Thành phố nào ‘đầy tội lỗi nhất’ nước Mỹ?

Báo Nguoi-Viet

WASHINGTON, DC (NV) Trang web tài chính WalletHub hôm Thứ Hai, 5 Tháng Mười Hai, công bố bảng xếp hạng Thành Phố Đầy Tội Lỗi Nhất Nước Mỹ 2022, theo đó, hai thành phố vùng Little Saigon thuộc nhóm cuối bảng, tức ít tội lỗi nhất.

Danh sách này bao gồm 182 thành phố, trong đó có 150 thành phố thuộc loại đông dân nhất nước.

Bảng hiệu chào đón du khách ở Las Vegas, Nevada. (Hình minh họa: David Vives/Unsplash)

WalletHub so sánh những thành phố này theo các thể loại “Tức Giận và Thù Ghét,” “Tính Ghen Tỵ,” “Thói Hư Tật Xấu,” “Lòng Tham,” và “Mức Độ Đam Mê Tình Dục.”

Họ chấm điểm những thể loại này dựa trên hàng chục tiêu chí, như số vụ tội ác bạo lực tính theo dân số, tệ nạn ma túy, số lượng sòng bài, tỉ lệ thiếu niên sinh con, số lượt tìm kiếm phim sex trên Google, và số tiệm làm rám da (tanning salon) tính theo dân số.

Ở mỗi thể loại, càng nhiều điểm càng tội lỗi, và ngược lại. Cao nhất là 100 điểm.

Không quá ngạc nhiên, tính chung tất cả những thể loại này, Las Vegas, Nevada, biệt danh “Thành Phố Tội Lỗi,” đứng đầu bảng xếp hạng của WalletHub với số điểm 59.93.

Thứ nhì là St. Louis, Missouri (55.14); thứ ba là Philadelphia, Pennsylvania (54.11); thứ tư là Houston, Texas (53.72); và thứ năm là Atlanta, Georgia (53.39).

Top 10 danh sách còn có Los Angeles, California (52.86); Denver, Colorado (52.57); Chicago, Illinois (52.49); Baton Rouge, Louisiana (51.39); và Phoenix, Arizona (50.65).

Tin vui cho vùng Little Saigon, hai thành phố ở đây nằm ở nhóm cuối bảng. Santa Ana xếp thứ 150 với 32.15 điểm, còn Garden Grove đứng hạng 160 với 31.09 điểm.

Trong khi đó, xung quanh vùng này, Irvine xếp thứ 169 với 29.88 điểm, Anaheim đứng hạng 135 với 33.24 điểm, còn Huntington Beach giữ vị trí 107 với 35.39 điểm.

Thành phố “ít tội lỗi nhất” là Port St. Lucie, Florida (24.84). (Th.Long) 

Lừa ‘đưa sang Mỹ làm việc,’ một Việt kiều Mỹ bị Sài Gòn truy tìm

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) Mong muốn được sang Mỹ định cư, hai người ở Sài Gòn đã nộp hơn tỷ đồng cho một công ty ở phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1, quảng cáo có thể “đưa sang Mỹ làm việc,” và rồi mất trắng.

Báo VNExpress cho hay hôm 7 Tháng Mười Hai, Cơ Quan Điều Tra Công An ở Sài Gòn đã khởi tố vụ án “lừa đảo chiếm đoạt tài sản,” đồng thời ra thông báo truy tìm hai bị can Lê Thanh Tuyền, 33 tuổi, và Nguyễn Trọng Nguyên, 47 tuổi, quốc tịch Mỹ, cùng là giám đốc điều hành công ty Bluekeystone Immigration & Investment Consulting Việt Nam.

Bị can Lê Thanh Tuyền, giám đốc điều hành công ty Bluekeystone, đang bị Công An ở Sài Gòn truy tìm. (Hình: Công An TP.HCM)

Sự việc này được nhà chức trách đưa ra sau khi xác định “có dấu hiệu tội phạm” theo đơn tố cáo của ông Trần Hữu Phong, 43 tuổi, ở phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, và ông Nguyễn Văn Tài, 50 tuổi, ngụ phường 15, quận Bình Thạnh, Sài Gòn.

Hai nạn nhân cho biết hồi giữa năm 2016, thấy công ty Bluekeystone quảng cáo có chức năng làm hồ sơ đi làm và định cư tại Mỹ theo diện EB-3 (thị thực ưu tiên thường trú tại nước ngoài dựa trên việc làm dành cho công nhân lành nghề, chuyên gia…) nên ghi danh.

Tại trụ sở công ty Bluekeystone ở phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1, họ được bà Tuyền và ông Nguyên (được bà Tuyền ủy quyền điều hành công ty) tư vấn trực tiếp.

Hai giám đốc điều hành cam kết sẽ đưa họ qua Mỹ làm việc trong thời gian 24-30 tháng, giá dịch vụ mỗi người hơn 1 tỷ đồng ($42,000). Nếu hợp đồng thất bại mà không phải do lỗi khách hàng, hai bên sẽ “hoàn tất thủ tục thanh lý hợp đồng, công ty sẽ hoàn tiền.”

Tin lời, ông Phong và ông Tài đã ký kết hợp đồng, chuyển vào tài khoản công ty Bluekeystone và của bà Tuyền tổng cộng hơn 1.3 tỷ đồng ($52,324). Giao dịch này được xác nhận bằng phiếu thu, chữ ký giám đốc có đóng dấu xác nhận của công ty Bluekeystone.

Tuy nhiên, quá thời hạn thỏa thuận nhưng hai ông Phong và Tài không được qua Mỹ làm việc, và không thể liên lạc được với bà Tuyền lẫn ông Nguyên để lấy lại tiền. Do đó, hai nạn nhân đã làm đơn tố cáo với công an.

Cơ quan điều tra xác định, công ty Bluekeystone không được Cục Quản Lý Lao Động Nước Ngoài thuộc Bộ Lao Động-Thương Binh và Xã Hội cấp giấy phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Theo đó, bà Tuyền và ông Nguyên “có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tiền. Hiện, cả hai bị can không còn ở nơi cư trú.”

Trước đó hôm 4 Tháng Mười Hai, trong một vụ tương tự, hai bị can Lãi Thế Tân, 31 tuổi, ở huyện Thạch Hà, và Nguyễn Thị Khánh Ly, 28 tuổi, ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, đã bị Viện Kiểm Sát Nhân Dân tỉnh Hà Tĩnh khởi tố với cáo buộc “tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi ngoại quốc” theo Điều 349 Bộ Luật Hình Sự Việt Nam.

Theo báo Hà Tĩnh, vào hai tháng trước, hai bị can Tân và Ly “nổ” rằng họ có đường dây đưa người sang Mỹ làm việc trót lọt bằng cách thoạt đầu giả vờ đi du lịch sang Chile, Nam Mỹ, sau đó sẽ được dẫn bỏ trốn qua Mỹ. Chi phí cho mỗi người đi Mỹ dạng này là $65,000.

Nghi can Lãi Thế Tân (ngoài cùng bên trái) lúc bị bắt. (Hình: Hùng Lê/VNExpress)

Tin tưởng vào lời dẫn dụ của hai bị can, anh Nguyễn Kim Hoàng, 26 tuổi, ở thành phố Hà Tĩnh, và chị Phạm Thị Xoan, 31 tuổi, ở huyện Lộc Hà, đã nộp tiền “đi Mỹ.”

Giữa Tháng Mười Một, tại phi trường Nội Bài, Hà Nội, bị can Tân bị công an bắt quả tang đang làm thủ tục xuất cảnh cho anh Hoàng và chị Xoan lên chuyến bay sang Chile. (Tr.N) 

Bản chất tham nhũng ở Việt Nam

Đỗ Duy Ngọc

Sáng 5.12, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Hội nghị T.Ư 6 khóa XIII. Trong cuộc họp Trưởng ban Nội chính T.Ư Phan Đình Trạc nhấn mạnh rằng: Nâng cao đời sống để cán bộ không còn tham nhũng chỉ giải quyết được một phần vì những người tham nhũng vừa qua đều là người giàu.

Ông nói đúng, bởi tham nhũng phải có quyền lực. Bản chất của tham nhũng, tiêu cực là lợi dụng quyền lực. Chỉ có cán bộ nhà nước mới có quyền lực và thời nay người giàu chính là các cán bộ. Chỉ cần một cái gật đầu, một chữ ký họ có thể thu về cả triệu đô la. Họ có sân sau, sân trước, tay chân bộ hạ mang về cho họ lợi tức khổng lồ. Doanh nghiệp sống nhờ cán bộ và quan chức làm giàu từ doanh nghiệp. Vẽ vời dự án, duyệt dự án cũng mang lại cho họ những món tiền ba đời ăn không hết. Mối quan hệ giữa đại gia với cán bộ là đường dây không thể tách rời. Không có thế lực chính trị hậu thuẫn, doanh nghiệp khó tồn tại và phát triển.

Đó là chưa kể họ tham nhũng từ ngân sách của nhà nước. Từ lớp cán bộ cấp thấp ở làng, xã, phường cho đến cấp cao đều có dính đến hối lộ và tham nhũng. Họ giàu, rất giàu nên tăng phúc lợi cho họ bằng cách tăng lương là một việc làm vô ích.

Tăng bao nhiêu họ vẫn tham nhũng vì số tiền họ thu được từ chức vụ lớn gấp ngàn lần đồng lương của họ. Khi bị phạm tội họ dùng chính một ít đồng tiền đó để khắc phục hậu quả. Dính vụ nào đền vụ đấy. Nhưng trong thời gian đương chức họ làm cả trăm vụ. Điều tra vụ nào họ chỉ khắc phục vụ đó. Trong quá trình điều tra họ đã tẩu tán phần nhiều tài sản.

Kết án vài ba năm, chục năm trở về họ vẫn là những người giàu. Mà theo ý kiến của cụ Tổng, khắc phục được thì án giảm, nhẹ hều. Thiết nghĩ khi bị dính tội, hành động đầu tiên là phải kiểm kê tài sản và tịch biên. Nếu trong quá trình xét xử nhận thấy số tài sản có nguồn gốc rõ ràng, hợp lý thì sẽ trả lại, con ngược lại làm hồ sơ tịch biên gia sản do tham nhũng mà có. Kiểm kê tài sản của mỗi cá nhân cán bộ là việc cần làm và ai cũng phải bị kiểm tra.

Cách bốc thăm như hiện nay đang áp dụng chỉ là một trò hề. Làm cho có thôi. Chuyện này làm dễ ợt, khó khăn chi.

Thật ra, bàn chơi cho vui thế thôi. Với cách quản lý, điều hành như hiện nay; Với thể chế và cơ cấu cán bộ như hiện nay, không thể và không bao giờ diệt được tham nhũng.

Đừng có mơ giữa ban ngày.

Đ.D.N.

(*) Tựa do BVN đặt

Nguồn: FB Do Duy Ngoc

Hà Nội ới, Hà Nội ơi, Hà Nội ơi…

Kim Văn Chính

8-12-2022

  1. Đá tự nhiên không phải đá nào cũng làm được vật liệu xây dựng, dù chỉ là đá lát vỉa hè

Đại để đá xây dựng có hai loại chính: Đá marble có cấu trúc không định hình, cho vân đẹp, độ nhám tốt, nhưng kém chịu lực, dễ bị phong hóa ố màu, hoặc ngấm nước tự vỡ… Đá granit có kết cấu chắc hơn nhưng lại hay có thớ dọc ngang theo tấm, bề mặt cứng nhưng lại trơn trượt nếu bề mặt bào mòn hay mài bóng.

Do vậy, dùng đá tự nhiên làm vật liệu lát đường, vỉa hè, sân nhà, bia mộ cần nghiên cứu rất cẩn thận và đặt hàng, sản xuất, nghiệm thu rất nghiêm chỉnh chứ không phải chuyện đùa giỡn hoặc ngu ngốc vô học cho rằng cứ đá là bền, cứ đá là chắc, cứ đá là sang…

Các nước có nền văn hóa dùng đá lâu đời và nền khoa học – sản xuất đá có kinh nghiệm họ thường dùng đá granit cho việc ốp, xây tường, làm cột chịu lực…, dùng đá marble làm đá trang trí lát sàn nhà trong nhà, ốp tường… rất đẹp với sức bền hàng thế kỷ. Riêng đá làm đường họ có thể dùng mable hay granit nhưng họ hay dùng đá chẻ thành cục vuông và để thô lát ban đầu trông lổn nhổn và nhám, nhưng đi lại hàng chục năm, hàng trăm năm… dần dần viên đá mòn nhẵn nhưng vẫn không trơn (do đá chẻ miếng nhỏ lát có mạch, có khi chỉ ghép lại với nhau, không có mạch vữa chết cứng…).

