“Mẹ con bị thương!” Chúng tôi cũng bị thương

Báo Tiếng Dân

Nhã Duy

9-5-2023

Cindy và Kyu Cho, cùng cậu con trai ba tuổi tên James và William 6 tuổi. Cả 3 người đều qua đời, chỉ còn cậu con trai 6 tuổi. Nguồn: Annie Gimbel/ GoFundMe

“Steven lật xác người phụ nữ, ôm cậu bé máu phủ đầy người ra. Cậu bé hét toáng lên, giọng nức nở, ‘mẹ con bị thương, mẹ con bị thương’.

Là một cựu biệt hải rồi trở thành một cựu cảnh sát, nhìn vết đạn trên cơ thể bất động của người phụ nữ, Steven đã quá kinh nghiệm để biết rằng mọi chuyện đã vô phương. Nhưng ông vẫn hy vọng mình sai. Ông cúi xuống đặt nhẹ hai ngón tay lên cổ cô ta. Ông thở ra, rồi xót xa nhìn qua cậu bé.

Chỉ mươi phút trước đó, mọi chuyện xảy ra như trong những thước phim đầy bạo lực trên màn ảnh chứ không phải một buổi chiều cuối tuần nhộn nhịp, vui vẻ tại khu thương mại đông người bậc nhất tại khu vực North Texas này.

Chưa bao giờ nghe tiếng súng ngoài đời, người mẹ trẻ quay lại phía sau khi nghe như có tiếng pháo nổ dồn dập. Cô hốt hoảng khi thấy những người chung quanh ngã xuống. Chân ríu lại, cô muốn dắt con chạy mà như có ai đang ghì lại.

Như một phản xạ tự nhiên của người mẹ, người phụ nữ Á Đông nhỏ nhắn đã đẩy đứa con trai nằm xuống và lấy thân mình đè lên, che cho đứa con trai. Bên cạnh là người chồng cũng ôm đứa con trai út nằm xuống. Cô cũng chẳng biết anh kéo con nằm xuống hay bị vấp ngã.

Con trai! Mẹ sẽ bao bọc, chở che cho con như khi con còn trong bụng mẹ. Chỉ có mẹ mới biết con đã thở ra sao, trái tim con đã đập như thế nào từ lúc con còn chưa chào đời. Đừng sợ, con, đừng sợ.

Và rồi người mẹ trẻ thấy mình như bồng bềnh, bồng bềnh. Hai tay cô vẫn ôm chặt đứa con”.

***

Cả ngày nay tôi vẫn mường tượng cảnh tượng khủng khiếp về những giây phút cuối cùng của một gia đình gốc Nam Hàn, nạn nhân vụ nổ súng tại Allen của Texas như vậy. Nó đến tự nhiên, vô thức. Tôi chỉ viết lại từ những bản tin mà cả thế giới đang đọc. Bằng nỗi ám ảnh của chính mình.

Nhìn tấm ảnh một gia đình trẻ trung, hạnh phúc và giờ đây chỉ còn mỗi đứa con trai sáu tuổi còn sống sót, tôi chẳng biết phải nói điều gì. Chẳng biết đứa bé may mắn hay định mệnh lại nghiệt ngã đến mức chừa lại mỗi đứa bé mồ côi để gánh chịu nỗi mất mát, tang thương quá lớn như vậy. Không ai chịu đựng nổi, huống hồ đứa bé sáu tuổi. Tôi không muốn nghĩ tiếp…

Tôi vẫn nghe như có tiếng thảng thốt của cậu bé bên tai. “Mẹ con bị thương, mẹ con bị thương”. Không con, tất cả chúng tôi cũng đang bị thương. Trái tim chúng tôi cũng đang tan nát.

Và tôi cũng không muốn nghĩ đến cuối tuần này có ngày lễ Mẹ. Nó bất công cho con quá, Will.

Dàn cựu lãnh đạo tỉnh Lào Cai và Chánh Thanh tra Lâm Đồng bị kỷ luật (RFA)

RFA

2023.05.08

Bộ Chính trị, Ban Bí thư đảng cộng sản Việt Nam vào ngày 8/5 tiến hành cuộc họp dưới sự chủ trì của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng để xem xét biện pháp kỷ luật đối với một loạt nguyên lãnh đạo tỉnh Lào Cai và Chánh Thanh tra tỉnh Lâm Đồng.

TTXVN

Dàn nguyên lãnh đạo tỉnh Lào Cai và Chánh Thanh tra tỉnh Lâm Đồng bị đảng kỷ luật do vi phạm.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư đảng cộng sản Việt Nam vào ngày 8/5 tiến hành cuộc họp dưới sự chủ trì của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng để xem xét biện pháp kỷ luật đối với một loạt nguyên lãnh đạo tỉnh Lào Cai và Chánh Thanh tra tỉnh Lâm Đồng dựa trên đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Những người bị xem xét kỷ luật gồm các ông Nguyễn Văn Vịnh, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai; Doãn Văn Hưởng, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai; Nguyễn Thanh Dương, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, nguyên Ủy viên Ban cán sự đảng, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai; Lê Ngọc Hưng, nguyên Tỉnh ủy viên, nguyên Ủy viên Ban cán sự đảng, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Lào Cai; Mai Đình Định, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, nguyên Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, nguyên Bí thư Thành ủy Lào Cai, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai; Nguyễn Ngọc Ánh, Tỉnh ủy viên, Chánh Thanh tra tỉnh Lâm Đồng.

Đối với những người này, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cho rằng họ đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của đảng cộng sản và pháp luật Nhà nước. Vi phạm của họ gây hậu quả xấu, ảnh hưởng đến uy tín của đảng.

Ban Bí thư quyết định khai trừ đảng đối với các ông Doãn Văn Hưởng, Nguyễn Thanh Dương, Lê Ngọc Hưng, Mai Đình Định, Nguyễn Ngọc Ánh.

Còn ông Nguyễn Văn Vịnh, Bộ Chính trị đề nghị Ban Chấp hành Trung ương xem xét thi hành kỷ luật.

Cái Đồ Trâu Ngựa-Tưởng Năng Tiến

STTD Tưởng Năng Tiến

Cũng như người Việt, tíếng Việt – đôi khi – cũng hơi khó hiểu. Ca dao/tục ngữ VN rất gần gũi và thân thuộc với cả trâu lẫn ngựa (Một con ngựa đau cả tầu không ăn cỏ. Trâu ơi ta bảo trâu này/Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta …) nhưng trong tiếng nói hằng ngày của họ thì cả hai loài gia súc này đều bị mắng nhiếc không tiếc lời, và toàn là những lời lẽ rất nặng nề:

  • Đồ đĩ ngựa!
  • Thứ ngựa bà
  • Loại đầu trâu mặt ngựa!
  • Cái đám trẻ trâu!

Sự việc nghiêm trọng và bất công đến nỗi nhà báo Nguyễn Thông phải lấy làm ái ngại, và buông lời cảm thán: “Nghĩ thương con trâu ngựa thật, các cụ xưa so sánh hơi ác, chứ chúng nó còn người gấp tỉ lần đám trâu ngựa người.”

Thế cái “đám trâu ngựa người/ngợm” ở xứ mình ăn ở ra sao mà mang tiếng dữ vậy, hả Trời?

G.S Nguyễn Văn Tuấn than phiền:

Bảng xếp hạng gọi là ‘Good Country Index’ (GCI) cho thấy VN đội sổ trong số các nước tử tế trên thế giới. Bảng xếp hạng này cho thấy VN đứng hạng 103 (trong số 124 nước) về đóng góp cho hoà bình và an ninh thế giới. Còn về đóng góp vào các quĩ từ thiện và cung cấp nơi nương tựa cho người tị nạn thì VN đứng hạng 123, tức áp chót!

Tính chung, thứ hạng về tử tế của Việt Nam trên thế giới đứng hạng áp chót (124/125). Điều đáng nói hay cũng có thể xem là nhục là thứ hạng tử tế của VN chỉ đứng chung bảng với mấy nước ‘đầu trâu mặt ngựa’ như Lybia, Iraq, Zimbabwe, Yemen!”

Tất nhiên, chả phải là vô cớ mà “VN đội sổ trong số các nước tử tế trên thế giới”!

Thiên hạ đều biết là giới lãnh đạo của xứ sở này, hết thế hệ này sang thế hệ khác, đều nhất trí và kiên định chính sách “ngoại giao vác rá” (đi xin xỏ khắp nơi) nhưng hầu như không “đóng góp” một đồng xu hay cắc bạc nào ráo, vào bất cứ chuyện chi!

Tương tự, dân Việt tị nạn khắp năm châu nhưng Việt Nam lại là nơi cực kỳ bất an cho bất cứ ai buộc phải tạm lánh hay tạm trú ở xứ sở này. Hãy xem qua vài đôi ba sự kiện gần đây:

  • Ngày 7 tháng 12 năm 2022 : “Tàu Việt Nam cứu 154 người Rohingya nhưng lại bàn giao cho quân đội Myanmar ngay sau đó.”
  • Ngày15 tháng 12 năm 2022: “Các báo cáo viên đặc biệt về nhân quyền Liên Hiệp Quốc vừa gửi thư chất vấn chính phủ Việt Nam về việc ông Đổng Quảng Bình (Dong Guangping), một nhà hoạt động người Hoa đang xin tị nạn chính trị chờ định cư Canada, được cho là đã bị bắt giam ở Hà Nội vào tháng 8 năm ngoái và nhiều khả năng bị bí mật chuyển giao cho Bắc Kinh…

Văn phòng OHCHR khu vực Đông Nam Á cho VOA biết trong email rằng tính đến ngày công bố văn thư này, tức 60 ngày kể từ ngày gửi, phía Việt Nam vẫn chưa phản hồi … Các báo viên đặc biệt của LHQ cho biết nếu việc bàn giao ông Đổng cho Trung Quốc được xác nhận thì rõ ràng Hà Nội đã vi phạm nguyên tắc không gửi trả (non-refoulement) như đã quy định trong Công ước LHQ về bảo vệ người tị nạn.”

Không chỉ thản nhiên gửi trả người tị nạn chính trị trở về nơi mà họ đã phải tìm mọi cách trốn chạy, nhà đương cuộc Hà Nội còn ngang nhiên cho công an/mật vụ đi bắt cóc những công dân Việt bất đồng chính kiến đang phải lánh nạn tại nước ngoài.

Ngày 25 tháng 7 năm 2002: Ông Phạm Văn Tưởng (pháp danh Thích Trí Lực) đã bị công an VN bắt cóc tại Phnom Penh.

Ngày 16 tháng 5 năm 2007: Ông Lê Trí Tuệ (Phó Chủ Tịch Công Đoàn Độc lập Việt Nam) cũng đột nhiên “biến mất” khỏi nơi tạm trú tại Cambodia, sau khi đã được Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) cấp cho quy chế tị nạn.

Tháng 1 năm 2019: Nhà báo Trương Duy Nhất bị bắt ngay tại Thái Lan, ngay khi ông vừa đặt chân đến quốc gia này.

Nạn nhân mới nhất là ông Đường Văn Thái, một người tị nạn tại Bangkok, đã biệt tích kể từ ngày 13 tháng 4 năm 2023. VOA cho biết:

Liên đoàn Nhà báo Quốc tế (IFJ) hôm 20/4 lên án việc mà tổ chức này gọi là “bắt cóc” và giam giữ ông Đường Văn Thái và kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho ông ngay lập tức.

IFJ cho biết trong một thông cáo: “Vụ bắt cóc ông Đường Văn Thái cho thấy mối nguy hiểm đáng kể mà các nhà báo Việt Nam phải đối mặt và tạo tiền lệ nghiêm trọng cho sự an toàn của nhà báo ở nước ngoài. Những hình phạt nghiêm khắc và đàn áp ở Việt Nam đối với hoạt động báo chí độc lập và hoạt động phê bình có nghĩa là ông Thái có thể sẽ phải đối mặt với sự ngược đãi vì công việc của mình.”

Tuy vô cùng bất nhân đối với người nước ngoài tìm đến VN lánh nạn, và cực kỳ tàn bạo đối với mọi công dân bất đồng chính kiến ở xứ sở này, khi đối diện với những vấn đề quốc tế (có ảnh hưởng đến cả an ninh cũng như quốc thể) thái độ của nhà đương cuộc Hà Nội lại hoàn toàn khác hẳn – khiếp nhược và láu cá chó thấy rõ:

Việt Nam bỏ phiếu trắng vụ lên án Nga sáp nhập bốn vùng Ukraine

LHQ ra nghị quyết đòi Nga rút quân, Việt Nam CS  lại bỏ phiếu trắng

Việt Nam lại bỏ phiếu trắng về cuộc xung đột Nga-Ukraine

Việt Nam ‘chọn phe’ Nga trong cuộc bỏ phiếu tại LHQ

Việt Nam bỏ phiếu trắng đối với Nghị quyết của LHQ đòi Nga rút quân khỏi Ukraine

Chủ trương “bỏ phiếu trắng” khiến cho nhiều công dân Việt Nam “xấu hổ” vì cách ứng xử “khôn vặt” của giới lãnh đạo của đất nước này:

  • Nguyễn Vũ Bình : “Quan hệ Việt Nam-Nga là truyền thống nhưng anh không thể vì mối quan hệ truyền thống mà ủng hộ cuộc chiến phi nghĩa được.” 
  • Mai Luân : “Không ít ý kiến cảm thấy ‘xấu hổ’ cho Việt Nam khi ngay cả những quốc gia trong ASEAN như Campuchia và Myanmar, mà còn dám giơ tay bỏ phiếu theo lương tri.”
  • Hoàng Trường: “Phải dứt khoát vứt bỏ ngay thói khôn vặt ‘bỏ phiếu trắng’ và thái độ ‘người ngoài cuộc’ như các quan chức ngoại giao đã lựa chọn ở LHQ …”
  • Nguyễn Quang Vinh : “Trong nước thì họ ngăn chặn một cách trắng trợn và thô bạo việc người dân và trí thức tiến bộ bày tỏ công khai sự ủng hộ Ukraine. Tuy vậy, nhân dân trong nước vẫn ủng hộ Ukraine theo tiếng gọi của lương tri.”

