Sau ‘phụng sự’ tới thoái bộ và sốc – Trân Văn

Ba’o Nguoi-Viet

December 28, 2025

Trân Văn

Vingroup đã rút lại “đăng ký đầu tư” vào dự án “Đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam” (dự án ĐSTĐC Bắc Nam)! Nếu chịu khó theo dõi hoạt động của Vingroup từ thập niên 1990 đến nay thì điều đó là bình thường. Vingroup từng tuyên bố đầu tư vào nhiều lĩnh vực rồi buông ngay, hoặc ngừng giữa đường  (VinDS, Vinlink, VinExpress, VinMart, Vinsmart, Vinpearl Air,…), hay thu hẹp hoạt động như VinFast ở Mỹ, ở Liên Âu.

VinSpeed, một công ty con thuộc tập đoàn Vingroup của tỷ phú Phạm Nhật Vượng bất ngờ rút khỏi dự án “Đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam.” (Hình minh họa: Vietnam Finance)

Tuy nhiên, vì nhiều lý do, quyết định vừa kể của Vingroup có một số điểm đáng bàn. Tháng Năm vừa qua, Vingroup đề nghị được đầu tư vào dự án ĐSTĐC Bắc Nam, dài 1,541 cây số kết nối Hà Nội và TP. HCM, với tổng vốn đầu tư khoảng $67 tỷ. Đề nghị đó khiến thiên hạ sửng sốt vì Vingroup muốn vay 80% giá trị suất đầu tư từ công quỹ với lãi suất 0% trong 35 năm. Điều đó chẳng khác gì đẩy rủi ro cho chính quyền, chính xác hơn là dân chúng chia nhau gánh vác.

Thế rồi đến Tháng Mười Một, Vingroup tuyên bố vẫn giữ ý định đầu tư vào dự án ĐSTĐC Bắc Nam nhưng sẽ loại bỏ TOD khỏi đề nghị đầu tư. TOD là viết tắt của “Transit Oriented Development,” phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng, nôm na là thực hiện mô hình quy hoạch đô thị mà ở đó các khu dân cư, các trung tâm thương mại-dịch vụ sẽ được xây dựng quanh các trung tâm vận tải công cộng như nhà ga của hệ thống đường sắt, hệ thống metro, …

Bởi vì TOD đồng nghĩa với lợi nhuận – động lực đầu tư. Bỏ TOD có nghĩa là lắc đầu với nguồn lợi khổng lồ, nhưng Vingroup vẫn khẳng định sẽ theo đuổi dự án nên thiên hạ hoang mang. Có tờ báo của Việt Nam nhận định, đại ý: Đó là lựa chọn mang dấu ấn của “tinh thần phụng sự.” Nhà nước được một dự án đường sắt theo cách nhanh nhất, còn Vingroup được vị thế nhưng mất tiền, mất dòng tiền và thậm chí mất an toàn tài chính.

“Tinh thần phụng sự” ấy chỉ tồn tại chưa đầy một tháng bởi vì Vingroup vừa rút “đăng ký đầu tư” vào dự án ĐSTĐC Bắc Nam với lý do cần tập trung nguồn lực vào các dự án hạ tầng, năng lượng trọng điểm, để gia tăng năng lực cho quốc gia như: Khu đô thị thể thao Olympic tại Hà Nội với diện tích khoảng 9,000 héc ta, tổng vốn đầu tư từ $35 tỷ tới $38 tỷ. Tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành – Cần Giờ, tổng vốn đầu tư khoảng $4 tỷ. Tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Quảng Ninh, tổng vốn đầu tư khoảng $5 tỷ. Chưa kể Vingroup khẳng định đang dốc toàn lực cho hàng loạt dự án hạ tầng, công nghiệp, và năng lượng quan trọng khác như: Siêu đô thị biển Cần Giờ (tổng vốn đầu tư khoảng $2.5 tỷ). Nhà máy sản xuất thép VinMetal (tổng vốn đầu tư khoảng $380 triệu), hai nhà máy điện gió tại Hà Tĩnh (tổng vốn đầu tư khoảng $1.5 tỷ), nhà máy Nhiệt Điện LNG Hải Phòng (tổng vốn đầu tư khoảng $6.8 tỷ),…

Theo Vingroup, vì còn vài tập đoàn cả tư nhân lẫn nhà nước cũng muốn đầu tư vào dự án ĐSTĐC Bắc Nam nên việc tập đoàn này rút lui sẽ không ảnh hưởng đến việc triển khai dự án này. Vingroup khẳng định đó là vì trách nhiệm trước chính phủ nhằm bảo đảm sẽ thực hiện tốt những dự án đã được giao, góp phần phát triển hạ tầng giao thông, năng lượng tái tạo, và đô thị theo hướng hiện đại, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng sống của người Việt.

Chưa rõ chính phủ Việt Nam có chia sẻ quan điểm này hay không nhưng trên thực tế, quyết định của Vingroup làm không ít người sốc, trong đó có những cá nhân, những nhóm rót vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán. Theo Thị Trường Tài Chính (TTTC – chuyên san của Kinh Tế và Đô Thị), từ Tháng Bảy, sau khi Vingroup công bố sẽ tham gia dự án ĐSTĐC Bắc Nam, cổ phiếu VIC tăng một mạch 230.54% từ mức 45,950 đồng/cổ phiếu lên 169,900 đồng/cổ phiếu.

Còn tờ Tuổi trẻ thì kể rằng tin Vingroup quyết định rút lại “đăng ký đầu tư” vào dự án ĐSTĐC Bắc Nam làm nhóm cổ phiểu của tập đoàn đồng loạt giảm hết biên độ. Trong khi Tuổi Trẻ gọi đó là “nằm sàn” thì TTTC gọi đó là “lau sàn.” Znews cho biết, không chỉ nhà đầu tư vào các cổ phiếu liên quan tới Vingroup bị ảnh hưởng mà các nhà đầu tư vào những cổ phiếu khác cũng bị vạ lây. Thị trường chứng khoán Việt Nam trải qua cú rơi đột ngột chỉ trong vòng vài phút cuối phiên 25 Tháng Mười Hai. VN-Index mất khoảng 40 điểm.

VnExpress ước đoán “cú rơi đột ngột vừa kể” có thể khiến tài sản của ông Phạm Nhật Vượng tổn thất khoảng $1.9 tỷ. CafeF thì nhận định, “vốn hóa thị trường của hệ sinh thái Vingroup bị thổi bay hàng trăm nghìn tỷ đồng qua các phiên sau tin rút lui” nhưng không ai, nơi nào thử tính xem các nhà đầu tư với tư cách cá nhân, đặc biệt những người gần đây bắt đáy cổ phiếu VIC/H với giá cao đã thiệt hại ra sao.

Trong thực tế, chuyện doanh nghiệp đa ngành đột ngột chuyển hướng không hiếm, nhưng việc quảng bá rầm rộ những dự định, kế hoạch của Vingroup tạo ra sự hưng phấn nơi công chúng, thu hút sự quan tâm của thị trường, khiến cố phiếu tăng giá. Cũng vì vậy, khi Vingroup thoái bộ, đặc biệt là khi họ rút khỏi những dự án có quy mô lớn, được kỳ vọng cao, rất khó xác định thiệt hại mà các nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán phải gánh chịu!

***

Không phải tự nhiên mà gần đây, nhiều người bày tỏ sự lo ngại trên mạng xã hội về các đại dự án mà Vingroup được chọn để đầu tư như siêu đô thị biển Cần Giờ, khu đô thị thể thao Olympic tại Hà Nội, các tuyến đường sắt tốc độ cao,… Với những gì đã biết và đang thấy, không ai rõ kết quả sẽ như thế nào. Liệu việc triển khai có tạo ra thêm cú sốc nào cho kinh tế-xã hội Việt Nam vốn đang thiếu cả niềm tin về tương lai lẫn nhiều yếu tố để ổn định? [đ.d.]


 

Giảm Án Hàng Loạt Quan Chức Nhận Hối Lộ: Một Phán Quyết Gây Bức Xúc

Ba’o Dat Viet

December 23, 2025

Phiên phúc thẩm kéo dài gần hai tuần tại Hà Nội đã khép lại hôm 22 Tháng Mười Hai với kết quả khiến dư luận không khỏi chua chát: hàng loạt quan chức cấp cao từng giữ trọng trách ở Vĩnh Phúc và Quảng Ngãi được giảm án đáng kể, dù tội danh nhận hối lộ đều đã rõ ràng.

Báo Tuổi Trẻ cho biết nhân vật gây chú ý nhất – Hoàng Thị Thúy Lan, cựu bí thư Tỉnh Ủy Vĩnh Phúc, người gắn với giai thoại “một ngón tay, một triệu đô” – được giảm án từ 14 năm xuống còn 11 năm 6 tháng tù. Lý do mà Hội Đồng Xét Xử đưa ra: bị cáo xuất trình thêm huân chương, bằng khen, cùng nhiều tình tiết về “hoàn cảnh gia đình khó khăn” và “mắc nhiều bệnh”.

Sự khoan hồng này không phải trường hợp cá biệt. Lê Duy Thành, cựu chủ tịch tỉnh Vĩnh Phúc, được giảm từ 12 năm xuống còn tám năm rưỡi tù, chỉ vì đã nộp thêm tiền “khắc phục hậu quả” và được đánh giá là “tích cực hoạt động thiện nguyện”. Phạm Hoàng Anh, cựu phó bí thư thường trực tỉnh, cũng được giảm từ tám xuống sáu năm tù.

Điều gây phản ứng mạnh trong dư luận hải ngoại lẫn trong nước là việc nhiều cựu lãnh đạo tỉnh khác – như Phạm Văn Vọng, Phùng Quang Hùng, Hà Hòa Bình – không chỉ được giảm án mà còn chuyển thành án treo, một mức độ khoan dung hiếm thấy với tội nhận hối lộ hàng chục tỷ đồng. Ngay cả hai bị cáo ở Quảng Ngãi, Lê Viết Chữ và Đặng Văn Minh, dù không kháng cáo nhưng vẫn được giảm án nhờ “gia đình và nhiều tổ chức” xin giúp.

Nhìn lại hồ sơ vụ án, sự khoan hồng này càng khó lý giải. Theo bản án sơ thẩm, các lãnh đạo tỉnh đã “lợi dụng chức vụ quyền hạn”, nhận tiền của Nguyễn Văn Hậu để tạo điều kiện cho tập đoàn Phúc Sơn và công ty Thăng Long trúng các dự án, gói thầu. Tổng số tiền mà Hậu bỏ ra để “bôi trơn” lên đến 132 tỷ đồng – tương đương hơn $5 triệu. Riêng Lan thu gần $2 triệu; Thành hưởng lợi gần 50 tỷ đồng.

Những khoản hối lộ khổng lồ ấy nhằm đổi lấy chỉ đạo và can thiệp trái luật: không thu hồi dự án vi phạm, không dừng hoạt động, cho gia hạn tiến độ… Nói cách khác, lợi ích doanh nghiệp được đặt lên trên pháp luật và quyền lợi của người dân – một thực trạng vốn quá quen thuộc dưới sự cai trị của bộ máy Cộng Sản Việt Nam.

Điều khiến cộng đồng hải ngoại chú ý đặc biệt là thái độ của bị cáo Lan trong phiên sơ thẩm. Khi được nói lời sau cùng, bà ta “khóc nghẹn”, xin lỗi tổng bí thư Tô Lâm trước khi xin lỗi đảng bộ và người dân Vĩnh Phúc. Hình ảnh ấy, đối với nhiều người, phơi bày rõ bản chất của bộ máy quyền lực: quan chức phạm tội không hướng về nhân dân – những người họ gây thiệt hại – mà trước hết tìm cách lấy lòng cấp trên, như một chìa khóa để được giảm nhẹ hình phạt.

Ở một đất nước nơi quyền lực đảng đứng trên pháp luật, nơi giới chức có thể đưa ra huân chương, bằng khen hay đơn xin giảm án từ “nhiều tổ chức” để đổi lấy tự do, bản án phúc thẩm này chỉ củng cố thêm niềm tin rằng hệ thống tư pháp của Nhà Cầm Quyền Việt Nam không phục vụ công lý, mà phục vụ sự ổn định của chính nó.

Trong lúc người dân chịu hậu quả từ tham nhũng, ngân sách thất thoát và niềm tin vào nhà nước tiếp tục mòn mỏi, những phán quyết kiểu này lại gửi đi một thông điệp đầy nản lòng: có tiền, có quyền, thì án tù chỉ là chuyện có thể thương lượng.

Một lần nữa, Bộ máy Cộng Sản Việt Nam cho thấy họ có thể mạnh tay với dân thường, nhưng lại vô cùng mềm mỏng với chính các quan chức của mình – kể cả khi họ nhận hàng triệu đô la hối lộ ngay giữa ban ngày.


 

Ở Thụy Điển, có một sáng kiến nhỏ bé nhưng khiến người ta phải mỉm cười thật lâu

Những Câu Chuyện Thú Vị

Người cao tuổi sống trong các viện dưỡng lão được “mượn” chó từ trại cứu hộ để cùng nhau đi dạo mỗi tuần. Không phải để huấn luyện, không phải để trị liệu theo cách khô khan, mà đơn giản là để cùng bước chậm lại, cùng thở và cùng hiện diện.

Điều ít ai biết là chương trình này ra đời từ một thực tế rất đời thường. Nhiều người cao tuổi từng có thú cưng suốt nửa đời người, nhưng khi về già, họ không còn đủ sức khỏe hay điều kiện để nuôi một con chó trọn vẹn. Trong khi đó, các trại cứu hộ lại có rất nhiều chú chó cần vận động, cần được vuốt ve và cần cảm giác được ai đó chờ đợi. Thế là hai thế giới tưởng như xa nhau ấy được kết nối bằng… một sợi dây dắt chó.

Mỗi tuần, các cụ già đội mũ, khoác áo, tay cầm dây dắt, chậm rãi bước ra ngoài cùng những chú chó từng bị bỏ rơi. Không ai vội vàng. Chó không thúc ép, người cũng không bị giục giã. Chỉ có tiếng bước chân đều đều, hơi thở hòa nhịp và cảm giác mình có lý do để ra ngoài hôm nay. Nhiều nhân viên chăm sóc cho biết, những cụ trước đây gần như không muốn rời phòng, nay lại háo hức hỏi: “Hôm nay đến lượt tôi dắt chó chưa?”.

Lợi ích không chỉ nằm ở vận động thể chất. Các bác sĩ và người chăm sóc ghi nhận rõ rệt sự cải thiện về tâm trạng, khả năng ăn uống và giao tiếp xã hội của người cao tuổi. Với các chú chó, những buổi đi dạo đều đặn cùng con người lớn tuổi – nhẹ nhàng, kiên nhẫn – lại giúp chúng trở nên bình tĩnh hơn, thân thiện hơn và dễ được nhận nuôi hơn. Một vòng tròn tử tế cứ thế hình thành, không cần khẩu hiệu, không cần chiến dịch truyền thông rầm rộ.

