MẤT CẮP

MẤT CẮP

 Phạm Đình Trọng

Nhà thơ bị mất cắp một bài thơ thì cả thế giới mạng người Việt xôn xao như cả thế giới người Việt bị mất cắp thơ, dồn dập lên tiếng. Cả hệ thống báo chí lề Dân, lề Đảng vào cuộc vụ mất cắp thơ nhỏ nhặt. Những nhà nọ, nhà kia, học giả, học thật xúm vào vụ mất cắp thơ cỏn con.

Nhân dân bị mất cắp trắng tay thì chỉ có số ít người đau đớn, xót xa lên tiếng trong lẻ loi, đơn độc, giữa trùng trùng bạo lực hung hãn đàn áp.

Nhân dân bị đánh cắp mất quyền làm chủ đất nước, quyền làm chủ giang sơn gấm vóc, quyền làm chủ nhà nước. Quyền lực Nhân dân cũng như Hiến pháp đất nước là những giá trị tối cao của một quốc gia bảo đảm sự lành mạnh, ổn định và bền vững của đất nước thì cả quyền lực Nhân dân và Hiến pháp đất nước đều bị đánh cắp.

Hiến pháp là văn bản pháp luật nền tảng của luật pháp đất nước. Hiến pháp bảo đảm quyền lực của Nhân dân được thực thi trong cuộc sống, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân với đất nước và xã hội thì Hiến pháp đã trở thành Đảng pháp (Đảng quy). Chỉ một Điều 4 trong các bản Hiến pháp của nhà nước Cộng sản Việt Nam đã chuyển giao toàn bộ quyền lực của Nhân dân cho đảng Cộng sản. Hiến Pháp bị đánh tráo. Quyền lực của Nhân dân bị đánh cắp.

Nhân dân mất Hiến pháp, mất quyền lực là mất tất cả. Mất trắng mắt, trắng tay. Mất từ cái riêng đến cái chung. Mất quyền sở hữu mảnh đất hương hỏa của cha ông. Mất những giá trị làm Người. Mất quyền Công dân. Người Dân vẫn cầm lá phiếu đi bầu cử nhưng chỉ là rô bốt, bầu theo ý quyền lực đã định trước. Đến mất cả quyền làm chủ giang sơn, làm chủ vận mệnh đất nước. Người Dân sống trên mảnh đất của cha ông mình để lại, sống trên mảnh đất mồ hôi xương máu của chính mình gây dựng lên mà như sống tạm, sống nhờ, được ngày nào biết ngày đó. Người Dân sống trên quê hương đất nước máu thịt của mình có lịch sử oai hùng do cha ông mình và chính năm tháng cuộc đời mình viết lên mà như kẻ lưu vong nơi đất khách quê người.

Gần ngàn tờ báo các loại. Báo giấy. Báo tiếng. Báo hình. Trong đó có hàng trăm tờ báo sống nhởn nhơ bằng tiền thuế của Dân. Nhân dân bị mất đau như vậy, các tờ báo đều làm ngơ.

Hàng trăm ngàn trí thức được học hành trong nước, ngoài nước nhờ tiền thuế của Dân, nhận lương lậu bổng lộc hậu hĩ từ tiền thuế của Dân. Dân bị mất đau như vậy, trí thức ngậm miệng ăn tiền.

Báo chí làm ngơ, trí thức ngậm miệng trước nỗi đau của Nhân dân, của dân tộc bởi vì chính họ cũng bị mất cắp cái lớn lao, quí giá là quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận. Cái lớn, cái quí của chính mình cũng bị mất cắp mà không kêu được thôi đành la lối những cái mất cắp vặt vãnh mà quên đi cái mất cắp không dám kêu!

P.Đ.T.

99.9% xảy ra động đất lớn vùng Los Angeles trong 3 năm tới

99.9% xảy ra động đất lớn vùng Los Angeles trong 3 năm tới
Nguoi-viet.com

LOS ANGELES, California (AP)Có tới 99.9% là sẽ có trận động đất ở mức 5.0 Richter hay cao hơn trong vòng ba năm tới ở khu vực Los Angeles, nơi một trận động đất tương tự đã gây thiệt hại khoảng hơn $12 triệu hồi năm ngoái, theo một cuộc nghiên cứu của NASA và giới nghiên cứu trong đại học.


Một cuộc diễn tập chống động đất tại California hồi năm 2014. (Hình: Mark Ralston/AFP/Getty Images)

Kết quả cuộc nghiên cứu được công bố hôm Thứ Ba đã dựa trên đo đạc của hệ thống định vị GPS và radar đặt trên phi cơ về sự thay đổi trên vỏ ngoài của trái đất sau trận động đất 5.1 Richter hôm 28 Tháng Ba năm 2014 tại thành phố La Habra, nằm cách trung tâm Los Angeles chừng 20 miles (khoảng 32 km) về phía Ðông Nam. Trận động đất này gây một số thiệt hại, kể cả làm bể đường ống dẫn nước và nứt vỉa hè.

Vào năm 1994, một trận động đất khoảng 6.7 Richter, xảy ra ở thành phố Northridge, nằm về phía Bắc Los Angeles gây thiệt hại trị giá $25 tỉ, với hàng chục người thiệt mạng và khoảng 9,000 người bị thương.

Cuộc nghiên cứu xem xét khu vực bán kính khoảng 62 miles quanh tâm địa chấn ở La Habra. Các nhà nghiên cứu quan sát sự chuyển động của mặt đất, xem xét việc không có các trận động đất xảy ra lâu nay và tính toán sức nén của các đường nứt chưa được xả bớt.

Kết quả nghiên cứu cho thấy một trận động đất vào khoảng 5.0 Richter là điều rất có thể xảy ra từ nay tới ngày 1 Tháng Tư 2018, động đất ở mức 6.0 Richter hay mạnh hơn được cho biết là chỉ vào khoảng 35% và mức độ cao nhất lên tới khoảng 6.3 Richter.

Người đứng đầu cuộc nghiên cứu, nhà vật lý học địa chất Andrea Donnellan tại cơ quan Jet Propulsion Laboratory của NASA, cho hay đây không phải là sự tiên đoán mà là một xác suất của điều có thể xảy ra theo sự tính toán của họ.

Tham dự vào cuộc nghiên cứu của NASA có các khoa học gia từ các trường University of California, Irvine; Indiana University, Bloomington; UC Davis; và University of Nevada, Reno. (V.Giang)

Hành động của viên cảnh sát Mỹ đang gây xôn xao toàn dư luận nước này.

Hành động của viên cảnh sát Mỹ đang gây xôn xao toàn dư luận nước này.

Nhiệm vụ của viên cảnh sát này là sẽ viết giấy phạt cho các xe vi phạm bị bắt gặp trên đường! Và anh vẫn làm tốt nhiệm vụ của mình! Nhưng sẽ chẳng có gì đáng nói nếu không có hành động đằng sau tờ giấy phạt đó!

Theo kênh truyền hình CBS của Mỹ, một viên cảnh sát ở thành phố Plano, Texas sau khi viết xong vé phạt cho một người đàn ông trẻ tuổi đã lặng lẽ kẹp một tờ tiền 100 USD để trợ giúp anh ta nuôi con.

Hayden Carlo 25 tuổi sinh sống tại thành phố Plano, bang Texas, Mỹ có cuộc sống khó khăn và còn phải nuôi con nhỏ, vì không có tiền đi đăng ký xe ô tô nên đã để quá thời hạn đăng ký. Nhưng vì để kiếm tiền nên anh ta vẫn phải lái xe đi làm, kết quả đã bị một viên cảnh sát chặn lại bên đường.

Khi bị chặn lại, Hayden Carlo đã trình bày khó khăn của mình với viên cảnh sát. Viên cảnh sát này nghe xong nhưng cũng không vì thế mà thay đổi quyết định, anh ta vẫn viết một vé phạt cho Hayden. Khi Hayden Carlo tiếp nhận vé phạt này mới phát hiện ở bên trong tấm vé có kẹp thêm một tờ tiền mặt 100 USD.

Hayden đã bị sốc và vô cùng cảm động. Khi anh quay đầu lại nhìn thì phát hiện viên cảnh sát đã lặng lẽ rời đi. Một viên cảnh sát tại thành phố Plano đã chia sẻ: “Viên cảnh sát này đã làm đúng, nhưng chúng tôi hy vọng đây là việc riêng nên không phải tiết lộ tên của anh ấy.”

Sau khi thông tin này được đăng tải trên mạng, nó trở thành một chủ đề nóng của cư dân mạng và truyền thông.

Có người viết: “Thật bất ngờ! Tự nhiên mình cũng muốn bị phạt…”

Một người khác viết: “Một vé phạt 0 đồng kẹp một tờ tiền 100 USD, sự tôn nghiêm của pháp luật và sự ấm áp của tình người! Thật cảm động! Một chế độ tốt để nhân cách con người không ngừng thiện.”

Một cư dân mạng có nickname là Lisboa viết: “Tại sao tôi vẫn luôn được giáo dục rằng chế độ tư bản là một bóng đen hắc ám, là cần lên án phê bình mà lại có viên cảnh sát như vậy? Còn ở Trung Quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa mà luôn được cho là tốt thì lại rất ít gặp những cảnh tượng này? Rốt cuộc tình yêu thương là đến từ nơi nào?”

Nhiệm vụ của viên cảnh sát này là sẽ viết giấy phạt cho các xe vi phạm bị bắt gặp trên đường! Và anh vẫn làm tốt nhiệm vụ của mình! Nhưng sẽ chẳng có gì đáng nói nếu không có hành động đằng sau tờ giấy phạt đó!

Hiểm họa ở đồng bằng sông Cửu Long

Hiểm họa ở đồng bằng sông Cửu Long

Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Trong cuốn sách Cửu Long Cạn Dòng, Biển Ðông Dậy Sóng (nhà xuất bản Giấy Vụn, 2014), nhà nghiên cứu Ngô Thế Vinh đã báo động hai mối họa nước Việt Nam phải đối đầu. Chuyện Biển Ðông dậy sóng ai cũng biết nhờ tin tức thời sự mỗi ngày. Ít người Việt theo dõi mối họa thứ hai là “Cửu Long Cạn Dòng.”

Ký giả Navin Singh Khadka, chuyên trách các vấn đề môi trường sống của BBC mới viết một bài mới, báo động tình trạng đồng bằng sông Cửu Long nước ta đang gặp nạn; tai họa không những gây ra do các đập nước của Trung Quốc ở đầu nguồn sông Mekong mà còn vì hành động của chính người Việt Nam, trong lúc chính quyền hoặc làm ngơ không chú ý, hoặc bất lực không làm gì được.

Khi Cộng Sản Trung Quốc cho xây các đập thủy điện ngăn nước từ đầu nguồn sông Mekong, rồi các nước Lào, Thái Lan, Campuchia cũng đua theo, số lượng nước chảy xuống sông Cửu Long ở nước ta đã giảm bớt. Vì sức nước sông chảy yếu đi, nước biển đã dâng lên, tràn vào trong đất liền.

Hiện nay mỗi năm đồng bằng sông Cửu Long đã bị nước biển liếm mất 500 mẫu tây (năm cây số vuông). Theo Viện Khoa Học Thủy Lợi Miền Nam thì trong năm ngoái số ruộng lúa bị nước biển tràn và thấm vào còn rộng hơn nữa, mất 60 cây số vuông không thể trồng trọt. Theo các nghiên cứu khoa học của Ủy Ban Sông Cửu Long, một tổ chức của bốn nước Việt Nam, Thái Lan, Lào và Campuchia, với tốc độ nước biển xâm nhập hiện nay, tới cuối thế kỷ này vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ mất gần một nửa (40%) đất có thể trồng trọt, vì mực nước biển sẽ lên cao thêm cả thước.

Nhưng không cần phải đợi tới cuối thế kỷ đồng bào ta mới phải chịu tai họa. Ông Lê Anh Tuấn, thuộc Viện Nghiên Cứu Biến Ðổi Khí Hậu tại Ðại Học Cần Thơ, vì nước biển dâng lên, gần một nửa số dân sống trong vùng sông Cửu Long đang thiếu nước ngọt để sử dụng. Nước biển xâm lấn khiến những con đê ngăn nước mặn cũng hư không còn hiệu lực nữa. Tại vùng ven biển, nước mặn đã vào sâu thêm 60 cây số trong đất liền. Một số nhà vườn trồng xoài đã ngưng hoạt động, vì cây xoài chỉ sống được nếu nước mặn mỗi năm lên cao dưới 1.6 mili mét; mà hiện nay mức dâng cao đã gấp ba lần (5 mili mét). Nhiều nhà nông trồng lúa đã phải bỏ, quay sang nghề nuôi tôm. Theo nghiên cứu của Ủy Ban Sông Mekong, hiện nay số đất phù sa bồi đắp lên vùng châu thổ sông Mekong đã giảm bớt 85 triệu tấn so với năm 1992.

Ðầu mối tai họa này là chính sách khai thác điện lực và dẫn thủy nhập điền của chính quyền Cộng Sản Trung Quốc. Sông Mekong, tại Trung Quốc mang tên là Lan Thương (Lancang, 澜沧) chảy qua Tây Tạng và các tỉnh Thanh Hải, Vân Nam, trước khi đổ xuống phía Nam. Theo tạp chí World Rivers Review của cơ quan Sông Quốc Tế (International Rivers, IR), thì vào năm 2014, Trung Cộng đã xây dựng bảy đập thủy điện lớn ở đầu nguồn sông Mekong thuộc nước Tàu, con sông phát nguyên từ Tây Tạng chảy xuống Biển Ðông nước ta. Họ sẽ xây thêm 21 đập ngăn nước lớn khác trong 10 năm tới. Các nước hạ nguồn cũng bắt chước xây các đập nước khác; với dự án xây 11 con đập nữa.

Việc xây đập ảnh hưởng trên đời sống của các dân tộc phía dưới nguồn sông. Vào mùa không mưa, dân chúng hai bên bờ sông ở Lào, Thái Lan, phải dùng nước sông để tưới ruộng vườn, nay số lượng nước bị giảm. Khí hậu hai bên bờ sông cũng thay đổi vì khối lượng nước trong con sông có tác dụng giúp nhiệt độ ôn hòa, ít lên xuống hơn. Vì nhiệt độ thay đổi, đời sống các giống cá trong lòng sông cũng bị ảnh hưởng. Nhưng tai họa lớn nhất là nước biển lấn dần vào đất liền thì chỉ dân Việt ở đồng bằng sông Cửu Long gánh chịu. Ðập Don Sahong đang xây ở Hạ Lào, nhằm cung cấp điện cho Lào và Thái Lan sẽ ảnh hưởng lớn trên đời sống dân Campuchia và miền Nam Việt Nam.

