM THẦM-Giỗ lần thứ 46 của Cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn, CSsR

28.03: 1975-2021

Giỗ lần thứ 46 của Cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn, CSsR (08.09.1922-28.03.1975)

MỘT CUỘC ĐỜI ÂM THẦM

*Tôma Nguyễn

Ngày 28 tháng 3 năm 2021 là ngày giỗ thứ 46 của cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn, Dòng Chúa Cứu Thế, người đã sống một cuộc đời âm thầm để chuyển ngữ toàn bộ cuốn Kinh Thánh gồm Tân Ước và Cựu Ước từ tiếng Hipri, Aram và Hilạp ra tiếng Việt. Cuộc sống âm thầm là vậy, nhưng cái chết của ngài còn âm thầm lặng lẽ hơn so với những người đã chết tức tưởi trong vụ chôn sống tập thể tại Huế – Thừa Thiên hồi Tết Mậu Thân 1968. Cha Thuấn ra đi, để lại một công trình dịch thuật Thánh Kinh còn dang dở. Ngài chưa dịch xong ba quyển: Yob, Cách Ngôn, và Baruk. Khi xuất bản toàn bộ cuốn Kinh Thánh, ban Xuất bản gồm học trò và bạn bè của ngài đã dịch ba quyển này từ bản tiếng Pháp ‘Bible de Jerusalem’.

Ngày 28 tháng 3 năm 2021 là Chúa Nhật Lễ Lá, nhưng ngày 28 tháng 3 của năm 1975 là Thứ Sáu Tuần Thánh. Thân mời các bạn trở lại với bối cảnh của khu vực tỉnh Lâm Đồng khi chiến cuộc Việt Nam đang ở vào giai đoạn dầu sôi lửa bỏng nhất. Sau khi chiếm huyện Di Linh được một hai tuần, quân Cộng sản đã thủ tiêu cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn tại đồn điền Nguyễn Ngọc, xã Châu Thành, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Một Hạ sĩ quan Truyền Tin của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã can đảm vùi xác ngài tại vùng đó. Người ta nói ngài bị Cộng sản cuốc vào đầu, gây thêm một cái chết oan khiên vô tội vào một chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Nhưng tôi tin rằng, cha Thuấn trước khi chết đã theo gương Đấng mình tin để nói lên trong lòng,“Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm” (Luca 23 34).

Trong cuốn sách “Cha Eugène Larouche, 51 năm Thừa Sai Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt-Nam”, linh mục Rôcô Nguyễn Tự Do, CssR, có viết một đoạn về cha Thuấn:

“Năm 1945, quân Nhật chiếm Huế và giam giữ các cha Canada tại Morin. Cha Nguyễn Thế Thuấn lúc đó còn là một chú Đệ Tử đã dùng chữ Nho để bút đàm với viên sĩ quan Nhật lúc họ lui tới nhà Dòng, mà theo sự suy nghĩ của Cha Thuấn là ‘nhờ đó tạo được bầu không khí cởi mở hơn, thân thiện hơn'”.

Nhưng năm 1975, cha Thuấn đã không tạo được bầu không khí thuận lợi đó tại Di Linh với những người đồng chủng Việt Nam theo cộng sản khi ngài đi giảng Tuần Thánh ở Xứ đạo Di Linh theo lời mời của linh mục Chánh xứ Yuse Phùng Thanh Quang. Đây cũng là lý do dẫn đến cái chết của cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn, người thầy kính yêu của tôi.

Qua việc thủ tiêu một linh mục khá nổi tiếng như cha Thuấn, người Cộng sản đã để lộ chính sách: “Thà giết lầm hơn bỏ sót” của họ, đồng thời cũng để trấn áp bất cứ một suy nghĩ nào gây bất lợi cho chính sách đó. Trong thực tế, suốt trong chiều dài của cuộc chiến Việt Nam và nhất là sau biến cố 1975, chính sách dã tâm này của Cộng sản đã gây ra không biết bao nhiêu cái chết vô tội.

Giờ phút này, tôi nhớ đến câu chuyện của “Người Samari nhân hậu” trong Phúc âm Thánh Luca khi nghĩ đến người Hạ sĩ quan QLVNCH, người cũng mang một quả tim nhân hậu vì đã mai táng người thầy của tôi. Khi có ý định viết bài này, tôi đã liên lạc về Việt Nam tìm tông tích người Hạ sĩ quan ân nhân hầu tôi có thể biết thêm chi tiết về cái chết, việc chôn cất và dời hài cốt của cha Thuấn về nghĩa trang DCCT Đà Lạt, nhưng được biết người Hạ sĩ quan tốt bụng này cũng đã qua đời cách đây hơn chục năm.

Sau biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh Nguyễn Ngọc Lan, lúc ấy còn là linh mục, đã nhanh chóng áp dụng bài học bà Rebecca dạy cho Yacób để xin Bộ Thông Tin Văn Hóa-Cục Báo Chí Xuất Bản cấp giấy phép xuất bản toàn bộ cuốn Kinh Thánh. Khi xin phép, anh Nguyễn Ngọc Lan chỉ xin in cuốn Kinh thánh Tân Ước của cha Nguyễn Thế Thuấn có trước năm 1975, nhưng tiện dịp nên đã in luôn phần Cựu Ước. Tân Ước hay Cựu Ước cũng là Kinh Thánh cả và cũng cùng một dịch giả.

Tôi biết khá rõ chuyện này vì thời gian đó tôi còn ở tại quê nhà. Đó là cuốn sách in lậu đầu tiên sau năm 75 dưới chế độ Cộng sản. Thầy Robert Nguyễn Sĩ Nhàn phải chạy mượn tiền của giáo dân để mua thêm giấy lụa bên tòa Tổng Giám mục Sàigòn. Lần đó, tổng số in được 10.000 cuốn, vì không biết đến bao giờ mới được in lại.

Khi Nhà In Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã sắp chữ gần xong phần Tân Ước, ban Xuất Bản cử thầy Nguyễn Gia Trần và tôi lên giáo xứ Di Linh gặp cha Quang xin lại cuốn Tân Ước cha Thuấn hay dùng, nếu còn. Ý định là xem cha Thuấn có sửa chữa hay thêm bớt gì trong cuốn Tân Ước hay không, để có thể có một cuốn Tân Ước hoàn chỉnh theo ý dịch giả.

Chúng tôi lấy chuyến xe sớm nhất đi Đà Lạt, đến giáo xứ Di Linh thì chúng tôi xuống xe. Lúc này dân chúng còn đi lại không cần xin giấy phép của địa phương, chỉ có các linh mục bị phải cấm cung tại chỗ, do đó khi chúng tôi vào nhà xứ thì được gặp ngay cha Quang là chánh xứ họ đạo Di Linh.

Sau vài câu chào hỏi và biết sự yêu cầu của chúng tôi, cha Quang lúc đó đang cầm sẵn trong tay chiếc mũ “di tích” của cha Thuấn (không biết làm sao mà cha Quang lại có được hiếc mũ này) nói với anh em chúng tôi:

– Các thầy cho tôi cái mũ này để đội, xin cha Thuấn che chở cái đầu cho tôi.

Tôi trả lời:

– Thưa cha, cha muốn lấy cái gì để làm kỷ niệm cũng được, chúng con chỉ xin cuốn Tân Ước.

Tiếp đó, cha Quang bước vào bên trong mang ra chiếc cặp táp của cha Thuấn. Tôi nhận ra ngay chiếc cặp này, vì cha Thuấn thường đeo nó bên mình mỗi khi đi ra khỏi nhà Dòng. Tôi nhận chiếc cặp từ tay cha Quang và đi vội ra khỏi nhà xứ để tránh bị theo dõi.

Chúng tôi đi về cổng nhà thờ, liếc mắt nhìn phía nhà xứ thì thấy một tên công an cũng đang lò dò đi vào. Chúng tôi đi lên chợ Di Linh đón xe đi tiếp lên Đà Lạt và sáng sớm hôm sau về lại Sàigòn. Nhiệm vụ coi như đã hoàn thành.

Sau này, khoảng năm 1993, khi hội “Hột Lúa” của Madame Geneviève Jouan, người Pháp, có giúp giáo xứ Di Linh thuốc men để chữa bệnh cho người nghèo, tôi có dịp gặp lại cha Quang nhiều lần nhưng vấn đề cái chết của cha Thuấn quá ư là tế nhị nên tôi chẳng dám hé môi hỏi thêm điều gì.

Một thời gian sau, tôi được tin cha Yuse Phùng Thanh Quang cũng đã qua đời tại bệnh viện Nguyễn Trải, Sàigòn, hưởng thọ 77 tuổi. Ngài qua đời ngày 31 tháng 10 năm 2003, đúng vào ngày sinh nhật của mình. Cha Quang vẫn tin là cha Thuấn đã chết thay cho mình.

Cách đây vài năm, tôi tình cờ may mắn gặp được hai sĩ quan Địa phương quân VNCH đã đóng quân ở Di Linh trước năm 1975. Họ cho tôi biết chính cha Quang đã rửa tội cho Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu khi cha làm Tuyên Úy trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Nhưng khi Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, cha Quang đã không lợi dụng sự quen biết trước kia để trục lợi cho giáo xứ của mình.

Một lần Tổng Thống Thiệu lên Đà Lạt họp, có cho trực thăng đến đón cha Quang nhưng ngài từ chối. Cha nói, ban phép bí tích rửa tội là công việc mục vụ, chẳng vì quen biết mà làm mất ý nghĩa thánh thiêng.

Cuộc đời của cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn đã âm thầm lặng lẽ bao nhiêu thì cái chết của ngài càng lặng lẽ hơn nhiều.

