GP Cần Thơ sẽ tổ chức Thánh Lễ Phong Thánh LM Trương Bửu Diệp năm 2026

Ba’o Nguoi-Viet

December 21, 2025

CẦN THƠ, Việt Nam (NV) – Giáo Phận Cần Thơ, Việt Nam, sẽ tổ chức Thánh Lễ Phong Chân Phước Cố Linh Mục Trương Bửu Diệp vào Thứ Năm, 2 Tháng Bảy, 2026, tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau.

Hôm Thứ Sáu, 19 Tháng Mười Hai, Giám Mục Lê Tấn Lợi, giám mục Giáo Phận Cần Thơ, gởi ra thông cáo cho biết như vậy.

Tượng Linh Mục Trương Bửu Diệp tại văn phòng Truong Buu Diep Foundation, Garden Grove. (Hình minh họa: Facebook Truong Buu Diep Foundation)

“Trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa, Tòa Giám Mục Giáo Phận Cần Thơ hân hoan loan báo một niềm vui trọng đại của giáo phận và của giáo hội tại Việt Nam: Tòa Thánh đã chính thức chấp thuận việc tổ chức Thánh Lễ Phong Chân Phước cho Tôi Tớ Chúa – Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, do đặc sứ của Đức Thánh Cha Leo XIV là Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, quyền bộ trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng, chủ sự,” thông cáo cho biết.

Giám Mục Lê Tấn Lợi cho biết thêm: “Đây là hồng ân đặc biệt Chúa ban cho giáo phận chúng ta, đồng thời là niềm khích lệ lớn lao cho mọi thành phần dân Chúa noi gương Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp trung thành sống đức tin, nồng nàn yêu mến Chúa và tận tâm hy sinh phục vụ tha nhân.”

“Xin toàn thể cộng đoàn dân Chúa hiệp thông trong lời tạ ơn Thiên Chúa, đồng thời sốt sắng cầu nguyện cho công việc chuẩn bị và tổ chức Thánh lễ Phong Chân Phước được diễn ra tốt đẹp và sinh nhiều hoa trái thiêng liêng,” vị giám mục chánh tòa Cần Thơ thêm.

Giám mục kêu gọi: “Tôi tha thiết kêu gọi quý linh mục, tu sĩ nam nữ và anh chị em giáo dân, trong khả năng và trách nhiệm của mình, nhiệt tình cộng tác và chung tay góp phần để việc tổ chức Thánh Lễ Phong Chân Phước Phanxicô Trương Bửu Diệp được sốt sắng, chu đáo và tràn đầy ý nghĩa đức tin.”

Được biết đây là lần đầu tiên có một Thánh Lễ Phong Chân Phước được cử hành tại Việt Nam. 

Thông cáo của Giám Mục Lê Tấn Tới nói về việc tổ chức Thánh Lễ Phong Chân Phước Cố Linh Mục Trương Bửu Diệp. (Hình: Giáo Phận Cần Thơ)

Tiểu sử Linh Mục Trương Bửu Diệp

Theo Vatican News, Linh Mục Trương Bửu Diệp sinh ngày 1 Tháng Giêng, 1897, tại họ đạo Cồn Phước, làng Tấn Đức, nay thuộc ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Thân phụ của linh mục là ông Trương Văn Đặng và thân mẫu là bà Lê Thị Thanh. Năm 1904, sau khi mẹ qua đời, vị linh mục tương lai theo cha sang tỉnh Battambang, Cambodia, sinh sống.

Năm 1909, linh mục vào Tiểu Chủng Viện Cù Lao Giêng, sau đó, tiếp tục tu học tại Đại Chủng Viện Phnom Penh, Cambodia, và được thụ phong linh mục tại thủ đô nước này năm 1924.

Từ năm 1924 đến năm 1927, linh mục được bổ nhiệm làm phó xứ Hố Trư, một họ đạo của người Việt Nam sinh sống tại tỉnh Kandal, Cambodia. Từ năm 1927 đến năm 1929, Linh Mục Trương Bửu Diệp về làm giáo sư tại Tiểu Chủng Viện Cù Lao Giêng.

Từ năm 1930, linh mục được bổ nhiệm làm chánh xứ họ đạo Tắc Sậy, tỉnh Bạc Liêu, nay thuộc xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau.

Suốt 16 năm thi hành sứ vụ, linh mục tận tụy chăm sóc đoàn chiên, đặc biệt yêu thương người nghèo, không phân biệt lương giáo. Giữa thời loạn lạc chiến tranh, dù được khuyên lánh nạn, linh mục vẫn kiên quyết ở lại với giáo dân, khi nói: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên.”

Ngày 12 Tháng Ba, 1946, Linh Mục Trương Bửu Diệp bị Nhật bắt cùng với hơn 70 giáo dân họ Tắc Sậy. Linh mục đứng ra tranh đấu cho dân, đồng thời an ủi những người cùng bị giam. Sau lần thứ ba bị mời đi làm việc, linh mục không trở về. Sau đó vài ngày, giáo dân tìm thấy xác linh mục tại một cái ao, với vết chém sau ót ngang mang tai và thân xác trần trụi như Chúa Giêsu trên thập giá.

Thi hài linh mục được vớt lên và chôn cất trong phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo, Bạc Liêu, đến năm 1969 thì được di dời về an táng tại Tắc Sậy, nơi ngày nay trở thành điểm hành hương của đông đảo tín hữu kính nhớ một vị mục tử đã sống và chết vì đoàn chiên.

Sau khi linh mục qua đời, rất nhiều tín hữu bắt đầu đến kính viếng mộ linh mục, xin linh mục chuyển cầu và nhận được nhiều phép lạ.

Nhà thờ Tắc Sậy ở xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau. (Hình: Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Việt Nam)

Án phong Chân Phước 

Năm 2013, Giám Mục Tri Bửu Thiên, giám mục Giáo Phận Cần Thơ,  mở án điều tra cấp giáo phận, thu thập chứng cứ, lời chứng, và các phép lạ. Hồ sơ được hoàn tất vào năm 2017 và được gửi sang Vatican. Năm 2019, Bộ Tuyên Thánh kết luận điều tra có giá trị để khởi sự án phong Chân Phước.

Ngày 25 Tháng Mười Một, 2024, trong cuộc tiếp kiến dành cho Hồng Y Marcello Semeraro, bộ trưởng Bộ Phong Thánh, Đức Giáo Hoàng Francis cho phép bộ ban hành sắc lệnh nhìn nhận sự tử đạo của Linh Mục Trương Bửu Diệp (bị giết vì sự căm thù đức tin).

Trong thư đề ngày 3 Tháng Mười Hai, gởi đến Linh Mục Cleber Willian Lopes Pombal, thuộc Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ, Tổng Giám Mục Edgar Pena Parra, phụ tá quốc vụ khanh Tòa Thánh Vatican, cho biết, theo ý định của Đức Giáo Hoàng Leo XIV, nghi thức tuyên phong Chân Phước cho Đấng Đáng Kính Tôi Tớ Chúa Phanxicô Trương Bửu Diệp sẽ được cử hành vào vào Tháng Bảy, 2026, như đã nêu ở trên.

Nhà thờ Tắc Sậy 

Theo trang web vietnamtourist.com, nhà thờ Tắc Sậy, hay còn biết đến là nhà thờ Cha Diệp, được xem là một trong những nhà thờ Công Giáo đẹp nhất miền Tây sông nước. Đây cũng là nơi an nghỉ cuối cùng của Linh Mục Trương Bửu Diệp.

Nhà thờ được xây dựng năm 1925 và Linh Mục Trần Minh Kính là chánh xứ đầu tiên, từ Tháng Tám, 1926. Năm 1930, Linh Mục Trương Bửu Diệp là chánh xứ.

Tên Tắc Sậy xuất phát từ đặc điểm địa hình vùng này, có nhiều lau sậy, muốn đi vào nhà thờ phải đi qua một con đường tắt. Do người Nam biến âm “tắt” thành “tắc,” cho nên có tên Tắc Sậy.

Ngày nay, nhà thờ là một trong những điểm hành hương nổi tiếng nhất Việt Nam, thu hút nhiều du khách và giáo dân đến chiêm ngưỡng, dâng lễ, cầu nguyện, và khấn vái,…nhất là trong dịp Tết, những ngày lễ lớn của người Công Giáo, và ngày giỗ Linh Mục Trương Bửu Diệp. (Đ.D.)


 

CHI TIẾT TỪNG GIỜ TRONG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA CHẾ ĐỘ CS LIÊN XÔ – Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo

Giới thiệu: Mikhail Sergeyevich Gorbachev qua đời ngày 30 tháng 8, 2022, sau một cơn bệnh dài, thọ 91 tuổi. Ông là lãnh đạo thứ 8 và cũng là lãnh đạo cuối cùng của Liên Xô. Ngoài chức vụ Tổng Bí Thư, ông còn kiêm chức vụ Chủ tịch Nhà Nước Liên Xô và Chủ tịch Chủ Tịch Đoàn Xô Viết Tối Cao.  Gorbachev được bầu vào chức vụ Tổng Bí Thư đảng CSLX vào tháng 3, 1985. Dưới thời ông, hai chính sách nổi tiếng Glasnost (Cởi mở) và Perestroika (Cải tổ) được giới thiệu vào năm 1985. Sau sáu năm với nhiều thay đổi và xáo trộn, ngày 25 tháng 12, 1991 Gorbachev “ngưng chức”.

Ngày này được đánh dấu là ngày cuối cùng của Liên Xô mặc dù trên thực tế chế độ CSLX đã chấm dứt trước đó khi 15 nước “Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Xô” trong đó có cả Nga tuyên bố độc lập.

Bài viết khá dài này gồm hai phần:

1) Tóm tắt diễn tiến ngày cuối cùng của  Mikhail Gorbachev trong cương vị lãnh đạo Liên Xô.

2) Nhận định của người viết (1) về sự chuyển động không ngừng của xã hội con người đã thúc đẩy các mâu thuẫn có tính triệt tiêu của chế độ CS bộc phát nhanh, (2) Tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và, riêng tại LX, trung ương không giữ được các địa phương đã dẫn tới sự sụp đổ không tránh khỏi của chế độc CSLX.

——

“Merry Christmas!” Một viên chức trong đoàn tùy tùng của Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev chào Ted Koppel và nhóm phóng viên của hãng tin ABC đang đứng chờ trước bậc thềm điện Kremlin. Ted Koppel chào lại nhưng anh chàng Rick Kaplan, phụ tá của Ted Koppel, phản đối, “Với tôi anh phải chúc là Happy Hanukkah mới phải.” Rick Kaplan nói thế chỉ vì anh ta gốc Do Thái. Viên chức Liên Xô không hiểu Hanukkah nghĩa là gì và tưởng là Honecker nên hỏi ngược, “Tại sao tôi phải chào Happy Honecker chứ nhỉ?”

Thật ra, thắc mắc của viên chức Liên Xô không phải là không có lý do. Ngày 25 tháng 12, 1991 không chỉ là ngày cuối cùng của hệ thống CS Liên Xô mà có thể cũng là ngày cuối của Erich Honecker nữa. Tên lãnh tụ CS Đông Đức này bị truy tố tại Đức và được Gorbachev cho phép tỵ nạn chính trị tại Liên Xô. Erich Honecker sợ bị Boris Yeltsin tống cổ về Đức nên hôm qua đã chạy sang tòa đại sứ Chile ở Moscow xin tỵ nạn. Báo chí loan tin sáng hôm đó Erich Honecker vừa xin tỵ nạn chính trị lần nữa nên viên chức trong đoàn tùy tùng Gorbachev liên tưởng đến y khi nghe “Happy Hanukkah.”

Ngày 25 tháng 12 là ngày nhiều tỷ tín đồ Thiên Chúa Giáo trên thế giới kỷ niệm ngày Chúa Jesus giáng trần nhưng tại Moscow, ngày 25 tháng 12, 1991 là ngày chính thức cáo chung của chế độ Cộng Sản. Thật khó tin nhưng đang diễn ra trước mắt nhân loại. Ngày cuối cùng của chế độ CS Liên Xô được tường thuật theo từng giờ trong tác phẩm Moscow, December 25, 1991, the last day of Soviet Union của Conor O’Clery mà người viết tham khảo.