Trong cuốn sách biên khảo viết dưới hình thức vừa tiểu thuyết vừa ký sự, Cửu Long Cạn Dòng, Biển Ðông Dậy Sóng, Bác Sĩ Ngô Thế Vinh đã mô tả hành động của chính quyền Trung Quốc: “Vào Tháng Tư năm 2001, Trung Quốc đã ký một thỏa hiệp về thủy vận trên sông Cửu Long nhưng chỉ với 3 quốc gia Miến Ðiện, Thái và Lào với kế hoạch vét lòng sông, cả dùng cốt mìn chất nổ phá tung những khối đá trên các đoạn ghềnh thác, các đảo nhỏ trên sông để khai thông mở rộng đường sông cho tàu lớn trọng tải từ 500-700 tấn có thể di chuyển từ cảng Tư Mao xuống Chiang Khong Chiang Sean Bắc Thái xuống thẳng tới Vạn Tượng. Trong khi Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia cuối nguồn, trực tiếp chịu ảnh hưởng của kế hoạch ấy thì bị gạt ra ngoài.”

Sau các tai nạn do các đập nước gây ra, mối họa thứ hai là các công trường khai thác cát. Mỗi năm hàng triệu mét khối cát được đào đem đi trong vùng hạ nguyên sông Cửu Long; nhiều nhất là ở Campuchia và Việt Nam. Quỹ Thế Giới Bảo Vệ Thiên Nhiên (World Wide Fund for Nature, WWF) cho biết riêng tại đồng bằng sông Cửu Long nước ta có 150 công trường đào lấy cát, trải ra trong 13 tỉnh, tổng cộng rộng 80 cây số vuông. Các công trường cát này đã được nhà nước cấp giấy phép. Trong năm năm nữa, các công trình xây cất sẽ cần đến một tỷ mét khối cát; làm giảm bớt số ruộng đất trồng trọt.

Các tổ chức bảo vệ môi trường đã báo động và cảnh cáo chính quyền Việt Nam về tai hại của việc cho phép các công trường đào cát hoạt động mà không nghiên cứu các ảnh hưởng sâu xa. Chính quyền biết các mối tai hại đó những không làm gì cả. Khi được lệnh từ cấp trên, các địa phương từ chối thi hành vì lý do không thể bồi thường thiệt hại cho các công ty đã cấp giấy phép. Trong vấn đề này chưa có luật lệ nào bảo vệ môi trường sống của mấy chục triệu người dân. Mà khi luật lệ không đầy đủ, không rõ ràng thì người ta càng có thêm cơ hội tham nhũng!

Ngoài nạn lấy cát không có kế hoạch toàn bộ, chính quyền còn đang thực hiện những công trình “vét bùn” nới rộng lòng sông ở các khúc chi lưu nhỏ, thay đổi đời sống dân hai bên bờ. Nhiều con sông phụ sâu dưới 5 mét không cho phép các tàu thủy lớn qua lại. Việc vét bùn sẽ mở rộng đường giao thông nhưng không có kế hoạch củng cố bờ sông cho vững chắc hơn; một hậu quả là sóng lớn xô vào làm bờ sông bị lở và đất ruộng bị thu hẹp.

Hiểm họa của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long còn tiếp diễn, vì một mặt, chính quyền Việt Nam không dám phản đối Trung Cộng trong việc xây dựng các đập thủy điện bất chấp ảnh hưởng tới các nước phía dưới, mặt khác vì chính quyền tham lam ăn hối lộ không quan tâm nghiên cứu và kiểm soát việc khai thác cát trong vùng sông chảy qua.

Chỉ khi nào Việt Nam có một chính quyền không lệ thuộc Cộng Sản Trung Quốc, nước ta mới có tiếng nói mạnh mẽ để cùng các nước trong vùng sông Mekong ngăn chặn việc Trung Cộng xây đập nước mà không tham khảo ý kiến các nước lân cận.

Chỉ khi nào Việt Nam có một guồng máy nhà nước do người dân bỏ phiếu bầu, biết lo cho dân thay vì chỉ lo tranh giành chức vụ để mưu lợi cho bản thân và gia đình thì đồng bào sống trong vùng đồng bằng sông Cửu Long mới thoát khỏi mối hiểm họa đang đe dọa.

H.O. ÔNG LÀ AI?

H.O. ÔNG LÀ AI?

(Viết để chào mừng Đại Hội 25 năm H.O. sắp tổ chức tại Westminster.)

Chu Tất Tiến

(Một nhóm chữ tắt gây nhiều tranh cãi nhất đã được phổ biến vào đầu năm 1990: H.O.

Có người cho là Human Operation, người khác lại cho là Human Objects! Một  giới chức chuyên về thủ tục bảo lãnh, di trú thì quả quyết rằng đó chỉ là thứ tự trong chương trình Orderly Departure Program (Ra Đi có trật tự) mà thôi, khi đến nhóm những người tù cải tạo trên 3 năm, thì bất ngờ đến danh sách có chữ H. ở đầu, rồi người ta cho con số 0 tiếp theo ngay đó, để rồi nhiều người lầm lẫn gọi là H.O (Hát Ô). Mãi đến sau này, một người bạn cho xem lá thư của tướng Vessey, người tham gia vào kế hoạch này, mới biết: “H.O”. là viết tắt của hai chữ “Humanitarian Operation” (Chiến dịch Nhân đạo).

Chiến dịch này là gì?

Năm 1982, Nguyễn Cơ Thạch, Bộ Trưởng Ngoại Giao của Cộng Sản Việt Nam đề nghị với Hoa Kỳ là sẽ trao cho Hoa Kỳ tất cả những tù nhân chính trị đã từng bị giam giữ từ năm 1975. Đề nghị này đã không được Hoa Kỳ chấp nhận ngay vì nghi ngờ thiện chí của Cộng Sản, đồng thời cũng e ngại rằng Cộng Sản Việt Nam sẽ trà trộn những gián điệp vào trong nhóm những người được sang Mỹ.

Đến tháng 5 năm 1985, Phạm Văn Đồng lại tái đề nghị vấn đề này. Tổng Thống Ronald Reagan, sau khi xem xét vấn đề một cách kỹ lưỡng, đã chấp thuận trên nguyên tắc là sẽ nhận tất cả những sĩ quan, viên chức thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa, từng bị tù đầy dưới chế độ Cộng Sản. Từ đó, ông đã giao cho Bộ Ngoại Giao lo tiếp xúc với Hà Nội để xúc tiến việc này. Ông Funseth, Phụ tá Ngoại Trưởng Hoa Kỳ được giao nhiệm vụ quan trọng này.

Sau khi Tổng Thống Reagan bật đèn xanh, thì dư luận Mỹ ủng hộ nồng nhiệt. Ông Paul D. Wolfowitz, Phụ Tá Ngoại Trưởng về vấn đề Đông Nam Á Châu và Pacific, nói: “Cá nhân tôi nghĩ rằng không ai xứng đáng được vào Hoa Kỳ dưới diện tị nạn hơn là những ai từng bị đầy đọa trong tù chỉ vì có liên lạc với chúng tôi. Đón nhận việc thả tù chính trị là một trong các mục đích quan trọng nhất của chương trình Tị Nạn của người Mỹ.”

Nhiều tờ báo Mỹ hoan hô việc này và nói: “Chúng tôi không thể hình dung ra được giây phút hạnh phút nhất của người Mỹ chúng tôi khi chúng tôi đón nhận nhóm cựu tù chính trị đầu tiên vào nước Mỹ.”

Dân biểu Robert Dornan thuộc Garden Grove, thì mong viếng thăm Hà Nội với một phái đoàn Mỹ để tìm thêm tin tức về những người Mỹ mất tích trong chiến tranh cũng như để áp lực Cộng Sản thả hết tù nhân chính trị.

Trong khi đó, thì cộng đồng Việt Nam trên toàn nước Mỹ hân hoan đón nhận tin này. Đặc biệt, bà Khúc Minh Thơ là người đã kiên trì đi tìm danh sách các quân nhân, viên chức Việt Nam Cộng Hòa từng bị tù đầy để nộp lên Bộ Ngoại Giao. Nhóm bà Khúc Minh Thơ làm việc không nghỉ để tìm cho ra mọi tên tuổi của cựu tù chính trị, và mong không thiếu sót một ai. Sau khi các cuộc thương lượng đạt được kết quả khá quan qua sự liên lạc như thoi đưa giữa cộng đống Việt và chính quyền Mỹ, thủ tục lo cho nhập cảnh vào nước Mỹ, vấn đề ăn ở của người Việt mới sang, được giao cho Cơ Quan Di Trú Tị Nạn để lo liệu. Cơ quan này, đặc biệt vô cùng, là được điều khiển bởi ông Tổng Giám Đốc người Việt Nam: Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hạnh, cho nên việc di chuyển bằng máy bay,  ăn ở, trợ cấp, thuốc men, được  tiến hành chu đáo. Nói tóm lại , đây là một trục hình tam giác. Bà Khúc Minh Thơ lo tìm hồ sơ, danh sách người tù, giao cho ông Funseth, người liên lạc với Cộng Sản, sau khi mọi chuyện xong xuôi, thì bàn giao cho cơ quan Di Trú, Tị Nạn để nơi đây lo các thủ tục di chuyển và hành chánh sau đó cho người tị nạn.

Từ đó, danh xưng “chương trình H.O.” ra đời. Ngày 5 tháng 1 năm 1990, chuyến phi cơ đầu tiên cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất đưa nhóm H.O. 1 đầu tiên sang Bangkok, để nơi đây làm trạm trung chuyển, phân phối người đi các tiểu bang, tùy theo có thân nhân bảo lãnh hay không. Nếu có thân nhân ở đâu, thì sẽ có máy bay đưa đến đó. Đa số “dân H.O. 1” đều có thân nhân bảo lãnh nên những ngày đầu tiên ở nước Mỹ có phần dễ thở hơn là những người không có thân nhân, bạn bè. Sau môt thời gian định cư tại Mỹ, để tìm hiểu đời sống của “dân H.O.”, cá nhân tôi đã thực hiện một số cuộc phỏng vấn với một số chiến hữu đi theo diện H.O. như sau:

Ngày đầu tiên đến thăm anh Bực, một chiến sĩ Biệt Động, vì không có thân nhân họ hàng chi cả, nên được một gia đình Mỹ bảo lãnh qua New York. Tại đây, vì lạnh quá, hai đứa con anh cứ chẩy máu mũi hoài, chịu không nổi, anh ngỏ ý muốn về California để có khí hậu tốt hơn, thì bạn bè và ông Sponsor cho tiền anh mua vé xe buýt về Quận Cam. Tới nơi, được một người bạn cho “share” cái gara, không giường, chỉ có mấy cái nệm rách. Người viết đến thăm, thấy những cặp mắt ngơ ngác đang ngồi co gối trên nệm nhìn lên. Hỏi chuyện, anh Bực cho biết:

-Hôm qua, hai đứa con tôi vẫn chảy máu mũi. Tôi dắt vợ và cõng con đi dọc đường Bôn Xa, thấy phòng mạch nào của Viêt Nam cũng gõ cửa, xin giúp cho con tôi ngưng chẩy máu mũi, nhưng không ông bà nào thèm rớ tới. Họ còn nhăn mặt, nhìn chúng tôi như nhìn những con khỉ trong sở Thú ấy…

Ngao ngán, thở dài. Người viết cũng không biết làm gì hơn là gọi đến một anh bác sĩ quen, nhờ giúp. Anh bạn Lương Y như Từ Mẫu này mau mắn nhận lời và giục anh Bực dẫn con đến khám gấp.

Sau khi từ giã anh Bực, đến thăm anh Nghĩa, thì anh độp ngay một câu hỏi:

-Này, anh có rành về luật không? Cho tôi hỏi về chuyện li dị được không?

-Sao vậy? Anh chị định chia tay nhau hay sao?

-Không phải tôi! Mà vợ tôi. Từ hôm sang đây, tôi cứ cắm đầu cắm cổ đi làm, thử mấy nghề với mấy anh bạn, nhưng cũng chưa đi đến đâu. Xe thì không có. Tôi đi xe buýt. Tự dưng, cô ấy cứ nằng nặc đòi ly dị. Nghe đâu, lúc cô ấy được bạn dẫn đi chơi, tới nhà bạn, gặp môt thằng Tếch Ních Xân nào đó dụ dỗ, thế là cô ấy cứ đòi bỏ tôi. Tôi nhất định không ký. Không biết có sao không? Trường hợp tôi không chịu, không biết tòa có xử cho cô ấy thắng kiện không?

-Thế ý anh thì sao?

-Tôi cũng không tha thiết lắm. Người ta không ưa mình nữa, thì giữ cũng chả ích gì. Tôi chỉ muốn cô ấy ở lại cho đến khi tôi học xong, tôi có đủ phương tiện nuôi con, lúc ấy cô ấy muốn đi đâu thì đi.

-Nguyên nhân làm sao mà chị ấy lại cứ đòi chia tay?

-Thì .. tại tôi khố rách áo ôm, không tương lai, không job, cô ấy chán!

Nghe hỏi, mà người viết cũng chẳng biết cố vấn ra sao, chỉ biết khuyên anh bạn cố nhẫn nhịn, giải thích cho vợ hiểu về tình mẹ con, may ra đánh động được tình cảm mẫu tử của người mẹ mà chấp nhận thêm một thời gian.