Năm 1958, cha Yacôbê Nguyễn Hữu Sơn là bạn học cùng lớp với cha Thuấn dẫn một số Đệ tử Huế lên Đà Lạt nghỉ hè một tháng. Chúng tôi được trú ngụ tại nhà bà Paul trong Giáo xứ Tùng Lâm và thường được vào Nhà Dòng Đà Lạt chơi mà chẳng nghe cha Sơn nói gì về cha Thuấn.

Phải đến năm 1964 khi cuốn Tân Ước chào đời, chúng tôi mới biết Dòng mình có một cha biết dịch Kinh thánh từ tiếng Hipri là cha Nguyễn Thế Thuấn. Tôi nhớ là cha Gérard Gagnon, DCCT, cũng có dịch Kinh thánh nhưng chắc là từ tiếng Pháp. Lúc đó chúng tôi thán phục cha Gagnon về khả năng tiếng Việt của cha.

Cha Thuấn sống âm thầm để dịch cho xong cuốn Tân ước rồi mới bắt đầu đi giảng hay dạy học ở những nơi khác ngoài Học viện DCCT Đà Lạt. Các thầy Học viện cũng đã có dịp thấy bà con của cha Thuấn tới thăm ngài và đùa với ngài, “Chúng con biết cha có tổ quốc nhưng lại tưởng cha vô gia đình chứ”.

Tôi nghĩ, nếu ngài tiếp tục cấm cung trong phòng để dịch tiếp cho xong cuốn Cựu ước như ngài đã làm để hoàn tất cuốn Tân Ước thì hôm nay chúng ta đã có một bản dịch trọn bộ Kinh thánh của dịch giả Nguyễn Thế Thuấn.

Bản dịch nguyên thủy toàn bộ Kinh Thánh của cha Nguyễn Thế Thuấn, theo ngài cho biết, đã chứa đựng đầy đủ tính chất xác thực và tinh thần thần học xác tín của ngài. Nói cách khác, ngài không muốn có một sự sửa đổi nào của ai khác, nếu không được ngài thông qua.

Tôi cũng nhớ ngài có viết một bài đăng trên báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp để đính chính những chỗ trong bản dịch Kinh Thánh của mình mà linh mục Yuse Trần Hữu Thanh, DCCT, tự ý sửa đổi. Cha Thanh đã có sửa đổi một vài từ ngữ mà không hỏi qua ý kiến của cha Thuấn khi dùng bản dịch Tân Ước của cha Thuấn để in sách Kinh thánh theo chương trình “Mỗi quân nhân, một Tân Ước” trước năm 1975. Nghĩa là, khi cho in toàn bộ cuốn Kinh thánh, ban Xuất Bản đã thay thế một ít danh từ mà có thể họ cho là không quan trọng. Đặc biệt danh xưng ‘Thần Linh’ trong bản dịch đã được thay bằng danh từ ‘Thiên Chúa’ có lẽ để cho phù hợp với thông thường”.

Trong bản dịch nguyên thủy, khi dùng chữ Thần Linh, dịch giả Nguyễn Thế Thuấn có ý nói đến sự ‘Mặc khải tiệm tiến’ của Thiên Chúa dành cho con người. Ý của ngài muốn cho chúng ta biết rằng loài người trong quá trình nhận biết về Thiên Chúa cũng đã phải trải qua nhiều giai đoạn trong cuộc hành trình đức tin, nghĩa là chúng ta phải dần dần mới hiểu thêm về Thiên Chúa. Điều này dễ nhận ra hơn khi nói rằng con người, trong cuộc sống hằng ngày, cũng cần phải có yếu tố thời gian và kinh nghiệm rồi mới hoàn toàn hiểu được cuộc đời là gì. Huống hồ đây là một phạm trù của khoa Thánh kinh học.

Hiện nay tôi không có trong tay bài đính chính viết trên báo Đức Mẹ HCG của cha Thuấn, nhưng nếu tôi nhớ không lầm thì trong Phúc âm Thánh Luca (13,10) cha Thanh đã sửa chữ “Nhân ngày Hưu lễ” thành “Ngay ngày Hưu lễ”. Và cha Thuấn đã phải đính chính lại. Ngài phải đính chính ngay cả những chữ xem ra bình thường, huống chi là “danh xưng Thần Linh” đã bị thay thế bằng “danh từ Thiên Chúa”.

Thế mới biết lãnh vực kinh điển thật là tỉ mỉ từng chữ. Nhưng khi in bản Cựu Ước thì linh mục dịch giả Nguyễn Thế Thuấn đã qua đời. Ngài là dịch giả nhưng cũng chẳng có cơ hội để viết thêm vào trước bản dịch một lời tâm sự với người đọc bản dịch của mình. Ngài sống âm thầm, và chết cũng rất âm thầm. Âm thầm như chính công việc của ngài.

Rồi những lợi ích tinh thần mà bao nhiêu người lĩnh hội được do việc cha giảng dạy hoặc nhờ đọc cuốn Kinh Thánh của ngài dịch, cũng âm thầm chẳng kém. Tôi có một kỷ niệm liên quan đến tinh thần Kinh Thánh của cha Thuấn.

Năm 1965, ngài ra giảng tại Nhà Dòng Huế. Một anh bạn cùng lớp với tôi vào xưng tội với ngài về việc “chọc gái” sao đó. Tôi không nhớ anh ta lãnh bao nhiêu kinh phải đọc để đền tội để xem việc giải tội của một giáo sư Kinh thánh có màu sắc Kinh thánh không. Bù vào đó, người bạn có tâm sự với tôi điều cha Thuấn đã khuyên anh ta trong tòa giải tội. Cha khuyên bạn tôi: “Người ta không phải là đồ chơi”. Đến nay, tôi vẫn không quên lời khuyên đó. Sau này, một lần khi ngồi xem phim “Toy Story”, tôi thấy Woody nói to vào mặt Buzz, “You are a toy. T- O- Y”. Thỉnh thoảng khi có dịp dạy bảo con cái, tôi cũng nói với các con tôi, “We are not a toy”.

Từ “triết lý” của câu nói đó, tôi tìm ra một điều tâm niệm cho mình. Đó là, trong suốt cuộc đời tôi luôn ráng sống sao để không đối xử với người khác, nam cũng như nữ, và ngay chính bản thân mình nữa, như là đồ chơi. Tôi cảm thấy mình trưởng thành hơn nhờ vào bài học hàm chứa trong lời khuyên của cha Thuấn mà bạn tôi đã chia sẻ. Nhưng dù sao đó cũng chỉ là điều tôi gián tiếp học được qua câu chuyện của một người bạn.

Còn câu nói: “Các thầy đừng phí uổng cuộc đời, vì chỉ có một lần” thì chính tai tôi đã trực tiếp nghe và học được nơi cha Thuấn là giảng sư của lớp tôi ở Nhà Tập. Những lần phí phạm cuộc đời, tôi nhớ đến câu nói này.

Có thể cha Thuấn không hẳn là tác giả nguyên thủy của ý tưởng trong câu nói này, nhưng đối với tôi, tôi xem đó là của cha Thuấn vì lần đầu tôi nghe cha nói mà trước đó tôi chưa đọc được ở đâu hoặc nghe ai nói đến. Thông điệp của câu nói đó đã âm thầm nâng đỡ và dẫn lối cho tôi rất nhiều, nhất là trong thời gian tôi còn tu tập.

Trong khi viết bài này, tôi muốn tìm một tấm hình của cha Thuấn để kèm theo bài thì may mắn được cha Louis Đặng Đức Anh, DCCT, tiếp tay. Cha gửi ngay cho tôi một tấm ảnh hiếm quí của cha Thuấn mà một nhân viên trại gà Scala cũ ở Đà Lạt, chị Minh Phượng, còn giữ lại được qua bao năm tháng. Tấm ảnh do cha Bosco Phạm Minh Thiện, DCCT, học trò lớp đầu tiên của cha Thuấn, bấm máy. Hình chụp năm 1972 khi cha Đại diện Tổng quyền DCCT Roma qua kinh lý xem trại gà Scala hoạt động có đúng đường lối của Thánh Anphongsô trong phát triển kinh tế cho người nghèo hay không. Trong hình có cha Bề trên Giám Tỉnh Bạch Văn Lộc và cha Thuấn, khi đó đang là bề trên Nhà Dòng Đà Lạt.

Chân thành cám ơn cha Louis Anh và chị Minh Phượng đã chia sẻ tấm hình có một không hai của cha Thuấn, và cầu xin cho cha Bosco Thiện được hưởng nhan thánh Chúa.

THẾ NÀO LÀ LÒNG DÂN?

THẾ NÀO LÀ LÒNG DÂN?

Ngày duyệt binh long trọng của quân đội Myanmar diễn ra vào ngày Quân lực 27-03 là ngày lễ trọng của Myanmar (kỷ niệm cuộc nổi dậy của quân đội Miến Điện chống ách cai trị của quân phiệt Nhật Bản năm 1945). Từ khi Miến Điện được độc lập năm 1947 tới nay, năm nào ngày Quân lực cũng được tổ chức kỷ niệm long trọng với đại diện ngoại giao, quân sự các nước.

Năm nay, chỉ có một quan khách nước ngoài duy nhất đến dự: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga Alexander Fomin, theo trang tin Asia Nikkei Review. Ông ta được tướng Min Aung Hlaing, Tổng tư lệnh quân đội Miến Điện, người cầm đầu vụ đảo chính chào mừng: “Nga là người bạn thật sự.”

It nhất 328 người biểu tình bị giết trong các cuộc phản kháng đảo chánh, người nhỏ nhất mới có 7 tuổi.

Việc tổ chức duyệt binh nhân Ngày Quân lực và truyền hình trực tiếp tới cả nước thay vì để phô trương sức mạnh thì hình như làm rõ hơn tình hình thật sự của Myanmar hiện nay: người dân vẫn không chấp nhận sự lãnh đạo của quân đội và cuộc đối đầu đã bắt đầu tàn phá nền kinh tế Miến Điện, làm các nhà đầu tư lo sợ và tháo chạy.

