Gia đình 5 người Việt thiệt mạng trong tai nạn giao thông ở Indiana

Gia đình 5 người Việt thiệt mạng trong tai nạn giao thông ở Indiana

Nguoi-viet.com

TIPTON COUNTY, India (NV) – Một gia đình năm người Việt vừa bị thiệt mạng trong một tai nạn xe hơi xảy ra trên xa lộ 31 thuộc Tipton County, cách Indianapolis, Indiana, chừng 30 dặm về phía Bắc hôm Thứ Sáu, theo tin đài truyền hình WTHR 13, một chi nhánh địa phương của đài NBC.

(Hình minh họa: David Ryder/Getty Images)
Theo bản tin, chiếc xe Jaguar màu đỏ đời 2001 chở năm người chạy trên xa lộ 31 về Nam, khi gần đến Indianapolis, thì bị lạc tay lái về bên phải.

Ngay lập tức, ông Dennis Nguyễn, người lái xe, tìm cách bẻ lại bên trái, nhưng quá lố, và chiếc xe vượt qua vạch giữa đường, chạy về hướng ngược chiều giao thông, đụng vào một chiếc xe tải Peterbilt chở hàng đang chạy về hướng Bắc, theo cảnh sát cho biết.

Chiếc xe bị bẹp dúm, ông Dennis Nguyễn, 43 tuổi; người vợ Cao Thị Thu Hà, 44 tuổi; con trai Hùng Vinh Nguyễn, 9 tuổi; và con gái Lindsay Cao Vân Nguyễn, 7 tuổi, chết tại chỗ.

Riêng cô con gái Linda Hà Vy Nguyễn, 14 tuổi, bị thương nặng, được trực thăng đưa vào bệnh viện Eskenazi Health ở Indianapolis, nhưng sau đó qua đời.

Cảnh sát tin rằng, cả gia đình ông Dennis, cư ngụ ở tiểu bang Arkansas, đều có đeo dây an toàn khi ngồi trong xe.

“Chúng tôi đang điều tra nhiều tai nạn trong khu vực đang bị thời tiết lạnh đóng băng, nhưng tai nạn này có phải do đường trơn trượt gây ra hay không thì chưa biết,” cảnh sát viên Paul Daugherty trả lời phỏng vấn của đài truyền hình địa phương qua điện thoại cho biết.
Tài xế xe tải cũng bị đau, được đưa vào bệnh viện, nhưng sau đó được về nhà.

Sau khi tai nạn xảy ra, cả hai hướng lưu thông của xa lộ 31 đều bị đóng để dọn dẹp và di chuyển thi hài người quá cố.

Cảnh sát tiểu bang Indiana vẫn đang điều tra nguyên nhân tai nạn. (Đ.D.)

Trung Quốc tiếp tục bắt bớ tín đồ giáo phái Đấng Toàn Năng

Trung Quốc tiếp tục bắt bớ tín đồ giáo phái Đấng Toàn Năng

RFA

28-12-2014

Sáu thành viên của giáo phái có tên Đấng Toàn Năng ở Trung Quốc bị kêu án từ 3 đến trên 5 năm tù giam vì những hoạt động truyền bá đức tin của họ.

Bản tin Tân Hoa Xã cho biết như vậy ngày hôm qua. Trung Quốc đã nhiều lần bắt bớ hàng ngàn người cũng như cấm giáo phái Đấng Toàn Năng này hoạt động từ lúc được thành lập năm 1990. Những người theo giáo phái Đấng Toàn Năng tin rằng chúa Giê Xu tái thế dưới hình hài một phụ nữ người Trung Quốc.

Nhà chức trách Trung Quốc cho biết 6 người bị kêu án đã bị bắt ngay lúc đang tổ chức gây quĩ và truyền đạo, nói rằng hành động của họ gây rối trật tự xã hội một cách nghiêm trọng cũng như gây ảnh hưởng và tạo trở ngại cho công việc của các cơ quan nhà nước.

Thánh lễ cầu nguyện cho công lý hòa bình tại Đền Đức Mẹ HCG Sài Gòn

Thánh lễ cầu nguyện cho công lý hòa bình tại Đền Đức Mẹ HCG Sài Gòn

Chuacuuthe.com

VRNs (29.12.2014) – Sài Gòn – Lúc 20 giờ, tối qua, 28.12, cha Vinhsơn Phạm Trung Thành, Giám tỉnh DCCT đã chủ sự thánh lễ đồng tế cầu nguyện cho công lý và hòa bình theo định kỳ hàng tháng.

Trong thánh lễ có sự tham dự của gia đình tù nhân Hồ Duy Hải tại Long An. Ngoài Bà Nguyễn Thị Loan, mẹ của Duy Hải, còn có em gái, và một số người thân trong gia đình. Được biết, gia đình của anh Hồ Duy Hải đã thuê xe đi từ Long An lên Sài Gòn dự thánh lễ và trở về ngay khi thánh lễ kết thúc.

Như mọi khi, trước thánh lễ, cha Giuse Đinh Hữu Thoại đã đọc các ý được cầu nguyện cách đặc biệt trong thánh lễ: Cầu nguyện cho Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng bị kết án tử hình nhưng có nhiều dấu hiệu oan sai mà gia đình đã đi kêu oan trong những năm tháng qua và được công luận trong và ngoài nước chú ý đến. Ý lễ cũng đặc biệt nhấn mạnh đến việc cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo các quốc gia bỏ án tử hình.

Cùng đồng tế với cha Vinhsơn Phạm Trung Thành trong thánh lễ còn có cha Phanxicô X. Nguyễn Văn Nhứt, dòng Đaminh, và bảy linh mục khác của DCCT Sài Gòn và đông đảo giáo dân cũng như một số người không cùng tôn giáo vẫn thường xuyên đến tham dự thánh lễ này vào mỗi cuối tháng.

Trong bài giảng, cha Vinhsơn Phạm Trung Thành nhấn mạnh đến sự sống là quà tặng Thiên Chúa ban cho con người và “không ai có quyền lấy đi sự sống của người khác”. Ngài nói rằng: “Hỡi những ai ủng hộ sự chết, hỡi những ai chủ trương sử dụng sự chế, nhân danh bất kỳ một lợi ích nào, hãy biết: phương tiện xấu không thể mang lại sự tốt. Hãy chấm dứt ngay những hành động uy hiếp sự sống! Hãy dừng tay lại, đừng tiến hành bất cứ một hành động nào gây ra cái chết, cho dù nhân danh bất cứ điều gì. Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi chấm dứt án tử hình. Chúng tôi kêu gọi suy xét lại các án tử hình, nhất là các vụ án có dấu hiệu oan sai, đặc biệt là vụ án Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng. Xem xét lại cẩn thận và công minh. Chúng ta không mất gì cả, nhưng nếu quả thật là oan sai, chúng ta cứu được mạng người; mà sự sống thì vô giá, không ai gầy tạo được sự sống”.

00:00

00:00

Gia đình của tử tù Hồ Duy Hải ngồi hàng ghế đầu trong thánh lễ cầu nguyện cho công lý hòa bình tối 28.12 tại Đền Đức Mẹ HCG Sài Gòn

Gia đình của anh Hồ Duy Hải ngồi hàng ghế đầu trong thánh lễ cầu nguyện cho công lý hòa bình tối 28.12. Bà Nguyễn Thị Loan, mẹ anh Hải (áo vàng nhạt) và em gái (áo trắng)

Cha Vinhsơn Phạm Trung Thành kêu gọi bỏ án tử hình và yêu cầu “hãy chấm dứt ngay những hành động uy hiếp sự sống!”

Cha Vinhsơn Phạm Trung Thành kêu gọi bỏ án tử hình và yêu cầu “hãy chấm dứt ngay những hành động uy hiếp sự sống!”

Vào mỗi Chúa nhật cuối tháng, quý cha lại dâng thánh lễ đồng tế cầu nguyện cho công lý hòa bình.

Vào mỗi Chúa nhật cuối tháng, quý cha lại dâng thánh lễ đồng tế cầu nguyện cho công lý hòa bình.

Cộng đoàn thắp nến cầu nguyện sau bài giảng

Cộng đoàn thắp nến cầu nguyện sau bài giảng

Cha Vinhsơn Phạm Trung Thành và Giuse Đinh Hữu Thoại thăm hỏi gia đình của anh Hồ Duy Hải sau thánh lễ

Cha Vinhsơn Phạm Trung Thành và Giuse Đinh Hữu Thoại thăm hỏi gia đình của anh Hồ Duy Hải sau thánh lễ

Nội dung bài giảng:

Kính thưa anh chị em.

Chúng ta đang sống trong một xã hội đổ vỡ mọi mặt, mọi giá trị đạo đức luân lý bị phá sản, mọi trật tự đảo lộn và mối hiểm nguy là sự bình an biến dạng khỏi cuộc sống, nhường lại cho sự chết với cái lối sống, lối lý luận, trật tự của nó mà người ta gọi đó là “văn minh sự chết”, cho dù sự chết chẳng bao giờ có thể là một sự văn minh.

Chúng ta không bi quan khi nói với nhau như vậy. Cứ nhìn vào các tờ báo phát hành mỗi ngày, ngay báo của nhà nước hoàn toàn, cứ nhìn vào các kênh truyền hình, dĩ nhiên là truyền hình nhà nước, thì rất nhiều sự ác, rất nhiều điều bất ổn, rất nhiều sự đảo lộn phơi bày trên các phương tiện truyền thông. Thực tế khi ra khỏi nhà, mà ngay cả ở trong nhà, thì mọi tai họa do chính con người gây ra cho nhau cũng không ngừng đe dọa chúng ta.