  1. Dự án đá hóa vỉa hè Hà Nội là dự án lớn kinh khủng

Nhưng những người làm dự án là một lũ vô học và cẩu thả. Chúng cứ nghĩ đá là bền, là đẹp như các nước họ đã làm…

Hỡi ôi, giờ thì nát bét hết cả vỉa hè Hà Nội rồi: Đá 70 năm thì 2 năm đã vỡ toác.

Chỗ cần nhám (vỉa hè, gờ đường lên xuống xe máy) thì chúng lát đá trơn, ngã cứ oành oạch…

Chỗ cần đá chẻ thì chúng lát đá phiến. Chỗ cần granit thì chúng lát marble. Chỗ cần marble thì chúng lát granit. Chỗ không được gắn vữa cứng thì chúng trét xi măng đóng cứng…

  1. Hết giám đốc này đến giám đốc khác, hết chủ tịch này đến chủ tịch khác, nhưng quyết tâm đá hóa vỉa hè không hề thay đổi

Lần này, Giám đốc Sở Xây dựng Võ Nguyên Phong có khá hơn là công bố nguyên nhân của đá vỡ, vỉa hè vỡ là do “đá gặp mưa tự giãn nở rồi vỡ”.

Ảnh chụp màn hình bài trên báo Tuổi Trẻ

Ông giải thích,chất lượng đá sử dụng để lát vỉa hè Hà Nội được khai thác bằng phương pháp nổ mìn nên đá bị om. Ngoài ra, đá marble thường có gân đá, không được đồng chất, khi mưa xuống thì bị giãn nở, tự vỡ, thậm chí không cần tác động vật lý“.

Nguyên nhân gốc rễ là lát bằng đá marble chứ chỗ nào lát granit vỉa hè không vỡ? Nhưng trơn kinh khủng…

Giống hệt ông nào ngày xưa trả lời đê vỡ là do mưa quá to, có gì đâu, vỡ đê là vẫn theo kế hoạch.

Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo xưa là kỹ sư vật liệu xây dựng đấy.

Còn tiểu sử Võ Nguyên Phong: “Tân Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội sinh năm 1969, quê quán tại Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Ông Võ Nguyên Phong là cán bộ ngành xây dựng với chuyên ngành quản lý đô thị. Ông Phong từng là Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội.

Ảnh trên mạng

Vào tháng 8/2017, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội có quyết định điều động ông Võ Nguyên Phong – Phó Giám đốc Sở Xây dựng tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Quận ủy Đống Đa, giữ chức Phó Bí thư Quận ủy nhiệm kỳ 2015 – 2020. Sau đó, HĐND quận Đống Đa đã bầu ông Phong làm Chủ tịch UBND quận“.

Nguyễn Bá Thanh và những vụ bức tử, “giết người diệt khẩu” kinh hoàng ở Đà Nẵng (Phần 2)

Báo Tiếng Dân

Mai Hoa Kiếm

4-12-2022

Tiếp theo phần 1

Xuất gia, đạo và đời

Sư thầy Thích Pháp Vân tên thật là Đỗ Vân, sinh năm 1972, quê ở thôn Quang Châu, xã Hoà Châu, huyện Hoà Vang, Đà Nẵng, trong một gia đình đông con, cùng cực và đói nghèo. Đỗ Vân là con áp út, dưới Vân còn có một em gái.

Vốn hiếu thảo, học giỏi, nhưng “chọn đường tu, mong sao đủ công đức cho kiếp sau cha mẹ, anh em dòng họ bớt khổ”, như sư tâm sự của thầy.

Năm 1982, Đỗ Vân được Hoà thượng Thích Huệ Hướng (1940-1995) trù trì chùa Quán Thế Âm, dưới chân ngọn núi Kim Sơn, thu nạp đệ tử, đặt cho pháp danh Pháp Vân, cùng đồng môn: Pháp Như, Pháp Châu, Pháp Bửu, Pháp Chiếu…

Năm 1990, thể theo nguyện vọng các đồ đệ trưởng thành, Hoà thượng Thích Huệ Hướng khuyến khích đệ tử cứ tự lập tịnh thất để phát triển đạo pháp. Pháp Châu lập tịnh thất Huệ Quang tại ngọn núi Mộc Sơn (nay là chùa Huệ Quang). Pháp Bửu, Pháp Vân ở lại với thầy cho đến khi Hoà thượng lâm trọng bệnh và viên tịch vào năm Ất Hợi 1995.

Ảnh: Làng Quang Châu, quê của sư Pháp Vân. Nguồn: Tác giả gửi cho Tiếng Dân

Ảnh: Chùa Quán Thế Âm, nơi sư Pháp Vân tầm sư học đạo. Ảnh trên mạng

Sau đó mấy năm, khi nỗi nhớ, niềm thương sư phụ nguôi ngoai, sư Vân lên đỉnh Sơn Trà tìm nơi yên tĩnh, tịnh tâm, học đạo tu hành. Bãi Bụt, vùng đất bằng phẳng, hướng vọng về phía chùa Quán Thế Âm, Ngũ Hành Sơn, vị trí này tương truyền có Phật Bà hiển linh, thường hiện ra trong sương mờ, là nơi sư Vân dừng chân, dựng một tịnh thất nho nhỏ. Tháng ngày trôi đi, nơi thâm sơn cùng cốc, sư làm bạn cùng chim muông, cây cỏ, cùng loài voọc chà vá chân nâu. Sư Vân sẽ bình yên gởi nốt phần đời còn lại nơi cửa Phật, nếu như không có một ngày…

Lửa thiêng gào thét

Năm 2004, sau khi đánh bại phe Trần Văn Thanh – Dũng “lửa”, thu tóm được hàng loại chức vụ, bí thư thành uỷ, trưởng đoàn đại biểu Quốc hội, chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng, Nguyễn Bá Thanh chính thức trở thành ông trùm ở Đà Nẵng. Một mặt, Bá Thanh cho rà soát, thiết kế lại bộ máy công chức, cài cắm, đưa người của ông ta vào nắm hết công an và chính quyền.

Về tôn giáo, Bá Thanh cũng can thiệp, để đưa người tin cậy vào Hội đồng trị sự giáo hội Phật giáo thành phố, trong đó có thượng toạ Thích Thiện Nguyện (1946-2016), tức “thầy Nguyện”, trụ trì hai ngôi chùa Linh Ứng 1 ở Ngũ Hành Sơn và Linh Ứng 2 ở Bà Nà.

Mặc khác, Bá Thanh chỉ đạo cho ồ ạt “chỉnh trang đô thị”, thẳng tay đàn áp, cưỡng chế thu hồi đất, móc nối chia chác dự án, phân lô bán nền. Hàng ngàn đại gia, doanh nghiệp, “ông lớn” bất động sản từ TPHCM và Hà Nội đổ về Đà Nẵng để xí phần. Dân oan bị những kẻ nhân danh đảng và nhà nước cướp đất, mất nhà, kêu khóc như xé nát trời xanh.

Từ sau vụ án Phạm Minh Thông, Nguyễn Bá Thanh cảnh giác rất cao. Ông ta không trực tiếp nhận tiền chung chi, hối lộ, mà thông qua thư ký, tay chân như Phan Văn Tâm, Vũ “nhôm” và vài nhân vật tin cẩn khác. Thậm chí, doanh nhân đến nhà chơi, hầu chuyện dịp Tết, Bá Thanh cũng buộc họ cởi bỏ veston, áo khoác, để điện thoại bên ngoài, nhằm tránh bị ghi âm, ghi hình.

Để lấy được dự án, được giao đất, được bất động sản, công sản với giá bèo bọt, doanh nghiệp phải hối lộ cho Bá Thanh khoản tiền từ 8-10% giá trị lô đất, giá công sản, tùy vị trí. Tiền có được, một phần ông ta chung chi cho các “đại ca” trung ương, phần còn lại thì bỏ túi. Về sau, thấy việc lấy tiền qua các “đầu sai” dễ bị lộ, nên Bá Thanh nghĩ ngay đến việc rửa tiền qua chùa.

Bá Thanh cho phép thầy Nguyện chọn bất kỳ địa điểm nào mà thầy muốn, để xây chùa Linh Ứng 3, ông ta cũng giúp “giải phóng mặt bằng”. Thoả thuận “tội lỗi” được Bá Thanh đề nghị, tiền của thập phương cúng dường công đức xây chùa, thì thầy Nguyện lấy, còn tiền doanh nghiệp, công ty “ủng hộ xây chùa” sẽ là của Bá Thanh. Mỗi tuần, hai bên đối chiếu, chia tiền qua biên lai, sổ sách.

Thầy Nguyện muốn xây được chùa to, hoành tráng để đời, nên tất tật phải chấp nhận, nghe theo mọi yêu cầu Bá Thanh đưa ra. Bù lại, Bá Thanh hứa sẽ trích thêm chút tiền cho thầy Nguyện xây Linh Ứng 3 và đưa thầy lên đỉnh cao quyền lực trong hệ thống Phật giáo thành phố.

Chùa Linh Ứng 3, sau này có tên Linh Ứng Bãi Bụt, được thầy Nguyện chọn ngay địa điểm gần sư Vân thiền tu. Bá Thanh cấp ngay gần 20 hecta đất, lấy trùm luôn tịnh thất nhỏ bé của sư Vân. Chùa được khởi công ngày 4-7-2004 và khánh thành ngày 30-7-2010. Ròng rã suốt 6 năm, số tiền ước đoán lên đến hàng ngàn tỷ đồng hối lộ, núp dưới mác “ủng hộ xây chùa”, đã chảy vào túi Bá Thanh.

Chùa Linh Ứng Bãi Bụt. Ảnh trên mạng

Một số hình ảnh Nguyễn Bá Thanh trong ngày khánh thành chùa Linh Ứng – Bãi Bụt. Nguồn: Báo Giác Ngộ

Về phần sư Vân, được biết, sư không hề oán trách hay tranh giành đất đai gì với thầy Nguyện. Bởi lẽ, đất của “nhà nước quản lý”, tịnh thất nép mình sau đại tam bảo cũng là kính Phật, thầy Nguyện cũng là bạn thân với cố hoà thượng Thích Huệ Hướng và cũng là người sư Vân luôn kính trọng và ngưỡng mộ, lúc rỗi sư Vân thường sang bên thầy Nguyện đàm đạo. Thầy đâu biết rằng, những tháng ngày bình yên, tĩnh lặng mà thầy đang tu tập nơi núi cao, sắp chấm dứt.

Một buổi trưa đầu tháng 8-2008, sư Vân sang thăm thầy Nguyện như thường lệ. Cửa chính không đóng, sư Vân sững người lại khi nhìn thấy ông trùm Nguyễn Bá Thanh và thầy Nguyện đang kiểm đếm tiền, lấy từ các két sắt để chia nhau. Sư Vân không tin vào mắt mình, khi thấy toàn những xấp Mỹ kim dày cộm và những cây tiền đồng Việt Nam nguyên đai, nguyên kiện còn dấu niêm phong của ngân hàng. Quan ngại lẫn kinh sợ, sư Vân xin phép cáo từ, quay lui.

Sư Vân đi rồi, Bá Thanh chau mày nói với thầy Nguyện: “Thầy tính răng (sao) thì tính, chứ phải xử nó thôi”. Một tuần sau, thầy Nguyện cùng bộ phận hậu cần, quản viện bên chùa Linh Ứng 3, hô hoán, bị kẻ trộm lẻn vào lấy đi số tiền 50 triệu đồng. Rất nhanh, công an Đà Nẵng vào cuộc điều tra. Giám đốc CA Phan Xuân Sang, cùng các phó giám đốc như Thái Công Sỹ, Lâm Cao Luynh, Nguyễn Đình Chính đều thay nhau chỉ đạo rốt ráo. Người ta tìm thấy bọc tiền đúng 50 triệu được giấu trong chậu hoa trong khuôn viên tịnh thất của sư Vân.

Cơ quan điều tra liên tục triệu tập sư Vân để lấy cung, nhưng sư có biết gì đâu để khai báo. Không một ai đứng ra biện bạch, giải oan, ngược lại mọi con mắt hồ đồ đều ném cái nhìn đầy nghi kỵ về phía sư Vân. Cuối cùng, sư Vân cũng nhận được đề nghị lựa chọn từ điều tra viên. Một là sư Vân phải vĩnh viễn rời khỏi tịnh thất, ra đi thật xa; hai là sư sẽ bị khởi tố, tội danh “trộm cắp tài sản”.