Tối ngày 24

Thời tiết Moscow lạnh xuống gần 0 độ F. Những lớp tuyết dày trên dưới chân tường điện Kremlin là dấu vết của cơn bão tuyết ba ngày trước. Nửa đêm 24 tháng 12, một đoàn hành hương đến cầu kinh dưới chân tháp Thánh Nicholas. Từ khi chính sách Glasnost ra đời, việc tiếp xúc tôn giáo có phần cởi mở. Nhiều đoàn hành hương có cơ hội đến thăm viếng các nhà thờ lớn ở Liên Xô. Phần đông người trong đoàn đến từ Hoa Kỳ. Dù Giáng Sinh theo lịch Julian do Giáo Hội Chính Thống Giáo Nga dùng là ngày 7 tháng Giêng, những người hành hương này muốn đón Giáng Sinh theo lịch Mỹ ở Moscow. Những ngọn đèn cầy được thắp lên trong đêm đông tại quốc gia CS hàng đầu thế giới. Những người hành hương không biết một cách chi tiết những gì sắp xảy ra trên đất nước này trong vài giờ nữa.

Sáng sớm ngày 25

Mikhail Sergeyevich Gorbachev, Tổng Bí Thư đảng CS kiêm Chủ tịch Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết thức dậy sớm. Ông ta ý thức ngay rằng, tất cả những gì ông sắp sửa làm từ bữa ăn sáng do đầu bếp Shura phục vụ và cả biệt điện nguy nga mà vợ chồng ông ta nghĩ trước đó sẽ ở cho đến chết đều sẽ là lần cuối. Chiếc xe đặc biệt ZIL-41047 chờ ông. Hai viên đại tá có khuôn mặt lạnh như tiền ngồi trên chiếc Volga theo sau xe của Gorbachev. Họ không phải là cận vệ nhưng là người mang chiếc cặp trong đó chứa các thông tin tuyệt mật để phát động chiến tranh nguyên tử. Hai đại tá này biết chiều tối nay họ sẽ chào từ biệt Mikhail Gorbachev để phục vụ lãnh đạo Cộng Hòa Nga Boris Yeltsin.

Mikhail Sergeyevich Gorbachev được thế giới ca ngợi như là người đã thổi vào không khí chính trị Liên Xô làn gió mới và được trao tặng giải Nobel Hòa Bình 1990 nhưng trong nước dân chúng đổ hết công phẫn lên ông ta. Tên Gorbachev đồng nghĩa với suy thoái, thất nghiệp, vật giá leo thang, tem phiếu. Người dân thường dĩ nhiên vội biết và cũng không cần biết, Gorbachev là lãnh đạo CS thứ tám và cũng là người kế thừa một gia sản lạc hậu, ung thối từ trong máu của chế độ.

Nhiều câu chuyện cười ở Moscow về thái độ bất mãn của người dân đối với Gorbachev. Ví dụ, trong một tiệm rượu, một người khách đứng dậy bỏ đi, các bạn anh ta hỏi đi đâu, anh chàng đáp đi giết Gorbachev chứ đi đâu, anh ta mở cửa ra đi thật nhưng trở lại ngay, bạn bè hỏi sao giết Gorbachev mà nhanh thế, anh chàng đáp không giết được vì phải sắp hàng dài quá.

9 giờ sáng ngày 25

Mikhail Gorbachev và đoàn tùy tùng đến dinh chủ tịch ở điện Kremlin hơi trễ hơn thường lệ chút ít. Hãng tin Mỹ ABC gồm Ted Koppel và Rick Kaplan có mặt ngay tại chỗ dừng xe. Họ được Gorbachev cho phép tường thuật biến cố lịch sử này. Theo lời kể lại của Ted Koppel, Gorbachev rất trầm tĩnh. Nhân viên làm việc trong điện Kremlin vẫn tới đủ nhưng không có việc nào làm khác hơn là dọn dẹp. Thời khóa biểu tiếp khách trước đây được tính từng phút, hôm đó trống không. Mặc dù theo thỏa thuận, Gorbachev có đến cuối năm để dời ra khỏi điện nhưng thực tế Yeltsin đã tóm thu hết quyền hành và các phương tiện thông tin. Đơn vị phòng vệ điện Kremlin vẫn túc trực nhưng không đặt dưới quyền chỉ huy của Gorbachev mà trực thuộc thẳng Yeltsin. Chiếc điện thoại màu trắng trên bàn làm việc của Gorbachev còn hoạt động nhưng không ai gọi vào.

10 giờ sáng ngày 25

Trong lúc điện Kremlin chìm trong im lặng, Tòa Nhà Trắng Nga lại sôi nổi với hàng loạt chương trình hoạt động trong ngày mới của nền Cộng Hòa. Tòa nhà quốc hội Nga này là biểu tượng của trận chiến chống chế độ toàn trị khi Yeltsin đứng trên xe tăng thách thức đám lãnh đạo CS cực đoan hồi tháng Tám trước đó. Boris Yeltsin lãnh đạo Nga đến văn phòng làm việc. Ông lên văn phòng đặt trên tầng thứ năm bằng cầu thang riêng phía sau. Trên bàn làm việc hàng loạt sắc lịnh chờ ông ký. Một chế độ hình thành bằng máu, dao búa và súng đạn đang được giải thể bằng sắc lịnh. Một trong những sắc lịnh ông phải ký hôm nay là giải tán cơ quan KGB và thay bằng Federalnaya Sluzhba Bezopasnosti gọi tắt là FSB tức Cơ Quan An Ninh Liên Bang Nga. Không chỉ trong ngành an ninh, mật vụ mà cả sắc lịnh về các hí viện, nhạc viện, các viện hàn lâm, trường đại học, viện bảo tàng v.v… từ nay đều trực thuộc Cộng Hòa Nga.

Các cơ quan ngoại giao quốc tế cũng vậy. Bộ trưởng Ngoại Giao Eduard Shevardnadze nổi tiếng thời Gorbachev bị trục xuất ra khỏi nhiệm sở và thay bằng Bộ trưởng Ngoại Giao Nga Andrey Kozyrev. Tại tất cả nhiệm sở ngoại giao khắp các múi giờ trên toàn thế giới, cờ Liên Xô bị hạ xuống và cờ Cộng Hòa Nga ba màu được kéo lên. Nhiều đại sứ vội vã đánh điện cho Yeltsin tuyên bố trung thành. Tòa đại sứ lớn nhất của Liên Xô là tòa đại sứ tại Washington DC với hơn 300 nhân viên thuộc nhiều sắc tộc. Các nhân viên chia thành nhiều nhóm theo sắc dân và tự tuyên bố họ là đại diện cho cộng hòa của họ tại Hoa Kỳ.

Gần 11 giờ sáng Tổng thống Nga Boris Yeltsin qua phòng họp quốc hội Nga ở lầu 1. Tổng cộng 252 đại biểu quốc hội đang tập trung để chứng kiến ngày lịch sử. Nhân dịp này, Boris Yeltsin thông báo tin vui rằng 11 quốc gia cựu Liên Xô trong phiên họp tại Kazakhstan đã đồng ý thành lập Khối Thịnh Vượng chung.

12 giờ trưa ngày 25

Mikhail Gorbachev ăn trưa xong. Phía sau phòng ăn có một phòng nhỏ bỏ trống. Tổng bí thư CS Liên Xô vào, đóng cửa lại và nằm nghỉ. Các phụ tá của ông hớt hải đi tìm. Gorbachev phải có mặt để ký thư từ biệt gởi các lãnh đạo thế giới mà ông có quan hệ tốt. Một danh sách khá dài từ Tổng thống Hoa Kỳ George H. W. Bush cho đến Thủ tướng Anh John Major và cả các ông hoàng như Vua Juan Carlos và Nữ Hoàng Sofia của Spain.

Bài bình luận trên báo Nga buổi sáng hôm đó chẳng tốt lành gì cho lãnh tụ CS Mikhail Gorbachev. Tờ Rossiyskaya Gazeta tiết lộ các cam kết mật Yeltsin dành cho Gorbachev khi về hưu bao gồm số phụ cấp bằng với mức lương hiện nay của ông ta có điều chỉnh theo mức lạm phát, hai chiếc xe riêng và một đoàn tùy tùng 20 người kể cả tài xế và an ninh. Đây là thỏa thuận kín giữa Gorbachev và Yeltsin nhưng đã bị cánh Yeltsin tiết lộ cho báo chí biết. Các báo còn cho rằng Gorbachev đòi hỏi một đoàn phục vụ lên đến 200 người. Thật ra, theo Chernyaev, phụ tá của Gorbachev, ông ta chưa bao giờ đòi hỏi một số lượng nhân viên phục vụ đông như thế. Phe Yeltsin chỉ bịa ra để làm nhục Gorbachev.

4 giờ chiều ngày 25

Gorbachev và phụ tá Andrei Grachev xem lại diễn văn mà 4 giờ nữa ông sẽ đọc và quyết định thay chữ “từ chức” bằng chữ “ngưng các hoạt động” trong chức vụ chủ tịch Liên Bang Xô Viết. Diễn văn được sửa tới sửa lui nhiều lần chung quanh các điểm xung khắc giữa Yeltsin và Gorbachev.

Cũng trong buổi chiều cuối cùng này, Gorbachev gọi điện thoại chào từ giã tổng thống Hoa Kỳ George H. W. Bush.

Buổi điện đàm được truyền hình ABC thu. Gorbachev mở đầu trước bằng gọi một cách thân mật “George thân mến, chúc mừng Giáng Sinh đến anh và Barbara!” và nói tiếp “George, tôi muốn báo anh biết một tin quan trọng. Trước mặt tôi là diễn văn từ nhiệm. Tôi sẽ rời khỏi chức vụ tổng tư lịnh và chuyển giao quyền sử dụng vũ khí nguyên tử sang tổng thống Liên Bang Nga.”

Buổi điện đàm diễn ra trong không khí rất thân mật và tổng thống Hoa Kỳ mời Gorbachev viếng thăm Hoa Kỳ lần nữa. Cả hai đều tránh nhắc tới tên Yeltsin.

Trời đã về chiều. Gorbachev và hai phụ tá thân cận nhất của ông ngồi quanh nhau bên ly cà phê cuối cùng. Cả ba đồng ý, sau khi đọc diễn văn, Gorbachev sẽ ký quyết định từ nhiệm thay vì ký trước như dự tính.

Trong lúc nhấp cà phê, câu chuyện về số phận Nicolae Ceausescu của Romania được nhắc đến. Mặc dù Gorbachev ví Ceausescu như là Hitler của Romania, cả hai đã duy trì một quan hệ lãnh đạo các quốc gia trong khối CS. Chỉ ba tuần trước khi vợ chồng Nicolae Ceausescu bị xử bắn, Gorbachev đã tiếp y tại điện Kremlin. Trong dịp đó Gorbachev khuyên Ceausescu đừng ngại thực hiện các cải cách dân chủ và tiên đoán “đồng chí sẽ còn sống trong dịp hội nghị các lãnh đạo CS Liên Xô và Đông Âu” tổ chức ngày 9 tháng Giêng, 1991. Ngày đó không bao giờ đến và Nicolae Ceausescu cũng đã chết rồi.

7 giờ tối ngày 25

“Kính thưa toàn thể nhân dân,”giọng Mikhail Gorbachev hơi lạc đi vì xúc động, gò má ông rung lên. Trong chốc lát, ông lấy lại bình tĩnh, “Số phận đã quyết định rằng, khi tôi trở nên lãnh đạo đất nước, hiển nhiên đã có những sai trái trầm trọng trong quốc gia này. Chúng ta có đầy đủ mọi thứ, đất đai, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và Tạo Hóa đã ban cho chúng ta trí tuệ và tài năng – Tuy nhiên, mức sống của chúng ta tệ hại hơn nhiều so với các quốc gia kỹ nghệ khác và khoảng cách mỗi ngày rộng thêm. Lý do rõ ràng vì xã hội bị bóp ngặt trong tay của một hệ thống quan quyền được tạo ra để phục vụ một ý thức hệ, và phải chịu gánh nặng chạy đua vũ trang, căng thẳng tột cùng. Tất cả cố gắng để thực hiện các cải cách nửa vời đều lần lượt dẫn đến thất bại. Đất nước không còn hy vọng gì nữa.”

Gorbachev tiếp tục nói về các cải cách ông thực thi từ 1985, dù sao, đã là những viên gạch cần thiết lót lên con đường dẫn đến chế độ dân chủ và theo ông “xã hội đã đạt được tự do, tự do về chính trị và tự do về tinh thần.”Gorbachev chấm dứt diễn văn lúc 7:12 phút tối. Ông nhìn lên ống kính truyền hình và thêm vào câu nữa “Chúc quý vị mọi điều tốt đẹp.”

Tại sao Liên Xô sụp đổ?