Hơn lúc nào hết chúng ta mong ước sự bình an, sự bình an đích thật và trường cửu, sự bình an mà bất kỳ một mãnh lực nào cũng không thể lấy đi được. Đó chính là sự bình an do chính Chúa Kitô mang đến cho chúng ta như chính lời Chúa hứa “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em phúc bình an của Thầy” đó chính là sự bình an mà “thế gian không thể ban tặng và cũng không thể lấy đi”. Chúa Giêsu nhấn mạnh sứ mạng của Ngài “tôi đến để cho anh em được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10).

Sự sống bình an, hạnh phúc là chính sự sống với sự hiện diện của Chúa Giêsu, vì thế khi Chúa bước vào trần gian, muôn loài muôn vật nhận ra chính Chúa Giêsu là vua bình an. là Chúa bình an, là vua hòa bình. “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Đón nhận sụ bình an, sự sống là đón nhận chính Chúa Giêsu. Gia đình thánh mà hôm nay chúng ta mừng kính chính là gia đình của Chúa Giêsu, gia đình có sự hiện diện của Chúa Giêsu, chính sự hiện diện của Chúa Giêsu làm cho gia đình nên thánh. Trở thành gia đình thánh.

Bất kỳ cách nào người ta từ chối sự hiện diện của Chúa Giêsu, người ta tự rút mình ra khỏi sự thánh thiện và nhận chìm mình trong sự chết. “Ðiều đã thành sự nơi Ngài là sự Sống, và sự Sống là sự Sáng cho nhân loại.” (Ga 1, 4) Chúa đến mang sự sống, sự sống là sự sáng chiếu soi. Từ chối sự sống là từ chối sự sáng, là tự nhận sự chết, tự gian mình trong bóng tối.

Hỡi những ai ủng hộ sự chết, hỡi những ai chủ trương sử dụng sự chết nhân danh bất kỳ lợi ích nào, hãy biết, phương tiện xấu không thể mang lại sự tốt. Hãy chấm dứt ngay những hành động uy hiếp sự sống, hãy dừng tay lại đừng tiến hành bất cứ một hành động nào gây ra cái chết, cho dù nhân danh bất cứ điều gì. Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi chấm dứt án tử hình, chúng tôi kêu gọi suy xét lại các án tử hình, nhất là các vụ án có dấu hiệu oan sai, đặc biệt vụ án Hồ Duy Hải và Nguyễn văn Chưởng, xem xét lại cẩn thận và công mình chúng ta không mất gì cả, nhưng nếu quả thật là oan sai chúng ta cứu một mạng người, mà sự sống thì vô giá, không ai gầy tạo được sự sống, không ai có quyền lấy đi sự sống nhất là những cuộc lấy đi không chứng cớ.

Về phần người Kitô hữu, Tin Mừng dạy chúng ta không được phép thờ ơ trước những điều sai trái, không được phép đứng về phía quyền lực mà đối địch với người nghèo, người bị loại bỏ, người bị chà đạp. Không được phép thỏa hiệp với sự dữ để mưu cầu yên thân, và càng không được phép thỏa hiệp để thu hoạch lợi ích bản thân, lợi ích nhóm. Mọi sự quay lưng lại với người nghèo, người bị bỏ rơi, người tù đày đau khổ sẽ phải trả giá bằng chính sự sống đời đời “khi xưa Ta đói ngươi đã không cho ăn, Ta khát ngươi đã không cho uống, ta rách rưới mình trần ngươi không cho áo mặc, Ta tù đày ngươi đã không viếng thăm” (Mt 25, ), những lời của Chúa Giêsu văng vảng trong ngày Chúa nhật cuối năm phụng vụ vừa qua có đánh động tâm hồn chúng ta hay không ? Hay chúng ta vẫn lòng chai dạ đá, ôm ấp suy nghĩ, giữ vững quan điểm theo ý của mình, tự hào sự chính thống, trí thức, và cho rằng đó là đúng đắn ?

Trong Tin Mừng có câu chuyện người phụ nữ Samari bên bờ giếng, câu chuyện để lại cho những người tự hào về truyền thống, tự hào về sự giàu có, sang trọng, tự hào về sự nguy nga sầm uất, tự hào về những gia trị của con người phải đặt lại vấn đề và đặt lại cuộc đời của mình nếu không muốn tiếp tục trong mê lầm. Vì trong câu chuyện ấy, nơi bờ giếng Giáo Hội, Chúa Giêsu nói “đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem.

…… Nhưng giờ đã đến – và chính lúc này đây giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật,” (Ga 4, 21 – 23)

Sẽ không là đền thờ trên núi, sẽ không là đền thờ Giêrusalem, nhưng là trong chân lý, trong sự thật. Sự thật là Chúa thuộc về người nghèo, người bị bỏ rơi, bị áp bức, sự thật là Chúa hóa thân và chờ đợi chúng ta nơi những người đau khổ bé mọn nhất. Đừng bình an giả tạo với hoa nến, đèn màu, đừng bằng an giả tạo với áo quần xúng xinh, lễ nhạc tưng bừng, càng đừng thỏa mãn với lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Hãy tỉnh thức vì không biết ngày giờ nào Chúa đến.

Trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, số 48, Đức Thánh Cha Phanxico nói rất rõ :

… Hội Thánh phải đến với mọi người, không loại trừ một ai. Nhưng phải đến với ai trước? Khi đọc Tin Mừng, chúng ta thấy một dấu hiệu rõ ràng: không phải những bạn bè và láng giềng giàu có của chúng ta, nhưng trên hết là những người nghèo khổ bệnh tật, những người thường bị khinh dể và ruồng rẫy, những người “không có gì để trả lại ngươi” (Lc 14:14). Không có chỗ cho sự hoài nghi hay những lời giải thích vốn chỉ làm yếu đi một sứ điệp rõ ràng như thế. Hôm nay và mãi mãi, “người nghèo là những người ưu tiên được đón nhận Tin Mừng”,và việc Tin Mừng được tự do rao giảng cho họ là dấu chỉ về vương quốc mà Chúa Giêsu đến để thiết lập. Chúng ta phải nói thẳng ra rằng “có một dây liên kết không thể phân ly giữa đức tin của chúng ta và người nghèo”. Chúng ta đừng bao giờ bỏ họ.

Mừng lễ Thánh gia thất không chỉ để đề cao một vài gía trị luân lý, cổ võ một vài giá trị đạo đức những phải là cơ hội để nhận ra rằng Thiên Chúa đến giữa trần gian, trong một khung cảnh rất bình thường là gia đình và mọi mối dây liên hệ xã hội, để mang đến sự thật cho nhân loại, đó là sự sống, sự sáng chiếu soi, và sự thật giải thoát nhân loại, đồng thời kêu gọi chúng ta lên tiếng bảo vệ và xây dựng sự thật , sự sáng và sự sống cho mọi người. Không có chỗ cho sự vô cảm, thờ ơ và đi ngược với sự sống.

28 tháng 12 năm 2014

VRNs

Dân bao vây, đánh trọng thương công an lạm quyền

Dân bao vây, đánh trọng thương công an lạm quyền

Nguoi-viet.com

ĐẮK NÔNG (NV) – Lại vừa có 3 trong số 5 cảnh sát giao thông của Công An huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông bị dân vây, đánh trọng thương, khi họ tập trung để phản kháng, chống cảnh sát giao thông lạm quyền.

Dân vây cảnh sát giao thông ở thành phố Kon Tum hồi tháng 7. Đây là một trong
hàng trăm vụ dân vây cảnh sát diễn ra trong năm nay. (Hình: Đất Việt)

Vài tờ báo ở Việt Nam vừa chỉ trích hai thanh niên ở xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, gọi họ là “côn đồ” bởi đã kháng cự, không chấp nhận chuyện để một nhóm cảnh sát giao thông thu giữ xe của họ với lý do “vi phạm giao thông.” Những người này đánh trọng thương một thượng úy, một trung úy và một trung sĩ cảnh sát giao thông, cưỡng đoạt 1.8 triệu đồng của cảnh sát giao thông…

Tin tường thuật về sự kiện vừa kể gián tiếp cho thấy, dân chúng lại vừa phản kháng việc cảnh sát giao thông lạm quyền.

Trong tin, “Ba cảnh sát giao thông bị hai tên côn đồ đánh nhập viện, cưỡng đoạt 1,8 triệu đồng,” vài tờ báo ở Việt Nam cho biết, chiều 21 tháng 12, hai thanh niên ngụ ở xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đã “chửi bới, quấy rối” một “Tổ Tuần Tra-Kiểm Soát Giao Thông với năm cán bộ, chiến sĩ của Công An huyện Tuy Đức đang làm nhiệm vụ,” phản đối chuyện bị tạm giữ xe vì “vi phạm giao thông.”

Những tờ báo này cho biết hai thanh niên vừa kể đã “hô hào, kích động một số người dân chống đối, yêu cầu trả lại xe bị tạm giữ” khiến nhóm cảnh sát giao thông “phải rút về xe tuần tra, chờ Công An huyện Tuy Đức đến giải cứu.”

Tin tường thuật về vụ phản kháng vừa kể cho biết là sau đó đám đông còn phản kháng chuyện “cảnh sát đánh dân” và dù các thành viên của “Tổ Tuần Tra-Kiểm Soát Giao Thông” đã giải thích nhưng đám đông “không hiểu, nên hùa theo hai đối tượng” và “càng lúc càng hung hăng hơn.”

Một số tờ báo đưa tin về vụ phản kháng ở Tuy Đức kể thêm, “Một số đối tượng đã leo lên xe tuần tra của cảnh sát giao thông lấy lại hai chiếc xe tang vật bị tạm giữ rồi mang đi. Trước tình thế khẩn cấp, Tổ Tuần Tra-Kiểm Soát Giao Thông’ cho một chiến sĩ cảnh sát giao thông điều khiển xe chở tang vật đi nơi khác. Tuy nhiên, nhóm người này tiếp tục đuổi theo chặn xe rồi xông vào, dùng hung khí đập kính xe làm các kính xe hư hỏng hoàn toàn.”