Đớn đau cả về nhục thể lẫn tinh thần, nước mắt nhà sư uất nghẹn như hoà trong mây ngàn, gió núi…

Biết trước sau gì Bá Thanh cũng sẽ mượn bàn tay công an côn đồ hoặc

xã hội đen giết mình, nên sư Vân đã ghi âm toàn bộ sự thật câu chuyện, cùng đôi lời trăng trối vào điện thoại di động, rồi chuyển về cho gia đình.

Để giữ sự sáng trong, đạo hạnh suốt 25 năm của bậc chân tu nương nhờ cửa Phật, sư Vân đành phải hoá thân.

Lúc 9h sáng, ngày 15-8-2008, tức ngày 15-7 năm Mậu Tý, khi bình minh chưa tan hết những giọt sương mai, sư Vân rời tịnh thất, xuống khúc quanh cung đường dẫn lên chùa Linh Ứng 3, rồi tưới xăng châm lửa tự thiêu. Ngọn lửa bao trùm xác thân vị sư thầy vô tội, khói đen cuộn lên như dấu hỏi to ngáng giữa lưng trời.

Dân chài vùng Thọ Quang gần đó cho biết, công an phong toả tất cả các ngã đường lên xuống chùa. Không có ai dập lửa cho đến khi có tiếng sét đùng đùng nổ giữa trời quang. Có lẽ trời Phật cũng khóc thương cho thân phận cô đơn, oan khốc của bậc tu hành, nên giáng mưa giông bất ngờ, làm tắt ngọn lửa sắp tàn.

Công an Đà Nẵng xoá sạch hiện trường trong buổi sáng. Thi thể sư Vân được bàn giao cho gia đình đưa về quê mai táng. Truyền thông của đảng cấm đưa bất kỳ thông tin nào, vì vậy ngày đó, kể cả người dân Đà Nẵng, cũng không nhiều người biết sự việc.

Khúc quanh, địa điểm nơi sư Vân tự thiêu. Nguồn: Tác giả gửi tới Tiếng Dân

Tiếc thương bậc chân tu, khổ hạnh, nguyện duyên bạc mệnh, dân trong vùng lập một am nhỏ ngay vị trí sư tự thiêu, để nhang khói tưởng niệm. Người ta cho rằng, lửa thiêng gào thét đưa sư Vân hoá thân về cõi Phật tại Bãi Bụt năm ấy, như hồi chuông mong mỏi thức tỉnh lương tri những kẻ tham lam, gian ác, vô minh.

Mấy năm sau đó, luật pháp chưa đụng đến, nhưng luật trời đã ra tay. Những “đại quan” cai trị sở tại, từng dính líu đến oan án sư Vân, cũng lần lượt quy hồn địa phủ khi còn đương chức, nắm quyền sinh sát trong tay.

Thiếu tướng Phan Xuân Sang, giám đốc CA Đà Nẵng, bị ung thư gan, chết hồi tháng 1-2011, hưởng dương 59 tuổi.

Các cấp phó của Phan Xuân Sang cũng chịu chung số phận:

– Đại tá Lâm Cao Luynh, bị ung thư não, chết tháng 8-2015, hưởng dương 55 tuổi.

– Đại tá Thái Công Sỹ, bị ung thư vòm họng, nằm trên giường bệnh suốt 8 năm rồi đứt bóng vào tháng 9-2016, ở tuổi 61.

Riêng Nguyễn Bá Thanh được cho là bị đầu độc phóng xạ (ARS). Sau ba lần hoá trị không thành công, người co quắp, đen sì như bị hỏa thiêu rồi chết trong trong đau đớn hồi tháng 2-2015, khi gần tới tuổi 62.

Riêng cá nhân thầy Nguyện, đang khoẻ mạnh bỗng dưng phát bệnh, bệnh viện Đà Nẵng không chữa trị được. Dù đưa vào bệnh viện Việt-Pháp rồi bệnh viện 115 TPHCM, nhưng các bác sĩ hàng đầu vẫn bó tay.

Tháng 9-2016, hòa thượng Thích Thiện Nguyện, chức vụ Ủy viên Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo TP Đà Nẵng; Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Đà Nẵng; đại biểu HĐND TP khoá VII, VIII; Trụ trì chùa Linh Ứng 1,2,3 Đà Nẵng, trút hơi thở cuối cùng.

***

Dưới bàn tay của Nguyễn Bá Thanh, còn rất nhiều vụ án kinh người, mà trong khuôn khổ bài này không thể kể hết.

Vụ huy động cả ngàn công an Đà Nẵng đàn áp đẫm máu Giáo xứ Cồn Dầu vào ngày 4-5-2010, bắt nhiều người, đánh dập não đến chết giáo dân Nguyễn Thành Năm vào ngày 3-7- 2010, sau đó loan tin rằng ông Năm “bị đột quỵ” mà nhiều người đã biết.

Hay vụ kỹ sư Phạm Thanh Sơn, đến trụ sở UBND TP để khiếu kiện về việc cưỡng chế thu hồi đất, bị công an bảo vệ tại đây đánh chết, quẳng ra đường Bạch Đằng tưới xăng đốt xác phi tang, rồi rêu rao đó là vụ tai nạn giao thông lúc 12h30 trưa ngày 17-2-2011. Sau, truyền thông của đảng lại đưa tin, kỹ sư Sơn “bị bệnh tâm thần nên tự thiêu”.

Đó chỉ là hai trong số hàng trăm vụ oan án, dân bị cướp đất, bị đánh chết nếu khiếu kiện kéo dài.

Hai năm sau ngày Bá Thanh chết, Ban thường vụ Thành uỷ Đà Nẵng chỉ đạo làm hồ sơ, đề nghị nhà nước truy phong cho ông ta danh hiệu “Anh hùng lao động” và đề nghị được lấy tên đặt cho một con đường.

Dư luận xã hội mỉa mai, kẻ sẵn sàng thủ tiêu đối thủ chính trị, bức tử cả người xuất gia tu hành, nấu cao hổ và nghiện món thịt chó như Bá Thanh, lại được xưng thánh và truy phong anh hùng, thì Lê Thanh Hải, tức Hai Nhựt ở Sài Gòn, phải được gọi là “đại thánh” và phong tặng “đại anh hùng”.

Còn dân nghèo bị cưỡng chế cướp đất, khi họ lên tiếng bảo vệ tài sản của mình thì bị quy chụp “phản động”, bị đánh đập dã man đến chết, là chuyện không hề hiếm tại xứ “thiên đường XHCN” dưới chế độ cộng sản.

Điều kỳ lạ là, dù cướp cạn của dân, bán hết tài nguyên lẫn công sản Đà Nẵng để rồi mở vài tuyến phố, xây dăm ba cây cầu, “hung thần” Nguyễn Bá Thanh lại được đồng đảng tôn vinh như thánh. Chừng đó thôi đủ để thấy chế độc độc tài tàn bạo khát máu, nhưng luôn dùng đủ ngón nghề, thủ đoạn xảo trá, mị dân, lừa đảo, bịp bợm, gây ra muôn vàn tội ác cho dân. Nhưng tất cả bọn chúng đều không thoát khỏi lưới trời!

Nguyễn Bá Thanh và những vụ bức tử, “giết người diệt khẩu” kinh hoàng ở Đà Nẵng (Phần 1)

Báo Tiếng Dân

Mai Hoa Kiếm

4-12-2022

Thành phố Đà Nẵng tách ra khỏi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, trở thành thành phố trực thuộc trung ương từ tháng 1-1997. Kể từ đây, những cuộc quyết đấu tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm chính trị địa phương, gay gắt và kinh hoàng hơn bao giờ hết. Nguyễn Bá Thanh, một trong những hung thần khét tiếng, giờ đây đã mồ yên mả đẹp, nhưng dư âm về ông ta mãi là nỗi ám ảnh kinh hoàng…

Thủ tiêu Viện trưởng Viện Kiểm sát Phúc thẩm Tối cao 2

Nguyễn Văn Tùng sinh năm 1942, quê Nghệ An. Năm 1998, khi đang là Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát xét xử hình sự, thuộc VKS Tối cao, ông được chuyển về làm Viện trưởng VKS Phúc thẩm tại Đà Nẵng (còn gọi là Viện Phúc thẩm 2) phụ trách địa bàn từ Quảng Trị đến Khánh Hoà và các tỉnh Tây Nguyên. Nhận nhiệm sở mới, ông đưa cả vợ con vào Đà Nẵng sống. Nguyễn Văn Tùng là mẫu người cộng sản liêm chính còn sót lại của thời bao cấp, là cán bộ có năng lực, điềm đạm và khiêm tốn.

Ngày 4-6-2000, tin từ Viện Phúc thẩm 2 báo về VKS Tối cao, ông Tùng mất tích, không đến nhiệm sở, không liên lạc được. Sự việc chấn động, người của Vụ Tổ chức cán bộ VKS Tối cao bay gấp vào Đà Nẵng. C16 của Bộ Công an cũng vào cuộc. Thông tin từ cơ quan và người nhà dần hé lộ, diễn biến vụ án mất tích thật đáng ngờ…

Ngày ngày 30-5-2000, ông Tùng có lịch cùng vợ ra Hà Nội bằng máy bay. Sáng hôm đó, ông trực tiếp cầm CMND để đi mua vé và không thấy trở về. Xác minh tại Vietnam Airlines, thì trong danh sách hành khách các chuyến bay đi từ Đà Nẵng đến Hà Nội từ ngày 30-5 đến 1-6-2000, không tìm thấy tên ông Nguyễn Văn Tùng. Như vậy ông Tùng không hề bay ra Hà Nội, vậy ông đi đâu?

Trong khi đó, tại Thị xã Hội An (nay là TP Hội An) cách Đà Nẵng hơn 30km, buổi chiều ngày 31-5-2022, anh Trần Văn Tuấn sinh 1973, trú tại thôn Phước Trạch, xã Cẩm An, thị xã Hội An, đi thể dục và phát hiện ra tư trang của ông Tùng tại bãi tắm biển Cửa Đại, gần khách sạn Victoria. Tư trang gồm: đôi dép, một mũ lưỡi trai, một cặp da màu đen và chiếc áo mưa. Cách đó 200 mét, trên rừng dương liễu ven biển, phát hiện xe máy của ông Tùng, hiệu Custom màu xanh, biển số 29-846 K9.

Ảnh: Khu vực Victoria Hotel Cửa Đại, Hội An, nơi có hiện trường giả năm 2000. Nguồn: Tác giả gửi TD

Vụ mất tích của một Viện trưởng VKS đã dấy lên nhiều đồn đoán và dư luận xôn xao tại Việt Nam. Người ta thêu dệt, cho rằng ông tự sát, bị thủ tiêu hoặc tạo hiện trường giả để vượt biên trốn sang nước ngoài.

Cô Nguyễn Thu Trang, con gái ông Tùng, cho biết, gia đình cô rất hạnh phúc. Bố Tùng không việc gì phải đào tẩu hoặc tự vẫn.  Ngoài ra, trong quan hệ xã hội, công việc cũng không thấy bố Tùng than vãn gì về việc căng thẳng và ông cũng chưa từng gây thù, chuốc oán với ai.

Vụ án ông Nguyễn Văn Tùng, Viện trưởng VKS Phúc thẩm 2 mất tích được khởi tố điều tra. Có điều, cơ quan thụ lý là Công an tỉnh Quảng Nam, chứ không phải Công an Đà Nẵng, trong khi mọi diễn biến trước ngày ông Tùng mất tích, đều xảy ra trên địa bàn Đà Nẵng. Cơ quan điều tra đưa ra nhận định ban đầu, hiện trường trên bờ biển xã Cẩm An, Hội An, nơi phát hiện vật dụng của ông Nguyễn Văn Tùng, có khả năng chỉ là một cách đánh lạc hướng cơ quan điều tra.

Nhưng ai đã giết ông Tùng, tạo hiện trường giả đánh lừa cơ quan chức năng? Vì sao kẻ chủ mưu thủ tiêu ông Viện trưởng và xác ông Tùng hiện ở đâu?

Tất cả các câu hỏi đều đi vào ngõ cụt. Cơ quan Công an Quảng Nam im hơi lặng tiếng, không công bố bất kỳ tin tức gì. Báo chí quốc doanh cũng không có dòng nào lần theo dấu vết điều tra.