Các lý do làm Liên Xô sụp đổ là nguồn thúc đẩy sự nghiên cứu của nhiều sử gia, nhà nghiên cứu, nhà phân tích và vẫn còn đang được nghiên cứu, phân tích. Tuy nhiên, như nhiều người đồng ý, nguyên nhân sâu xa vẫn là (1) những mâu thuẫn có tính triệt tiêu trong bản chất của chế độ CS độc tài toàn trị, (2) sự chuyển hóa không ngừng của xã hội và (3) các nguyên nhân trực tiếp gồm tình trạng tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương.

Mâu thuẫn có tính triệt tiêu của chế độ CS

Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, chế độ CS Liên Xô không thể nào sụp đổ. Sau Thế Chiến thứ Hai, Liên Xô có một đạo quân khổng lồ gồm 500 sư đoàn trong đó có 50 sư đoàn thiết giáp. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh với Mỹ và Tây phương, Liên Xô duy trì một đạo quân từ 3 triệu người đến 5 triệu người. Khoảng thời gian Liên Xô sụp đổ, Liên Xô có 210 sư đoàn với một phần tư là các sư đoàn thiết giáp. Kho vũ khí hạt nhân Liên Xô có 27 ngàn đầu đạn nguyên tử trong đó 11 ngàn đầu đạn có tầm bắn xa đến tận nước Mỹ. Mỗi đầu đạn nguyên tử có thể tàn phá một thành phố của Mỹ.

Bên ngoài hùng mạnh nhưng bên trong, Liên Xô là một cơ chế chính trị chứa đựng các mâu thuẫn nội tại dẫn đến thối rữa. Chủ nghĩa Marx-Lenin đề cao “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” nhưng thật sự từ Cách mạng CS tại Nga, Trung Cộng, Cu Ba, Bắc Hàn, Việt Nam v.v… đều phát xuất từ một nhóm nhỏ cán bộ CS biết vận dụng các lý do lịch sử và bất đồng nhất thời trong xã hội để phát động chiến tranh và sau đó tiếp tục cai trị nhân dân bằng súng đạn, nhà tù, sân bắn. Người dân không có quyền chọn lựa. Mâu thuẫn đối kháng mang tính triệt tiêu nhau giữa chế độ độc tài toàn trị và quyền sống, quyền tự do chọn lựa của con người vì thế đã bắt đầu ngay khi cách mạng CS thành công và sâu sắc dần theo thời gian.

Sự chuyển hóa tri thức xã hội

Như người viết đã có dịp phân tích bài Trung Cộng không đáng sợ, sự chuyển hóa tri thức của xã hội là nguồn lực chính thúc đẩy cách mạng dân chủ tại các quốc gia CS. Nguồn lực đó nhanh hay chậm tùy theo điều kiện mỗi nước nhưng là một tiến trình không thể bị ngăn chặn bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào. Những nguồn đối kháng từ bên trong các nước CS đã âm thầm lớn mạnh chỉ chờ cơ hội là bùng vỡ. Sức sống của đất nước cũng như của xã hội là một dòng chảy không bao giờ ngừng nghỉ, các thế lực cầm quyền độc tài chỉ là những khe đá, có thể làm chậm dòng thác văn minh nhưng không thể nào ngăn chặn được.

Khi nhận thức con người được mở rộng, sự sợ hãi sẽ giảm dần. Điều này thể hiện không chỉ ở người dân Liên Xô lúc đó mà cả các cấp lãnh đạo CS Liên Xô cũng không còn sợ các biện pháp chế tài của trung ương đảng. Chưa bao giờ trong lịch sử đảng CS Liên Xô có một ủy viên bộ chính trị từ chức. Không cần phải tìm hiểu cũng biết điều gì sẽ xảy ra cho Boris Yeltsin nếu ông ta từ chức trong thời kỳ Lenin, Stalin.

Yếu tố chính tác động vào sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống CS tại châu Âu và sẽ diễn ra tại Trung Cộng cũng như Việt Nam chính là nội lực phát xuất từ xã hội, kết quả của các phong trào xã hội và sự chuyển hóa không ngừng của xã hội. Các quốc gia CS còn lại như Trung Cộng, Việt Nam tìm mọi cách để ngăn chặn sự phát triển tự nhiên của văn minh con người, cố tình che đậy, bưng bít thông tin nhưng chỉ làm chậm lại tiến trình cách mạng dân chủ một thời gian ngắn mà thôi. Cuộc chiến tranh xói mòn từng mảnh nhỏ này đang diễn ra từng giờ, từng phút và phần thắng đang nghiêng dần về phía người dân.

Tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương

Thập niên 1970 Liên Xô có vẻ trong vị trí ổn định và có ảnh hưởng quốc tế nhất. Vị trí của Liên Xô lên cao tại Phi Châu, Trung Đông và Á Châu. Tuy nhiên sau cuộc gặp thượng đỉnh Vladivostok giữa Leonid Brezhnev và Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford tình hình bắt đầu đổi khác. Nền kinh tế Liên Xô suy sụp dần vì hơn 30%, nhiều phân tích cho rằng hơn một nửa, ngân sách quốc gia phải đổ vào cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ. Giống như đòn kinh tế Mỹ đang áp dụng hiện nay đối với Vladimir Putin, thập niên 1980, Hoa Kỳ cũng thỏa thuận với Saudi Arabia để giữ giá dầu thấp nhằm đánh vào nền kinh tế sống nhờ xuất cảng dầu khí của Liên Xô.

Gorbachev kế thừa một “sự nghiệp cách mạng” nhưng trong thực tế một gánh nặng của chủ nghĩa độc tài toàn trị kéo dài từ 1917 cho đến tháng 3 năm 1985, thời gian ông được chọn làm tổng bí thư đảng. Cơ chế chính trị trung ương không giữ được các cộng hòa địa phương. Trước Giáng Sinh 1991 vài ngày, 11 nước cộng hòa Xô Viết gồm Ukraine, Liên Bang Nga, Belarus, Armenia, Azerbaijan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Turkmenistan, Tajikistan và Uzbekistan tuyên bố họ không còn là những tiểu quốc trong Liên Bang Xô Viết. Bốn nước Estonia, Lithuania, Latvia, Georgia chọn nghiêng hẳn về phía Tây Phương thay vì theo Nga.

Không có con đường nào khác dành cho các lãnh đạo độc tài CS

Chế độ CS là một chế độ đi ngược dòng phát triển văn minh nhân loại và quyền con người như Mikhail Sergeyevich Gorbachev xác nhận “hệ thống toàn trị đã ngăn chặn một quốc gia để trở nên giàu có và thịnh vượng, hệ thống đó phải bị giải thể.” Điều đó đã xảy ra tại Nga, Đông Âu, Phi Châu và đương nhiên sẽ xảy ra tại Trung Cộng và Việt Nam.

Cách mạng dân chủ là một tiến trình không thể nào đảo ngược. Các lãnh đạo CSVN chỉ có một trong hai chọn lựa, hoặc như Mikhail Gorbachev hoặc như bị lật đổ như Nicolae Ceausescu, Erich Honecker chứ không có chọn lựa thứ ba nào.

Trần Trung Đạo


 

LÒNG THAM VÔ ĐÁY NHƯNG CHỈ CẦN NHỮNG MẨU BÁNH VỤN VẶT

Luân Lê

 Mỗi chúng ta ai cũng có nhu cầu để được sống tốt đẹp và thịnh vượng hơn, nhưng không đồng nghĩa với việc gắng sao cho thoả lòng tham của mình đối với những giá trị của người khác và để làm những điều bất chính. Lòng tham là con đường nhanh nhất dẫn đến tai hoạ và những thảm kịch.

Mới nghe thì có vẻ như đã thấy nhận định này của tôi hàm chứa trong đó đầy những mâu thuẫn và sẽ có nhiều người muốn mắng tôi ngay khi đọc những câu này. Thế nhưng xin nhẫn nại thêm một chút và chúng ta cùng nhau mổ xẻ điều tôi vừa nói.

Chẳng phải gì to tát đâu xa, tôi nói ngay đến việc người ta hành xử với nhau tàn ác còn hơn cả loài cầm thú mà chúng sẵn sàng giết thịt nhau khi có loài nào đó tấn công cái tổ hoặc cướp đi miếng ăn của nó. Có phải gì hiếm hoi đâu, chuyện những người không may mà đi trộm chó, mèo, gà, trâu hay các tài sản khác của người dân ở những vùng quê, người ta phát hiện ra thì những tên trộm cắp kia chỉ có nước chết hoặc thương tật đầy mình. Dân làng xúm vào đánh đập, gậy gộc đủ cả, cứ thế mà nã vào đầu, phang vào chân, tay, mạng sườn kẻ cắp cho đến khi chết. Thế có phải là người ta quyết bảo vệ tài sản của mình đến cùng bằng những hành động vô nhân tính hay không.

Những hành vi ấy quả là man rợ không có đất nước văn minh nào làm thế như dân chúng ta. Thử hỏi luật pháp và chính phủ còn có giá trị gì nữa để mà duy trì và điều chỉnh hành vi con người. Nhìn vào đấy thì thấy rõ là người dân sẽ làm mọi cách kể cả là hung bạo và dãn man nhất để quyết bảo vệ cho được tài sản của mình, dù chẳng phải gì to tát. Hiện trạng này ở các vùng quê thì không thiếu. Vậy có phải là họ đang hành xử không cả bằng thời thực dân, phong kiến? Ngày xưa còn có công đường để kêu quan khi làng xóm mâu thuẫn, bắt được kẻ trộm, cướp thì đều lôi lên quan mà tâu bẩm và xét xử theo luật lệ. Chứ cũng không đến nỗi như bây giờ. Mà một dân tộc tàn ác với nhau như thế có khi nào đất nước văn minh và tốt hơn lên được? Mà nó chỉ làm cho con người ngày càng tàn bạo và coi thường luật pháp hơn thôi, như thế thì cái chính phủ kia cũng bị xem thường chứ đâu có giá trị gì để mà người dân cần đến. Quả là nguy cấp cho một đất nước mà con người sẵn sàng hung khí, hô hào một cách hung hãn để mà hành hạ đồng loại mình. Thật đau đớn và bại hoại hết chỗ nói.

Với chuyện con chó, con trâu đã kinh khủng như vậy. Vậy còn chuyện hôi của khi có người bị tai nạn trên đường, chuyện ngang nhiên nhặt tài sản của người khác mang về sử dụng. Đấy là hành vi khác gì trộm cướp và coi khinh luật pháp đâu. Thế thì quả là loạn lạc thực sự rồi chứ còn phải chờ đợi đến đao binh, bom đạn, chém giết gì mới cho là loạn lạc.

Với cái miếng ăn và tài sản của mình thì bảo vệ bằng được, nhưng sẵn của người khác hở ra là lấy cắp. Mà cũng bởi lối suy nghĩ này nên hầu như là ai cũng tính vào chính phủ để có quyền chức mà tìm cách đục khoét của công, làm giàu cho mình và gia đình. Cứ nhìn vào tệ trạng tham nhũng, sự suy thoái về con người, các cơ sở hạ tầng quốc gia thiếu thốn, sơ sài, yếu kém thì có thể thấy rõ nó là kết quả của việc vơ vét cho đầy túi tham của mình mà không để tâm gì đến việc chung của đất nước… tất cả đều xuất phát từ lòng tham vô đáy mà nên.

Thế nhưng đó chỉ là những cái vụn vặt và nhỏ mọn thôi, chỉ như những mẩu bánh có thể ăn được ngay tức khắc. Còn cái lớn hơn như chuyện chính sách kinh doanh làm ăn, chuyện đánh thuế tiêu dùng, chuyện chèn ép thương nhân, chuyện bị gây phiền hà trong công việc, chuyện bị cướp đoạt tài sản bằng cách tham nhũng ngân khố quốc gia với những con số khổng lồ, mà tất cả những cái đó rất thiết thực đánh vào túi tiền và chất lượng sống, vào điều kiện kinh doanh và cơ hội phát triển của người dân, thì dân chúng lại thờ ơ như chuyện riêng của nhà quan, chẳng màng gì cả, vì người ta không thấy nó bị thiệt hại gì như việc tên trộm, cướp lẻn vào nhà bắt trộm con chó hay dắt trộm trâu, bò của người ta đi mất. Nhận thức của người dân khiến tôi lo lắng tới những hậu họa khôn lường, vì nếu một lúc nào đó họ không thể lao động đủ để đóng thuế, sông hồ và không khí ô nhiễm, thực phẩm độc hại, bệnh viện thì tăng giá, giáo dục thì nâng học phí, lộ phí đi đường và xăng, dầu, điện, nước cứ leo thang. Thế thì họ định sống thế nào và làm gì để mà trả cho những thứ đó hay lại nhăm nhăm để cướp giật của người khác?