Báo chí của chính quyền Việt Nam nói rằng hai thanh niên đã bị Công An huyện Tuy Đức bắt giữ sau vụ phản kháng là “táo tợn” bởi đã “vi phạm giao thông mà còn yêu cầu Tổ Tuần Tra-Kiểm Soát Giao Thông phải đưa 1,8 triệu thì mới cho xe tuần tra rời khỏi hiện trường.”

Tuy báo chí của chính quyền Việt Nam khẳng định việc yêu cầu đưa 1.8 triệu này là “cưỡng đoạt,” song ở một phần khác trong tin tường thuật về vụ phản kháng này thì lại cho biết, 1.8 triệu là khoản các “đối tượng” đòi cảnh sát giao thông phải bồi thường cho việc làm điện thoại của họ bị hư “trong quá trình giằng co với Tổ Tuần Tra-Kiểm Soát Giao Thông.”

Báo chí của chính quyền Việt Nam không cho biết tại sao Tổ Tuần Tra-Kiểm Soát Giao Thông lại chấp nhận trả 1.8 triệu để các “đối tượng rời khỏi hiện trường.”

Báo chí của chính quyền Việt Nam cũng không cho biết, Tổ Tuần Tra-Kiểm Soát Giao Thông lấy từ đâu 1.8 triệu để đưa cho các “đối tượng.”

Nhằm chống cảnh sát giao thông mãi lộ. Công an Việt Nam đã cấm cảnh sát giao thông mang theo tiền khi Tuần Tra-Kiểm Soát Giao Thông. Nếu lực lượng chống mãi lộ bắt được cảnh sát giao thông có tiền trong người, tiền đó sẽ bị xem là tiền do mãi lộ mà có.

Tuy đám đông giúp hai thanh niên lấy lại hai chiếc xe hai bánh gắn máy bị tạm giữ và đánh ba trong số năm cảnh sát giao thông trọng thương nhưng Công An huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông vẫn cáo buộc hai thanh niên đã phản đối cảnh sát giao thông tạm giữ xe của họ là “chống người thi hành công vụ,” “cướp tang vật” và “cưỡng đoạt tài sản.” (G.Đ)

Nhân chuyện bang giao Mỹ-Cuba, nhớ Elian Gonzalez

Nhân chuyện bang giao Mỹ-Cuba, nhớ Elian Gonzalez

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương
Ngày 1 Tháng Giêng, 1959, ông Fidel Castro lãnh đạo một lực lượng quân sự thành công chống Tổng Thống Fulgenio Batista, một tướng lãnh độc tài, và đưa dân tộc Cuba vào một thứ độc tài đẫm máu khác.

Tháng Hai, 1960, chính quyền Castro ký một hiệp thương với Liên Xô, và sau đó, tiếp tục thắt chặt quan hệ và ngày càng nhận nhiều viện trợ quân sự và kinh tế của quốc gia này. Hoa Kỳ cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao và áp dụng chính sách cấm vận lên Cuba vào ngày 31 Tháng Giêng, 1961.

Hai cha con Elian Gonzalez vẫy tay chào trước khi rời Hoa Kỳ bay về Cuba.
(Hình: Tim Sloan/AFP/Getty Images)

Trong thời gian này, cũng như hoàn cảnh Việt Nam, hàng nghìn người Cuba đã chối bỏ chế độ Cộng Sản vượt biển đến Floria, Hoa Kỳ, trên những con thuyền tồi tàn, rách nát.

Tháng Mười Một, 1999, một chiếc thuyền đánh cá Hoa Kỳ tìm thấy một đứa bé Cuba nằm bất tỉnh trên một ruột xe cao su trong eo biển Florida ngoài khơi thành phố Miami. Đó là Elian Gonzalez, 6 tuổi, đi cùng với mẹ, cha kế và 9 người khác vượt biên từ Cuba tìm đường sang Hoa Kỳ tị nạn, tất cả đều bỏ mình trên biển, trong một cơn bão, khi chỉ còn cách Hoa Kỳ 56 km, duy chỉ có ba người sống sót, trong đó có Elian. Cha mẹ Elian ly dị nhau từ nhiều năm trước và cha của Elian, ông Juan Miguel Gonzalez, đã có gia đình khác.

Hoa Kỳ cho phép ông Lazaro Gonzalez ở thành phố Miami, bác ruột của Elian, tạm chăm sóc Elian chờ quyết định tình trạng di trú của em, tất cả hy vọng Elian sẽ được hưởng quy chế tị nạn như nhiều người đã trốn khỏi Cuba nhiều năm trước đến Hoa Kỳ.

Nhưng cha của Elian, với sự yểm trợ và thúc đẩy của ông Fidel Castro, yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ trả Elian về Cuba. Một cuộc tuần hành được chính phủ Cuba tổ chức với hàng trăm nghìn người Cuba yêu cầu chính phủ Mỹ trả lại Elian cho Cuba. Một sự tranh chấp giữa Fidel Castro và cộng đồng người Mỹ gốc Cuba tại Miami thành hình. Tuy nhiên, Sở Di Trú Hoa Kỳ, áp dụng nguyên tắc thông thường về đoàn tụ gia đình, phán quyết trả Elian lại cho cha của em, vì những người thân thuộc của Elian ở Miami không phải cha hay mẹ ruột của em.

Hai tháng sau đó, sau khi tòa án tối cao Mỹ bác đơn kháng cáo của họ hàng Elian tại Miami, đêm 22 Tháng Tư, 2000, các viên chức FBI, trang bị tận răng, tấn công vào ngôi nhà mang số 2319 NW 2nd Street ở Little Havana, Miami, bắt Elian mang đi trong sự vùng vẫy tuyệt vọng và tiếng khóc la của em. Chính phủ Fidel Castro coi đây là một thắng lợi vĩ đại của mình và cộng đồng người Cuba sau đó đã bầy tỏ sự bất mãn của mình với quyết định của chính phủ Clinton, để một năm sau ông Al Gore, ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân Chủ, thua ông George W. Bush chỉ với 537 phiếu. Nếu Elian không bị trả về Cuba, hẳn ông Al Gore có thể có đủ phiếu của dân tị nạn Cuba để trở thành tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ.

Cha ruột của Elian lúc ấy đang làm nghề hầu bàn tại Cuba, sau chiến thắng vang dội “đem Elian về với tổ quốc Cuba,” ông được sắp xếp, cất nhắc để trở thành một dân biểu Quốc Hội Cuba vào năm 2003. Elian trở thành bảo vật của Cuba, được công an bảo vệ nghiêm ngặt, khó có ai gặp được em. Trong viện bảo tàng thành phố, có một gian phòng triển lãm những gì liên quan đến câu chuyện Elian. Báo chí Cuba cho rằng, ông Fidel Castro đặc biệt quan tâm đến việc học hành của Elian và cha của em luôn luôn được chủ tịch Cuba tiếp kiến mỗi khi có dịp đến Havana.

Một đứa trẻ mới lên 6, sẽ dễ quên mọi chuyện, hình ảnh người mẹ mình và những ngày vượt biển đầy gian nguy, chết chóc. Nếu ở lại Hoa kỳ, Elian sẽ sống dưới một lối giáo dục khác và thành một con người khác. Nhưng ở Cuba, vào dịp Lễ Phục Sinh 2010, kỷ niệm 10 năm Elian “về với tổ quốc,” hình ảnh Elian Gonzalez được đưa lên truyền thông Cuba, với hình ảnh một thanh niên, đoàn viên Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Cuba, với đồng phục, cầu vai đỏ, huy hiệu đoàn trên tay áo, tóc hớt cao và được đề cao: “Elian Gonzalez bảo vệ cách mạng tại Đại Hội Thanh Niên.”

Trước đây, vào năm 1980, nước này đã mở cửa, để cho bất cứ ai cũng có thể ra đi với giấy thông hành. Gần 125,000 người Cuba đã chạy sang Mỹ. Cuba và Mỹ năm 1994 từng ký một thỏa thuận nhập cư theo đó hai bên tạo điều kiện cho việc di cư của người dân Cuba tới Mỹ diễn ra một cách “an toàn, hợp pháp và có trật tự.” Bây giờ, nếu như theo lời Chủ Tịch Cuba Raul Castro mới đây, đòi hỏi Mỹ phải tôn trọng chế độ Cộng Sản ở quốc gia này, nghĩa là Cuba vẫn không từ bỏ “búa liềm,” sau khi mở cửa bang giao, sẽ có bao nhiêu người Cuba tìm cách đến Mỹ nữa. Chỉ trong năm 2014 này, tuần duyên Hoa Kỳ đã bắt được hơn 2,000 di dân Cuba mạo hiểm tìm đường vượt biển chạy khỏi chế độ Cộng Sản. Chúng ta cũng biết rằng khoảng cách từ Cuba đến Key West, Florida, không bao xa.

Rồi đây khi có bang giao trở lại giữa Cuba và Hoa Kỳ, những người chấp nhận chết chóc ngày trước để vượt biển đến Hoa Kỳ, sẽ có dịp trở lại du lịch, viếng thăm hay “về quê ăn Tết” như những người Việt Nam của chúng ta. Elian cũng có cơ hội được Cuba gửi trở lại du học ở Hoa Kỳ. Cán bộ Cộng Sản Cuba cũng sẽ có cơ hội xâm nhập cộng đồng người Cuba tị nạn ở Miami, hay nói chung là Florida, và cộng đồng này rồi đây cũng sẽ chia rẽ, hết sự đoàn kết, xung đột chính kiến, và khẩu hiệu “hòa giải” sẽ được nêu ra. Nhiều dân gốc Cuba sẽ có cơ hội trở lại quê nhà để đầu tư, buôn bán và tình trạng này sẽ không khác gì người Việt chúng ta đã liều chết vượt thoát ra khỏi quê hương, nay lại có cơ hội trở về nơi chốn họ đã bỏ ra đi.