Thiệt là may phước. May mà tuyệt đại đa số dân Việt đã đi “theo tiếng gọi của lương tri,” và từ chối đứng chung bọn với cái đám … đầu trâu mặt ngựa!

Tưởng Năng Tiến
5/2023

KIÊU HÃNH VỀ NẾP VĂN MINH TÌNH NGƯỜI MANG TÊN “SÀI GÒN”!

Việt Tân

Một người sinh ra và lớn lên ở miền Bắc nhớ lại buổi ban đầu đặt chân đến thành phố này lúc vẫn còn là Sài Gòn trong hơn một năm (trước khi đổi tên “TpHCM” vào tháng 7/1976):

“Sau 1975, có những thứ mà Sài Gòn và miền Nam làm cho hắn rất lạ và không thể quên. Một đêm, chạy xe máy về nhà người cậu, tới ngã tư đèn đỏ, ngó hai bên đường vắng hoe, hắn rồ ga tính vọt thẳng. Bất ngờ nghe bên tai tiếng thắng xe cái rẹc, liếc qua thấy ông lão với chiếc xích lô trống không. Quê quá, phải dừng theo!

… Lên xe bus, xe đò trong Nam luôn cho hắn những cảm giác thích thú để quan sát. Đủ các hạng người, mà sao không chen lấn, cãi vã. Khách nhường ghế cho nhau, thăm hỏi, chỉ đường tận tình (những thứ mà cho đến hôm nay, trên xe bus Hà Nội, người ta phải ghi lên tấm biển to đùng, thành “Nội quy”). Lơ xe lăng xăng xách, buộc chằng đồ cẩn thận cho khách, nhảy lên mui, đeo bên thành xe la nhắc người dưới đường cẩn thận.”

Trên mặt báo và trong các cuộc hội thảo, không ít “nhà báo” và “nhà nghiên cứu” ca ngợi người Nhựt, người Hàn có nếp sống văn minh, rồi bình phẩm: còn lâu, thậm chí cả trăm năm, không biết người Việt có nổi ý thức tự giác, văn minh như vậy hay không.

Họ tự dè bĩu, tắt một lời, đổ lỗi “tại dân trí người Việt còn thấp”.

Nghe mà đau xót.

Chẳng phải vì những hội thảo gọi là khoa học đổ lỗi “tại dân trí”, toàn hội thảo tầm phào. Mà đau xót về một ký ức Sài Gòn, cách đây hơn 48 năm, đã gần như bị lãng quên!

Sài-Gòn-trước-năm-1975 trở thành một hành tinh xa lạ rồi sao?

Nhất là những thế hệ mới sinh ra sau năm 1975, cả ngoài Bắc lẫn trong Nam, lại càng không biết.

Bác xích lô già cả, học vấn chỉ biết đọc biết viết, kéo thắng cái rẹc dừng lại đèn đỏ giữa đêm vắng, “dân trí” của bác là cao hay thấp? Các cô buôn thúng bán bưng lên xe bus không chen lấn mà còn nhường ghế cho người già cả, họ học i tờ chỉ đủ để đọc mấy con số, “dân trí” của họ là cao hay thấp?

Những “nhà nghiên cứu”, “nhà báo” này nọ làm ơn tìm hiểu quá khứ của Sài Gòn, suy nghĩ cho kỹ. Chửi “dân trí thấp” thì chẳng khác nào tát vào mặt dân tộc mình, tát vào mặt ông già xích lô đêm khuya, tát vào mặt những bà mẹ buôn thúng bán bưng của một Sài-Gòn-cho-ra-Sài-Gòn trước năm 1975.

CHÚT KIÊU HÃNH CÒN SÓT LẠI…

Lai rai trên các báo, thỉnh thoảng đọc thấy dòng tin tỉ như “Dân Sài Gòn cởi áo cho kẻ trộm mặc chống lạnh”, “Tủ bánh mì miễn phí của người Sài Gòn”. Tại sao lại là “người Sài Gòn”, “dân Sài Gòn”?

Có gì đó rất đáng yêu, đúng kiểu chơi đẹp, và có gì đó nghèn nghẹn trong tim…

Và “dân Sài Gòn” đã cưu mang cho nhau, trong kỳ mắc cơn dịch bí hiểm vừa rồi.

Mấy chữ “dân Sài Gòn” giống như một niềm kiêu hãnh, sau gần nửa thế kỷ biển dâu.

Kiêu hãnh Sài Gòn chẳng phải là kiêu hãnh của vùng miền cục bộ. Sài Gòn tụ hội tứ xứ, bắc trung nam đều có đủ. Sài Gòn, do vậy, là một nước Nam thu nhỏ.

Và còn có một “nước Nam” ở đó, Người-ráng-sống-cho-ra-người!

Matthew NChuong.

Đất nước sẽ về đâu? – Nguyễn Hưng Quốc

Đất nước sẽ về đâu?

Posted by BVN3

Nguyễn Hưng Quốc

Lâu nay, nói đến những khó khăn mà Việt Nam đang đối diện, chúng ta hay nghĩ đến các yếu tố chính trị và địa chính trị, đến vấn đề dân chủ và nhân quyền, đến chuyện các đại công ty phá sản và nợ công chồng chất. Nhưng ngay cả về phương diện xã hội, liên quan đến chuyện ăn uống và hít thở hàng ngày, Việt Nam cũng đối diện với bao nhiêu nguy hiểm.

Tôi có khá nhiều bạn bè hiện đang sinh sống tại Úc, trước đây, khi còn làm việc, cứ ao ước đến ngày về hưu, con cái khôn lớn, có gia đình và có việc làm ổn định cả, sẽ về Việt Nam an hưởng tuổi già. Bức tranh người ta vẽ ra rất đẹp: với số tiền hưu trí tại Úc, người ta có thể dễ dàng có một cuộc sống rất phong lưu ở Việt Nam; Có thể thuê người giúp việc; Có thể đi đây đi đó; Có thể ăn hết món lạ này đến món lạ khác…

Thế nhưng, đến ngày họ thực sự về hưu, sau vài chuyến thăm viếng Việt Nam, người ta lại đổi ý. Theo họ, Việt Nam chỉ là nơi để đi du lịch chứ không phải là nơi có thể sống được lâu dài. Người ta đưa ra hai lý do chính: Một là nhớ con cháu tại Úc; Hai là, Việt Nam hoàn toàn không an toàn.

Tôi cũng có khá nhiều bạn bè ở hướng ngược lại: Họ sống tại Việt Nam, phần lớn đều khá thành đạt, có chức có quyền và có tiền. Họ cho con cái du học ngoại quốc. Học xong, các cháu có việc làm đàng hoàng, sau đó, bảo lãnh cho cha mẹ từ Việt Nam, sau khi về hưu, ra ngoại quốc sinh sống. Họ bỏ lại sau lưng cuộc sống rất dư dả và cũng rất vui vẻ trên quê hương để sang sống ở một quốc gia xa lạ về cả ngôn ngữ lẫn văn hoá; và vì sự xa lạ ấy, cũng khá buồn rầu. Hỏi tại sao, họ cũng nêu lên hai nguyên nhân: Một là muốn gần gũi con cháu; và hai là, ở ngoại quốc, dù buồn, vẫn an toàn hơn hẳn Việt Nam.

Bỏ qua việc sống gần con cháu, cả hai nhóm người ấy đều có nhận thức giống nhau: Việt Nam, dù là quê hương người ta rất yêu mến, không còn là một nơi an toàn để sống.

Trước hết là thiếu an toàn về chính trị. Ở bình diện cá nhân, người ta có thể bị bắt bớ hay tra tấn bất cứ lúc nào nếu muốn có một tư duy độc lập và nếu muốn thực hiện quyền tự do ngôn luận. Ở bình diện quốc gia, dù nhà nước Việt Nam luôn xem sự ổn định là một trong những mục tiêu lớn nhất của họ, ai cũng biết, Việt Nam lúc nào cũng ẩn chứa đầy những nguy cơ bất ổn. Bất ổn trong nội bộ đảng với các khuynh hướng và phe phái khác nhau. Nhưng quan trọng nhất là bất ổn trong quan hệ với Trung Quốc: Không ai dám chắc những mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc trên Biển Đông sẽ không bùng nổ thành chiến tranh. Đã đành Việt Nam lúc nào cũng nhân nhượng Trung Quốc. Nhưng sự nhân nhượng nào cũng có giới hạn. Mà Trung Quốc thì rõ ràng không muốn dừng lại ở bất cứ giới hạn nào cho đến lúc hoàn toàn trở thành bá chủ trên Biển Đông.

Cong San Viet Nam

Thứ hai là thiếu an toàn về giao thông. Mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 10.000 người chết vì tai nạn xe cộ. Mười ngàn, tức mỗi ngày trung bình gần 30 nạn nhân. Đó là người chết. Con số những người bị thương tật chắc chắn sẽ nhiều hơn hẳn. Bởi vậy, ở Việt Nam, nhiều người nói, cứ mỗi lần bước ra khỏi cửa nhà là thấy phập phồng. Con đường nào cũng đầy bất trắc. Đi đúng luật và lái xe cẩn thận cũng có thể bị những chiếc xe “điên” bị mất tay lái cán chết. Ngay cả đi bộ cũng không an tâm. Mỗi lần băng qua đường là một lần đối diện với rủi ro.

Động Đất Nhật Bản So Tại Nạn Giao Thông ở Việt Nam  The Reality of Vietnam Transportation - Is It Really Threatening?

Nhưng quan trọng nhất là mất an toàn thực phẩm và môi trường sống.

Báo chí đã nói rất nhiều về thực phẩm bẩn ở Việt Nam. Hầu như tất cả đều bẩn. Hầu như bất cứ loại gia súc nào cũng được cho ăn các hoá chất độc hại để tạo nạc và tăng trọng. Tệ hại hơn, người ta còn đem bán cả thịt thối rữa, sau khi tẩm ướp bằng các loại hoá chất để bay mùi và săn thịt. Ngày trước, đã có nhiều người giả thịt trâu thành thịt bò. Bây giờ, “tài” hơn, người ta còn biến cả thịt heo thành thịt bò. Thịt giả như vậy cũng được đi. Nhưng vấn đề là để làm giả như thế, người ta lại sử dụng các loại hoá chất độc hại để nhuộm màu thịt. Ăn chúng, người ta ăn cả các chất có thể gây ung thư.

Thịt đã thế, rau trái cũng thế. Cũng đầy hoá chất. Hoá chất trong phân bón và trong các loại thuốc trừ sâu. Hoá chất còn được dùng để ướp trái cây cho chúng bắt mắt hơn. Ngay cả nước dừa cũng không an toàn. Để trái dừa có màu tươi như mới, người ta lại nhúng chúng vào hoá chất. Lại hoá chất.

Hướng về trái tim – Hoa Thanh Thần | BachVietBooks

Trước, người ta tưởng ăn cá tôm và các loại hải sản là an toàn. Nhưng không phải. Tôm cá và hải sản nuôi trong các hồ nhân tạo cũng nhiễm đầy các chất cấm. Còn tôm cá và hải sản được đánh từ sông và biển? Từ mấy năm nay, chúng lại cũng bị nhiễm độc. Hàng trăm tấn cá bị chết, tấp trắng các bờ biển từ Hà Tĩnh vào đến Huế, kéo dài cả hơn 200 cây số. Chính quyền còn ú ớ trong việc xác định nguyên nhân cá chết nhưng có một điều chắc chắn: chúng bị nhiễm độc các loại hoá chất do con người thải ra. Thành ra tôm cá đánh bắt từ biển khơi cũng không còn an toàn nữa.

Thảm họa cá chết miền Trung: Formosa là thủ phạm - Xã hội

Thịt: độc. Tôm cá: độc. Rau, trái và củ: độc. Cả không khí người ta thở, đặc biệt tại hai thành phố lớn, Hà Nội và Sài Gòn, cũng nhiễm đầy chất chì và thuỷ ngân: độc. Cả nước bị nhiễm đầy chất độc. Không có gì đáng ngạc nhiên khi tỉ lệ người Việt Nam mắc bệnh ung thư rất cao, càng ngày càng cao.

Lâu nay, nói đến những khó khăn mà Việt Nam đang đối diện, chúng ta hay nghĩ đến các yếu tố chính trị và địa chính trị, đến vấn đề dân chủ và nhân quyền, đến chuyện các đại công ty phá sản và nợ công chồng chất. Nhưng ngay cả về phương diện xã hội, liên quan đến chuyện ăn uống và hít thở hàng ngày, Việt Nam cũng đối diện với bao nhiêu nguy hiểm.

Hà Nội ô nhiễm nguồn nước trầm trọng - Thông tắc bồn cầu tại Hà Nội giá ...

Tôi cứ tự hỏi: Trong một khí quyển như thế, làm sao người Việt Nam có thể sống được và tương lai đất nước sẽ đi về đâu?

