Thu hồi đất để thực hiện dự án

Thu hồi đất để thực hiện dự án

Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ RFA
2015-11-01

 

Thu hồi đất để thực hiện dự ánHình ảnh Thánh Lễ Bế Mạc Năm Thánh tại Đan Viện Thiên An, ảnh chụp ngày 11 tháng 6 năm 2010

Courtesy Ban Truyền Thông TGP Huế

Your browser does not support the audio element.

Thu hồi đất để thực hiện dự án là một hoạt động mà cơ quan chức năng tại nhiều tỉnh/thành Việt Nam tiến hành lâu nay. Hiện một vụ việc tương tự đang xảy ra tại Huế là đất thuộc Đan Viện Thiên An được nhiều người biết đến.

Đan viện Thiên An nơi được nhiều giáo dân viếng thăm

Căng thẳng mới nhất tại khu đồi Thiên An xảy ra vào ngày 8 tháng 10, khi một lực lượng chức năng đông đúc đến ngăn chặn không cho người của Đan Viện lợp mái Đền Đức Mẹ từng tồn tại lâu nay trong khu đất do Đan Viện này quản lý.

Tu sĩ Trần Minh Vận, 80 tuổi người từng tu tại Đan Viện Thiên An từ năm 1952 đến nay cho biết lại sự việc:

“Có mấy anh thợ trẻ đến lợp mái trên Đồi Đức Mẹ vì có những lần linh mục và giáo dân đến làm lễ thị bị nước mưa; nên chúng tôi lợp mấy tấm tôn để linh mục làm lễ và ca đoàn hát cho được thôi. Nhưng xảy ra xô xát dữ lắm, khoảng chừng 100 người (phía họ).”

Đối với nhiều người ở Huế, dù là người Công giáo hay ngoài Công giáo, đều biết đến khu đồi Thiên An với Đan viện Công giáo trên đỉnh đồi. Nhiều người đến thăm vì không khí tĩnh lặng của Đan Viện cũng như cảnh rừng thông, vườn cam, ao hồ trong lành tại đó. Trước năm 1975, cơ sở tôn giáo này quản lý đến 107 héc ta; tuy nhiên sau năm 1975 Đan Viện cho biết phần lớn đất đai được cơ quan chức năng mượn nhưng đến nay vẫn không trả mà còn mỗi ngày muốn hạn chế khu vực mà Đan Viện sử dụng bấy lâu nay.

Dự án thất bại và dự án phác thảo

Một phần đất của Đan Viện bị lấy để làm dự án du lịch Hồ Thủy Tiên với kinh phí đầu tư hơn 70 tỷ đồng và bắt đầu hoạt động từ năm 2004. Tuy nhiên dự án tiền tỷ đó trở thành một khu hoang phế vì không thu hút được khách đến vui chơi. Trong khi ấy nhiều giáo dân và cả những người không phải Công Giáo thường lên đến Đan Viện và đồi thông để vãn cảnh.

Tạp chí Tiếng Sông Hương vào ngày 7 tháng 10 năm ngoái có bài viết nêu rõ tình trạng hoang phế của khu du lịch Thủy Tiên, xin trích nguyên văn một đoạn trong bài viết này “Lối vào khu du lịch sinh thái hồ Thủy Tiên cỏ mọc kín, chỉ có 1 người bảo vệ vừa bán vè, vừa làm nhiệm vụ đóng mở cổng. Càng đi sâu vào bên trong khu du lịch càng hoang tàn và xuống cấp nghiêm trọng…

Một viên chức thuộc phòng kế hoạch- đầu tư của Sở Văn Hóa- Thể Thao- Du lịch thừa nhận về sự thất bại của dự án như sau:

“Dự án Hồ Thủy Tiên hiện nay đang giao cho Công ty Du Lịch Cố Đô Huế quản lý và khai thác các dịch vụ tại đó. Cơ bản dịch vụ tại đó cũng chưa được đa dạng nên khách cũng ít.”