Và trong tình trạng Cuba nghèo đói vì bị cấm vận từ suốt 50 năm nay, sẽ có cảnh Cuba hải ngoại tị nạn “áo gấm về làng.” Phi trường La Havana rồi đây sẽ có hằng trăm thân nhân chờ đợi đón một “Cuba kiều” về thăm quê hương, không khác gì quang cảnh của Tân Sơn Nhứt 10, 20 năm về trước. Và rồi dân Cuba ở Mỹ sẽ có cơ hội “bảo lãnh” cho thân nhân ruột thịt đến Mỹ, sẽ có thanh niên hay ông già về Cuba lấy vợ. Ai muốn hút xì gà Havana hảo hạng thì kỳ này tha hồ, ai hảo ngọt, sẽ có đường cát Cuba giá rẻ mạt.

Liệu trong suy nghĩ của chúng ta, những cái chết như của bà mẹ Elian Gonzalez trên Vịnh Mexico và hàng trăm nghìn người Việt Nam bỏ mình trên biển Đông có còn ý nghĩ gì không? (*)

(*) Theo con số của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, từ năm 1975 đến 1985 có 849,228 người vượt biển, trong đó năm 1981 Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế cho rằng phân nửa số người vượt biển đã chết dưới tay hải tặc.

Kẻ gây thương tích cho Giáo hoàng John Paul trở lại Vatican

Kẻ gây thương tích cho Giáo hoàng John Paul trở lại Vatican

Cố giáo hoàng người Ba Lan qua đời năm 2005.

Cố giáo hoàng người Ba Lan qua đời năm 2005.

28.12.2014

Tay súng Thổ Nhĩ Kỳ từng mưu sát bất thành Giáo hoàng John Paul năm 1981, hôm nay, 27/12, đã quay trở lại Vatican để đặt hoa hồng trắng lên mộ ông. Cố giáo hoàng người Ba Lan qua đời năm 2005.

Một phát ngôn viên của Vatican cho biết chuyến thăm mộ của Mehmet Ali Agca diễn ra ngắn ngủi. Agca đã đứng im lặng trước khi đặt hai bó hoa hồng trắng lên một cố giáo hoàng từng tha thứ cho kẻ tấn công mình.

Giáo hoàng John Paul tới thăm kẻ tấn công mình tại một nhà tù Italia ba năm sau vụ nổ súng, và sau đó đã can thiệp để cho hắn ta được tự do năm 2000.

Agca sau đó đã bị dẫn độ sang Thổ Nhĩ Kỳ, và tại đây, tay súng này đã bị kết án vì sát hại một nhà báo Thổ Nhĩ Kỳ.  Agca hoàn thành việc thụ án 10 năm tù giam năm 2010.

Vụ tấn công vào Giáo hoàng John Paul đã để lại nhiều câu hỏi về những kẻ đồng lõa với Agca.

Thoạt đầu tay súng này nói rằng ông ta hành động một mình, nhưng sau đó lại tìm cách liên kết Bulgaria và Liên bang Xô Viết với âm mưu này.

Hồi năm 2006, một ủy ban nghị viện của Italia kết luận rằng “không còn bất kỳ nghi ngờ gì” là Liên bang Xô Viết chịu trách nhiệm gây ra vụ tấn công. Tuy nhiên, giả thuyết này chưa khi nào được chứng minh.

Ủy ban này cho rằng khối Xô Viết coi Giáo hoàng John Paul là mối nguy hiểm vì ông ủng hộ phong trào lao động Đoàn kết tại nơi ông sinh ra là Ba Lan.

Huế: Bỏ tiền tỷ xây ‘nhà dịch vụ’ rồi đập bỏ

Huế: Bỏ tiền tỷ xây ‘nhà dịch vụ’ rồi đập bỏ

Nguoi-viet.com
HUẾ (NV) –  “Lại quả” từ việc xây cầu chưa đủ, Ban Đầu Tư và Xây Dựng Giao Thông Thừa Thiên-Huế tiếp tục xây nhà dịch vụ để rút tiếp số tiền thừa. Tuy nhiên, nhà dịch vụ này vừa xây xong đã đập bỏ.

Ngôi nhà dịch vụ đã xây dựng sắp xong phải tháo dỡ. (Hình: Tuổi Trẻ)

Tờ Tuổi Trẻ cho biết, Ban Đầu Tư và Xây Dựng Giao Thông Thừa Thiên-Huế vừa tháo dỡ một phần ngôi nhà hai khối tại công viên phía nam cầu Dã Viên, thành phố Huế. Ngôi nhà này ở ngay sát ngã ba sông Hương và sông An Cựu, xây sắp xong phải tháo dỡ vì choán tầm nhìn, làm ảnh hưởng cảnh quan sông Hương.

Sau khi làm xong cầu Dã Viên còn thừa một khoản vốn, tỉnh Thừa Thiên-Huế đã đồng ý giao Sở Giao thông tiếp tục đầu tư hạng mục hoàn trả mặt bằng bờ sông Hương ven đường Bùi Thị Xuân ở phía nam cầu Dã Viên.

Khu đất này nằm ngay ngã ba sông Hương và sông An Cựu rộng 23,548m2, được Sở Giao Thông Vận Tải Giao Ban Đầu Tư và Xây Dựng Giao Thông lập dự án thành một điểm xanh có bố trí một số kiến trúc có thể khai thác dịch vụ.

Đến cuối năm 2013, trong số các hạng mục được xây, kiến trúc chính là ngôi nhà dịch vụ đúc hai khối, mái ngói rộng 165m2 đang trong giai đoạn hoàn thành thì nhận được rất nhiều phản ứng của các sở ngành.

Một số giám đốc sở và lãnh đạo thành phố Huế cho rằng tòa nhà quá xấu, choán tầm nhìn ra sông Hương và phá vỡ cảnh quan khu vực này. Tháng 11, 2013, tỉnh Thừa Thiên-Huế có văn bản đề nghị dừng thi công công trình, đề nghị Sở Giao Thông Vận Tải phối hợp với các ban ngành khác kiểm tra, nghiên cứu lại phương án kiến trúc phù hợp với vị trí vốn rất nhạy cảm về mặt cảnh quan đô thị để trình tỉnh xem xét.

Sau khi đưa ra nhiều phương án đều bị bác, Sở Giao Thông Vận Tải tiếp tục đề xuất theo hướng đập bỏ phần mái khối nhà sau của khu dịch vụ để biến thành mái bằng. Khối nhà trước cũng đập bỏ mái… Phương án này được lãnh đạo tỉnh chấp thuận và đang thực hiện.

Nhiều cán bộ và người dân đặt vấn đề số tiền đầu tư cho hai khối nhà này lên đến vài tỷ đồng, nay phải phá bỏ một phần gây lãng phí như vậy ai sẽ chịu trách nhiệm? (Tr.N)

ƠN CHỮA LÀNH DO MẸ MARIA CHUYỂN CẦU

ƠN CHỮA LÀNH DO MẸ MARIA CHUYỂN CẦU

Trích EPHATA 634

Con là Anna Kiều Thị Phước Hậu, chồng con là Giuse Nguyễn Văn Tiến, xin được kể về ân phúc Mẹ Maria đã cứu sống con gái của chúng con là bé Maria Goretti Nguyễn Kiều Tú Anh.

Bé Tú Anh sinh ngày 6.7.2007. Khi bé vừa tròn 13 tháng, qua siêu âm tại nhiều bệnh viện lớn của Sàigòn, các bác sĩ cho vợ chồng chúng con biết bé bị ung thư thận. Tháng 8 năm 2008, bé phải vào Bệnh Viện Nhi Đồng 2. Ban đầu bác sĩ chẩn đoán sẽ mổ bóc khối u nằm trên thận, nhưng đến khi mổ thì, vì không thể bóc được, bác sĩ phẫu thuật đành phải cắt bỏ luôn quả thận bên trái. Vợ chồng con rất xót xa đau khổ thay cho con mình, chỉ còn biết đến với Chúa cầu nguyện trong phó thác.

Thế rồi thật bất ngờ, chúng con biết được trong khuôn viên Bệnh Viện Nhi Đồng 2, trước đây là Bệnh Viện Grall của quân đội Pháp, sau được đổi tên là Bệnh Viện Đồn Đất, vẫn còn giữ được một tượng đài kính Đức Mẹ ngay bên cạnh ngôi Nhà Nguyện mấy chục năm nay sau biến cố 1975, đã bị chính quyền bắt đóng cửa, không còn có Linh Mục đến dâng Thánh Lễ cho các bệnh nhân và người chăm sóc như trước đây. Vậy là vợ chồng chúng con đã tìm đến với Mẹ Maria để cầu khẩn van nài cho cháu bé Tú Anh được ơn Thiên Chúa cứu chữa nguy tử.

Sau hai tuần nằm hồi sức hậu phẫu, bé Tú Anh được chuyển sang Bệnh Viện Ung Bướu để được hóa trị vì khối u của bé được xác định là u ác. Các bác sĩ ung bướu hội chẩn và báo cho biết bưới thận đang phát triển ở giai đoạn I, sẽ phải điều trị trong khoảng 6 tháng. Hết thời hạn hóa trị, các bác sĩ tái khám và khẳng định trên 90% là Tú Anh đã dứt bỏ được căn bệnh ung thư quái ác. Chúng con vui mừng và tạ ơn Chúa và Mẹ đã thương chữa lành cho bé.