Hiện nay, phong trào xuống đường biểu tình đã chuyển dần sang bất tuân dân sự; người dân không ra đường mà cố thủ trong nhà; hàng quán chợ búa đều đóng cửa; trường học và bệnh viện ngừng hoạt động. Công chức bỏ việc hàng loạt, nhân viên ngân hàng, nhân viên các ngành công nghiệp và dịch vụ then chốt đình công sâu rộng và đông đảo khiến cho đất nước Miến Điện gần như tê liệt.

Theo tin của báo địa phương Myanmar Now: Hai chuỗi siêu thị lớn nhất, City Mart Holding và Aeon Orange – liên doanh với tập đoàn Aeon Nhật Bản – đã đóng cửa tất cả các điểm kinh doanh, trong khi lãnh đạo một số ngân hàng tư nhân đã bị bắt giam vì không chịu mở của hoạt động.

Đến nay, các bệnh viện vẫn đóng cửa, hàng loạt y bác sĩ tham gia phong trào bất tuân dân sự, còn trường học thì chưa biết bao giờ mới hoạt động trở lại.

Về đối ngoại, Miến Điện đã rơi trở lại tình trạng cô lập về ngoại giao và kinh tế khi hàng loạt quốc gia phương Tây, từ Hoa Kỳ, Liên Âu đến Nhật Bản liên tục ban hành những biện pháp cấm vận, trừng phạt các tướng lĩnh cầm đầu đảo chính và yêu cầu các nhà đầu tư của mình rút về nước.

Báo Asia Nikkei nhận định: “Quân đội Miến Điện đang vật lộn với một tình huống hỗn loạn mà họ chưa có chiến lược để thoát ra.”

Theo Fb Vũ Kim Hạnh

* Hình:

– Một hình ảnh Lễ duyệt binh của QĐ Myanmar sáng nay tại thủ đô Naypyidaw chụp từ màn ảnh truyền hình quân đội MRTV (ảnh Asia Nikkei Review).

– Thành phố Yangoon, lớn nhất Myanmar khi người dân thực hiện phong trào bất tuân dân sự (ảnh Reuters sáng 24/3/2021).

NGÀY XẤU HỔ CỦA QUÂN ĐỘI MYANMAR: HƠN 90 NGƯỜI BIỂU TÌNH BỊ THIỆT MẠNG

Thế giới tiếp tục “đếm những con số đen tối”.

—-

NGÀY XẤU HỔ CỦA QUÂN ĐỘI MYANMAR: HƠN 90 NGƯỜI BIỂU TÌNH BỊ THIỆT MẠNG

Các bản tin và nhân chứng cho biết lực lượng an ninh đã gi.ết ch.ết hơn 90 người trên khắp Myanmar vào thứ Bảy ngày 27 tháng Ba trong một trong những ngày biểu tình đẫm máu nhất kể từ cuộc đảo chính quân sự vào đầu tháng 2.

Tổng cộng đến nay đã có hơn 400 thường dân được báo cáo thiệt mạng kể từ cuộc đảo chính.

Cuộc đàn áp tàn bạo diễn ra vào Ngày Lực lượng Vũ trang Myanmar. Cùng lúc trong cuộc duyệt binh ở thủ đô Naypyitaw để đánh dấu sự kiện này, Thượng tướng Min Aung Hlaing, lãnh đạo quân đội đã nói “quân đội sẽ bảo vệ người dân và chiến đấu cho dân chủ”. Ông nhắc lại lời hứa sẽ tổ chức bầu cử mà không đưa ra bất kỳ khung thời gian nào.

Một ngày trước đó truyền hình nhà nước đã đưa ra lời đe doạ những người biểu tình có nguy cơ bị bắn “vào đầu và lưng”. Mặc dù vậy, những người biểu tình chống lại cuộc đảo chính ngày 1 tháng 2 vẫn đã xuất hiện trên các đường phố ở Yangon, Mandalay và các thị trấn khác.

Myanmar Now cho biết lực lượng an ninh đã sát hại ít nhất 91 người trên khắp đất nước. Nạn nhân trẻ nhất chỉ mới 5 tuổi. Một em bé một tuổi bị đạn cao su bắn vào mắt.

Một người dân tên Thu Ya Zaw ở thị trấn Myingyan nói với hãng thông tấn Reuters “Họ đang giết chúng tôi như chim hay gà, ngay cả trong nhà của chúng tôi. Nhưng chúng tôi sẽ tiếp tục phản đối. Chúng tôi phải chiến đấu cho đến khi chính quyền quân phiệt sụp đổ.”

Phái bộ Liên Minh Châu Âu tại Myanmar tuyên bố “Ngày Lực lượng Vũ trang Myanmar thứ 76 sẽ được khắc ghi là một ngày của khủng bố và ô nhục. Không có bất kỳ lý do gì có thể bào chữa cho việc giết hại thường dân không vũ trang, bao gồm cả trẻ em.”

Áp lực quốc tế đối với chính phủ quân phiệt gia tăng trong tuần này với các lệnh trừng phạt mới của Hoa Kỳ và châu Âu.

Nhưng đã có tám quốc gia – Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Việt Nam, Lào và Thái Lan – đã cử đại diện đến đã tham dự lễ duyệt binh ở Naypyitaw. Đặc biệt Nga đã gửi Thứ trưởng Quốc phòng Alexander Fomin đến tham dự và gặp gỡ các nhà lãnh đạo quân đội Myanmar một ngày trước đó. Tướng Min Aung Hlaing nói “Nga là một người bạn thực sự”

Sự ủng hộ của Nga và Trung Quốc rất quan trọng đối với chế độ quân phiệt Myanmar vì hai nước này là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và có thể ngăn chặn các hành động của Liên Hiệp Quốc.

Bất chấp đàn áp, người dân Miến Điện liên tục biểu tình phản kháng hàng ngày kể từ khi quân đội đảo chánh cướp chính quyền của chính phủ dân cử.

Nguồn: Reuters, Myanmar Now

#FreeMyanmar

Phước Long “ Chứng tích kẻ chạy làng ”

 Trận đánh Phước Long là khởi đầu cho việc thất thủ của miền Nam VN…. Đọc để thấy QLVNCH chiến đấu thật kiêu hùng dù cuối cùng… chịu thua cuộc!!!

Chiếm được Phước Long là bằng chứng cụ thể cho chế độ CS miền Bắc biết chắc nước Mỹ đã giữ lời hứa với Tàu cộng… và cũng để dân quân VNCH thấy rõ bộ mặt của kẻ “phản bội đồng minh”!!!

***

Phước Long “ Chứng tích kẻ chạy làng ”

Lê Đắc Lực

Ngày đầu năm 1975, đang hành quân ở Tây Ninh, Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù nhận được lệnh của Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III, phải gấp rút đưa đơn vị về Biên Hòa, nhận nhiệm vụ mới, chỉ để lại một Biệt Đội tăng cường, phòng thủ tại Phi trường Quân sự Trảng Lớn.

Nhiệm vụ mới, không nói mà cả Liên Đoàn ai cũng nhận biết được, đó là chiến trường Phước Long, một chiến trường “dầu sôi lửa bỏng, thập tử nhất sinh” cần khẩn cấp tiếp cứu.

Mặt trận Phước Long bắt đầu từ ngày 12 tháng 12 năm 1974, kéo dài cũng đã gần một tháng. Áp lực địch càng ngày càng mạnh. Bốn Quận của Phước Long đã bị Việt cọng đánh chiếm cả. Năm Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, với quân số còn lại, rút về phòng thủ quanh Thị Xã, ngoài ra còn được tăng cường thêm Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 7, Sư Đoàn 5 Bộ Binh, ba Đại Đội Trinh Sát của các Sư Đoàn 5, 18 và 25 Bộ Binh. Nếu cọng thêm với lực lượng ít ỏi của các đơn vị của Tiểu Khu, kể cả Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát và Cảnh Sát Dã Chiến, Nghĩa Quân, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, không hy vọng chống trả lại được với lực lượng đầy đủ và sung mãn tinh thần “điên khùng” của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 7 Bắc Việt xâm lược, cọng với một Tiểu Đoàn Đặc công, và hai Chi Đoàn Chiến xa T-54.

Vào thời điểm đó, quân cộng sản có nhiều thuận lợi về nguồn tiếp tế. Hướng Đông Bắc là căn cứ Bùi Gia Mập, hướng Tây Bắc là căn cứ Bù Đốp, cả hai nơi đều đã bị địch chiếm cứ và trở thành mật khu của chúng. Chắc chắn hậu cần và quân tiếp ứng, nếu cần, sẽ từ hướng nầy tuôn xuống một cách dồi dào. Phía Đông là hai Thị Trấn Gia Nghĩa và Bảo Lộc, không giúp đỡ gì được cho quân trú phòng. Quận Chơn Thành và Đồng Xoài ở phía Nam cũng đã bị địch chiếm mất rồi. Phía Tây Tỉnh Bình Long, cũng chưa hoàn toàn hồi sức từ sau trận chiến Mùa Hè 1972.

Tình hình quân sự đã căng như thế, trong khi Sài Gòn nhiều phong trào đang biểu tình dữ dội: “Phụ nữ đòi quyền sống, Ký giả đi ăn mày và Chống tham nhũng”. Tình hình chính trị như thế chỉ có lợi cho địch quân mà không chắc ở Sài Gòn có người nào nghĩ đến những người lính ở Phước Long đang lâm vào cảnh “thập tử nhất sinh”.