“ Từ xưa đến nay có 107 héc ta đất thuộc Đan viện. Chúng tôi không cúng, dâng gì cả; chỉ có trường quân sự họ xin thì Cha Bề trên có ký giấy nhượng cho họ trường quân sự và có trạm xá nữa.
-Tu sĩ Trần Minh Vận”

Truyền thông tỉnh Thừa Thiên-Huế loan tin vào tháng 11 năm ngoái Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên- Huế tiếp tục phê duyệt qui hoạch chi tiết xây dựng khu du lịch Hồ Thủy Tiên với diện tích trên 63 hecta.

Trong khi ấy thị viên chức phòng kế hoạch- đầu tư của Sở Văn Hóa- Thể Thao- Du Lịch tỉnh Thừa Thiên- Huế còn cho biết có một dự án khác được qui hoạch tại khu vực đồi Thiên An:

“Đồi Thiên An hiện nay trong quy hoạch du lịch của tỉnh dự kiến biến đồi Thiên An thành một khu trung tâm hội nghị quốc tế. Còn lại khai thác các dịch vụ du lịch chung quanh đó.”

Đất đai bị mượn không trả và khiếu kiện

Tu sĩ Trần Minh Vận trình bày lại việc đất đai của Đan viện bị mượn thế nào từ sau năm 1975 và quá trình khiếu kiện của dòng tu này đến các cơ quan trung ương:

“Từ xưa đến nay có 107 héc ta đất thuộc Đan viện. Chúng tôi không cúng, dâng gì cả; chỉ có trường quân sự họ xin thì Cha Bề trên có ký giấy nhượng cho họ trường quân sự và có trạm xá nữa. Họ lấy lâm trường, hồ Thủy Tiên, còn chúng tôi không nhường, không bán, không cho ai cả; vì đời sống của chúng tôi là chiêm nghiệm, phải giữ một môi trường thinh lặng để cầu nguyện.

Ra ngoài trung ương thì họ nói về Huế để tỉnh ra nghị quyết cho mình được sử dụng bao nhiêu; chứ họ không giải quyết ngoài đó được.”

Vụ việc đất đai của Đan Viện Thiên An không phải đến nay mới ‘nóng’ mà đã từng căng thẳng nhiều năm trước. Linh mục Nguyễn Hữu Giải từng có thư hiệp thông với vụ việc Đan Viện Thiên An nói về việc khiếu kiện về đất đai, cơ sở của dòng tu Thiên An cũng như một số vụ việc khác tại Việt Nam:

“Tôi được biết Tòa Giám mục cũng như các cha có trách nhiệm đã gặp gỡ nhà nước cấp tỉnh, cấp thành phố hoặc chỗ ngày, chỗ kia rất nhiều; hoặc bên hành chánh cũng như bên cơ quan an ninh- tất cả. Rồi cũng góp ý làm sao để tôn trọng. Nhưng tôi thấy khi ý đồ của người ta đã có rồi thì gặp cho vui; chứ đối thoại như với người điếc mà! Vẫn lên tiếng… nhưng không kết quả đâu.

Chúng tôi nhớ lại ở Hà Nội, vụ Tòa Khâm Sứ rồi Thái Hà. Lên tiếng biết bao nhiêu giữa thủ đô Hà Nội- ‘ban ngày, ban mặt; thế mạ họ vẫn biến nhà Khâm sứ, bao nhiêu đất đai, nhà cửa của giáo xứ Thái Hà, của các cha Dòng Chúa Cứu Thế trở thành công viên, việc này- việc kia…

Nhà nước này không kể gì; nhất là vừa rồi họ thành công trong ngoại giao chỗ này, chỗ kia nữa. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng còn qua được Hoa Kỳ, vào ngồi trong Phòng Bầu dục nên họ ‘lên mặt, lên mũi’ ghê lắm. Họ có kể dân là gì đâu. Dân càng ngày càng bị áp bức; họ chỉ lo cho họ thôi, lo cho đảng, cho cán bộ thôi! Còn dân rất khổ, đau khổ lắm. Thậm chí như vùng chúng tôi ở, vùng biển này, dân nghèo đua nhau qua Lào làm ăn; không phải người trung niên mà thanh niên nam, nữ phải sang Lào làm ăn vì ở Việt Nam không có chỗ để làm ăn. Quá khổ!”