Mà cũng vì cái lòng tham vô đáy nhưng lại dễ thỏa mãn bằng những cái nhỏ nhặt này của người Việt mà các quốc gia khác lợi dụng điểm yếu đó để khai thác và bóc lột chúng ta từ tài nguyên thiên nhiên đến trí tuệ và sức người. Họ chỉ cần rót cho ít vốn vào làm ăn, đầu tư, hoặc cho vay với lãi suất thấp, chuyển giao công nghệ giá rẻ (mà có nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, độc hại với con người, năng suất thấp, vận hành tốn kém và lại mau hỏng), cam kết vài điều khoản mà có vẻ như có lợi cho chính phủ, cho người dân bằng cách chia ít lợi nhuận hoặc chia sẻ quyền lợi kinh tế, thế là làm ráo, làm tuốt và làm nhanh cật lực. Bởi thế mà chúng ta cứ bị bóc lột sau khi đã bị dụ dỗ và mua chuộc bằng ít lợi ích cho thỏa cái lòng tham của mình. Đây chính là vấn đề lớn của dân tộc mà chúng ta phải nhận ra và thay đổi, nếu không thì chúng ta sẽ luôn bị mua chuộc và lợi dụng để cho người khác làm ăn mà thôi.

Quốc gia nào mà xây dựng bằng lòng tham, thì quốc gia đó sẽ sụp đổ bởi những mẩu bánh mỳ.

Bởi vậy tôi mới nói, đa phần người dân thì lòng tham vô đáy, nhưng chỉ cần những mẩu bánh vụn vặt để no cái bụng và ấm cái thân là đã đủ rồi, chẳng cần gì khác cả. Quốc gia lụn bại và suy vong cũng từ đây mà ra.

(Trích: MỘT NGƯỜI QUỐC DÂN)


 

Đan Mạch Nổi Giận Vì Đặc Phái Viên Mỹ Muốn “Biến Greenland Thành Một Phần Của Mỹ”

Ba’o Dat Viet

December 23, 2025

Căng thẳng ngoại giao giữa Mỹ và Đan Mạch bất ngờ bùng lên khi Copenhagen triệu tập đại sứ Mỹ hôm 22.12 để phản đối việc Tổng thống Donald Trump bổ nhiệm Thống đốc Louisiana Jeff Landry làm đặc phái viên tại Greenland – và đặc biệt là tuyên bố gây sốc rằng ông muốn “biến Greenland thành một phần của Mỹ”.

Trên Truth Social, Tổng thống Trump nhấn mạnh Greenland có “tầm quan trọng thiết yếu” đối với an ninh quốc gia Mỹ, không chỉ cho Washington mà còn cho các đồng minh và “cả thế giới”. Từ khi trở lại Nhà Trắng hồi tháng 1, ông Trump liên tục đề cập khả năng tăng cường sự hiện diện của Mỹ tại Greenland – thậm chí không loại trừ sử dụng vũ lực để bảo vệ lợi ích tại hòn đảo giàu tài nguyên chiến lược này, theo AFP.

Ngay trong ngày được bổ nhiệm, Jeff Landry đăng trên X một tuyên bố đầy khiêu khích: “Thật vinh dự khi phục vụ để biến Greenland thành một phần của Mỹ.”

Lời tuyên bố này lập tức khiến giới lãnh đạo Đan Mạch phẫn nộ. Ngoại trưởng Lars Lokke Rasmussen cho biết ông “vô cùng tức giận”, khẳng định Washington phải tôn trọng chủ quyền của Đan Mạch và Greenland. Không lâu sau, Bộ Ngoại giao Đan Mạch triệu tập đại sứ Mỹ để yêu cầu làm rõ. “Chúng tôi đã vạch ra một lằn ranh đỏ rất rõ ràng,” ông Rasmussen nói với Đài DR, cho biết cuộc họp có sự tham dự của đại diện Greenland.

Nhà lãnh đạo Greenland Jens-Frederik Nielsen cùng Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen tuyên bố chung: “Không thể sáp nhập một quốc gia khác. Chúng tôi yêu cầu tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ.”

Trong thông điệp gửi người dân Greenland, ông Nielsen nhấn mạnh việc Mỹ bổ nhiệm đặc phái viên không thay đổi hiện thực chính trị: “Chúng ta sẽ tự quyết định tương lai của mình. Greenland thuộc về người Greenland.”

Liên minh châu Âu lập tức lên tiếng ủng hộ Copenhagen. Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen và Chủ tịch Hội đồng châu Âu Antonio Costa khẳng định chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là nguyên tắc cốt lõi của luật pháp quốc tế, đồng thời tuyên bố EU “hoàn toàn đoàn kết với Đan Mạch và người dân Greenland”.

Greenland từ lâu là tâm điểm cạnh tranh chiến lược nhờ vị trí địa lý độc nhất: nằm trên tuyến đường ngắn nhất của quỹ đạo tên lửa giữa Nga và Mỹ, sở hữu trữ lượng đất hiếm lớn chưa khai thác và trở nên quan trọng hơn khi băng Bắc Cực tan, mở ra các tuyến hàng hải mới. Mỹ hiện duy trì căn cứ không quân Pituffik tại Greenland và đã mở lãnh sự quán trên đảo từ năm 2020.

Mặc dù Tổng thống Trump từng nhiều lần bày tỏ tham vọng “mua” Greenland – điều mà Đan Mạch từng gọi là “điên rồ” – lãnh đạo của cả Đan Mạch lẫn Greenland đều tái khẳng định rằng hòn đảo này “không phải để bán” và tương lai của nó sẽ do người Greenland quyết định.

Động thái mới của ông Trump và phát biểu của đặc phái viên Jeff Landry vì thế bị xem là bước leo thang gây tổn hại quan hệ đồng minh, đồng thời khiến châu Âu cảnh giác trước ý định mở rộng ảnh hưởng của Washington tại Bắc Cực.


 

Cảm nghiệm của đời mình sau 21 năm bị Stroke va`o đu’ng 24.12.2004

From: thunnguyen

Subject:  21th Anniversary- Recovery from catastrophic stroke on December 24th, 2004 

May God bless you FULL OF GRACE !!!

Cảm nghiệm của đời mình sau 21 năm bị Stroke va`o đu’ng 24.12.2004

Anh Thụ đã gởi gấm cho chúng ta về Lòng yêu thương của Thiên Chúa. Chúa đóng cửa này thì Chúa cũng mở ra cửa khác cho chúng ta sống chứ Chúa không để chúng ta phải quá sức chịu đựng, và dân gian ta thường nói “tái ông mất ngựa”. Xin cám ơn anh Thụ và mời quý độc giả…Anh Phung

21 năm về trước, vào ngày Giáng sinh 24/12/2004 tại Northern Virginia, con/tôi bị stroke vào nhà thương cấp cứu, ICU/hospital. Hôm đó, con/tôi đi công tác ở Vancouver, Canada và Seattle, WA về đến Washington D.C trời xuống -36 độ lạnh. Lúc con/tôi đi trời ấm như mùa xuân, lúc về buốt lạnh mùa đông. Từ terminal xe bus đưa tôi ra parking lot, không ngờ xe bus đưa tôi ra lộn parking lot. Một tiếng rưỡi lội bộ đi tìm xe dưới nhiệt độ trừ 36 độ âm nhưng tôi không có áo lạnh. Kết quả, tôi bị stroke sau 1-2 với cái shock bất ngờ đó. Một cái stroke rất là nặng tưởng chết, nhưng Chúa và Đức Mẹ đã cứu tôi và cho tôi sống lại một cuộc sống gần gũi với Chúa và Đức Mẹ hơn và được làm nhân chứng cho Chúa.

Biến cố đó, gia đình và người thân và bạn bè đã đến thăm và care cho tôi nhiều lắm. Bố Mẹ và một số người thân, Mot 26 nguoi đã hũy bỏ chuyến đi đến Indonesia/Malaysia/Thailand để chăm sóc cho tôi. Một ngày rưỡi sau, là biến cố Tsunami làm cho 330,000 người đã bỏ mạng ở vùng Indonesia/Malaysia/Thailand, nhưng gia đình tôi đã được Chúa và Đức Mẹ cứu sống, và tôi từ dạo đó tôi chiêm niệm sống gần gũi với Chúa và Đức Mẹ.

Tạ ơn Thiên Chúa đã cứu tôi và gia đình tôi. Tôi bị câm không nói được vài tháng, nhưng rồi trong một buổi sáng Mai đã cùng tôi cầu nguyện để xin Sáng Danh Chúa, xin Chúa cho tôi được nói lời ca ngợi Chúa. Và Chúa đã nhận lời, cho tôi lần đầu tiên bật lại tiếng là Kinh Lạy Cha và Kính Kính Mừng và tôi đã ca ngợi Chúa và Đức Mẹ đọc hết Chuỗi Mân Côi trong buổi sáng đó, và mỗi ngày từ đó về sau. 40 ngày nằm nhà thương như là mầu nhiệm được vào sa mạc 40 ngày với Chúa.

Ba tháng sau khi bị stroke, tôi đã lập ra một đường dây để thông đạt với các Cha, các Soeurs, các Thầy, các Bác và các Anh Chị thân mến… 20 năm rồi có Ngọc Nga, Kim Hà, Chị Kim Nga, A Roger Phung, A Pham Trung, A Cao Tan Tinh, và các Cha Sáng Lập và Anh Chị Em 

Xin các Đức Giám Mục, các Cha, Thầy, các Soeurs, các Bác và Bố Mẹ, gia đình, người thân và tất cả mọi người cho chúng con/tôi được cám ơn, nhầm ngày kỷ niệm 20 năm tôi bị stroke, tận đáy lòng chúng tôi… một tình yêu mà Thiên Chúa cho kết hiệp.

Xin chúc các Đức Giám Muc, các Cha, các Thầy, các Soeurs, các Bác và Anh Chị đầy Hồng Ân Chúa Cứu Thế và tiếp tục hành trình sống với Chúa.

We thank God for you and your family. We pray for you always.!

 MERRY CHRISTMAS 2025 AND HAPPY NEW YEAR 2026!

Happy New year to you and your family.

1/ Andrea Bocelli – The Lord’s Prayer (Live From The Kodak Theatre, USA

 https://youtu.be/u8jImIjg4UY?si=Yf8ecD9Vu2ac5hk1

 2/ Silent Night – Andre & Rieu

 https://youtu.be/RDpWkBi-cr4

 3/ O Holy Night by Celine Dion

https://youtu.be/Y1oLk54R5Xg

 We wish you a Merry Christmas

 https://www.facebook.com/share/r/181BzBjfqE/

 Chỉ có một thứ hạnh phúc trên đời này, đó là yêu thương và được yêu thương ~ George Sand 

MÙA GIÁNG SINH HỒNG ÂN- AN BI`NH-

 Mùa Giáng Sinh tràn đầy Hồng Ân Chúa Cứu Thế và tiếp tục hành trình sống với Chúa.

 Bảo Trọng,

Thụ & Mai

KHÔNG AI TRONG SỐ HỌ ĐÃ HÔ “VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG MUÔN NĂM” – (Fb Trần Trung Đạo)

Đặng Minh Tâm

 KHÔNG AI TRONG SỐ HỌ ĐÃ HÔ “VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG MUÔN NĂM”

(Fb Trần Trung Đạo)

Ngày 25 tháng 12, 1927 là ngày thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, một tổ chức chính trị quy tụ đông đảo người Việt yêu nước với chủ trương “Làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam Độc lập Cộng hòa.”

Hội nghị đại biểu toàn quốc ngày 26 tháng 1, 1930 quyết định cuộc khởi nghĩa cả nước sẽ nổ ra vào đêm 9 rạng ngày 10 tháng 2, 1930. Tuy nhiên, vì gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức và Pháp có thể đã biết ngày nổi dậy, đảng trưởng Nguyễn Thái Học quyết định dời ngày khởi nghĩa sang đến 15 tháng 2, 1930.

Nhiều nơi không nhận được tin nên vẫn bắt đầu vào đêm 9 tháng 2 hay như trường hợp Nguyễn Khắc Nhu chỉ huy cuộc khởi nghĩa ở Hưng Hóa và Lâm Thao vẫn quyết định tiến hành.