Tuy nhiên, đến giữa tháng 3 năm 2009, khi chưa được tròn 2 tuổi, bé Tú Anh được làm các xét nghiệm sau thời gian hóa trị để chuẩn bị khép hồ sơ, cho bé xuất viện, thì không ngờ, các bác sĩ lại phát hiện có một khối u mới mọc ở quả thận bên phải, ngay chỗ vừa mổ, khối u lớn và dạng nước. Thế là bé lại phải chuyển về Bệnh Viện Nhi Đồng 2 để làm phẫu thuật một lần nữa.

Các bác sĩ Nhi Đồng cho biết ca mổ lần này, khối u cần được bóc tách hết sức thận trọng, nếu sơ ý để vỡ thì nguy hiểm vô cùng. Đến lúc này cả đôi bên nội ngoại đều suy sụp tinh thần, không ai nghĩ bé có thể qua khỏi. Riêng vợ chồng chúng con thì khủng hoảng, xót xa thẫn thờ, chẳng còn biết làm gì ngoài việc ngồi khóc lóc bên tượng Mẹ.

Có lúc nhìn thấy bé Tú Anh đau đớn quá, con là mẹ của bé đã xin khấn với Mẹ Maria, nếu được hãy đổi mạng sống của chính con cho bé, cứu thoát bé khỏi nỗi khốn khổ đang phải chịu từng giờ từng phút. Còn cha của bé, hằng ngày anh đi làm, đến chiều lại vào ngay bệnh viện, cứ hai ba ngày lại mua hoa mang đến tượng đài Mẹ rồi đọc kinh cầu nguyện miên man.

Khoảng thời gian bé Tú Anh lên bàn mổ, chúng con lại càng kêu khấn tha thiết. Đến khi bé được chuyển sang phòng Hồi Sức, chúng con được bác sĩ cho biết khi mổ, khối u bị vỡ, bé lại bị thiếu máu trầm trọng, may sao bé đã vượt qua được cơn nguy tử một cách lạ lùng.

Đến ngày 1.6.2009, do khối u lại tái phát, bé Tú Anh được chuyển qua Bệnh Viện Ung Bướu một lần nữa để xạ trị và hóa trị liên tục. Vợ chồng chúng con lại hết lòng phó thác khẩn nguyện xin Mẹ Maria phù hộ, cầu bầu cùng Chúa ơn chữa lành cho đứa con bé bỏng tội nghiệp, chưa tròn hai tuổi mà đã phải trải qua các cuộc đại phẫu và những cơn đau đớn vượt cả sức chịu đựng của người lớn.

Thời gian thử thách cho bé, và cho cả gia đình chúng con kéo dài thêm gần 2 năm nữa cho đến khi hoàn tất phác đồ điều trị 18 tháng. Bé Tú Anh luôn bị thiếu tiểu cầu nghiêm trọng, rụng hết tóc trên đầu, thường xuyên phải chuyển từ bên điều trị sang khoa Cấp Cứu của Bệnh Viện Ung Bướu.

Cuối cùng, ngày 26.4.2011, bé Tú Anh được xuất viện trong thể trạng và tinh thần hoàn toàn bình phục, gây ngỡ ngàng cho bên bệnh viện về sức chịu đựng và khả năng hồi sinh của bé, chỉ riêng gia đình chúng con hiểu được vậy là chính Mẹ Maria, ngang qua sự tận tâm tận lực của các y bác sĩ, đã cứu được đứa con yêu dấu của chúng con khỏi căn bệnh nan y và tử thần quái ác.

Đến hôm nay, khi con viết kể lại những dòng chữ này, bé Maria Goretti Nguyễn Kiều Tú Anh đã được 7 tuổi, đang học lớp Một, khỏe mạnh, thông minh, ngoan ngoãn, ở Nhà Thờ đặc biệt giỏi Giáo Lý, và ở nhà đã biết cách cầu nguyện đơn sơ với Chúa và Đức Mẹ.

Gia đình chúng con xin cúi đầu hết lòng tạ ơn Thiên Chúa, biết ơn Mẹ Maria đã thương chuyển cầu ơn chữa lành cho con của chúng con, cũng là thay đổi hẳn cuộc đời tin và sống đạo của mỗi người trong gia đình chúng con. Amen.

Anna KIỀU THỊ PHƯỚC HẬU, ghi lại, Bình Dương 4.2014
Lm. Giuse LÊ QUANG UY, DCCT, biên tập, Sàigòn 11.2014

HỒNG ÂN SỰ SỐNG

HỒNG ÂN SỰ SỐNG

Trích EPHATA số 634

Vợ chồng con học khóa Giáo Lý Hôn Nhân Agape 25 với cha Quang Uy tại DCCT Sàigòn từ giữa tháng 10 năm 2011. Hôm nay con xin kể lại câu chuyện về ơn lành của Thánh Giêrađô và Mẹ Maria Hằng Cứu Giúp đã ban cho bé Phương Vy, con gái đầu lòng của chúng con. Trước đó, mấy năm liền hiếm muộn, vợ chồng con đã từng đến DCCT Sàigòn, cầu xin Mẹ Maria và Thánh Giêrađô cho con sớm có em bé, và không lâu sau đó, con được nhậm lời và đã có thai bé Cecilia Cao Nguyễn Phương Vy…

Đến ngày 7.8.2014, tính ra bé đã sinh được 1 tháng 2 ngày. Sáng hôm đó bé sốt cao 38 độ, con ẵm bé đi bác sĩ tư cho uống thuốc nhưng không bớt mà sốt càng cao hơn. Bé rên rỉ mệt mỏi, nên đến khuya, vợ chồng con nóng ruột quá vội đưa bé đi Bệnh Viện Nhi Đồng 2, nhập viện 1g30 khuya. Y tá đo nhiệt 39 độ, đưa viên thuốc nhét hậu môn cho hạ sốt, rồi kêu vợ chồng con ẵm ra ngoài lau nước ấm toàn thân bé. Sau một hồi lâu, bé vẫn không bớt sốt mà lại càng sốt cao thêm, lên đến 39 – 40 độ. Bác sĩ cứ bảo lau nước ấm mà không cho thêm thuốc hạ sốt gì hết.

Đến lúc bé sốt 40 độ thì khắp người nổi bông tím hết, vợ chồng con hoảng quá, chồng con không kềm được nữa, mới la toáng lên với bác sĩ: “Nếu con tôi sốt vậy mà ở nhà lau nước ấm cho hạ sốt thì tôi để ở nhà lau cũng được, chứ ẵm vô đây làm chi cho khổ ?” Lúc đó bác sĩ mới chịu khám bé lại và cho thêm viên thuốc nhét hậu môn. Thế nhưng bé chỉ hạ sốt được nửa tiếng rồi sốt lại ngay. Bác sĩ bảo phải đi xét nghiệm máu, và bé cứ sốt cao như vậy cho đến sáng mà bác sĩ vẫn không can thiệp gì, cũng chẳng đưa ra giải pháp nào hết.

Sáng lại thì có hai bác sĩ khác vào khám cho bé và nói tình trạng của bé nguy hiểm, nên đưa bé vào cấp cứu, đo điện tim và cách ly không cho cha mẹ vào. Nằm cách ly đến trưa thì y tá nói mẹ vào mặc đồ lại cho bé và chuyển qua khoa khác, nhưng vẫn phải nằm cấp cứu, dù lúc này bé giảm sốt còn 38 độ mấy thôi. Bác sĩ kêu con ra nói chuyện: bé sốt cao lắm nên nghi ngờ bé bị viêm màng não và nhiễm trùng máu, cần phải cho bé đi lấy tủy và bắt đầu chích kháng sinh… Đến hết ngày hôm đó bé vẫn chưa hạ sốt.

Sáng hôm sau, bác sĩ khám lại, nói bé không phải bị viêm màng não mà là bị viêm phổi và nghi ngờ bé bị sốt gì đó, con không nhớ rõ tên mà ở Việt Nam chưa có ai bị, chỉ có ở nước ngoài mới bị thôi. Nghe xong, tay chân con bủn rủn, con hoảng quá vội điện thoại cho em gái của con tới ngay Nhà Thờ DCCT Kỳ Đồng đọc kinh cầu nguyện với Mẹ Maria Hằng Cứu Giúp và Thánh Giêrađô.

Và thật không ngờ, đến trưa thì bé đỡ sốt, sáng hôm sau thì hết hẳn. Bác sĩ đọc kết quả xét nghiệm cũng thông báo bé không bị sốt giống như bệnh sốt bên nước ngoài. Ở bệnh viện một tuần, ngày nào bé cũng phải chích kháng sinh 3 lần, bé lại bị lây thêm bệnh ho hen khò khè của một bệnh nhi khác trong phòng cấp cứu. Tổng cộng bé đã phải nằm tới mười mấy ngày sau đó, bác sĩ mới cho xuất viện. Chính các bác sĩ và y tá cũng không hiểu do đâu mà bé hết sốt và phục hồi, chỉ có vợ chồng chúng con là xác tín tất cả nhờ ơn Chúa, Mẹ Maria Hằng Cứu Giúp, Thánh Giêrađô đã cứu cháu khỏi cái chết cận kề.

Mẹ của bé PHƯƠNG VY, 9.2014

CẢI TẠO NGƯỢC

CẢI TẠO NGƯỢC

Trích EPHATA  634

Dưới đây là một trích đoạn trả lời phỏng vấn ông Nguyễn Hoàng Đức với đài RFA:

“Tôi đã từng làm trong Phòng Tôn Giáo của Bộ Công An. Trong Phòng ấy người ta có “đối sách” về Đức Cha mà sau này là Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Ông bị chuyển đổi từ miền Nam ra với cái tội rất to là vì ông là cháu của Ngô Đình Diệm và trở về Sàigòn làm Phó Tổng Giám Mục theo ý là lót ổ để lên Tổng Giám Mục.