Nhưng có lẽ điều sâu sắc nhất nằm ở chỗ này: chó không hỏi bạn đã từng là ai, không quan tâm bạn còn lại bao nhiêu sức. Chúng chỉ biết bạn đang ở đó. Và với nhiều người cao tuổi, cảm giác được một sinh linh khác tin tưởng, chờ đợi và bước đi cùng mình – dù chỉ một vòng quanh khu nhà – là liều thuốc tinh thần vô cùng quý giá.

Giữa một thế giới ngày càng số hóa, câu chuyện từ Thụy Điển nhắc chúng ta rằng đôi khi, chữa lành không đến từ công nghệ cao hay phương pháp phức tạp, mà từ những kết nối rất giản dị. Một con đường nhỏ, một buổi chiều yên tĩnh, một người già và một chú chó – thế là đủ để cả hai cùng khỏe hơn, cả về thể chất lẫn tâm hồn.

#ChuyenTuTe #NhanVan #NguoiGia #ChoCuuHo #ChuaLanhTinhThan #KetNoiConNguoi #DulichVanHoa #Plutos_Sales #Hotdeal365 #Dulichvanhoa

ST.


 

Phùng Thắng- Phùng Thăng. Từ khởi đầu hấp thụ với nền tảng triết lý Tây Phương thời thịnh đạt

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

28/12/2025

Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải

Phùng Thắng- Phùng Thăng. Từ khởi đầu hấp thụ với nền tảng triết lý Tây Phương thời thịnh đạt, Phùng Thăng, Phùng Thắng đã đưa ra những góc nhìn văn hóa mới.

Hai chị em Phùng Thắng, sau này là ni sư Trí Hải-  và em là Phùng Thăng là những nhà văn hóa phụ nữ thế hệ tuổi trẻ chúng tôi. Thế hệ 1960- 1970.

Có nghĩa là khởi đầu cùng được đào tạo dưới mái trường của truyền thống triết lý Hy Lạp từ thời Platon-Aristote.

Nếu ví dòng triết lý ấy như một cái “Cây triết lý”, thì sau này, nó mọc ra rất nhiều nhánh rẽ. Có một J.P Sartre, nhưng cũng có nhiều nhánh như một Merleau Ponty, một Heidegger, một K. Jasper, một A. Malraux.

Nhưng trên hết như một biểu tượng là J.P. Sartre với rất nhiều tác phẩm: La nausée( 1938), Le Mur ( 1939), rồi Sartre cho ra đời nhiều tác phẩm đồ sộ như: Les chemins de la liberté, Les Mouches.

Phùng Thăng là người đầu tiên dịch tác phẩm Les Mouches ra tiếng Việt: Những ruồi.

Điều đó chứng tỏ rằng sau này một thiên tài cứ thế mà PT tỏa sáng.

Tác phẩm lớn tiếp theo của J.P. Sartre  là L’Etre et le néant. Huis clos (1944) Les mains sales (1948), Le Diable et le bon Dieu(1951).

 Với sự nghiệp như thế, Sartre trở thành đứa con tinh thần của giới trí thức và của cả nước Pháp.

Bên cạnh đó, rất nhiều danh từ của Sartre trở thành thời thượng như vấn đề dấn thân, vấn đề trách nhiệm. Rồi hiện hữu và hư vô, vấn đề hoài nghi, phủ nhận, vấn đề hiện sinh tại thế, hiện hữu và yếu tính.. Đời phi lý, buồn chán, thừa thãi, và con người nổi loạn.

Khi Sartre chết năm 1980, nước Pháp đã tiễn đưa ông với những lễ nghi vinh dự mà họ đã dành cho Víctor Hugo 100 năm trước.

Về phía Việt Nam, cuộc di cư năm 1954 đã mở đầu cho sự có mặt của Sartre và A.Camus kéo dài trong suốt nhiều năm.

Những ngữ từ triết học trở thành sự quyến rũ mời gọi và biến hóa thành cái gọi là “mốt hiện sinh” mà những lời giải đáp đôi khi chỉ là một sự trống rỗng, những câu hỏi không có lời giải đáp..

Và tôi gọi giai đoạn này bằng  một danh hiệu mới:

 Những đứa con hoang của J.P.Sartre.

Nó ảnh hưỡng một cách nào đó trên các nhà văn như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Quách Thoại, Chu Tử và một số các nhà văn nữ thập niên 60 như: Túy Hồng, Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, ít nhiều cho thấy bóng dáng của F.Sagan hiện diện trong truyện của họ.

Bên cạnh đó, phải kể đến vô số các giáo sư dạy triết thế hệ thứ hai như Đặng Phùng Quân, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ, Trần Công Tiến, Nguyễn Trọng Văn..với những luận án cao học.

Thú thật, bản thân tôi đã mệt mỏi với những luận đề triết học nên không mấy quan tâm đến những luận đề triết học.

Tôi không hiểu có bao nhiêu người đọc họ và những luận văn ấy và nhất là hiểu họ viết gì?

Tôi không đủ tư cách để trả lời thay cho họ.

Hay liệu đó có phải chỉ là những luận án có tính thời thượng, theo đuôi hay bắt chước?

Câu trả lời có thể được trả lời một cách gián tiếp qua cái hướng nhìn của Phùng Khánh, nhất là Phùng Thăng theo cái hướng mà tôi tạm gọi là: Hướng nhìn về phương Đông.

Phần tôi, đã bước qua ngưỡng cửa triết học Tây Phương với nhữn câu hỏi, không có câu trả lời mà tìm cho mình một hướng đi mới, thiết thực và hấp dẫn hơn.

Nhưng trước hết, tôi xin được phép giới thiệu đến Tôn Nữ Phùng Thăng và Phùng Khánh.

Tên thật của PT là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng, sinh năm 1943, tại Huế. PT là em út trong một gia đình có 6 anh chị em. Chị của Phùng Thăng là Phùng Khánh, tức ni sư Trí Hải, sau này đi tù về vụ Tuệ Sỹ, Thích Trí Siêu hay Thích Mạnh Thát chống đối nhà cầm quyền cộng sản. Với tư cách bà là thủ quỹ, Sư bà Trí Hải lãnh án tù 4 năm. Sau này, Trí Hải bị tử nạn trong một tai nạn giao thông vào ngày 7-tháng 12- năm 2003.

Phần gia đình Phùng Thăng rất sùng đạo Phật.

Thuở nhỏ, PT ở thôn Vỹ Dạ, học tiểu học tại trường Thế Dạ. Lên Trung học, những năm đầu học tại trường Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Sau chuyển về học tại trường Đồng Khánh Huế. Nhưng hồi đó Đồng Khánh chưa có đệ nhất nên PT phải phải chuyển qua học triết học..ban C2, ở Quốc Học cùng với Thái Thị Kim Lan.

Theo Thái Thị Kim Lan, một người cùng học lớp đệ nhất C2 với bà cho thấy: PT hiền dịu, ít nói, chăm chú vào việc học, học giỏi nhiều môn làm cho các bạn đồng lớp có phần kính nể..

Trong khi đó, các bạn của bà như Thái thị Kim Lan bốc đồng và sôi nổi tuổi trẻ nhất thời chạy theo phong trào đấu tranh Phật giáo do Thích Trí Quang- một nhà sư với nhiều tham vọng, đôi mắt sắc sảo, giọng nói khàn đục đầy mê hoặc- đẩy một số tăng ni vào các vụ tự thiêu vô tiền khoáng hậu, coi mạng người như cỏ rác..

Thái kim Lan viết tiếp: bà dệt mơ ước học trò, hãnh tiến và không biết sợ, lên đường, tham gia vào các vụ biểu tình, tuyệt thực dưới sự hướng dẫn và chỉ đạo của Thích Trí Quang.

Trí Quang đã trao cho Thái Kim Lan như người đại diện chính thức thay cho Trí Quang.

Bạn đọc cần biết thêm, lúc 5 tuổi, cha của TKL vốn là một viên chức bưu điện đã bị cộng sản hạt sát. Sau này bà chị TKL có chồng là một sĩ quan phải đi học tập tập trung. Trong một lần đi tiếp tế cho chồng trở về, bà đã bị một tài xế việt cộng cán chết. Sau đó, bọn cộng sản đã đến đền bù bằng một bao gạo..

Phần TKL, bà như quên cái quá khứ đau buồn ấy và tiếp tục mê say Trí Quang vừa như người thày, vừa như một người tình trong rất nhiều năm trời như tôi được biết và được nghe kể từ chính Thái Kim Lan..

Và đây cũng có thể là ngã rẽ giữa bọn nữ sinh nông nổi, hãnh tiến khác với Phùng Thăng.

Xin ghi một đôi nét về Phùng Thăng dưới ngòi bút của Thái Kim Lan:

Áo trắng, dáng ngồi thẳng, nghiêm trang, nét mặt thanh tú, làn da trong sáng, tóc bín hai con rết thắt nơ trắng. Hai con rết và cái nơ tòng teng tiết lộ sự trẻ thơ so với nét mặt có sống mũi cao, nghiêm nghị của “ người lạ ấy”. Chị không cười mặc dù đôi môi hồng tươi, như tiết kiệm hay muốn giữ bí mật của cả tâm hồn hay của đôi hàm răng mà sau này tôi có đôi lần nhìn được rất trong. Môi không cười cho nên nét diễn tả tâm tình hầu như dồn nơi đôi mắt sáng lấp lánh đầy chân thiện, chị cười bằng mắt rất lặng lẽ. Gương mặt ấy hầu như chỉ biết cúi xuống trang sách hay nhìn lên bảng đen, hiếm khi thấy chị nhìn ngang hay liếc dọc để quan sát chuyện chung quanh mình..”

Và cứ tính ngược lại những điều trên của PT thì chính là chân dung đích thực của Thái kim Lan

Trong khi đó, Phùng Thăng ở ngoài những vùng xoáy lịch sử ấy lấy việc chuyên tu làm hướng đi của đời bà. Bà tiếp tục học lên Đại học, bà học khoa Triết, đại học văn khoa, Huế.

Ra trường, luận văn tốt nghiệp của PT là: Chỉnh lý tư tưởng Tây Phương.

Rất tiếc, hiện nay, tôi không có cơ hội tiếp cận luận văn này. Tuy nhiên, cái từ chỉnh lý tự nó nói lên một sự giải trình không đồng ý hay hơn nữa là một chống đối các triết lý Tây phương..

(Xin đọc thêm Trần Hoài Thư trên Thư Quán bản thảo, số 59, tháng ba 2014).

Xin mở một dấu ngoặc là trước khi tôi được tiếp cận với các bản dịch của Trí Hải và Phùng Thăng như câu chuyện của dòng sông, tôi có cơ duyên đọc chuyện Đôi bạn chân tình của nhà văn Herman Hesse do bản dịch tuyệt vời của Vũ Đình Lưu, tự Cô Liêu.

Câu chuyện xoay quanh hai nhân vật chính: một là nhà tu sĩ khổ hạnh, sống cuộc đời chiêm nghiệm, hy vọng tìm ra ý nghĩa cuộc đời đâu là hạnh phúc của cuộc đời, đâu là đau khổ?

Nhân vật thứ hai, một người trẻ, cũng một thời theo vết chân của người thầy là vị tu sĩ khổ hạnh.

Nhưng rồi, ông nhận ra rằng con đường chiêm nghiệm khổ hạnh là không có lối thoát.

Chàng trai trẻ ấy đã quyết định rời bỏ tu viện và lăn vào đời và với tuổi trẻ, thông minh, tài tuấn, ăn nói hay đày nghị lực nên được rất nhiều phụ nữ trẻ say mê, đeo đuổi.

Ông đã chan hòa hưởng thụ nhiều thân xác phụ nữ như một hiến dâng mà không đòi hỏi..

Chàng trai trẻ vì thế đã thỏa mãn những khát khao được nâng niu, được thăng hoa của người phụ nữ.

Anh đã lấp đầy những cơn bảo cảm xúc, lấp đầy những nỗi trống trải hoang sơ của người phụ nữ.

Anh đã cảm nghiệm được thế nào là mưa dầm thấm lâu.

Đồng thời, người trai trẻ đã hiểu được thế nào là nếm trải được trái cấm ngọt bùi giữa biển đời giông bão.

Nhất là chàng trai trẻ cũng đã được nếm trải nụ hoa hàm tiếu đầu đời của những người người con gái tinh tuyền..Cái đó nó mới quý lam sao, trân quý làm sao. Và ngoài kia nắng đã lên, thiên nhiên và con người quyện vào nhau như một bản hòa tấu..

Cuối cùng, chàng trai trẻ như đạt đỉnh đã gieo trồng những giọt hạnh phúc tưới mát vào những vùng sâu kín trên những vùng cỏ rậm rạp khôi nguyên trinh bạch của người phụ nữ và được nồng nhiệt đón nhận. Và người tình đã chờ đợi, đã sẵn sàng ẩm ướt và cuối cùng đạt tới đỉnh của một thứ hạnh phúc si mê, cuồng nhiệt của đôi lứa.

Đã không biết có bao nhiêu phụ nữ đã dâng hiến cái tiết trinh ngàn vàng cho chàng trai trẻ mà không một lời nuối tiếc.

Từ những trải nghiệm sống ấy, chàng thanh niên tuấn tú, thông minh và nay được trải nghiệm nắm bắt được thế nào là hạnh phúc ở đời mà nhà tu khổ hạnh đã không bao giờ có cơ hội nắm bắt được.

Và trong số những phụ nữ mà ông gieo trồng trên những thửa đất đã được cầy sới, gieo mầm đã tạo ra một mầm sống như một phép mầu.

Ông đã sống cận kề  và chăm sóc người phụ nữ ấy trong tiến trình mang thai với rất nhiều khổ đau quặn thắt và nỗi cô đơn một mình của người phụ nữ mà không một ai có thể chia xẻ nỗi đau đớn tột cùng ấy.

Người phụ nữ ấy giống như như người đi biển một mình, hạnh phúc thì được xẻ chia, nhưng khi gian nan thì một mình trước những phong ba, bão táp của cuộc đời.

Chàng trai trẻ sau nhiều năm tháng tràn ngập nguồn vui hạnh phúc nay tóc đã hoa râm, ngậm ngùi nhìn ngắm thân thể người phụ nữ ấy mà đã có thời họ chan hòa hạnh phúc.