Lâu nay tại Việt Nam, không chỉ đất đai, cơ sở của các tôn giáo mà đất nông nghiệp của dân cũng bị thu hồi để giao cho tư nhân triển khai dự án kinh tế. Việc làm này bị người dân phản đối và khiếu kiện khi chưa có sự thỏa thuận và bồi thường thỏa đáng giữa đôi biên theo như luật định. Tuy nhiên người dân vẫn bị mất đất khi đơn thư khiếu kiện mà họ cho là đúng qui định của luật phát Việt Nam vẫn không được giải quyết. Thực tế dẫn đến việc rất nhiều người cho rằng bị oan ức tiếp tục đến các cơ quan trung ương đặt tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đòi hỏi luật pháp phải được thự thi, chứ không thể để tình trạng địa phương lập ra dự án lấy những mảnh đất vàng như đồi Thiên An tại Huế để trục lợi- tư túi,  chứ hoàn toàn không phải vì lợi ích chung.

EM VỢ THỦ TƯỚNG & “SIÊU LỪA” DƯƠNG THANH CƯỜNG

EM VỢ THỦ TƯỚNG & “SIÊU LỪA” DƯƠNG THANH CƯỜNG

Huy Đức

Vợ chồng tướng công an Trần Quốc Liêm – em vợ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – là “mắt xích” quan trọng nhất trong vụ án Dương Thanh Cường (lừa đảo ngân hàng Agribank 966 tỷ đồng). Thế nhưng, khi tường thuật phiên tòa diễn từ 22-10-2015 và kéo dài suốt tuần, các nhà báo (lại) đều làm như không nhìn thấy “cặp voi này trong phòng khách”.

Không một lần, cái tên Trần Quốc Liêm và vợ ông, Trần Hoa Mai, xuất hiện trong các bài tường thuật. Vụ án, vốn được xếp trong “tám Đại án tham nhũng”, nếu vẫn được tuyên vào thứ Tư, 4-11-2015, sẽ đi qua như một vụ hình sự thường.

Dương Thanh Cường, sinh năm 1965, vào giữa thập niên 1990 đã từng đối diện án tử hình với 5 tội danh trong đó có tội lừa đảo và đưa hối lộ; sau đó được giảm xuống chung thân rồi 20 năm. Cường ở tù tới năm 2005 thì được tha.

Năm 2007, nhờ mối quan hệ riêng và trên cơ sở 5 ha đất của ông bà Trần Quốc Liêm – Trần Hoa Mai tại xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Cường lập dự án “cao ốc căn hộ và khu biệt thự vườn Thanh Phát”. Ngoài việc “chuyển nhượng” đất cho Dương Thanh Cường, bà Trần Hoa Mai còn nhận đứng ra “mua gom đất đai” cho Cường làm dự án.

Theo lời khai ban đầu của Cường, anh ta có nhờ tướng Trần Quốc Liêm “trao đổi với ông Nguyễn Thế Bình, Tổng giám đốc Agribank” để ngân hàng cho Cường vay tiền. Cho dù khi bị tạm giam, Cường đã “rút lại lời khai” này, nhưng các diễn tiến của vụ án cho thấy, trong lịch sử làm ăn rất “liều” của mình, nếu không có sức ép đủ lớn, chưa bao giờ Agribank “giải ngân” theo kiểu “ném tiền” như thế.

Chỉ với 23 “sổ đỏ” đất nông nghiệp, “Dự án” chưa hề có một “bút phê” nào của cấp có thẩm quyền, vậy mà Dương Thanh Cường “xin vay 700 tỷ đồng”, Agribank “duyệt ngay cho vay 700 tỷ đồng”. Và, chỉ trong một thời gian mấy tháng, Agribank đã giải ngân 628 tỷ đồng cho dù “dự án” của Cường không hề có bất cứ dấu hiệu nào khởi động.