Và ông cứ thế bị chuyển ra ngoài Bắc. Trong thời gian ông ấy bị cầm cố ở Hà Nội ( có nghĩa là không ở tù ) tức là được giữ trong mật viện. Có một đội trông ông ta, nhưng tôi là một cán bộ cũng khá lâu năm, một sĩ quan khá lâu năm nên tôi đề nghị để tôi ra học tiếng Pháp với cha, trên tinh thần là luyện tiếng Pháp chứ không phải để trông cha. Cụ thể là như thế…

Sau khi học tiếng Pháp với ngài thì tôi cảm nhiễm tinh thần của Đức Cha. Sau này thì tôi thôi việc, lý do là sau khi xảy ra sự kiện Thiên An Môn tôi không còn muốn làm công an nữa, vì tôi làm ở Cục Chống Phản Động nên biết dễ phải đi đàn áp và tôi đã xin chuyển ngành nhưng không được, tôi xin thôi việc cũng không cho. Tôi vẫn cứ bỏ việc.

Sau khi vào Sàigòn tôi làm cho dầu khí Việt Nam. Tôi có đi một số các Nhà Thờ, Nhà Thờ trung tâm Đức Bà, Nhà Thờ Kỳ Đồng… Sau khi ra Hà Nội thì tôi được mặc khải trong một giấc mơ là tôi đi Nhà Thờ và tôi có rửa tội.

Đúng đêm tôi rửa tội ở Nhà Thờ lớn thì cha Ngân, bây giờ trở thành Giám Mục, bảo với cha Hùng, hiện nay đang học bên Ý hay bên Pháp gì đấy, mời tôi viết diễn giải về Đức Tin, và tôi có viết bài “Con đường Đức Tin qua cây cầu FX. Nguyễn Văn Thuận”. Bài này đã gởi qua Tòa Thánh và nằm trong hồ sơ và đã được cha Sỹ đang ở Việt Nam xin đưa chữ ký vào những bản dịch khoảng 4, 5 thứ tiếng. Tôi hiểu là việc phong Thánh cần phải có phép lạ. Phép lạ thứ nhất là Đức Tin. Phép lạ thứ hai là chữa bệnh. Phép lạ thứ ba là mồ mả phát. Tôi là một trong những phép lạ về Đức Tin.”

NGUYỄN HOÀNG ĐỨC – RFA link

Nhà văn Nguyễn Hoàng Đức nguyên là công an, từng học tiếng Pháp với Đức cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Anh đã viết một chuyên luận về: “Hành trình Đức Tin qua cây cầu FX. Nguyễn Văn Thuận” để mô tả lại quá trình biến đổi tình cảm, tâm lý và đến với Chúa của anh. Tài liệu đó hiện đang được Bộ Phong Thánh ở Roma lưu giữ xem như một phép lạ Đức Tin.

Được Hội Đồng Công Lý và Hòa Bình Tòa Thánh Vatican mời qua Rôma làm chứng về Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận nhân dịp lễ kết thúc điều tra phong Chân Phúc cấp Giáo Phận. Ngày 2.7.2013 anh lên đường sang Rôma, nhưng đã bị công an ngăn chặn và thu hộ chiếu tại sân bay Nội Bài mà không có lý do rõ ràng.

Đức cố Hồng Y sống 13 năm trong ngục tù Cộng Sản, một số sự việc trong đời sống tù đày đã được ngài kể lại trong “Năm chiếc bánh và hai con cá”, tác phẩm được dịch ra 8 thứ tiếng, để phục vụ các tham dự viên ‘Những Ngày Giới Trẻ’ tại Paris năm 1997. Mời bạn đọc xem lại vài trích đoạn sau:

Có lúc Chúa dùng Giáo Dân để dạy tôi cầu nguyện

Thời gian bị quản thúc ở Giang Xá, có ông lão nhà quê, tên là ông quản Kính, từ Giáo Xứ Ðại Ơn lẻn vào thăm tôi. Tôi không bao giờ quên được lời ông khuyên tôi: “Thưa cha, cha không hoạt động tông đồ được thì xin cha cầu nguyện cho Hội Thánh; ở trong tù cha đọc một kinh hơn một nghìn kinh cha đọc lúc ở ngoài tự do !”

Ðức Mẹ còn sử dụng cả người cộng sản để nhắc tôi cầu nguyện

Ông Hải đã từng ở tù, nằm cùng buồng với tôi để mật thám tôi, sau đã thành bạn của tôi. Trước ngày ông ta ra về, ông đã hứa với tôi: “Nhà tôi ở Long Hưng, chỉ cách La Vang 3km, tôi sẽ đi La Vang cầu nguyện cho anh”.

Tôi tin lòng thành thật của anh bạn, nhưng tôi hoài nghi làm sao một người cộng sản mà đi cầu nguyện Ðức Mẹ cho tôi ! Sáu năm sau, đang lúc tôi ở biệt giam, tôi đã được một bức thư của ông Hải, lạ lùng thật ! Lạ hơn nữa là lời lẽ của ông như sau: “Anh Thuận thân mến, tôi đã hứa với anh, tôi sẽ đi cầu nguyện Ðức Mẹ La Vang cho anh. Mỗi Chủ Nhật, nếu trời không mưa, lúc nghe chuông La Vang, tôi lấy xe đạp vào trước đài Ðức Mẹ, vì chiến tranh bom đạn đã đánh sập Nhà Thờ rồi. Tôi cầu nguyện thế này: Thưa Ðức Mẹ, tôi không có đạo, tôi không thuộc kinh nào cả. Nhưng tôi đã hứa sẽ đi cầu nguyện Ðức Mẹ cho anh Thuận, nên tôi đến đây. Xin Ðức Mẹ biết anh Thuận cần gì thì cho anh ấy”.

Tôi hết sức cảm động. Tôi đọc đi đọc lại rồi đặt thư xuống nhắm mắt lại: “Lạy Mẹ, Mẹ đã dùng anh cộng sản này để dạy con cầu nguyện; chắc Mẹ đã nhậm lời anh ấy, con mới còn sống đây !” ( Ảnh chụp Đức Hồng Y Thuận và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 tại Roma )

Ở trại giam Phú Khánh, một đêm tôi đau quá, thấy một người gác đi qua, tôi kêu: “Tôi đau quá, xin anh thương tình cho tôi thuốc !” Anh ta đáp: “Ở đây chẳng có thương yêu gì cả, chỉ có trách nhiệm“.

Ðó là bầu khí chúng tôi ở trong tù.

Lúc tôi bị biệt giam, trước tiên người ta trao cho năm người gác tôi: đêm ngày có hai anh trực. Cứ hai tuần đổi một tổ mới, để khỏi bị tôi làm nhiễm độc. Một thời gian sau không thay nữa, vì “cấp trên” nói: “Nếu cứ thay riết thì sở công an bị nhiễm độc hết !”

Thực thế, để tránh nhiễm độc, mấy anh không nói với tôi, họ chỉ trả lời “có” hoặc “không”. Họ tránh nói chuyện với tôi. Buồn quá ! Tôi muốn lịch sự vui vẻ với họ, họ vẫn lạnh lùng. Phải chăng họ ghét “cái mác phản động” nơi tôi: Tất cả áo quần đều đóng dấu hai chữ lớn “cải tạo”, kể từ ngày bước chân vào trại Vĩnh Quang ở Bắc Việt.

Tôi phải làm thế nào ?

Một đêm đông lạnh quá, không ngủ được, tôi nghe một tiếng nhắc nhủ tôi: “Tại sao con dại thế ? Con còn giàu lắm: Con mang tình thương Chúa Giêsu trong tim con. Hãy yêu thương họ như Chúa Giêsu đã yêu con”.

Sáng hôm sau, tôi bắt đầu mến họ, yêu mến Chúa Giêsu trong họ, tươi cười với họ, trao đổi đôi ba câu nói… Tôi thuật lại những chuyến đi ra nước ngoài, cuộc sống, văn hóa, kinh tế, khoa học kỹ thuật, tự do dân chủ ở Canada, Nhật Bản, Philippines, Singapore, Pháp, Ðức, Úc, Áo, v.v… Những câu chuyện đó kích thích tính tò mò của họ, giục họ đặt nhiều câu hỏi. Tôi luôn luôn trả lời…

Dần dần chúng tôi trở thành bạn. Họ muốn học sinh ngữ Anh, Pháp… tôi giúp họ. Từ từ mấy chiến sĩ gác tôi trở thành học trò của tôi ! Bầu khí nhà giam đổi nhiều, quan hệ giữa họ với tôi tốt đẹp hơn. Thậm chí cả những ông xếp công an, thấy tôi đối xử chân thành, không những họ xin tôi giúp các chiến sĩ học hành ngoại ngữ, nhưng họ còn gửi anh khác đến học.

Tôi sống theo lời Chúa Giêsu dạy: “Ðiều gì con làm cho một người bé mọn nhất trong anh em là làm cho chính mình Ta”. Khi nào có hai hay ba người hợp nhau vì danh Thầy, thì có Thầy ở giữa họ”.

Hát kinh “Veni Creator”

Một hôm một ông xếp hỏi tôi:

– Ông nghĩ thế nào về tờ tuần báo “Người Công Giáo” ?

– Nếu viết đúng cả nội dung cả hình thức thì có lợi; nếu ngược lại thì không thêm đoàn kết, lại còn thêm chia rẽ, bất lợi cho cả người Công Giáo và cho cả nhà nước.

– Làm thế nào cải thiện tình trạng ấy ?