Về tới căn cứ, nắm biết được tình hình như thế, thêm vào đó trong lòng mang nỗi chán nản vì hành động vi phạm Hiệp Định Paris một cách trắng trợn của bọn Việt cọng. Biết là Biệt Đội cũng sắp sửa nhảy vào Phước Long, tôi vừa xúc động vừa buồn, không như ba năm trước đây, tại chiến trường Bình Long, An Lộc. Lúc đó, tôi cũng mang đầy lo lắng, nhưng nôn nóng, sôi sục muốn nhảy vào chiến trường, sớm chừng nào hay chừng đó, để chia xẻ và gánh vác gian nguy cùng Đồng Đội, Chiến Hữu.

Rạng sáng ngày 3 tháng 1 năm 1975, Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật do Trung Tá Vũ Xuân Thông chỉ huy, đã cùng Biệt Đội 811 Xung Kích, Biệt Đội Trưởng là Đại Úy Trương Việt Lâm và Biệt Đội 814 Xung Kích, Biệt Đội Trưởng là tôi, được chuyển vận tới Sân bay Quân Sự tại Căn cứ Long Bình. Đoàn Quân Biệt Cách Nhảy Dù, nằm trải dài trên bãi chờ Trực Thăng, được lót trải bằng những tấm vỉ sắt kết nối nhau, trong một khoảng thời gian dài, từ sáng cho đến quá trưa. Mãi tới 2 giờ chiều, một Phi Đội Trực Thăng do Phi Đội Trưởng Thiếu Tá Đào Vũ Anh Hùng chỉ huy, mới đáp xuống. Đến 2 giờ 30, các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù Biệt Đội 814 đã sẵn sàng lâm trận.

Từng chiếc UH.1B cất cánh, rồi nối đuôi theo sau chiếc C&C của Đại Tá Phan Văn Huấn trực chỉ về hướng Bắc. Khoảng cách từ Căn cứ Long Bình lên Phước Long theo đường chim bay trên 100 cây số. Khi đoàn Trực Thăng vừa đến vùng trời Phước Long, cao xạ 12.7 ly và 37 ly của bọn giặc cọng thay nhau bắn lên xối xả, dưới đất thì khói bụi mịt mù bay lên che khuất một vùng trời, các phi tuần A.37 oanh kích triệt hạ phòng không địch trên núi Bà Rá chẳng thấy xuất hiện.

Đoàn Trực Thăng bay lượn hai vòng trên trời cao, họ có thể đã ước tính, không còn đủ nhiên liệu và thời gian để đáp thả Biệt Đội 814, rồi quay trở về bốc thả tiếp Biệt Đội 811 và Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật còn lại, thì trời đã quá chiều tối, nên đã đồng loạt bay về hướng Nam, đáp khẩn xuống ở Tiểu Khu Định Quán để tiếp tế nhiên liệu, rồi bay đáp trở lại ở Phi Trường Long Bình.Thêm một đêm nằm ngủ giữa trời sao trôi qua nhanh.

Từ sáng sớm ngày 4 tháng 1 năm 1975, hai Biệt Đội đã túc trực chuẩn bị hành trang lên đường. Vào khoảng 9 giờ, đoàn Trực Thăng chở Biệt Đội 814 cùng Trung Tá Vũ Xuân Thông và BCH 1 Chiến Thuật cất cánh, bay cặp theo dòng Sông Bé về hướng Bắc, vừa qua khỏi Thị Xã Phước Long, đoàn Trực Thăng quay vòng trở lại hướng Nam, bay qua Sông Dak- Lung thì lần lượt đáp xuống lơ lửng trên một ngọn đồi, cây cối bị pháo địch bắn cháy, còn ngổn ngang gốc cành, nằm rãi rác khắp cả khu đồi, cách Thị Xã chừng 500 mét về hướng Bắc. Từ độ cao cách mặt đất khoảng 2 mét, các Trung Đội nhanh chóng nhảy xuống tìm nơi ẩn núp và phòng thủ, nhất là để tránh địch có thể trực xạ đại bác 75 ly từ đỉnh núi Bà Rá.

Tôi đã được cấp trên cảnh giác về tình huống nầy. Bà Rá đã bị Việt cọng chiếm ngay ngày đầu năm Dương Lịch. Bà Rá, Bà Đen và cả Mây Tào, là những ngọn núi cuối cùng của dãy Trường Sơn. Bà Rá có độ cao 736 mét, là con mắt và lỗ tai của Thị Xã Phước Long. Với vị trí chiến lược này, ngay từ đầu, Quân Đội VNCH đã đặt căn cứ trên đỉnh Bà Rá. Từ trên đó, chúng ta có thể quan sát khắp vùng, điều chỉnh và yểm trợ phi pháo cho các đơn vị Quân Đội, khóa họng súng của địch mỗi khi chúng pháo kích vào Thành Phố. Tại căn cứ nầy cũng có các Đài Truyền tin, phát tuyến, nối tiếp làn sóng với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa và giữa các đơn vị trong và ngoài khu vực Thị Xã Phước Long.

Tình hình căn cứ Bà Rá bây giờ ở thế ngược. Sau khi chiếm được đỉnh núi nầy, địch được ba cái lợi: Bố trí phòng không 12.7 ly trên núi và 37 ly dưới chân núi, Việt cọng gây khó khăn cho các hoạt động của Không Quân ta. Cũng từ đây, địch có thể trực xạ đại bác 75 ly vào vị trí của chúng ta, và cũng từ đây, địch dễ dàng quan sát cả Thị Xã, các hướng tiến quân của ta để điều chỉnh pháo binh đang bố trí chung quanh Phước Long mà tác xạ chính xác, hiệu quả.

Trong khi Biệt Đội 814 và BCH 1 Chiến Thuật đang trên đường tiến quân, thì Biệt Đội 811 và Thiếu Tá Nguyễn Sơn Chỉ Huy Phó, cũng đang đổ bộ xuống một bãi trống, nằm chếch về hướng Tây Bắc của Thị Xã Phước Long, để từ đó cánh quân này sẽ tiến vào bắt tay phối hợp với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, với Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 và năm Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, đang phòng thủ trong Thị Xã và Tòa Hành Chánh Tỉnh.

Biệt Đội 814 và BCH 1 Chiến Thuật tiếp tục băng qua các cánh đồng khô, các khu nhà, các dãy phố hoang tàn đổ nát, một vài nơi đã biến thành bình địa, không một tiếng súng, nhưng thỉnh thoảng đạn pháo địch vẫn nổ rải rác vài nơi trong trung tâm Thị Xã, mọi hiểm nguy vẫn chờ chực cận kề, thì ngay lúc này xuất hiện một chiếc xe jeep của BCH/ Tỉnh đến đón một mình Trung Tá Thông rời khỏi đội ngũ.

Tiếp tục theo như lệnh đã được ban hành tại Căn cứ Hành Quân ở Suối Máu. Biệt Đội 814 tiến sát hơn vào bên trong Thị Xã, đơn vị trú phòng mà Biệt Đội 814 tiếp cận đầu tiên để cùng phối hợp tác chiến là Ty Cảnh Sát Quốc Gia, nằm ngay góc một ngã tư đường lộ chính, dẫn vào Trung tâm Thị Xã. Nơi đây tôi được tiếp xúc cùng Thiếu Tá Nguyễn Văn Tư, Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia, và qua Ông tôi nắm biết phần nào về lực lượng địch, cùng hệ thống bố phòng của các đơn vị bạn trên trục tiến quân của Biệt Đội 814. Dĩ nhiên Ông ta và các chiến hữu của Ông hết sức mừng rỡ khi có Biệt Cách Nhảy Dù đến tiếp ứng.

Vượt qua Ty Cảnh Sát, là Doanh Trại của Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến, cũng nằm ngay góc ngã tư đường kế tiếp, mặt trước là cổng chính ngó vô Thành Phố, mặt hông phải, bên kia đường là khu nhà dân, nhà cửa hầu hết tan hoang không còn nguyên vẹn, vài nơi vẫn còn lửa cháy âm ỉ, khói bốc lên lan tỏa mờ nhòa tầm quan sát cả một khu vực, không có đơn vị nào còn phòng ngự ở đây, kể cả trong phòng tuyến của Trại Cảnh Sát Dã Chiến, họ đã rút về bố phòng tại các giao thông hào của Ty Cảnh Sát.

Vừa lúc đó, thì đạn pháo của địch không biết xuất phát từ đâu đã rơi xuống nổ khắp nơi. Tôi tức tốc cho lệnh các Trung Đội lao xuống bố trí tại các hầm hố, giao thông hào bao quanh ba mặt trong Trại Cảnh Sát Dã Chiến, chuẩn bị sẵn sàng tác chiến, đề phòng địch mở đợt tấn công. Bỗng đâu một tiếng súng nổ chát chúa, phá thủng một “cô-nét” gần bờ rào chính diện gây tử thương cho Hạ Sĩ I Sơn, một hiệu thính viên của Biệt Đội, hai trái đạn kế tiếp nổ ngay trên đường, sát bờ rào Ty Cảnh Sát. Đây là những viên đạn Đại bác 75 ly do địch trực xạ từ trên đỉnh Núi Bà Rá. Pháo Binh của ta đã hoàn toàn tê liệt, không còn có khả năng phản pháo.

Đạn pháo vừa ngưng, tiếng gầm rú của các xe tăng của địch lại từ từ tiến lên, không có bộ đội tùng thiết, xe tăng vừa chạy vừa quay nòng đại bác tác xạ như để áp đảo tinh thần đối phương, nhưng bọn chúng đã không ngờ đang đụng phải khắc tinh của chúng.