Nay mái tóc đã hai mầu, đi đứng đã có phần khó khăn, mắt đã mờ, tai đã nghễnh ngãng nhận thấy cái thân thể trần chuồng của người phụ nữ đã một thời ấy trong một nỗi bất lực như những cơn bão va vật, tiếng đau gào thét trước khi đứa bé chào đời mà bên ngoài là một trận đại dịch trong sự bơ vơ, cô quạnh.

Từ những trải nghiệm ấy, ông hiểu được thế nào là nỗi đau tận cùng, sự mong manh của kiếp người như thể một chân bước vào hư vô và ảo vọng.

Nhưng cũng từ khoảnh khắc ngắn ngủi và mong manh này, ông hiểu được thế nào là hạnh phúc, thế nào là đau khổ của kiếp người mà nhà tu khổ hạnh không bao giờ hiểu và đạt được.

Phải chăng, đó là luật của cuộc đời có trả vay, có được có mất mà con người không bao giờ nắm bắt và hiểu hết được trong cuộc hành trình nhân thế như một vòng xoáy mà không nắm bắt được đâu là điểm đến và đâu là cõi đi về!!!

Câu chuyện Đôi Bạn Chân tình, Câu chuyện của dồng sông cũng là một phần đời sau này của Phùng Thăng.

  • Cuộc đời ngắn ngủi của Phùng Thăng.

Sau khi tốt nghiệp đại học văn khoa, Huế, Phùng Thăng được bổ nhiệm về dạy tại Hội An Huế.

Hội An như một mảnh đất chật hẹp với những biến động chính trị và với những tranh dành quyền lực nhỏ nhen của phe phái khiến bà nghĩ tới lúc phải rời bỏ cái khung trời nhỏ hẹp ấy.

Bà lập gia đình với Trần Xuân Kiêm. Hai người có với nhau một đứa con gái. Bà đặt tên con gái là Tiểu Phượng. Nhưng không hiểu vì lý do gì, sau đó hai người chia tay.

Phùng Thăng tiếp tục cuộc sống của một “Single mom” mà đời sống khá là vất vả.

Năm 1973, PT cho xuất bản một tác phẩm của Simone Well mà tựa đề là: “Kẻ lạ ở thiên đường”. Qua bản dịch của PT, người ta nhận thấy tâm hồn của Simone Well là một sự cô đơn, trống vắng đi tìm một quê hương đích thực cho đời sống tâm linh. Phải chăng đó cũng là phản ánh tâm hồn Phùng Thăng mà một nỗi cô đơn trống vắng của tâm linh?                 

          Kẻ lạ ở thiên đường được chọn làm tên chung cho bản dịch với 6 bức thư gửi cho linh mục Perrin và 5 bài trần thuyết về năm đề tài tôn giáo. Qua toàn văn phẩm, tâm hồn Simone Well vẫn là một tâm hồn quằn quại cô đơn, nhưng rất sáng suốt trong công cuộc đi tìm một quê hương tâm linh đích thực cho mình.. Chính sự sáng suốt ấy đã đưa Simone Well đến chỗ khước từ thiên đường hữu hạn để chọn hỏa ngục vô biên vì quá sót thương và muốn chia sớt những lầm than của trần thế.

Trong nguyện ước của nàng, như có vọng âm những lời phát nguyện của các vị bồ tát của Phật giáo của từ muôn nghìn thế kỷ. Trên thiên đường hữu hạn ấy, nếu được, Simone Well vẫn mãi mãi là kẻ xa lạ, lạc loài.

Nàng chỉ ước muốn Thiên Đường chính thực, Quê hương bình đẳng cho tất cả loài người.

Simone Well mất ngày 24-8-1943

. Phùng Thăng ra đời ngày 9-10-1943.

Bước chân của Simone Well đã được tiếp nối bước chân của Phùng Thăng. Simone Well là một triết gia. Phùng Thăng cũng vậy. Có khác gì đâu.

Thử xem nào, ngoài Phùng Thăng ra có một phụ nữ trẻ nào mang tư tưởng mình qua” Theo dấu tình yêu”, hay “chỉnh lý tư tưởng Tây Phương”..

Thử xem, những buồn nôn, những ruồi, Bắt trẻ đồng xanh, Con sói đồng hoang, Thế giới Thiền, Kẻ lạ ở Thiên đường, khi số tuổi của chị mới dưới 25.

Hãy lẳng lặng mà nghe khi Thái Kim Lan ngưỡng mộ, giật mình khi cả lớp ngồi lắng nghe bài triết của Phùng Thăng..

Thử xem, thử xem nhánh sông Vỹ Dạ thấy bóng hai nàng tôn nữ, mà trăng, mà sao, mà tiếng chuông chùa đã bềnh bồng trong giấc ngủ.. Để rồi một người tìm sự cứu rỗi cho mình bằng con đường xuất gia, người kia lại chọn con đường nhập thế, mang bình bát đựng cả ngàn năm lao khổ lên núi, xuống biển.

Vai thì mong manh mềm yếu. Vậy mà phải gánh cả một trời oan nghiệt xuống đôi vai.

Cộng với nỗi Buồn nôn của JP. Sartre, PT đã dẫn đưa người đọc vào một góc khác của tâm linh.

Một người trí tuệ và tài hoa, thông hiểu triết học Ấn Độ.

Một người có cái nhìn về Phương Đông trong  bản dịch” Câu chuyện của dòng sông”, dịch từ chuyện Siddharta của văn hào Đức, thế kỷ XX.

Văn hào Đức mà các tác phẩm đều toát lên một nỗi niềm cô đơn tâm linh của con người, đi tìm một lối giải thoát ra ngoài của kiếp nhân sinh trong nỗi bơ vơ, bất lực.

Qua “câu chuyện của dòng sông”, “ Sói đồng hoang của Hermann. Hesse Băt trẻ đồng xanh, của J.D Salinger. Con người vẫn bám víu vào đời sống như một mẫu hình muôn thuở của cuộc đời. Câu chuyện một dòng sông vẫn là một hình ảnh cao đẹp, soi sáng trí tuệ và tư tưởng của cả một thế hệ tuổi trẻ mà cả hai chị em- họ cách nhau 5 tuổi- Phùng Thắng lấy cử nhân anh văn, Phùng Thăng cử nhân triết.

Cả hai chị em Phùng Khánh, Phùng Thăng như một của báu vật muốn trao gửi lại cho chúng ta, cho đời như một di sản văn hóa.

Đầu tháng 5, 1975, nghĩa là chỉ một tháng sau khi cs Bắc Việt thôn tính miền Nam, bà đã có một quyết định táo bạo là dẫn con gái, 9 tuổi theo đường bộ, tìm đường vượt biên. Trên một chiếc ghe ra đảo Thổ Chu, thuộc xã Nam Du với hy vọng được tàu Mỹ đón.

Nhưng thật quá trễ. Lúc bấy giờ quân Pol Pot, lợi dụng hòn đảo bỏ trống đã tấn công đảo và chiếm vào ngày 10 tháng 5, lùa theo hơn 515 người, trong đó có một số người vượt biên như mẹ con Phùng Thăng.

Và kể từ đó, gia đình chị không còn biết bất cứ tin tức gì về mẹ con chị.

Sau này, do một thày ngoại cảm tìm lại được thân xác và con gái, bị trói, đầu bị bể sọ, bị chôn vùi nông như một chúng tích dã man “cáp duồn” của bọn Pol Pốt

Phần gia đình chị, sau một thời gian tìm tung tích hai mẹ con đã lấy ngày 10-6-1975 làm ngày giỗ mẹ con chị.

Thật đau lòng và đứt ruột cho một tài hoa đã không may mắn mệnh yểu. Xin rỏ một giọt nước mắt xót thương chị mà số phận hình như đã được định trước theo nghĩa: tài hoa bạc mệnh (xin đọc thêm bài Tìm dấu Phùng Thắng).


 

Chùm Khế Ngọt ! – Sơn Tùng

Kimtrong Lam

Sơn Tùng

Trương Thế Phát là một thương gia trẻ ở kinh đô Thăng Long. Ông có tàu bè chở hàng đi buôn bán ờ trong và ngoài nước. Khi quân Pháp tiến đánh thành Hà Nội và chiếm Bắc Ninh, Thái Nguyên, ông lên tàu đem gia đình ra ngoại quốc. Sau bao ngày lênh đênh trên biển cả, gia đình ông đến Xiêm La (Thái Lan), rồi định cư tại đây.

Nhờ có tàu bè, ông mang theo một mớ gia sản nên khi qua Xiêm ông đã có sẵn một gia tài. Với tài kinh doanh, ông đã gây dựng một sự nghiệp khá lớn, gồm các cửa tiệm kim hoàn, cửa tiệm vải vóc lụa là, và Trà Thất Mây Tần.

Là một nhà kinh doanh, công việc bận rộn, nhưng ông luôn thương nhớ quê hương. Ông nhớ Hà Nội ba mươi sáu phố phường, với năm cửa Ô xưa. Ôi! Những cô gái hàng Đào, hàng Bạc… má đỏ, môi hồng, quần điều, áo lụa trắng, đeo xà tích bạc. Ông nhớ cốm Vòng, nhớ phở, nhớ xôi và bánh cuốn Hà Nội. Ông nhớ Hồ Gươm, hồ Tây, chùa Trấn Quốc, chùa Một Cột… Xiêm La có nhiều chùa lớn và nhiều lễ hội nhưng không đâu bằng hội chùa Hương…

Ông nhớ những bài hát ru, những điệu quan họ. Xiêm La có nhiều trái cây nhưng không bằng nhãn, vải, cam, quít… Hà Nội. Ở Xiêm La ông có nhiều bạn mới, nhưng lòng ông vẫn nhớ nhung các bạn Hà Nội và những kỷ niệm thời ấu thơ. Nhất là buổi đầu, ngôn ngữ bất đồng, phong tục khác biệt làm cho ông chao đảo như con thuyền không lái.

Lúc bấy giờ nhiều người trong nước cũng bỏ nước ra đi. Họ ra đi mang theo một bầu nhiệt huyết, một lý tưởng cao siêu là khôi phục đất nước, giải phóng dân tộc. Có nhiều nhóm hoạt động. Họ từ trong nước ra. Họ cũng từ Trung Quốc, Nhật Bản sang Xiêm hoạt động. Họ ở lại Xiêm mà cũng có người đi qua, đi lại. Tuy là nhiều tổ chức khác nhau, tựu trong có hai nhóm. Một nhóm thuộc phe quốc gia, một phái thuộc phe quốc tế.

Trà Thất Mây Tần do con trai của ông là Trương Thế Đạt trông coi, còn các tiệm khác thì do phu nhân, con trai thứ và các con gái ông quản lý. It lâu sau, Trương Thế Phát mất, cơ nghiệp truyền lại cho phu nhân và các con. Trương Thế Đạt tiếp tục kinh doanh Trà thất Mây Tần.

Trà Thất Mây Tần ở thủ đô Băng Cốc là một nơi trai thanh gái lịch lui tới tấp nập. Không những người Xiêm La mà người Cao Miên, Lào, Trung Quốc, Ấn Độ đều thường xuyên tới uống trà, và thưởng thức ca vũ nhạc. Một hôm, có mấy người khách Á Đông tới trà thất Mây Tần uống trà, uống rượu, Trương Thế Đạt nhận ra có một số khách là người Việt Nam.

Ông bèn tới chào hỏi, mới biết họ quả là người Việt Nam. Nghe giọng nói của họ, ông nhận ra họ là người Bắc, người Trung, và người Nam. Ông hỏi thăm họ thì họ cho biết họ qua đây lập nghiệp. Trương Thế Đạt rất vui mừng khi gặp lại đồng bào Việt Nam. Tâm trạng hai bên thật vui vẻ như câu thơ “Thiên lý tha hương ngộ cố tri”. Họ hỏi ông tại sao đặt tên Trà Thất là Mây Tần. Ông nói ông rất yêu quê hương, lòng luôn nhớ băm sáu phố phường Hà Nội. “Hồn quê theo ngọn Mây Tần xa xa”.

Dần dần, hai bên quen nhau, Trương Thế Đạt mời họ về nhà chơi. Kể từ đó hai bên liên lạc thân mật. Sau một thời gian, khách hiểu rõ gia đình Trương là một gia đình yêu nước, vì không cam tâm làm tôi tớ bọn ngoại xâm mà bỏ nước ra đi. Vì quen thân, họ cũng cho biết họ thuộc đảng cách mạng tiến bộ Việt Nam, được thế lực quốc tế như Liên Sô, Trung Quốc yểm trợ, thế lực rất mạnh, bám rễ trong và ngoài nước, có mục đích bài phong đả thực, xây dựng một xã hội công bằng tự do, người không bóc lột người. Đảng có Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hùynh Thúc Kháng tham gia, và có khoảng mười triệu đảng viên.

Lực lượng đảng trong nước đã vùng lên như Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám đã chiếm được nhiều tỉnh trong nước, giết vô số thực dân Pháp. Trương Thế Đạt nghe họ nói vậy cũng tin tưởng, ủng hộ cho họ một số vàng để làm quỹ hoạt động cứu quốc. Trương Thế Đạt mất, con trai là Trương Thế Vinh nối nghiệp cha kinh doanh trong ngoài, và ông cũng giữ mối liên lạc với tổ chức quốc tế, và cũng đóng góp vàng bạc cho họ. Trà thất Mây Tần và nhà của Trương Thế Vinh trở thành nơi ẩn náu và hoạt động của đảng cách mệnh.

Ông được chi bộ đảng khen ngợi là “nhân sĩ yêu nước”, và những Việt kiều ở Thái Lan theo Cộng Sản được gọi là “Việt kiều yêu nước”. Gia đình Trương Thế Vinh đã được chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gửi giấy ban khen là gia đình yêu nước, đã có công với cách mạng.

Sau 1945, Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, Việt Minh cướp chính quyền. Một số dân chúng vì nạn đói, vì sợ Cộng Sản và thực dân Pháp nên đã bỏ nước sang Lào, Miên, Xiêm La, hoặc Pháp. Những người Việt Nam sinh sống tại Xiêm La ngày càng đông, và những người theo phe Cộng Sản càng mạnh.

Năm 1954, Hiệp Định Geneve chia đôi Việt Nam. Nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” giao thương với Xiêm La tức Thái Lan, và đặt tòa đại sứ tại Băng Cốc. Những đảng viên Cộng Sản Việt Nam ra mặt công khai hoạt động. Họ ra sức vận động “Việt kiều” tại Thái Lan về xây dựng đất nước. Chính sách này cũng được phát triển nhiều nơi như Pháp, Lào, Miên…

Họ bảo “đất nước ngày nay cần nhiều bàn tay đóng góp. Việt Nam nay đã tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa, nông dân có ruộng cày, thoát khỏi cảnh làm nô lệ cho bọn phú nông địa chủ; xã hội bây giờ không còn nạn người bóc lột người. Sinh viên học sinh được tự do học hành, không phải đóng học phí mà còn được chính phủ nuôi ăn học, cấp sách vở cho đến khi thành tài.