Theo Cáo trạng (liệt kê), có tới 566 tỷ đồng (một con số khác là 386,36 tỷ đồng – trong số 628 tỷ đồng này) ngân hàng Agribank chuyển cho Cường thông qua tài khoản cá nhân của bà Trần Hoa Mai.

“Giải ngân” xong, Agribank liền cho Cường “mượn” những cuốn “sổ đỏ” đang được thế chấp này đi làm thủ tục sang tên. Trưởng phòng tín dụng Agribank, chi nhánh 6, Hồ Văn Long khai, lẽ ra Agribank phải cử cán bộ “áp tải” những cuốn sổ đỏ này đến cơ quan chức năng, nhưng Long tin lời Dương Thanh Cường, “nếu để Cường trực tiếp cùng bà Trần Hoa Mai và ông Trần Quốc Liêm đi làm sẽ nhanh hơn”.

Cường mang khối tài sản đã thế chấp này đi gặp ông Trầm Bê, ông Trầm Bê cho vay tiếp 1.500 lượng vàng (từ ngân hàng Phương Nam – chúng ta còn có cơ hội “gặp” lại ông Trầm Bê khi nói về gia đình này).

Những hành động tiếp tay khá đắc lực cho Dương Thanh Cường lừa đảo đã không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các cơ quan tố tụng cho rằng, mối quan hệ giữa vợ chồng thiếu tướng Trần Quốc Liêm và Cường là “quan hệ dân sự”.

Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao vừa đặt vấn đề áp dụng án lệ ở Việt Nam. Tham khảo án lệ trong trường hợp này không có ví dụ nào tốt hơn là đối chiếu với hợp đồng chuyển nhượng đất giữa công ty Bình Giã và Tamexco hồi 1994.

Ông Trần Quang Vinh, chủ công ty Bình Giã, vì bán đất cho Tamexco và sau đó số đất này được “định giá cao lên” để Tamexco đi thế chấp mà cả ông, ông giám đốc Tamexco và ông trưởng phòng công chứng Vũng Tàu đều bị tử hình.

Hội đồng thẩm định giá TP HCM định giá “23 sổ đỏ của Cường” chỉ tương đương 126 tỷ đồng – giá tại thời điểm thế chấp – vậy mà Agribank vẫn cho vay 628 tỷ. Và, chỉ riêng 5 hecta của vợ chồng thiếu tướng Trần Quốc Liêm, đã “bán” được cho Dương Thanh Cường 347,9 tỷ đồng (giá 7 triệu đồng/m2 đất ruộng). Vợ chồng ông Liêm bà Mai đã nhận 171,2 tỷ đồng (119 tỷ chuyển khoản; 52,2 tỷ do Cường nhiều lần mang tới tận nhà).

So sánh vụ này với Tamexco là xúc phạm vong linh các bị án trong vụ Tamexco, đặc biệt là xúc phạm ông Trần Quang Vinh. Ông Vinh là một nhà doanh nghiệp nghiêm túc. Ông đã bỏ ra rất nhiều tiền để làm “cơ sở hạ tầng đổi đất”, góp phần làm thay đổi bộ mặt Bãi Trước Vũng Tàu. Cho đến khi ông bị hành quyết, Chính quyền Vũng Tàu vẫn còn nợ ông Trần Quang Vinh 17 tỷ.

Khoản tiền “thất thoát” trong vụ án Dương Thanh Cường chủ yếu nằm ở “Dự án Thanh Phát”. Một “Dự án ma” – có sự tham gia rất trực tiếp của ông bà Trần Quốc Liêm, Trần Hoa Mai – đã giúp Cường chiếm đoạt của Agribank 966 tỷ đồng (con số thiệt hại trên thực tế theo luật sư Trương Thị Hòa là 1.500 tỷ đồng). Vậy nhưng, trong mấy ngày xử án vừa qua, cho dù được các luật sư yêu cầu, Tòa cũng không triệu tập ông bà Liêm – Mai.