Khi thất bại, Xứ Nhu tức Nguyễn Khắc Nhu tự sát bằng lựu đạn nhưng không chết. Địch băng bó vết thương và khiêng ông về nhà lao Hưng Hóa. Trên đường giải về nhà lao Nguyễn Khắc Nhu nhảy xuống sông tuẫn tiết nhưng cũng được vớt lên. Ngày 11 tháng 12, 1930, vì tay chân bị xích, Nguyễn Khắc Nhu phải tự sát lần nữa bằng cách đập đầu vào tường, ông vỡ đầu và hy sinh vì dân tộc.

Các nơi khác, nói chung cuộc khởi nghĩa thất bại và nhiều lãnh tụ đảng đã hy sinh, tự sát, hàng trăm người bị kết án chung thân và 62 người bị kết án tử hình.

Trong tác phẩm Vụ Án Việt Nam Quốc Dân Đảng 1929-1930 của tác giả Cẩm Đình, xuất bản năm 1950 viết lại khá đầy đủ chi tiết biên bản các buổi xử án của Hội đồng Đề hình Pháp xử các đảng viên VNQDĐ suốt hai năm từ 1929 đến 1930. Những đảng viên VNQDĐ chống án, nhận án, phủ nhận hay công khai nhận trách nhiệm đều được ghi rõ.

Hầu hết trong số lãnh đạo của Việt Nam Quốc Dân Đảng thời kỳ thành lập đều còn rất trẻ như Nguyễn Thái Học 28 tuổi, Phó Đức Chính 23 tuổi, Nguyễn Ngọc Sơn 27 tuổi, Nguyễn Thế Nghiệp 24 tuổi, Hoàng Phạm Trân tức Nhượng Tống 22 tuổi, Nguyễn Thị Giang tức Cô Giang 24 tuổi, Nguyễn Thị Bắc tức Cô Bắc mới 22 tuổi, Đoàn Trần Nghiệp tức Ký Con cũng chỉ mới 22 tuổi v.v..

Trong suốt thời gian dài xử án, nhiều trường hợp cảm động nói lên tình yêu nước ngay cả lúc đứng trước vành móng ngựa.

Nguyễn Thái Học tuyên bố: “Tôi nhận cả trách nhiệm trong những cuộc biến động vừa rồi. Chính tôi đã chủ trương cuộc biến động ở Yên Bái, cũng chính tôi đã chủ tọa cuộc hội nghị ở Lạc Đạo. Chỉ có tôi mới là tay chính trong các cuộc biến động.”

Học sinh Trịnh Văn Yên, 16 tuổi, trả lời khẳng khái anh gia nhập VNQDĐ lúc 14 tuổi để “đánh đuổi đế quốc chủ nghĩa Pháp”.

Đoàn Thị Ái, khi luật sư Mayet biện hộ rằng bà chỉ theo đảng vì tình cảm riêng tư dành cho người yêu vốn đã là đảng viên VNQDĐ, bà đứng lên phủ nhận và cho rằng bà gia nhập đảng chỉ vì “thương nước Việt Nam” chứ không phải vì tình yêu trai gái.

Nhiều người như Nguyễn Xuân Huân, Nguyễn Văn Lân, Nguyễn Tấn Tuất không cho phép các luật sư người Pháp biện hộ giùm.

Tối 16 tháng 6, 1930, chuyến tàu đêm đưa đảng trưởng Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí lên Yên Bái để hành hình.

Theo tác giả Hoàng Văn Đào trong tác phẩm “Từ Yên Bái Đến Các Ngục Thất Hỏa-Lò, Côn-Nôn, Guy-An”: “Trong chuyến xe lửa bí mật, riêng biệt khởi hành từ Hà Nội lên Yên Bái, các tử tù cứ hai người còng làm một, trò chuyện ở toa hạng tư trên một lộ trình dài 4 tiếng đồng hồ. Cùng đi với các tội nhân còn có thanh tra sở mật thám Pháp, hai cố đạo người Âu là Linh mục Mechet và Dronet. Máy chém di chuyển theo cùng chuyến xe. Đao phủ thủ phụ trách buổi hành quyết là Cai Công. Cuộc hành quyết khởi sự vào lúc 5 giờ kém 5 phút sáng ngày 17.6.1930 trên một bãi cỏ rộng với sự canh phòng cẩn mật của 400 lính bản xứ. Xác chết 13 người chôn chung dưới chân đồi cao, bên cạnh đồi là đền thờ Tuần Quán, cách ga xe lửa độ một cây số.”

Tác giả Louis Roubaud in trong cuốn sách Việt Nam, xuất bản 1931, được trích dẫn khá nhiều, viết về cuộc khởi nghĩa Yên Bái và những diễn biến tại pháp trường. Ngay ở trang đầu Roubaud đã viết: “Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam! 13 lần tôi nghe tiếng hô này trước máy chém ở Yên Bái. 13 người bị kết án tử hình đã lần lượt thét lên như vậy cách đoạn đầu đài hai thước”. Tác giả cũng viết về nhà cách mạng Nguyễn Thái Học: “Anh mỉm miệng cười, cực kỳ bình thản, đưa mắt nhìn đám đông công chúng và cúi đầu chào đồng bào rồi cất giọng đĩnh đạc, trầm hùng mà hô lớn: “Việt Nam vạn tuế”. Cô Giang, vợ chưa cưới của Nguyễn Thái Học, cũng có mặt trong đám đông.”

Vài hôm sau Ngày Tang Yên Báy, ngày 17 tháng Sáu năm 1930, bức hình mười ba chiếc đầu của các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng vừa bị chém còn phơi trên bãi cỏ được đăng trên báo Pháp. Chiếc đầu được đánh dấu tròn được tờ báo ghi chú “đây là đầu của Nguyễn Thái Học.”

Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và 12 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng đã dành hơi thở cuối cùng của đời mình trên mặt đất này để gọi tên hai tiếng Việt Nam trước khi bị chém.

Như hai tác giả Louis Roubaud và Hoàng Văn Đào viết, không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”.

Đó cũng là điểm khác biệt chính giữa các đảng cách mạng thật sự chiến đấu vì tự do, độc lập của dân tộc và đảng CSVN.

Với những người yêu nước chân chính, đảng cách mạng chỉ là chiếc ghe để đưa dân tộc Việt Nam qua sông trong khi với Đảng Cộng sản chiếc ghe lại chính là dân tộc.

Hôm nay, sở dĩ đảng CS ca ngợi lòng yêu nước của Nguyễn Thái Học chỉ vì ông đã hy sinh, tuy nhiên, nếu ông còn sống và tiếp tục lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng trong giai đoạn 1945, số phận của Nguyễn Thái Học cũng giống như Bùi Quang Chiêu, Trương Tử Anh, Khái Hưng, Phạm Quỳnh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Thế Nghiệp và hàng ngàn người Việt Nam yêu nước bị CS giết mà thôi.

Nguyễn Thái Học khi sống là Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng nhưng khi chết đã chết như bao nhiêu thanh niên yêu nước khác, thư thái ngâm những vần thơ tuyệt mệnh “Chết vì tổ quốc, chết vinh quang, lòng ta sung sướng, trí ta nhẹ nhàng”.

Chàng thanh niên Việt Nam Nguyễn Thái Học mới 28 tuổi.

Lịch sử mang tính thời đại và tính liên tục. Mỗi thế hệ có một trách nhiệm riêng, nhưng dù hoàn thành hay không, khi bước qua thời đại khác, vẫn phải chuyển giao trách nhiệm sang các thế hệ lớn lên sau.

Sức đẩy để con thuyền dân tộc vượt qua khúc sông hiểm trở hôm nay không đến từ Mỹ, Anh, Pháp hay đâu khác, mà bắt đầu từ bàn tay và khối óc của tuổi trẻ. Lịch sử Việt Nam đã và đang được viết bằng máu của tuổi trẻ Việt Nam.

Dưới đây là bài thơ của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy viết để tưởng niệm những liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Yên Báy.

NGÀY TANG YÊN BÁY

(Kính tặng hương hồn những liệt sĩ đã bỏ mình trong cuộc khởi nghĩa Yên Báy)

Tác giả: Gs Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy

Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!

Trong bình minh sương lạnh phủ âm thầm.

Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt.

Toan lay tỉnh cả toàn dân nước Việt.

Gió căm hờn rền rĩ tiếng gào than.

Từ lưng trời, sương trắng rủ màn tang.

Ánh mờ nhạt của bình minh rắc nhẹ

Trên Yên Báy âu sầu và lặng lẽ,

Giữa mấy hàng gươm súng toả hào quang,

Mười ba người liệt sĩ Việt hiên ngang

Thong thả tiến đến trước đài Danh Dự:

Trong quần chúng đứng cúi đầu ủ rũ,

Vài cụ già đầu bạc lệ tràn rơi

Ngất người sau tiếng rú: Ối con ơi!

Nét u buồn chợt mơ màng thoáng gợn

Trên khoé mắt đã từng khinh đau đớn

Của những trang anh kiệt sắp lìa đời,

Nhưng chỉ trong giây phút vẻ tươi cười

Lại xuất hiện trên mặt người quắc thước.

Đã là kẻ hiến thân đền nợ nước,

Tình thân yêu quyến thuộc phải xem thường,

Éo le thay! muốn phụng sự quê hương

Phải dẫm nát bao lòng mình kính mến.

Nhưng này đây, phút thiêng liêng đã đến.

Sau cái nhìn chào non nước bi ai,

Họ thản nhiên, lần lượt bước lên đài

Và dõng dạc buông tiếng hô hùng dũng.

“Việt Nam muôn năm!” Một đầu rơi rụng,

“Việt Nam muôn năm!” Người kế tiến lên.

Và Tử Thần kính cẩn đứng ghi tên

Những liệt sĩ vào bia người tuẫn quốc,

Sau Đức Chính, đây là phiên Thái Học,

Anh nghiêng mình trước xác những anh em,

Rồi mĩm cười, Anh ngảnh mặt nhìn xem

Những kẻ đến quan chiêm đoàn liệt sĩ

Để từ biệt những bạn đồng tâm chí.

Tiếng tung hô bổng nổi, vang trời cao,

Nhưng liền theo Anh đã bị xô vào

Chiếc gươm máy giăng tay chào, lặng lẽ.

Đao xuống, đầu rơi, máu đào tung toé.

Người anh hùng nước Việt thôi còn đâu!

Lũ thực dân giám sát đứng nhìn nhau

Như trút sạch hết những đìều lo ngại

Và xoa tay chúng thở dài khoan khoái,

Trong rừng người ứa lệ, Nguyễn Thị Giang

Nén nỗi đau như cắt xé can tràng

Đứng ngơ ngác lặng người bên Hữu Cảnh.

Trong nắng sớm, gió căm hờn quát mạnh

Như thề cùng những tử sĩ anh linh

Vang dội cùng trên đất Việt điêu linh

Những tiếng thét uy hùng vì giống Việt.

Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!

Như tan trong gió mạnh khóc vang rầm

Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt

Cố lay tỉnh cả toàn dân nước Việt.

Thân anh hùng đã nát dưới ngàn cây

Nhưng tiếng hô còn phảng phất đâu đây,

Mười lăm năm sau ngày sầu Yên Báy,

Toàn thể giống Tiên Rồng cùng đứng dậy,

Cố đuổi loài tham bạo khỏi non sông,

Hơn hai năm đất Việt máu pha hồng

Mà chiến sĩ vẫn một lòng cương quyết

Thề tranh đấu đến khi nào nước Việt

Được hoàn toàn độc lập mới ngừng tay.

Thế là dòng máu vọt dưới trời mây

Một buổi sáng mười lăm năm về trước

Đã vẽ được cảnh anh hùng nguyện ước.

Đưa non sông ra khỏi chốn u trầm

Cả toàn dân nước Việt đến muôn năm

Vẫn ghi tạc trong tâm ngày hôm ấy,

Ngày hôm ấy, ôi! ngày tang Yên Báy!

Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!

Xé nát màn sương lạnh phủ âm thầm,

Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt

Đã lay tỉnh cả toàn dân nước Việt.

(Đằng Phương, Hồn Việt, NXB Đuốc Việt, Sài Gòn, 1950)

Những ai đã chết vì sông núi

Sẽ sống muôn đời với núi sông.