N.H.Q.

Nguồn: Fb Nguyễn Hưng Quốc

Giải Phóng Để Làm Gì – Thật Là Nực Cười

 Nguyễn Trọng Dũng

Tôi không biết các bạn ở miền Bắc thế nào chứ ở trong Nam số người ăn mừng cái ngày “giải phóng” rất ít. Đa số người, như tôi và những người tôi biết, chỉ coi ngày này là ngày nghỉ mệt, không hơn không kém. Tôi rất thấy làm lạ với cái thuật ngữ “giải phóng.” Giải phóng? Giải phóng ai, giải phóng khỏi cái gì. Ai giải phóng ai?

  1. Giải phóng để làm gì khi đất nước tôi phải trải qua một cơn đói chưa từng có trong lịch sử.
  2. Giải phóng để làm gì khi hàng triệu gia đình bị tan nát và phá hoại.
  3. Giải phóng để làm gì khi hàng trăm ngàn người lính vô tội phải đi tù.
  4. Giải phóng để làm gì tài sản người dân tích lũy mấy đời mới có bỗng nhiên bị cướp sạch.
  5. Giải phóng để làm gì khi hàng triệu người phải bất chấp mạng sống để trốn chạy khỏi đất nước trên những con thuyền nhỏ bé; và hàng trăm ngàn người phải gọi đáy biển là mộ của mình.
  6. Giải phóng để làm gì khi dân tôi phải ăn bo bo và khoai mì để khỏi phải đói.
  7. Giải phóng để làm gì khi người Việt Nam đi đâu cũng bị khinh thường và soi mói.
  8. Giải phóng để làm gì khi cuộc chiến đã chấm dứt 48 năm rồi nhưng dân tộc vẫn bị chia rẽ.
  9. Giải phóng để làm gì hàng trăm ngàn người lại đi lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc hay đi bán thân mình dưới danh nghĩa “xuất khẩu lao động.”
  10. Giải phóng để làm gì khi sau 11 năm thảm họa, đất nước phải bắt đầu trở lại dưới danh nghĩa “Đổi Mới.”
  11. Giải phóng để làm gì khi cái lý tưởng của cuộc chiến chưa bao giờ thành công, cuối cùng thì phải áp dựng lý tưởng của địch để phát triển đất nước.
  12. Giải phóng để làm gì khi du học sinh đi du học không muốn về và kiều bào thì không muốn giữ quốc tịch.
  13. Giải phóng để làm gì khi đi đâu cũng thấy người bán vé số và ăn xin.
  14. Giải phóng để làm gì ngày nào cũng có dân oan than khóc vì bị cướp đất hoặc đền bù với giá rẻ mạt.
  15. Giải phóng để làm gì chính con cháu của những chiến sĩ giải phóng lại muốn từ bỏ đất nước, vậy cái lý tưởng chiến đấu ngày xưa có nghĩa gì?
  16. Giải phóng để làm gì khi chính những thành viên chính trị cũng đang chạy hồ sơ để mua quốc tịch nước ngoài.
  17. Giải phóng để làm gì khi bây giờ công lý chỉ là diễn viên hài và luật pháp có thể được mua chuộc bởi đồng tiền.
  18. Giải phóng để làm gì khi bây giờ lại kêu gọi các công ty tập đoàn nước ngoài vào nước đầu tư. Chứ không phải ngày xưa đã đánh đuổi họ đi sao?

19.Giải phóng để làm gì khi người Việt Nam chỉ coi đất nước là cái nhà trọ.

  1. Giải phóng để làm gì khi con gái Việt Nam bây giờ hám ngoại, dân thì sính ngoại, cái gì thuộc về “Tây” cũng được sùng bái ở đất nước này.
  2. Giải phóng để làm gì nhà nhà cho con em đi học tiếng Anh, trường quốc tế thì nở rộ như nấm.
  3. Giải phóng để làm gì khi giới trẻ chẳng quan tâm tới đất nước và bị ngu đần bởi hệ thống giáo dục.₫
  4. Giải phóng để làm gì khi bây giờ người Bắc Nam vẫn còn chửi nhau là “Bắc Kỳ-Nam Kỳ.”
  5. Giải phóng để làm gì khi bây giờ người dân phải ăn đồ hóa chất, ngửi không khí độc hại.
  6. Giải phóng để làm gì khi đất nước này ngày càng bị ảnh hưởng và lệ thuộc ngoại bang?
  7. Giải phóng để làm gì khi người dân không có tự do và công bằng.
  8. Giải phóng để làm gì khi chính những chiến sĩ ngày xưa hy sinh tuổi xuân để giải phóng bây giờ chẳng được gì ngoài tấm bằng khen.
  9. Giải phóng để làm gì khi người dân Việt Nam chỉ là công dân hạng hai trên chính đất nước của mình.
  10. Giải phóng để làm gì khi đất nước Việt Nam này lại thuộc về người khác mà không thuộc về người dân.
  11. Và giải phóng để làm gì để bây giờ chẳng ai còn tin hay tự hào về cái gọi là giải phóng cả.

Như vậy thì giải phóng để làm gì?

Vì lý tưởng? Không thể nào.

Vì tự do? Càng không thể.

Vì dân tộc? Thật vô lý.

Vì độc lập? Càng vô lý nữa.

Giải phóng để làm gì để bây giờ đất nước Việt Nam ngày đang vỡ nát. Tôi chẳng thấy một điều tích cực nào đến từ cái gọi là giải phóng cả.

Vậy ai giải phóng ai và giải phóng để làm gì?

Nguyễn Trọng Dũng

Nguồn: Truong Le

Kentucky: Một ông lãnh án hơn 14 năm tù vì tham gia bạo loạn Quốc Hội

Báo Nguoi-viet

May 5, 2023

WASHINGTON, DC (NV) – Một ông ở Kentucky bị kết án kỷ lục hơn 14 năm tù tại phiên tòa hôm Thứ Sáu, 5 Tháng Năm, vì tấn công cảnh sát bằng hơi cay và ghế khi xông vào Quốc Hội cùng với vợ trong ngày bạo loạn cách đây hơn hai năm, theo AP.

Tính tới nay, bản án dành cho ông Peter Schwartz dài nhất trong số hàng trăm người bị kết án liên quan tới vụ bạo loạn 6 Tháng Giêng, 2021. Trước đó, bản án nặng nhất là 10 năm, dành cho cựu cảnh sát viên thành phố New York tấn công một cảnh sát viên bên ngoài Quốc Hội ngày bạo loạn.

Ông Peter Schwartz lãnh hơn 14 năm tù vì tấn công cảnh sát ngày bạo Quốc Hội. (Hình: DOJ)

Phía công tố đề nghị 24 năm và sáu tháng tù cho ông Schwartz, 49 tuổi, một thợ hàn có hồ sơ hình sự khá dài.

Nhưng ông Amit Mehta, chánh án liên bang, tuyên án ông Schwartz 14 năm và hai tháng tù cộng với ba năm quản chế sau khi được thả.

Chánh Án Mehta nói ông Schwartz là “chiến binh chống lại nền dân chủ,” tham gia “vụ bạo loạn chưa từng từng thấy trong lịch sử nước này.”

“Ông không phải tù nhân chính trị,” vị chánh án nói với ông Schwartz. “Ông không phải là người đấu tranh chống bất công hoặc chính quyền độc tài.”

Trước khi bị kết án, ông Schwartz nói vài lời với Chánh Án Mehta, cho hay, “Tôi thành thật hối tiếc vì thiệt hại mà vụ 6 Tháng Giêng gây ra cho quá nhiều người như vậy.”

Ông Mehta cho biết ông không tin lời ông Schwartz, lưu ý rằng ông Schartz thiếu ăn năn.

“Ông tự ý cố làm bị thương nhiều cảnh sát viên hôm đó,” ông Mehta nói.

Ngày 6 Tháng Giêng, 2021, ông Schwartz cầm dùi cui và cùng vợ ông lúc đó, bà Shelly Stallings, và những người bạo loạn khác xô xát với cảnh sát đang bảo vệ khu vực phía Tây tòa nhà Quốc Hội. Ở đó, ông ném ghế xếp vô cảnh sát.

“Bằng cách ném chiếc ghế đó, ông Schwartz trực tiếp góp phần làm ngã hàng rào cảnh sát, giúp đám bạo loạn tràn tới phía trước chiếm toàn bộ khu vực đó,” công tố viên Jocelyn Bon viết trong hồ sơ tòa án.

Ông Schwartz còn cầm bình hơi cay xịt vô cảnh sát đang rút lui. Khi tiến tới đường hầm dẫn vô Quốc Hội, ông cùng hai kẻ bạo loạn khác, ông Markus Maly và ông Jeffrey Brown, xịt chất lỏng màu cam về phía cảnh sát đang xô xát với đám đông.

Trước khi rời đi, ông Schwartz cùng đám đông xô đẩy cảnh sát trong đường hầm.

Năm ngoái, bà Stallings nhận tội liên quan tới vụ bạo loạn, và tháng trước, bà bị kết án hai năm tù.

Ông Schwartz bị xét xử cùng với hai đồng bị cáo Maly và Brown. Tháng Mười Hai năm ngoái, cả ba ông này bị bồi thẩm đoàn kết tội tấn công và nhiều tội đại hình khác.

Thứ Sáu tuần trước, Chánh Án Mehta kết án ông Brown bốn năm và sáu tháng tù. Ông Maly sẽ bị kết án ngày 9 Tháng Sáu.

Ông Schwartz từng bị truy tố và kết tội đe dọa khủng bố cấp độ ba (tội tiểu hình) và tội tàng trữ vũ khí dù đã bị kết tội đại hình, liên quan tới một số vụ hồi Tháng Mười, 2019. (Th.Long)

THÁNG NGÀY TAO LOẠN-Vĩnh Chánh

THÁNG NGÀY TAO LOẠN

Không một ai ở Miền Nam Việt Nam có thể quên được sự hoang mang cay đắng, những uất hận nghẹn ngào, những đau đớn nhục lụy, những chết chóc tang thương trên những đại lộ, tỉnh lộ “kinh hoàng”, những hãi hùng hỗn độn, xô đẩy tìm đường thoát ở những phi trường, những quân cảng, bãi biển…, của triệu triệu người trốn chạy sự “giải phóng” của Cộng Quân, theo sau cuộc di tản chiến thuật Tây Nguyên trong tháng 3, 1975, rồi từ từ lan rộng khắp Miền Trung thuộc các quân khu 1, 2 rồi đến quân khu 3. Trong cương vị nhỏ nhoi của một quân y sĩ Nhảy Dù theo sát bên cạnh đơn vị Dù tác chiến, cá nhân tôi đã sống trọn vẹn với đồng đội cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc chiếm: Ngày 30 Tháng 4, 1975.

Trong một ngày vào tháng 2, 1975 khi Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù (viết tắt TĐ1 ND) với Thiếu Tá Ngô Tùng Châu làm TĐ Trưởng đang dưỡng quân tại đèo Phước Tượng nằm trên Quốc Lộ 1 giữa Huế và Đà Nẵng, sau chiến trận ở Thường Đức/Đại Lộc, Y Sĩ Thiếu Tá ND Trinh đích thân đưa BS Bùi Cao Đẳng, người bạn thân đồng môn đồng khóa của tôi, đến Bộ Chỉ Huy TĐ thay tôi làm Y Sĩ Trưởng TĐ 1 ND. Và ngay sau khi bàn giao, tôi được chở thẳng đến phi trường Đà Nẵng để trong cùng ngày, trước Tết 1975, vào Sài Gòn lãnh một nhiệm vụ mới, Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 15 ND. Các Tiểu Đoàn tân lập 12, 14, 15 ND cùng với Đại Đội 4 ND Trinh Sát và Tiểu Đoàn 4 Pháo Binh ND là thành phần chủ lực cho Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù, dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Minh Ngọc, vừa được thành lập vào đầu năm 1975.

Trên chuyến bay về Sài Gòn, lòng tôi có nhiều xúc động mâu thuẫn. Dù tôi chỉ phục vụ TĐ1 ND trong 6 tháng kể từ ngày trình diện làm Y Sĩ Trưởng TĐ 1 vào cuối tháng 7, 1974, đúng vào lúc TĐ1 ND nhảy vào trận chiến ở Đại Lộc/Thường Đức, tôi đã có quá nhiều kỷ niệm với đơn vị tác chiến lừng danh hàng đầu của Sư Đoàn ND. Trong ngày đầu tiên ở mặt trận, tôi được đích thân người con trai của Cô ruột tôi là Đại Úy Trần Văn Thể, đại đội trưởng xuất sắc của ĐĐ 11, chỉ bày những căn bản thực tế ở trận địa như định hướng của ta và địch, phân biệt pháo ta hay pháo địch, đào hố cá nhân ở bất cứ nơi dừng quân nào, đi trên dấu giày của người đi trước để tránh đạp phải mìn, luôn đội nón sắt và mang áo giáp, ngay cả khi sử dụng hố tiêu… Làm sao kể cho xiết những ngày dài lội bộ trong rừng sâu, trên những sườn đồi trơn trợt, lầm lũi quanh co theo chân các binh sĩ, chia nhau từng điếu thuốc, từng ngụm cà phê pha chung với đế, chuyền nhau từng ca cơm dưới những cơn mưa tưởng không bao giờ dứt.