– Những cán bộ phụ trách về tôn giáo phải hiểu đúng mỗi tôn giáo thì việc đối thoại, tiếp xúc các chức sắc mỗi tôn giáo cũng như các tín hữu mới có tính cách xây dựng, tích cực và tạo nên thông cảm giữa đôi bên.

– Ông có thể giúp được không ?

– Nếu các vị muốn, tôi có thể viết một cuốn Lexicon ( từ điển bỏ túi ) gồm những danh từ thông dụng nhất trong tôn giáo, từ A đến Z, chừng nào các vị có giờ rảnh, tôi sẽ giải thích rõ ràng, khách quan. Hy vọng các vị có thể hiểu lịch sử, cơ cấu, sự phát triển và hoạt động của Giáo Hội…

Họ đã trao giấy mực cho tôi, tôi đã viết cuốn “lexicon” đó, bằng tiếng Pháp, Anh, Ý, Latinh, Tây Ban Nha, và Trung Quốc với phần giải thích bằng Việt ngữ. Dần dà tôi có cơ hội giải thích hoặc giải đáp thắc mắc, tôi chấp nhận làm sáng tỏ những chỉ trích về Giáo Hội. “Lexicon” ấy trở thành một cuốn giáo lý thực hành.

Ai cũng muốn biết Viện Phụ là gì, Thượng Phụ là gì, Công Giáo khác Anh Giáo, Tin Lành, Chính Thống Giáo chỗ nào ? Tài chánh của Tòa Thánh từ đâu mà có ? Có bao nhiêu tu sĩ, giáo dân làm việc trong giáo triều, huấn luyện Tu Sĩ, Giáo Sĩ thế nào ? Giáo Hội phục vụ nhân loại thế nào ? Tại sao Giáo Hội gồm có nhiều dân tộc, sống qua nhiều thời đại cũng bị bắt bớ, tiêu diệt, cũng mang nhiều khuyết điểm mà vẫn tồn tại ? Ngang đây là đến biên giới của siêu nhiên, của sự quan phòng của Thiên Chúa… Cuộc đối thoại từ A đến Z giúp xóa tan một số hiểu lầm, một số thành kiến, có những lúc trở nên thú vị và hấp dẫn. Tôi tin tưởng có nhiều người cởi mở, muốn tìm hiểu và với những biến chuyển trong thời đại ta, đã có những tầm nhìn mới mẻ và xây dựng.

Thời kỳ biệt giam ở Hà Nội, tôi được biết có 20 chiến sĩ nam nữ trẻ học tiếng Latinh với một cựu Tu Sĩ, để có thể đọc các tài liệu của Giáo Hội. Trong số mấy anh gác tôi có hai anh trong nhóm học Latinh. Trông thấy bài vở, tôi nhận thấy họ học tốt. Một hôm, một trong hai anh ấy hỏi tôi:

– Ông có thể dạy tôi một bài hát tiếng Latinh không ?

– Có nhiều bài hay tuyệt, nhưng biết anh thích bài nào ?

– Ông hát cho tôi nghe, tôi sẽ chọn.

Tôi đã hát Salve Regina, Veni Creator, Ave Maris Stella… Các bạn biết anh ta chọn bài nào không ? Anh ta chọn bài Veni Creator ( Xin Chúa Ngôi Ba đoái thương viếng thăm… ). Tôi đã chép trọn cả bài cho anh ta và anh ta học thuộc lòng. Mỗi sáng quãng 7 giờ, tôi nghe anh ta chạy xuống thang gỗ, ra sân tập thể dục, rồi múc nước vừa tắm vừa hát: Veni Creator Spiritus… Tôi rất cảm động, làm sao mỗi sáng trong nhà tù cộng sản lại có một cán bộ hát kinh “Veni Creator” cho mình nghe !

Nguồn: Diễn Đàn Người Giáo Dân

Nhà văn Nguyễn Quang Lập

Nhà văn Nguyễn Quang Lập

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-12-27

  • RFA

12272014-artis-nguy-quang-lap.mp3

Nhà văn Nguyễn Quang Lập, chủ blog Quê Choa

Nhà văn Nguyễn Quang Lập, chủ blog Quê Choa

Que Choa

Your browser does not support the audio element.

Vụ bắt giữ nhà văn Nguyễn Quang Lập còn được biết dưới cái tên Bọ Lập chủ trang blog Quê Choa đã làm dư luận nổi sóng. Mặc dù trong giới văn nghệ sĩ không hiếm người ganh ghét tài năng và sự nổi tiếng của anh nhưng số lớn hơn nhiều lần trong họ lại có thái độ trân trọng nhà văn tài năng này qua hàng trăm bài viết chia sẻ sự bất bình của họ trước một đồng nghiệp bị bắt vì lý do hết sức ngây ngô: tuyên truyền chống đối chế độ.

Nếu một nhà văn bị xem là chống đối chế độ vì loan tải những bài viết phê phán các bất công, tiêu cực trong những công trình xây dựng hay bùa phép gây mất mát hàng ngàn tỷ ngân sách là có tội với quốc gia thì có lẽ cách diễn giải luật pháp của nhà nước qua điều 88 đang dẫm đạp lên chứ không phải thi hành luật pháp.

Bọ Lập nổi tiếng không phải là một người đấu tranh dân chủ. Anh không phải là người hoạt động chính trị và nhất là chưa bao giờ viết bất cứ một văn bản nào cổ súy cho tinh thần đấu tranh mang ý nghĩa của một cuộc cách mạng, cho dù cách mạng mềm hay cứng và dưới hình thức nào. Anh tự nhận là mình thiếu can đảm và chỉ là một nhà văn, một blogger bất bình trước các vấn đề nóng bức của đất nước mà đem trang blog Quê Choa chuyên chở các ý tưởng mà anh thấy không thể có vấn đề nghiêm trọng nào đáng cho nhà nước kết án, dẫn đến việc bắt giữ anh.

Sứ mệnh, trách nhiệm của người cầm bút

Bọ Lập từng nói với chúng tôi:

Nguyễn Quang Lập: Trước đây “Quê Choa” chỉ lập ra để viết văn chương cho vui thôi chứ không nói chuyện thời sự báo chí gì đâu, nhưng dần dà thấy nhiều chuyện chướng tai gai mắt quá, mình là thằng nhà văn mà không lên tiếng thì chẳng ra làm sao cả, thế nên tôi buộc phải lên tiếng thôi chứ còn lúc đầu chỉ làm một blog văn chương cho vui chứ không có ý định làm cái gì cả. Nhưng dần dần cuộc sống nó đập vào mình, nó buộc mình phải lên tiếng. Nếu không lên tiếng thì mình thấy nó thế nào! Không được! Không xứng đáng là một thằng nhà văn! Buộc phải lên tiếng.

Trang blog Quê Choa từ khi khai sinh tới nay đã là vùng đất vun đắp cho biết bao bài viết giá trị bằng số lượng người xem đáng kinh ngạc. Bắt nguồn từ cách tiếp cận với công nghệ thông tin, Bọ Lập đã thấy được ảnh hưởng của một trang blog nếu mang đúng hơi thở thời đại, tức là những sinh hoạt chính trên lòng lề đường thời sự chứ không nằm ở những suy tư có tính triết học: trăn trở một mình, một bóng đêm, hay một số phận.

Bọ Lập mang nhiều số phận, nhiều hình ảnh, nhiều chân dung của từng con người thật vào sách của anh để giới thiệu tới những con người, những “số phận” không kém phần nghiệt ngã khác. Sách của anh đậm đặc nhân văn, blog của anh đầy ắp thời sự, cả hai làm cho người đọc yêu mến và cả hai làm cho không ít người khó chịu, đặc biệt khi họ đánh hơi thấy có hình ảnh của họ trong đó.

Hình ảnh của họ là ai? Là những quan liêu hách dịch, những trợ lý luồn cúi xu nịnh. Những lãnh đạo đầu ngắn nhưng bao tử quá to. Những cấu kết ma quỷ giữa thế lực này với nhóm lợi ích kia. Những con người khi thức dậy việc đầu tiên là nghĩ tới tiền, tới hợp đồng tới lừa lọc.

” Trước đây “Quê Choa” chỉ lập ra để viết văn chương cho vui thôi chứ không nói chuyện thời sự báo chí gì đâu, nhưng dần dà thấy nhiều chuyện chướng tai gai mắt quá, mình là thằng nhà văn mà không lên tiếng thì chẳng ra làm sao cả, thế nên tôi buộc phải lên tiếng thôi

Nguyễn Quang Lập”

Những con người ấy chằm chằm theo dõi Quê Choa và dĩ nhiên Bọ Lập phải biết nhưng đề phòng họ đến bắt thì Bọ rất chủ quan vì nghĩ mình tàn tật và không ai có can đảm đi bắt một người vô hại như anh.

Nguyễn Quang Lập: Tôi không bị mọc đuôi! Đơn giản là vì tôi què tôi có chạy đàng trời nếu có ai người ta muốn bắt. Họ theo tôi làm gì! Nhưng tôi biết có một sự khó chịu, một sự khó chịu nào đó, mơ hồ, nhưng cụ thể thì không có.

Dư luận phản ứng

Văn nghệ sĩ là giới nhạy cảm trước thân phận con người, cái làm nên tác phẩm, vì vậy đã rất bất bình với tấm thân xiêu vẹo của anh trong nhà giam. Nhà văn Tô Nhuận Vỹ, nguyên Tổng biên tập báo Sông Hương cho việc bắt giữ một người lâm trọng bệnh như thế là ngu muội và tàn nhẫn, ông nói:

-Riêng việc một nhà văn đang bị bệnh, một nhà văn có tiếng đã đóng góp trong văn học nghệ thuật đối với đất nước trong sáng tác, tôi nói về mặt sáng tác cái đã mà bắt họ là hoàn toàn không nên một tí nào và không tốt.