Trường hợp cựu Đại Úy Phong thì bi đát hơn. Khi còn ở tù Việt Nam, bà vợ đã lăng nhăng rồi. Sau khi anh về được vài tháng thì bà vợ bỏ đi với người khác. Nhưng đến lúc nghe nói anh chồng cũ sắp đi H.O., thì chạy về, năn nỉ xin cho đi theo. Nghĩ tình xưa nghĩa cũ, anh bỏ qua mọi việc và làm giấy tờ cho bà vợ đi. Những tưởng sang Mỹ thì bà ấy thay đổi, ai ngờ, chỉ có 3 ngày thôi, sáng thứ 4, anh ngủ dậy, không thấy vợ đâu, ngoài một tờ thư nhỏ: “Xin lỗi anh nhé. Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi!” Hóa ra, trong 3 ngày mới chân ướt chân ráo, bà ấy đã liên lạc được với một người tình cũ, và sáng ngày thứ 4 thì người tình mang 4 ngựa đến rước nàng về dinh mới…

Anh Hùng, có tên trong trại là “Hùng Rống” vì hát rất khỏe, lại gặp cảnh oan trái khác.

Khi đến phi trường, ngồi chờ mấy tiếng đồng hồ muốn xỉu, cũng chẳng thấy ai đến rước. Mãi đến tối, mới thấy ông con trai lái xe BMW đến, nhìn anh cũng chẳng chút tình cảm bố con nào, tửng tửng nói:

-Má không đến đón ba được. Má lấy chồng rồi. Má bảo lãnh cho ba để trả ơn thôi, con sẽ đưa ba về ở tạm nhà má rồi kiếm nhà khác cho ba ở.

Anh Hùng bàng hoàng đi theo con ra xe. Đến nơi, anh định nhấc chiếc va li lên để vào trong thùng xe, ông con giơ tay cản lại:

-Ba! Cẩn thận! Chiếc xe BM này con mới mua, ba đừng làm trầy!

Nỗi giận muốn bùng lên, nhưng vì đã tù bao năm, chịu đựng quen rồi, anh cố ráng khéo léo để lọt chiếc vali vào thùng xe mà không chạm đến chỗ nào… Chiếc xe lao đi vun vút. Ông con trai, đã gần 20 thong thả cho bố hay là “mẹ con vượt biên sang đây, nghèo khổ, nếu không có ông Dượng thì đã tiêu tùng. Ông Dượng cưu mang tụi con, cho đi học, chỗ ăn ở đàng hoàng, nên má phải lấy ổng để trả ơn chứ?”

Tim Hùng đau như dao cắt. Số phận nghiệt ngã đến thế là cùng. Đến nhà, anh gặp người vợ trẻ trung tiếp anh như tiếp người khách lạ. Bà lạnh lùng nói anh là “nên ký vào Quitclaim, cho xong duyên nợ!” Anh ngẩn người ra. “Quít lem là cái gì?” Bà vợ bảo, nếu anh không hiểu thì chờ luật sư giải thích  rồi bỏ vào phòng.

Anh Hùng ngủ ở sa lông, không có liên lạc nhiều với người ngoài vì mỗi khi anh nhấc điện thoại lên, hình như ở đầu dây  bên kia cũng có tiếng lụp cụp. Có lẽ là ông chồng mới hay chính bà vợ anh nghe lén? Nhưng rồi anh cũng liên lạc được với một, hai người bạn tốt. Vì con không chịu giúp anh học lái xe, bạn anh dậy, và giúp anh đi thi. Đậu rồi, anh được bạn cho một cái xe cùi, anh lái tuốt lên New Orland kiếm việc và đi xa nơi ngạt thở này. Điều anh hận nhất là vì anh có vợ bảo lãnh, nên không nhận được trợ cấp gì cả!

Một cựu chiến sĩ khác, anh Nguyễn Xuân, cũng mệt mỏi không kém. Anh kể:

-Anh biết không? Tôi qua đây nhờ người bạn của ông cụ bảo lãnh. Vì gia đình tôi không có ai ở Mỹ cả, đành nhờ ông ấy đứng tên bảo lãnh. Đi tuốt sang Louisiana, lạnh khủng khiếp, cả hai vợ chồng phải đi làm cho ông ấy, trả nợ bảo lãnh? (Thiệt ra, có bảo lãnh trên giấy tờ thôi, còn chúng tôi đi theo diện H.O. là đương nhiên được đi mà!) Vậy mà ông ấy lừa chúng tôi. Ông có mấy cái chợ, bắt hai vợ chồng tôi đứng từ 4,5 giờ sáng chờ xe hàng chở đồ tới. Đứng ngoài cửa kho, lạnh cóng người, quần áo bịt kín hết người, chỉ trừ hai con mắt. Lạnh cóng người. Làm đến 6 giờ chiều, ông ấy không trả đồng lương nào cả, chỉ cho mỗi tuần 10 đồng, hai vợ chồng được 20 đồng. Ông ấy lại không cho tụi tôi đi xin welfare gì hết, bắt tụi tôi phải dựa hoàn toàn vào ông ấy. Ngày được 3 bữa cơm, con bỏ liều ở nhà, sông chết cũng mặc. Mấy tháng trời, tụi tôi chịu không nổi, đòi đi, ông ấy chửi cho môt trận tơi tả… Nhưng rồi, tụi tôi cũng về Cali. May mà tôi còn trẻ, còn dễ xin việc…

Vậy, nếu già rồi, thì sao?

Trung Tá Phan.., nguyên Tiểu Đoàn Trường một Tiểu Đoàn Dù lừng danh, cười cười, vỗ vai tôi:

-Này cậu! Có việc gì cho những ông già như tớ làm với? Việc gì cũng được! Rửa cầu tiêu hay cọ nhà tắm chẳng hạn. Ở nhà, không có việc gì làm, chán bỏ mẹ!

Thiếu Tá Liên, nguyên Trung Đoàn Phó Bộ Binh cũng hỏi thật tình:

-Cậu có biết ở đâu cần người làm vệ sinh không? Giới thiệu cho tớ với! Hoặc giao hàng? Delivery? Tớ coi già vậy, mà còn khỏe lắm..

Không biết trả lời sao, đành nhăn răng cười trừ: “Dạ, nếu em thấy có việc gì, em sẽ báo anh hay ngay..”

Thực tế, rất nhiều những vị Chỉ Huy ấy, đành nghiến răng chấp nhận cuộc sống mới  như một thanh niên mới lớn, chưa có khả năng đặc biệt. Một số ngồi nhà tập đạp máy may kỹ nghệ, cả hai vợ chồng cùng đạp máy. Vị nào cao tuổi hơn, không thể điều khiển cái máy kỹ nghệ, chạy nhanh cái “vèo” từ bên nọ qua bên kia thì cắt chỉ, ủi đồ. Tại mấy shop may, thường thì người ta thấy có những ông già đầu bạc, đeo kính trễ, ngồi trên sạp, cắm cúi cắt những sợi chỉ dư từ người đạp máy ra. Cuộc sống thật căng thẳng với những người đến nước Mỹ trễ tràng.

Nhưng chỉ môt thời gian ngắn, với kinh nghiệm tù đầy, với quá khứ từng chỉ huy, tính toán, đa số đã ổn định. Anh Hương, Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh, nguyên Phó Tỉnh, xoa tay:

-Tôi có người con trai, vượt biên trước từ năm 1980, nay là Kỹ Sư điện tử. Đang ở Texas, nghe tin cha mẹ mới qua tới Thái Lan, liền di chuyển về Cali, thuê môt Appartment 2 phòng khá lịch sự cho bố mẹ ở.

Anh vừa nói vửa chỉ bộ salon tươm tất, những chiếc gối nệm trắng nhã, và cánh cửa sổ mở ra đường nhìn thấy chiếc xe Nissan đời 1982 mầu xanh đậu trước cửa. Anh cho biết với tiền trợ cấp 1 năm này, anh có đủ tiền trả tiền ăn, tiền bảo hiểm, tiền nhà và các thứ linh tinh khác. Ngoài ra, còn dư chút đỉnh thì đi mua sắm vài bộ quần áo. Anh đang học thêm Anh Văn, chuẩn bị thi vào làm Cán Sự ở County. Không lo lắng cho bản thân mấy, anh chỉ lo cho bạn bè:

-Từ trước đến nay, đại đa số những người sang đây đều có người thân bảo lãnh nên tương đối, cuộc sống cũng không có gì khó khăn. Chỉ ngại cho những người đến sau, thuộc diện “con mồ côi”, không thân nhân, chắc sẽ gặp nhiều vất vả. Chính tôi, dù có người thân, mà vẫn băn khoăn không biết phải làm gì? Học gì? Nhưng người kia, không có cố vấn, họ sẽ ra sao? Que Sera Sera!

Anh Nguyễn Quách, đến Mỹ theo diện H.O 1, sau 1 năm rồi cũng còn vất vả. Anh cho biết là “nếp sống ở đây khác lạ quá, con mình mà không phải con mình, muốn nói vài điều với chúng, chúng cũng chả nghe!” Đi làm về đến nhà, mệt mỏi quá, chỉ muốn lăn ra ngủ, cho nên chẳng có tình vợ chồng, con cái gì!”

Đến thăm nhà anh, gặp chị Quách, đang túi bụi với mấy đứa cháu nhỏ giữa đống đồ đạc, đồ chơi ngổn ngang. Từng đống sách vất lăn lóc trên bàn tiếp khách. Chị Quách ngượng ngùng:

-Xin lỗi anh nhé. Anh lại bất ngờ nên không dọn kịp. Mà thật ra, muốn dọn cũng không xong. Lũ trẻ con nhà tôi cùng với mấy đứa cháu, thay phiên nhau bừa ra, dọn không xuể. Tôi phải nấu cơm cho gia đình hơn 10 người. Mọi người đi làm hết, chỉ còn có tôi, hai tay hai chân, đôi khi cứ dính vào nhau…

Cả hai anh chị cũng an phận, nhưng chỉ có điều là vì không có phòng riêng, anh chị phải ngủ trên tấm nệm góc nhà, nên đổi đến địa chỉ này cả năm rồi, mà anh chị vẫn phải nằm quay lưng lại với nhau. Anh cười đùa, ngâm nga:

-Trời sinh ra kiếp đàn ông. Nằm ngay bên vợ mà không sơ múi gì?

Trong khi đó, anh Thi lại may mắn hơn. Vừa xuống phi trường, được một Mục Sư đến đón về một apartment đã có đầy đủ tiện nghi, tủ lạnh, bộ bàn ghế salon, một tủ quần áo, 3 chiếc giường, chăn mền, quần áo, đủ thứ chả thiếu gì, lại có riêng một phòng cho hai vợ chồng. Hội Tin Lành bảo trợ làm thủ tục cho chị đi học làm Nail ngay, còn anh được đưa đến một trung tâm dậy nghề. Tương lai của anh có phần tốt đẹp.

Anh Thi, cử nhân Luật, Sĩ quan Tình Bào, khi nhắc lại những ngày đầu đi xin trợ cấp, cho biết anh có cảm tưởng như nhân viên Xã Hội không thích tiếp những người mới sang. Nói chuyện như máy với khuôn mặt không có nụ cười nào. Hình như họ không muốn cho mình hưởng trợ cấp vì hưởng trợ cấp thì họ bị trừ lương hay sao ấy, mà đôi khi cái mặt cứ hầm hầm.

Những người có khả năng như anh Thi, luôn băn khoăn lo lắng làm sao thoát khỏi việc nhận trợ cấp, vì như thế có vẻ yếu quá. Anh lo lắng:

-Làm sao thoát khỏi trợ cấp đây? Tôi đâu có mong ăn Welfare suốt đời đâu. Nhưng làm sao mà sống? Tuổi tôi đã tròm trèm 50 rồi! Thằng em tôi, cử nhân Luật, nay đi in typo 13 tiếng một ngày, mỗi tiếng 5 đồng. Cậu em vợ tôi, sang sớm hơn tôi 5 năm, đã xong cái B.S. nay đi xin việc cả chục chỗ, vẫn chưa có chỗ nào kêu. Còn tôi? Có 6 đứa con, vừa đực vừa cái, khi còn ở Việt Nam, thấy ở cuối đường hầm, nên không cho con đi học, bây giờ cũng phải đi làm ngay, không có thời gian đi học. Thấy thảm quá! Nếu tụi nó được đi học thì còn có tương lai.. Mà, sao mấy lớp học ở đây không dậy phát âm, không dậy đàm thoại, không dậy nói, làm sao mà hiểu tiếng Mỹ được?

Gặp anh Nguyễn Nhâm, nguyên Giáo Sư trung học, trong một căn phòng sáng sủa, trông ra một sân chơi tennis. Mấy cậu con trai đang lui cui nấu ăn.

Anh chỉ vào mấy cái đồ đạc trong phòng:

-Đồ này toàn do USCC cho hết đấy! Chả là có một gia đình Mỹ dọn đi, không muốn mang đồ theo, nên để lại. USCC nhận hết và cho tôi. Tôi chỉ định lấy vài thứ, nhưng họ cứ băt tôi phải nhận đủ. Cũng may, chả phải mua sắm thứ gì!

Anh nhếch miệng, nhăn nhó:

-Mấy tháng đầu, ở chung với gia đình, không phải lo. Nay ra ở riêng, mới thấy thấm thía. Tôi  đã học xong khóa sửa xe rồi, mà chả ai nhận. Ở đâu cũng chỉ nói “có lấy tiền còm mít xông không thì cho làm, không nhận thì thôi”. Tôi thấy không khá, nếu lỡ cả ngày không có xe cho tôi sửa thì sao. Tôi đảnh đi thi làm Teacher Aid, rồi cũng chả ma nào kêu. Tháng tới, tôi không kiếm được dóp là nguy to.

Anh giơ tay xoa xoa cái đầu bạc:

-Có lẽ tại cái đầu này đây!
Sau đó một thời gian, khi nói chuyện với một nhà văn nữ đến Mỹ cùng thời gian với dân H.O. lại cho biết là tuy thế, mà người H.O. còn may mắn hơn người được bảo lãnh! Bà cho biết những ngày đầu tiên đến Mỹ là những kỷ niệm không vui, suốt đời không quên.