Làm sao tôi quên được những tiếng la hét, ra lệnh trong điện đài giữa cấp chỉ huy Tiểu Đoàn, Đại Đội và Trung Đội trong bước tiến xung phong đánh chiếm mục tiêu, giữ vững vị trí hay buộc rời bỏ vị trí dước áp lực của địch để rồi lại phản công, cận chiến và tái chiếm lại mục tiêu tại từng ngọn đồi, trước nhỏ nhưng về sau càng lớn càng cao. Tại từng ven rừng hay trong rừng rậm, tại từng con suối, bờ dốc. Trong đêm khuya, hay giữa trưa. Vào sáng sớm hay cuối ngày. Trong mưa, trong nắng hoặc trong sương mù. Vì làm gì có giới hạn thời gian trong trận chiến. Vì làm gì có thời tiết thuận lợi khi xung phong. Và làm gì có được sự công bằng khi địch nằm sẵn trong các công sự trên đồi chờ ta đánh vào. Nhưng ta phải đánh để dành lại từng tấc đất, từng ngọn đồi. Giết giặc nhưng không vì hận thù. Hy sinh và gian khổ để đánh đuổi kẻ xâm lược và bảo vệ miền đất tự do. Vì vậy, còn gì hãnh diện hơn khi tôi chứng kiến hàng nghìn người dân lục tục kéo về lại thôn xóm khi đơn vị ND vừa xuất hiện trong vùng.

Rồi những báo cáo vượt đồi, tràn xuống suối, đánh bạt lên đồi, đánh chéo qua sườn đồi, bắt tay với cánh quân bạn, tiếng kêu gọi yểm trợ phi pháo, cho tọa độ, tiếng máy bay phản lực gầm thét trên trời, tiếng bom nổ, đạn đại bác rít trong không khí trước khi nổ dồn, tiếng phành phạch của các trực thăng võ trang hay tản thương… để rồi cùng nhau chung mừng nghe tin chiến thắng nhỏ rồi lớn, hay hồi hộp lắng nghe báo cáo tổn thất của ta kéo theo là chuẩn bị đón nhận thương binh, phân loại nặng nhẹ, cấp cứu, cầm máu, chuyền nước biển, chích morphine chống đau, chùi rửa băng bó vết thương, viết phiếu tản thương ghim vào áo thương binh, xin tiếp liệu…

Qua nhiều ngày với TĐ1 ND, tôi có dần kinh nghiệm để phân biệt được tiếng pháo của ta hay địch, khi nằm dưới hố cá nhân hoặc trong hầm với bộ chỉ huy, ngày ngày 3 cữ sáng trưa chiều, nhìn lên thấy từng làn chớp sáng của đạn địch chụp trên các ngọn cây lớn kèm theo tiếng nổ đinh tai với ngàn mảnh đạn và cành lá văng tứ phía. Đã bao lần tôi cảm thấy bất lực trước những vết thương quá nặng của thương binh đang chết dần khi chờ đợi tản thương, bèn đành đốt điếu thuốc lá đưa vào môi cho từng người để rồi đoán chừng cái chết đến khi khói điếu thuốc thôi bay. Và cũng bao lần tôi đã cúi đầu khóc thầm khi thấy những xác chết, cả quan lẫn quân, được gói chặt trong poncho nằm từng hàng dài hai bên bãi đáp chờ được bốc đi.

Nhớ và nhớ hình ảnh uy nghiêm đầy khí phách của các sĩ quan và bao khuôn mặt non trẻ nhưng dạn dày phong sương của các binh sĩ tuy đầy kinh nghiệm chiến trường, nhưng họ vẫn giữ một tâm hồn đơn sơ thật hồn nhiên mà tôi biết được qua những lần trò chuyện, những tâm sự trong đêm dài hay qua những lần dừng quân ngắn trong khi cùng nhau vui đùa. Với họ, tôi đã yêu những bản nhạc lính mà trước đây tôi từng chê là sến. Với họ, tôi đã tìm thấy tình đồng đội qua thử thách trong máu lửa. Với họ, bổn phận và trách nhiệm luôn được gắn liền với 4 chữ Nhảy Dù Cố Gắng. Và với họ, tôi quên hẳn cái chết đàng sau và nguy hiểm chờ đợi phía trước.

Sau chiến thắng ở Đồi 1062 tại Thường Đức, Thiếu tá Nguyễn Văn Phú, Tiểu Đoàn Phó của TĐ1 ND, được đề cử làm Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 15 ND tân lập, và trước khi rời vùng, TTá Phú đặc biệt xin cho tôi được đi theo với Tiểu Đoàn tân lập của ông. TTá Phú và tôi đã có những giao hữu tốt đẹp trong thời gian ông trực tiếp chỉ huy cánh phó với 2 ĐĐ đánh thẳng vào trận chiến. Tôi có gởi rượu và thuốc lá đến cho TTá Phú ở mặt trận, đúng lúc phe ta cần chút chất nóng để đánh đấm cũng như để ăn mừng chiến thắng. Thêm vào đó, tôi còn có cơ duyên giúp cho TTá Phú về thăm vợ ở Sài Gòn đúng lúc, vì nhờ lần thăm này mà vợ ông mới có thai lần đầu kể từ khi lấy chồng vào cuối năm 1968.

Nếu được thuyên chuyển về Sài Gòn, tôi chắc mọi quân nhân của binh chủng ND đều vui mừng vì không những đây là hậu cứ của Sư Đoàn ND, xa hẳn nguy hiểm của chiến trường, mà còn là thủ đô, là nơi phồn hoa đô hội với nhiều chốn ăn chơi. Riêng với tôi, không những tôi được về gần nhà mình ở trong Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa với Măng của tôi, mà đây còn là một cơ hội quý báu để tôi có dịp gặp lại người tôi yêu và theo đuổi qua suốt 9 năm, kể từ thời Dự Bị Y Khoa, sau nhiều năm cách trở. Cuộc thử thách riêng tư này coi vậy chứ có lắm khó khăn và nhiều gay go so với cuộc chiến tôi vừa trải qua ở mặt trận.

Tôi đến trình diện TTá Phú tại bộ chỉ huy TĐ 15 ND ở Trại Cây Mai trong Chợ Lớn và bắt tay ngay vào nhiệm vụ của mình trong khi TĐ đang chỉnh đốn quân số, quân trang, huấn luyện… Tôi làm quen với các sĩ quan tác chiến của bộ chỉ huy TĐ như vị TĐ Phó, sĩ quan trưởng Ban 3 cùng các sĩ quan ĐĐ Trưởng, cũng như làm quen với các y tá thuộc cấp trong Trung Đội Quân Y của tôi và thiết lập danh sách tiếp liệu y dược. Vì Lữ Đoàn 4 ND có nhiệm vụ bảo vệ Thủ Đô, nên vấn đề tiếp liệu quân trang, quân nhu cho TĐ tác chiến nói chung và và tiếp liệu y dược của tôi nói riêng, có phần nào được ưu tiên. Trong trại quân, tôi đã có những buổi dạy về cấp cứu căn bản ở chiến trường như cầm máu, băng bó…, về y khoa phòng ngừa cho bệnh sốt rét, bệnh tiêu chảy, bệnh hoa liễu cho riêng các y tá của tôi và cho toàn thể binh sĩ của TĐ.

Tuy TĐ được lệnh cắm trại và ứng chiến 100%, TTá Phú thường làm ngơ cho tôi vài ba giờ những khi tôi ghé về nhà thăm Măng của tôi, cũng như thông cảm cho tôi khi tôi rời trại vào buổi chiều, nhảy lên xe ôm đến thẳng nhà người con gái tôi yêu, nhất là sau khi nghe tôi kể về cuộc tình 9 năm trời lận đận dang dở và ước muốn hàn gắn nối lại mối tình đầu đời của tôi. Người tôi yêu đang học năm cuối của khoa Chính Trị Kinh Doanh tại Viện ĐH Đà Lạt. Vào chiều Mồng Một Tết, hiên ngang trong bộ đồ hoa dù và chững chạc trong phong cách, hạnh phúc dồn dập đến với tôi khi tôi gặp lại nàng tại nhà, sau hơn 3 năm xa cách. Sau đó tôi tiếp tục tranh thủ ráo riết chinh phục nàng qua những lá thư đậm đà tình thương nhớ viết từ trại quân hay trong khi đi hành quân, hoặc qua những dịp thăm viếng nhà nàng, trổ tài miệng lưỡi chiếm được cảm tình của gia đình họ hàng. Mối tình của tôi từ từ chuyển hướng thuận lợi. Trong bối cảnh chao đảo của chiến sự, càng ngày chúng tôi càng cảm thấy gần gũi sâu đậm hơn.

 Với các bạn cùng khóa 16 Trưng Tập Quân Y tình nguyện vào Nhảy Dù. Hình We Were Once Soldiers QYND1974, từ trái qua phải: Các Y Sĩ Trung Úy Nguyễn Đức Vượng, Nguyễn Văn Thắng, Bùi Cao Đẳng, Vĩnh Chánh, Nguyễn Thành Liêm, Y Sĩ Thiếu Tá Tá Trần Quý Nhiếp, Lê Quang Tiến, Nguyễn Tấn Cương, Dược Sĩ Khánh.

 Đó cũng là thời gian TĐ15 ND bắt đầu trực tiếp tham dự những cuộc hành quân ở vòng đai Biệt Khu Thủ Đô, truy lùng các toán du kích Việt Cọng nổi lên đây đó hậu thuẫn cho cuộc tiến công của quân CS. Bấy giờ toàn bộ Miền Trung đã mất vào tay Cộng Quân. Cùng chung một số phận với các đại đơn vị khác của những quân khu và của Lực Lượng Tổng Trừ Bị như các Lữ Đoàn của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, các Liên Đoàn Biệt Động Quân, Lữ Đoàn 3 ND, rồi LĐ 2 ND lần lượt chịu những thiệt hại lớn tại Khánh Dương, rồi Phan Rang. Những chiến thắng thường có của bao năm trước nay dần được thay thế bởi những tin thất trận, những rã ngũ không chờ đợi, những triệt thoái vô lý, những thành phố bỏ ngõ, hay những trận đánh bất cân xứng, những vùng vẫy tuyệt vọng kéo theo bao hy sinh quý báu trong giờ thứ 25 bất chấp lệnh trên, những mất mát sinh mạng quá lớn của cả quan, lẫn lính và dân.

Ở Sài Gòn, tình hình chính trị lẫn quân sự càng lúc càng khẩn trương và đen tối. Sài Gòn với giới nghiêm sau 12 giờ đêm. Sài Gòn với hàng trăm ngàn quân dân cán chính từ bao tỉnh đàng ngoài, trắng tay chạy lấy mạng liên tục đổ về thành phố để lánh nạn, mang theo bao câu chuyện thương tâm trên các con đường di tản. Dòng đời chao đảo, đầy gian khó.  Người đời hoang mang vì mất lòng tin ở chính quyền hay qua những tin đồn nhiều nhân vật tên tuổi bắt đầu rời nước trong khi một số khác bàn đến chuyện phải ra đi dù chưa biết đi đâu. Đâu đâu cũng lo tích trữ thức ăn chuẩn bị cho một cuộc tử thủ với viễn ảnh thành phố sẽ tắm trong máu lửa. Ngoài đường người đông hẳn, ai nấy bước đi vội vã, ánh mắt âu buồn trầm tư. Trong nhà các gia đình ngồi triền miên trước đài truyền hình hay lắng nghe tin tức từ BBC và VOA, bàn chuyện to nhỏ.

Sau trận đánh vào đơn vị du kích lớn ở giữa Tây Ninh và Sài Gòn, TĐ15 được lệnh về đóng quân tạm ở vùng Hóc Môn Bà Điểm. Khi TTá Phú và tôi đi tìm gặp nói chuyện với vị Giám Đốc của hảng dệt Công Thành để ngỏ lời cho TĐ15 ND đóng bộ chỉ huy tại hảng dệt, một ngạc nhiên đầy thú vị xẩy ra khi ông Giám Đốc buột miệng hỏi tôi “có phải đây là anh Chánh, con rể ông Thạch không?”. Tôi ngất ngây trả lời “dạ đúng” cùng lúc nhận ra Chú Ngưng, chồng của Dì ruột nàng ở Thủ Đức mà tôi có dịp gặp trước đây. Ngày hôm sau, trong sự bất ngờ vui sướng của tôi, Chú Ngưng chở nàng với người em gái đến thăm tôi ngay bộ chỉ huy TĐ. Khi ngồi ăn trưa với bữa cơm dã chiến, nàng có vẻ “thấm” cái đời sống phong trần lính chiến của tôi, và đã e thẹn cười khi TTá Phú nói chọc “ Bác Sĩ nhỏ con, người yêu BS còn nhỏ con hơn, chắc 2 người sẽ đẻ ra những thằn lằn con nhỏ chút xíu!”

Khoảng gần một tuần sau, trong đêm 23 tháng 4, TĐ15 ND được điều động đến bố trí ở cầu Bình Triệu, trên trục xa lộ Đại Hàn. Đó cũng là thời gian thị xã Xuân Lộc vừa bị mất sau một trận chiến kinh hồn kéo dài nhiều ngày đêm trong đó Sư Đoàn 18 Bộ Binh của Tướng Lê Minh Đảo cùng với sự hỗ trợ của LĐ 1 ND, Liên Đoàn 82 Biệt Kích Dù và Không quân với sự sử dụng đầu tiên những quả bom lớn 5 tấn Daisy Cutter, đã đánh trả và phản công dữ dội trong 13 ngày đêm liên tiếp, chận đứng bước tiến của quân đoàn  4 của CS Bắc Việt gồm có các sư đoàn 5, 6, 7 và 34 với hàng trăm chiến xa với đại bác, gây thiệt hại rất nặng nề cho quân địch (*) Dù trễ, trận đánh đã gây một tiếng vang lớn xa gần và khiến những chiến sĩ như tôi và xung quanh tôi lên tinh thần và tìm lại khí thế hào hùng.