Về mặt sáng tác còn mặt hoạt động xã hội tôi sẽ nói sau, một người có đóng góp lớn, đang bị bệnh mà bắt thì lợi bất cập hại đối với những người bắt. Ngay bản thân nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là người trong Bộ chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam mà khi có một bài thơ tâm huyết thậm chí nhạy cảm thì gửi duy nhất cho Quê Choa thì có nghĩa là bản thân của Quê Choa không có gì quá đáng. Cũng có nghĩa là bản thân Quê Choa không có gì là tệ hại và đứng về mặt yêu nước của nó thì Bọ Lập có tâm huyết.

Cho nên nói một cách nhẹ nhàng thì những người chủ trương bắt Lập chỉ có thể nói khù khờ và ngu dại.

Con người của Bọ Lập chắc chắn không thể bị quên lãng cho dù anh có bị buộc phải ngồi tù bao nhiêu năm đi nữa. Lịch sử văn học Việt Nam cho thấy sự bắt bớ, đàn áp và tiêu diệt người sáng tác có tư tưởng đối lập luôn có kết quả ngược lại.

” Một người có đóng góp lớn, đang bị bệnh mà bắt thì lợi bất cập hại đối với những người bắt…Cho nên nói một cách nhẹ nhàng thì những người chủ trương bắt Lập chỉ có thể nói khù khờ và ngu dại

Nhà văn Tô Nhuận Vỹ “

Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo, một người bạn vong niên của Bọ Lập cũng không thể chấp nhận cách bắt người này ông cho biết:

-Việc bắt Nguyễn Quang Lập tôi cũng quá bất ngờ bởi vì anh Lập không những là một nhà văn và một người nổi tiếng mà viết lách rất ôn hòa, có cá tính mạnh nhưng thái độ lại rất ôn hòa. Hai nữa là anh ấy đang bệnh vì liệt nửa người nên tôi vẫn nghĩ cấn phải có cách nào tốt hơn bởi khống chế người ta qua cách họ phát biểu hay đăng những bài viết của người khác có tính phản biện mà bắt người thì làm cho gia đình rất là lo lắng và bạn bè cũng như dư luận người ta thấy là không nên làm mà phải có nhân văn, thiện tâm đối với người bệnh nó gây một chấn động không hay.

Còn nhà thơ Đỗ Trung Quân một trong vài người bạn chân tình của Bọ Lập trước khi bị bắt cho biết ông không ngạc nhiên. Nhà thơ cho rằng không bắt Bọ Lập mới là chuyện đáng ngạc nhiên. Một nhận xét chua chát nhất mà chúng tôi nhận được từ các nhà văn thân hữu của Bọ Lập:

-Tất cả những cái mà Lập đưa lên trang blog mà chúng ta thấy của những người viết khác nhau. Vị trí tên tuổi nghể nghiệp khác nhau như là một con đò chở vấn đề. Có những vấn đề khác nhau rất nhiều nhưng suy cho cùng đó là phản biện đưa đến một kết quả đúng đắn nhất cho một xã hội tốt đẹp. Tôi không có cảm giác bất cứ cái gì về những bài của Lập đưa nhưng nhà nước này không phản ứng tôi mới lấy làm lạ. Phản ứng là đúng bởi vì một nhà nước trong thể chế như thế này, với những điều luật như 258, như 88 thì không có gì mới là chuyện lạ. Cá nhân tôi không thấy là chuyện lạ.

” Nguyễn Quang Lập không đề phòng được người vào thăm trang blog Quê Choa tăng lên tới con số 100 triệu lượt người xem. Con số khổng lồ này có lẽ là nguyên nhân trực tiếp việc bắt chủ nhân”

Chúng tôi vẫn đùa với nhau như thế này: Chúng tôi là những tù nhân dự bị. Có một câu chuyện rất hay, trong một bữa tiêc của một người bạn khác anh không làm nghề viết lách mà chỉ là người kinh doanh bình thường anh nói “ngay khi tôi chọn một thái độ im lặng, không phản kháng không xuống đường thì thật ra tôi đã ngồi trong một nhà tù nhỏ trong nhà tù lớn. Bởi vì khi tôi chọn thái độ đó thì nỗi sợ hãi đã giam cầm tôi rồi”. Câu chuyện đó có thể khái quát lên rằng chúng tôi tự hiểu mỗi người tự cố làm hết sức mình cho đất nước cho xã hội còn điều gì nó đến thì phải đón nhận nó một cách bình tĩnh bởi vì chúng tôi ở cái tuổi không còn nông nỗi mà không suy nghĩ. Mà khi cái gì thấy đúng, lẽ phải thì chúng tôi chọn lựa nó và sự chọn lựa nào cũng có giá của nó cả.

Nỗi sợ của người cầm quyền

Nguyễn Quang Lập không đề phòng được người vào thăm trang blog Quê Choa tăng lên tới con số 100 triệu lượt người xem. Con số khổng lồ này có lẽ là nguyên nhân trực tiếp việc bắt chủ nhân của nó và bắt đầu từ ngày 6 tháng 12 Quê Choa đã trở thành quá khứ.

Nhà văn Thùy Linh nhận xét việc bắt Bọ Lập chỉ do tâm lý hoảng loạn của những người đang nắm quyền lực và bà cũng nhận xét rằng việc bắt bớ ấy sẽ không làm cho những người có cách làm việc như Bọ Lập chùn bước:

-Việc nhà nước bắt anh Nguyễn Quang Lập đúng là nó gây ra chấn động bởi vì anh Lập thực sự không đáng là người phải chịu sự đối xử bất công đến mức như thế. Bởi vì nếu theo con mắt nhà nước thì sự nguy hiểm có lẽ nhiều người con nguy hiểm hơn anh Lập nhiều nhưng không hiểu sao họ lại lựa chọn anh Lập. Có thể một phần vì ảnh hưởng của blog Quê Choa nó đến được rất đông đảo độc giả. Chúng ta không thể phủ nhận ảnh hưởng của cá nhân anh Lập đối với tiếng nói phản biện trong nước cho nên họ hoảng sợ, lo sợ.

Trong chừng mực nào đó nó giống như hành vi trả thù. Trả thù những tiếng nói, con người không chịu khuất phục. Việc này trong ngắn hạn có thể sẽ gây ra những lo âu trong giới cầm bút hay giới đấu tranh dân chủ nói chung nhưng về lâu dài tôi nghĩ điều đó không khiến người ta sợ hãi, chùn bước.

Thực tế cho tới giớ phút này có rất nhiều vụ bắt bớ đã xảy ra nhưng mà những tiếng nói đấu tranh dân chủ hay những hoạt động thì không hề có sự giảm bớt mà thậm chí có xu hướng ngày càng nhân rộng ra vì vậy việc bắt bớ của chính quyền đương nhiên phản tác dụng và người ta càng thấy rõ sự bế tắc trong biện pháp đối thoại của chính quyền đối với tiếng nói dân chủ. Cái sự bắt bớ này hoàn toàn là sự bế tắc.

Nhà văn Nguyễn Quang Lập từng nhận xét nhiều văn nghệ sĩ đã bị đối xử rất bất công như Phùng Quán trước đây hay Tống Văn Công ngày nay. Hai con người này đã khiến anh băn khoăn cho số phận của những ngòi bút chân chính. Lấy sự thật làm căn bản và khát khao mang sự thật ấy ra ánh sáng là lẽ sống của họ lại bị nhìn một cách méo mó và bất công:

” Có thể một phần vì ảnh hưởng của blog Quê Choa nó đến được rất đông đảo độc giả. Chúng ta không thể phủ nhận ảnh hưởng của cá nhân anh Lập đối với tiếng nói phản biện trong nước cho nên họ hoảng sợ, lo sợ.

Nhà văn Thùy Linh”

Nhà văn Nguyễn Quang Lập: Cá nhân tôi nhận xét Phùng Quán ngoài là một nhà thơ ông là người có tính công dân rất mạnh. Và tất cả những bài thơ anh hay nói mạnh mẽ ví dụ như “Chống tham ô lãng phí” hay “Lời mẹ dặn”, chỉ vì tính công dân mạnh và anh ấy muốn góp ý cho Đảng, cho xã hội những tiếng nói trung thực nhất của một nghệ sĩ. Thế nhưng có người đã cố tình hiểu nhầm ý tốt đẹp của Phùng Quán.

Riêng điều này tôi có nghĩ đến Tống Văn Công, một đảng viên, một tổng biên tập làm cách mạng bao nhiêu năm chứ có xa lạ gì, rất có tâm huyết mà cũng bị người khác cố tình hiểu sai hiểu chệch nó đi và quy kết ông ta quá nặng nề (là mưu đồ, thù nghịch…). Nếu làm như thế thì tất cả những kẻ sĩ ở nước Nam này mà muốn có tiếng nói trung thực với Đảng sẽ sợ không dám nói gì cả. Bản thân tôi cũng sợ không dám nói nữa, thật sự là thế. Khi trung thực góp ý thì có ý sai ý đúng. Ý đúng thì xem xét, ý sai thì không nghe và cùng lắm thì mắng lại người ta chứ quy kết người ta là không được.

Dù cẩn thận và đề phòng nhưng Bọ Lập vẫn chủ quan nghĩ mình đang làm những việc đúng đắn, cần làm trong guồng máy đang thiếu những nhân tố như anh. Anh không biết rằng chính anh là nhân tố cản đường thăng tiến của quyền lực chứ không phải ngược lại như anh và hàng triệu người đang nghĩ.

Thật đáng buồn cho thân phận nhà văn Việt Nam, nhất là những nhà văn tốt, có tâm huyết với ngòi bút và nhân vật của mình.