Trong nước ai cũng có công ăn việc làm, không ai thất nghiê.p. Họ gửi tặng ông nhiều sách báo, có nhiều thơ ca, âm nhạc và tiểu thuyết ca ngợi sự lãnh đạo tài ba của đảng và chính phủ”. Trương Thế Vinh tuy sinh tại Thái Lan, nhưng được nghe cha ông ca tụng về con người và đất nước Việt Nam, nay lại được nghe thêm những lời tuyên truyền của cộng sản nên càng thêm yêu nước, và càng nhớ quê hương. Ông luôn luôn mở đài Hà Nội, và những bài thơ, bản nhạc đã gieo vào lòng ông tình yêu quê hương, tổ quốc.

“Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

Quê hương là đường đi học

Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng che

Là hương hoa đồng cỏ nội

Bay trong giấc ngủ đêm Hè”

Lúc bấy giờ công việc buôn bán ngày càng khó khăn khiến Trương Thế Vinh chán nản. Nay được “cán bộ” cộng sản kêu gọi và khuyến khích, vì vậy ông quyết định trở về góp sức xây dựng quê hương. Ông nay được ban khen là “gia đình có công với cách mạng”. Nếu về Việt Nam chắc ông sẽ được đảng và nhà nước quý trọng. Con đường tương lai rộng mở trước mắt ông.

Ta về ta tắm ao ta!

Ông muốn trở về tắm ao ta, về làm người hùng cứu nước, còn hơn là sống ở quê người, dù là triệu phú cũng có mặc cảm là kẻ tha phương cầu thực, kẻ lưu đày, là công dân bậc hai!

Ôi! Nước ta nay đã độc lập, không còn bọn thực dân Pháp xâm chiếm quê hương. Vì thực dân Pháp mà nhân dân ta khốn khổ điêu tàn. Vì thực dân Pháp mà tổ phụ ông phải bỏ quê hương mà đi. Nay là một dịp để ông trở về quê hương, về 36 phố phường Hà Nội và năm cửa Ô xưa! Tình yêu quê hương không còn là một mớ tình cảm bâng khuâng mà đã biến thành sự thực.

Ông lo bán nhà cửa, hàng hóa và các cơ sở kinh doanh thu được năm trăm lượng vàng và mười ngàn đô la Mỹ. Sau khi đã thanh toán mọi thứ, ông đã “đăng ký” mua máy bay trở về Hà Nội thân yêu. Nhưng tòa đại sứ Việt Nam CS tại Thái Lan đã lo mọi sự. Tất cả “Việt kiều” tại Thái Lan sẽ cùng nhau về Việt Nam bằng đường hàng không sang Cam Bốt rồi từ đó sẽ đi xe ô tô hay máy bay về Việt Nam.

Sau khi đoàn “Việt kiều” Thái Lan về đến Cam Bốt, họ được chuyển ngay lên xe ô tô Liên Sô là loại xe bốn bề kín mít chở ngay về Quảng Bình Việt Nam. Khi về đến biên giới Việt Nam, cả đám được cán bộ Cộng Sản đeo súng yêu cầu xuống xe để vào một trung tâm, bốn bề rào kín và có lính gác. Họ bảo:

“các Việt kiều tạm ở lại đây một thời gian để học tập đường lối chính sách của Đảng và nhà nước. Họ ra lệnh các Việt kiều tập họp lại, gia đình nào theo gia đình đó. Họ bảo mọi người không được ra khỏi trung tâm nếu không được trung tâm cho phép”. Họ đưa mọi người vào hội trường. Viên “thủ trưởng” tỏ ra rất lịch sự. Ông nói:

“Chào các đồng bào và các đồng chí,

Hôm nay tôi xin thay mặt mặt đảng và chính phủ chào mừng những người con yêu trở về tổ quốc.”

Ông vừa dứt lời, mọi người vui vẻ hoan hô, tiếng vỗ tay nghe vang như tiếng pháo.

Tiếp theo, ông nói:

“ Thưa các đồng chí và đồng bào,

“Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, những người ngoại quốc đã ước mơ trong một đêm được trở thành người Việt Nam. Các đồng bào và đồng chí nay đã thành người nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trước tiên, yêu cầu mọi người giao nộp thẻ căn cước, thẻ quốc tịch và khai sinh ngoại quốc để Nhà nước làm thủ tục hành chánh.”

Ông nói xong thì lui bước, để cho một đại biểu khác lên tiếng yêu cầu đồng bào làm bản tự khai hồ sơ, lý lịch, nhất là phải kê khai vàng bạc, kim cương, hột xoàn và đô la. Trong khi mọi người tập trung ở hội trường, cán bộ cộng sản đã vào khám xét hành lý của Việt kiều. Những ai có chìa khóa va ly hay khóa các hộp kín, họ đến bảo nhỏ giao nộp chìa khóa cho họ làm thủ tục kiểm tra.

Ngay hôm đó, họ bắt mọi người giao nộp vàng, kim cương, nữ trang và đô la.

Ông cán bộ nói:

“Đảng sẽ giữ tài sản cho họ vì sợ bọn biệt kích Mỹ ngụy cướp của giết người.. Cứ yên tâm đưa chính phủ giữ dùm, rồi chính phủ sẽ trả lại cho các gia đình sau khi tình hình đã được ổn định.”

Tiếp theo, mọi người làm thủ tục y tế. Mọi người phải vào phòng kín, cởi hết áo quần để y sĩ khám xét. Không thử máu, không nghe tim mạch, mà chỉ khám tổng quát. Thủ tục này thì cũng nhanh thôi, ngoại trừ những ai còn cất giấu tài sản trong người là bị tịch thu và bị phê bình, kiểm thảo. Các gia đình Việt kiều được cán bộ rút sổ tay, xé giấy viết biên nhận bằng những tờ giấy vàng úa xấu xí với những dòng chữ nguệch ngoạc, không rõ chữ viết và con số, và cũng không ghi ngày tháng, chữ ký và tên người nhận:

….Đã nhận 300 miếng kim loại bề ngoài màu vàng… Đã nhận một ngàn tiền nước ngoài… Đã nhận hai mươi viên đá nhỏ óng ánh…

Đến đây thì các Việt kiều biết mình đã lầm, đã mắc gian kế. Họ cũng như Thúy Kiều trong ngày đầu gặp Mã Giám Sinh đã kêu lên:

Xem gương trong bấy nhiêu ngày

Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già!

Vài ngày sau, các “Việt kiều” được “phân phối” về các thôn xóm ở miền Bắc. Gia đình Trương Thế Vinh được “phân phối” về một làng ở Quảng Bình. Ông chất vấn cán bộ:

– Chúng tôi xin về Hà Nội là quê hương của tôi và đã được Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Băng Cốc chấp thuận. Nay sao các ông lại bắt tôi về Quảng Bình?

Tên cán bộ trong “ban Việt kiều yêu nước” nói:

”Nay chúng ta đang xây dựng Hà Nội thành một thủ đô to lớn và văn minh hơn mười lần xưa. Hà Nội tương lai sẽ có những tòa cao 40-50 tầng, vĩ đại hơn Mỹ. Vi là xây cất chưa xong, nên chưa có nhà cho đồng bào ở. Vậy ông tạm ở lại Quảng Bình một thời gian, rồi sẽ đưa gia đình về Hà Nội sau”.

Biết rằng phản đối cũng vô ích cho nên gia đình ông phải lên xe về Quảng Bình. Gia đình ông được đổ xuống Quốc Lộ I, rồi được công an dẫn bộ tới một làng nhỏ, cách quốc lộ vài cây số. Làng này cho ông một miếng đất ven sông để ở và canh tác. Nơi ông ở là bãi sông vắng, cách xa xóm làng vài cây số.

Ông là một kẻ ngụ cư. Hơn nữa, ông là một kẻ nguy hiểm. Dân làng không ai dám giao thiệp cùng gia đình ông vì họ coi gia đình ông như một những kẻ gián điệp từ ngoại quốc về để phá hoại xã hội chủ nghĩa.

Tiền của mất sạch, gia đình ông trở thành kẻ bần cùng nhất nước, cô đơn nhất nước. Thư ông gửi đi không có hồi âm. Ông không nhận được lá thư nào từ Thái Lan hay Hà Nội. Ở Thái Lan, ông có tài sản, bạn bè, nhưng về đây, quê hương Việt Nam,Trương Thế Vinh và gia đình bị lưu đày và cấm cố. Gia đình ông vì yêu nước mà trở về nay lại bị coi là kẻ thù của dân tộc. Sống ở Thái Lan, ông tự coi là người xa lạ, nay về Việt Nam, ông lại trở thành người xa lạ trên chính quê hương mình.

Ông suy nghĩ xa gần mà lòng đau như cắt. Ông trách ông ngu dại. Nước Thái Lan đã cho ông nương tựa, giúp ông làm giàu, con cái ông học hành thành tựu, thế mà ông bỏ Thái Lan mà về Việt Nam, về quê mẹ, nhưng quê mẹ đã giết gia đình ông, cướp đoạt tài sản và hy vọng của ông!

Kẻ sát nhân cướp bóc chính là những kẻ mà ông đã nuôi nấng, kẻ đã rao giảng tự do, nhân đạo và bình đẳng! Ông đã bỏ mồi bắt bóng! Ông là người ngu xuẩn nghe theo những lời phỉnh nịnh để rồi làm hại mình và con cháu!

Vài năm sau, chiến tranh bùng nổ, miền Bắc bắt thanh niên nam nữ “sinh Bắc tử Nam”. Trương Thế Vinh có một trai, một gái. Con trai ông phải vào “bộ đội” rồi tử thương tại chiến trường miền Nam. Con gái ông phải đi “thanh niên xung phong”, lâm bệnh rồi chết trên Trường Sơn. Hai vợ chồng cắn đắng nhau.

Bà trách ông nhẹ dạ tin lời kẻ cướp. Bà không chịu nổi đời sống kham khổ và nỗi uất hận vì bị lường gạt nên mắc bệnh, không thuốc men mà chết. Còn ông, trong cơn đau khổ, uống rượu say rồi chửi Cộng Sản. Kết cuộc ông bị công an bắt bỏ tù rồi chết trong trại tù Thái Nguyên.

Sơn Tùng.


 

Brigitte Bardot vừa qua đời ở tuổi 91

Le Thanh Hoang Dan

Sáng nay đọc tin Brigitte Bardot vừa qua đời ở tuổi 91, buồn. Bà lớn hơn tôi 2 tuổi, là một trong những minh tinh thời của tôi. Tôi 89, đã đi đến tận chân trời rồi, có lẽ cũng sắp biến mất khỏi cõi đời này. Tôi trân quí mỗi phút giây còn sống Trời (Chúa) cho. Sống vui, trọn vẹn, yên bình và hạnh phúc. Sống thật với chính mình.

“Brigitte Bardot sinh năm 1934 và được xem là biểu tượng gợi cảm hàng đầu của điện ảnh Pháp cũng như thế giới qua những bộ phim gây tiếng vang lớn những năm 1950. Bộ phim gắn liền với tên tuổi, hình ảnh của Brigitte Bardot là Và Chúa đã tạo ra người đàn bà, do Roger Vadim đạo diễn.

Theo Variety, mặc dù thời kỳ đỉnh cao của Brigitte Bardot với tư cách là ngôi sao điện ảnh ăn khách tương đối ngắn ngủi, và bà đã giải nghệ vào đầu những năm 70, nhưng tầm ảnh hưởng lại rất sâu rộng khi đưa hình ảnh những cô gái tóc vàng trẻ trung, quyến rũ, cùng các đường cong gợi cảm lên màn ảnh rộng.

Vẻ đẹp nữ tính của bà với những nét đặc trưng như mái tóc chải phồng, đôi môi như hờn dỗi, đôi mắt viền đen sắc sảo… trải qua nhiều thập kỷ vẫn được xem là niềm mơ ước, chuẩn mực với phái đẹp. Sức ảnh hưởng về nhan sắc Brigitte Bardottừng được so sánh những minh tinh như Marilyn Monroe hay Audrey Hepburn.

Sự hợp tác của Brigitte Bardot và Roger Vadim cũng tạo nên bước ngoặt đáng nhớ trong lịch sử điện ảnh Pháp, châu Âu và rộng ra là cả thế giới khi thể hiện một cách đầy mới mẻ, táo bạo chủ đề tình dục.

Trong sự nghiệp của mình, bên cạnh đóng phim, Brigitte Bardot còn ca hát và nổi tiếng là một người đấu tranh bảo vệ động vật.” (vtv.vn)

#CàPhêBuổiSáng #ĐiểmBáo


 

Chuyện tình khó quên của cha đẻ chiếc áo dài Việt Nam!

Xuyên Sơn

Chuyện tình khó quên của cha đẻ chiếc áo dài Việt Nam!

Lê Thiếu Nhơn

Họa sĩ Nguyễn Cát Tường (sinh năm 1912, mất năm 1946)

chính là cha đẻ của chiếc áo dài

Việt Nam. Từ kiểu áo Lemur của Nguyễn Cát Tường, chiếc áo dài tiếp tục được cải tiến và dần dần trở thành trang phục truyền thống tôn vinh vẻ đẹp phụ nữ nước ta. Thế nhưng, ít ai biết rằng, một trong những người đầu tiên góp công phô diễn chiếc áo dài của họa sĩ Nguyễn Cát Tường, chính là vợ ông – bà Nguyễn Thị Nội!

Họa sĩ Nguyễn Cát Tường sinh ra và lớn lên ở Sơn Tây – Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, họa sĩ Nguyễn Cát Tường cộng tác với báo Phong Hóa do nhà văn Nhất Linh làm chủ biên.

Bằng con mắt liên tài, nhà văn Nhất Linh nhận ra chàng họa sĩ trẻ Nguyễn Cát Tường ngoài sở trường vẽ tranh minh họa còn có khả năng đưa ra những ý kiến bổ ích để tư vấn làm đẹp cho phái nữ.

Vì vậy, trên báo Phong Hóa số 85 ra ngày 11/2/1934, nhà văn Nhất Linh mở chuyên mục

“Vẻ đẹp riêng tặng các bà, các cô” và giao cho họa sĩ Nguyễn Cát Tường phụ trách.

Sau 4 số báo nhẩn nha phân tích về trang phục phụ nữ Việt, họa sĩ Nguyễn Cát Tường nhấn mạnh:

“Quần áo tuy dùng để che thân thể, nhưng nó có thể như tấm gương phản chiếu trình độ trí thức của một nước.

Bộ quần áo rồi sẽ phải như thế nào? Trước hết, nó phải hợp với khí hậu xứ ta, với thời tiết các mùa, với công việc, với khuôn khổ, với mực thước của thân hình mỗi bạn.