Như những quân nhân bảo vệ Xuân Lộc bị dồn vào chân tường nên đã quyết tâm anh dũng chiến đấu, chúng tôi vẫn đang còn đây, cho đến giờ phút này, chờ đợi đến lượt mình trong trận thư hùng cuối cùng. Rất đơn giản và dễ hiểu vì đằng trước, đàng sau và hai bên, trên đầu hay dưới đất, ở đâu rồi cũng phải chiến đấu cho danh dự, cho màu cờ của đơn vị mình. Chiến đấu vì trách nhiệm bổn phận của người trai thế hệ ly loạn. Sống chết trong tình huynh đệ đã thử thách qua gian khổ và trưởng thành trong khói lửa. Khi nước mất nhà tan thì ta có còn cũng sẽ làm được chi!? Đã vậy, con người chẳng thể chết 2 lần, như đã có người từng nói với tôi như vậy. Và cứ thế, TĐ15 ND đóng chốt ở đây, được lệnh cố thủ bảo vệ cây cầu cho đến phút cuối cùng, hay cho đến người lính cuối cùng.

Trong những ngày kế tiếp, từ sáng sớm cho đến chiều tối, tôi chứng kiến hàng trăm hàng ngàn xe 2 bánh, từ xe đạp cho đến các xe Honda, Lambretta…, xe quân đội lớn nhỏ, xe chở hàng cồng kềnh đầy người và đồ vật, lính tráng thuộc đủ binh chủng và thường dân, lũ lượt kéo nhau chạy trong hỗn độn từ hướng Biên Hòa về Sài Gòn, ngang qua cầu Bình Triệu. Có lúc tôi tự hỏi làm sao biết được trong đám người chạy loạn này, ai là bọn VC cố ý len lỏi theo đám đông vào nội thành để hoạt động nội tuyến!? TĐ15 ND bung quân làm nhiều nút chặn ở cả phía bên này và bên kia cây cầu. Tôi nhận thấy TĐ có bố trí 2 xe jeeps có mang đại bác 106 ly chống chiến xa và 2 xe jeeps khác với trang bị hỏa tiễn Tow, trong khi ấy đa số các binh sĩ đều có mang trên lưng loại rocket M 72 chống tăng, trong vị trí sẵn sàng chống trả mãnh liệt bước tiến của quân thù. Trong tư thế Y Sĩ Trưởng TĐ, tôi có chuẩn bị trong khả năng của mình để cấp cứu và tản thương theo hàng dọc.

Trong đêm 28 tháng 4, địch pháo kích vào trại Hoàng Hoa Thám và căn cứ không quân Tân Sơn Nhất.  Những tiếng nổ lớn cộng với những cột lửa cháy bùng trong đêm làm tôi thao thức và băn khoăn gần suốt đêm. Lệnh trên vẫn muốn TĐ án binh bất động trong tư thế sẵn sàng tác chiến. Bộ chỉ huy TĐ cấp tốc dời qua phía bên này cầu.

Sáng ngày 29, tôi nhìn thấy nhiều trực thăng của Mỹ bay trên trời, kể luôn cả cặp phi cơ phản lực bay vòng vòng như thể hộ tống. Xung quanh tôi ai cũng mường tượng có một chuyện gì đang xẩy ra ở Sài Gòn, nhưng chẳng một ai biết đích thực. Không lẽ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ nhảy vào lại cuộc chiến? Tôi ngây thơ mơ tưởng hay tự dối lòng ?! Nếu được như vậy, ít ra cuộc chiến sẽ kéo dài thêm, ta sẽ cũng cố lại, tình hình tốt đẹp hơn…

Gần trưa, tôi bước đến nhà thờ Đức Mẹ Fatima ở bên kia cầu Bình Triệu. Nhà thờ mở cửa nhưng không một bóng người ngoài tôi. Tôi quỳ đọc kinh và kính cẩn cầu nguyện, xin Chúa ban ơn phước cho đơn vị Nhảy Dù của tôi, cho gia đình Măng tôi và gia đình nàng được bình an và nàng đừng rời nước để chúng tôi còn gặp lại nhau. Khi định rời nhà thờ, tôi bỗng nhìn thấy chiếc máy điện thoại nằm trong góc và nẩy ra ý liên lạc với nàng dù biết nhà nàng không có điện thoại. May mắn thay, từ cuốn niên giám cũ bên cạnh điện thoại, tôi tìm ra số ĐT của Cụ Mai Văn An, một Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện ở cùng cao ốc với nhà nàng. Sau khi Cụ An cho biết là gia đình nàng còn nguyên vẹn đây, tôi cám ơn Cụ và nhờ Cụ nhắn lại với ba của nàng là tôi, tự nhận là con rể, bình yên và đang đóng quân ở cầu Bình Triệu. Rời khuôn viên nhà thờ, lòng tôi cảm thấy thanh thản, phó mặc mọi sự trong tay Chúa an bài…

Trong đêm 29 Cộng Quân lại pháo kích dữ dội vào Tân Sơn Nhất và trại Hoàng Hoa Thám của Sư Đoàn ND. Tín hiệu vô tuyến của Trung Tá Lê Minh Ngọc, Lữ Đoàn Trưởng LĐ 4 ND hoàn toàn im lặng. Sau đó liên lạc vô tuyến giữa TD15 ND với bộ Tư Lệnh SĐ ND cũng bị gián đoạn. Tuy nhiên 3 TĐ 12, 14 và 15 ND và Lữ Đoàn Phó vẫn còn giữ liên lạc với nhau. Trong cùng đêm, TĐ15 ND có đụng nhẹ với các toán đặc công VC ở phía bên cầu. Lại một đêm chập chờn, không ngủ, bên cạnh những ly cà phê đậm đặc và thuốc lá đốt không ngừng! Mọi người ngồi bất động, tư lự xung quanh các máy vô tuyến kêu rè rè, thỉnh thoảng mới có một vài báo cáo từ các đại đội. Không một ai muốn lên tiếng. Người nào cũng có những suy tư riêng. Người nào cũng có những câu hỏi mà chẳng ai có thể trả lời.

Qua sáng ngày Thứ Tư, 30 tháng 4, 1975, tại bộ chỉ huy TĐ15 ND, tôi đón nhận 4 người thương binh của TĐ. Trong số đó có một thương binh nặng cần phải tản thương gấp vì trúng đạn vào bụng. Sau khi tôi chuyền nước biển và viết tờ tản thương, Ban 3 TĐ cho biết không tản thương được vì không liên lạc được với bất cứ đơn vị quân y nào như BV Đỗ Vinh, Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tôi suy nghĩ đôi chút và trình bày với TTá Phú ý định tôi sẽ chuyễn thương binh này đến BV dân sự Nguyễn Văn Học.

Trong khi chúng tôi đứng cách xa người thương binh để bàn tính chuyện tản thương, anh ta bỗng kêu lên “xin đừng chuyển tôi đi đâu cả. Để cho tôi chết ở đây…” và trong tích tắc, anh lấy ngay khẩu súng M16 nằm dọc cạnh anh trên chiếc băng ca, lên cò một cái rẹt, quay mũi súng vào ngay dưới cằm. Mọi người la toáng lên nhưng không kịp. Một tiếng nổ chát tai khiến mọi người bất động, rồi tất cả đổ xô chạy về anh chỉ để thấy anh đang ngáp cá, người run nhẹ, vết thương mở rộng ở mặt và đầu, máu văng tung tóe khắp nơi. Tôi cầm chặt bàn tay anh, người y tá lấy tay vuốt mắt anh. Cơ thể anh từ từ giãn ra. Anh từ từ đi vào cõi chết.

Những người có mặt giữ im lặng trong bầu không khí đau thương. Chỉ trong một thời gian quá ngắn, chúng tôi chứng kiến người lính trẻ đã làm một quyết định nhanh chóng và dứt khoát, cho thấy được khí thế anh hùng bất khuất của một chiến sĩ. Một cái chết hiên ngang khi cuộc chiến đang dần tàn. Anh đạt ước nguyện chết trong danh dự với sự hiện diện của đồng đội chung quanh. Toàn thể bộ chỉ huy cùng đứng nghiêm, cố ngăn dòng lệ rơi, đồng đưa tay chào vĩnh biệt.

Trong khi sự tự vận bất ngờ của người thương binh đang gây xốn xang đau lòng cho bộ chỉ huy TĐ, từ radio chúng tôi nghe bản tuyên bố đầu hàng của TThống Dương Văn Minh được lập lại nhiều lần. Sau một thời gian dài trên vô tuyến, TTá Phú quay về phía tôi và không một lời giải thích, bảo tôi đi theo với ông. Tôi ngồi sau lưng TTá Phú trên cùng một chiếc xe jeep, bên cạnh người lính truyền tin và 2 cận vệ. Người sĩ quan Ban 3 đi xe thứ hai với một toán lính khác. TĐ Phó ở lại bộ chỉ huy TĐ.

Tôi chẳng biết đoàn xe đang chạy về đâu, cho đến khi xe ngừng trong sân tòa Tỉnh Trưởng Gia Định. Nhìn xung quanh, tôi thấy cả trăm người dân chạy hỗn độn trong sân, tranh dành vác những bao gạo từ trong tòa tỉnh đi ra. TTá Phú đến bên tôi nói nhẹ “BS đi đi”, rồi ông quay lưng lại tiến vào phía bên trong tòa tỉnh với toán binh sĩ của ông. Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy TTá Phú tại Việt Nam. Và đó cũng là lần cuối tôi rời vĩnh viễn TĐ15 ND. Tôi cúi đầu, trong nghẹn ngào. Sững sờ, trong đê hèn. Bàng hoàng, trong đau đớn. Muốn gào thét nhưng miệng khô đắng. Muốn khóc nhưng mắt khô vì tủi nhục. Còn cái chết?! Tôi chưa một lần nghĩ đến.

Đang đứng ngơ ngác không biết phải làm gì thì một người đàn ông bước ngang bên cạnh tôi nói liền “ông cổi bỏ súng xuống và thay đồ nhanh lên”. Như cái máy, tôi vội chạy đến gần gốc cây lớn, định cổi bỏ tất cả. Nhưng sực nhớ lại, tôi chẳng có bộ áo quần dân sự nào trong ba lô. Vừa lúc ấy, có một thanh niên chạy ngang tôi với bao gạo trên vai. Tôi chận anh ta lại và xin bộ quần áo anh ta đang mặc trên người, cùng lúc tôi lục ví đưa tờ 500 đồng cho anh. Không một do dự anh ta thả bao gạo xuống đất, rồi vừa nhìn tôi như thông cảm anh ta cởi áo quần đưa cho tôi, cho luôn cả đôi dép nhật nữa. Tôi cổi áo giáp, giây ba chạc có súng, bi đông nước… xuống đất cùng với chiếc nón sắt, rồi nhanh chóng cổi đôi giày lính và bộ đồ quân phục, gom lại để vào dưới gốc cây. Rồi tôi mặc cái áo màu xanh da trời nhớp nhúa và xỏ cái quần đậm màu, đi nhanh ra phía đường lớn đón chiếc xe ôm, bảo chở về đường Cao Thắng ở Sài Gòn. Nhà nàng.

Chiếc xe ôm chở tôi đi qua nhiều đoạn đường vắng, mọi nhà đóng cửa. Đây đó là những đống áo quần trận, nón sắt, áo giáp và súng đạn rải rác hai bên vệ đường. Có những đoạn đường người đi lại khá đông hay tụ tập hai bên đường, và có những chiếc xe chở đầy người với mặt mày sắt máu, hô to khẩu hiệu và phất cờ MTGPMN… Cũng những con đường ấy tôi thường chạy qua lại, mà sao bây giờ trở thành quá xa lạ, mờ ảo như tôi đang đi vào một cõi âm. Những âm thanh la hét, còi xe, đang lùng bùng trong tai tôi. Mắt tôi thấy mọi hình ảnh bên ngoài, nhưng chẳng thấu hiểu; lòng tôi như tê dại, chẳng thể suy nghĩ sâu xa. Nhớ đến người thương binh tự vận chết sáng hôm nay, tôi ngước nhìn lên trời. Một màu tang tóc đang đổ xuống trên thành phố thân yêu.

Nàng là người đầu tiên từ trên balcon nhìn thấy tôi bước xuống xe ôm. Nàng và các em chạy nhanh xuống mở cổng đưa tôi vào. Khi đến thang lầu, tôi phải vịn vào vai nàng để bước từng bước lên lầu, hình như thân thể tôi đang rã rời và tinh thần tôi thật khủng hoảng, chẳng hiểu được vì sao mình lại về đến nhà an toàn. Hầu như mọi người đều thông cảm và tôn trọng sự yên lặng của ba nàng và của tôi. Chiều đến, tôi đạp xe về nhà Măng tôi ở cư xá Sĩ Quan Chí Hòa cho bà cụ yên tâm, rồi tôi chở Măng tôi đến nhà nàng xin ba mẹ nàng cho phép tôi ở tạm nơi đây, vì cư xá SQ CH nguy hiểm.