Đất nông nghiệp, chưa được chuyển mục đích sử dụng, không được chấp thuận làm dự án, được mua bán với giá 7 triệu/m2, có thể coi là một “giao dịch dân sự ngay tình” không.

Nếu đã xác định khoản tiền 171,2 tỷ đồng mà Dương Thanh Cường trả cho vợ chồng tướng Trần Quốc Liêm được lấy từ Agribank thì nên coi đó là những đồng tiền “do Cường phạm tội mà có” chứ không thể coi đó là tiền của Cường để xác nhận thương vụ này là bình thường.

Có một câu hỏi mà các “đồng chí trong Đảng” của ông Liêm cũng cần đối chiếu với Nghị quyết TW 4 để đặt ra là, khối tài sản khổng lồ mà tướng công an Trần Quốc Liêm có, liệu đã được kê khai trung thực.

Không phải tự nhiên mà vài bị cáo từ Agribank đã “đấm ngực” trước tòa. Những cán bộ ngân hàng ấy, nếu không có sức ép như các lời khai ban đầu, liệu họ có dám giải ngân một khoản tiền khổng lồ cho một người có nhân thân như Dương Thanh Cường với các điều kiện thế chấp vu vơ như thế.

Tòa án nhân dân TP HCM nên hoãn tuyên án; trả hồ sơ để cơ quan điều tra điều tra lại từ đầu như đề nghị của một số luật sư. Và, theo tinh thần mà các vị đại biểu đang đề nghị ở Quốc hội: Với những vụ án liên quan đến những người quyền lực như thế này, nên trao cho một cơ quan điều tra đủ quyền độc lập.

Ông Trần Quốc Liêm không những là em của bà Trần Thanh Kiệm – phu nhân đương kim Thủ tướng – mà còn đang là một viên tướng quyền thế.

Năm 2010, Công an TP HCM (PC46) đã phát hiện, điều tra vụ án này và đã lên kế hoạch bắt “siêu lừa Dương Thanh Cường”. Thiếu tướng Phan Anh Minh đích thân chỉ đạo. Nhưng ông Minh – một người được tiếng cương trực – cũng đã không vượt qua được những áp lực. Phải mất hơn hai năm sau, Cơ quan cảnh sát điều tra C48 của Bộ mới khởi tố được một vụ án “lừa đảo hai năm rõ mười”.

Nếu phiên tòa xử “đại án tham nhũng” này khép lại vào thứ Tư, 4-11-2015. Và báo chí vẫn vờ như không có hai cái tên Trần Quốc Liêm – Trần Hoa Mai. Thì, cho dù Nghị quyết “Bốn, Năm” của TW có lấy chức Trưởng ban chống tham nhũng ra khỏi tay Thủ tướng. Trưởng ban chống tham nhũng mới, có vẻ như, vẫn chưa nắm được “thượng phương bảo kiếm”.

Bình Dương: Hàng trăm người dân tham gia tưởng niệm Tổng thống Ngô Đình Diệm

Bình Dương: Hàng trăm người dân tham gia tưởng niệm Tổng thống Ngô Đình Diệm

CTV Danlambao – Tưởng niệm 52 năm ngày Tổng thống Ngô Đình Diệm bị sát hại, sáng nay, 2/11/2015, hơn một trăm người dân khắp nơi đã tập trung về nghĩa trang Lái Thiêu (Bình Dương) để bày tỏ lòng thành kính và tưởng nhớ công ơn của vị tổng thống đã khai sinh nền Đệ nhất Cộng Hoà.

Theo thông báo, lễ tưởng niệm chính thức sẽ diễn ra vào lúc 10 giờ sáng cùng ngày, tuy nhiên, rất đông người đã có mặt ngay từ lúc 8 giờ sáng.