Sau nữa, nó phải gọn gàng, giản dị, mạnh mẽ và có vẻ thẩm mỹ lịch sự. Nhưng dù thế nào, nó cũng phải có cái tính cách riêng của nước nhà mới được. Các bạn là phụ nữ Việt Nam, vậy áo của các bạn phải có một vẻ riêng để người khác khỏi nhầm các bạn với phụ nữ nước ngoài, như nước Tàu, nước Pháp, nước Nhật Bản chẳng hạn”.

Với quan niệm ấy, trên báo Phong Hóa số 90 ra ngày 23/3/1934, họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã công bố bản vẽ chiếc áo dài đầu tiên, đặt tên là áo dài Lemur. Nhà văn Thạch Lam đã lên tiếng ủng hộ áo dài Lemur rất nồng nhiệt:

“Sự cải cách y phục của phụ nữ ta có thể bởi cái nguyên nhân sau:

cái dáng điệu tự nhiên của thân thể người ta mà các họa sĩ biết thưởng thức. Biết sự mềm mại tha thướt của dáng điệu, rồi làm thế nào cho cái ống quần, cái tà áo theo cái mềm mại tha thướt đó, để làm tăng vẻ đẹp của thân hình cô thiếu nữ trẻ trung”.

Để chiếc áo dài Lemur bước từ trang báo ra cuộc đời, họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã hợp tác với hiệu may Cử Chung ở số 100 phố Hàng Bông – Hà Nội và hiệu may Phạm Tá ở số 23 phố Bờ Hồ – Hà Nội để khuyến khích phụ nữ trưng diện trang phục này.

Đích thân họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã đi tìm những phụ liệu nhằm làm tăng thêm sức hấp dẫn cho chiếc áo dài.

Và một lần ra ga Hàng Cỏ để gặp một ông chủ xưởng dệt ren ở Bắc Ninh lên, họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã nhận được món quà nhân duyên lớn nhất đời mình!

Khi tàu từ Bắc Ninh vào ga Hàng Cỏ,

họa sĩ Nguyễn Cát Tường chờ mãi không thấy ông chủ xưởng dệt ren đã có hẹn với mình. Đang mắt trái mắt phải ngó nghiêng kiếm tìm, họa sĩ Nguyễn Cát Tường sửng sốt khi phát hiện một cô gái đi ngang. Không trang điểm, trên đầu lại chít khăn xô đại tang, nhưng nhan sắc của cô gái làm họa sĩ Nguyễn Cát Tường ngơ ngẩn.

Sau mấy phút choáng váng, họa sĩ Nguyễn Cát Tường hoàn hồn và chạy theo cô gái. Lễ nghi lúc ấy không cho phép trai gái làm quen sỗ sàng, họa sĩ Nguyễn Cát Tường dò la biết được cô gái kia tên là Nội cũng ở Bắc Ninh và là con gái một chủ xưởng dệt ren vừa qua đời.

Họa sĩ Nguyễn Cát Tường xã giao với người kéo xe của cô Nội để nhờ đưa thư. Sau mấy lần thư đi thư lại và thưởng không ít bạc cho người kéo xe, họa sĩ Nguyễn Cát Tường được thông báo rằng cô Nội hẹn ông ở chuyến tàu Bắc Ninh – Hà Nội dịp cuối tuần.

Đúng giờ, họa sĩ Nguyễn Cát Tường chưng diện bảnh bao để đứng đợi cô Nội ở ga Hàng Cỏ.

Cô Nội xuống tàu thật, với hai chiếc va li to đùng. Họa sĩ Nguyễn Cát Tường nhào đến, cúi chào cô Nội rất điệu đàng kiểu quý ông.

Cô Nội hơi ngơ ngác nhưng vẫn không tỏ thái độ gì, chỉ nhìn xuống… hai cái va li. Dù không phải loại người khỏe mạnh, nhưng họa sĩ Nguyễn Cát Tường cũng tỏ ra ga- lăng, hai tay nhấc bổng hai cái va li lên.

Cứ thế, nàng nhẹ nhàng đi trước, chàng hổn hển theo sau.

Ra khỏi cổng ga, nàng đi thẳng vào… đồn cảnh sát.

Hơi khó hiểu, nhưng chàng cũng vào luôn và hồn xiêu phách tán khi nghe nàng tố giác tội phạm:

“Ông này lấy cắp hai cái va li của tôi!”.

Nhân chứng và vật chứng đều có đủ, họa sĩ Nguyễn Cát Tường không biết cách nào biện hộ cho bản thân, đành lấy mấy lá thư của cô Nội mà mình lúc nào cũng mang bên mình để chứng minh cả hai có quan hệ với nhau. Cô Nội khăng khăng

“không phải chữ của tôi”, và mượn giấy bút của cảnh sát để biểu diễn chữ viết hoa mỹ gấp trăm lần thứ chữ viết mà họa sĩ Nguyễn Cát Tường nhận được.

Trời đất như sụp đổ dưới chân họa sĩ Nguyễn Cát Tường.

Cô Nội thì nhận lại hai cái va li để đi xa rồi, còn họa sĩ Nguyễn Cát Tường phải ngồi ở đồn cảnh sát để tường trình sự việc và chờ người của báo Phong Hóa đến bảo lãnh.

Tất nhiên, thuở đó nhà văn Nhất Linh – chủ báo Phong Hóa cũng là nhân vật có quyền lực, nên họa sĩ Nguyễn Cát Tường nhanh chóng thoát nạn.

Bấy giờ, họa sĩ Nguyễn Cát Tường mới vỡ lẽ bị người kéo xe giở trò lừa đảo.

Cái gọi là thư của cô Nội, đều do người kéo xe tự viết để mong có mấy đồng tiền thưởng từ họa sĩ Nguyễn Cát Tường.

Oan gia ngõ hẹp, mấy ngày sau họa sĩ Nguyễn Cát Tường nhận được trát của tòa án.

Lý do, cô Nội về nhà kể lại cho mẹ nghe những điều đã xảy ra trên Hà Nội.

Và bà góa chủ xưởng thêu ren ở Bắc Ninh quyết không buông tha kẻ đã bôi nhọ thanh danh con gái cưng của mình bằng sự vu vạ “viết thư cho trai”. Thủ phạm là người kéo xe bị vạch mặt, nhưng họa sĩ Nguyễn Cát Tường vẫn thua kiện và phải “bồi thường một đồng danh dự” cho cô Nội.

Hình ảnh cô Nội ngỡ đã tan thành mây khói trong giấc mộng của họa sĩ Nguyễn Cát Tường, thì cái câu “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” lại ứng nghiệm.

Tuy chồng đã qua đời, nhưng cam kết cung cấp nguyên liệu cho việc may áo dài vẫn được người vợ thừa kế xưởng dệt ren thực hiện.

Họa sĩ Nguyễn Cát Tường được mời xuống Bắc Ninh để gặp mặt tiếp tục thỏa thuận cho một thương vụ êm thắm. Thật bất ngờ, cô gái của bà chủ xưởng thêu ren thay mẹ rót trà mời khách, không ai khác, chính là cô Nội.

Không giống như sự giận dữ trước đây đối với kẻ xúc phạm con gái mình, mẹ của cô Nội hết sức khen ngợi tài năng của họa sĩ Nguyễn Cát Tường và không giấu giếm ý muốn nhận họa sĩ Nguyễn Cát Tường làm con rể.

Cuối năm 1936, sau khi mãn tang thân phụ, Nguyễn Thị Nội xuất giá.

Đám cưới được tổ chức tưng bừng ở Bắc Ninh. Trong ngày vu quy, cô dâu Nguyễn Thị Nội mặc chiếc áo dài do tân lang Nguyễn Cát Tường thiết kế.

Vốn có gien kinh doanh của gia tộc, Nguyễn Thị Nội từ ngày làm vợ họa sĩ Nguyễn Cát Tường, đã giúp chồng phát triển thương hiệu áo dài Lemur rất thịnh vượng tại Hà Nội. Hiệu may Lemur với đặc sản áo dài được mở tại số 16 phố

Lê Lợi, trở thành địa chỉ nổi tiếng nhất về y phục phụ nữ.

Bà chủ Nguyễn Thị Nội không chỉ khéo léo chiều chuộng khách hàng,

mà còn là người mẫu thuyết phục nhất để người ta yêu thích chiếc áo dài.

Cũng nhờ người mẫu Nguyễn Thị Nội, họa sĩ Nguyễn Cát Tường có cảm hứng sáng tạo rất nhiều mẫu áo dài, để in thành cuốn sách “50 mẫu y phục phụ nữ Lemur” do Nhà xuất bản Đời Nay ấn hành.

Năm 1939, hiệu may Lemur chuyển về số 14 phố Hàng Da.

Và tại địa chỉ này, bà Nguyễn Thị Nội đã mở phòng trà Thiên Hương quy tụ những nghệ sĩ lừng lẫy nhất thủ đô hội ngộ hàng đêm.

Bà Nguyễn Thị Nội sinh cho họa sĩ Nguyễn Cát Tường cả thảy 5 người con, 3 trai 2 gái.

Ngày 17/12/1946, họa sĩ Nguyễn Cát Tường qua đời, hiệu may Lemur cũng đóng cửa.

Sau năm 1954, bà Nguyễn Thị Nội đưa gia đình vào Sài Gòn, và một mình làm lụng nuôi các con khôn lớn.

Bây giờ bà Nguyễn Thị Nội cũng đã thành người thiên cổ, nhưng những ngày bà cùng chồng mình – họa sĩ Nguyễn Cát Tường quảng bá chiếc áo dài, xứng đáng được thế hệ sau truyền tụng. Bởi lẽ, tình yêu của họ đã giúp người Việt Nam có được một trang phục truyền thống mang vẻ đẹp quyến rũ, như nhà thơ Nguyên Sa bồi hồi: 

“Có phải em mang trên áo bay/

Hai phần gió nổi một phần mây/

Hay là em gói mây trong áo/

Rồi thở cho làn áo trắng bay”,

hoặc như nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên xao xuyến:

“Tháng giêng em áo dài trang nhã/

Tỉnh lỵ còn nguyên nét Việt Nam/

Đài các chân ngà ai bước khẽ/

Quyện theo tà lụa cả phương Đông”.

Mời nghe radio

https://nongnghiep.vn/…/hoa-si-nguyen-cat-tuong-hanh…

Sưu tầm

My Lan Phạm


 

GP Cần Thơ sẽ tổ chức Thánh Lễ Phong Thánh LM Trương Bửu Diệp năm 2026

Ba’o Nguoi-Viet

December 21, 2025

CẦN THƠ, Việt Nam (NV) – Giáo Phận Cần Thơ, Việt Nam, sẽ tổ chức Thánh Lễ Phong Chân Phước Cố Linh Mục Trương Bửu Diệp vào Thứ Năm, 2 Tháng Bảy, 2026, tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau.

Hôm Thứ Sáu, 19 Tháng Mười Hai, Giám Mục Lê Tấn Lợi, giám mục Giáo Phận Cần Thơ, gởi ra thông cáo cho biết như vậy.

Tượng Linh Mục Trương Bửu Diệp tại văn phòng Truong Buu Diep Foundation, Garden Grove. (Hình minh họa: Facebook Truong Buu Diep Foundation)

“Trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa, Tòa Giám Mục Giáo Phận Cần Thơ hân hoan loan báo một niềm vui trọng đại của giáo phận và của giáo hội tại Việt Nam: Tòa Thánh đã chính thức chấp thuận việc tổ chức Thánh Lễ Phong Chân Phước cho Tôi Tớ Chúa – Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, do đặc sứ của Đức Thánh Cha Leo XIV là Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, quyền bộ trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng, chủ sự,” thông cáo cho biết.

Giám Mục Lê Tấn Lợi cho biết thêm: “Đây là hồng ân đặc biệt Chúa ban cho giáo phận chúng ta, đồng thời là niềm khích lệ lớn lao cho mọi thành phần dân Chúa noi gương Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp trung thành sống đức tin, nồng nàn yêu mến Chúa và tận tâm hy sinh phục vụ tha nhân.”

“Xin toàn thể cộng đoàn dân Chúa hiệp thông trong lời tạ ơn Thiên Chúa, đồng thời sốt sắng cầu nguyện cho công việc chuẩn bị và tổ chức Thánh lễ Phong Chân Phước được diễn ra tốt đẹp và sinh nhiều hoa trái thiêng liêng,” vị giám mục chánh tòa Cần Thơ thêm.

Giám mục kêu gọi: “Tôi tha thiết kêu gọi quý linh mục, tu sĩ nam nữ và anh chị em giáo dân, trong khả năng và trách nhiệm của mình, nhiệt tình cộng tác và chung tay góp phần để việc tổ chức Thánh Lễ Phong Chân Phước Phanxicô Trương Bửu Diệp được sốt sắng, chu đáo và tràn đầy ý nghĩa đức tin.”

Được biết đây là lần đầu tiên có một Thánh Lễ Phong Chân Phước được cử hành tại Việt Nam. 

Thông cáo của Giám Mục Lê Tấn Tới nói về việc tổ chức Thánh Lễ Phong Chân Phước Cố Linh Mục Trương Bửu Diệp. (Hình: Giáo Phận Cần Thơ)

Tiểu sử Linh Mục Trương Bửu Diệp

Theo Vatican News, Linh Mục Trương Bửu Diệp sinh ngày 1 Tháng Giêng, 1897, tại họ đạo Cồn Phước, làng Tấn Đức, nay thuộc ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Thân phụ của linh mục là ông Trương Văn Đặng và thân mẫu là bà Lê Thị Thanh. Năm 1904, sau khi mẹ qua đời, vị linh mục tương lai theo cha sang tỉnh Battambang, Cambodia, sinh sống.

Năm 1909, linh mục vào Tiểu Chủng Viện Cù Lao Giêng, sau đó, tiếp tục tu học tại Đại Chủng Viện Phnom Penh, Cambodia, và được thụ phong linh mục tại thủ đô nước này năm 1924.

Từ năm 1924 đến năm 1927, linh mục được bổ nhiệm làm phó xứ Hố Trư, một họ đạo của người Việt Nam sinh sống tại tỉnh Kandal, Cambodia. Từ năm 1927 đến năm 1929, Linh Mục Trương Bửu Diệp về làm giáo sư tại Tiểu Chủng Viện Cù Lao Giêng.

Từ năm 1930, linh mục được bổ nhiệm làm chánh xứ họ đạo Tắc Sậy, tỉnh Bạc Liêu, nay thuộc xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau.

Suốt 16 năm thi hành sứ vụ, linh mục tận tụy chăm sóc đoàn chiên, đặc biệt yêu thương người nghèo, không phân biệt lương giáo. Giữa thời loạn lạc chiến tranh, dù được khuyên lánh nạn, linh mục vẫn kiên quyết ở lại với giáo dân, khi nói: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên.”