Tối ngày 30 tháng 4, chúng tôi ngồi ở balcon nói chuyện với nhau thật khuya. Trước đây, trong một lá thư gởi cho nàng, tôi có viết “anh xin làm bóng mát trên con đường em đi”. Giờ đây, với sự đổi đời, tương lai tôi sẽ mù mịt, viễn ảnh những năm tháng sắp tới là chuỗi ngày đen tối với đọa đày và tôi e ngại tôi chẳng còn khả năng làm bóng mát cho em. Nàng ngồi nghe tôi nói nhiều hơn trả lời. Vì có lẽ câu trả lời đã được quyết định tự lúc nào.

Em yêu dấu, tôi viết bài này mến tặng Em, người đã can cường cứu vớt đời tôi khi quyết định thành vợ thành chồng với tôi trong một đám cưới quá đơn giản tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng, 3 ngày sau khi mất nước, và đã cùng tôi vượt qua bao thử thách trước và sau khi đến bến bờ tự do.

Ba ngày sau 30 Tháng Tư 75: lễ cưới được Cha Laroche của Dồng Chúa Cứu Thế chủ hôn. Với chúng tôi, đây là “đám cươi chạy tang khi mất nước”, diễn ra trong đạm bạc, cô dâu không áo cưới.

 Tôi cũng viết bài này để tưởng nhớ đến người bạn thân, BS Bùi Cao Đẳng, Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 1 ND, bạn đồng môn đồng khóa và đồng binh chủng Quân Y ND với tôi, người được sinh ra vào ngày 30 tháng 4, năm 1946, cùng tan hàng rã ngũ như tôi vào ngày 30 tháng 4, năm 1975 và đã vĩnh viễn ra đi cũng vào ngày 30 tháng 4 năm 2012 tại MD, USA.

Thân tặng các chiến hữu của Tiểu Đoàn 1 ND và của Tiểu Đoàn 15 ND, đã chết trong bão tố khói lửa hay đang sống thầm lặng, hiện đang tự do ở hải ngoại hay ê chề ở trong nhà tù lớn tại VN, với những kỷ niệm chinh chiến không thể nào quên.

“Cho tôi xin lại ngọn đồi, ở nơi tôi dừng quân cũ

Cho tôi xin lại bờ rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau.

Cho tôi xin một lần chào, chào bao nhiêu người đã khuất

Xin cho tôi được nằm gần, bên ngàn chiến hữu của tôi.”

Viết trong tháng 4, 2013, tại California

Vĩnh Chánh

(*)Tài liệu tham khảo cho bài viết:

  1. Chiến Sử Sư Đoàn Nhảy Dù
  2. Battle of Xuan Loc, by Phillip B. Davision
  3. Fighting is an art, by George J. Weight
  4. Fighting to the end, by Brigadier General Trần Q. Khôi
  5. vietnamwar.net
  6. sudoan18bobinh.com

Đồng 2 dollar Úc và nỗi hoang tưởng Hà Nội

Báo Tiếng Dân

Jackhammer Nguyễn

6-5-2023

Nước Úc phát hành đồng dollar sưu tập trị giá 2 dollar, trên đó có hình lá cờ vàng ba sọc đỏ của nhà nước Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ở miền Nam Việt Nam trước kia. Trong cuộc chiến tranh thường được gọi là chiến tranh Việt Nam (1955-1975), quân đội Úc tham chiến bên cạnh quân đội VNCH, cũng như các đồng minh phương Tây, trong đó có Mỹ. Đồng tiền sưu tập này được phát hành để kỷ niệm tròn 50 năm quân đội Úc rút khỏi cuộc chiến.

Australia's commemorative Vietnam War coin with South Vietnam's yellow flag

Lá cờ vàng ba sọc đỏ là quốc kỳ của Việt Nam Cộng hòa từ năm 1955 đến 1975, giai đoạn xảy ra cuộc chiến ấy (và cũng là quốc kỳ của Quốc gia Việt Nam từ năm 1949-1955), thế nên một đồng tiền kỷ niệm có hình lá cờ ấy, bên cạnh những biểu tượng khác của nước Úc, Liên hiệp Anh, quân đội Úc,… là một chuyện vô cùng bình thường.

Thế nhưng Hà Nội lại “kiên quyết” phản đối! Hà Nội nói rằng, vì lá cờ ấy đại diện cho “một chế độ không còn tồn tại”, nên việc phát hành nó ảnh hưởng tới quan hệ Việt – Úc!

Không có một sự phân tích logic nào để có thể hiểu rằng, tại sao biểu tượng của “một chế độ không còn tồn tại” lại ghê gớm tới mức ảnh hưởng đến mối quan hệ Việt – Úc!

Có thể vài lý do sau đây làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam phản ứng như thế, mà nhiều người bảo là thái quá.

1/ Nỗi sợ của chế độ toàn trị

Dù thắng lớn về quân sự trong cuộc chiến Việt Nam; thậm chí suốt thời gian dài của cuộc chiến, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiểm soát được đa số dân chúng miền Nam, nhưng với bản chất của chế độ toàn trị, đảng này không muốn có một đối trọng nào, dù chỉ là một biểu tượng không có một sức mạnh vật chất gì. Đảng này tối kỵ sự đa dạng về văn hóa và chính trị của một xã hội.

Ai cũng biết chế độ VNCH đã chấm dứt gần nửa thế kỷ rồi, hiện nay không có một sức mạnh vật chất nào cả. Tại hải ngoại, những nơi có cộng đồng người Việt xuất thân từ miền Nam Việt Nam trước kia, cờ vàng ba sọc đỏ chỉ là một biểu tượng mang tính văn hóa mà thôi. Tất cả những tổ chức nhân danh VNCH, cho đến nay chỉ là những cái tên. Đảng CSVN, với hệ thống “cảm tình viên” của họ tại hải ngoại, dư sức hiểu tường tận điều này.

Thế việc gì phải sợ?

Họ sợ là vì họ không tự tin rằng họ đã và đang cai trị quốc gia một cách đúng đắn; họ làm đúng theo “truyền thống” phong kiến Á Đông, “nhổ cỏ là nhổ tận gốc”. Họ sợ một ngày nào đó một cái bóng trở nên hình hài cụ thể, vì cái bóng ấy dù là biểu tượng, nhưng vẫn có những giá trị của nó. Họ đã từng chứng kiến Công đoàn đoàn kết Ba Lan từ dăm người thợ đã tiến tới lật đổ cả chế độ, dăm vị trí thức Tiệp Khắc trói gà không chặt dấy lên cuộc cách mạng nhung vô cùng êm đẹp, một cái êm đẹp đau lòng cho đảng CSVN.

2- Thói ngạo nghễ độc quyền chân lý

Đảng CSVN, cũng như tất cả các đảng cộng sản khác, lúc nào cũng cho rằng họ là duy nhất của dân tộc họ, họ không bao giờ công nhận những giá trị xã hội khác họ (mà nghĩ cho cùng thì ĐCS có giá trị gì?).

Thế nên bây giờ ở xứ Úc lại nỗi lên biểu tượng cờ vàng ba sọc đỏ trên những đồng tiền bằng bạc, bằng đồng, sẽ tồn tại mãi mãi cho đến khi nào nước Úc biến mất trên trái đất này. Làm sao các “nhà tư tưởng” của ông Nguyễn Phú Trọng chịu nổi?

Bạn có thể vặn ngược lại rằng, thế cờ vàng tung bay khắp nước Mỹ thì sao?

À các “nhà tư tưởng” ấy cho rằng, sự tung bay đó sẽ tàn phai theo năm tháng; khi lớp người già chết đi, lớp trẻ chẳng còn gắn bó gì với lá cờ ấy. Ở Mỹ, chỗ này chỗ nọ công nhận cờ vàng, nhưng đấy cũng chỉ là những điều luật, do người làm ra, thì người có thể tay đổi.

Nếu nước Mỹ in hình cờ vàng lên một đồng tiền Mỹ, có thể tay chân ông Trọng lại nhao nhao lên phản đối.

Thế nhưng có thể có những lý do cụ thể hơn, tầm thường hơn hai lý do có vẻ mang tính lý tưởng, có vẻ cao cấp như trên kia.

3/ Cơ sở hải ngoại nước Úc

Úc là nơi có nhiều du học sinh đến từ Việt Nam, cũng như khá đông cán bộ cộng sản hạ cánh an toàn. Cộng đồng người Việt thân Hà Nội tại Úc có thể mạnh hơn những quốc gia phương Tây khác. Lý do đơn giản là khoảng cách địa lý của nước Úc gần hơn. Tình trạng tương tự cũng xảy ra với cộng đồng người Hoa thân Bắc Kinh tại Úc. Chính tại Úc, người ta thấy những hoạt động xen vào chính trị Úc của Bắc Kinh mạnh mẽ nhất.

Số lượng người Việt có nguồn gốc xuất thân từ VNCH lại ít hơn ở những quốc gia khác, vì thế họ càng loãng đi khi số nhập cư sau này tăng lên.

Du học sinh Việt Nam tại Úc thuộc tầng lớp bình dân hơn du học sinh tại các quốc gia phương Tây khác, do chi phí đi lại và sinh sống thấp hơn. Giới thanh niên bình dân này dễ bị tẩy não bởi Đảng CSVN khi họ còn ở trong nước hơn. Tại Melbourne, tôi từng chứng kiến cảnh du học sinh đi biểu tình chống Trung Quốc, kẻ thù chung của người Việt, mang theo cờ đỏ sao vàng. Cảnh này không hề thấy ở Mỹ.

Đám cán bộ cộng sản nhũng lạm, giới chủ tư bản Việt Nam, cũng ưa thích nước Úc.

Từ nền tảng đó, có thể thấy các vụ liên quan đến VNCH và cờ vàng đều xuất phát từ Úc. Vụ một du học sinh xé cờ vàng, hay chuyện một ngôi sao nhạc pop người Úc gốc Việt bị tẩy chay ở Việt Nam vì có gốc VNCH, nay lại đến đồng 2 dollar.

4- Cảnh sát tư tưởng không có việc gì làm?

Đôi khi từ bên ngoài nhìn vào ta cứ tưởng đám cảnh sát tư tưởng của Hà Nội, tức là cơ quan tuyên giáo, tổng biên tập thật sự của hàng trăm tờ báo, là ghê gớm lắm. Thật ra cũng tầm thường thôi. Nền “giáo dục xã hội chủ nghĩa” lỡ tay đào tạo hàng chục ngàn sinh viên Mác – Lê, thì bây giờ cũng phải để họ làm cái gì chứ!

Trong tình trạng kinh tế phát triển sung túc, đám cán bộ tư tưởng này cũng được mưa móc từ kinh phí của Đảng, nhưng nay, trước sự phát triển chậm lại, nguy cơ suy thoái và tương lai bất định của nền kinh tế, đám cán bộ tư tưởng này… đói. Đói thì phải la lên, ra vẻ ta đây đang làm việc đấy!

Mà cơ khổ, lợi bất cập hại.

Việc đồng 2 dollar này làm tôi nhớ lại câu chuyện xảy ra cũng đã 10 năm rồi. Lúc ấy một nhà xuất bản VN in tác phẩm “Trại súc vật” của nhà văn Anh, George Orwell. Tác phẩm này trình bày chế độ toàn trị cộng sản dưới lăng kính khôi hài (tất cả các chế độ toàn trị, các nhân vật độc tài đều ghét cay ghét đắng sự khôi hài). Vì thế, nhà xuất bản lại đổi tên thành “Chuyện ở nông trại”, để lọt lưới kiểm duyệt.

Nhưng cơ quan kiểm duyệt cuối cùng cũng phát hiện ra, và thế là các tờ báo “vừa hồng vừa chuyên” như Quân đội Nhân dân, sùng sục lên tiếng phê bình.

Kết quả là thêm nhiều người Việt, nhất là thế hệ trẻ, biết đến “Trại súc vật” và George Orwell.

Nay cũng thế, nhờ bà phát ngôn bộ ngoại giao Hà Nội và những tờ báo Đảng, và cảnh sát tư tưởng của Đảng, mà nhiều cư dân trong nước biết đến cờ vàng ba sọc đỏ và chế độ VNCH.

Theo các ý kiến khác trên đài VOA tiếng Việt 

Một số người am hiểu luật pháp quốc tế cho rằng Hà Nội đã can thiệp vào công việc nội bộ của Australia khi lên tiếng phản đối nước này lưu hành đồng xu kỷ niệm Chiến tranh Việt Nam có mang hình cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) trước đây.

Như VOA đã đưa tin, vào ngày 4/5, một đại diện của Bộ Ngoại giao Việt Nam chỉ trích hai cơ quan thuộc Kho bạc và Bưu chính Australia phát hành đồng xu có hình cờ vàng nhân dịp Canberra kỷ niệm 50 năm kết thúc tham chiến ở miền nam Việt Nam năm 1973.

Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nói: “Chúng tôi lấy làm tiếc và kiên quyết phản đối việc Công ty Royal Australia Mint và Bưu chính Australia đã phát hành các vật phẩm với hình ảnh ‘cờ vàng’, cờ của một chế độ đã không còn tồn tại”.

Việt Nam đã đề nghị phía Australia “dừng lưu hành các vật phẩm này, đồng thời không để xảy ra những sự việc tương tự trong tương lai”, bà Hằng cho biết và nói thêm: “Việc này hoàn toàn không phù hợp với xu thế phát triển tốt đẹp của quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam-Australia”.