-Chúng tôi qua đây là để đoàn tụ với ông anh tôi, nhưng lúc đó ông anh tôi lại đang sửa nhà, nên phải “share”  với em tôi ở môt Appartment 2 phòng. Bốn mẹ con tôi, mẹ tôi trên 80 tuổi, phải ngủ dưới thảm, không phải một tấm thảm sạch mà đầy nước tiểu chó và phân chó, vì em tôi ở chung với một cô bạn gái người Mỹ có nuôi một con chó, mà cả hai người đó đều không biết dọn dẹp nhà cửa, nên chúng tôi luôn luôn phải có một cuộn “paper towel” để thấm nước đái chó.  Mẹ tôi lại già, mắt kém, nên suốt ngày tôi phải đi rửa dép cho mẹ bị dính phân chó.
Con chó của cô Mỹ này lại thích chơi bạo. Mẹ tôi ngồi dưới thảm, mà nó cứ nhẩy bổ vào làm mẹ tôi ngã ngửa.  Môt hôm chúng tôi đang ngủ thì nghe tiếng nước chẩy. Giật mình nhìn lên thì thấy thằng con của cô Mỹ đang vạch quần đứng tiểu ngay đầu chỗ ngủ của mẹ con tôi!  Những chuyện này xẩy ra liên tục làm chúng tôi ngột thở quá. Cho đến một hôm, hai mẹ con tôi đang ngồi ở giường, một chiếc giường nhỏ sau này đặt riêng cho mẹ tôi nằm, thì thằng bé con kia chạy đến, nằm lăn ra giường. Tôi hỏi nó: “Tại sao mày lại nằm đây?”. Nó trả lời: “Mẹ tôi bảo, giường này là của tôi, tôi muốn nằm thì cứ nằm!” Đó là cái giọt nước làm đầy ly, chúng tôi không thể chịu đựng được nữa, đành phải kéo nhau đi mà nước mắt lưng tròng, vì mẹ tôi sang Mỹ là để ở với con trai…

Người viết đã hỏi chị về sự khác biệt giữa người đi trước và người đến sau (H.O.) Nhà văn cho biết người đi sau có một điểm thiệt thòi hơn nhưng lại cũng có điều thuận lợi hơn người đi trước. Thiệt thòi về sự trợ cấp lúc ban đầu, nhưng thuận lợi ở chính cái tiềm năng của họ. Trải qua bao nhiêu đau khổ, họ đã hun đúc cho mình một bản lãnh cứng cáp, và không sợ gian nan. Việc gì cũng làm, khổ tới đâu cũng làm. Do đó, dựa theo kinh nghiệm của người đến trước mà người đến sau có thể hội nhập nhanh hơn người đến trước. Tuy nhiên, có một điểm chung mà nhà văn này đã đặc biệt nhấn mạnh về một điều không vui liên quan đến tinh thần của tất cả các lớp người đến Mỹ, đó là sự tan vỡ gia đình. Hầu hết những trường hợp chị quen biết đều đã chia tay hay đang chuẩn bị chia tay. Có gia đình mới sang Mỹ được 3 ngày thì đường ai, nấy đi. Gia đình khác thì kéo dài được vài tháng. Có cặp vợ chồng còn rất trẻ, con mới có 4 tuổi mà đã chuẩn bị ly dị.  Để trả lời cho câu hỏi tại sao lại chia tay, họ cho biết là đã có những xung đột từ lâu. Họ đã cố bấu víu, che đậy khi còn ở bên nhà, sang đây, thi gặp cơ hội, cho nên coi như đã trả xong nợ. Mang nhau ra khỏi Việt Nam là ai giải quyết chuyện người ấy.  Chị nói:

-Đối với những người vợ mới sang đây để đoàn tụ với chồng,  thì tôi thấy có hai vấn đề lớn nẩy sinh. Thứ nhất là người vợ luôn nghi chồng đã có vợ nhỏ, luôn thắc mắc về quá khứ của ông chồng trước đây. Không phải khách quan mà theo định kiến. Họ cứ cho rằng, nếu không khám phá ra được điều gì thì là do ông chống khéo léo dấu mà thôi. Không có bà vợ nào chịu tin ông chồng mình vẫn giữ độc thân khi vợ còn ở quê nhà. Nhất định phải có một bà vợ hoặc một cô nhân tình dấu diếm đâu đây. Thành ra, giai đoạn đầu mới gặp nhau, không khéo léo thì không thể “adjust” vào với nhau được.

Thứ hai là các bà vợ cứ hay so sánh chồng mình với những người khác. Lúc nào cũng thắc mắc là sao anh không có nhà, có xe láng như người ta? Anh đã làm gì với tiền kiếm được? Thì anh chả dành dụm gửi về nhà là gì? Gửi tiền về ư? (bà nguýt một cái rõ dài và lên giọng) Gửi được bao nhiêu? Có một hai trăm mỗi tháng mà ăn nhằm gì? Cứ thế mà dẫn đến xung đột trầm trọng.

Với các ông được vợ bảo lãnh qua đây, có ông chồng vẫn mang tính gia trưởng. Qua đây, thấy  bà vợ vuột khỏi tầm tay kiểm soát của mình thì phẫn nộ, bực bội. Thế là thành thảm họa cho những đứa con, vì cha mẹ cãi lộn hoài, đưa đến ly dị.

-Chị nghĩ thế nào về những gia đình H.O. mới sang, cả vợ cả chồng?

-Tôi thì thấy những anh H.O. mà tôi có dịp tiếp xúc đều có thái độ dứt khoát. Tuy hoàn cảnh hiện tại có khó khăn, nhưng họ vẫn tin tưởng, lạc quan và nhất định tạo lập cuộc đời mới.

-Thế còn những anh H.O. lâm vào tình trạng tuyệt vọng? Đã có 4 anh tìm cách giải quyết bằng cách đi tìm cái chết. May mắn mà 3 anh đươc cứu thoát vì họ uống thuốc độc, còn một anh thì không cứu được vì dùng dây thừng! Còn một số gia đình khác, đã tình nguyện xin trở lại Việt Nam?

-Chắc là có lẽ có những nguyên nhân nội bộ mà mình không được biết đến. Nhưng tôi nghĩ là thiểu số đó không thể thích hợp được với môi trường mới: về sinh ngữ, về nếp sống và công việc. Nhất là họ đến Mỹ khi nước Mỹ suy thoái. Và có những người đã “expect” quá nhiều, khi còn ở Việt Nam, họ đã kỳ vọng quá nhiều vào những giấc mơ tốt đẹp. Trong khi đó, thì gia đình lại không biết nâng đỡ nhau, yểm trợ nhau, dễ đi đến chỗ tuyệt vọng.

Những nhận xét của nhà văn rất chính xác. Theo một người bạn cho biết về trường hợp một chiến sĩ theo diện H.O. đã tự tử tại vườn sau, thì trước khi đi, anh đã tin vào những lời tuyên truyền quá đáng của một số người đi trước về những làng định cư cho cựu tù, về việc làm có ngay, về nhà ở… Đến nơi, thấy toàn bộ hiện thực khác giấc mơ quá nhiều, và bị quá nhiều áp lực từ cuộc sống, từ gia đình, anh đã tìm lấy cái chết để giải quyết tất cả.

Thực ra, bên cạnh anh, hầu như tất cả những người sang Mỹ theo diện H.O. đều gặp hoàn cảnh tương tự, nhưng vì trong gia đình, từ vợ đến chồng đều chấp nhận cuộc sống ở Mỹ tuy cơ cực nhưng vẫn còn hơn ở Việt Nam, lúc nào cũng nơm nớp e sợ bị bắt nhốt lại. Cho nên, họ vẫn nghiến răng tiến bước, dù bước vào môt khoảng vô định.

Và, không có hoàn cảnh nào giống hoàn cảnh nào.

Đa số các vị đến Mỹ theo diện H.O. đều cam phận, chấp nhận cuộc đời mới, nhưng cũng có vài trường hợp vì hiểu nhầm mà gây nên sự đau lòng.

Anh Nguyễn Ngọc Liên, Supervisor của Sở Xã Hội cho biết là có nhiều quan niệm nhầm lẫn giữa những người đến sau, theo diện Tù Cải Tạo. Anh nêu lên 3 trường hợp không vui:

-Thứ nhất là có những người đến Mỹ quan niệm rằng: “Chúng tôi đến đây, người Mỹ phải có trách nhiệm nuôi chúng tôi” nên có người đòi đóng hồ sơ xin trợ cấp, vì lôi thôi quá, có người lại đem con đến Sở Xã Hội, nói là “để trả cho Mỹ”!

-Thứ hai là một số người qua sau lại cho rằng những người đến Mỹ trước làm công cho Mỹ, tức là tay sai cho Mỹ, nay quay lại làm khó dễ người đến sau. Người Mỹ ngày xưa chiếm đất Việt, bây giờ mấy tên tay sai Mỹ lại làm khó dân mình!

-Thứ ba là có anh cho rằng mình đã phải đi tù cải tạo, thì bây giờ không phải đi làm! Nếu phải đi làm vất vả, thì đi Mỹ làm gì nữa?

Anh Hiệp Nguyễn cũng nói giống như anh Nguyễn Ngọc Liên. Vì anh là một “nurse” Việt Nam, nên thường phải làm thông dịch cho người mới tới. Có lần anh nói với người mới tới rằng, bệnh của bà nhà chưa đến nỗi nặng phải nằm nhà thương, nên bác sĩ chỉ cho thuốc mang về. Anh mới tới gầm lên:

-Tôi tù tội vì chính phủ Mỹ đã bao năm, nay bảo lãnh cho tôi qua đây, lại không cho vợ tôi nằm bệnh viện là sao?

Anh Hiệp phải giải thích mãi, người mới tới kia mới chịu đi về sau khi cằn nhằn: “xe không có, nhà cũng không, đến bệnh viện cũng không cho nằm!”

Một trường hợp muốn cười mà không cười nổi, là có anh mới sang, ở nhờ nhà người em được vài tháng thì đòi tiền người em là người bảo lãnh: “Chính phủ Mỹ trợ cấp cho tôi bao nhiêu năm, chú giữ giùm, bây giờ chú trả cho tôi chứ?” Thế là anh em hục hặc nhau, người em giận quá, đuổi ông anh bà chị ra khỏi nhà và thách: “Anh cứ đi kiện tôi đi! Tôi theo tới cùng!”.

Dĩ nhiên là chắng có vụ kiện nào, vì ông anh kia, sau đó mới ân hận là mình đã lầm, nghe theo những lời tuyên truyền của ai đó, trước khi đi, nên tưởng nhầm. Rất tiếc là đã muộn! Tình anh em chấm dứt từ khi đó.

Một ông khác, mới sang được vài tuần, ở nhờ nhà người em, đăng báo trong mục rao vật là “cần được giúp đỡ cho quần áo, chăn mùng và phương tiện…”

Thực tế, trường hợp hiểu nhầm như thế cũng không nhiều, vì trước sau cũng có người giải thích tường tận. Còn lại, tất cả hầu như thầm lặng đi tìm việc lao động, từ cắt chỉ đến giặt ủi, làm Waiter nhà hàng, lái xe giao bánh mì, giao hoa hồng, phụ cống nước…bất chấp có những sự kỳ thị giữa người trước và người sau rải rác đâu đó. Anh Tất, nguyên giáo sư Anh Văn, khi đi làm Salesman cho môt tiệm Furniture, nghe điện thoại reo, anh nhấc lên, vừa chảo hỏi vài câu, thì ông Manager đã chạy lại, giằng ống nghe và gắt:

-H.O. thì biết mẹ gì mà điện với thoại!

Một phu nhân Trung Tá Tiểu đoàn Trưởng, sang sau, gặp người vợ lính cũ, cho làm chức “Manager” shop may, nhưng thật ra là làm nô lệ cho chủ tiệm đi đánh bài liên miên. Làm mỗi ngày từ 10 đến 12 tiếng, bẩy ngày một tuần, lãnh lương có $800.00 môt tháng, tính trung bình 11 tiếng, thì một tháng làm 330 giờ, mỗi giờ như vậy có $2.42/ giờ, trong khi lương tối thiểu hồi đó cũng $4.50. Bà phu nhân làm mấy tháng thì tóc rụng gần hết, mặt nhăm nhúm như người mắc bệnh lao nặng, đi đứng chậm chạp, thỉnh thoảng lại dừng lại, thở dốc. Chịu không nổi, chị phải nghỉ, sau khi đi khám bệnh, Bác Sĩ bắt chị phải nghỉ ngơi, không thì chết ngay, vì trụy tim và thần kinh suy yếu.

Các bà chủ tiệm Furniture, nơi có những anh H.O. làm việc thì sai quần quật, không bao giờ cho nghỉ ngơi. Vừa đi giao hàng về, mồ hôi ướt đẫm, đã bị bà chủ sai dọn “floor” nghĩa là vác cái giường này ra góc kia, mang cái tủ kia lại góc này…Bầy hàng xong, thì ráp bàn ghế, liên tu bất tận, mà lương tháng cũng chỉ tròm trèm $3.00 hay $4.00. Không có bảo hiểm, dĩ nhiên. Nếu khiêng hàng mà quẹo lưng, gẫy tay, thì mất việc chứ không có bồi thường gì. Hai cha con một ông giáo sư kia, cùng đi khiêng hàng, bố thì bị quẹo tay, sái “tennis elbow” cả nửa năm cũng chẳng được thêm đồng nào. Ông con trai, bây giờ là Dược Sĩ, cũng sái chả vai, cả chục năm sau vẫn còn đau. Nhưng lúc đó, thiếu thốn quá, vẫn phải nghiến răng tiếp tục đi làm, không dám than thở gì, vì sợ mất việc thì đói.

Bà Manager nhà hàng ở Santa Ana thì đì ông phụ tá Manager gốc H.O., tới ngắc ngư, sai bảo như đầy tớ, hết bưng tô, lại rửa bát, lau nhà, dù lúc nào ông cũng mặc áo vét theo lời người chủ mướn ông. Một lần đang tiếp khách đặt tiệc cưới, thì bà Manager quát lên:

-Ông lại đây nhặt cái rác này cho tôi!

Rồi bà chỉ tay vào một miếng giấy trắng nhỏ bằng nửa ngón tay út ngay dưới chân bà. Ông H.O. phải lại cúi đầu nhặt rác, mà bà không nhích chân, nên đầu ông chạm vào gấu váy của bà, y hệt như chui dưới váy bà vậy. Cảnh tượng quái dị này làm cho toàn thể khách hàng trợn mắt vì ông H.O kia từng là Giám Đốc ở Việt Nam, trông tướng cũng sang, lại mặc vét nữa, mà bị bà kia làm nhục. Ông H.O. thấy nhục quá, phải nuốt nước mắt nhặt xong thì bước ra cửa mà khóc. Bà xếp gọi với theo:

-Này, đừng có mà ra cửa mà vất rác đấy. Police nó bắt cho bỏ mẹ!