Ngày 12 Tháng Ba, 1946, Linh Mục Trương Bửu Diệp bị Nhật bắt cùng với hơn 70 giáo dân họ Tắc Sậy. Linh mục đứng ra tranh đấu cho dân, đồng thời an ủi những người cùng bị giam. Sau lần thứ ba bị mời đi làm việc, linh mục không trở về. Sau đó vài ngày, giáo dân tìm thấy xác linh mục tại một cái ao, với vết chém sau ót ngang mang tai và thân xác trần trụi như Chúa Giêsu trên thập giá.

Thi hài linh mục được vớt lên và chôn cất trong phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo, Bạc Liêu, đến năm 1969 thì được di dời về an táng tại Tắc Sậy, nơi ngày nay trở thành điểm hành hương của đông đảo tín hữu kính nhớ một vị mục tử đã sống và chết vì đoàn chiên.

Sau khi linh mục qua đời, rất nhiều tín hữu bắt đầu đến kính viếng mộ linh mục, xin linh mục chuyển cầu và nhận được nhiều phép lạ.

Nhà thờ Tắc Sậy ở xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau. (Hình: Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Việt Nam)

Án phong Chân Phước 

Năm 2013, Giám Mục Tri Bửu Thiên, giám mục Giáo Phận Cần Thơ,  mở án điều tra cấp giáo phận, thu thập chứng cứ, lời chứng, và các phép lạ. Hồ sơ được hoàn tất vào năm 2017 và được gửi sang Vatican. Năm 2019, Bộ Tuyên Thánh kết luận điều tra có giá trị để khởi sự án phong Chân Phước.

Ngày 25 Tháng Mười Một, 2024, trong cuộc tiếp kiến dành cho Hồng Y Marcello Semeraro, bộ trưởng Bộ Phong Thánh, Đức Giáo Hoàng Francis cho phép bộ ban hành sắc lệnh nhìn nhận sự tử đạo của Linh Mục Trương Bửu Diệp (bị giết vì sự căm thù đức tin).

Trong thư đề ngày 3 Tháng Mười Hai, gởi đến Linh Mục Cleber Willian Lopes Pombal, thuộc Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ, Tổng Giám Mục Edgar Pena Parra, phụ tá quốc vụ khanh Tòa Thánh Vatican, cho biết, theo ý định của Đức Giáo Hoàng Leo XIV, nghi thức tuyên phong Chân Phước cho Đấng Đáng Kính Tôi Tớ Chúa Phanxicô Trương Bửu Diệp sẽ được cử hành vào vào Tháng Bảy, 2026, như đã nêu ở trên.

Nhà thờ Tắc Sậy 

Theo trang web vietnamtourist.com, nhà thờ Tắc Sậy, hay còn biết đến là nhà thờ Cha Diệp, được xem là một trong những nhà thờ Công Giáo đẹp nhất miền Tây sông nước. Đây cũng là nơi an nghỉ cuối cùng của Linh Mục Trương Bửu Diệp.

Nhà thờ được xây dựng năm 1925 và Linh Mục Trần Minh Kính là chánh xứ đầu tiên, từ Tháng Tám, 1926. Năm 1930, Linh Mục Trương Bửu Diệp là chánh xứ.

Tên Tắc Sậy xuất phát từ đặc điểm địa hình vùng này, có nhiều lau sậy, muốn đi vào nhà thờ phải đi qua một con đường tắt. Do người Nam biến âm “tắt” thành “tắc,” cho nên có tên Tắc Sậy.

Ngày nay, nhà thờ là một trong những điểm hành hương nổi tiếng nhất Việt Nam, thu hút nhiều du khách và giáo dân đến chiêm ngưỡng, dâng lễ, cầu nguyện, và khấn vái,…nhất là trong dịp Tết, những ngày lễ lớn của người Công Giáo, và ngày giỗ Linh Mục Trương Bửu Diệp. (Đ.D.)


 

CHI TIẾT TỪNG GIỜ TRONG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA CHẾ ĐỘ CS LIÊN XÔ – Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo

Giới thiệu: Mikhail Sergeyevich Gorbachev qua đời ngày 30 tháng 8, 2022, sau một cơn bệnh dài, thọ 91 tuổi. Ông là lãnh đạo thứ 8 và cũng là lãnh đạo cuối cùng của Liên Xô. Ngoài chức vụ Tổng Bí Thư, ông còn kiêm chức vụ Chủ tịch Nhà Nước Liên Xô và Chủ tịch Chủ Tịch Đoàn Xô Viết Tối Cao.  Gorbachev được bầu vào chức vụ Tổng Bí Thư đảng CSLX vào tháng 3, 1985. Dưới thời ông, hai chính sách nổi tiếng Glasnost (Cởi mở) và Perestroika (Cải tổ) được giới thiệu vào năm 1985. Sau sáu năm với nhiều thay đổi và xáo trộn, ngày 25 tháng 12, 1991 Gorbachev “ngưng chức”.

Ngày này được đánh dấu là ngày cuối cùng của Liên Xô mặc dù trên thực tế chế độ CSLX đã chấm dứt trước đó khi 15 nước “Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Xô” trong đó có cả Nga tuyên bố độc lập.

Bài viết khá dài này gồm hai phần:

1) Tóm tắt diễn tiến ngày cuối cùng của  Mikhail Gorbachev trong cương vị lãnh đạo Liên Xô.

2) Nhận định của người viết (1) về sự chuyển động không ngừng của xã hội con người đã thúc đẩy các mâu thuẫn có tính triệt tiêu của chế độ CS bộc phát nhanh, (2) Tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và, riêng tại LX, trung ương không giữ được các địa phương đã dẫn tới sự sụp đổ không tránh khỏi của chế độc CSLX.

——

“Merry Christmas!” Một viên chức trong đoàn tùy tùng của Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev chào Ted Koppel và nhóm phóng viên của hãng tin ABC đang đứng chờ trước bậc thềm điện Kremlin. Ted Koppel chào lại nhưng anh chàng Rick Kaplan, phụ tá của Ted Koppel, phản đối, “Với tôi anh phải chúc là Happy Hanukkah mới phải.” Rick Kaplan nói thế chỉ vì anh ta gốc Do Thái. Viên chức Liên Xô không hiểu Hanukkah nghĩa là gì và tưởng là Honecker nên hỏi ngược, “Tại sao tôi phải chào Happy Honecker chứ nhỉ?”

Thật ra, thắc mắc của viên chức Liên Xô không phải là không có lý do. Ngày 25 tháng 12, 1991 không chỉ là ngày cuối cùng của hệ thống CS Liên Xô mà có thể cũng là ngày cuối của Erich Honecker nữa. Tên lãnh tụ CS Đông Đức này bị truy tố tại Đức và được Gorbachev cho phép tỵ nạn chính trị tại Liên Xô. Erich Honecker sợ bị Boris Yeltsin tống cổ về Đức nên hôm qua đã chạy sang tòa đại sứ Chile ở Moscow xin tỵ nạn. Báo chí loan tin sáng hôm đó Erich Honecker vừa xin tỵ nạn chính trị lần nữa nên viên chức trong đoàn tùy tùng Gorbachev liên tưởng đến y khi nghe “Happy Hanukkah.”

Ngày 25 tháng 12 là ngày nhiều tỷ tín đồ Thiên Chúa Giáo trên thế giới kỷ niệm ngày Chúa Jesus giáng trần nhưng tại Moscow, ngày 25 tháng 12, 1991 là ngày chính thức cáo chung của chế độ Cộng Sản. Thật khó tin nhưng đang diễn ra trước mắt nhân loại. Ngày cuối cùng của chế độ CS Liên Xô được tường thuật theo từng giờ trong tác phẩm Moscow, December 25, 1991, the last day of Soviet Union của Conor O’Clery mà người viết tham khảo.

Tối ngày 24

Thời tiết Moscow lạnh xuống gần 0 độ F. Những lớp tuyết dày trên dưới chân tường điện Kremlin là dấu vết của cơn bão tuyết ba ngày trước. Nửa đêm 24 tháng 12, một đoàn hành hương đến cầu kinh dưới chân tháp Thánh Nicholas. Từ khi chính sách Glasnost ra đời, việc tiếp xúc tôn giáo có phần cởi mở. Nhiều đoàn hành hương có cơ hội đến thăm viếng các nhà thờ lớn ở Liên Xô. Phần đông người trong đoàn đến từ Hoa Kỳ. Dù Giáng Sinh theo lịch Julian do Giáo Hội Chính Thống Giáo Nga dùng là ngày 7 tháng Giêng, những người hành hương này muốn đón Giáng Sinh theo lịch Mỹ ở Moscow. Những ngọn đèn cầy được thắp lên trong đêm đông tại quốc gia CS hàng đầu thế giới. Những người hành hương không biết một cách chi tiết những gì sắp xảy ra trên đất nước này trong vài giờ nữa.

Sáng sớm ngày 25

Mikhail Sergeyevich Gorbachev, Tổng Bí Thư đảng CS kiêm Chủ tịch Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết thức dậy sớm. Ông ta ý thức ngay rằng, tất cả những gì ông sắp sửa làm từ bữa ăn sáng do đầu bếp Shura phục vụ và cả biệt điện nguy nga mà vợ chồng ông ta nghĩ trước đó sẽ ở cho đến chết đều sẽ là lần cuối. Chiếc xe đặc biệt ZIL-41047 chờ ông. Hai viên đại tá có khuôn mặt lạnh như tiền ngồi trên chiếc Volga theo sau xe của Gorbachev. Họ không phải là cận vệ nhưng là người mang chiếc cặp trong đó chứa các thông tin tuyệt mật để phát động chiến tranh nguyên tử. Hai đại tá này biết chiều tối nay họ sẽ chào từ biệt Mikhail Gorbachev để phục vụ lãnh đạo Cộng Hòa Nga Boris Yeltsin.

Mikhail Sergeyevich Gorbachev được thế giới ca ngợi như là người đã thổi vào không khí chính trị Liên Xô làn gió mới và được trao tặng giải Nobel Hòa Bình 1990 nhưng trong nước dân chúng đổ hết công phẫn lên ông ta. Tên Gorbachev đồng nghĩa với suy thoái, thất nghiệp, vật giá leo thang, tem phiếu. Người dân thường dĩ nhiên vội biết và cũng không cần biết, Gorbachev là lãnh đạo CS thứ tám và cũng là người kế thừa một gia sản lạc hậu, ung thối từ trong máu của chế độ.

Nhiều câu chuyện cười ở Moscow về thái độ bất mãn của người dân đối với Gorbachev. Ví dụ, trong một tiệm rượu, một người khách đứng dậy bỏ đi, các bạn anh ta hỏi đi đâu, anh chàng đáp đi giết Gorbachev chứ đi đâu, anh ta mở cửa ra đi thật nhưng trở lại ngay, bạn bè hỏi sao giết Gorbachev mà nhanh thế, anh chàng đáp không giết được vì phải sắp hàng dài quá.

9 giờ sáng ngày 25

Mikhail Gorbachev và đoàn tùy tùng đến dinh chủ tịch ở điện Kremlin hơi trễ hơn thường lệ chút ít. Hãng tin Mỹ ABC gồm Ted Koppel và Rick Kaplan có mặt ngay tại chỗ dừng xe. Họ được Gorbachev cho phép tường thuật biến cố lịch sử này. Theo lời kể lại của Ted Koppel, Gorbachev rất trầm tĩnh. Nhân viên làm việc trong điện Kremlin vẫn tới đủ nhưng không có việc nào làm khác hơn là dọn dẹp. Thời khóa biểu tiếp khách trước đây được tính từng phút, hôm đó trống không. Mặc dù theo thỏa thuận, Gorbachev có đến cuối năm để dời ra khỏi điện nhưng thực tế Yeltsin đã tóm thu hết quyền hành và các phương tiện thông tin. Đơn vị phòng vệ điện Kremlin vẫn túc trực nhưng không đặt dưới quyền chỉ huy của Gorbachev mà trực thuộc thẳng Yeltsin. Chiếc điện thoại màu trắng trên bàn làm việc của Gorbachev còn hoạt động nhưng không ai gọi vào.

10 giờ sáng ngày 25

Trong lúc điện Kremlin chìm trong im lặng, Tòa Nhà Trắng Nga lại sôi nổi với hàng loạt chương trình hoạt động trong ngày mới của nền Cộng Hòa. Tòa nhà quốc hội Nga này là biểu tượng của trận chiến chống chế độ toàn trị khi Yeltsin đứng trên xe tăng thách thức đám lãnh đạo CS cực đoan hồi tháng Tám trước đó. Boris Yeltsin lãnh đạo Nga đến văn phòng làm việc. Ông lên văn phòng đặt trên tầng thứ năm bằng cầu thang riêng phía sau. Trên bàn làm việc hàng loạt sắc lịnh chờ ông ký. Một chế độ hình thành bằng máu, dao búa và súng đạn đang được giải thể bằng sắc lịnh. Một trong những sắc lịnh ông phải ký hôm nay là giải tán cơ quan KGB và thay bằng Federalnaya Sluzhba Bezopasnosti gọi tắt là FSB tức Cơ Quan An Ninh Liên Bang Nga. Không chỉ trong ngành an ninh, mật vụ mà cả sắc lịnh về các hí viện, nhạc viện, các viện hàn lâm, trường đại học, viện bảo tàng v.v… từ nay đều trực thuộc Cộng Hòa Nga.

Các cơ quan ngoại giao quốc tế cũng vậy. Bộ trưởng Ngoại Giao Eduard Shevardnadze nổi tiếng thời Gorbachev bị trục xuất ra khỏi nhiệm sở và thay bằng Bộ trưởng Ngoại Giao Nga Andrey Kozyrev. Tại tất cả nhiệm sở ngoại giao khắp các múi giờ trên toàn thế giới, cờ Liên Xô bị hạ xuống và cờ Cộng Hòa Nga ba màu được kéo lên. Nhiều đại sứ vội vã đánh điện cho Yeltsin tuyên bố trung thành. Tòa đại sứ lớn nhất của Liên Xô là tòa đại sứ tại Washington DC với hơn 300 nhân viên thuộc nhiều sắc tộc. Các nhân viên chia thành nhiều nhóm theo sắc dân và tự tuyên bố họ là đại diện cho cộng hòa của họ tại Hoa Kỳ.

Gần 11 giờ sáng Tổng thống Nga Boris Yeltsin qua phòng họp quốc hội Nga ở lầu 1. Tổng cộng 252 đại biểu quốc hội đang tập trung để chứng kiến ngày lịch sử. Nhân dịp này, Boris Yeltsin thông báo tin vui rằng 11 quốc gia cựu Liên Xô trong phiên họp tại Kazakhstan đã đồng ý thành lập Khối Thịnh Vượng chung.