Từ bên trong các công sự chiến đấu, những hỏa tiễn M.72 của các xạ thủ Biệt Đội 814 đã dương cao sẵn sàng chờ đợi. Ầm..ầm..ầm, Hạ Sĩ I Ẩn và Hạ Sĩ Sáng, Trung Đội 2, đã tác xạ chính xác chiếc T.54 chạy đầu tiên, lửa đang rực cháy thiêu rụi toàn bộ đám địch quân. Hai T.54 kế tiếp vẫn trườn lên, ầm..ầm..ầm, chiếc trước đứng sững lại một chốc, xong tiếp tục chạy trườn tới tông sập đổ cột trụ đèn, rồi chạy thẳng ra bìa rừng hướng Tây Bắc, chiếc còn lại quay đầu, leo lấn lên lề đường, Thiếu Úy Nguyễn Tấn Mẫn, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1, không chần chờ bắn ngay một quả M.72, đạn trúng bên hông trái, phía đàng sau đuôi, chiến xa địch hầu như chẳng hề hấn gì, vẫn cứ chạy trên đường lộ, về hướng Tây rồi mất hút trong màn đêm đang đổ xuống toàn Thị Xã Phước Long.

Đêm hôm đó, thời gian đang chầm chậm trôi đi trong yên tĩnh. Nhưng rất bất ngờ, Đại Úy Thứ gọi điện thọai thông báo : Trung Tá Thông ra lệnh cho các Biệt Đội Biệt Cách Dù sửa soạn rút quân, theo hai hướng khác nhau, BCH 1 Chiến Thuật, Đặc Huấn và Ban Quân Y sẽ rút về một hướng (?), còn Biệt Đội 811 và 814 sẽ rút lui theo một hướng khác (?).

Tôi thật qúa đổi ngạc nhiên, khó khăn lắm mới vào được đây để tiếp cứu, vừa chân ướt chân ráo, chưa được một ngày một đêm, và cũng chỉ mới đụng độ sơ khởi với địch, chẳng có tổn thất gì lớn lao, trầm trọng, mà sao Trung Tá Thông lại cho lệnh rút quân.

Tôi suy đoán, chắc có điều gì không ổn chăng ? Hay cấp trên đã nhận thấy kế hoạch thả hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù vào Phước Long, trong biển lửa này như những con thiêu thân, như đem muối bỏ biển, như đem con bỏ chợ, chỉ là làm vật hy sinh tế thần, nên đã cho lệnh triệt thoái khẩn cấp ?

Sáng hôm sau, ngày 5 tháng 1 năm 1975, Biệt Đội liên lạc với BCH 1 Chiến Thuật để am tường rỏ ràng về kế hoạch rút quân, nhưng chẳng có động tỉnh hay lệnh lạc gì khác cả. Và nếu như theo đúng diễn tiến hành quân từ trước, thì Biệt Đội 814 sẽ tiến lên hướng Công viên Lệ Thủy, gần khoảng giữa Trung tâm Thị Xã, để bắt tay cùng các Đại Đội Trinh Sát, sau đó sẽ mở đường, giải tỏa áp lực địch để tiến vào Tòa Hành Chánh Tỉnh.

Chưa kịp hành động, thì đạn pháo của địch bắt đầu tác xạ và nổ ầm ỉ khắp nơi. Trước hỏa lực pháo tới tấp này, với kinh nghiệm chiến đấu cùng giặc cộng ở mặt trận An Lộc, Quảng Trị, tôi biết chắc chắn trước sau gì địch cũng sẽ tấn công, nên cho Biệt Đội nằm yên tại các giao thông hào, chờ đợi nghênh chiến với lủ giặc Cộng. Đúng y như tôi dự đoán, Việt cọng mở cuộc tấn công ào ạt, lực lượng chính của nó vẫn là xe tăng.

Bốn chiếc xe tăng T-54, không phải từ phía ngoài bìa rừng, hướng Tây, hướng Bắc hay hướng Đông, mà từ hướng Nam trong Thành Phố, tiến thẳng về phía phòng tuyến Cảnh Sát Dã Chiến mà Biệt Đội 814 đang trấn giữ. Hai bên mỗi xe tăng, là năm sáu tên bộ đội tùng thiết, cầm AK, CKC, B.40 và B.41 lom khom chạy theo. Tới ngã tư giao lộ, chúng chạy tản ra hai phía, như để bao vây, rồi xoay pháo tháp nổ súng bắn thẳng vào bên trong Đồn Cảnh Sát Dã Chiến.

Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngọc, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, với M.72 trên vai, nhắm ngay chiếc T.54 đang rẽ hướng về phải, ngay trước tuyến phòng ngự. Lửa từ chiếc xe tăng bùng lên, bọn bộ đội tùng thiết hoảng loạn, chạy dạt vào một bên vệ đường, nhưng không còn kịp, Đại Liên 60, Phóng Lựu M.79, Lựu Đạn của Trung Đội 3 đã tiêu diệt chúng, không còn một tên sống sót. Chiếc T.54 kế tiếp vẫn liều lĩnh chạy tới, càn qua hàng rào kẽm gai, để tiến vào bên trong, nhưng đã bị các vòng dây kẽm gai cuộn, dính chặt trong các mắt xích, xe đứng khựng lại, ngay tức thì, Hạ Sĩ Dữ, một xạ thủ XM. 202 của Trung Đội 2 đứng lên tác xạ, quả đầu tiên bị trượt, quả thứ 2, thứ 3, thứ 4 đều trúng vào thành xe tăng, nhưng không kết quả gì, xe tăng vẫn gầm rú, nhưng chỉ nhúc nhích một hai thước.

Không chần chờ, Thượng sĩ Hùng, Trung Đội Phó, cùng Trung sĩ Sơn, Tiểu Đội Trưởng, đã nhanh nhẹn bò lên, mở nắp pháo tháp, tung vào bên trong hai quả lựu đạn. Chiếc T.54 giờ đây đã hoàn toàn bất động. Dĩ nhiên, không có tên nào trong và ngoài xe có thể sống sót, không có “phép lạ” đến với chúng cả, dù là phép lạ của ông Lenin, ông Mác, ông Mao hay ông Hồ. Có một điều kỳ lạ, là đã hai ba lần sử dụng M.72 và XM.202 tác xạ diệt tăng, nhưng đều không hiệu quả, chẳng lẽ hai loại hỏa tiễn nầy chưa thích ứng hoặc vô hiệu với chiến thuật diệt xe tăng hay Việt cọng rút kinh nghiệm, có thể chúng che chắn thêm cho xe tăng bằng một thứ vật liệu gì đó, khiến trái hỏa tiễn không thể xuyên thủng được.

Hai chiếc T.54 chạy về hướng cổng chính của Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến và Ty Cảnh Sát cũng đã bị Trung Đội 3 và 4 dưới sự chỉ huy của Chuẩn Úy Chuyển và Chuẩn Úy Lân, đã chận đứng và tiêu diệt hai đợt xung phong của đám bộ đội tùng thiết, và sau khi sử dụng M.72 bắn nhưng không chận đứng được chiếc T.54 đang húc đổ cổng trại Cảnh Sát Dã Chiến, Tổ vũ khí nặng, dưới sự điều động của Trung Úy Qúi, Biệt Đội Phó, đã mang Đại bác 90 ly không giựt tác xạ phá hủy, lửa bốc cháy hừng hực, đã làm cho chiếc T.54 theo sau quay bánh xích, gầm rú tháo chạy mất dần về hướng cũ, sau những khu nhà đổ nát, mờ mịt bụi khói mù trời.

Trời tối, đêm dần dần trôi qua trong lo lắng.

Tờ mờ sáng ngày 6 tháng 1 năm 1975, Việt cộng cố dứt điểm trận chiến Phước Long. Sau nhiều đợt pháo kích dữ dội bằng đại pháo, không riêng gì ở Núi Bà Rá, mà tất cả các phía chung quanh, nã vào cái Tỉnh Lỵ nhỏ bé mỗi bề chưa tới nửa cây số, như rải cát trên đầu chúng tôi vậy. Không nơi nào không bị đạn pháo cày xới tơi tả. Quân địch dốc toàn bộ 2 Tiểu Đoàn Xe Tăng và các Trung Đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 7 tràn ngập các cứ điểm còn lại của Quân Đội ta đang trú phòng.

Từ dưới phố, từ bìa rừng hướng Tây Tây Nam, xe tăng địch ào ạt chạy lên đông vô số kể. Thật ra, không phải đông vô số kể, nhưng ít ra cũng phải đếm bằng con số chục, không phải bằng con số lẻ. Tình hình nầy thì “căng lắm đây”, tôi thầm nghĩ ! Biệt Đội 814 không có đủ Hỏa tiễn M-72, lại không có loại mìn tự chế của Đại Tá Huấn như ở trận Bình Long, hai cấp số đạn dược mang theo cũng đã tiêu tán trong hơn một ngày qua, trong khi tình trạng tiếp tế rất khó khăn. Ở cứ điểm núi Bà Rá, với nhiều loại vũ khí phòng không, hầu như địch quân đã khống chế bầu trời Phước Long. Máy bay yểm trợ của Sư Đoàn 3 Không Quân Biên Hòa, không bay thấp được, dù là máy bay tiếp tế hay oanh tạc cơ, còn trên đường bộ thì xe tăng của chúng đang đầy rẫy khắp các ngỏ ngách, để chuẩn bị cho một cuộc tấn công qui mô.

Trong khi tại Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, Biệt Đội đang tả xông hữu đột, vật vả chống trả các đợt tấn công của bộ binh địch và xe tăng ở hướng bên hông và hướng trước mặt thành phố, thì bất ngờ, một đơn vị Việt cộng khác, từ phía Ty Cảnh Sát, đã vượt rào cản, tràn lên đánh ập vào hậu tuyến Biệt Đội, nhưng bọn chúng gặp phải sức kháng cự của Ban Chỉ Huy Biệt Đội, đã sử dụng lựu đạn và M.79 tiêu diệt hơn 10 tên địch quân. Lúc bấy giờ, tôi mới biết là Ty Cảnh Sát đã hoàn toàn bỏ trống, toàn bộ nhân viên trong Ty và Cảnh Sát Dã Chiến đã di tản, tháo chạy từ trong đêm hôm qua.