Bình luận với VOA về động thái kể trên, luật sư Nguyễn Văn Đài, một nhà tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền từng bị Việt Nam bỏ tù và trục xuất sang Đức, khẳng định rằng Việt Nam chắc chắn đã “can thiệp vào công việc nội bộ của Úc”. Ông phân tích thêm:

“Lá cờ đó thuộc về VNCH trước đây. Chế độ đó không còn nữa nhưng nó vẫn là di sản của cộng đồng người Việt ở Úc, Mỹ và một số nơi trên thế giới, và đã được một số bang ở Mỹ và Úc công nhận là di sản văn hóa. Việc Bưu chính và một công ty Úc đưa vào đồng xu để kỷ niệm Chiến tranh Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với luật pháp Úc, không liên quan gì đến Việt Nam”.

Theo quan sát của VOA, đây cũng là quan điểm được không ít người bày tỏ trên mạng xã hội.

Bà Nguyễn Hoàng Ánh, một phó giáo sư-tiến sĩ có hơn 63.000 người theo dõi trên Facebook, viết trên trang cá nhân rằng bản thân bà “không có cảm tình đặc biệt gì với cờ vàng” song bà “khá ngạc nhiên” về lời phản đối của Bộ Ngoại giao Việt Nam mà bà xem là “sự gay gắt … không cần thiết” này.

Lưu ý đến thực tế là chính quyền Việt Nam hiện nay, nằm dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, không sở hữu cờ VNCH cũng như không liên quan gì đến tiền tệ của Australia, bà Ánh cho rằng quốc gia đó in gì lên tiền lưu niệm là quyền của họ.

Nữ phó giáo sư-tiến sĩ nhấn mạnh rằng “lịch sử là không thể bác bỏ” trước khi chỉ ra sự thật là Australia có tham chiến với VNCH trong quá khứ và bà đặt câu hỏi “họ kỷ niệm cựu chiến binh của họ có gì sai đâu?”

Vẫn bà Ánh đề cập thêm rằng hiện nay có hàng trăm ngàn người gốc Việt sống ở Australia, chủ yếu là những người ra đi từ VNCH trước đây, nên theo bà, việc chính quyền Australia công nhận gốc gác của họ cũng là điều dễ hiểu.

“Ta có quyền gì mà cấm đoán một quốc gia có chủ quyền sử dụng một hình ảnh không thuộc sở hữu của mình?” bà Ánh chất vấn.

Từ góc độ quan sát của mình, bà Ánh thấy rằng việc Hà Nội “cao giọng” như vậy “có thể ảnh hưởng đến sự phát triển tốt đẹp” của quan hệ hai nước. Nhiều Facebooker khác cũng có chung quan điểm, theo quan sát của VOA.

Từ Đức, luật sư Nguyễn Văn Đài đưa ra nhận định: “Việc phát hành đồng xu đó trùng với thời điểm 30/4, cho nên có lẽ phía Việt Nam hơi vội vàng, hấp tấp, không chín chắn trong việc đưa ra phản ứng của mình, cho nên hoàn toàn không phù hợp, không đúng”.

Một số Facebooker, trong đó có ông JB Nguyễn Hữu Vinh, có 66.000 người theo dõi, liên hệ việc Việt Nam vừa phản đối Australia về vật phẩm kỷ niệm chiến tranh với việc Trung Quốc có nhiều hoạt động, vật phẩm kỷ niệm cuộc chiến tranh đẫm m

Văn bút Hoa Kỳ: Việt Nam đứng thứ sáu thế giới về bỏ tù nhà văn trong năm 2022

RFA

2023.05.04

Công an ngăn cản người chụp hình một vụ biểu tình phản đối Trung Quốc ở Nhà hát lớn, Hà Nội năm 2012 (minh hoạ)

 Reuters

Trong phúc trình Chỉ số về tự do của người viết năm 2022, tổ chức Văn bút Hoa Kỳ (PEN America) xếp Việt Nam đứng thứ sáu thế giới với 16 nhà văn, nhà báo đang bị cầm tù và đứng thứ 10 trong danh sách các quốc gia cần quan tâm với 27 người đang bị hiểm nguy.

Chính phủ Việt Nam tiếp tục đàn áp giới bất đồng chính kiến, đặc biệt tập trung vào việc kiểm soát quyền truy cập phương tiện truyền thông xã hội của công chúng và mở rộng khả năng của chính phủ để có quyền truy cập vào dữ liệu cá nhân,” Văn bút Hoa Kỳ trình bày trong báo cáo công bố ngày 27/4 vừa qua

Theo tổ chức có trụ sở ở New York, Việt Nam thông qua Luật An ninh mạng vào năm 2018, yêu cầu các nền tảng lưu trữ dữ liệu cục bộ và trao cho Chính phủ quyền kiểm soát nội dung và dữ liệu trực tuyến.

Bốn năm sau, vào năm 2022, Chính phủ Việt Nam đã thông qua Nghị định 53 quy định chi tiết việc thi hành Luật An ninh mạng, tăng cường quyền truy cập của Chính phủ vào dữ liệu cá nhân và do đó tăng khả năng đàn áp những người bất đồng chính kiến.

Nhiều nhà văn, nhà báo bị cầm tù, số khác ở tình trạng hiểm nguy

Tổ chức này cho biết, có 16 người viết/nhà văn (writers) bị giam giữ tại Việt Nam vào năm 2022, 15 trong số họ là những nhà bình luận trực tuyến.

Trong số này có nhà bình luận trực tuyến Bùi Văn Thuận với những lời giễu cợt và chế giễu Chính phủ Việt Nam trên trang Facebook của mình, Trần Hoàng Huấn với nhiều bài đăng trên Facebook chỉ trích Chính phủ Việt Nam trong việc phân phối vắc-xin COVID-19 của hãng Trung Quốc Sinopharm, và nhà báo tự do Lê Mạnh Hà với nhiều video clip trên YouTube và bài viết trên Facebook về tranh chấp đất đai và tham nhũng.

Trong năm 2022, cả ba đều bị kết án tám năm tù giam về tội danh “Tuyên truyền chống nhà nước” theo Điều 117 của Bộ luật Hình sự 2015.

Một thành viên của liên minh Văn bút Quốc tế cũng nhắc lại việc xét xử nhà báo độc lập Lê Anh Hùng thiếu các chuẩn mực quốc tế về phiên toà công bằng và việc bắt giữ nhà hoạt động Nguyễn Lân Thắng, blogger của Đài Á Châu Tự Do (RFA).

Tổ chức này nói Việt Nam có xu hướng áp dụng các bản án nặng nề nhiều năm tù giam bất chấp sự lên án từ Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc và các tổ chức nhân quyền.

Trong báo cáo của mình, Văn bút Hoa Kỳ cũng đưa ra danh sách 27 nhà văn, nhà báo Việt Nam đang gặp hiểm nguy, trong đó có bốn cựu tù nhân lương tâm: nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, blogger Nguyễn Hữu Vinh (Ba Sàm), nhà báo Nguyễn Vũ Bình, và nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình.

Nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình, người mãn hạn tù sáu năm vào giữa năm 2017, cho biết sau khi kết thúc án hai năm quản chế , ông vẫn bị canh giữ gắt gao bởi lực lượng an ninh thành phố Hồ Chí Minh.

Trong đợt nghỉ lễ kéo dài năm ngày vừa qua, công an địa phương đưa người đến canh giữ gần nhà ông Bình liên tục từ ngày 29/4 đến tối ngày 02/5, ông nói với RFA ngày 04/5.

Những người bất đồng chính kiến ở quốc nội bị kê vào danh sách đen để mà họ canh giữ.

Là một người nghệ sĩ, tôi nhìn thấy hình đất nước thế nào thì tôi cất tiếng lên. Chính vì nỗi lòng của tôi mà tôi bị bôi dấu đen trong con mắt và suy nghĩ của nhà cầm quyền Việt Nam.”

Tuy nhiên, ông cho biết ông không thể im lặng trước hiện tình đất nước cho dù có thể bị bắt lần nữa. Ông khẳng định:

Tôi chỉ thổn thức với nỗi đau của quê hương. Tôi luôn sẵn sàng chịu khổ đau một lần nữa, nếu như nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đặt cái tên tôi vào giấy khởi tố lần thứ hai.”

Chia sẻ với RFA, ông cho biết không chỉ đưa người canh giữ thường xuyên tư gia của ông, lực lượng an ninh còn can thiệp vào cuộc sống tình cảm, khiến ông không thể đến được với người mình yêu và làm cho cuộc sống của ông còn “tệ hơn ở trong tù.”

Phóng viên gửi email cho Bộ Ngoại giao Việt Nam đề nghị bình luận về phúc trình mới nhất của Văn bút Hoa Kỳ nhưng chưa lập tức nhận được phản hồi. Chính phủ Việt Nam thường phớt lờ các đề nghị bình luận của RFA.

Cả hai chỉ số và cơ sở dữ liệu do PEN America thu thập, Việt Nam đều nằm trong top 10 thế giới. Ảnh: PEN America/ RFA Việt hóa

Áp dụng việc báo cáo hàng loạt để dập tắt tiếng nói bất đồng

Văn bút Hoa Kỳ nhắc lại việc Chính phủ Việt Nam thành lập Lực lượng 47 gồm 10.000 lính tác chiến mạng của quân đội hồi năm 2015, hay bên cạnh Lực lượng dân sự có tên là E47 để tấn công những tiếng nói phản biện trên mạng xã hội, giúp Nhà nước giám sát chặt chẽ và hạn chế quyền tự do ngôn luận trên các nền tảng kỹ thuật số.

Hai lực lượng trên sử dụng chiến lược báo cáo hàng loạt “vi phạm” tiêu chuẩn cộng đồng trên Facebook, khiến nền tảng này gỡ bỏ các trang hoặc thậm chí cấm chúng. Chiến lược này tận dụng quy trình khiếu nại rườm rà của Facebook trong bối cảnh công ty công nghệ của Mỹ thiếu chuyên gia nói tiếng Việt trợ giúp quá trình khiếu nại.

Trong khi đó, Chính phủ Việt Nam đang gia tăng yêu cầu đối với các nền tảng, bao gồm yêu cầu gỡ bỏ những gì họ xác định là “tin giả” trong vòng 24 giờ.

Nạn nhân của các cuộc tấn công trực tuyến thực hiện bởi hai nhóm trên bao gồm các nhà báo tự do ở trong nước và cả ở nước ngoài, như cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (tức blogger Mẹ Nấm), người đang sống lưu vong ở Hoa Kỳ.

Cuộc tấn công đa hướng vào quyền tự do ngôn luận của chính quyền đặt các nhà văn Việt Nam vào nguy cơ rất lớn, Văn bút Hoa Kỳ nói.

Văn bút Hoa Kỳ kêu gọi Nhà nước Việt Nam bãi bỏ Điều 117 của Bộ luật Hình sự 2015 vốn được sử dụng thường xuyên để bỏ tù nhà báo, blogger và người bất đồng chính kiến.

Tổ chức này cũng kêu gọi Hoa Kỳ tái giới thiệu và thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam của lưỡng đảng, và yêu cầu Chính phủ Việt Nam tuân thủ các quyên tắc nhân quyền và tự do ngôn luận như một yếu tố nền tảng của mối quan hệ song phương đang mở rộng giữa hai quốc gia.

Hoa Kỳ cần cộng tác với các đối tác ASEAN để tiếp tục vận động cho việc trả tự do cho các nhà văn bị cầm tù và trợ giúp các nhà văn Việt Nam lưu vong, tổ chức này nói.

Dự luật Nhân quyền Việt Nam, được xây dựng bởi Dân biểu của hai đảng, nếu được thông qua, sẽ cho phép Hoa Kỳ trừng phạt các quan chức Việt Nam và những người khác đồng lõa với các hành vi vi phạm có hệ thống các quyền con người được quốc tế công nhận, bao gồm các vi phạm đặc biệt nghiêm trọng đối với quyền tự do tôn giáo.

Một vụ án bất thường

Hoàng HuyềnCâu nói hay mỗi ngày

Nghệ An, một vụ án:

Làm “thất thoát” gần 45 triệu đồng trong 6 năm,

Bị cáo bị giam hơn 1 năm mới đem ra xét xử,

Xử trong 4 ngày,

Lần lượt đuổi cả 2 luật sư ra khỏi phòng xử án,

Đến ngày thứ 4 bị cáo phải tự bào chữa (vì không còn luật sư).

Bị kết án 5 năm tù giam,

Bị cáo phủ nhận toàn bộ cáo trạng và bản án.

Và phát biểu:

“Pháp luật là tối thượng và bất khả vi phạm, không ai có quyền đứng trên luật để hành xử và thực thi nhiệm vụ. Trong vụ án này, căn cứ buộc tội tôi không đúng, không có; trình tự thủ tục tố tụng vi phạm pháp luật hết sức nghiêm trọng nhưng vẫn buộc tội tôi, là vi phạm, gây oan sai cho tôi.

Việc đẩy một người vô tội vào tù là tội ác trời không dung, pháp luật không tha, luật nhân quả không trừ.

Tôi đề nghị trả tự do cho tôi và có biện pháp khắc phục oan sai, đồng thời xử lý nghiêm đối với những người vi phạm pháp luật.

Đây là một vụ án bất thường.

Tôi tin chắc rằng vụ án này sẽ chấn động cả nước, đặc biệt là đến ngành tư pháp và ban tư pháp của Quốc hội. Vì tôi tin chắc rằng, luật sư của tôi, gia đình bạn bè, đồng nghiệp, học sinh cũ, phụ huynh, bà con làng xóm và nhân dân sẽ có tiếng nói kêu oan cho tôi”.