Còn rất nhiều, rất nhiều trường hợp vừa cười vừa khóc xẩy ra giữa những người mới tới làm công cho người cũ đã thành đạt.

Anh Đặng Phố, cười ha hả:

-Mẹ kiếp, 15 năm qua, ở tù không chết, lao động không chết, sao qua đây lại chết được? Tới đâu thì tới! Sợ cóc gì!

Thật đấy, H.O. đã được trui rèn qua biết bao trại khổ sai, chết còn không sợ, thì sợ.. cóc gì nữa!

Bây giờ, thời gian đã chứng minh, đại đa số những ai từng đến Mỹ theo diện H.O., giờ đã vui hưởng an bình, hoặc với con cháu, hoặc ở riêng trong những căn Mobile Home, nhưng đều nhìn nhận một điều: tinh thần của người chiến sĩ Viêt Nam Cộng Hòa lúc nào cũng vẫn thế: Vẫn một lòng nặng chĩu với quê hương cho nên nếu có bất cứ một cơ hội này được phất cao lá cờ vàng, đi biểu tình chống Cộng hoặc họp mặt theo Binh Chủng, Quân Trường, hoặc đi yểm trợ Thương Phế Binh, thì nhất định chỉ muốn cầm cờ đi đầu và hát vang bài: Ngày bao hùng binh tiến lên…

Chu Tất Tiến.

Một chủ vườn cần sa Việt ở Anh phải hầu tòa

Một chủ vườn cần sa Việt ở Anh phải hầu tòa

Cảnh sát cho biết trị giá của vườn cần sa từ 96.750 – 109.300 bảng Anh.

22.10.2015

Một người Việt tại Anh vừa ra hầu tòa hôm thứ Tư sau khi bị phát hiện sở hữu vườn cần sa trị giá 100.000 bảng Anh ở trung tâm thành phố Liverpool.

Cảnh sát Anh đã nhận được cuộc gọi báo từ nhân viên cứu hỏa vào ngày 25/5 và phát hiện 215 cây cần sa trong một căn hộ ở đường Bridport của thành phố Liverpool.

Phạm Tuấn Anh, 28 tuổi, không có địa chỉ định cư cố định, đã bị cảnh sát bắt.

Vườn cần sa bị phát hiện khi nhân viên cứu hỏa buộc phải mở cửa vào nhà để truy tìm nơi bể ống nước.

Cảnh sát cho biết trị giá của vườn cần sa từ 96.750 – 109.300 bảng Anh.

Phạm Tuấn Anh được mô tả là mặc áo khoác xanh và phải nghe toàn bộ quy trình xử án thông qua một thông dịch viên. Tuấn Anh đã không biện hộ gì khi đứng trước tòa. Hiện anh này đang bị tạm giam và không được cho phép bảo lãnh.

Quan tòa đã chuyển vụ án cho tòa án Liverpool Crown, nơi Phạm Tuấn Anh sẽ phải có mặt cho phiên xử sơ bộ vào ngày 4/11.

Nguồn: Liverpool Echo, UK News, Scoopnest.

Đảng, Nhà Nước & Nhà Ngoại Cảm

Đảng, Nhà Nước & Nhà Ngoại Cảm

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Đất nước những năm thật buồn
Nửa đêm ngồi dậy hút thuốc vặt
Lần mò trên trang mạng tìm một tin lành
Như kẻ khát nước qua sa mạc

Nguyễn Khoa Điềm

Tuy không biết làm thơ nhưng tôi cũng có tật xấu (“Nửa đêm ngồi dậy hút thuốc vặt. Lần mò trên trang mạng tìm một tin lành”) y như cái ông thi sĩ vậy. Đất nước, chả may, lại chỉ toàn tin buồn và tin dữ. Tuổi Trẻ Online, số ra ngày 16 tháng 10 năm 2015, cho hay:

“TAND tỉnh Quảng Trị tiếp tục thẩm vấn các bị cáo trong đường dây lừa đảo tìm hài cốt liệt sĩ do Nguyễn Văn Thúy (tức ‘cậu Thủy’) cầm đầu.

Sau khi nghị án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã công bố … ‘cậu Thủy’ Nguyễn Văn Thúy phải chấp hành hình phạt chung là tù chung thân cho hai tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và xâm phạm mồ mả hài cốt.

Mẫn Thị Duyên (vợ Thúy) 25 năm tù, Mẫn Đức Phương (em vợ Thúy) 18 năm tù, Nguyễn Anh Chiều 5 năm tù, Nguyễn Trường Sơn 15 năm tù cùng về hai tội lừa đảo và xâm phạm mồ mả hài cốt. Nguyễn Văn Hoành 23 năm tù về 3 tội lừa đảo, xâm phạm mồ mả hài cốt và trộm cắp tài sản.”

Ở Việt Nam việc “xâm phạm mồ mả hài cốt” vẫn xẩy ra thường xuyên (ở khắp mọi nơi) nhưng chưa bao giờ bị coi là phạm pháp cả – theo như lời của một nhà văn:

“Sáng hôm ấy, con gái và con trai, cuốc và xẻng, thuổng và bàn vét, ngổn ngang ồ ạt xông ra đồng. Hai cánh đồng Ruộng Quan và Cồn Rộng nhiều mồ nhất, phải mở hai mũi quân mạnh nhất xung phong vào hai cứ điểm này.

Không biết từ bao giờ ông cha mình chọn nơi đây làm nghĩa địa cho người nghèo. Hầu hết những nhà giàu có, người ta táng vào thửa ruộng riêng, ngôi mộ to hơn và thế đất thịnh vượng hơn. Chỉ có nhà nghèo, hiếm ruộng hoặc không có ruộng, mới táng nhờ vào mảnh đất công này…

Vốn lúc đầu đám thanh niên cũng còn giữ được lễ nghĩa: mỗi bộ hài cốt để riêng một nơi. Nhưng mộ nhiều quá, nếu cứ cẩn thận như vậy, tiến trình chiến dịch sẽ kéo dài, họ xô bồ đào xới và xô bồ bốc tất cả hài cốt vào một tấm ni lông. Hàng chục cái sọ dừa, hàng chục cái xương tay xương chân, hàng chục bộ răng đổ ào vào một đống.

Mọi người thở dài, bó tay, đành chịu vậy. Thời buổi thế thì phải chịu thế, chứ biết làm sao.”  (Võ Văn Trực. Chuyện Làng Ngày Ấy. California: Tạp Chí Văn Học, 2006).

Đây không phải là “chuyện làng ngày ấy” của riêng địa phương nào mà là chính sách xuyên suốt, từ gần ¾ thế kỷ qua, của chính quyền cách mạng. Ông Nguyễn Văn Thúy và đồng sự (dám) là những người đầu tiên bị xử án tù, vì tội “xâm phạm hài cốt”, trong chế độ hiện hành.

Trước khi tiếp chuyện “đường dây lừa đảo tìm hài cốt liệt sĩ,” tưởng cũng nên nói qua – đôi điều – về cách lường gạt (hay cưỡng ép) khiến hàng triệu lương dân “phải” trở thành liệt sĩ, ở miền Bắc Việt Nam. Họ bị tuyên truyền, nhồi nhét về những kẻ thù “mang đầu ác thú,” và một “cuộc chiến tranh xâm lược” nên không ít người đã hăng hái lên đường tòng quân (giải phóng quê hương) rồi trở thành … liệt sĩ.  Phần còn lại thì không có cách lựa chọn nào khác – theo như lời của một nhân vật trong cuộc, nhà báo Bùi Tín:

“Tôi từng tham dự nhiều buổi tiễn đưa một số đơn vị vào Nam, khi qua binh trạm cuối ‘làng HO’ thuộc đất Vĩnh Linh là anh em vĩnh biệt miền Bắc trong cảnh tượng xé lòng mà vẫn phải làm ra vẻ bình thản. Ai nấy đều giống nhau, hiểu nhau, cùng nhau đóng kịch.

Lúc ấy không còn đường rút lui. Cứ như qua cầu bắc ngang sông là cầu bị cắt. Đã có một số anh em mất tinh thần, liều mạng, muốn quay lui, vào tù cũng được, nhưng không sao lọt.

Vì trách nhiệm của các chính ủy đoàn, các chính trị viên, của các chi bộ là ngăn chặn hiện tượng ‘B tụt’, ‘B tạt’, ‘B quay’, nghĩa là tìm cách lẩn vào rừng, tụt lại sau, tạt ra các bản người dân tộc, rồi tìm cách quay về nhà. Rất ít ai thoát được.”

Ông Nguyễn Văn Thúy và những người đồng vụ sẽ không có cơ hội lường gạt bất cứ ai, nếu nhà nước V.N có quan tâm đôi chút đến những người đã bỏ mạng (nhưng không tìm được xác) trong cuộc chiến vừa qua. Tuy không phải là nhà ngoại cảm nhưng nhạc sĩ  Trịnh Công Sơn đã tiên cảm (gần đúng) về sự vô tâm này: “Khi đất nuớc tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xuơng con mình…’’

Sở dĩ nói là “gần đúng” thôi vì cuộc chiến kéo dài quá lâu nên đến khi tàn thì cũng không còn được bao nhiêu bà mẹ (sống sót) để “lên núi tìm xuơng con mình’’ nữa. Việc đào bới hài cốt (tuy thế) vẫn được tiếp tục bởi anh chị em, hay bạn đồng đội của những người đã khuất –  như tuờng thuật của nhà báo Rajiv Chandrasekaran trên The Washington Post: “Vietnamese Families Seek Their MIAs; Few Resources Available In Search for Thousands.”

Bài báo mở đầu bằng một câu chuyện thương tâm. Ông Nguyễn Dinh Duy tử trận ngày 29 tháng 3 năm 1975. Suốt mấy muơi năm qua, chị của ông ta (bà Thắm) vẫn không ngừng đi tìm kiếm xác em trong… vô vọng. Ông Duy chỉ là một trong 300.000 lính Bắc Việt chết trận mất xác – và kể như là mất luôn (Duy is one of about 300,000 North Vietnamese soldiers killed in the war whose remains have not been located – and likely never will be).

Tiếp theo là một câu chuyện cảm động về tình đồng đội: “Mỗi tuần một lần, ông Ban thức dậy lúc 5 giờ sáng, leo lên chiếc xe gắn máy màu xanh lá cây đã cũ, đi đến những nơi mà ông còn nhớ khi còn là một y tá trong quân đội. Trí nhớ của ông quả tốt; mười năm qua, ông tuyên bố, đã đào được 2.000 xác chết và đã nhận diện được một nửa trong số này…’’ Vẫn theo lời ông Ban: “Là kẻ sống sót, tôi tự thấy mình phải có bổn phận với những nguời đã chết (Being still alive, I feel responsible for the dead people).

Quan niệm tử tế của ông Ban, tiếc thay, không được chia sẻ bởi những người hiện đang nắm quyền bính ở Việt Nam – dù họ đều là những kẻ sống sót, và được hưởng mọi thứ quyền lợi, sau cuộc chiến. Khi bị chất vấn về thái độ vô trách nhiệm này, một giới chức có thẩm quyền của Hà Nội, ông tướng Dang (nào đó) đã giải thích như sau: “…tìm kiếm những binh sĩ quá tốn kém mà tiền thì phải dùng vào việc chăm lo cho cho những kẻ còn sống sót.’’ (Dang said the cost of searching for missing soldiers must be weighed against the need to care for the survivors of the war).

Thực sự thì những kẻ sống sót chả được “chăm lo” gì ráo. Có chăng thì cũng chỉ là những loạt pháo hoa hào phóng (“rực sáng bầu trời”) vào những dịp kỷ niệm chiến thắng mà thôi.

Sự vô tâm (hay vô ơn) của Nhà Nước VN đã tạo điều kiện để phát sinh ra … những nhà ngoại cảm, và thái độ “đồng cảm” của mọi giới quan chức của đất nước – cùng những cơ quan truyền thông – đã biến xứ sở này trở thành một nơi lý tưởng để …lên đồng:

  • Ngày 7 tháng 11 năm 2011, bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Bộ Trưởng Bộ Thương Binh & Xã Hội, đã ký quyết định tặng bằng khen cho 38 nhà ngoại cảm “có nhiều đóng góp trong công tác tìm kiếm qui tập hài cốt liệt sỹ.”
  • Ngày 30 tháng 9 năm 2013, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết Định (1237) phê duyệt “Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo…”
  • Ngày 4 tháng 11 năm 2013, tại Trụ sở Bộ Quốc phòng đã diễn ra Hội nghị Ban Chỉ đạo Quốc gia về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Tới dự và chỉ đạo Hội nghị có đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQVN, Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng ban Chỉ đạo Quốc gia tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.
  • Ảnh:btv
  • Ngày 6 tháng 11 năm 2013, Liên Hội Các Hội Khoa Học & Kỹ Thuật Việt Nam đã tổ chức Hội Thảo Khoa Học Việc Tìm Kiếm Hài Cốt Liệt Sỹ Bằng Khả Năng Đặc Biệt …
  • Sách vở liên quan đến những  “phương cách tìm mộ liệt sĩ bằng khả năng đặc biệt” của các nhà ngoại cảm được Viện Khoa Học Hình Sự – Bộ Công An, Liên Hiệp Khoa Học Công Nghệ UIA – VUSTA, Trung Tâm Bảo Trợ Văn Hoá Kỹ Thuật Truyền Thống liên kết bảo trợ và xuất bản…
  • Cả nước đều “nhập đồng” hết ráo nhưng đến khi “đồng off” thì chỉ còn trơ trọi vài mạng bị kết án tù thôi. Ông Nguyễn Văn Thúy (và những bạn đồng sự) bị kết án quá nặng chỉ vì họ là nạn nhân của một thời đại nhiễu nhương nên phải gánh tội thay cho mọi người, kể luôn cái ông Thủ Tướng.

Không có cái gì người ta không ăn cắp!

Không có cái gì người ta không ăn cắp!

Song Chi.