Một tháng sau, tức đầu tháng 7-2000, một xác chết được phát hiện, nổi trên vùng biển Quảng Ninh, khuôn mặt đã phân huỷ, quần áo nguyên vẹn, trong túi áo có CMND mang tên Nguyễn Văn Tùng, sinh năm 1942, quê Nghệ An. Thật bí ẩn, ly kỳ, khi mà người chết trôi ngược gần 1000 km, từ biển Hội An, Quảng Nam ra đến biển Quảng Ninh và quần áo còn nguyên trên người.

Không tìm ra hung thủ, Cơ quan điều tra CA Quảng Nam vĩnh viễn đóng lại hồ sơ vụ ông Nguyễn Văn Tùng mất tích bí ẩn.

Trong khi đó, dư luận ở Đà Nẵng và Quảng Nam, kể cả trong và ngoài ngành công an, lại rò rỉ nhiều thông tin đáng sợ đến ghê người.

Trước khi ông Tùng đi lấy vé máy bay, ông nhận được cuộc gọi hẹn gặp gấp. Đầu dây bên kia chắc chắn là người có thế lực, có thể liên quan hoạt động nội chính, tư pháp. Do đó, khi lên xe máy, ông Tùng đem theo cả cặp da đựng hồ sơ quan trọng. Tin nội bộ cho biết, ông Tùng có đầy đủ tài liệu vụ án Cầu Sông Hàn và Phạm Minh Thông đang gây xôn xao cả nước.

Vào ngày 29-3-2000, Cơ quan điều tra Công an TP Đà Nẵng bắt khẩn cấp Phạm Minh Thông, sinh năm 1938, quê Điện Minh, Điện Bàn, Quảng Nam. Lúc đó, Thông là giám đốc Công ty hợp doanh Xây lắp và kinh doanh nhà Quảng Nam – Đà Nẵng. Trong các bản cung, Thông khai đã đưa hối lộ cho Nguyễn Bá Thanh, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng nhiều lần, số tiền xấp xỉ 4-5 tỷ đồng, theo yêu cầu chia phần trăm từ Nguyễn Bá Thanh.

Viện Phúc thẩm 2 nhận được các báo cáo từ VKS TP Đà Nẵng. Ông Tùng được cho là sẽ đi Hà Nội, xin lệnh bắt Nguyễn Bá Thanh, nhưng đã muộn…

Ông Nguyễn Bá Thanh (phải) tặng hoa cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Sơn, Giám đốc CA TP Đà Nẵng.

Ảnh: PLTP Ông Phạm Minh Thông, bị cáo vụ án Cầu sông Hàn. Nguồn: AS&CS

Những người theo dõi sự kiện này có chung nhận định rằng, sát thủ đã giết ông Tùng buổi sáng, xe máy cùng tư trang ông Tùng được chuyển đến Hội An vào tối 30-5-2000 để dựng hiện trường giả, trong đó chiếc cặp da trống rỗng. Xác ông Tùng được các thủ phạm nguỵ trang thành hàng hoá, gởi kho ướp đông. Gần một tháng sau, chúng lại đưa lên xe thùng chuyên chở hàng thuỷ sản đông lạnh, vận chuyển ra Quảng Ninh và ném xuống biển.

Vụ án ông Nguyễn Văn Tùng mất tích bế tắc, không lâu sau đó, đại tá Trần Văn Thanh, nhân vật đối đầu trong “Chuyện song Thanh tại Đà Nẵng” bị mất chức giám đốc Sở Công an và bị điều về Bộ Công an. Sau cái chết của ông Tùng, lo sợ đến lượt mình, ông Trần Văn Thanh nhanh chóng bán nhà tại Đà Nẵng, đưa cả vợ con ra Hà Nội…

Ông Nguyễn Quốc Dũng, tức Dũng “lửa”, Viện trưởng VKS Đà Nẵng, anh ruột ông Nguyễn Xuân Phúc, cũng nghỉ hưu sớm.

Đã hơn hai mươi năm trôi qua, các cơ quan nội chính của nhà nước cộng sản cố xoá đi tài liệu về vụ án. Tuy vậy, cái chết của ông Nguyễn Văn Tùng đến nay vẫn còn tranh cãi âm ỉ, nhức nhối trong hàng ngũ cán bộ CA và cả VKS Tối cao.

Vì sao một Viện trưởng VKS đầy quyền lực, bị giết hại giữa thanh thiên bạch nhật, mà cả hệ thống chính trị của đảng phải bó tay, hung thủ thì vẫn nhởn nhơ, thách thức pháp luật?

Đập chết “Anh hùng Lực lượng Vũ trang”

Đỗ Văn Quả, sinh năm 1948, quê làng Ô Gia Nam, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Tuy sống miền quê thanh bình, nhưng tuổi thơ của Quả cực kỳ dữ dội. Đỗ Văn Quả bị xúi giục, lôi kéo đi làm giao liên cho Việt Cộng từ năm 15 tuổi. Lớn hơn một chút, được huấn luyện thành sát thủ, Quả tham gia đội vũ trang An ninh Quảng Đà và lập nhiều công trạng.

“Chiến công” lớn nhất của Quả phải kể đến là, ông ta đã giết rất nhiều đồng hương xứ Quảng, kể cả những người là bà con họ hàng, chỉ vì họ bị Việt Cộng tình nghi có cộng tác, làm việc hoặc có thân nhân dính dáng đến chế độ VNCH. Phần thưởng mà Quả nhận được là danh hiệu “Anh hùng LLVT” mà chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tặng vào năm 1976. Sau này, Đỗ Văn Quả mang lon trung tá, Trưởng công an huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

Thời bao cấp, khoảng năm 1988-1989 có Đặng Thanh Bình, sinh năm 1963, Chủ nhiệm HTX Nông nghiệp II, Đại Nghĩa – Đại Lộc – Quảng Nam, câu kết với Nguyễn Bá Thanh, lúc này là Chủ nhiệm HTX Hòa Nhơn 3, Hòa Vang, TP Đà Nẵng, buôn lậu hàng chục tấn thóc giống của nhà nước. Đỗ Văn Quả trực tiếp chỉ đạo điều tra, phá án, nhưng rốt cuộc tội phạm vẫn lọt lưới, cao chạy xa bay, bởi tội phạm được bảo kê, thậm chí nhiều kẻ có thế lực trong tổ chức đảng không muốn làm to vụ này.

Chẳng những không bị pháp luật sờ gáy, bộ đôi Bá Thanh – Thanh Bình càng ngày càng “chui sâu, leo cao”. Năm 2007, khi đã là Uỷ viên Trung ương đảng, Bí thư thành uỷ Đà Nẵng, Nguyễn Bá Thanh đưa Đặng Thanh Bình lên ghế Giám đốc Công ty Phát triển và khai thác Hạ tầng KCN Đà Nẵng. Cùng năm ấy, “cuộc chiến song Thanh” đã đến đỉnh điểm, tướng Trần Văn Thanh, Chánh thanh tra Bộ công an bị khởi tố điều tra, đình chỉ công tác.

Có thông tin cho hay, trung tá Đỗ Văn Quả tuyên bố muốn “lật lại hồ sơ vụ án” để giúp giải nguy cho tướng Trần Văn Thanh, người bạn, người đồng đội cùng chiến hào năm xưa ở Ban An ninh Quảng Đà. “Tai vách mạch rừng”, Đỗ Văn Quả, Trưởng công an huyện Đại Lộc chưa kịp làm gì thì đối phương đã ra tay trước.

Vợ ông Quả là bà Trương Thị Hạnh, sinh năm 1954, kể rằng, ông đi công tác, có kẻ mạo danh, gọi điện thoại báo tin khẩn, kêu ông Quả về nhà ngay vì vợ đang cấp cứu. Nửa đêm, đường quê nhá nhem, sát thủ giấu mặt từ bụi rậm nhảy ra, phang một nhát gỗ to vào gáy Quả. Người và xe máy ông trung tá bị bay xuống mương nước. Quả bị gãy cổ, dập não, đa chấn thương, chết không kịp trối một lời.

Những tài liệu mà trung tá Đỗ Văn Quả có, mọi bí mật mà ông biết rõ về Nguyễn Bá Thanh, đã vĩnh viễn mang theo ông xuống mồ. Rất nhiều cơ quan vào cuộc điều tra mà không có kết quả. Hoặc người ta biết, nhưng không dám làm. Vụ án khép lại, hung thủ biệt tăm.

Ai giết Đỗ Văn Quả? Cơ quan điều tra không trả lời được. Nhưng dân chúng rất nhạy, họ biết kẻ chủ mưu không ai khác ngoài “hung thần” Nguyễn Bá Thanh và đám tay sai. Tuy nhiên, vì sợ đại hoạ vào thân, dân tình tụ tập đây đó chỉ dừng lại ở mức xầm xì, bàn tán.

Có bốn sĩ quan CA biết tường tận về những gì Nguyễn Bá Thanh nhúng tay. Đó là trung tướng Lê Ngọc Nam, cựu Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng BCA, giám đốc CA Đà Nẵng; đại tá Nguyễn Đình Chính, cựu Phó giám đốc CA, Chỉ huy trưởng lực lượng cảnh sát Đà Nẵng. Cả Nam và Chính đều cùng tuổi, đều là con liệt sĩ, học sinh miền Nam trên đất Bắc với Nguyễn Bá Thanh, cũng là hai “hung thần” khét tiếng tàn bạo tại Đà Nẵng. Hai nhân vật còn lại cũng hiểu rõ nội tình, đó là thượng tá Vũ “nhôm”, là người đang thụ án 30 năm tù giam và đại tá Hùng “CD”, một người bạn, được phong “anh hùng LLVT” cùng đợt với ông Quả vào năm 1976.

Chân dung Lê Ngọc Nam và Nguyễn Đình Chính 

Ảnh: Hùng “CD” và Vũ “nhôm”

Hùng “CD” tên thật là Nguyễn Thanh Hùng, sinh năm 1950, quê Quế Sơn, nhưng đầu quân dưới trướng Nguyễn Bá Thanh nên nhận bổng lộc đầy đủ. Hùng “CD” từng là Đội trưởng Cảnh sát Hình sự Công an tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, cấp bậc sau cùng là lon đại tá, Trưởng phòng Cảnh sát bảo vệ và cơ động CA Đà Nẵng. Ông ta nghỉ hưu năm 2011.

Sau mấy chục năm vơ vét đầy túi, Hùng “CD” đã kịp đưa hai cô con gái sang Mỹ du học, bỏ ra mấy triệu Mỹ kim để mua nhà ở Mỹ cho con bên đó. Hùng “CD” có ba vợ, có bốn cây xăng kinh doanh tại các vị trí đắc địa, cùng hàng chục căn nhà lầu đang cho thuê tại Đà Nẵng.

Vợ chồng Hùng “CD” có nhà riêng ở Ravensworth Virginia, Hoa Kỳ và đi về liên tục giữa Mỹ và Việt Nam mỗi năm vài lần.

Chúng tôi trở lại bốn nhân vật đồ đệ của Nguyễn Bá Thanh này vào một dịp khác.

(Còn nữa)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Quýt Tập Cận Bình

Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Tưởng Năng Tiến

Nhà văn Bá Dương phàn nàn rằng đồng bào của ông bị “dị ứng” với hai chữ cám ơn : “Tôi nghi rằng để có thể móc trong mồm một người TQ ra cái câu cám ơn ông e rằng nếu không dùng đến cái cào cỏ năm răng của ông bạn Trư Bát Giới của chúng ta thì không thể được.”

Ngoài cái bệnh dị ứng với chuyện ơn nghĩa, vẫn theo như lời của tác giả Người Trung Quốc Xấu Xí, dân Tầu còn mắc cái tật hơi lớn tiếng : “Nói đến ồn ào, cái mồm người Trung Quốc thì to không ai bì kịp.”

Những ghi nhận đọc được qua trang FB của Nguyễn Chương về người Đài Loan lại hoàn toàn khác:

  • Tại bến xe mọi người đều tự giác xếp hàng. Khi lên xe, nhân viên nhiệt tình hỏi bạn muốn đi đâu, và khi thu tiền hoặc thối lại tiền, họ đều nói “cảm ơn”vì bạn đã thịnh tình chiếu cố.
  • Khi mua cơm ở cửa hàng, mỗi lần kêu món hoặc đến lúc trả tiền, tôi đều nghe nhân viên nói “cảm ơn”luôn miệng.