(Lời cô giáo Lê Thị Dung sau khi tự bào chữa sắc bén, đanh thép và lịch lãm tại tòa, lúc 2 luật sư của bà đã lần lượt bị đuổi ra)

Đây là một người đàn bà thép, một nhà giáo bản lĩnh, một công chức hiểu biết và một nhân cách tử tế.

Tg: Thái Hạo

Vài câu hỏi nhức nhối ngày 30-4

Báo Tiếng Dân

04/05/2023

Từ Thức

48 năm! Gần một nửa thế kỷ trôi qua, vết thương vẫn chưa lành. Và chắc sẽ không bao giờ lành đối với hàng triệu gia đình, trong khi có những người khác, đứng đầu là nhà nước, có cơ hội “hát trên những xác người” để ăn mừng chiến thắng. Có cơ hội để khoe khoang, đánh bóng quá khứ, để dân quên thực tại đất nước không có gì đáng kiêu hãnh.

Vài câu hỏi nhức nhối nhiều người đặt ra, hay tự hỏi:

Thứ nhất, có nên tổ chức tưởng niệm ngày 30/4, nửa thế kỷ sau?

Thứ hai, có nên tiếp tục hoạt động chống Cộng, trong khi “càng chống, Cộng sản càng mạnh?”

Thứ ba, mỗi người, dù chân yếu tay mềm, dù không phải là anh hùng, có thể làm gì, đóng góp gì cho công cuộc chung? (1)

1.- Có nên tưởng niệm mỗi năm?

Có người nghĩ nửa thế kỷ sau, có lẽ nên quên chuyện cũ, để hướng về tương lai.

Trái lại, muốn chuẩn bị tương lai, phải ôn lại quá khứ.

Một cộng đồng, một dân tộc không có quá khứ, sẽ không biết mình là ai, không biết phải đi ngả nào. Không có quá khứ, sẽ không có hiện tại, không có tương lại. Ôn lại quá khứ, rút tỉa những kinh nghiệm xương máu, để tìm đường đi cho mình và cho thế hệ sau.

Tưởng niệm ngày 30 tháng 4 để không quên hàng trăm ngàn người đã bỏ mạng trên rừng, trên đường mòn biên giới, trên biển cả với hy vọng được sống tự do.

Quốc gia văn minh nào cũng tưởng niệm những người đã hy sinh trong các cuộc chiến tranh Đệ Nhất, Đệ Nhị Thế chiến, hay xa hơn nữa, bởi vì người chết bị quên lãng sẽ chết lần thứ hai.

Forgive, but not forget. Có thể tha thứ, nhưng không thể quên.

Người Việt có phong tục rất hay, là cúng giỗ. Đặt bàn thờ, hương hoa, hay cả thức ăn, không phải là dấu hiệu của mê tín dị đoan, trái lại, là một cách rất văn minh, để chứng tỏ người chết vẫn ở đâu đó, bên cạnh. Người chết không bao giờ thực sự chết.

Ngày 30/4 là ngày giỗ của hàng triệu gia đình.

Người ta hy vọng, nhưng chắc khó toại nguyện, trong khi hàng triệu đồng bào của mình đang khóc những người chết oan, tức tưởi, những người khác, nhất là những người cầm quyền, không nên nhẫn tâm reo hò, nhẩy múa. Đó là một thái độ man rợ nhất.

Dù hăng say chiến thắng tới đâu, vẫn còn 364 ngày mỗi năm, để tha hồ reo hò, mạ lỵ, chửi rủa, đấu tố, oán thù.

Một lý do nữa để tưởng niệm ngày 30/4: nhắc lại cho thế hệ sau những gì đã xẩy ra nửa thế kỷ trước, cho gia đình, cho cha mẹ của họ.

Hàng triệu người đã liều mạng vượt biển, với cái hy vọng mơ hồ là trôi dạt đến một nơi nào đó có tự do.

Bỏ nước ra đi là một chuyện kinh thiên, động địa với một dân tộc gắn liền với đất nước-đất và nước-đa số chưa hề rời làng mạc, khu phố mình đã sinh ra, lớn lên.

Hàng trăm ngàn người bỏ mạng trên biển cả.

Người Cộng Sản, sở trường trong việc viết lại lịch sử, đã bôi nhọ những người ra đi là chạy theo Mỹ, và sau đó, khi cần tiền họ gởi về, thân ái phong cho họ là những “khúc ruột ngàn dặm”.

Howard Zinn nói, “khi những con thỏ chưa có sử gia, lịch sử sẽ được viết bởi những người đi săn”.

Tưởng niệm ngày 30/4 là nhắc lại sự thực lịch sử. Lịch sử của chiến tranh, lịch sử của một trong những cuộc di cư lánh nạn khủng khiếp, kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại

2.- Có nên tiếp tục tranh đấu cho tự do?

Nhiều người tự hỏi: có nên tiếp tục tranh đấu chống Cộng hay không, bởi vì nửa thế kỷ sau, Cộng sản vẫn còn đó, hung hăng, tàn bạo? Chưa thấy một hy vọng tự do nào le lói cuối đường hầm.

Điều đó khó chối cãi. 48 năm sau, xã hội VN băng hoại hơn bao giờ hết. Biển đảo bị chiếm đóng, môi trường bị huỷ hoại, bất công tràn lan, tham nhũng khủng khiếp, khiến người Việt, sau nửa thế kỷ đất nước thống nhất, “tự do, dân chủ, cộng hoà, độc lập, tự do, hạnh phúc”, chỉ hy vọng được trốn ra nước ngoài, để lấy chồng, để trồng cần sa, bán dâm, để làm nô lệ.

Trong bối cảnh đó, người Việt hoàn toàn thụ động.

Sau nửa thế kỷ cai trị miền Nam, ¾ thế kỷ miền Bắc, Cộng Sản đã thành công trong công cuộc “thụ nhân” (trồng người), đào tạo một thế hệ vô cảm.

Một mặt, sự đàn áp dã man, chà đạp nhân quyền, ngồi xổm trên những quyền tự do tối thiểu của con người, chế độ đã tạo một dân tộc biết sợ. Và trên cả cái sợ, cái cùm tự kiểm duyệt, coi như đó là một nhân sinh quan, một triết lý sống.

Mặt khác, kinh tế phát triển nhờ nhân công rẻ, ngoan ngoãn, trong một thời đại hoàn cầu hoá, nhờ hàng chục tỷ dollars của các “khúc ruột ngàn dặm” đổ về, nhờ tiền xuất cảng lao động, xuất cảng phụ nữ, Việt Nam biến thành một xã hội tiêu thụ.

Một số người được tiêu pha, chơi bời thả cửa, có ảo tưởng được tự do, hài lòng với thân phận của mình, chấp nhận hay ủng hộ chế độ. Việt Nam trở thành một nhà tù lộ thiên, trong đó tù nhân không muốn vượt ngục nữa (2).

Trong bối cảnh đó, những phong trào tranh đấu cho tự do, dân chủ yếu dần.

Trong nước, những người tranh đấu bị đàn áp dã man; 10, 15 năm tù, cái án dành cho những người cướp của giết người ở những nước bình thường, chỉ vì đã lên tiếng chống cướp nhà, cướp đất, hay đòi quyền thở, quyền sống.

Ở đây, phải bày tỏ sự khâm phục đối với những người vô danh, hay nổi tiếng, đã can đảm tranh đấu trong hoàn cảnh khắc nghiệt, và nhất là trong sự cô đơn, giữa một biển vô cảm.

Ở hải ngoại, phong trào cũng yếu dần, vì chia rẽ, vì bệnh cá nhân chủ nghĩa, vì cái tôi quá lớn (3), vì tổ chức luộm thuộm, khái niệm rất mơ hồ về dân chủ, rất mơ hồ về sự hữu hiệu của mỗi hành động.

Nhiều người có cảm tưởng họ chống nhau, hơn là chống Cộng. Sẵn sàng chụp mũ nhau là Cộng Sản, chỉ vì một câu nói vụng về, một câu trích khỏi một bài, trái hẳn với ý của người viết. Đôi khi chỉ vì tỵ hiềm cá nhân, vì ganh ghét, vì độc ác. Trong khi đó, Công Sản gộc, thứ thiệt, ngang nhiên mua nhà cửa, họp hành, ra báo, lập đài phát thanh, truyền hình, lộng hành trước mắt bàn dân, thiên hạ, ngay giữa cộng đồng tỵ nạn.

Nhiều khi những người chống Cộng hăng say chống nhau, quên cả chống Cộng.

Quả thực là tình trạng đáng ngao ngán, khiến nhiều người muốn bỏ cuộc.

Nhưng suy nghĩ lại, có quả thực là các hoạt động đó hoàn toàn vô bổ không?

Nếu Việt Nam chưa phải là Bắc Hàn, bởi vì CS không muốn đóng cửa để mất nguồn ngoại tệ khổng lồ, nhưng cũng bởi vì có những người kiên trì tranh đấu ở hải ngoại, tiếp tay với những người tranh đấu trong nước, lên tiếng tố cáo các chính sách đàn áp, các hành động đàn áp dã man của nhà nước.

Cộng sản chùn tay, không phải vì muốn được kính trọng đôi chút, nhưng bởi vì còn muốn làm ăn, buôn bán với thế giới bên ngoài.

Những hoạt động hải ngoại, dù chưa đạt kết quả mong muốn, dù có nhiều khuyết điểm, vẫn chứng tỏ có những người không bỏ cuộc, nửa thế kỷ sau ngày 30/4/75.

Tại sao không thể bỏ cuộc lúc này. Bởi vì cuộc chiến trở thành một mặt trận văn hoá. Ai cũng nghĩ và mong có thay đổi chính trị ở VN, bởi vì một nhóm người cai trị gần 100 triệu dân, vô thời hạn, là một chuyện quái đản ở thế kỷ 21.

Nhưng chỉ có thay đổi nếu hội đủ 2 điều kiện: Thứ nhất, người dân ý thức mình đang sống trong một nhà tù không tường, mặc dù được hưởng những tự do phù phiếm như ăn chơi, tiêu thụ. Thứ hai, mọi người nghĩ những thay đổi sẽ có kết quả tốt cho chính mình, cho gia đình mình.

Dân chủ đối với đa số vẫn còn là một ý niệm mơ hồ, nếu không phải là đề tài để nhạo báng. Đa số vẫn chưa ý thức rằng tất cả những vấn đề của VN, từ bất công khủng khiếp, tới tham nhũng kinh hoàng, giáo dục bế tắc sẽ không bao giờ giải quyết được, nếu không có một thể chế dân chủ.

Việc thuyết phục người đồng hương là chuyện của mỗi chúng ta, mỗi ngày.

3.- Mỗi người có thể làm gì?

Không phải ai cũng là anh hùng, không phải ai cũng là những nhà hoạt động, sẵn sàng hy sinh. Nhưng mọi người đều có thể đóng góp.

Khi tôi giải thích cho con cháu lịch sử cận đại của VN, tôi đóng góp cho việc chống lại âm mưu viết lại lịch sử của tập đoàn cầm quyền.

Khi tôi kể cho bạn bè trong nước những sinh hoạt dân chủ nơi tôi đang sống, tôi đóng góp vào việc phát triển ý thức, và kiến thức dân chủ.

Khi tôi liên lạc với các giới chức, các hội đoàn nơi tôi đang sống, hay với những du khách tới VN, để nói về những vi phạm nhân quyền, tôi đóng góp vào việc cho thế giới bên ngoài biết về thực trạng VN.

Đó chỉ là những thí dụ. Còn hàng ngàn những chuyện khác, mọi người có thể làm. Nếu một triệu người làm những việc nhỏ, kết quả sẽ rất lớn.

Một câu nói nổi tiếng mà người ta gán cho Lão Tử: Hãy thắp một ngọn nến, còn hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối. Đôi khi chúng ta quên cả nguyền rủa bóng tối, vì còn say sưa nguyền rủa nhau.

Những khuyết điểm, những sai lầm của những người chống Cộng đã khiến hai chữ “chống Cộng” mất dần ý nghĩa

Nhiều người xa lánh, không muốn liên luỵ tới những chuyện đánh phá cá nhân, bè phái.

Albert Camus nói, cuộc đời là những cuộc tranh đấu, nếu không tranh đấu cho lẽ phải, không nổi giận trước những bất công, cuộc đời chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Nhưng Camus nói thêm: nổi loạn, hay phẫn nộ phải có đối tượng, không bao giờ mù quáng, vô vạ, miễn phí (la révolte est ciblée, jamais aveugle ni gratuite).

Chống Cộng, nửa thế kỷ sau, không phải vì oán thù, không phải vì bị cướp nhà cướp đất, mà bởi vì nghĩ rằng, biết rằng chế độ Cộng Sản đưa tới bế tắc cho dân tộc. Bế tắc và diệt vong.

Tôi chống Cộng bởi vì không muốn nước tôi không có giáo dục, chỉ có nhồi sọ; không có văn hoá, chỉ có tuyên truyền; không có quyền làm người, chỉ có quyền tuân lệnh; không có quyền suy nghĩ, chỉ có quyền ăn chơi.

Hiểu theo nghĩa đó, chống Cộng là một nghĩa vụ trong sáng nhất, khẩn cấp nhất. Không phải là chuyện phù phiếm, như nhiều người nghĩ. Có người thành thực nghĩ như vậy, có người mượn đó là một cái cớ để buông tay, hay đồng loã với cái ác.

_________

(1) Bài này ghi lại và bổ túc bài nói chuyện trong cuộc hội luận ngày 29/4/2023 do Cộng Đồng Người Việt Quốc gia Tư Do tổ chức, tại Paris, Pháp.