VOA

Lâu nay các nhà báo, nhà văn, nhà giáo, nhà xã hội học và cả chính người dân đã lên tiếng cảnh báo khá nhiều về “căn bệnh” vô cảm trong xã hội VN và những hệ quả của nó. Nhưng có những “căn bệnh” trầm kha khác nữa mà sau mấy chục năm sống trong một thể chế chính trị độc tài, lạc hậu và một nền văn hóa, giáo dục ngu dân, chỉ biết chạy theo thành tích như ở VN đã tạo nên; ví dụ như “bệnh” coi trọng hình thức, coi trọng những giá trị ảo, sự độc ác, không tử tế ngày càng lấn lướt, lan tràn trong lúc tính thiện, sự tử tế ngày cảng hiếm hoi…Và nhất là sự thiếu vắng lòng trung thực, thiếu vắng lòng tự trọng.
Nếu như “căn bệnh” vô cảm đã trở nên quá đỗi bình thường, phổ biến trong xã hội từ quan chức, chính khách cho tới người dân thường thì sự sự thiếu vắng lòng trung thực, lòng tự trọng cũng không khá gì hơn.
Một trong những biểu hiện của “căn bệnh” này là thói ăn cắp. Thói quen ăn cắp diễn ra hầu như ở khắp mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực, mọi tầng lớp trong xã hội.
Ăn cắp nhiều có thể lên tới hàng trăm ngàn, hàng triệu USD như các quan to quan nhỏ, mỗi khi đặt bút ký tên dưới một dự án, một hợp đồng nào đó là kê khống, nâng giá thành các hạng mục lên, làm ảo thuật các con số để ăn bớt, “rút ruột” dự án. Gần như đã thành lệ ở VN, không có công trình, dự án, hợp đồng nào mà lại không có phần trăm “hoa hồng”, “lại quả” cho những nhân vật mà nếu không có chữ ký hay ý kiến của họ thì công trình, dự án, hợp đồng đó không thể thông qua được. Trong ngành xây dựng, khai thác, trong mọi cuộc đấu thầu, mua bán, ký kết xuất nhập khẩu, thành lập, khai trương một công ty, cửa hàng, cấp giấy phép ra đời một tòa soạn, một ấn phẩm, một đài truyền hình hay một chương trình phát sóng…Gọi đó là tham nhũng hay ăn cắp cũng không khác gì nhau.
Ăn cắp nhỏ như trộm cướp, trộm cắp vặt…trong xã hội mà cứ mở tờ báo ra, mở TV lên hoặc bước chân ra đường là lại có thể đọc, xem, chứng kiến tận mắt…Nhưng sự đời chua chát là nhiều khi người cùng đinh đi trộm vài con gà con vịt có thể bị kết án như vụ “Lâm Đồng: Vì hai con vịt, ba nông dân bị 13 năm tù!” năm 2008 (báo Pháp luật TP.HCM), có những trường hợp kẻ đi trộm chó bị dân làng phát hiện đánh chết, hay chỉ ăn cắp chưa tới 2.000.000 VNĐ tức chưa tới 100 USD có thể phải bỏ mạng trong đồn công an như cậu bé 17 tuổi Đỗ Đăng Dư ở huyện Chương Mỹ, Hà Nội, ngày 10.10 khiến dư luận bức xúc, phẫn nộ…
Trong khi đó có những kẻ ăn cắp hàng triệu USD thì vẫn nhởn nhơ!
Sự thiếu vắng lòng trung thực, thiếu vắng lòng tự trọng ấy, như đã nói, dường như chẳng còn bất cứ ngoại lệ nào. Ngay những người làm những công việc mà tiền lương không thấp, và có thể làm ảnh hưởng đến hình ảnh VN với bên ngoài như phi công,tiếp viên hàng không trên những chuyến bay quốc tế. Ví dụ như vụ 5 phi công, nữ tiếp viên Vietnam Airlines mang hàng xách tay có nguồn gốc trộm cắp bị cảnh sát Nhật bắt tháng 3.2014, tháng 7.2015 một phi công Việt của hãng hàng không VNA lại bị cảnh sát Nhật bắt vì tội mua đồ trong cửa hàng rồi quên trả tiền (tức là ăn cắp)…; chưa kể những vụ buôn lậu, vận chuyển hàng hóa, tiền, vàng, đồ công nghệ… trái phép, thậm chí có liên quan đến đường dây rửa tiền và ma túy lớn của các phi công, tiếp viên VNA bị bắt giữ tại các nước như Nhật, Hàn, Úc…từ năm 2008 đến nay. Còn ngay tại sân bay là nơi đầu tiên du khách nước ngoài đặt chân đến VN, người ta cũng không sợ khách sẽ có ấn tượng xấu về đất nước này, dân tộc này, thậm chí ngán ngẩm và không muốn du lịch đến VN nữa khi mà hiện tượng khách hàng bị mất cắp hành lý tại sân bay lớn nhất là Nội Bài và vài sân bay khác trong thời gian qua không còn là chuyện lẻ tẻ nữa. Bài báo “Bộ trưởng Thăng: Mất cắp hành lý ở sân bay là có tổ chức!” (Người Lao Động) viết:
“Trước thực trạng từ năm 2013 đến nay có gần 700 vụ mất cắp hành lý chính thức bị hành khách khiếu nại và ngày càng có xu hướng tăng trong khi không có một camera nào ghi nhận được, chưa một vụ việc nào được đưa ra khởi tố, Bộ trưởng Thăng cho rằng việc mất cắp hàng hóa ở sân bay là có tổ chức, có nghiên cứu, tính toán chứ không phải tình cờ.”
Còn trong lĩnh vực sản phẩm trí tuệ, tinh thần, càng xấu hổ hơn khi hiện tượng ăn cắp cũng đầy dẫy. Trong ngành giáo dục, cứ lâu lâu chúng ta lại nghe thấy một vụ tố “đạo” văn, khi thì “đạo” một bài báo, một bài tiểu luận nghiên cứu, bài luận văn tốt nghiệp Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ, lúc thì “đạo” một đoạn, một phần…trong một cuốn sách nào đó, có khi trò “copy” của thầy, thầy “copy” của trò, đồng nghiệp “đạo” của nhau…Đến mức nhà văn, facebooker Nguyễn Đình Bổn phải viết trong một status:
“Nếu chúng ta đồng thanh lên tiếng!
Vụ “đạo thơ” khi rất nhiều facebooker và sau đó là báo chí cùng lên tiếng, nó có kết quả ngay lập tức.
Nhưng nói thật, thơ đúng là “chuyện nhỏ” trong xã hội VN hiện nay. Ví dụ như VN có trên 24.000 tiến sĩ, nhưng họ đã làm được gì?
Họ có đạo luận văn không? Chắc chắc có!
Vậy tại sao chúng ta không đòi hỏi sự minh bạch ở đây? Ví dụ như tất cả các luận văn của các thạc sĩ, tiến sĩ phải được Bộ giáo dục công bố công khai trên mạng và nếu cần phải so sánh!
Chỉ có công khai thì mới bớt nạn giả mạo!
Đề nghị các ông bà đương chức làm gương, ông bà nào càng nắm chức to thì công bố ngay đi!
Còn nếu đã có công bố bắt buộc thì facebooker nào rảnh lôi ra săm soi cho vui.”…

Trong lĩnh vực sáng tác, không biết bao nhiêu lần chúng ta nghe vụ một nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn, tác giả kịch bản, đạo diễn sân khấu, điện ảnh, truyền hình “tố” bị người khác ăn cắp ý tưởng, hoặc “xào nấu”, thêm thắt, sửa chữa, biến cái của mình thành cái của họ. Còn đối với những người viết kịch bản thì cái chuyện đem đề cương kịch bản, kể cả kịch bản đã hoàn tất đi “chào hàng” một sân khấu, hãng phim, đài truyền hình nào đó, bị họ từ chối không mua nhưng sau đó một thời gian lại thấy một vở kịch, bộ phim nào đó có ý tưởng, cốt truyện na ná giống mình là chuyện không phải ít, thường thì khó mà đòi được cộng bằng lắm, nhất là nếu người đó chưa có tên tuổi.
Có những trường hợp rõ ràng là hai tác phẩm giống nhau như chị em sinh đôi nhưng kẻ cắp vẫn thoát được, hoặc do chức vụ, tên tuổi, quan hệ rộng rãi trong ngành khiến những người khác cũng ngại không muốn đẩy đến cùng, hoặc do phía bên kia không đủ chứng cứ, hoặc nếu lấy của một tác giả nước ngoài thì dễ thoát hơn.
Ngay cả ông Chủ tịch Hội nhà văn Hữu Thỉnh cũng đôi lần dính nghi án “đạo” thơ, bài thơ “Hỏi” của ông Hữu Thỉnh được cho là giống như phỏng dịch bài “Thượng đế đã làm ra mặt trời” (Gott schuf die sonne) của nữ thi sĩ Đức Christa Reinig được công bố năm 1964, nhưng cuối cùng ông Hữu Thỉnh vẫn thoát được.
Mới đây nhất là hai vụ lùm xùm về “đạo” thơ, vụ tranh chấp còn chưa ngã ngũ quanh bài thơ “Tổ Quốc gọi tên mình” giữa nhà thơ nữ Nguyễn Phan Quế Mai và một cựu quân nhân tên Ngô Xuân Phúc, và vụ tập thơ “Sẹo độc lập” của nhà thơ nữ Phan Huyền Thư vửa đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội 2015 đã bị dư luận tố “đạo” ý một câu thơ của Du Tử Lê và “đạo” trắng trợn bài thơ của nhà thơ nữ Phan Ngọc Thường Đoan, cuối cùng Ban chấp hành Hội Nhà văn Hà Nội đã quyết định thu hồi giải thưởng của Phan Huyền Thư.
Có hai câu hỏi được đặt ra là tại sao hiện tượng ăn cắp hay “đạo” văn, “đạo” thơ, nhạc… bây giờ lại nhiều thế, và một số những người đó, họ rõ ràng có tên tuổi, chức vụ, thậm chí cũng có tài năng, tại sao họ phải làm như vậy, mà đôi khi lại rất lộ liễu nữa, họ không sợ mất mặt, mất uy tín hay sao.
Rõ ràng trong những xã hội dân chủ phát triển, luật pháp chặt chẽ nghiêm minh, hiện tượng ăn cắp trong mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề không phải không có nhưng ít hơn rất nhiều, trước hết vì người ta biết sợ luật pháp, sợ cái giá phải trả, sự mất mát về tên tuổi, uy tín…Con người lại được giáo dục đàng hoàng, nhìn chung quanh cũng không thấy mấy ai làm như vậy nên không dám liều. Ngay miền Nam trước 1975 dưới chế độ VNCH, hình như chả thấy có vụ “đạo” văn, “đạo” thơ nào.
Còn trong xã hội như xã hội VN bây giờ, chuyện ăn cắp xảy ra ở khắp mọi nơi, mọi tầng lớp, nhà dột từ nóc, thấy người khác địa vị to hơn mình còn ăn cắp kiểu này kiểu khác, rồi được tiền được danh lợi từ đó, đâm ra cũng làm theo với ý nghĩ “Ai cũng vậy riêng gì mình”. Với những sản phâm trí tuệ, tinh thần, thì thường là hậu quả của sự háo danh, ví dụ không có tài nhưng muốn nổi tiếng nên xảo nấu, ăn cắp ý thơ, văn, nhạc của người khác làm của mình; hoặc đã có tiếng, cũng có tài nhưng vẫn ăn cắp vì thói kiêu hãnh, ngạo mạn, coi thường thiên hạ, nghĩ không ai phát hiện ra…Có muôn vàn lý do, nhưng tựu trung vẫn lả hệ quả của một môi trường xã hội mà cái xấu, sự không tử tế quá phổ biến đến đâm nhờn, hệ quả của một nền giáo dục không dạy học sinh làm người nhưng lại dạy cho con người ta quen với sự giả dối từ bé.
Khi mà ngay chính vị lãnh tụ cao nhất của đảng cộng sản vốn được tuyên truyền như thánh còn dính nghi án ăn cắp tập thơ “Nhật ký trong tù” thì còn có cái gì thiêng liêng nữa? Và khi toàn bộ lịch sử đất nước này từ khi có đảng là một lịch sử dối trá và hiện tại đảng, nhà nước vẫn tiếp tục dối trá đủ mọi chuyện thì đỏi hỏi người dân phải trung thực thế nào được?
Mai này đất nước thay đổi, để dạy lại cho con người biết tự trọng, biết trung thực từ đầu có lẽ sẽ phải mất rất nhiều năm, so với vực dậy một nền kinh tế hay xây dựng lại hạ tầng cơ sở xã hội.

Sài Gòn: ‘Ðinh tặc’ lộng hành như chốn rừng xanh

Sài Gòn: ‘Ðinh tặc’ lộng hành như chốn rừng xanh

Nguoi-viet.com

Văn Lang/Người Việt

SÀI GÒN (NV)Ðô thị lớn nhất của Việt Nam đang có ba vấn nạn lớn ai cũng thấy, mà nhiều năm qua vẫn chưa có phương cách hữu hiệu để thay đổi đó là kẹt xe, ngập đường và nạn đinh tặc. Trong 3 vấn nạn này thì nạn rải đinh, gài bẫy người đi đường để kiếm ăn của những tên gian tặc luôn ám ảnh mọi người khi lái xe ra đường.


Một điểm bơm, vá xe ven đường ở Sài Gòn. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Còn nhớ, gần 30 năm trước, báo chí ở Sài Gòn từng rộ lên vụ, một đôi thanh niên nam nữ bị hại vì đinh tặc, trên xa lộ Hà Nội, xưa là xa lộ Biên Hòa.

Buổi chiều muộn, trên xa lộ, xe Honda Dream của đôi trai gái cán phải đinh của bọn đinh tặc rải trên đường. Lúc đó, xa lộ còn vắng vẻ chưa đông như bây giờ. Và xe Honda Dream lúc đó là một loại xe thời thượng nhất, là cả một gia tài, là cả một… giấc mơ, với những em gái ham “xế nổ.”

Khi đôi trai gái tìm được một tiệm sửa xe trên đường để vá, chưa kịp nổ máy chạy thì một toán cướp có súng ập tới. Vì tiếc của, chàng trai chống cự, bị bắn chết tại chỗ. Cô gái bị thương nặng, toán cướp lấy xe tẩu thoát.

Báo chí nhân vụ giết người này đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về tệ nạn đinh tặc đang hoành hành trên các cung đường cửa ngõ vô Sài Gòn.Thậm chí cả trong nội đô Sài Gòn chúng cũng không từ…

30 năm sau, câu chuyện đinh tặc có lẽ đã trở nên khủng khiếp hơn. Lần này trên xa lộ, bọn chúng ngang nhiên rải những loại đinh tự chế hình chữ V, chữ S cỡ lớn. Với mục tiêu nhắm tới không chỉ là xe Honda hai bánh, mà là xe hơi, xe tải lẫn xe container.