Kinh nghiệm của tôi ở Singapore cũng thế, cũng khác. Có lần bước vào một tiệm ăn ở Đảo Quốc này, tôi rất ngạc nhiên khi thấy hình một tô hoành thánh mì, cùng dòng chữ song ngữ (Please Keep The Volume Down While Eating After 10:30 PMdán ngay trên tường.

Ảnh (tnt) chụp năm 2019

Thảo nào mà quán đông nhưng không ồn. Hoá ra không phải ở đâu người Trung Quốc cũng là những kẻ vô ơn, và lúc nào họ cũng lớn họng, như lời than phiền của Bá Dương. Có nơi – và có lúc – họ cũng thường “cảm ơn luôn miệng” và cũng ăn nói nhỏ nhẹ, đàng hoàng, rất mực.

Thế mới rõ là có nhiều giống người Hoa chứ không phải một: Tầu Singapore, Tầu Hồng Kông, Tầu Đài Loan, Tầu Đại Lục … Và họ khác nhau một trời/một vực – theo như ghi nhận của một người cầm bút khác, Tạ Duy Anh:

“Không phải vô cớ mà người Đài Loan kiên quyết không nhận mình là Trung Quốc, dù họ phần lớn từ Phúc Kiến sang. Người Đài Loan hiền lành, tinh tế, trung thực thuộc loại nhất thế giới. Trong khi người Trung Quốc đại lục thì luôn tạo ra ác mộng cho bất cứ đâu họ đặt chân đến.”

Ở bình diện thể chế cũng thế: “Điểm khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật tại Đài Loan và Trung Quốc sâu và rộng gấp mấy lần vài trăm dặm eo biển chia cắt hai quốc gia này. The gulf between legal systems across the Taiwan Strait is far wider than a hundred miles.” (Margaret K. Lewis. “Taiwan’s Human Rights Revolution and China’s Devolution.” The Diplomat 10 Mar 2017 translated by Quỳnh Vi). 

Sao kỳ vậy cà?

Tác giả Huy Phương lý giải như sau : “Cũng giống quýt đó, trồng ở Giang Nam thì chua, trồng ở Giang Ðông thì ngọt. Ðó chính là nhờ phân, nước, khí hậu mỗi nơi cho những thứ trái có phẩm chất khác nhau… Bây giờ hầu hết giống quýt đều muốn được trồng ở Giang Ðông, chứ không muốn mọc ở Giang Nam.”

Tương tự, “bây giờ hầu hết” người Trung Quốc cũng đều muốn “được trồng” lại ở một nơi nào khác, cho nó bớt chua, chớ không phải ở nơi quê hương (bản quán) của mình:

Đất lành chim đậu. America, Canada, Australia thì không nói làm chi, chớ ngay tới  Châu Phi mà cũng được người Tầu coi như là đất lành thì ai cũng phải thấy rằng Trung Hoa Lục Địa (quả) là dữ thiệt, và dữ lắm – trừ ông Tập Cận Bình.

Chủ quan và kiêu ngạo cộng sản là chứng bệnh chung của rất nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao, chớ chả riêng chi bác Tập. Bởi thế, bác ấy rất bất bình (và bị chạm tự ái) vì người dân Trung Cộng đã bỏ chạy tá lả bùng binh – theo tôi – là điều hoàn toàn thông hiểu và thông cảm được.

Tôi chỉ phàn nàn mỗi ở điểm là ông Chủ Tịch Nước đã có cái thái độ quá đáng, hay nói chính xác hơn là quá quắt, khi đòi hỏi Nước Trung Hoa Là Một – One  China Policy. Ổng muốn thâu tóm tất cả vô cái phần đất dữ dằn (và chua lè) của mình cơ.

Ngày 1 tháng 7 năm 2017, Tập Cận Bình đến dự lễ kỷ niệm Hai Mươi Năm Trao Trả Hồng Kông – Hong Kong Handover 20th Anniversary. Bữa đó, tôi tình cờ cũng có mặt tại Hương Cảng và đang ngồi ăn mì (nên suýt ói) khi nghe thằng chả nói –  y như thiệt – trên TV rằng: “Hong Kong has always been in my heart.”

Biểu tình phản đối TCB tại H.K. Ảnh: South China Morning Post – 01 July, 2017

Tui quen cả đống người dân Hồng Kông, đủ mọi thành phần, chả hề nghe ai nói là trong trái tim họ lại có Tập Cận Bình cả. Họ cũng hoàn toàn không có chút xíu xiu thiện cảm, hay gắn bó gì với Trung Hoa Lục Địa. Giới truyền thông cũng phản ảnh y như thế:

– Reuter: Người trẻ Hong Kong muốn tất cả biết họ là người Hong Kong, không phải Trung Quốc.

– Le Monde: Thất bại của một đất nước, hai chế độ.

– RFI: Hồng Kông trong bàn tay thép của Trung Quốc.

– BBC: Đừng ảo tưởng rập đầu trước Trung Quốc.

– RFA: Người Hong Kong xin hộ chiếu Anh quốc vì lo sợ tương lai.

Người Đài Loan cũng vậy, cũng sợ thấy bà luôn. Đối với họ (chắc) hai chữ “cộng sản” cũng có nghĩa tương tự như “dịch tả” hay “dịch hạch,” chớ không là gì khác cả – dù  Tập Cận Bình vẫn luôn miệng trấn an:

“Sau khi thống nhất hòa bình, Đài Loan sẽ có hòa bình lâu dài và người dân sẽ được hưởng cuộc sống tốt đẹp và thịnh vượng. Với sự hỗ trợ tuyệt vời của ‘mẫu quốc,’ nền an ninh của đồng hương Đài Loan sẽ còn tốt hơn nữa, và không gian phát triển của họ sẽ còn lớn hơn nữa.”

Chuyện của thiên hạ nhưng FB Nguyễn – Chương Mt (VN) vẫn nhất định xía vô, và bàn ra, cho bằng được:

“Cái này kêu bằng ‘nằm mơ giữa ban ngày’ từ phía Bắc Kinh… Đài Loan đã và đang là một lãnh thổ độc lập gần 70 năm rồi đa! Bảy thập kỷ (từ 1950 tới nay) sống mình ên, mọi chính sách đối nội lẫn đối ngoại do Đài Bắc tự quyết định (Bắc Kinh chớ hề được phép nhúng tay vào mà ‘chỉ đạo’). Ở đời, có ai đang độc lập mà không chịu sướng, lại đi chui vào một thiết chế để cho người khác chỉ đạo? Mà phải chi Bắc Kinh văn minh hơn, mức sống dân chúng cao hơn, an sinh xã hội tốt hơn thì… cũng dám xin thôi độc lập để được nâng khăn sửa túi lắm à.”

Nguyễn – Chương Mt còn làm tài hay, cầm đèn chạy trước ô tô, mau mắn cho độc giả biết rằng: “Danh xưng ‘Cộng hòa Đài Loan’ (tức ‘Đài Loan dân quốc’ 台灣民國) đang rục rịch để một ngày đẹp trời thế chỗ, không còn xài danh xưng ‘Trung Hoa dân quốc’ (中華民國), khỏi dính tới vòng kim cô ‘One China’ làm chi cho má nó khi…”

Theo VOA, nghe được hôm 02/01/2019, Tổng Thống Thái Anh Văn cũng mới vừa tuyên bố : “Đại đa số người dân Đài Loan kiên quyết chống đối khái niệm ‘một quốc gia, hai chế độ,’ đây là sự đồng thuận tại Đài Loan.” Mấy tháng sau, ngày 8 tháng 4, Taiwan News đưa tin : “Thousands of Taiwanese protest against ‘one country, two systems’ in Kaohsiung. Hàng ngàn người Đài Loan xuống đường phản đối ‘một nhà nước, hai chế độ’ ở Cao Hùng.”

Chưa hết, RFI nghe được hôm 7 tháng 5 năm 2019, lại vừa hớn hở cho hay : “Hạ Viện Mỹ thông qua luật bảo vệ Đài Loan … Với 414 phiếu thuận và 0 phiếu chống.”

Tui thì không rành (và cũng không mặn mà) chuyện chính trị/chính em nên không dám xía vô, hay bàn ra gì ráo, chỉ trộm nghĩ rằng : hiện tại dân số Trung Cộng đã lên tới 1/5 tổng số nhân loại rồi, gieo trồng 1,418,804,794 trái quýt chua (lè) như vậy bộ chưa đủ sao mà còn muốn ấn thêm vô làm chi nữa, cha nội? Bộ không thấy hằng triệu người dân Hồng Kông đang xuống đường biểu tình phản đối và cả loài người đang nhăn mặt hay sao?

Nhà cầm quyền Iran giải thể cảnh sát đạo đức và sửa đổi luật trùm khăn Hồi Giáo.

Lmdc Viet Nam

*** Tự do không tự nhiên mà có, mà phải trả bằng máu và nước mắt.

* Nhà cầm quyền Iran giải thể cảnh sát đạo đức và sửa đổi luật trùm khăn Hồi Giáo.

Chính quyền Iran đã phải nhân nhượng phong trào phản kháng đường phố kéo dài suốt ba tháng qua.

Ngày 04/12/2022, Teheran thông báo giải thể lực lượng cảnh sát đạo đức, được thành lập để « truyền bá văn hóa đoan trang và choàng khăn ». Mọi phụ nữ ở Iran bị bắt buộc trùm khăn che mặt theo một đạo luật có hiệu lực từ năm 1983.

Các cuộc biểu tình bắt đầu từ tháng 9 để phản đối việc thiếu nữ Mahsa Amini bị chết khi đang bị cảnh sát đạo đức giam giữ vì không trùm khăn Hồi giáo theo đúng luật.

Sau đó, phong trào phản đối chuyển sang hướng chính trị với những khẩu hiệu ngày càng cứng rắn hơn chống các nhà lãnh đạo Iran và khiến vài trăm người chết.

Ngày 03/12, bộ Nội Vụ Iran cho biết kể từ khi phong trào biểu tình nổ ra vào tháng 09, có hơn 200 người chết, kể cả cảnh sát.

Tổ chức Quan sát Nhân quyền Iran (IHR), trụ sở tại Na Uy, thống kê khoảng 448 người chết. Liên Hiệp Quốc đưa ra con số hơn 300 người, trong đó có hơn 40 trẻ em.

– Từ vài tuần nay, người ta thấy nhiều phụ nữ Iran, đặc biệt là thanh niên, không trùm khăn nhưng không bị lực lượng an ninh can thiệp.

Đây là một chiến thắng mà phụ nữ Iran nói riêng và nhân dân Iran nói chung đã phải trả bằng máu và nước mắt để có được quyền “Tự Do” không bị bắt buộc trùm khăn khi ra đường.

* Hoan Hô Phụ Nữ IRAN.

TL RFI & VOA

Nhớ một thời rực rỡ túc cầu VNCH

Báo Saigon nhỏ

Một sân bóng ở miền Nam trước 1975 (file photo)

Nhân mùa World Cup 2022, xin đọc lại vài hồi ức về túc cầu VNCH, qua những gì ghi chép của ông Nguyễn Ngọc Chính…

****

Hồi đó, nhóm học sinh nhà ở khu Địa dư, gần trường Lycée Yersin, có đội bóng hay nhất trong số các học sinh ở lại trường vào buổi trưa. Nhà tôi ở được xếp vào khu Địa dư dù cách đó hơi xa nhưng vẫn nằm trong khu Saint Benois hay còn gọi là Chi Lăng, gần trường Võ bị Đà Lạt. Chúng tôi đá bóng chân đất và sau mỗi trận đấu thường xuống hồ rửa ráy để chuẩn bị vào lớp buổi chiều. Sân bóng gần hồ rất tiện lợi cho việc tắm rửa nhưng cũng có điều bất lợi mỗi khi đá mạnh quá bóng có thể lăn theo triền dốc xuống hồ, mất công lội xuống nước để nhặt bóng.

Đá bóng là môn thể thao ưa thích của tôi ngay từ hồi còn nhỏ. Tôi thường chơi trong vai trò trung phong với những đường lừa bóng và sút bóng… có hạng. Tôi nhớ mãi đã có lần sút bóng mạnh đến nỗi thủ môn của phe đối phương phải chảy máu mũi vì bóng trúng mặt. Bản thân tôi lúc đó cũng thấy sợ phát khiếp. Điều lý thú là người giữ khung thành, Nguyễn Thanh Hà, sau này gia đình cũng chuyển qua Ban Mê Thuột học lớp Đệ Ngũ tại trường trung học Ban Mê Thuột. Hà về sau trở thành một cầu thủ có hạng còn tôi thì lại không còn chọn con đường đá bóng.