Ngay trong thời điểm đang phải chiến đấu cam go, nóng bỏng, hiểm nguy như thế này, thì Âm thọai viên Biệt Đội cho tin: “Đại Úy Thứ vừa gọi máy, thông báo lệnh của Trung Tá Thông, toàn bộ đơn vị sẳn sàng rút quân. Lại rút quân !!!”.

Nghe tin, chưa kịp định thần, thì ba bốn chiến xa T.54 của địch đã cán sập tường rào, lù lù càn tới, bất kể sự phản công mãnh liệt của Biệt Đội. Đại bác 75, XM.202, M.72 hết hiệu quả tác xạ trong tầm quá ngắn, chỉ còn Đại Liên, XM.16, M.79 và lựu đạn là còn xử dụng, để tiêu diệt đám Cộng quân tùng thiết, đang la hét khủng hoảng tinh thần đối phương và chận đứng các xe tăng địch, đang nặng nề xoay chuyển trong Doanh Trại Cảnh Sát Dã Chiến, với đầy dẫy kẽm gai và công sự.

Đã quá trưa, tình hình chiến sự trong toàn khu vực vẫn còn sôi động, Cộng quân không ngừng pháo và tấn công khắp nơi. Tôi vẫn bình tĩnh chỉ huy Biệt Đôi. Một mặt vẫn giử liên lạc với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật để nhận chỉ thị, một mặt biết chắc không thể tiếp tục đối đầu cùng địch, trước những đàn chiến xa mỗi lúc mỗi gia tăng. Tuân hành theo lệnh rút quân đã được ban hành từ Trung Tá Thông, mà cũng nhằm để bảo toàn lực lượng, tôi quyết định rút Biệt Đội ra khỏi Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, di chuyển khoảng 1 cây số, về hướng Đông Bắc, chiếm lĩnh lợi thế trên một đồi rừng non, đâu lưng với sông Dak-Lung chừng 500 mét.

Các Trung Đội dàn trải đội hình bao quanh đỉnh đồi, đào hầm hố, bố trí sẵn sàng nghênh chiến. Và, y như rằng, không đợi lâu, bọn Việt cọng đã đuổi theo truy kích, chúng lố nhố, vừa leo đồi vừa nổ súng bắn tới tấp, bất chấp sự phản công ác liệt của các Chiến sĩ Biệt Cách Dù Biệt Đội 814 từ trên cao điểm. Tuy nhiên, sau hơn hai giờ giao tranh, mặc dù Biệt Đội tiêu diệt được nhiều địch quân, chận đứng kịp thời các đợt xung phong, tiến chiếm đỉnh đồi của địch, nhưng Biệt Đội đã phải hy sinh Thượng Sĩ Thủy Trung Đội Phó và B.1 Tài khinh binh, riêng Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngọc thì bị trọng thương, máu chảy lênh láng, Trung sĩ Đức Y Tá Biệt Đội phải sử dụng nhiều lượng thuốc cầm máu, rửa sạch vết thương, nẹp cây hai bên cánh tay để băng bó mới dứt hẳn được.

Ngay trong lúc này, hai công việc tôi phải làm : Việc trước tiên là tiếp tục liên lạc vô tuyến với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật và được biết BCH đã rút ra khỏi Tòa Hành Chánh Tỉnh. Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Long hầu như đã bị Việt cộng chiếm cứ mất rồi. Giờ này chắc Trung Tá Thông, Thiếu Tá Sơn, đang trên đường bôn tập, không biết có được an toàn?. Nếu có nhanh chân tẩu thoát được, thì đang ẩn núp, lẩn trốn đâu đó. Việc thứ hai, dù khó khăn, nguy hiểm thế nào đi chăng nữa, dưới tầm pháo địch, Biệt Đội cũng phải đào hố chôn cất thi hài Thượng Sĩ Thủy và Binh I Tài, những chiến binh đã Anh Dũng Hy Sinh đền nợ Nước.

Trời chiều xuống dần, cả một không gian mờ nhạt bao trùm Tỉnh Lỵ Phước Long, trong giờ phút này đã hoàn toàn rơi vào tay giặc cọng. Thấp thoáng từ xa, một vài đám cháy rãi rác trong Thị Xã, thỉnh thoảng bùng sáng lên, rồi lại lụn tắt dần cùng với ánh chiều tà.

Phước Long thật sự đã mất, mất theo với Đại Tá Nguyễn Thống Thành, Tỉnh Trưởng Tỉnh Phước Long, với Trung Tá Quận Trưởng Quận Châu Thành, với Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2, Sư Đoàn 5 Bộ Binh và còn nhiều nhiều Quân Dân Cán Chính khác nữa, làm sao kể xiết.

Liên lạc với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật để báo cáo tình hình và kế hoạch rút quân, nhưng đường vô tuyến bị nhiễu loạn. Không thể chậm trể, chiến trường đã phó mặc cho tôi chỉ huy chiến đấu sống còn, thì tự tôi phải biết định đoạt vận mạng cho các Chiến sĩ và bản thân. Chỉ cần một đợt pháo hỏa tập của địch, cùng với sự hợp đồng tác xạ đại bác 75 ly từ đỉnh Núi Bà Rá, thì Biệt Đội 814, tất cả đều sẽ trở thành cát bụi.

Không còn chần chờ, mạng sống của trên 150 Binh sĩ Biệt Đội 814 đều nằm trong giải pháp dứt khoát của tôi. Lợi dụng màn đêm buông xuống, tôi ra lệnh cho các Trung Đội cấp tốc, lặng lẽ rút xuống đồi, di chuyển về hướng Đông Bắc tiếp cận bờ sông Dak-Lung, nơi đây bằng mọi giá, ngay trong đêm, phải tìm cách vượt sông Dak-Lung. Qua bên kia sông, Biệt Đội sẽ được an toàn hơn.

Dòng sông Dak-Lung nước chảy xiết, rất mạnh. Hai bờ sông cách nhau khá xa, ít nhất là 50 mét. Một số Binh sĩ không biết bơi, với vũ khí đạn dược còn lại trên người, sẽ không an toàn tính mạng. Sau một thoáng suy nghĩ, tôi quyết định cho một Toán Tiền Sát dưới sự chỉ huy của Trung Úy Biệt Đội Phó Nguyễn Văn Qúi, đi ngược bờ sông hy vọng sẽ tìm thấy một khúc sông hẹp hơn.

Cũng trong lúc này, đức tin của một Phật Tử trổi dậy trong lòng, tôi chắp tay ngưỡng mặt lên trời với vô số vì sao, thầm cầu nguyện đến Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, hầu mong Đấng Từ Bi gia hộ phù trì cho tôi tìm ra sinh lộ, đưa Biệt Đội thoát cơn nguy biến. Và như linh ứng hay là một trùng hợp thiêng liêng, chỉ sau một quãng thời gian ngắn, Trung Úy Qúi báo về, đã tìm thấy được mấy cái bè tre của người Thượng Stieng cư ngụ vùng nầy bỏ lại, đang neo đậu bên một lùm cây cổ thụ.

Nhờ vào khả năng bơi lội của người vùng biển Nha Trang, Trung Úy Qúi đã đưa một Tiểu Đội qua sông, và trong sáng kiến chung, những sợi dây rừng, dây ba chạc, dây dù “mưu sinh thoát hiểm” được nhanh chóng kết nối, nhờ vậy mà cả Biệt Đội lần lượt vượt sông nhanh chóng, chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ, trong im ắng nhưng cũng đầy bất trắc có thể xảy ra.

Trong ngày qua, hôm nay và ngay thời điểm này, rất đông đồng bào Tỉnh Lỵ Phước Long, đã liều chết băng qua cây Cầu Thác Mơ, nằm về hướng Đông Thị Xã, bắc ngang sông Dak-Lung. Việt cọng tuy không ra đón đường ngăn chặn đồng bào, nhưng từ nhiều phía, chúng đã rót pháo vào đoàn người chạy giặc, nhiều thường dân không nhanh chân, đã bị chết hay bị thương, không người cấp cứu, nằm lăn lóc trên bờ đường, phía bên này và bên kia cầu. Cũng như ở Quảng Trị, cũng như ở Bình Long năm 1972, Việt cọng đã gây nên ở đây, một “Đại Lộ kinh hoàng” giữa rừng hoang, đem lại thảm khốc cho người dân lành vô tội.

Lẫn lộn trong đám người chạy loạn đó, có một số Quân Nhân, Cán Bộ, Cảnh sát… trong giờ phút này không thể phân biệt được. Họ đã nhập đàn, lũ lượt cùng với Biệt Đội 814, để vạch lá băng rừng chạy thoát giặc cọng.

Suốt đêm, Biệt Đội cứ theo La Bàn nhắm về hướng Đông Đông Bắc mà đi, đi mãi, không ai nghỉ ngơi hay chợp mắt ngủ. Tôi tránh không đi lên hướng Đông Bắc, phía có mật khu Bùi Gia Mập. Đó là phía Cộng quân di chuyển, tiếp tế hoặc tăng viện cho chiến trường Phước Long.

Theo hướng Đông Đông Bắc, đường đi Gia Nghĩa, Bảo Lộc, dẫu sao cũng an toàn, bất ngờ hơn, dù rừng rậm, rất hiểm trở, nhưng hy vọng không phải đụng độ với địch quân. Đồng Bào đang đi theo sau Biệt Đội, nếu có chạm địch, chắc chắn Cộng quân sẽ không ngần ngại khi bắn vào dân chúng, thiệt hại không nhỏ.

Khi mặt trời lố dạng, nhìn vào tấm Bản Đồ thì Biệt Đội đã vượt xa hơn 10 cây số.