12 giờ trưa ngày 25

Mikhail Gorbachev ăn trưa xong. Phía sau phòng ăn có một phòng nhỏ bỏ trống. Tổng bí thư CS Liên Xô vào, đóng cửa lại và nằm nghỉ. Các phụ tá của ông hớt hải đi tìm. Gorbachev phải có mặt để ký thư từ biệt gởi các lãnh đạo thế giới mà ông có quan hệ tốt. Một danh sách khá dài từ Tổng thống Hoa Kỳ George H. W. Bush cho đến Thủ tướng Anh John Major và cả các ông hoàng như Vua Juan Carlos và Nữ Hoàng Sofia của Spain.

Bài bình luận trên báo Nga buổi sáng hôm đó chẳng tốt lành gì cho lãnh tụ CS Mikhail Gorbachev. Tờ Rossiyskaya Gazeta tiết lộ các cam kết mật Yeltsin dành cho Gorbachev khi về hưu bao gồm số phụ cấp bằng với mức lương hiện nay của ông ta có điều chỉnh theo mức lạm phát, hai chiếc xe riêng và một đoàn tùy tùng 20 người kể cả tài xế và an ninh. Đây là thỏa thuận kín giữa Gorbachev và Yeltsin nhưng đã bị cánh Yeltsin tiết lộ cho báo chí biết. Các báo còn cho rằng Gorbachev đòi hỏi một đoàn phục vụ lên đến 200 người. Thật ra, theo Chernyaev, phụ tá của Gorbachev, ông ta chưa bao giờ đòi hỏi một số lượng nhân viên phục vụ đông như thế. Phe Yeltsin chỉ bịa ra để làm nhục Gorbachev.

4 giờ chiều ngày 25

Gorbachev và phụ tá Andrei Grachev xem lại diễn văn mà 4 giờ nữa ông sẽ đọc và quyết định thay chữ “từ chức” bằng chữ “ngưng các hoạt động” trong chức vụ chủ tịch Liên Bang Xô Viết. Diễn văn được sửa tới sửa lui nhiều lần chung quanh các điểm xung khắc giữa Yeltsin và Gorbachev.

Cũng trong buổi chiều cuối cùng này, Gorbachev gọi điện thoại chào từ giã tổng thống Hoa Kỳ George H. W. Bush.

Buổi điện đàm được truyền hình ABC thu. Gorbachev mở đầu trước bằng gọi một cách thân mật “George thân mến, chúc mừng Giáng Sinh đến anh và Barbara!” và nói tiếp “George, tôi muốn báo anh biết một tin quan trọng. Trước mặt tôi là diễn văn từ nhiệm. Tôi sẽ rời khỏi chức vụ tổng tư lịnh và chuyển giao quyền sử dụng vũ khí nguyên tử sang tổng thống Liên Bang Nga.”

Buổi điện đàm diễn ra trong không khí rất thân mật và tổng thống Hoa Kỳ mời Gorbachev viếng thăm Hoa Kỳ lần nữa. Cả hai đều tránh nhắc tới tên Yeltsin.

Trời đã về chiều. Gorbachev và hai phụ tá thân cận nhất của ông ngồi quanh nhau bên ly cà phê cuối cùng. Cả ba đồng ý, sau khi đọc diễn văn, Gorbachev sẽ ký quyết định từ nhiệm thay vì ký trước như dự tính.

Trong lúc nhấp cà phê, câu chuyện về số phận Nicolae Ceausescu của Romania được nhắc đến. Mặc dù Gorbachev ví Ceausescu như là Hitler của Romania, cả hai đã duy trì một quan hệ lãnh đạo các quốc gia trong khối CS. Chỉ ba tuần trước khi vợ chồng Nicolae Ceausescu bị xử bắn, Gorbachev đã tiếp y tại điện Kremlin. Trong dịp đó Gorbachev khuyên Ceausescu đừng ngại thực hiện các cải cách dân chủ và tiên đoán “đồng chí sẽ còn sống trong dịp hội nghị các lãnh đạo CS Liên Xô và Đông Âu” tổ chức ngày 9 tháng Giêng, 1991. Ngày đó không bao giờ đến và Nicolae Ceausescu cũng đã chết rồi.

7 giờ tối ngày 25

“Kính thưa toàn thể nhân dân,”giọng Mikhail Gorbachev hơi lạc đi vì xúc động, gò má ông rung lên. Trong chốc lát, ông lấy lại bình tĩnh, “Số phận đã quyết định rằng, khi tôi trở nên lãnh đạo đất nước, hiển nhiên đã có những sai trái trầm trọng trong quốc gia này. Chúng ta có đầy đủ mọi thứ, đất đai, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và Tạo Hóa đã ban cho chúng ta trí tuệ và tài năng – Tuy nhiên, mức sống của chúng ta tệ hại hơn nhiều so với các quốc gia kỹ nghệ khác và khoảng cách mỗi ngày rộng thêm. Lý do rõ ràng vì xã hội bị bóp ngặt trong tay của một hệ thống quan quyền được tạo ra để phục vụ một ý thức hệ, và phải chịu gánh nặng chạy đua vũ trang, căng thẳng tột cùng. Tất cả cố gắng để thực hiện các cải cách nửa vời đều lần lượt dẫn đến thất bại. Đất nước không còn hy vọng gì nữa.”

Gorbachev tiếp tục nói về các cải cách ông thực thi từ 1985, dù sao, đã là những viên gạch cần thiết lót lên con đường dẫn đến chế độ dân chủ và theo ông “xã hội đã đạt được tự do, tự do về chính trị và tự do về tinh thần.”Gorbachev chấm dứt diễn văn lúc 7:12 phút tối. Ông nhìn lên ống kính truyền hình và thêm vào câu nữa “Chúc quý vị mọi điều tốt đẹp.”

Tại sao Liên Xô sụp đổ?

Các lý do làm Liên Xô sụp đổ là nguồn thúc đẩy sự nghiên cứu của nhiều sử gia, nhà nghiên cứu, nhà phân tích và vẫn còn đang được nghiên cứu, phân tích. Tuy nhiên, như nhiều người đồng ý, nguyên nhân sâu xa vẫn là (1) những mâu thuẫn có tính triệt tiêu trong bản chất của chế độ CS độc tài toàn trị, (2) sự chuyển hóa không ngừng của xã hội và (3) các nguyên nhân trực tiếp gồm tình trạng tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương.

Mâu thuẫn có tính triệt tiêu của chế độ CS

Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, chế độ CS Liên Xô không thể nào sụp đổ. Sau Thế Chiến thứ Hai, Liên Xô có một đạo quân khổng lồ gồm 500 sư đoàn trong đó có 50 sư đoàn thiết giáp. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh với Mỹ và Tây phương, Liên Xô duy trì một đạo quân từ 3 triệu người đến 5 triệu người. Khoảng thời gian Liên Xô sụp đổ, Liên Xô có 210 sư đoàn với một phần tư là các sư đoàn thiết giáp. Kho vũ khí hạt nhân Liên Xô có 27 ngàn đầu đạn nguyên tử trong đó 11 ngàn đầu đạn có tầm bắn xa đến tận nước Mỹ. Mỗi đầu đạn nguyên tử có thể tàn phá một thành phố của Mỹ.

Bên ngoài hùng mạnh nhưng bên trong, Liên Xô là một cơ chế chính trị chứa đựng các mâu thuẫn nội tại dẫn đến thối rữa. Chủ nghĩa Marx-Lenin đề cao “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” nhưng thật sự từ Cách mạng CS tại Nga, Trung Cộng, Cu Ba, Bắc Hàn, Việt Nam v.v… đều phát xuất từ một nhóm nhỏ cán bộ CS biết vận dụng các lý do lịch sử và bất đồng nhất thời trong xã hội để phát động chiến tranh và sau đó tiếp tục cai trị nhân dân bằng súng đạn, nhà tù, sân bắn. Người dân không có quyền chọn lựa. Mâu thuẫn đối kháng mang tính triệt tiêu nhau giữa chế độ độc tài toàn trị và quyền sống, quyền tự do chọn lựa của con người vì thế đã bắt đầu ngay khi cách mạng CS thành công và sâu sắc dần theo thời gian.

Sự chuyển hóa tri thức xã hội

Như người viết đã có dịp phân tích bài Trung Cộng không đáng sợ, sự chuyển hóa tri thức của xã hội là nguồn lực chính thúc đẩy cách mạng dân chủ tại các quốc gia CS. Nguồn lực đó nhanh hay chậm tùy theo điều kiện mỗi nước nhưng là một tiến trình không thể bị ngăn chặn bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào. Những nguồn đối kháng từ bên trong các nước CS đã âm thầm lớn mạnh chỉ chờ cơ hội là bùng vỡ. Sức sống của đất nước cũng như của xã hội là một dòng chảy không bao giờ ngừng nghỉ, các thế lực cầm quyền độc tài chỉ là những khe đá, có thể làm chậm dòng thác văn minh nhưng không thể nào ngăn chặn được.

Khi nhận thức con người được mở rộng, sự sợ hãi sẽ giảm dần. Điều này thể hiện không chỉ ở người dân Liên Xô lúc đó mà cả các cấp lãnh đạo CS Liên Xô cũng không còn sợ các biện pháp chế tài của trung ương đảng. Chưa bao giờ trong lịch sử đảng CS Liên Xô có một ủy viên bộ chính trị từ chức. Không cần phải tìm hiểu cũng biết điều gì sẽ xảy ra cho Boris Yeltsin nếu ông ta từ chức trong thời kỳ Lenin, Stalin.

Yếu tố chính tác động vào sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống CS tại châu Âu và sẽ diễn ra tại Trung Cộng cũng như Việt Nam chính là nội lực phát xuất từ xã hội, kết quả của các phong trào xã hội và sự chuyển hóa không ngừng của xã hội. Các quốc gia CS còn lại như Trung Cộng, Việt Nam tìm mọi cách để ngăn chặn sự phát triển tự nhiên của văn minh con người, cố tình che đậy, bưng bít thông tin nhưng chỉ làm chậm lại tiến trình cách mạng dân chủ một thời gian ngắn mà thôi. Cuộc chiến tranh xói mòn từng mảnh nhỏ này đang diễn ra từng giờ, từng phút và phần thắng đang nghiêng dần về phía người dân.

Tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương

Thập niên 1970 Liên Xô có vẻ trong vị trí ổn định và có ảnh hưởng quốc tế nhất. Vị trí của Liên Xô lên cao tại Phi Châu, Trung Đông và Á Châu. Tuy nhiên sau cuộc gặp thượng đỉnh Vladivostok giữa Leonid Brezhnev và Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford tình hình bắt đầu đổi khác. Nền kinh tế Liên Xô suy sụp dần vì hơn 30%, nhiều phân tích cho rằng hơn một nửa, ngân sách quốc gia phải đổ vào cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ. Giống như đòn kinh tế Mỹ đang áp dụng hiện nay đối với Vladimir Putin, thập niên 1980, Hoa Kỳ cũng thỏa thuận với Saudi Arabia để giữ giá dầu thấp nhằm đánh vào nền kinh tế sống nhờ xuất cảng dầu khí của Liên Xô.

Gorbachev kế thừa một “sự nghiệp cách mạng” nhưng trong thực tế một gánh nặng của chủ nghĩa độc tài toàn trị kéo dài từ 1917 cho đến tháng 3 năm 1985, thời gian ông được chọn làm tổng bí thư đảng. Cơ chế chính trị trung ương không giữ được các cộng hòa địa phương. Trước Giáng Sinh 1991 vài ngày, 11 nước cộng hòa Xô Viết gồm Ukraine, Liên Bang Nga, Belarus, Armenia, Azerbaijan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Turkmenistan, Tajikistan và Uzbekistan tuyên bố họ không còn là những tiểu quốc trong Liên Bang Xô Viết. Bốn nước Estonia, Lithuania, Latvia, Georgia chọn nghiêng hẳn về phía Tây Phương thay vì theo Nga.

Không có con đường nào khác dành cho các lãnh đạo độc tài CS

Chế độ CS là một chế độ đi ngược dòng phát triển văn minh nhân loại và quyền con người như Mikhail Sergeyevich Gorbachev xác nhận “hệ thống toàn trị đã ngăn chặn một quốc gia để trở nên giàu có và thịnh vượng, hệ thống đó phải bị giải thể.” Điều đó đã xảy ra tại Nga, Đông Âu, Phi Châu và đương nhiên sẽ xảy ra tại Trung Cộng và Việt Nam.

Cách mạng dân chủ là một tiến trình không thể nào đảo ngược. Các lãnh đạo CSVN chỉ có một trong hai chọn lựa, hoặc như Mikhail Gorbachev hoặc như bị lật đổ như Nicolae Ceausescu, Erich Honecker chứ không có chọn lựa thứ ba nào.

Trần Trung Đạo


 

LÒNG THAM VÔ ĐÁY NHƯNG CHỈ CẦN NHỮNG MẨU BÁNH VỤN VẶT

Luân Lê

 Mỗi chúng ta ai cũng có nhu cầu để được sống tốt đẹp và thịnh vượng hơn, nhưng không đồng nghĩa với việc gắng sao cho thoả lòng tham của mình đối với những giá trị của người khác và để làm những điều bất chính. Lòng tham là con đường nhanh nhất dẫn đến tai hoạ và những thảm kịch.

Mới nghe thì có vẻ như đã thấy nhận định này của tôi hàm chứa trong đó đầy những mâu thuẫn và sẽ có nhiều người muốn mắng tôi ngay khi đọc những câu này. Thế nhưng xin nhẫn nại thêm một chút và chúng ta cùng nhau mổ xẻ điều tôi vừa nói.

Chẳng phải gì to tát đâu xa, tôi nói ngay đến việc người ta hành xử với nhau tàn ác còn hơn cả loài cầm thú mà chúng sẵn sàng giết thịt nhau khi có loài nào đó tấn công cái tổ hoặc cướp đi miếng ăn của nó. Có phải gì hiếm hoi đâu, chuyện những người không may mà đi trộm chó, mèo, gà, trâu hay các tài sản khác của người dân ở những vùng quê, người ta phát hiện ra thì những tên trộm cắp kia chỉ có nước chết hoặc thương tật đầy mình. Dân làng xúm vào đánh đập, gậy gộc đủ cả, cứ thế mà nã vào đầu, phang vào chân, tay, mạng sườn kẻ cắp cho đến khi chết. Thế có phải là người ta quyết bảo vệ tài sản của mình đến cùng bằng những hành động vô nhân tính hay không.