Buổi lễ tưởng niệm được cử hành bởi các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, dòng Thánh Đa Minh và Giáo Phận Vinh…

 
Buổi lễ có sự tham dự của các cựu quân nhân và thương phế binh Việt Nam Cộng Hoà.

Tham gia viếng mộ, có khoảng hơn hơm một trăm người dân thuộc đủ mọi thành phần, bao gồm các cựu tù nhân lương tâm, cựu quân nhân và các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa…

Đáng chú ý, khá nhiều những gương mặt trẻ cũng đã có mặt trong dòng người lặng lẽ thắp nén nhang, tưởng nhớ đến vị Tổng thống đã dành trọn cuộc đời đau đáu nỗi lo cho vận mệnh của quốc gia, dân tộc.

 
Các linh mục cử hành buổi lễ tưởng niệm.

Phía bên ngoài, có rất nhiều công an và an ninh đứng quay phim, chụp hình những người đến tham dự buổi tưởng niệm.

Không dừng lại ở đó, họ cho côn đồ gây rối: cố tình gây tiếng ồn ào, kiếm chuyện cãi vã chửi bới người tham dự, đốt cây cối xung quanh tạo khói cay nồng nặc. Tuy nhiên buổi tưởng niệm vẫn diễn ra suôn sẻ, ngoài một số hành vi khiêu khích của CA thì không có sự việc đáng tiếc nào xảy ra thêm.

Trong không khí trang nghiêm của buổi lễ, tất cả mọi người lần lượt đến viếng mộ và thắp nhang kính viếng gia đình của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Cha Vinh Sơn Phạm Trung Thành nhấn mạnh: “Cố Tổng Thống là một người công chính, cả đời ông đã dấn thân cho sự thật và danh dự của đất nước, mà ông đã phải hy sinh tính mạng của mình”. 

Linh mục cựu Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế còn nói thêm: “Cố Tổng Thống như là một tấm gương sáng của lòng yêu nước trong giai đoạn lịch sử đã diễn ra khốc liệt tại Việt Nam”.

 
Cựu tù nhân lương tâm Trần Minh Nhật

Cựu tù nhân lương tâm Trần Minh Nhật, một người sinh năm 1986 đến từ Lâm Đồng chia sẻ: “Hôm nay tôi đến đây và thấy có rất nhiều người trẻ như tôi đến đây. Tôi thấy rất vui và tự hào khi được đứng trước một con người đã hiến thân cho tổ quốc, tôi rất khâm phục và kính trọng ông”.

“Chính Tổng Thống Diệm là một người rất yêu tổ quốc và đồng thời đã đấu tranh cho quyền lợi của tổ quốc. Ngày lễ hôm nay, tôi ghi nhớ công lao một con người đã luôn tranh đấu cho quyền lợi tổ quốc”. 

Hai bạn trẻ thầm lặng cầm bó hoa trên tay cho biết: “Gia đình em có người là lính VNCH và đã nói cho em biết con người của CốTổng thống Ngô Đình Diệm thế nào. Và em cũng có lên mạng để tìm thêm thông tin và biết đúng là đúng như vậy. Nên hôm nay tụi em đến đây để viếng ông và gia đình”.

 
Thương phế binh Lư Bửng

Chú thương phế binh Lư Bửng, thuộc tiểu đoàn 2 nhảy dù, bị thương vào 20/7/1972 tâm sự: “Vào thời của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tuy chú còn đi học nhưng đến hôm nay chú vẫn còn nhớ rất rõ”. 

“Vào thời gian này nước Việt Nam thật sự thanh bình. Người dân của mình lúc bấy giờ việc sinh hoạt ăn uống rất sung túc, nạn trộm cắp hầu như không có, thậm chí ngủ không khóa chốt then cài mà vẫn an tâm. Hôm nay chú đến đây để cùng mọi người tham dự buổi tưởng niệm cố tổng thống Ngô Đình Diệm, một người đã hy sinh cả cuộc đời cho đồng bào, cho dân tộc Việt Nam”. 