(Trần Trung Đạo)

Trần Trung Đạo

Ảnh pháp trường Yên Báy 17 tháng 6 năm 1930

(Ảnh sưu tầm)


 

CHIẾN ĐẤU VỚI CẢ THẾ GIỚI TRONG NHỮNG NGÀY CUỐI ĐỜI

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân

CHIẾN ĐẤU VỚI CẢ THẾ GIỚI TRONG NHỮNG NGÀY CUỐI ĐỜI

Bà đang chết dần vì căn bệnh ung thư đã di căn vào xương – nhưng những tập đoàn hóa chất đang tìm cách hủy hoại danh tiếng của bà không hề hay biết điều đó. Và bà đã sắp xếp để họ không bao giờ được biết.

Vào những năm 1950 tại Mỹ, người ta tôn sùng một loại “thuốc tiên” gọi là DDT. Loại thuốc trừ sâu này được hứa hẹn sẽ chấm dứt nạn đói và diệt trừ bệnh tật. Người ta phun nó ở khắp nơi: trên đồng ruộng, trong công viên nơi trẻ em chơi đùa. Các quảng cáo hô hào: “Sống tốt hơn nhờ hóa chất”.

Nhưng Rachel Carson, một nhà sinh vật học biển, đã nhận ra một điều mà các quảng cáo không hề nhắc tới: Lũ chim đang biến mất.

Cuộc chiến chống lại những “gã khổng lồ”

Rachel không phải là một nhà hoạt động chính trị. Bà là một nhà khoa học điềm tĩnh, yêu đại dương. Nhưng khi thấy những đàn chim chết hàng loạt, cá biến mất khỏi dòng sông và những người nông dân đổ bệnh kỳ lạ, bà biết mình không thể im lặng.

Bà phát hiện ra sự thật kinh hoàng: DDT không hề tự phân hủy. Nó tích tụ và ngấm sâu vào chuỗi thức ăn, gây ung thư, hủy hoại gen và làm sụp đổ cả hệ sinh thái.

Suốt 4 năm, bà dồn hết tâm sức viết cuốn sách “Mùa xuân vắng lặng” (Silent Spring). Cái tên đầy ám ảnh: Một mùa xuân mà không còn tiếng chim hót, vì lũ chim đã chết sạch.

Bí mật đau đớn

Năm 1960, khi đang viết dở cuốn sách, Rachel phát hiện mình bị ung thư vú thể ác tính. Bà phải phẫu thuật, rồi xạ trị. Căn bệnh di căn vào hạch rồi vào xương. Những đợt điều trị khiến bà kiệt sức, buồn nôn, nhiều lúc không thể cầm nổi bút.

Nhưng bà không nói cho ai biết.

Bà hiểu rằng nếu các tập đoàn hóa chất biết bà đang bị ung thư, họ sẽ dùng nó để tấn công bà. Họ sẽ nói bà là kẻ “hysteria”, là người đàn bà bệnh tật nên suy nghĩ không tỉnh táo, rằng nghiên cứu của bà chỉ là sự sợ hãi vô căn cứ của một kẻ sắp chết.

Thế là, trong khi âm thầm chiến đấu giành giật sự sống trong phòng bệnh, bà vẫn xuất hiện đầy bản lĩnh trước công chúng để chiến đấu cho sự sống của chim chóc, cá tôm và con người.

Chiến thắng của sự thật

Cuốn sách xuất bản năm 1962 đã gây ra một cơn địa chấn. Các đại gia ngành hóa chất như Monsanto, DuPont tuyên chiến với bà. Họ đổ hàng triệu đô la vào truyền thông để bôi nhọ bà là “kẻ cổ hủ muốn đưa thế giới về thời kỳ tăm tối”.

Rachel vẫn đứng vững. Bà xuất hiện trên truyền hình, điềm tĩnh và đầy sức thuyết phục. Bà ra điều trần trước Quốc hội Mỹ. Dưới tác động từ cuốn sách của bà, Tổng thống Kennedy đã ra lệnh điều tra. Dư luận bắt đầu thức tỉnh và đặt câu hỏi: Chúng ta đang phun cái gì lên thức ăn của mình thế này?

Di sản còn mãi

Rachel Carson qua đời năm 1964, ở tuổi 56, chỉ hai năm sau khi cuốn sách ra đời. Bà không sống đủ lâu để thấy DDT bị cấm chính thức hay sự ra đời của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA).

Nhưng nhờ có bà, những con đại bàng đầu hói đã được cứu khỏi bờ vực tuyệt chủng. Nhờ có bà, phong trào bảo vệ môi trường hiện đại mới thực sự bắt đầu. Mỗi khi chúng ta nói về thực phẩm sạch hay bảo vệ thiên nhiên, Rachel Carson vẫn luôn ở đó.

Bà có thể dành những năm cuối đời để nghỉ ngơi trong yên bình. Nhưng bà đã chọn đối đầu với những thế lực quyền lực nhất hành tinh, dù biết mình sẽ bị tấn công tàn nhẫn, chỉ vì bà tin rằng: “Ai đó phải nói ra sự thật.”

Và bà đã nói, cho đến hơi thở cuối cùng. Nhờ giọng nói ấy, mùa xuân của chúng ta vẫn còn tiếng chim ca.

Vầng Sáng Lịch Sử

#anhchiquandiemcanhan


 

CHU TỬ: NHÀ VĂN, NHÀ BÁO, NHÀ GIÁO, NGƯỜI VƯỢT BIÊN ĐẦU TIÊN, LÀM MỒI CHO CÁ       

Việt Luận – Viet’s Herald                 

Hồ Nam

Mười mấy tuổi đã theo Phó đức Chính tham gia khởi nghĩa Yên bái, đi đánh đồn Tây thắng lợi – khi trở về, buồn ngủ quá, lăn ra bãi cát ven sông Hồng làm một giấc, nên không bị máy chém [hành hình] ở Yên bái, cùng Nguyễn thái Học, Phó đức Chính…, những chiến sĩ Việt nam quốc dân đảng tiền phong.

Chu văn Bình không bị lên máy chém vào 1930, nên đã thi đậu vào Trường đại học Luật Đông dương ở Hà nội.  Chu văn Bình được thượng thư bô Hình Nam triều, Bùi bằng Đoàn (cha đại tá Bùi Tín) đưa vào Huế, làm phụ tá cho thượng thư, mặc áo gấm, đeo thẻ bài ngà, và, trở thành một ông quan Nam triều trẻ nhất thời ấy. Sau này, khi nhắc chuyện làm quan trong triều đình Huế, Chu văn Bình tủm tỉm cười, nói với tôi, “anh từng tham gia khởi nghĩa Yên bái, mà lại đeo thẻ bài ngà, cưới vợ là hoa khôi tỉnh Nam định.”Thật mỉa mai quá, nhưng đời còn nhiều chuyện mỉa mai hơn nữa. Sau ngày đảo chính, 9-3-[1945], Nhật đảo chính Pháp- Việt nam quốc dân đảng muốn Chu văn Bình làm chánh sở Liêm phong Thanh hóa (chánh mật thám Thanh hóa), Chu văn Bình đã nhận làm, và, trong thời kháng chiến chống Pháp, Chu văn Bình được tướng Bằng Giang trao cho chức chánh án Tòa án quân sự quân khu 3. Chu văn Bình vẫn chấp nhận giữ nhiệm vụ này…

Sau 1954, khi đất nước chia 2, Chu văn Bình theo nhà cách mạng Nguyễn thế Truyền lên tòa Thánh [Cao Đài] ở Tây Ninh, gặp đức Hộ pháp Phạm công Tắc. Đức Hộ pháp Cao Đài tòa thánh Tây ninh nghe Chu văn Bình nói chuyện thời thế, đã ra thánh lệnh phong Chu văn Bình cấp bậc đại tá [trong lực lượng] quân đội Cao Đài, Con đường hoạn lộ của Chu văn Bình, còn thênh thang hơn nữa, khi luật sư Lê ngọc Chấn được thủ tướng Ngô đình Diệm [cử] làm bộ trưởng quốc phòng, đã đến thỉnh Chu văn Bình về làm đổng lý văn phòng – nhưng Chu văn Bình cười khẩy, trả lời luật sư Lê ngọc Chấn, ” hồi học luật cậu thường ‘cóp’ bài của tớ, sao tớ có thể làm ‘lại’ cho cậu được nhỉ…? “Có lẽ, vì chuyện này, mà ít lâu sau Chu văn Bình bị vu cho là ‘trùm băng ăn trộm xe hơi’, rồi tống giam vào khám Chí hoà. Khi ra tòa Chu văn Bình tự bào chữa hay, đến nỗi quan tòa phải tha bổng, Chu văn Bình được trắng án.

Sau vụ bị bắt giam đưa vào khám Chí hòa, ra tòa được trả tự do, Chu văn Bình quyết định không thèm bon chen danh lợi nữa, mà, nhận làm hiệu trưởng trường Trung học Thăng Long của Nguyễn đăng Viên (anh ruột nhà văn Mai Thảo/Nguyễn đăng Quý) và trở lại nghề viết văn, làm báo. Chu Tử phụ trách mục ‘Ao thả vịt’ [dưới bút danh Kha Trấn Ác], và viết tiểu thuyết đăng báo hàng ngày.

Ngay cuốn tiểu thuyết đầu tay đăng báo hàng ngày, với tựa đề YÊU, đăng trên tờ nhật báo Dân việt, đã làm xôn xao dư luận, báo tăng người đọc vùn vụt, trong văn giới sửng sốt, vì, Chu Tử viết hay quá, lạ quá, táo bạo quá, thời đại quá. Rồi Chu Tử cho ra đời bộ tiểu thuyết trường giang khác: SỐNG. Khi tiểu thuyết Sống mới đăng báo, văn giới đã coi như một hiện tượng văn học rồi

Chế độ Ngô đình Diệm bị lật đổ, Chu Tử dành hết thời giờ viết báo, chửi đông, chửi tây, quốc gia, cộng sản- những ai ‘láo toét’ là Chu Tử phang, [bất kể là]  sư, cha cố, ông tướng này, bà tướng kia, chửi cả Mỹ. Chu Tử đều đụng mặt hết, Chu Tử còn đưa lên mặt báo câu xã hội bậc thang xã hội thời đó: ‘nhất đĩ, nhì sư, tam cha, tứ tướng’. Tờ nhật báo Sống của Chu Tử bán chạy như tôm tươi, nhưng, chẳng được bao lâu báo bị đóng cửa. Chu Tử liền đi thuê ‘măng-xết’ [manchette], tiếp tục làm báo nữa, không ngán gì cả. 

Những nhân vật điển hình của thời đại, bị Chu Tử hỏi thăm sức khỏe – bực lắm, mấy anh quốc gia láo lếu, bị Chu Tử gọi là ‘trí thức chồn lùi’ (nói lái), tuy vậy họ cũng còn nhất điểm lương tri, không phản ứng mạnh với Chu Tử. Tuy nhiên, Chu Tử vạch mặt ‘mấy tên… nằm vùng’, xưng nhận mình là ‘bảo vệ văn hóa dân tộc’; bị gọi là ‘lũ củ đậu’ (nói lái) (…) Chu Tử chỉ bị bắn vỡ miệng, gãy mấy cái răng, nói năng hơi ngọng nghịu, phải vào nhà thương nằm ít ngày, rồi về nhà lại viết báo chửi dữ hơn trước khi bị bắn. (…) Nhưng tới sáng ngày 30-4-75, thấy tình thế hết phương cứu chữa, Chu Tử đành bảo con rể là họa sĩ Đằng Giao lái xe chở ra Kho 5 bên Khánh hội, tìm tàu vượt biên. Chu Tử và cậu con trai lớn có được một chỗ dưới hầm, bởi ngộp quá, khi tàu đến Rừng Sát, Chu Tử leo lên boong hóng gió, thì giữa lúc đó một trái B40 của đặc công phóng lên boong tàu. Chu Tử bị miểng đạn, máu ra nhiều quá, khi tàu tới hải phận quốc tế, Chu Tử trút hơi thở cuối cùng, xác thân ném xuống biển Thái bình dương. Và, Chu Tử coi như người đầu tiên được thủy táng khi đi tìm tự do. Ông là nhà văn lưu vong đầu tiên vẫn trong hải phận quê hương. Và như thế, có bao giờ ông rời xa Ðất Nước.

Hồ Nam.