****

Ngày xưa, bóng đá được người Sài Gòn gọi nôm na là đá banh hay văn hoa hơn là túc cầu. VNCH thời 1966 đã từng đoạt cúp Merdeka của Malaysia, khi đó đội tuyển được đặt dưới sự dìu dắt của huấn luyện viên Weigang, người Đức. Đội hình ra sân có thủ môn Lâm Hồng Châu, hậu vệ gồm Phan Dương Cẩm (tự Hiển), Nguyễn Văn Có, Phạm Huỳnh Tam Lang, Lại Văn Ngôn, giữ vị trí tiền vệ có Đỗ Thới Vinh, Nguyễn Ngọc Thanh và hàng tiền đạo gồm Nguyễn Văn Ngôn, Nguyễn Văn Chiêu, Lê Văn Đức, Trần Chánh.

Trận chung kết giải Merdeka có khoảng 40,000 khán giả ngồi kín Sân Vận động Quốc gia với sự chủ tọa của Quốc vương Mã Lai và Thủ tướng Abdulraman. Đội tuyển VNCH ra sân trong màu áo vàng, quần trắng, vớ vàng, được sự cổ vũ nồng nhiệt của khán giả Malaysia, nhất là tiền vệ Đỗ Thới Vinh, người dễ nhận ra nhất trong đội hình Việt Nam với cái đầu hói và những pha lừa bóng điệu nghệ cùng những cử chỉ pha trò có duyên của anh trên sân cỏ đã thu được cảm tình của khán giả và báo chí nước chủ nhà.

Với ý chí quyết tâm, toàn đội Việt Nam đã “ăn miếng trả miếng” trong trận chung kết với đội Miến Điện (ngày nay gọi là Myanmar) một cách xuất sắc. Tuy nhiên, hiệp một chấm dứt mà không bên nào mở được tỉ số. Sang đến hiệp hai, cơ hội bằng vàng đến với đội tuyển VNCH ở phút 72. Từ đường chuyền của thủ quân Phạm Huỳnh Tam Lang, nhà ảo thuật Đỗ Thới Vinh khéo léo dẫn banh qua hai cầu thủ Miến Điện, mở bóng xuống vừa đúng tầm để trung phong Nguyễn Văn Chiêu băng xuống.

Chiêu dùng ngực hứng bóng, xoay người, tung quả sút hiểm hóc từ xa 25 mét bằng chân trái, bóng đi như ánh chớp vào góc thượng của khung thành Miến Điện trước sự ngỡ ngàng của Đệ nhất Thủ môn Á Châu thời bấy giờ là Tin Tin An, mở tỷ số 1-0 cho Đội tuyển Việt Nam. Bàn thắng này cũng là tỷ số chung cuộc của trận đấu và là bàn thắng đáng giá ngàn vàng đưa đội tuyển VNCH lên ngôi Vô địch Giải Túc cầu Merdeka 1966 tại Mã Lai.

Trung phong Nguyễn Văn Chiêu và tiền vệ Đỗ Thới Vinh là đôi bạn thân thiết cùng chung màu áo từ đội Quan Thuế rồi khi vào quân ngũ cả hai đá cho Đội Tổng tham mưu. Giải ngũ, cả hai trở về đội Quan Thuế và cùng đá trong đội tuyển quốc gia. Cuộc đời hai anh gắn liền cả chục năm trời bên nhau trên sân cỏ.

Tại Giải Merdeka năm 1966, Vinh và Chiêu là hai người lập công trạng lớn nhất đem vinh quang về cho Việt Nam. Giờ đây, hai anh kẻ trước người sau ra đi trong âm thầm, thiếu vắng đồng đội tiễn đưa, không một lời ai điếu nhắc lại thời huy hoàng của trên sân cỏ.

Nguyễn Văn Chiêu đã vĩnh viễn ra đi năm 1987 tại Long Thành trong hoàn cảnh thương tâm, chỉ có người vợ cùng mấy người con khóc nghẹn trước thân xác lạnh lẽo của chồng và cha trong căn chòi lá nằm sâu trong một góc vắng của thị xã Long Thành. Đám tang anh vội vã, không kèn không trống. Mộ phần không tiền xây cất, đắp đất sơ sài.

Tiền vệ Đỗ Thới Vinh cũng mất tại Việt Nam năm 1995 vì bệnh tiểu đường. Anh là nhân vật tên tuổi trong giới túc cầu được nhiều người ái mộ từ trong nước ra tới hải ngoại nhưng anh cũng âm thầm ra đi trong hoàn cảnh đơn chiếc, túng thiếu.

Lão tướng Quách Hội, 73 tuổi, kể về chiếc Cúp Merdeka năm 1966 như sau:

“Năm 1995, một sáng tôi đi ngang một tiệm bán đồ lạc-xon trên đường Hải Thượng Lãn Ông, tình cờ tôi nhìn thấy, bày trong số đồ bán của tiệm, chiếc Cúp Vô Địch Giải Túc Cầu Merdeka mà Đội Tuyển Túc Cầu Việt Nam Cộng Hoà, trong đội có tôi, đoạt được năm 1966 tại Malaysia. Người chủ tiệm nói chắc giá 5 triệu đồng. Không có tiền, tôi đứng trước tiệm lạc-xon ấy từ sáng đến trưa với hi vọng có bạn đồng đội cũ nào đi ngang thì báo tin để kêu gọi anh em góp tiền mua lại chiếc Cúp. Chờ mãi không gặp được ai, tôi đi về mà nước mắt ứa ra vì tiếc cho kỷ vật ghi lại chiến tích một thời của anh em chúng tôi. Không biết giờ này chiếc Cúp Merdeka của anh em chúng tôi lưu lạc về đâu.”

Cũng phải nói thêm về thủ môn Phạm Văn Rạng một thời nổi tiếng với danh hiệu “Lưỡng thủ vạn năng” vẫn sống mãi trong ký ức của những người hâm mộ bóng đá thuộc lứa tuổi U-60 và U-70. Năm 1949, từ vai trò trung phong của trường Việt Nam Học đường, ông bất ngờ trở thành người giữ khung thành khi thủ môn chính thức không thể ra sân.

Năm 1951 Phạm Văn Rạng được đội Ngôi sao Bà Chiểu của ông bầu Võ Văn Ứng mời về giữ khung thành, rồi chỉ hai năm sau được chọn làm thủ môn cho đội tuyển Thanh Niên. Năm 1953 bị động viên, ông trở thành người trấn giữ khung thành cho đội Tổng Tham mưu. Cùng năm đó, ông được tuyển vào đội tuyển VNCH, khi mới 19 tuổi và khoác áo đội tuyển cho đến năm 1964 thì giải nghệ. Năm 1966, dù đã 31 tuổi, ông vẫn được mời vào đội tuyển Ngôi sao châu Á (All Stars Team of Asia), bởi vị trí thủ môn chưa có cầu thủ nào của châu Á có thể cạnh tranh được. Đội Ngôi sao châu Á do cựu danh thủ Lý Huệ Đường làm HLV trưởng, trợ lý HLV là ông Peter Velappan (hiện nay là Tổng Thư ký LĐBĐ châu Á).

Sau khi được các đồng đội như Tam Lang, Dương Văn Thà, Võ Thành Sơn, Tư Lê, Hồ Thanh Cang cùng nhiều người hâm mộ đã giúp đỡ xây dựng cho một ngôi nhà cấp 4 tại sân bóng Thuận Kiều, thủ môn huyền thoại Phạm Văn Rạng đã qua đời vào Tháng Mười Một 2008. Tôi còn nhớ, ngày xưa mỗi khi họp nhau đá bóng, bọn trẻ chúng tôi luôn luôn bàn cãi trong việc chọn lựa ai sẽ là… Gôn Rạng! Hai chữ Gôn Rạng đã đi vào đầu óc non trẻ của chúng tôi trong ngôn ngữ hàng ngày.

Danh thủ Tam Lang với cup vô địch Merdeka 1966 (file photo)

Tại sân vận động Cộng Hòa vào giữa Tháng Mười Hai 1967 có Giải Túc cầu Thân hữu Việt-Mỹ. Từ Mỹ sang là đội Dallas Tornado, họ đấu hai trận, trận thứ nhất gặp Hội tuyển Thanh niên ngày 14 Tháng Mười Hai 1967 và trận thứ nhì ngày 16 Tháng Mười Hai 1967 gặp Hội tuyển Sài Gòn. Trận gặp đội tuyển có tới 20,000 khán giả đến chật kín sân vận động và kết quả hai đội hòa nhau 1-1.

Đặc biệt vào thời xưa, trước các trận đấu chính luôn luôn có các trận mở màn để các đội bóng thanh thiếu niên hoặc lão tướng có dịp ra sân trình diễn trước khán giả. Tôi nghĩ đây là một việc làm rất tốt của Tổng cục Túc cầu Việt Nam thời đó, một mặt khuyến khích các đội trẻ mặt khác phục vụ khán giả một cách tận tình bằng những “bữa tiệc” túc cầu có nhiều món khác nhau. Điều này, bóng đá sau năm 1975 không hề có.

Trở lại chuyện mê đá bóng của tôi hồi còn đi học. Túc cầu cũng mang lại cho tôi nhiều rắc rối. Đá bóng vào giờ nghỉ trưa thì không sao nhưng những trận đấu sau giờ học chiều mới có chuyện vì khi đó chắc chắn sẽ về nhà muộn. Tàn trận bóng mới bắt đầu lo vì đường từ trường Trần Hưng Đạo về đến khu Hòa Bình quá xa mà lại còn phải đi bộ. Đến bến xe đò đi Trại Hầm trước 6 giờ thì may còn kịp chuyến xe chót về nhà và nếu không còn xe thì đành cuốc bộ.

Như vậy, cuốc bộ suốt con đường từ trường về nhà, tròm trèm 6km, cũng mất độ gần hai tiếng. Về đến nhà còn phải nghĩ ra lý do để giải thích: Có việc đột xuất ở trường nên thầy giáo cho về trễ hoặc không hiểu sao xe đò lại nghỉ sớm, nhưng hoàn toàn không bao giờ có lý do… mê đá bóng.

Bây giờ tuổi đã già, niềm say mê bóng đá vẫn còn đó nhưng chỉ thể hiện qua việc xem bóng đá trên TV vào những ngày cuối tuần. Bóng đá Việt Nam vẫn chưa đi vào chuyên nghiệp, cầu thủ đa số là những người có chút ít kỹ thuật nhưng lại không được đào tạo về văn hóa còn khán giả phần đông là những người trẻ, họ đến sân với một tinh thần “cay cú, ăn thua”. Những khán giả chân chính chỉ còn biết ngồi nhà xem TV để không phải “tai nghe, mắt thấy” những hành động thiếu văn hóa diễn ra trên sân cỏ!

(Trích Nguyễn Ngọc Chính, Hồi Ức Một Đời Người)

 

Đám cưới trăm tỷ ‘lớn chưa từng thấy’ ở miền Tây

Báo Nguoi-Viet

December 5, 2022

KIÊN GIANG, Việt Nam (NV)  Đám cưới “lớn chưa từng thấy” của con gái “đại gia Phú Cường” với thiết kế xa hoa, hoành tráng với kinh phí triệu đô ở thành phố Rạch Giá, khiến công luận không ngớt bàn tán những ngày qua.

Theo báo Người Đưa Tin, đám cưới “siêu khủng” trên diễn ra vào hai ngày 3 và 4 Tháng Mười Hai vừa qua tại Quảng Trường Biển thuộc Đảo Phú Gia, khu đô thị Phú Cường, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Toàn cảnh không gian nơi tổ chức đám cưới triệu đô của con gái “đại gia Phú Cường.” (Hình: Tú Anh/Người Đưa Tin)

Cô dâu là cô Nguyễn Thị Ngọc Như (Sophia Nguyễn), con gái út của ông Nguyễn Việt Cường, chủ tịch tập đoàn Phú Cường Group, nổi tiếng miền Tây.

Ngay sau khi được chia sẻ trên mạng xã hội, những hình ảnh về lễ đường “trong mơ” của đám cưới “siêu khủng” này đã khiến dân mạng trầm trồ vì “đẹp và tráng lệ ngoài sức tưởng tượng,” bởi nó được lấy cảm hứng từ không gian đậm chất thơ của khu vườn “Garden by The Bay” tại Singapore, và do đạo diễn Hoàng Công Cường, người từng chỉ đạo sân khấu cho lễ khai mạc và lễ bế mạc của SEA Games 31 đảm nhiệm.