Biệt Đội 814 vào trận ngày 4 tháng 1. Phước Long thất thủ hôm qua, ngày 6 tháng 1. Đã một đêm, một ngày trôi qua, tầng số máy PRC.25 truyền tin cứ bị giao thoa, nhiễu sóng, chẳng liên lạc được ai và chẳng ai liên lạc được. Di chuyển suốt cả ngày, chỉ ăn qua loa, cầm chừng bằng gạo sấy, không có nước sôi, không một phút nghỉ ngơi, chợp mắt. Với tình trạng này, đêm nay không cho Biệt Đội lấy lại sức, lỡ bất ngờ tao ngộ chiến, Biệt Đội không còn một chút hơi tàn nào để cầm cự.

Sáng hôm sau, Biệt Đội tiếp tục lên đường. Nhìn lại đoạn đường Biệt Đội đã đi qua, thì Phước Long bấy giờ đã quá mịt mù, xa lắc xa lơ. Rừng núi từ đây tương đối thấp dễ đi, thỉnh thoảng có nhiều con suối nước trong và chảy xiết. Khoảng gần trưa, Biệt Đội vừa băng qua một trảng trống, thì Hạ Sĩ Huệ, truyền tin Biệt Đội, với bộ mặt mừng rỡ, trao ống bồ đàm cho tôi và nói :

– “Đại Úy, Thái Dương đang gọi Đại Úy”.

Đây là lần đầu tiên liên lạc được với cấp Chỉ Huy cao nhất của Liên Đoàn : Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn, sau gần một tuần lễ chiến đấu và bôn tập. Tiếng nói từ Đại Tá đã xoa dịu được phần nào nỗi trầm uất của một đội quân chiến bại, đang trên đường cao bay xa chạy.

Suốt ngày nay, vị Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn không ăn không ngủ. Thất lạc những đứa con: Biệt Đội 811 và 814 cùng Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật, Đại Tá Huấn lo lắng, bồn chồn như ngồi trên đống lửa.

Ông liên tục theo Phi cơ Quan Sát L.19, bay miết trên vòm trời cao của Phước Long, để tìm kiếm cho ra những chiến binh của mình. Hỏa tiễn Việt cọng bắn lên dữ dội, khiến Ông phải dùng L.19 cho được an toàn. Có khi Ông muốn dùng trực thăng, bay thấp hơn, để dễ tìm thấy, nhưng cao xạ phòng không của địch vẫn là mối đe dọa, không thể liều lĩnh được.

Vậy là sau hai đêm, hai ngày, Đại Tá Huấn tìm ra được Biệt Đội 814.

Sau khi chấm tọa độ chính xác vị trí của Biệt Đội đang dừng quân. Theo hướng dẫn của Đại Tá từ trên Phi cơ L.19, Biệt Đội rẽ về hướng chính Đông, lội qua một con suối, đi chừng khoảng nửa cây số thì dừng quân bố trí tại một trảng tranh rộng nằm lọt giữa một khu rừng tre dày đặc.

Không đầy một giờ đồng hồ sau, một đoàn Trực Thăng UH.1B tuần tự đáp xuống, bốc Biệt Đội 814 đưa về Căn cứ Hành Quân tại Suối Máu, Biên Hòa. Tiếp theo sau là số Quân Dân chạy loạn. Tất cả cũng đều được Đại Tá Huấn đưa về Biên Hòa, chuyển giao cho Quân Đoàn III, Phòng Xã Hội chăm sóc.

Khi tôi vừa từ Trực Thăng phóng ra là đã thấy một số đông phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền hình đứng đầy trên bãi. Phước Long mất đã hai ngày nay rồi. Dân chúng Saigon dao động, lo lắng. Bóng ma cọng sản gần kề hơn!!!

Đang bắt tay cùng các chiến hữu, với nét mặt vui tươi, mừng rỡ, chào đón Biệt Đội tôi sống sót trở về từ cỏi chết, thì một cô gái người nhỏ nhắn, mảnh mai, trong bộ trang phục quần Tây dài, áo bốn túi, màu xanh nhạt, bước đến bên tôi, vừa bắt tay vừa tự giới thiệu tên là : “Thục Viên, phóng viên Nhật Báo Sóng Thần, muốn phỏng vấn…”

Tôi chưa kịp nói gì cả, cảm thấy chân tay như rã rời, chỉ thèm được uống một ly cà phê đá, hay một ly soda chanh cho đã cái khát chất chứa trong suốt mấy ngày qua. Nhưng, miễn cưỡng, tôi nghĩ cũng khó mà từ chối trước lời đề nghị nhiệt thành và đầy thân thiện của cô ta. Thế là một hai câu hỏi và trả lời bắt đầu và trôi qua.

Về sau, tình cờ tôi đọc được bài phỏng vấn này trên Nhật Báo Sóng Thần, với lời mở đầu đầy hài tính, nhưng phản ảnh trung thực về cá tính của con người tôi :

“Sau khi Phước Long thất thủ, các đơn vị tham chiến tại đây, trong đó có Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật và hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù đã phải tìm đường thoát nạn. Sau hai ngày hai đêm băng rừng, vượt núi, đơn vị đầu tiên được Đại Tá Phan Văn Huấn tìm thấy và đưa trở về lại căn cứ hành quân trú đóng tại Biên Hòa, đó là Biệt Đội 814 do Đại Úy Lê Đắc Lực chỉ huy.

Đại Úy Lê Đắc Lực, người cao to, có để bộ râu mép đậm dài, tướng đi bệ vệ trông chẳng khác gì một con gấu. Nhưng khi tôi tiếp xúc phỏng vấn thì thấy Đại Úy Lực rất hiền lành, trả lời câu hỏi từ tồn, nhã nhặn, chân tình, nhìn Đại Úy Lực lúc này thì lại giống như một con nai, phản ảnh trái ngược hoàn toàn với tướng dáng con người của Đại Úy Lê Đắc Lực……”

Ngay chiều hôm đó và qua sáng ngày hôm sau, Đại Tá Phan Văn Huấn đã tìm và đưa được Biệt Đội 811, Đại Úy Trương Việt Lâm, cùng Trung Tá Thông, Thiếu Tá Sơn và một số Quân nhân của Bộ Chỉ Huy I Chiến Thuật trở về. Nhưng Liên Đoàn và riêng Đại Tá Phan Văn Huấn, vẫn mang nặng nỗi đau buồn lớn lao khi đã để lại tại chiến trường Phước Long một số xác thân của các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù đã hy sinh, và còn nhiều quân nhân khác vẫn chưa tìm thấy, mà sau này được biết đã bị Việt cọng bắt làm tù binh bao gồm: Trung Úy Đức, Chuẩn Úy Cấp, Chuẩn Úy Phước (BCH.I / CT), Thiếu Úy Long, Chuẩn Úy Bảo, Chuẩn Úy Lịch, Chuẩn Úy Linh (BĐ.811). Mãi cho đến ngày Miền Nam sụp đổ họ mới được trở về, để rồi sau đó không lâu lại phải đi tù “ cải tạo” khổ sai.

*******

Trên bãi Trực Thăng dã chiến, tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu, Biên Hòa, một Nghi Lễ được tổ chức để tưởng thưởng Huy Chương, Cấp Bậc cho hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù và Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật “Bại trận trở về”.

Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, vừa thay thế Trung Tướng Dư Quốc Đống, trong chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III, đứng trước mặt tôi, cầm chiếc Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, dí hai mũi kim vào trên nắp túi áo trái ấn mạnh, kim chạm vào ngực làm hơi buốt nhói, tôi cảm nhận máu đang ứa rỉ bên trong, nhưng đó chỉ là những bụi máu nhỏ so với muôn ngàn dòng máu thắm mà Đồng Đội tôi, Chiến Hữu tôi của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã chảy đổ ra để hiến dâng cho Tổ Quốc, trong suốt chiều dài của cuộc chiến tranh Quốc cộng. Tôi bắt chặt tay Trung Tướng Tư Lệnh, rồi kính cẩn chào trong nỗi xót xa, đau đớn tận cùng.

Và tôi đã khóc, vì tôi cảm thấy chưa hoàn thành sứ mạng : “ Bảo Quốc An Dân ”.

– Mot hop doan truc thang UH1 bat trong lua dan hoang hon .jpg

– Cac chien si LD81BCND chuan bi nhay vao Phupc Long .jpg

– CAC CHIEN SI LD81 BIET CACH NHAY DU PHUC KICH DICH.jpg

– Truc thang đổ quân phi truong TK Phuoc Long .jpg

Dominion Voting Systems đã đâm đơn kiện Fox News ra tòa đòi bồi thường $1.6 tỷ.

  Đúng như dự đoán, Dominion Voting Systems đã đâm đơn kiện Fox News ra tòa đòi bồi thường $1.6 tỷ.

Mặc dù trước đó Fox News đã có làm chương trình đính chính về những tin đồn thất thiệt đã đăng.

Cuộc kiện này dự kiến sẽ còn kéo dài và từng nơi tung tin giả sẽ được gọi tên.

Đã có người quan sát dự đoán Domnion sẽ từng bước tiến tới kiện đảng Cộng hòa và trùm cuối chuyên tung tin giả là cựu tổng thống và cộng sự.

Đây là chiến trường thật sự chứ không phải kiểu như cõi mạng Twtter mà dễ dàng chém gió vù vù cho con nhang lên đồng là phủi tay xong trách nhiệm

Theo lẽ thường, Fox News trước giờ nếu bị kiện thì đội ngũ luật sư của ho (trong đó có một người gốc Việt) sẽ tiến hành đàm phán với nguyên đơn để giải quyết ngoài toà mà không phải tranh tụng chi cả.

Hãy cùng quan sát xem trường hợp này họ có đàm phán thành công hay không. Vì nếu phải hầu tòa, vụ việc sẽ trở nên phức tạp và thu hút sự chú ý hơn.