 

NGUYỄN XUÂN VINH – NHÀ BÁC HỌC VŨ TRỤ GỐC VIỆT CỦA NASA HOA KỲ…

Việt Luận – Viet’s Herald

 NGUYỄN XUÂN VINH – NHÀ BÁC HỌC VŨ TRỤ GỐC VIỆT CỦA NASA HOA KỲ…

Nhà toán học Nguyễn Xuân Vinh, gốc Bắc, di cư 1954, gia đình không theo Công giáo, nguyên là Đại Tá Tư lệnh của Quân chủng Không quân Việt Nam Cộng hòa (thời Đệ Nhất Cộng Hòa), sau này là giáo sư đại học Michigan, Hoa kỳ. Ở cái thời mà đại đa số người dân Việt còn đi xe đạp, thì bằng các lý thuyết toán học, những nghiên cứu của GS. Vinh đã vạch đường bay cho phi thuyền vũ trụ lên Mặt Trăng.

TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP:

Nguyễn Xuân Vinh (sinh năm 1930) nguyên là Đại tá tham mưu trưởng kiêm tư lệnh của Không quân Việt Nam Cộng hòa. Ông là giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ chuyên ngành kỹ thuật không gian người Mỹ gốc Việt nổi tiếng trên thế giới.

Năm 1962, ông là người Việt Nam đầu tiên và cũng là người đầu tiên ở Đại học Colorado được cấp bằng tiến sĩ khoa học không gian sau khi ông thực hiện thành công nghiên cứu công trình tính toán quỹ đạo tối ưu cho phi thuyền do NASA tài trợ. Những lý thuyết của Nguyễn Xuân Vinh đã góp phần quan trọng đưa các phi thuyền Apollo lên được mặt trăng thành công đồng thời được ứng dụng vào việc thu hồi các phi thuyền con thoi trở về trái đất an toàn. Ông còn là nhà nhà văn với bút danh Toàn Phong với nhiều tác phẩm nổi tiếng được xuất bản.

Từ khi còn nhỏ Nguyễn Xuân Vinh là một người có năng khiếu toán. Ông tham gia viết sách từ rất sớm. Khi đang là học sinh, ông đã có sách được xuất bản với cuốn sách giáo khoa Bài tập hình học không gian. Cuốn sách đã trở thành tài liệu tham khảo và học vấn quan trọng thời bấy giờ.

Năm 1951 ông nhập ngũ theo lệnh động viên và tham gia khóa I Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định và Thủ Đức. Năm 1952, ông theo học tại Học viện Không quân ở Salon-de-Provence, Pháp (École de l’Air) cho đến năm 1955. Sau đó ông lưu trú tại Pháp và Maroc. Trong thời gian này ông đồng thời lấy bằng cử nhân toán ở Đại học Máeille.

Năm 1957, Nguyễn Xuân Vinh được bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Không lực Việt Nam Cộng hòa. Cho đến tháng 2 năm 1958, ông được giao chức Tư lệnh Không quân. Ông giữ chức vụ này cho đến năm 1962 rồi đi du học ở Hoa Kỳ.

Năm 1962, Đại tá Nguyễn Xuân Vinh đến Hoa Kỳ để bắt đầu sự nghiệp khoa học của mình khi ông 32 tuổi.

Năm 1965, là người đầu tiên được cấp bằng tiến sĩ về khoa học không gian tại Đại học Colorado. Ba năm sau, Tiến sĩ Vinh làm giảng sư (associate professor) tại Đại học Michigan. Năm 1972, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh được phong cấp giáo sư (professor) tại viện đại học Đại học Michigan. Cũng trong năm này ông lấy tiếp bằng tiến sĩ quốc gia toán học tại Đại học Sorbonne, Paris, Pháp.

Năm 1982, Nguyễn Xuân Vinh là giáo sư (chair professor) của ngành toán ứng dụng tại Đại học Quốc gia Thanh Hoa (National Tsing Hua University) ở Đài Loan. Hai năm sau, năm 1984, Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là người Hoa Kỳ thứ ba và là người Châu Á đầu tiên được bầu vào Viện Hàn lâm Quốc gia Hàng không và Không gian Pháp (Académie Nationale de l’Air et de l’Espace). Đến năm 1986, Giáo sư Vinh trở thành viện sĩ chính thức của Viện Hàn lâm Không gian Quốc tế (International Academy of Astronautics).

Trong nhiều năm Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã được mời tham gia thuyết trình thỉnh giảng tại nhiều đại học lớn và các hội nghị quốc tế nhiều nơi trên thế giới bao gồm Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Áo, Đức, Ý, Hà Lan, Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Điển, Hungary, Israel, Nhật, Trung Quốc, Đài Loan và Úc.

Năm 1999, Giáo sư viện sĩ Nguyễn Xuân Vinh nghỉ hưu, ông đã được Hội đồng Quản trị (Board of Regents) tại Đại học Michigan phong tặng chức Giáo sư danh dự ngành kỹ thuật không gian (professor emeritus of aerospace engineering) vì công lao đóng góp cho khoa học và giáo dục.

Ngày 19 tháng 10 năm 2016, Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã được Giám mục Đa Minh Mai Thanh Lương, Giám mục Công giáo người Việt đầu tiên tại Hoa Kỳ, làm phép Thanh Tẩy gia nhập Đạo Công giáo tại nhà thờ Saint Bonaventure Church ở Huntington Beach, California. Ông lấy tên Thánh là Anphongsô.

GIẢI THƯỞNG:

– Năm 1994: “Mechanics and Control of Flight” của American Institute of Aeronautics and Astronautics.

– Năm 1996: “Excellence 2000 Award” của Pan Asian American Chamber of Commerce

– Năm 2006: “Giải thưởng Dirk Brouwer” về Cơ học Du hành Không gian của Hội Du hành Không gian Hoa Kỳ (American Astronautical Society)

– Năm 2007: Dirk Brouwer Award do the American Astronautical Society tặng

– Năm 1994: Mechanics and Control of Flight Award presented do American Institute of Aeronautics and Astronautics tặng.

– Năm 2000: Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh được bầu vào Viện Hàn lâm Quốc tế du hành vũ trụ và Viện Hàn lâm Hàng không và Vũ trụ Quốc gia Pháp. Ông được chọn là một trong những người xuất sắc của Hoa Kỳ Pan Asian American Chamber of Commerce tại Washington, DC.

– Hội Khuyến Học ở Saint Louis, Missouri, đề ra giải thưởng hàng năm tên là giải thưởng “Truyền thống Nguyễn Xuân Vinh” để khuyến khích học sinh ở địa phương.

TÁC PHẨM:

Tác giả Nguyễn Xuân Vinh đã xuất bản ba cuốn sách và hơn 100 bài báo kỹ thuật trong lĩnh vực toán học, astrodynamics, và tối ưu hóa quỹ đạo (trajectory optimization). Ông Vinh cũng từng là biên tập viên trong khoảng thời gian dài 20 năm cho tạp chí lưu trữ cho Học viện vũ trụ Quốc tế (the archival journal for the International Academy of Astronautics). Giáo sư Vinh nguyên là chủ tịch hội đồng chấm luận án tiến sĩ (chaired the doctoral committees) cho 30 nghiên cứu sinh, nhiều người trong số họ hiện nay đang là giáo sư của các Hiệp hội uy tín của Hoa Kỳ, các trường Đại học các trường học hoặc các hiệp hội nhà khoa học hàng đầu trong ngành công nghiệp hàng không vũ trụ.

Theo FB Nguyễn Hùng Dũng


 

 Joseph Stalin không ngủ như một con người tin tưởng vào quyền lực của mình

Phuong Tran

 Joseph Stalin không ngủ như một con người tin tưởng vào quyền lực của mình.

Khi ông đã thống trị Liên Xô một cách tuyệt đối – nắm trong tay quốc gia rộng lớn nhất thế giới, chỉ huy hàng triệu binh sĩ, định đoạt số phận của cả những dân tộc – ông vẫn đặt bên gối một khẩu súng lục đã lên đạn. Mỗi đêm, ông thay đổi phòng ngủ, không bao giờ nằm lại cùng một chiếc giường hai đêm liền. Ông từ chối đi lại trên cùng một con đường cũ. Ông không ngừng cải tạo các dinh thự, thêm những hành lang bí mật, những cánh cửa khóa layered, những lối thoát hiểm ngoằn ngoèo nhằm đánh lừa kẻ ám sát tiềm tàng.

Đó không phải là thói lập dị. Đó là bản năng sinh tồn của một người hiểu rõ hơn ai hết cách mà các nhà độc tài rời bỏ thế gian.

Vì Stalin đã trèo lên đỉnh quyền lực bằng cách khiến người khác chết trước mình.

Ông thấu suốt cơ chế của những vụ ám sát chính trị. Chính ông đã đạo diễn chúng. Ông đã chứng kiến đối thủ tan biến trong ngục tù, thấy đồng chí cũ bị bắn trong tầng hầm tối, ra lệnh những cuộc thanh trừng nuốt chửng hàng ngàn sinh mạng. Ông biết rằng những lưỡi dao ông đã phóng ra có thể bất cứ lúc nào quay ngược lại. Người trung thành hôm nay có thể đang mài dao ngày mai. Đồng minh đáng tin nhất cũng có thể hóa thành kẻ sát nhân.

Thế nên Stalin không tin ai. Và ông dựng nên cả cuộc đời mình trên nền tảng duy nhất ấy: sự nghi kỵ tuyệt đối.

Nỗi sợ ấy định hình lại mọi ngóc ngách trong cuộc sống ông. Một buổi sáng, nhân viên đến làm việc và bỗng thấy mình bị đuổi mà không một lời giải thích. Lính gác bị thay phiên liên tục để không ai kịp thuộc lòng nhịp sống của ông. Đội cận vệ thay đổi khuôn mặt thường xuyên đến mức sự quen thuộc trở thành điều xa xỉ.

Ngay cả các bác sĩ cũng run rẩy khi chữa trị cho ông – một chẩn đoán sai, một liều thuốc không hiệu nghiệm, và họ có thể bị kết tội là kẻ phá hoại hay gián điệp ngoại bang. Họ tiếp cận sức khỏe của Stalin như những người tháo ngòi nổ, tim đập trong lồng ngực.

Các cố vấn học được rằng sống sót nghĩa là cúi đầu và im lặng. Không đưa ra nhận định trung thực. Không báo tin xấu. Đặc biệt không được phản biện Tổng Bí thư. Họ chỉ nói những gì ông muốn nghe, gật đầu trước mọi lời ông phán, và thầm cầu mong được về nhà nguyên vẹn đêm ấy.

Vì vòng tròn thân cận của Stalin đều thấu một chân lý lạnh lẽo: gần quyền lực tức là gần tử thần.

Nhưng nỗi kinh hoàng không dừng lại bên trong tường thành Kremlin. Nó lan tỏa như ung thư, nhiễm độc toàn bộ cơ thể nhà nước Xô Viết.

Qua cuộc Đại Thanh trừng những năm 1930, chế độ Stalin hành quyết hàng trăm nghìn người, giam cầm và lưu đày hàng triệu linh hồn khác. Các tướng lĩnh từng dẫn quân chiến thắng bị bắn như phản tặc. Các bộ trưởng trung thành suốt mấy thập kỷ tan biến trong đêm. Nhà khoa học, nghệ sĩ, giáo viên, công nhân – bất kỳ ai cũng có thể bị bóng đêm nuốt chửng. Cảnh sát mật gõ cửa lúc nửa đêm, và con người bỗng hóa thành hư vô.

Trung thành không mua được sự an toàn. Năng lực đôi khi lại là lời mời gọi tử thần. Quá giỏi việc, bạn có thể bị coi là mối uy hiếp. Quá được lòng cấp dưới, bạn có thể bị nghi xây dựng phe cánh. Vị trí an toàn nhất là tầm thường và vô hình.

Cả nhà nước Xô Viết dần mang tâm lý của lãnh tụ: đa nghi, bí ẩn, tàn nhẫn. Sự thật trở thành lưỡi dao, nên người ta nói dối. Trung thực mời gọi roi vọt, nên mọi người giấu nhẹm vấn đề. Hệ thống lẽ ra kiến tạo thiên đường cộng sản lại dựng nên một cỗ máy khổng lồ chuyên ăn thịt chính con dân mình.

Stalin không tin ai vì ông tin rằng chẳng ai đáng tin. Và có lẽ ông đúng – bởi chính ông cũng chẳng đáng tin. Sao người khác lại khác được?

Sự mỉa mai thật nghiệt ngã: chính nỗi đa nghi ông tưởng sẽ che chở cho mình lại gây ra những thảm họa khôn lường.

Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, văn hóa sợ hãi của Stalin làm tê liệt mọi quyết sách của Liên Xô. Sĩ quan biết rõ điểm yếu quân sự nhưng không dám báo – báo tin xấu đồng nghĩa với viên đạn. Tình báo về cuộc xâm lược của Đức bị bỏ ngoài tai vì dám trái ý Stalin là tự sát. Báo cáo giả thay thế báo cáo thật, bởi sống sót nghĩa là nói những lời lãnh đạo muốn nghe.