Để tạo ra được lễ cưới “trong mơ” có sân khấu tiệc cưới nằm trên biển này, toàn bộ ý tưởng và thi công đã được chuẩn bị ròng rã chín tháng trời, với nhân sự phục vụ cho lễ cưới lên đến hơn 2,000 người.

“Chúng tôi đã có mặt tại hiện trường của một khu vực chuẩn bị sân khấu dành cho đám cưới có thể nói đến thời điểm này là lớn nhất Châu Á. Tất cả những chuyên gia đầu ngành đã có mặt và cuộc họp của chúng tôi kéo dài ròng rã trong ba tháng và quá trình chuẩn bị từ ê kíp Việt Nam và cả Philipines gần sáu tháng trời,” đạo diễn Hoàng Công Cường nói.

“Khu vực sảnh tiệc được trang trí bởi 25 tấn hoa lụa và năm tấn hoa tươi (hơn 13 tỷ đồng), sử dụng hơn 2,000 mét vuông gỗ MDF sơn chống nước tạo hình nghệ thuật, được dàn dựng thi công liên tục trong suốt sáu tháng. Cụ thể, mặt dựng Mapping lớn nhất với 700 mét vuông, sử dụng hơn 10,000 khối layer truss, 1,000 mét khung truss sản xuất riêng với kích cỡ đặc biệt. Toàn bộ bề mặt được phủ ánh sáng và visual mapping nghệ thuật được trình chiếu bởi sáu thiết bị chuẩn quốc tế công suất 30,000 asilumen,” ông Cường cho biết thêm.

Thậm chí, trong buổi tiệc tối, để khẳng định độ “chịu chi” của mình, gia đình cô dâu còn tổ chức bắn pháo hoa.

Ở phía ngoài khơi, có 100 chiếc tàu đánh cá được huy động, sẵn sàng thực hiện nghi lễ bắn pháo hoa cho người dân Kiên Giang chiêm ngưỡng.

Ngoài ra, mỗi khách mời cũng được tặng một chiếc ô (dù) để “phòng trường hợp có mưa.”

Sảnh đường tổ chức lễ cưới. (Hình: Tú Anh/Người Đưa Tin)

Ước tính, tổng chi phí của đám cưới lên đến cả trăm tỷ đồng. Sau lễ cưới, địa điểm này sẽ được sử dụng cho một số sự kiện văn hóa nghệ thuật của tỉnh để người dân Rạch Giá và các tỉnh lân cận đến thăm viếng, vui chơi vào dịp lễ cuối năm.

Hồi năm 2016, “đại gia Phú Cường” cũng từng gây sốt mạng xã hội khi chi tới cả chục tỷ đồng để làm tiệc cưới cho cô con gái đầu. Trong đó, 9 tỷ đồng ($374.960) sửa nhà hàng giữa hồ nước rộng hơn 80,000 mét vuông thành “Đảo Uyên Ương” và 2 tỷ đồng ($83,324) để mời các nghệ sĩ tên tuổi về biểu diễn góp vui. Riêng của hồi môn khi ấy, cô dâu được nhận tới 300 tỷ đồng ($12.49 triệu). Tiền khách mừng sẽ được trích ra 50% làm từ thiện. (Tr.N)

Người Iran kêu gọi biểu tình ba ngày từ thứ Hai (VOA)

 
Người Iran kêu gọi biểu tình ba ngày từ thứ Hai
Một cuộc biểu tình ở Iran.
 
VOATIENGVIET.COM
 
 

                      Những người biểu tình ở Iran hôm Chủ nhật đã kêu gọi tiến hành một cuộc biểu tình ba ngày trong tuần này nhằm duy trì áp lực lên chính quyền về cái chết của cô Mahsa Amini khi bị giam giữ.

Các cuộc biểu tình được lên kế hoạch vào đúng ngày Tổng thống Ebrahim Raisi phát biểu trước các sinh viên ở Tehran.

Ông Raisi dự kiến sẽ đến thăm Đại học Tehran vào thứ Tư, nhân Ngày sinh viên ở Iran.

Nhân dịp này, những người biểu tình đang kêu gọi các thương gia xuống đường và tập hợp về phía Quảng trường Azadi (Tự do) của Tehran, theo các bài đăng cá nhân được chia sẻ trên Twitter bởi các tài khoản chưa được xác minh bởi Reuters.

Họ cũng đã kêu gọi ba ngày tẩy chay bất kỳ hoạt động kinh tế nào bắt đầu từ thứ Hai.

Những lời kêu gọi tương tự về biểu tình và huy động quần chúng trong những tuần qua đã dẫn đến tình trạng bất ổn leo thang khắp đất nước, trong đó có một số cuộc biểu tình chống chính phủ lớn nhất kể từ cuộc Cách mạng Hồi giáo năm 1979 ở Iran.

Hãng thông tấn HRANA của các nhà hoạt động cho biết rằng 470 người biểu tình đã bị giết tính đến thứ Bảy, trong đó có 64 trẻ nhỏ. Hãng này cho biết 18.210 người biểu tình đã bị bắt và 61 thành viên của lực lượng an ninh đã thiệt mạng.

Hội đồng an ninh nhà nước của Bộ Nội vụ Iran cho biết hôm thứ Bảy rằng số người chết là 200, theo hãng tin Mizan của cơ quan tư pháp.

Vaclav Havel: Vì sao người bất đồng chính kiến bị coi là ‘phản động’ ở các nước XHCN?(BBC)

BBC

21 tháng 12 2021

NGUỒN HÌNH ẢNH,LUBOMIR KOTEK

Vaclav Havel, một nhà viết kịch bất đồng chính kiến và là thành viên hàng đầu của Diễn đàn Công dân đối lập Tiệp Khắc, vẫy tay chào người dân, 29/12/1989 sau khi ông tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Tiệp Khắc.

Kỷ niệm ngày mất của cố tổng thống CH Czech Vaclav Havel (18/12/2011), BBC giới thiệu lại một phần tiểu luận của ông ‘Quyền lực của kẻ không quyền lực’, phần về khái niệm ‘bất đồng chính kiến’:

“Trong nhiều thập kỉ, lực lượng cai trị xã hội trong các nước thuộc khối Xô Viết đã dùng nhãn hiệu “đối lập” như là lời buộc tội ghê gớm nhất, đồng nghĩa với từ “kẻ thù”.

Dán cho ai đó cái nhãn “phần tử thuộc phe đối lập” cũng ngang với việc nói rằng anh ta, chị ta đang cố gắng lật đổ chính quyền và tiêu diệt chủ nghĩa xã hội (tất nhiên được bọn đế quốc trả tiền). Có thời cái nhãn đó đưa người ta thẳng tới giá treo cổ, và tất nhiên, vì thế mà chẳng ai muốn dán lên mình cái nhãn ấy.

Hơn nữa, đấy chỉ là một từ, và việc làm bao giờ cũng quan trọng hơn là nhãn mác. Lí do cuối cùng làm cho nhiều người bác bỏ thuật ngữ đó vì khái niệm “đối lập” hàm chứa một cái gì đó có tính chất tiêu cực.

Những người tự coi mình là đối lập nghĩa là chống đối một quan điểm nào đó. Nói cách khác, họ đặt mình trong mối quan hệ đặc biệt với quyền lực đang cai trị xã hội, và qua đó mà định nghĩa mình, rút ra quan điểm của mình từ quan điểm của chính quyền.

Những người chỉ đơn giản là quyết định sống trong sự thật, nói mà không cần nhìn ngang nhìn ngửa, tỏ lòng đoàn kết với đồng bào của mình, sáng tạo theo ý mình, và chỉ đơn giản là sống hòa hợp với cái Tôi tốt đẹp nhất của mình, dĩ nhiên là sẽ cảm thấy khó chịu khi phải coi quan điểm độc đáo và có tính tích cực của mình là tiêu cực, theo một nghĩa nào đó và coi mình là đang chống lại một cái gì đó chứ không đơn giản là những người như họ vốn là.

Rõ ràng là chỉ có một cách duy nhất để tránh hiểu nhầm là nói rõ – trước khi người ta sử dụng – các thuật ngữ “đối lập” và “thành viên thuộc phe đối lập” đang được sử dụng có nghĩa là gì và trong hoàn cảnh của chúng ta, chúng thực sự có nghĩa là gì.

Nếu thuật ngữ “đối lập” đã được du nhập từ các xã hội dân chủ vào hệ thống hậu toàn trị mà thiếu sự thống nhất về việc từ này có nghĩa là gì trong những hoàn cảnh vốn rất khác nhau, thì ngược lại, thuật ngữ “bất đồng chính kiến” lại được các nhà báo phương Tây chọn và bây giờ được nhiều người coi là nhãn mác cho một hiện tượng đặc trưng cho hệ thống hậu toàn trị và không bao giờ xảy ra nhất ít nhất là không ở trong hình thức như thế – trong các xã hội dân chủ.

NGUỒN HÌNH ẢNH,LUBOMIR KOTEK

Hàng trăm sinh viên Tiệp Khắc quỳ gối khi đối mặt với cảnh sát chống bạo động,19/11/1989 tại trung tâm thành phố Praha trong cuộc biểu tình đòi dân chủ hơn và yêu cầu chấm dứt chế độ Cộng sản và bầu cử đa đảng tự do. Cảnh sát chống bạo động sau đó đã đánh đập và bắt giữ nhiều người trong số họ. Một phong trào phản đối bất đồng chính kiến mạnh mẽ đã dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản vào ngày 10/12 và sự hình thành của một chính phủ phi cộng sản ở Tiệp Khắc, 10 ngày sau khi bắt đầu hội nghị thượng đỉnh ở Malta, nơi Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev và người đồng cấp Hoa Kỳ George Bush thiết lập một kỷ nguyên mới, kết thúc Chiến tranh lạnh.

Những “người bất đồng chính kiến” này là ai?

Dường như thuật ngữ này được áp dụng chủ yếu cho công dân các nước thuộc khối Xô Viết, những người đã quyết định sống trong sự thật và thêm vào đó, đáp ứng được những tiêu chí sau đây:

  1. Họ thể hiện quan điểm bất phục tùng và ý kiến phê phán một cách công khai và có hệ thống, trong những giới hạn rất nghiêm ngặt dành cho họ và vì vậy mà họ được phương Tây biết tới.
  2. Mặc dù không được xuất bản ở trong nước và mặc dù bị chính quyền ngược đãi bằng đủ mọi cách, nhờ thái độ của mình, họ vẫn giành được sự kính trọng nhất định, cả từ phía công chúng lẫn từ phía chính quyền, và do đó mà họ thực sự có – dù mức độ rất hạn chế và thậm chí là lạ lùng nữa – quyền lực gián tiếp trong môi trường của mình. Quyền lực đó đã bảo vệ họ khỏi những hình thức ngược đãi tồi tệ nhất, hoặc ít nhất cũng đảm bảo rằng nếu họ bị ngược đãi thì chính quyền sẽ gặp một số rắc rối chính trị nhất định.
  3. Phạm vi phê phán và những cam kết của họ đã vượt ra ngoài khung cảnh chật hẹp của môi trường xung quanh họ hay vượt ra ngoài những lợi ích đặc thù, nó bao trùm lên những chủ đề thảo luận có tính bao quát hơn; và do đó, về thực chất là có tính chính trị mặc dù mỗi người lại tự coi mình như một lực lượng chính trị nhất ở những mức độ rất khác nhau.
  4. Họ là những người nghiêng về việc tìm kiếm tri thức, có nghĩa là, họ là những người “cầm bút”, những người mà ngôn từ được viết ra là phương tiện trực tiếp – và thường là phương tiện duy nhất họ có thể điều khiển được, và nhờ thế mà họ được sự chú ý, đặc biệt là từ nước ngoài. Những cách sống trong sự thật khác thì hoặc là không được các nhà quan sát nước ngoài chú ý tới vì nằm trong môi trường địa phương khó nắm bắt – đấy là nói nếu chúng vượt qua được khuôn khổ địa phương – hoặc chỉ là thành tố bổ sung cho những điều mà họ đã viết ra mà thôi.
  5. Dù nghề nghiệp của họ có là gì thì những người này cũng đã được nói tới ở phương Tây, chủ yếu là vì những hoạt động của họ trong vai trò những công dân tận tụy hay khía cạnh chính trị, khía cạnh phê phán trong các tác phẩm của họ chứ không phải là vì những công trình họ làm trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình.