Nói một cách khác, nếu gặp nhau ở tòa án thì bản chất của Fox News dễ dàng bị phơi bày, mà đã lộ chân tướng thì làm ăn sao được nữa.

Trước đó trong phần bào chữa cho Tucker Carlson, một người dẫn chương trình, luật sư của Fox News đã đưa ra lập luận “có điên mới tin được Carlson”.

Lý lẽ này cũng được “nữ anh thư đội đá vá trời, Đông Ky Sốt hiện đại” Sydney Powell lặp lại để phủ nhận vụ kiện đòi bồi thường $1.3 tỷ của Dominion sau khi thoải mái tung tin vịt.

Tan nát bao nhiêu con tim đã trao gửi cho những tay lừa đảo chuyên nghiệp trong băng đảng quy mô này.

  Oath Keepers đã phối hợp với Proud Boys trước cuộc bạo loạn

  Oath Keepers đã phối hợp với Proud Boys trước cuộc bạo loạn

Kế hoạch thành lập liên minh đã được thảo luận giữa hai nhóm Oath Keepers và Proud Boys trước cuộc bạo loạn ngày 6/1. Trong tài liệu mới do tòa án công bố cho thấy Kelly Meggs, một thủ lĩnh có uy tín của Oath Keepesr ở Florida đã bàn bạc và phối hợp hành động với Proud Boys.

Meggs nằm trong số 10 thành viên và cộng sự của Oath Keepers bị buộc tội âm mưu ngăn chặn việc chứng nhận chiến thắng của Tổng thống Joe Biden.

Vào ngày 19/12/2020, Meggs đã gửi ra thông điệp trên Facebook rằng anh ta “tổ chức một liên minh” giữa Oath Keepers, Proud Boys và Three Percenters (một phong trào chống chính phủ khác) tại Florida. “Chúng tôi đã quyết định làm việc cùng nhau và kết thúc vụ việc này” . Đây là thông tin mà các công tố viên nộp lên tòa để ngăn chặn việc tòa án cho phép Meggs tại ngoại trong khi chờ xét xử.

“Oath Keepers có thể sẽ canh chừng vào ban ngày, nhưng đến đêm khuya chúng tôi đã lên kế hoạch với Proud Boys. Chúng tôi sẽ tuần hành với họ một lúc sau đó lùi lại phía sau đám đông và lủi đi. Sau đó, chúng tôi sẽ để Proud Boys đứng trước mặt họ, cảnh sát sẽ ở giữa antifa và Proud Boys. Chúng tôi sẽ chuồn ra sau antifa và đánh bại họ” – thông tin Meggs đã viết trên mạng xã hội do hồ sơ công bố.

Laura Steele một thành viên khác của Oath Keepers ở North Carolina đã được trả tự do trong khi chờ xét xử. Theo thẩm phán Amit Mehta không có bằng chứng cho thấy Steele đã phá hủy tài sản, hành hung bất kỳ ai tại Điện Capitol. Ngoài ra, Steele cũng không tham gia vào việc tuyển dụng hoặc đào tạo nhân lực như các bị cáo khác trước vụ tấn công.

Ngoài ra tài liệu từ tòa án cũng công bố rất nhiều thông tin liên quan đến cuộc gọi, tin nhắn của Stewart Rhodes – người sáng lập Oath Keepers làm ‘bằng chứng đáng giá’ về âm mưu bạo loạn

Người sáng lập Oath Keepers, Stewart Rhodes, đã có cuộc điện đàm dài 97 giây với một người nào đó đang giúp lãnh đạo đội ngũ các thành viên và cộng sự của Oath Keepers 9 phút trước khi nhóm này qua mặt cảnh sát và phá cửa để tiến vào Điện Capitol hôm ngày 6 tháng 1. Đây được xem như bằng chứng xác thực nhất cáo buộc âm mưu ngăn chặn xác nhận của Quốc hội về cuộc bầu cử tổng thống năm 2020 của các thành viên Oath Keepers và những người khác.

Stewart Rhodes đã tiếp xúc trực tiếp với những kẻ bạo loạn trước và trong khi vi phạm Capitol. Mặc dù Stewart Rhodes đã khẳng định rằng ông không có mặt tại Điện Capitol khi cuộc bao vây bắt đầu. Tuy nhiên hồ sơ từ các cơ quan chức năng đã chứng minh điều ngược lại.

Các công tố viên cáo buộc rằng Rhodes đã chỉ đạo nhóm chống chính phủ cánh hữu biểu tình trong cuộc bạo động đến các bậc thang phía đông nam của Điện Capitol, sau đó một số thành viên đã xâm nhập bất hợp pháp tiến vào phía đông của tòa nhà.

Tin nhắn được khôi phục trong nhóm chat Signal đã mã hóa có ký hiệu “DC OP: Ngày 6 tháng 1” “cho thấy các cá nhân, bao gồm cả những người bị cáo buộc đã âm mưu với [người khác], đang tích cực lên kế hoạch sử dụng vũ lực và bạo lực”. Thành viên của nhóm chat này bao gồm Rhodes và hai thành viên Jessica Watkins (38 tuổi) và Kelly Meggs (52 tuổi) cả hai đều là thủ lĩnh của Oath Keepers ở Ohio và Florida.

Jessica Watkins (38 tuổi) chịu trách nhiệm “tổ chức lực lượng phản ứng nhanh” của Oath Keepers và chiêu mộ những người khác, bao gồm cả Donovan Crowl để chuẩn bị cho hành động bạo loạn. Để chuẩn bị cho điều này, Watkins đã chuẩn bị sẵn vũ khí và giấu ở một số địa điểm rải rác xung quanh thủ đô Washington D.C. Ngoài ra hồ sơ từ các công tố viên nộp lên tòa còn cho thấy các thành viên của nhóm Oath Keepers đã khảo sát các dãy núi ở bang Kentucky để đào hầm và địa đạo, lên kế hoạch phá hoại tiến trình chuyển giao quyền lực cho ông Joe Biden.

Trong tài liệu bổ sung lên tòa ngày 24/3, nội dung trao đổi giữa các bị cáo bị hé lộ cho thấy sau khi cuộc bạo loạn thất bại, Oath Keepers tiếp tục bàn bạc kế hoạch “sơ tán khẩn cấp” để phá hoại tiến trình chuyển giao quyền lực cho Tổng thống Joe Biden.

“Chắc hơn 20 người đang tới vùng núi Kentucky rộng vài trăm mẫu. Chỗ đó có điện mặt trời, mọi thứ đều ổn”, Crowl nhắn. Một người khác, dường như là Watkins, lập tức chỉ đạo lại: “Hãy chọn chỗ cao, đào địa đạo chiến đấu (nhớ phải trên đường nước). Hãy làm giống như cộng sản Bắc Việt và mạng lưới địa đạo của họ”.

Trong hồ sơ bên công tố bổ sung cho tòa hồi ngày 11/2/2021 có đề cập đến việc phối hợp hành động có mục tiêu và có tổ chức của Thomas Edward Caldwell, 66 tuổi, người từng là cựu quan chức FBI, cựu chiến binh Hải quân bị các công tố viên cáo buộc là “nhân vật chủ chốt” trong vụ bạo loạn tại Tòa nhà Quốc hội.

Caldwell là thủ lĩnh Oath Keepers ở Virginia đã gởi tin nhắn cho một thành viên khác của Oath Keepers hôm 23/12/2020, đề cập đến sự phối hợp tổ chức với các nhóm khác (như Proud Boys của North Carolina) và tất nhiên sẽ có 2 xe bus chở người Việt Nam tại địa phương như lần trước “of course the local Vietnamese will probably have at least 2 bus loads like last time”. Chữ “like last time” ở đây được hiểu là cũng như sự kiện trước đó (đó chính là cuộc biểu tình ngày 12/12/2020 của các nhóm người Việt ở DC).

Nói một cách khác là Oath Keepers đã phối hợp với các nhóm người Việt từ trước đó chứ không chỉ cho sự kiện ngày 06/1 không thôi.

Như vậy câu hỏi đặt ra phải chăng bọn chủ mưu, đầu sỏ tổ chức cuộc bạo loạn 06/1 đã có móc nối và lợi dụng các nhóm “local Vietnamese Trump supporters” để làm nền, tạo thêm đám đông ủng hộ. Trước hết là lôi kéo tụ tập ngày 12/12/2020, rồi sau đó tiếp tục giữ liên lạc để chuẩn bị cho kế hoạch quay lại DC vào ngày 06/1/2021.

Câu hỏi đặt ra ai là những người đại diện cho “local Vietnamese Trump supporters” để đứng ra tổ chức tập hợp đồng bào, hẹn hò, lên lịch, địa điểm tập trung ngoài thủ đô rồi đổ về tập trung tại DC? Để tìm được những thông tin này tôi tin rằng không khó, vì các nhóm gốc Việt đã đăng và khoe đầy hình ảnh biểu tình ngày 12/12/2021.

Ai là những người liên lạc, liên hệ để lên lịch với Cadwell và Proud Boys?

Trước đó, cảnh sát người Mỹ gốc Việt, ông Tam Dinh Pham, người có thâm niên công tác 18 năm cũng thừa nhận với tòa án rằng “Joe Biden đã chiến thắng trong một cuộc bầu cử hợp pháp và công bằng”, và luật sư bào chữa cho ông Pham nói rằng ông là một Phật tử thuần thành. Ông Pham chỉ vào bên trong điện Capitol tham quan các công trình lịch sử cùng với những kẻ bạo loạn

P/s: Hình ảnh có tính chất minh họa lượm được trên Internet.

Tin tổng hợp từ Washington Post, The Hill, NPR

You and 52 others
11 Comments
4 Shares
Wow
Wow

 

Comment
Share

Comments

Most Relevant