Thế nên khi Đức Quốc xã tràn qua biên giới tháng 6 năm 1941, Hồng quân thảm khốc không chuẩn bị dù đã có vô số lời cảnh báo. Cuộc tấn công chớp nhoáng của Đức xé nát lực lượng Xô Viết. Hàng triệu binh sĩ ngã xuống, bị bắt hoặc bị bao vây chỉ trong vài tháng đầu. Thành phố sụp đổ. Cả quân đoàn tan rã như cát bụi.

Những cuộc thanh trừng đa nghi trước đó đã làm suy kiệt Hồng quân – Stalin hành quyết hoặc giam cầm nhiều tướng tài nhất vì sợ họ thành đối thủ. Giờ đây, văn hóa dối trá và sợ hãi khiến đất nước trần trụi trước lưỡi hái chiến tranh mà ai cũng thấy trước nhưng không ai dám chuẩn bị.

Cái giá phải trả thật kinh hoàng. Hơn 26 triệu công dân Xô Viết bỏ mạng trong cuộc chiến – cả quân nhân lẫn thường dân. Nhiều sinh mạng ấy có thể quy trực tiếp hoặc gián tiếp về những rối loạn do nỗi đa nghi của Stalin gây ra.

Song chiến thắng trước phát xít Đức chỉ khiến ông nghi ngờ thêm.

Những năm cuối đời, nỗi đa nghi quay ngược vào trong với cơn cuồng nộ mới. Ông tin rằng chính các bác sĩ – những người giữ mạng sống cho ông – đang âm mưu hại ông. “Âm mưu Bác sĩ” 1952-1953 chứng kiến hàng loạt y sĩ danh tiếng, nhiều người gốc Do Thái, bị bắt và buộc tội mưu sát lãnh đạo.

Đó là cơn điên rồ. Nhưng là cơn điên có gốc rễ – Stalin đã xây một hệ thống nơi lý thuyết âm mưu thành chính sách quốc gia, nơi đa nghi được thưởng, nơi nhìn kẻ thù khắp nơi được ca tụng là trí tuệ thay vì bệnh hoạn.

Stalin tự cách ly mình khỏi thực tại ngày một xa. Càng ít người được tiếp cận ông. Càng ít tiếng nói đến được tai ông. Vòng tròn tin tưởng – vốn đã nhỏ bé – co lại thành hư vô. Ông là người quyền lực nhất Liên Xô, cai trị một siêu cường trải dài từ Đông Âu đến Thái Bình Dương.

Và ông cô độc đến tận cùng đáy lòng.

Ngày 1 tháng 3 năm 1953, Joseph Stalin bị đột quỵ nặng. Ông ngã quỵ trong dinh thự Kuntsevo, không thể cất tiếng kêu cứu.

Và đây là vòng tròn định mệnh của nỗi đa nghi: lính gác do dự hàng giờ không dám bước vào phòng.

Tại sao? Vì ông đã ra lệnh nghiêm cấm làm phiền. Vì bước vào mà không được phép – dù để cứu mạng – có thể lãnh án tử. Vì văn hóa kinh hoàng ông gieo rắc khiến người ta sợ cơn thịnh nộ của ông hơn là lo cho sinh mạng ông.

Nhà độc tài nằm trên sàn lạnh, nửa người tê liệt, không nói không động, trong khi cận vệ và nhân viên đứng ngoài cửa, run rẩy không dám hành động.

Khi bác sĩ cuối cùng được gọi đến và dám bước vào, Stalin đã nằm đó hàng giờ. Sự chậm trễ làm tình trạng ông tồi tệ hơn nhiều. Họ cố cứu chữa, nhưng tất cả đã quá muộn.

Joseph Stalin qua đời ngày 5 tháng 3 năm 1953, thọ 74 tuổi.

Khẩu súng dưới gối không cứu được ông. Những căn phòng luân phiên không cứu được ông. Biện pháp an ninh, thanh trừng, hành quyết, cả một đế chế kinh hoàng – chẳng gì cứu nổi ông.

Cuối cùng, chính nỗi đa nghi đã định nghĩa cả cuộc đời ông lại góp phần đưa ông đến cái chết. Nỗi sợ ông gieo vào lòng người khác khiến không ai dám kịp thời ra tay khi ông cần nhất.

Cuộc đời Stalin chứng minh một chân lý sâu thẳm và đáng sợ: quyền lực tuyệt đối không xua tan nỗi sợ, nó chỉ nhân nó lên gấp bội.

Khi cai trị bằng kinh hoàng, bạn tạo ra một thế giới mà mọi người – kể cả chính mình – sống trong nỗi sợ triền miên. Khi trung thành bị ép buộc bằng bạo lực, bạn mãi mãi không thể tin nó chân thật. Khi đã loại trừ mọi mối đe dọa, bạn chỉ còn lại những kẻ che giấu sự thật vì trung thực đồng nghĩa với tử thần.

Stalin tưởng mình đang dựng nên pháo đài an toàn. Thực ra ông đã xây một nhà tù. Và ông là tù nhân chính – cô đơn nhất.

Ông thống trị một siêu cường vĩ đại. Ông chỉ huy đạo quân hùng mạnh. Ông nắm trong tay sinh mạng hàng trăm triệu người. Các quốc gia run sợ trước sức mạnh Xô Viết. Các nguyên thủ coi ông ngang hàng trên trường quốc tế.

Vậy mà mỗi đêm, ông ngủ như một kẻ bị truy nã. Thay giường liên tục. Vũ khí kề bên. Không tin ai. Sợ hãi mọi người.

Người gieo rắc kinh hoàng cho triệu triệu con người lại sống trong chính kinh hoàng ấy. Kiến trúc sư của nhà nước giám sát lại là kẻ bị giám sát chặt chẽ nhất. Nhà độc tài có quyền giết bất kỳ ai lại biết rằng bất kỳ ai cũng có thể muốn giết mình.

Đó là cái giá cuối cùng của bạo quyền. Không chỉ những gì nó gây ra cho nạn nhân – dù đã đủ kinh hoàng. Mà còn những gì nó làm tan nát tâm hồn chính kẻ bạo chúa.

Stalin dành những năm cuối đời trong cô lập, đa nghi và sợ hãi. Ông chết một mình trên sàn lạnh, bên ngoài là những con người quá kinh hoàng để cứu ông. Hệ thống kinh hoàng ông tạo dựng đã hoàn tất vòng tròn: nuốt chửng cả chính người sinh ra nó.

Quyền lực không có lòng tin chẳng phải sức mạnh. Đó chỉ là một xiềng xích vô hình mà không khẩu súng nào có thể bắn đứt.

Như Like Thần Chưởng


 

TẦN VƯƠNG ĐỐT SÁCH CHÔN TRÒ!…

Trần Tố Ngọc

TẦN VƯƠNG ĐỐT SÁCH CHÔN TRÒ!

CỘNG SẢN CŨNG ĐỐT KHO TÀNG VĂN CHƯƠNG

TRẢI QUA NHỮNG CẢNH ĐOẠN TRƯỜNG

SÁCH MIỀN NAM LẠI KHIÊM NHƯỜNG HỒI SINH!

Câu chuyện này làm tôi nhớ đến ông soạn giả Mai Quân (mọi người lên Google sẽ biết là ai), chồng NSUT Thuỳ Liên (diễn viên cách mạng miền Nam, đóng phim Mùa gió chướng), là người quen với gia đình tôi! Ông này sau năm 1975 là cán bộ văn nghệ của thành phố, làm việc bên Hội Sân khấu của thành phố. Không biết nhờ quen biết hay sao mà ông này đem rất nhiều sách Miền Nam trước 75 về nhà cất giữ (những cuốn sách lẽ ra đã bị tiêu huỷ theo lệnh của chánh quyền Cộng Sản).

 Ông chứa được một kho sách lớn trong nhà vì hai vợ chồng ông có công với cách mạng nên được Nhà Nước cấp cho một căn nhà bự như biệt thự ở đường Nguyễn Văn Trỗi, quận Phú Nhuận (ngày nay). Mấy năm trước ổng mất, bà vợ (diễn viên Thuỳ Liên) kêu người bên tiệm sách cũ (tiệm nào thì tôi không biết) vô thâu mua. Tất nhiên là tiệm sách cũ ở đâu trên khắp thành phố này thì đều thâu mua sách cũ bằng hình thức… cân ký! 

Thế nhưng, tuy cân ký bán như ve chai mà bà ấy bán hết chỗ sách đó và thâu được… 20 mấy triệu VNĐ! Nói như vậy là tưởng tượng được số sách nhiều cỡ nào! 

Nhiều khi tôi cũng thắc mắc: chỗ sách ấy rốt cuộc đi về đâu, ai đã may mắn mua được? Không biết trong những cuốn sách mà quán sách Mùa Thu bán khống giá vài triệu đồng kia, có cuốn sách nào từ kho sách của ông soạn giả Mai Quân không!?

Luu Pham Tam Minh st

Tố Ngọc Trần chia sẻ


 

THAN ÔI! CŨNG MỘT KIẾP NGƯỜI

Phuong Trach Ngô

THAN ÔI! CŨNG MỘT KIẾP NGƯỜI.

Cụ Bà đi nhặt ve chai mất bên vệ đường.

Một cái chết lặng lẽ và khoảng trống mang tên an sinh xã hội

Một cụ bà gục xuống bên vệ đường, bên cạnh là chiếc bao ve chai cũ kỹ.

Không còi hú, không bệnh viện kịp thời, không người thân bên cạnh.

Chỉ có một cuộc đời khép lại trong im lặng.

Cái chết ấy không phải là tai nạn hiếm hoi. Nó là hệ quả của một hệ thống an sinh xã hội thiếu vắng, nơi người già không có lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục lao động cho đến khi kiệt sức.

Ở những quốc gia phát triển, tuổi già là giai đoạn được chăm sóc. Người cao tuổi có lương hưu tối thiểu, có bảo hiểm y tế, có dịch vụ chăm sóc tại nhà, có nhà dưỡng lão, có những cơ chế bảo vệ để không ai phải chết trên vỉa hè vì mưu sinh. Xã hội coi việc bảo đảm phẩm giá cho người già là một nghĩa vụ căn bản.

Còn ở Việt Nam, quá nhiều người già không có lương hưu. Họ từng lao động cả đời trong khu vực phi chính thức: bán hàng rong, làm thuê, làm ruộng nhỏ lẻ. Khi sức khỏe cạn dần, họ không có điểm tựa. Không lương hưu. Không trợ cấp đủ sống. Không hệ thống chăm sóc dài hạn. Cuối cùng, họ ra đường—nhặt ve chai, bán vé số, bốc vác—đổi từng đồng lẻ lấy một bữa ăn.

Một xã hội được đo bằng cách nó đối xử với những người yếu thế nhất.

Và người già là thước đo không thể chối cãi.

Khi một cụ bà phải kéo lê tấm lưng còng trên đường phố để nhặt từng chai nhựa, đó không phải là “ý chí vượt khó”. Đó là sự thất bại của chính sách. Khi cụ chết bên vệ đường, đó không phải là “số phận”. Đó là khoảng trống của an sinh xã hội.

Người ta thường nói về tăng trưởng, về chỉ số, về thành tích. Nhưng tăng trưởng nào có ý nghĩa nếu nó không đủ để bảo vệ những người đã cống hiến cả đời? Thành tích nào có giá trị nếu cái kết của tuổi già là một cái chết lặng lẽ giữa phố?

Một bà cụ lớn tuổi đáng lẽ phải được chăm lo—được nghỉ ngơi, được chữa bệnh, được sống những năm cuối đời trong an toàn và tôn trọng. Thay vào đó, bà phải mưu sinh đến hơi thở cuối cùng. Đó không phải là lựa chọn của bà. Đó là lựa chọn mà xã hội đã không làm.

Cụ bà đã ra đi. Nhưng câu hỏi còn ở lại:

Bao nhiêu người già nữa sẽ phải đi nhặt ve chai cho đến khi không còn đứng dậy được?

Và bao lâu nữa, an sinh xã hội mới thôi là khẩu hiệu để trở thành điểm tựa thực sự cho những phận người yếu thế?

Im lặng trước những cái chết như vậy cũng là một hình thức chấp nhận.

Còn lên tiếng, ít nhất, là cách để nhắc nhau rằng: tuổi già không nên là một cuộc mưu sinh đến chết.

Quy Nguyen