Thử tưởng tượng, những chiếc xe tải, xe container chở nặng, chạy nhanh cán phải “bẫy đinh” cỡ bự của bọn đinh tặc, bể bánh, lạc tay lái giữa dòng xe cộ đông đúc trên xa lộ. Hậu quả sẽ như thế nào?

Ngang nhiên lộng hành

Hơn 30 năm dân kêu, báo chí kêu, nhưng tệ nạn đinh tặc lộng hành chỉ có tăng mà không có giảm.

Báo chí từng nêu câu hỏi: “Nếu đinh tặc là những kẻ rải truyền đơn chống chế độ. Thì bao nhiêu năm qua, chính quyền có im lặng, có bất lực như vậy không?”

Ðến nước đó, thì chính chính quyền cũng lên tiếng… kêu.

Theo lời của một trưởng công an phường, thuộc quận 12, kể với báo chí, do người dân thường xuyên khiếu kiện, vì đoạn đường quốc lộ 1A, từ chân cầu vượt ngã tư Ga, qua Thủ Ðức đinh tặc lộng hành. Cá biệt, có người dân kể khổ, một tháng đi trên đường thì hết 15 lần phải thay ruột xe vì cán đinh, 6 lần phải thay cả vỏ lẫn ruột…

Nóng ruột, quận chỉ thị cho công an phường, bằng mọi giá phải bắt cho được bọn đinh tặc đem về “quy án.”

Hơn một năm trời, cả ngày lẫn đêm phường tung lực lượng tuần tra, hóa trang-mật phục, tất cả những ngón đòn nghiệp vụ của công an được tung ra. Cuối cùng cũng chả bắt được con ma đinh tặc nào.

Lại theo lời kể của một toán công an viên thuộc quận 9. Vì khó lòng bắt được đinh tặc, nên phường thường xuyên cho công an đi kiểm tra những điểm sửa xe trên đường. Nếu là dân địa phương thì bắt làm cam kết không rải đinh hại người. Nếu là dân ở nơi khác tới, không rõ lai lịch thì dẹp luôn.

Vì các tiệm vá xe ven đường sống nhờ sự bắt chẹt khách bị cán đinh với giá cắt cổ. Khả năng người hành nghề vá xe và đinh tặc là một, lên tới 99%, nhưng không bắt được quả tang thì không làm gì được họ…

Khi toán công an viên kể trên, đi kiểm tra các điểm vá xe. Họ bị một toán người lạ mặt, hung dữ ở đâu ập tới ngăn cản quyết liệt, không cho kiểm tra…Toán công an viên phải rút về phường.


Nhiều người dân Sài Gòn sợ sửa xe ở ngoài đường bị “chặt,” “chém,” chôm phụ tùng nên đem xe tới đại lý ủy quyền của hãng Honda sửa cho chắc ăn. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Nghe báo chí tường thuật, dân chúng cho rằng đinh tặc đâu phải là thứ “vô ảnh,vô hình” mà đến nỗi không bắt được.

Ngang với ‘khủng bố’

Ngày nay, phương tiện đi lại của người dân Sài Gòn chủ yếu là xe gắn máy 2 bánh. Dù là đi làm ăn hay du hí đây đó, đổi gió vào những ngày cuối tuần, nhưng nói tới đinh tặc thì ai cũng ngao ngán, cực chẳng đã chẳng muốn đi đâu. Vì những ai ở Sài Gòn, ít ra cũng một đôi lần nếm mùi đinh tặc.

Trên những con đường nắng chói chang, xe cộ đông đúc đầy khói bụi. Người bị cán đinh hì hục đẩy xe, ướt đẫm mồ hôi, dáo dác tìm điểm vá xe. Rồi những hôm trời mưa tầm tã, lại những đêm khuya, trời vắng. Ðàn ông còn sợ, huống hồ thân gái dặm trường… Rồi những đường xa mịt mù, lúc phải đi đêm về hôm. Lòng người lúc nào cũng nơm nớp chuyện cán đinh. Có thể nói đinh tặc là một nỗi ám ảnh thường trực với người dân.

Bọn đinh tặc chỉ việc ngồi rung đùi tại những tiệm vá xe trên đường, chờ những con mồi tới nạp mạng. Xe nào đã cán đinh thì đừng mong được vá, lúc mở ruột xe, chỉ một động tác nhà nghề, ruột nào cũng tét, đành phải thay. Nhẹ thì thay ruột đểu, xài vài ngày đã banh, nhưng với giá cắt cổ từ 80 ngàn, tới 90 ngàn đồng. Nặng thì phải thay cả vỏ, với giá từ trên 300 ngàn tới 400 ngàn đồng. Biết là bị làm tiền, nhưng khổ chủ chỉ còn biết ấm ức mở hầu bao, nếu không muốn đẩy bộ xe… mút mùa lệ thủy. Chưa kể tệ nạn trộm, cướp, thậm chí nạn “cướp tình” với những cô gái một thân, đường vắng…

Có những nhóm thanh niên lập ra đội vá xe giúp người bị hại. Hay hơn, họ chế tạo ra xe hút đinh, chạy rà trên đường mỗi ngày. Mất chỗ làm ăn, bọn đinh tặc ngang nhiên chặn đường hoặc gọi điện thoại hăm dọa sẽ “xử đẹp” nếu không dừng việc làm “đổ bể” nồi cơm của bọn chúng.

Kỳ lạ, giữa một thành phố đông người, mà bọn đinh tặc lộng hành chẳng khác nào những toán thổ phỉ trong chốn rừng xanh. Chỉ thương cho những cái chết tức tưởi trên đường.

Như một vụ kia, người chồng dùng xe Honda chở cô vợ trẻ đi sanh. Trên đường đi xe cán phải đinh của bọn đinh tặc, hai vợ chồng té văng xuống đường. Người chồng bị gãy chân, người vợ bị băng huyết, được đưa vô bệnh viện cấp cứu thì thai nhi đã chết…

Luật pháp bó tay

Cuối cùng, sau bao nhiêu ấm ức dồn nén, người dân đi đường trên quốc lộ 1A cũng phát hiện ra một tên đinh tặc với thủ đoạn rất tinh vi. Tên này chở vợ, chạy tà tà trên đường đông, nhưng dấu đinh tự chế dưới dép, lâu lâu lại nhẹ nhàng gạt đinh xuống mặt đường… Người dân lập tức tri hô và cùng nhau đuổi bắt gã đinh tặc giao cho công an.

Bên công an cho báo chí biết,hiện không biết xử tên đinh tặc bị dân bắt quả tang theo điều luật nào. Chỉ có thể quy hắn vào tội “hủy hoại tài sản” của người khác. Nhưng phải chứng minh được tài sản bị hủy hoại giá trị lên tới trên 2 triệu đồng thì mới có thể truy tố, nếu không thì chỉ phạt hành chánh rồi cho về. Dân chúng nghe tin mà cứ tức anh ách.

Gần đây, nhà cầm quyền Sài Gòn có trình lên Quốc Hội một dự luật về đinh tặc. Theo đó, nếu phạm tội lần đầu, tối đa bị phạt 30 triệu đồng và 3 năm tù. Nếu tái phạm (lần 2), thì bị phạt từ 100 triệu tới 500 triệu đồng và 12 năm tù.

Qua câu chuyện chống đinh tặc cho thấy luật Việt Nam vừa thiếu,vừa hở (dĩ nhiên trừ chuyện chống dân chủ). Hơn 30 năm chống đinh tặc lộng hành hại dân mà chỉ ra được có mỗi cái… dự luật.

Tệ hơn nữa, đạo đức suy đồi cùng cực, có những kẻ ác nhơn thất đức tới nỗi coi tính mạng đồng bào như là miếng mồi ngon. Ðể ngang nhiên đặt bẫy trên đường đông người qua kẻ lại, chứ chẳng thèm phải đi vào nơi rừng sâu núi thẳm.

Phim tài liệu Vietnamerica trong mắt khán giả trẻ

Phim tài liệu Vietnamerica trong mắt khán giả trẻ

Vietnamerica là bộ phim tư liệu 90 phút không chỉ dành riêng cho cộng đồng người Việt tị nạn, mà cho tất cả những ai yêu chuộng và khát khao tự do.

Vietnamerica là bộ phim tư liệu 90 phút không chỉ dành riêng cho cộng đồng người Việt tị nạn, mà cho tất cả những ai yêu chuộng và khát khao tự do.

Một bộ phim tài liệu nói về những thuyền nhân Việt Nam vực dậy sau đau thương từ những chuyến vượt biển tìm tự do đầy nghiệt ngã tới những thành tựu rực rỡ đóng góp cho quê hương thứ hai sau 4 thập niên tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ được ra mắt ở thủ đô Washington DC ngày 17/10/15 đánh dấu 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam.

Vietnamerica là bộ phim tư liệu 90 phút không chỉ dành riêng cho cộng đồng người Việt tị nạn, mà cho tất cả những ai yêu chuộng và khát khao tự do.

Một phân đoạn trong phim dài 18 phút được trích ra dự thi các liên hoan phim quốc tế đã dành được một số giải thưởng và được chọn trình chiếu tại 15 buổi liên hoan phim trên thế giới.

Đạo diễn Scott Edwards (phải) và Nhà sản xuất Nancy Bùi tức Triều Giang (phía sau bên phải).
Đạo diễn Scott Edwards (phải) và Nhà sản xuất Nancy Bùi tức Triều Giang (phía sau bên phải).

Bộ phim gợi nhớ biến cố 30/4/75 khiến hơn 2 triệu dân Việt bỏ nước ra đi, tạo nên một trong những làn sóng thuyền nhân lớn nhất và đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại với hàng trăm ngàn người đã bỏ mình trên biển vì bão, vì đói, hay vì hải tặc.

Trong chương trình Tạp chí Thanh Niên VOA hôm nay, 3 khán giả trẻ trong cộng đồng tị nạn chính trị lớn nhất tại Mỹ đã xem qua Vietnamerica khi phim được ra mắt tại thành phố họ sinh sống sẽ chia sẻ với chúng ta những ấn tượng về bộ phim và ý nghĩa của nó đối với lịch sử thuyền nhân Việt Nam cũng như đối với các thế hệ người Việt tị nạn. Trà Mi xin giới thiệu khách mời của chương trình: Thị trưởng Tạ Đức Trí của thành phố Westminister bang California, nơi có đông người Việt sinh sống nhất nhì nước Mỹ; anh John Hùng Vũ hoạt động trong ngành bảo hiểm tại Denver bang Colorado; và chị Christine Quỳnh Nguyễn kinh doanh địa ốc ở Houston bang Texas.

 Chrisine Quỳnh: Ba của Christine là đại úy an ninh quân đội. Khi mất nước, ba bị ở tù 11 năm. Tuổi thơ của Christine không hy vọng, không tương lai. Christine trải qua thời niên thiếu rất khổ cực. Vì thế, khi xem phim Vietnamerica, Christine rất xúc động khi thấy nhiều người phải trải qua giữa cái sống và cái chết vì hai chữ tự do. Cuốn phim này khích lệ tinh thần chúng ta khi nhìn lại tại sao chúng ta có mặt ở đây, chúng ta phải cố gắng thế nào để không hổ thẹn với những người đã đi trước.

Trà Mi: Anh Hùng là một thuyền nhân, anh có nhìn thấy chính mình và người thân của mình qua những phút phim tài liệu này không?

Hùng Vũ: Xem cuốn phim gợi lại quá khứ mình đã đi qua, không biết làm sao diễn tả được vì nó làm sống lại những phút giây đối đầu với tử thần khi mình trên con thuyền nhỏ rời Việt Nam đi tìm tự do.

Trà Mi: So với các phim tài liệu khác về lịch sử cuộc chiến Việt Nam, Vietnamerica có điểm nào đặc biệt nổi bật?

Tạ Đức Trí: Bộ phim này đã lột tả hết tất cả sự hy sinh và cái giá mà các thuyền nhân Việt Nam đã trải qua trên hành trình tìm tự do. Ưu điểm của bộ phim là các nhân vật trong phim không cần phải đóng. Họ đều là những chứng nhân minh chứng cho những kinh nghiệm kinh hoàng. Đây là một bộ phim có thể đánh động được lương tâm của thế giới.

Ông Trần Tú Thanh, một nhân vật trong phim Vietnamerica nói: "Chúng tôi đã mất tất cả. Chúng tôi đã mất nước. Mất tài sản. Mất các thành viên trong gia đình. Và tuổi trẻ của tôi. Tất cả tuổi trẻ của tôi sau 15 năm tù cộng sản."
Ông Trần Tú Thanh, một nhân vật trong phim Vietnamerica nói: “Chúng tôi đã mất tất cả. Chúng tôi đã mất nước. Mất tài sản. Mất các thành viên trong gia đình. Và tuổi trẻ của tôi. Tất cả tuổi trẻ của tôi sau 15 năm tù cộng sản.”

Trà Mi: Người Việt đã trải qua quá nhiều thương đau và nước mắt và một số phụ huynh lưỡng lự không muốn cho thế hệ trẻ thấy những điều tàn khốc ấy qua các bộ phim tài liệu. Là thế hệ trẻ, các anh chị chia sẻ thế nào về điều này?

Tạ Đức Trí: Tôi cũng hiểu suy nghĩ của các phụ huynh. Tuy nhiên, theo thiển ý của tôi, các em nên xem những bộ phim về chính nguồn gốc của mình để hiểu lý do cộng đồng người Việt có mặt và phát triển tại Mỹ cũng như hiểu giá trị của sự tự do mà thế hệ đi trước đã phải trải qua.

Trà Mi: Có ý kiến cho rằng chiến tranh đã chấm dứt 4 thập niên, Việt-Mỹ cũng bình thường hóa quan hệ 20 năm nay thì nhắc nhớ những nỗi đau đó để hận thù dai dẳng có ích lợi gì đâu, hãy để thế hệ trẻ hướng tới chân trời sáng lạng phía trước. Với quan điểm đó, các anh chị có suy nghĩ thế nào?