Từ kinh nghiệm cá nhân, tôi biết rằng có một lằn ranh vô hình mà nếu bạn vượt qua – mà thậm chí dù không muốn hay không nhận ra – thì họ sẽ không còn coi bạn như là người cầm bút vô tình trở thành một người công dân có quan tâm tới thời cuộc mà sẽ bắt đầu nói về bạn như là một “người bất đồng chính kiến” tình cờ cũng thích viết kịch (có thể là trong lúc trà dư tửu hậu?). Không nghi ngờ gì rằng có những người đạt được tất cả những tiêu chí này. Điều cần thảo luận là liệu chúng ta có nên dùng một thuật ngữ riêng cho một nhóm được định nghĩa một cách tình cờ như vậy không, và đặc biệt là có nên gọi họ là những “người bất đồng chính kiến” hay không. Nhưng, rõ ràng là, ta chẳng thể làm gì khác được.

Đôi khi để dễ nói chuyện, thậm chí tự bản thân chúng ta cũng dùng cái nhãn này, mặc dù không ưa, khá hài hước và hầu như lúc nào cũng để trong ngoặc kép nữa. Có lẽ đã đến lúc liệt kê một vài lí do vì sao chính những “người bất đồng chính kiến” lại không thích bị gọi như vậy.

NGUỒN HÌNH ẢNH,LANGEVIN JACQUES

Nhà lãnh đạo cách mạng Vaclav Havel phát biểu trước đám đông tụ tập trên một con phố chính, trong cuộc biểu tình chống chính phủ dẫn đến sự sụp đổ của chính phủ Cộng sản.

‘Họ không phản bội ai cả, chỉ muốn bình đẳng’

Trước hết, cách gọi này có vấn đề về mặt từ nguyên.

“Người bất đồng chính kiến”, như báo chí chúng ta vẫn nói, cũng tương tự “kẻ phản bội” hay “tái phạm” vậy. Nhưng những người bất đồng chính kiến không coi họ là phản bội, vì một lẽ đơn giản là họ chẳng phủ định hay bác bỏ bất cứ điều gì.

Ngược lại, họ đã và đang cố gắng khẳng định bản sắc nhân văn của chính họ, và nếu họ có bác bỏ cái gì đó, thì đó chỉ là những thứ sai lầm và vong thân trong cuộc đời họ, tức là bác bỏ khía cạnh của “sống trong dối trá” mà thôi.

Nhưng đấy không phải là điều quan trọng nhất. Thuật ngữ “người bất đồng chính kiến” thường ám chỉ một nghề đặc biệt, như thể, cùng với những nghề bình thường hơn, có một nghề đặc biệt nữa là cằn nhằn về tình trạng của đời sống.

Trên thực tế, một “người bất đồng chính kiến” chỉ đơn giản là một nhà vật lí học, nhà xã hội học, một người công nhân hay một nhà thơ, là những cá nhân đang làm những việc mà họ cảm thấy là cần phải làm, và vì thế, họ thấy mình xung đột công khai với chế độ. Về phần họ, cuộc xung đột này không xuất phát từ bất cứ mục đích hữu thức nào, mà xuất phát từ logic nội tại của tư tưởng, hành vi hay tác phẩm của họ (thường là xung đột với ngoại cảnh, nằm ngoài tầm kiểm soát của họ).

NGUỒN HÌNH ẢNH,LUBOMIR KOTEK

Nhà cựu bất đồng chính kiến và nhà viết kịch Vaclav Havel, tân Tổng thống Tiệp Khắc, phát biểu 23/2/1990 từ ban công của Cung điện Kinsky tại Quảng trường Thành phố Cổ với khoảng 100.000 người trong cuộc mít tinh kỷ niệm 42 năm cuộc đảo chính năm 1948 của cộng sản. Đảng Cộng sản đầu hàng vào cuối tháng 11/1989 (trong “Cách mạng nhung” không đổ máu) và thành lập một chính phủ liên minh với Diễn đàn Công dân, và Havel được bầu làm chủ tịch, 29/12/1989. Vào tháng 6/1990, cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên kể từ 1946 được tổ chức tại Tiệp Khắc, kết quả trong chính phủ hoàn toàn phi cộng sản đầu tiên của đất nước trong hơn bốn mươi năm.

Nói cách khác, họ không cố tình trở thành một người bất mãn chuyên nghiệp, như người ta quyết định trở thành chị thợ may hay anh thợ rèn.

Trên thực tế, dĩ nhiên là họ thường không biết mình là những “người bất đồng chính kiến” cho đến khi họ thực sự trở thành một người như thế. “Người bất đồng chính kiến” xuất phát từ những động cơ khác hẳn với thói háo danh và chức tước. Nói ngắn, họ không quyết định trở thành “người bất đồng chính kiến”, và thậm chí nếu họ có dành hai bốn giờ một ngày cho nó, nó vẫn không phải là một nghề, mà trước hết đấy là một thái độ sống.

Hơn nữa, thái độ đó hoàn toàn không phải là tài sản độc quyền của những người xứng đáng với danh hiệu “người bất đồng chính kiến”, chỉ vì vô tình mà họ đáp ứng được những điều kiện bên ngoài, đã nói đến bên trên.

Có hàng ngàn người không tên tuổi khác đang cố gắng sống trong sự thật, và hàng triệu người muốn mà chưa thể, đơn giản vì có lẽ làm như thế trong điều kiện của họ cần lòng can đảm lớn hơn mười lần lòng can đảm của những người đã đi bước đầu tiên. Nếu vài chục người trong số đó được chọn ra một cách ngẫu nhiên và được xếp vào loại đặc biệt thì nó sẽ làm méo mó hoàn toàn bức tranh chung. Nó làm méo mó theo hai cách.

Hoặc là nó ngụ ý rằng những “người bất đồng chính kiến” là những người lỗi lạc, như “những loài cần được bảo vệ”, tức là người được phép làm những việc mà người khác không được làm, là những người mà chính phủ thậm chí còn nuôi dưỡng để làm bằng chứng về lòng khoan dung của nó; hoặc là nó đánh lừa người ta rằng đấy chỉ là một nhúm những kẻ bất mãn chẳng làm được trò trống gì, tất cả những người khác đều cảm thấy hài lòng, bởi vì nếu không thì họ đã là những “người bất đồng chính kiến” rồi.

NGUỒN HÌNH ẢNH,LANGEVIN JACQUES

Mọi người cầm biểu ngữ và cờ trong cuộc biểu tình chống chính phủ dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Cộng sản.

Nhưng đấy không phải là tất cả.

Cách phân loại này vô tình đã tô đậm ấn tượng rằng quan tâm chủ yếu của những “người bất đồng chính kiến” là quyền lợi phe nhóm mà họ cùng chia sẻ, như thể toàn bộ cuộc tranh luận của họ với nhà nước chỉ là xung đột trừu tượng giữa hai nhóm đối đầu nhau, chẳng liên quan gì đến xã hội.

Nhưng ấn tượng này mâu thuẫn sâu sắc với ý nghĩa thực sự của thái độ “bất đồng chính kiến”, tức là lo lắng cho quyền lợi của người khác, lo lắng trước những hiện tượng đang làm cho xã hội nhức nhối, nói cách khác, lo lắng cho quyền lợi của những người chưa dám lên tiếng.

Nếu những “người bất đồng chính kiến” có một thứ uy quyền nào đó, và nếu họ còn chưa bị tiêu diệt như những con côn trùng ngoại lai có mặt không đúng chỗ, thì đấy không phải vì nhà nước muốn giữ lại một nhóm đặc biệt này và tôn trọng tư tưởng đặc biệt của họ, mà vì chính phủ hiểu rất rõ rằng sức mạnh chính trị tiềm tàng của “sống trong sự thật” bắt rễ từ không gian bị che giấu, nó cũng nhận thức rõ thế giới, nơi bất đồng chính kiến lớn lên và thế giới mà nó hướng tới: Đấy là thế giới của đời sống thường nhật, thế giới của mâu thuẫn hàng ngày giữa những mục tiêu của cuộc đời với mục tiêu của hệ thống.

NGUỒN HÌNH ẢNH,DEREK HUDSON

Khoảng 250.000 người biểu tình tại Quảng trường Wenceslas để kêu gọi tự do hơn và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ chức, Miloš Jakeš, Prague, hôm 22/11/1989

Các tổ chức chính trị và cảnh sát không phí nhiều thì giờ với những “người bất đồng chính kiến” – có thể tạo ra ấn tượng là chính quyền sợ họ như thể sợ một nhóm quyền lực khác vậy – chỉ vì họ thực sự là một nhóm quyền lực khác; mà bởi vì họ là những người bình thường, với những lo lắng của người bình thường, họ chỉ khác với những người kia ở chỗ họ nói lớn điều mà những người khác không thể nói hoặc vì sợ mà không dám nói.

Tôi đã từng nhắc đến ảnh hưởng chính trị của nhà văn Nga bị đày ải Aeksandr Solzhenitsyn: nó không nằm trong sức mạnh chính trị riêng biệt mà ông có với tư cách là một cá nhân, mà ở trải nghiệm của hàng triệu nạn nhân trại cải tạo Gulag, ông chỉ làm mỗi một việc là khuếch đại và nói lại cho hàng triệu người có lương tri biết mà thôi. Tách ra một nhóm những “người bất đồng chính kiến” nổi tiếng hoặc lỗi lạc, trên thực tế, cũng có nghĩa là phủ nhận khía cạnh đạo đức cốt lõi nhất trong hoạt động của họ.

Như ta đã thấy, phong trào “bất đồng chính kiến” phát sinh từ nguyên tắc bình đẳng, dựa trên quan niệm rằng quyền con người và quyền tự do là không chia tách được. Cuối cùng, chẳng phải là những “người bất đồng chính kiến” nổi tiếng trong KOR ở Ba Lan đã đứng lên bảo vệ những người lao động không tên tuổi hay sao?

Và chẳng phải chính vì lí do này mà họ trở thành những “người bất đồng chính kiến” nổi tiếng hay sao? Và chẳng phải là những “người bất đồng chính kiến” nổi tiếng tập hợp lại trong Hiến chương 77, sau khi họ đã tập hợp cùng nhau nhằm bảo vệ những nhạc sĩ vô danh và liên kết với họ, và chính vì lẽ đó mà trở thành những “người bất đồng chính kiến nổi tiếng” hay sao? Đúng là một nghịch lí tàn nhẫn: Càng nhiều người đứng lên bảo vệ những người khác, thì họ lại càng dễ bị gọi bằng một từ làm họ xa cách với “các công dân khác”. Tôi hi vọng rằng cách giải thích này sẽ làm rõ ý nghĩa của các dấu ngoặc kép mà tôi đặt cạnh từ “người bất đồng chính kiến” trong suốt tiểu luận này…

“Quyền lực của kẻ không quyền lực” là tiểu luận trên 130 trang được Vaclav Havel viết khi ông là trí thức đối lập ở Tiệp Khắc tháng 10/1978. Vaclav Havel (1933-2011) được bầu làm tổng thống cuối cùng của Tiệp Khắc và tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Czech. Bản tiếng Việt trích đoạn ở trên có nguồn từ bản tiếng Việt xuất bản năm 2014 (xem thêm trên trang của nhóm Văn Lang, CH Czech: QuyenLuc.pdf (vanlang.eu)). Tựa đề của bài này do BBC đặt.

Chú thích: *Ủy ban Bảo vệ Công nhân, KOR – một tổ chức của Ba Lan tồn tại trước khi có sự ra đời của Công đoàn Đoàn kết năm 1980, sau được đổi tên thành KSS-KOR (Ủy ban Tự vệ Xã hội-KOR) để nhấn mạnh đến cam kết bảo vệ các quyền dân sự và ủng hộ các sáng kiến xã hội chống lại các thể chế của nhà nước toàn trị. Tiểu luận của Vaclav Havel đã đem lại hy vọng cho phong trào tại Ba Lan như lời kể của một lãnh tụ nghiệp đoàn cơ sở ở nhà máy Ursus, gần Warsaw, ông Zbigniew Bujak, khi họ bị công an Ba Lan nhốt nhiều ngày trong xưởng máy vì đình công.

** Khi Hiến chương 77 xuất hiện, chính quyền Tiệp Khắc đã tung ra chiến dịch buộc toàn dân phải tuyên bố rằng Hiến chương 77 là sai. Hàng triệu người buộc phải kí giấy ủng hộ quan điểm đó của Đảng CS.