Những hành vi ấy quả là man rợ không có đất nước văn minh nào làm thế như dân chúng ta. Thử hỏi luật pháp và chính phủ còn có giá trị gì nữa để mà duy trì và điều chỉnh hành vi con người. Nhìn vào đấy thì thấy rõ là người dân sẽ làm mọi cách kể cả là hung bạo và dãn man nhất để quyết bảo vệ cho được tài sản của mình, dù chẳng phải gì to tát. Hiện trạng này ở các vùng quê thì không thiếu. Vậy có phải là họ đang hành xử không cả bằng thời thực dân, phong kiến? Ngày xưa còn có công đường để kêu quan khi làng xóm mâu thuẫn, bắt được kẻ trộm, cướp thì đều lôi lên quan mà tâu bẩm và xét xử theo luật lệ. Chứ cũng không đến nỗi như bây giờ. Mà một dân tộc tàn ác với nhau như thế có khi nào đất nước văn minh và tốt hơn lên được? Mà nó chỉ làm cho con người ngày càng tàn bạo và coi thường luật pháp hơn thôi, như thế thì cái chính phủ kia cũng bị xem thường chứ đâu có giá trị gì để mà người dân cần đến. Quả là nguy cấp cho một đất nước mà con người sẵn sàng hung khí, hô hào một cách hung hãn để mà hành hạ đồng loại mình. Thật đau đớn và bại hoại hết chỗ nói.

Với chuyện con chó, con trâu đã kinh khủng như vậy. Vậy còn chuyện hôi của khi có người bị tai nạn trên đường, chuyện ngang nhiên nhặt tài sản của người khác mang về sử dụng. Đấy là hành vi khác gì trộm cướp và coi khinh luật pháp đâu. Thế thì quả là loạn lạc thực sự rồi chứ còn phải chờ đợi đến đao binh, bom đạn, chém giết gì mới cho là loạn lạc.

Với cái miếng ăn và tài sản của mình thì bảo vệ bằng được, nhưng sẵn của người khác hở ra là lấy cắp. Mà cũng bởi lối suy nghĩ này nên hầu như là ai cũng tính vào chính phủ để có quyền chức mà tìm cách đục khoét của công, làm giàu cho mình và gia đình. Cứ nhìn vào tệ trạng tham nhũng, sự suy thoái về con người, các cơ sở hạ tầng quốc gia thiếu thốn, sơ sài, yếu kém thì có thể thấy rõ nó là kết quả của việc vơ vét cho đầy túi tham của mình mà không để tâm gì đến việc chung của đất nước… tất cả đều xuất phát từ lòng tham vô đáy mà nên.

Thế nhưng đó chỉ là những cái vụn vặt và nhỏ mọn thôi, chỉ như những mẩu bánh có thể ăn được ngay tức khắc. Còn cái lớn hơn như chuyện chính sách kinh doanh làm ăn, chuyện đánh thuế tiêu dùng, chuyện chèn ép thương nhân, chuyện bị gây phiền hà trong công việc, chuyện bị cướp đoạt tài sản bằng cách tham nhũng ngân khố quốc gia với những con số khổng lồ, mà tất cả những cái đó rất thiết thực đánh vào túi tiền và chất lượng sống, vào điều kiện kinh doanh và cơ hội phát triển của người dân, thì dân chúng lại thờ ơ như chuyện riêng của nhà quan, chẳng màng gì cả, vì người ta không thấy nó bị thiệt hại gì như việc tên trộm, cướp lẻn vào nhà bắt trộm con chó hay dắt trộm trâu, bò của người ta đi mất. Nhận thức của người dân khiến tôi lo lắng tới những hậu họa khôn lường, vì nếu một lúc nào đó họ không thể lao động đủ để đóng thuế, sông hồ và không khí ô nhiễm, thực phẩm độc hại, bệnh viện thì tăng giá, giáo dục thì nâng học phí, lộ phí đi đường và xăng, dầu, điện, nước cứ leo thang. Thế thì họ định sống thế nào và làm gì để mà trả cho những thứ đó hay lại nhăm nhăm để cướp giật của người khác?

Mà cũng vì cái lòng tham vô đáy nhưng lại dễ thỏa mãn bằng những cái nhỏ nhặt này của người Việt mà các quốc gia khác lợi dụng điểm yếu đó để khai thác và bóc lột chúng ta từ tài nguyên thiên nhiên đến trí tuệ và sức người. Họ chỉ cần rót cho ít vốn vào làm ăn, đầu tư, hoặc cho vay với lãi suất thấp, chuyển giao công nghệ giá rẻ (mà có nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, độc hại với con người, năng suất thấp, vận hành tốn kém và lại mau hỏng), cam kết vài điều khoản mà có vẻ như có lợi cho chính phủ, cho người dân bằng cách chia ít lợi nhuận hoặc chia sẻ quyền lợi kinh tế, thế là làm ráo, làm tuốt và làm nhanh cật lực. Bởi thế mà chúng ta cứ bị bóc lột sau khi đã bị dụ dỗ và mua chuộc bằng ít lợi ích cho thỏa cái lòng tham của mình. Đây chính là vấn đề lớn của dân tộc mà chúng ta phải nhận ra và thay đổi, nếu không thì chúng ta sẽ luôn bị mua chuộc và lợi dụng để cho người khác làm ăn mà thôi.

Quốc gia nào mà xây dựng bằng lòng tham, thì quốc gia đó sẽ sụp đổ bởi những mẩu bánh mỳ.

Bởi vậy tôi mới nói, đa phần người dân thì lòng tham vô đáy, nhưng chỉ cần những mẩu bánh vụn vặt để no cái bụng và ấm cái thân là đã đủ rồi, chẳng cần gì khác cả. Quốc gia lụn bại và suy vong cũng từ đây mà ra.

(Trích: MỘT NGƯỜI QUỐC DÂN)


 

Đan Mạch Nổi Giận Vì Đặc Phái Viên Mỹ Muốn “Biến Greenland Thành Một Phần Của Mỹ”

Ba’o Dat Viet

December 23, 2025

Căng thẳng ngoại giao giữa Mỹ và Đan Mạch bất ngờ bùng lên khi Copenhagen triệu tập đại sứ Mỹ hôm 22.12 để phản đối việc Tổng thống Donald Trump bổ nhiệm Thống đốc Louisiana Jeff Landry làm đặc phái viên tại Greenland – và đặc biệt là tuyên bố gây sốc rằng ông muốn “biến Greenland thành một phần của Mỹ”.

Trên Truth Social, Tổng thống Trump nhấn mạnh Greenland có “tầm quan trọng thiết yếu” đối với an ninh quốc gia Mỹ, không chỉ cho Washington mà còn cho các đồng minh và “cả thế giới”. Từ khi trở lại Nhà Trắng hồi tháng 1, ông Trump liên tục đề cập khả năng tăng cường sự hiện diện của Mỹ tại Greenland – thậm chí không loại trừ sử dụng vũ lực để bảo vệ lợi ích tại hòn đảo giàu tài nguyên chiến lược này, theo AFP.

Ngay trong ngày được bổ nhiệm, Jeff Landry đăng trên X một tuyên bố đầy khiêu khích: “Thật vinh dự khi phục vụ để biến Greenland thành một phần của Mỹ.”

Lời tuyên bố này lập tức khiến giới lãnh đạo Đan Mạch phẫn nộ. Ngoại trưởng Lars Lokke Rasmussen cho biết ông “vô cùng tức giận”, khẳng định Washington phải tôn trọng chủ quyền của Đan Mạch và Greenland. Không lâu sau, Bộ Ngoại giao Đan Mạch triệu tập đại sứ Mỹ để yêu cầu làm rõ. “Chúng tôi đã vạch ra một lằn ranh đỏ rất rõ ràng,” ông Rasmussen nói với Đài DR, cho biết cuộc họp có sự tham dự của đại diện Greenland.

Nhà lãnh đạo Greenland Jens-Frederik Nielsen cùng Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen tuyên bố chung: “Không thể sáp nhập một quốc gia khác. Chúng tôi yêu cầu tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ.”

Trong thông điệp gửi người dân Greenland, ông Nielsen nhấn mạnh việc Mỹ bổ nhiệm đặc phái viên không thay đổi hiện thực chính trị: “Chúng ta sẽ tự quyết định tương lai của mình. Greenland thuộc về người Greenland.”

Liên minh châu Âu lập tức lên tiếng ủng hộ Copenhagen. Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen và Chủ tịch Hội đồng châu Âu Antonio Costa khẳng định chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là nguyên tắc cốt lõi của luật pháp quốc tế, đồng thời tuyên bố EU “hoàn toàn đoàn kết với Đan Mạch và người dân Greenland”.

Greenland từ lâu là tâm điểm cạnh tranh chiến lược nhờ vị trí địa lý độc nhất: nằm trên tuyến đường ngắn nhất của quỹ đạo tên lửa giữa Nga và Mỹ, sở hữu trữ lượng đất hiếm lớn chưa khai thác và trở nên quan trọng hơn khi băng Bắc Cực tan, mở ra các tuyến hàng hải mới. Mỹ hiện duy trì căn cứ không quân Pituffik tại Greenland và đã mở lãnh sự quán trên đảo từ năm 2020.

Mặc dù Tổng thống Trump từng nhiều lần bày tỏ tham vọng “mua” Greenland – điều mà Đan Mạch từng gọi là “điên rồ” – lãnh đạo của cả Đan Mạch lẫn Greenland đều tái khẳng định rằng hòn đảo này “không phải để bán” và tương lai của nó sẽ do người Greenland quyết định.

Động thái mới của ông Trump và phát biểu của đặc phái viên Jeff Landry vì thế bị xem là bước leo thang gây tổn hại quan hệ đồng minh, đồng thời khiến châu Âu cảnh giác trước ý định mở rộng ảnh hưởng của Washington tại Bắc Cực.


 

Cảm nghiệm của đời mình sau 21 năm bị Stroke va`o đu’ng 24.12.2004

From: thunnguyen

Subject:  21th Anniversary- Recovery from catastrophic stroke on December 24th, 2004 

May God bless you FULL OF GRACE !!!

Cảm nghiệm của đời mình sau 21 năm bị Stroke va`o đu’ng 24.12.2004

Anh Thụ đã gởi gấm cho chúng ta về Lòng yêu thương của Thiên Chúa. Chúa đóng cửa này thì Chúa cũng mở ra cửa khác cho chúng ta sống chứ Chúa không để chúng ta phải quá sức chịu đựng, và dân gian ta thường nói “tái ông mất ngựa”. Xin cám ơn anh Thụ và mời quý độc giả…Anh Phung

21 năm về trước, vào ngày Giáng sinh 24/12/2004 tại Northern Virginia, con/tôi bị stroke vào nhà thương cấp cứu, ICU/hospital. Hôm đó, con/tôi đi công tác ở Vancouver, Canada và Seattle, WA về đến Washington D.C trời xuống -36 độ lạnh. Lúc con/tôi đi trời ấm như mùa xuân, lúc về buốt lạnh mùa đông. Từ terminal xe bus đưa tôi ra parking lot, không ngờ xe bus đưa tôi ra lộn parking lot. Một tiếng rưỡi lội bộ đi tìm xe dưới nhiệt độ trừ 36 độ âm nhưng tôi không có áo lạnh. Kết quả, tôi bị stroke sau 1-2 với cái shock bất ngờ đó. Một cái stroke rất là nặng tưởng chết, nhưng Chúa và Đức Mẹ đã cứu tôi và cho tôi sống lại một cuộc sống gần gũi với Chúa và Đức Mẹ hơn và được làm nhân chứng cho Chúa.

Biến cố đó, gia đình và người thân và bạn bè đã đến thăm và care cho tôi nhiều lắm. Bố Mẹ và một số người thân, Mot 26 nguoi đã hũy bỏ chuyến đi đến Indonesia/Malaysia/Thailand để chăm sóc cho tôi. Một ngày rưỡi sau, là biến cố Tsunami làm cho 330,000 người đã bỏ mạng ở vùng Indonesia/Malaysia/Thailand, nhưng gia đình tôi đã được Chúa và Đức Mẹ cứu sống, và tôi từ dạo đó tôi chiêm niệm sống gần gũi với Chúa và Đức Mẹ.

Tạ ơn Thiên Chúa đã cứu tôi và gia đình tôi. Tôi bị câm không nói được vài tháng, nhưng rồi trong một buổi sáng Mai đã cùng tôi cầu nguyện để xin Sáng Danh Chúa, xin Chúa cho tôi được nói lời ca ngợi Chúa. Và Chúa đã nhận lời, cho tôi lần đầu tiên bật lại tiếng là Kinh Lạy Cha và Kính Kính Mừng và tôi đã ca ngợi Chúa và Đức Mẹ đọc hết Chuỗi Mân Côi trong buổi sáng đó, và mỗi ngày từ đó về sau. 40 ngày nằm nhà thương như là mầu nhiệm được vào sa mạc 40 ngày với Chúa.

Ba tháng sau khi bị stroke, tôi đã lập ra một đường dây để thông đạt với các Cha, các Soeurs, các Thầy, các Bác và các Anh Chị thân mến… 20 năm rồi có Ngọc Nga, Kim Hà, Chị Kim Nga, A Roger Phung, A Pham Trung, A Cao Tan Tinh, và các Cha Sáng Lập và Anh Chị Em 

Xin các Đức Giám Mục, các Cha, Thầy, các Soeurs, các Bác và Bố Mẹ, gia đình, người thân và tất cả mọi người cho chúng con/tôi được cám ơn, nhầm ngày kỷ niệm 20 năm tôi bị stroke, tận đáy lòng chúng tôi… một tình yêu mà Thiên Chúa cho kết hiệp.

Xin chúc các Đức Giám Muc, các Cha, các Thầy, các Soeurs, các Bác và Anh Chị đầy Hồng Ân Chúa Cứu Thế và tiếp tục hành trình sống với Chúa.

We thank God for you and your family. We pray for you always.!

 MERRY CHRISTMAS 2025 AND HAPPY NEW YEAR 2026!

Happy New year to you and your family.

1/ Andrea Bocelli – The Lord’s Prayer (Live From The Kodak Theatre, USA

 https://youtu.be/u8jImIjg4UY?si=Yf8ecD9Vu2ac5hk1

 2/ Silent Night – Andre & Rieu

 https://youtu.be/RDpWkBi-cr4

 3/ O Holy Night by Celine Dion

https://youtu.be/Y1oLk54R5Xg

 We wish you a Merry Christmas

 https://www.facebook.com/share/r/181BzBjfqE/

 Chỉ có một thứ hạnh phúc trên đời này, đó là yêu thương và được yêu thương ~ George Sand 

MÙA GIÁNG SINH HỒNG ÂN- AN BI`NH-

 Mùa Giáng Sinh tràn đầy Hồng Ân Chúa Cứu Thế và tiếp tục hành trình sống với Chúa.

 Bảo Trọng,

Thụ & Mai