Tạ Đức Trí: Tuy nhiên, Việt Nam sau 40 năm vẫn chưa có nhân quyền-tự do, các nhà tranh đấu dân chủ trong nước vẫn đang bị đàn áp, bắt bớ. Với chính sách độc tài của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, tập thể người Việt tị nạn tại hải ngoại không thể nào làm ngơ, không quan tâm. Vì vậy, sự ra đời của bộ phim càng làm cho chúng ta quan tâm nhiều hơn về thực trạng tại Việt Nam, cố gắng nhiều hơn nữa để tranh đấu với hy vọng Việt Nam sẽ sớm có tự do-dân chủ trong tương lai.

Trà Mi: Khát vọng nào cũng có cái giá của nó, khát vọng tự do cũng vậy, vì sao phải nêu bật cái giá của tự do. Nếu có một người trẻ nêu câu hỏi này, chị Christine sẽ trả lời thế nào?

Christine Quỳnh: Chúng ta phải đề cao tinh thần bất khuất của người Việt để cho thế hệ mai sau hiểu nguồn gốc sự có mặt của chúng ta ở đây và những giá trị chúng ta có được hôm nay không phải tự nhiên mà có. Chúng ta phải nên trân quý.

Trà Mi: 90 phút phim dĩ nhiên không thể khắc họa lại tất cả những nghiệt ngã, những mất mát đau thương để đánh đổi lấy tự do. Qua lăng kính Vietnamerica, các anh chị thấy những khía cạnh nào đã được soi rọi đầy đủ và những khía cạnh nào cần lột tả thêm để thế hệ sau được nhìn rõ một bức tranh toàn cảnh, trực diện về lịch sử thuyền nhân tị nạn Việt Nam?

Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh chia sẻ câu chuyện trong phim VietnAmerica.
Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh chia sẻ câu chuyện trong phim VietnAmerica.

Hùng Vũ: Bộ phim đã nói lên được khát vọng của con người cần được tự do. Là một thuyền nhân, mình nghĩ nếu cuốn phim có thể nói thêm về hành trình tìm tự do gian khổ, khó khăn như thế nào thì sẽ xác thực hơn ý nghĩa của việc đi tìm tự do.

Trà Mi: Bộ phim ra mắt giữa bối cảnh các mốc kỷ niệm lịch sử và giữa cuộc khủng hoảng người tị nạn trên thế giới. Là một người tị nạn Việt Nam, từ bộ phim này, các anh chị muốn chia sẻ thông điệp gì tới những người tị nạn trên thế giới”?

Tạ Đức Trí: Tất cả người tị nạn đều có khát vọng tìm tự do, mưu cầu hạnh phúc tương lai. Với khát vọng đó, chúng tôi rất hy vọng rằng các quốc gia sẽ chào đón, giúp đỡ người tị nạn. Hai chữ tự do sau thế kỷ 21 này vẫn là một thứ trân quý nhất cho nhân loại. Cũng vì hai chữ tự do mà cộng đồng người Việt tại hải ngoại đã vươn lên hình thành và phát triển.

Trà Mi: Khát vọng tự do cho bản thân và gia đình giờ đã đạt thành, với những người còn đang hướng tới nó, các anh chị có thể làm gì để có thể truyền tiếp khát vọng của họ?

Christine Quỳnh: Ước mong rằng khi thành công ở Mỹ, chúng ta nên truyền bá lại cho con cháu mình có được tinh thần giống thế hệ của chúng ta, lúc nào cũng phấn đấu.

Nhà văn Dương Thu Hương kể lại cuộc sống dưới chế độ cộng sản trong VietnAmerica.
Nhà văn Dương Thu Hương kể lại cuộc sống dưới chế độ cộng sản trong VietnAmerica.

Tạ Đức Trí: Tập thể người Việt hải ngoại chúng ta luôn sẵn sàng hỗ trợ các nhà đấu tranh dân chủ trong nước. Chúng ta hãy tiếp tục chia sẻ những thông tin cần thiết về một chính thể tự do thật sự. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, chúng ta có thể chia sẻ cho đồng bào trong nước về một bộ máy chính trị tự do, dân chủ bầu cử để người dân trong nước hiểu được thế nào là tự do-dân chủ thật sự, giá trị của một nền chính trị dân chủ quan trọng như thế nào để giúp cho quốc gia đó phát triển một cách toàn diện.  Chúng ta thấy nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sau 40 năm vẫn áp dụng chính sách độc tài , đàn áp tôn giáo, bắt bớ trí thức trẻ. Người trí thức trong nước chưa thể nói lên sự quan tâm của mình về hiện trạng đất nước thì thử hỏi làm sao Việt Nam có thể phát triển một cách toàn diện? Cho nên, chúng tôi rất hy vọng các bạn trẻ trong cộng đồng tại hải ngoại hãy quan  tâm nhiều hơn nữa về tình hình Việt Nam. Sự dấn thân của các bạn là một động lực hỗ trợ thêm cho giới trẻ trong nước. Chúng tôi biết nhiều bạn trẻ trong nước hiện nay cũng rất quan tâm về sự tự do-dân chủ trong nước chưa có và các bạn cũng có khát vọng để thay đổi. Chúng tôi xin đồng hành với các bạn trẻ tại Việt Nam để tranh đấu cho hai chữ tự do.

Trà Mi: Thông điệp về khát vọng tự do đó cũng chính là điểm nhấn của bộ phim tài liệu Vietnamerica mà 3 khán giả trẻ tham gia chương trình hôm nay đã cảm nghiệm và chia sẻ với thính giả đài VOA. Cảm ơn các anh chị rất nhiều.

Arizona: Xe đâm xuống hồ, chết cả gia đình 5 người

Arizona: Xe đâm xuống hồ, chết cả gia đình 5 người

Nguoi-viet.com

TEMPE, Arizona (AP)Trọn cả gia đình, gồm ba em nhỏ, tử nạn, sau khi chiếc xe loại SUV của họ đâm xuống một hồ nước nằm ở ngoại ô thành phố Phoenix, Arizona. Cảnh sát cho hay, có dấu hiệu cho thấy người cha lái xe đã cố tình lao xe xuống hồ.

 Nhân viên công lực điều tra hiện trường nơi một xe SUV lao xuống hồ Town Lake ở gần Phoenix, Arizona. (Hình: AP/The Arizona Republic)

Bé Nazyiah Baxter, 2 tuổi, mới đầu được đưa vào bệnh viện trong tình trạng nguy kịch nhưng sau đó qua đời trong cùng ngày.

Nhân viên cấp cứu được gọi đến hồ Tempe Town Lake vào khoảng 12 giờ 15 sáng Chủ Nhật, sau khi người qua đường trông thấy chiếc SUV lao xuống hồ.

Phát ngôn viên cảnh sát Tempe, ông Michael Pooley, nói: “Cảnh sát có mặt tại hiện trường thật nhanh. Ba người lập tức nhảy xuống nước, một ngư dân cũng nhảy theo.”

Cảnh sát đưa lên khỏi nước hai bé, Zariyah Baxter, 1 tuổi, và Nazyiah.

Kế đó họ vớt ông Glenn Edward Baxter, 27 tuổi, và bà Danica Baxter, 25 tuổi.

Ông Pooley cho biết tiếp, “người của chúng tôi làm hô hấp nhân tạo cho đến khi xe cứu thương đưa cả bốn nạn nhân vào bệnh viện,” nơi hai phụ huynh và bé Zariyah từ trần.

Tại bệnh viện, các nhà điều tra trong khi làm việc để nhận diện bà Danica Baxter; bấy giờ mới phát giác còn thiếu một em thứ ba là bé trai Reighn Baxter, 3 tuổi.

Cảnh sát trở lại chiếc xe còn chìm dưới nước và tìm thấy xác bé trai lúc 10 giờ sáng, đang còn ngồi trong ghế dành cho trẻ em ở băng sau.

Cảnh sát hiện chưa rõ nguyên nhân đưa đến tai nạn.

Được biết hồ Tempe Town Lake nằm trong thành phố đại học nơi có trường Arizona State University, Tempe. Town Lake là hồ nhân tạo khánh thành từ năm 1999, có thể chứa được đến 1 tỉ gallon nước. (TP)

Đại Hội Mẹ La Vang tại Las Vegas 2015

Đại Hội Mẹ La Vang tại Las Vegas 2015

Ghi ngắn của Đoàn Thanh Liêm

DoanThanhLiemĐại Hội Mẹ La Vang năm 2015 vừa diễn ra trong 3 ngày 16, 17 và 18 tháng Mười tại Đền Thánh Mẹ La Vang nơi thành phố Las Vegas thuộc tiểu bang Nevada. Đây là Đại Hội lần thứ VIII quy tụ đến trên 6,000 giáo dân đến từ nhiều tiểu bang lân cận, đặc biệt là từ California. Nhiều thánh lễ trọng thể đã được liên tiếp cử hành trong Đại Hội với sự chủ tế của Đức Cha Joseph A. Pepe là vị Giám mục sở tại và hai vị Giám mục đến từ Việt nam là Đức Cha Giuse Vũ Văn Thiên giáo phận Hải Phòng và Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống giáo phận Phan Thiết. Với sự đồng tế của trên 30 vị Linh mục đến từ nhiều địa phương ở hải ngọai cũng như ở Việt nam.

Chủ đề của Đại Hội năm nay là: “Cùng Mẹ Sống Chứng Nhân Hy Vọng”. Chủ đề này đã được phản ánh thật rõ nét trong các bài thuyết giảng tại buổi lễ cũng như trong các bài thuyết trình tại các cuộc hội thảo. Đặc biệt trong bài thuyết giảng vào Chủ nhật 18 tháng Mười, Đức Cha Vũ Duy Thống đã nhấn mạnh đến sứ mệnh tận tâm phục vụ trong mọi hòan cảnh của các tín hữu Công giáo – để góp phần vào công cuộc rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô tại khắp nơi trên thế giới.

216193-Dai-Hoi-La-Vang-1-4

Cụ thể Đức Cha Thống cũng nhắc đến tinh thần hy sinh của các anh chị thiện nguyện viên trong Ban Ẩm Thực để phục vụ các bữa ăn cho tòan thể cộng đồng hành hương – mà tổng số lên đến năm sáu ngàn người trong suốt 3 ngày của Đại Hội – cũng như của rất nhiều em trong tổ chức Thiếu Nhi Thánh Thể, các Nữ Tu và các thành viên của Hội Đồng Mục Vụ đã không quản ngại công lao khó nhọc trong việc bảo đảm trật tự vệ sinh cũng như giữ được bàu không khí trang nghiêm đạo đức trong suốt các buổi lễ và hội thảo.

Cũng nên ghi thêm là các ca đòan từ nhiều giáo xứ ở xa như từ California cũng đã liên kết với nhau thành một ca đòan tổng hợp với số ca viên lên tới 50 – 60 người. Các thành viên đều được tập luyện riêng với nhau trong từng ca đòan cơ hữu của mình theo các bài hát đã được thỏa thuận chọn lựa từ trước – nhờ vậy mà đến khi các đơn vị này ráp nối lại chung với nhau thì mới đạt được sự ăn ý nhịp nhàng với nhau trong một ban hợp ca duy nhất.

Dai-Hoi-La-Vang-2-4

So với Đại Hội Thánh Mẫu được tổ chức vào đầu tháng 8 mỗi năm tại Missouri, thì Đại Hội La Vang tại Las Vegas vừa mới mẻ, nhỏ bé và khiêm tốn hơn nhiều. Nhưng nếu ta chú ý đến quá trình thành lập và phát triển của Đền Thánh Mẹ La Vang Las Vegas, thì từ một nơi trước đây là khu đất hoang do các thành phần vô gia cư chiếm đóng gây tình trạng mất an ninh lộn xộn hỗn tạp với nạn ma túy, cướp bóc hòanh hành mà nay – do cố gắng kiên trì của tu sĩ và giáo dân Việt nam trong vòng chua đày 20 năm qua – chúng ta đã có một cơ sở truyền giáo thật có triển vọng tốt đẹp như ta thấy giữa vùng đất xưa kia là sa mạc của tiểu bang Nevada này.

Một phần do vị trí của Las Vegas tương đối gần gũi với California là nơi có rất đông giáo dân ở cả hai khu vực phía bắc như San Jose, San Francisco và khu phía nam như Orange County, San Diego – mà đi xe đến viếng Đền Thánh Mẹ La Vang thì chỉ mất chừng 6 – 7 giờ, nên nhiều bà con có thể đi lại thuận tiện dễ dàng – nhất là đối với các vị cao niên với sức khỏe yếu kém không thể đi đường quá xa xôi mệt nhọc được. Thứ nữa là vào giữa tháng Mười, thì khí hậu tại Las Vegas vào mùa thu đã mát dịu nhiều, chứ không còn nóng bức như vào mùa hè với nhiệt độ oi ả nóng bức lên đến trên 100 độ F nữa.

Dai-Hoi-La-Vang3

Mặt khác nữa, đó là khách hành hương có thể nghỉ ngơi tại các khách sạn tương đối tiện nghi với giá thật nhẹ nhàng, đặc biệt dành cho các tập thể. Điển hình là có đến mấy chục xe bus lọai lớn cỡ 50 chỗ ngồi do các đòan thể như Hội Cao Niên, Liên Minh Thánh Tâm, Legio v.v… tổ chức, thì năm nào cũng có rất đông giáo dân từ California hưởng ứng tham gia. Đó là chưa kể đến con số hàng mấy trăm những xe hơi cá nhân do các gia đình tự tổ chức riêng với nhau nữa.

Rõ ràng là cộng đòan tương đối nhỏ bé khiêm tốn với chưa đến một ngàn gia đình tín hữu của Giáo xứ Mẹ La Vang tại Las Vegas (cả hai đều viết tắt là LV cả, nên thật dễ nhớ) – mà đã có những cố gắng hy sinh vượt bậc để tổ chức được một Đại Hội Thánh Mẫu hàng năm rất là thành công có sức thu hút được nhiều ngàn khách hành hương từ khắp nơi đến tham dự – như trong Đại Hội lần thứ VIII năm 2015 này.

Và đó cũng là một điểm son rất đáng phấn khởi, là niềm hy vọng tươi sáng cho tòan thể đại gia đình công giáo Việt nam ở hải ngọai – đặc biệt là ở phía bờ biển miền Tây (West Coast) của nước Mỹ vậy./

Costa Mesa California, ngày 19 tháng Mười 2015

Đoàn Thanh Liêm