“Và chú cũng rất xúc động khi nhìn thấy một số bạn trẻ sinh sau 1975 cũng có mặt. – Chính nghĩa bao giờ cũng chiến thắng”.

 
Mộ phần thân mẫu cố Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu.
 
Mộ phần cụ Ngô Đình Nhu.
 
Mộ phần cụ Ngô Đình Diệm.

Buổi lễ kết thúc vào khoảng 11 giờ. Sau đó mọi người vẫn ở lại thắp nhang tại mộ của gia đình Cố Tổng Thống, tất cả cùng nhau ôn lại quá khứ bi thương về vị cố Tổng Thống đáng kính, người đã dành cả cuộc đời hy sinh vì lợi ích quốc gia, dân tộc cho đến tận ngày nhắm mắt.

Đến 12 giờ trưa, tất cả mọi người cùng nhau ra về.

CTV Danlambao

danlambaovn.blogspot.com

CSVN sửa luật hình sự để giải cứu cán bộ

CSVN sửa luật hình sự để giải cứu cán bộ
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Tại kỳ họp của Quốc Hội CSVN đang diễn ra tại Hà Nội, ông Nguyễn Bá Thuyền, đại biểu Quốc Hội nêu thắc mắc phải chăng việc sửa luật hình sự là để giải cứu cán bộ?

Ông Nguyễn Bá Thuyền, người cho rằng, sửa luật hình sự nhằm giải
cứu cán bộ. (Hình: VTC)

Tại phiên thảo luận về dự luật “sửa luật hình sự hiện hành,” ông Thuyền tỏ ra bất bình khi dự luật vừa kể loại bỏ tội “cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.” Theo ông Thuyền, đó là một cách dung tha cho những cán bộ cố tình vi phạm luật pháp.

Ông Thuyền nói thêm rằng ông nghi ngờ những người soạn dự luật sửa luật hình sự hiện hành tiếp tay cho tham nhũng.

Luật hình sự cũ quy định, bị xem là tham nhũng nếu “lợi dụng chức vụ quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận, hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào dưới mọi hình thức để làm hoặc không làm một việc nào đó,” đối với quy định này, bộ phận soạn dự luật sửa luật hình sự thêm từ “đòi.” Ông Thuyền bảo rằng, thêm như vậy chẳng khác gì tiếp tay bởi khó mà chứng minh có “đòi” hay không. Thực tế cho thấy, bị làm khó là dân tự động phải đưa, không cần “đòi.” Thêm từ “đòi” thì không chống tham nhũng được nữa.

Để dẫn chứng, ông Thuyền nêu lại một trường hợp đã từng xảy ra trên đài truyền hình quốc gia, đó là khi bị chất vấn, một viên bộ trưởng của Việt Nam chống chế rằng, không có thuộc cấp nào của ông ta đòi hối lộ, chỉ có nhân dân tự đưa!

Đây là lần cuối Quốc Hội Việt Nam góp ý cho dự luật hình sự trước khi bỏ phiếu thông qua. “Nỗ lực sửa luật hình sự” của Việt Nam dường như một trò hề.

Những ý tưởng được cho là mới trong dự luật sửa luật hình sự hiện hành chủ yếu chỉ xoay quanh nhóm tội phạm về kinh tế, theo đó sẽ tăng hình phạt tiền, hạn chế phạt tù đối với các loại tội trong nhóm tội phạm này. Chẳng hạn trước đây, những người phạm tội “buôn lậu,” bị kết án từ sáu tháng đến ba năm tù có thể nộp khoản tiền phạt từ 10 triệu đến 100 triệu để khỏi vào tù thì nay, nhóm soạn thảo dự luật sửa Bộ Luật Hình Sự hiện hành nâng mức tiền phạt lên ba lần (từ 30 triệu đến 300 triệu). Đồng thời cho phép người bị phạt từ ba năm tù đến bảy năm tù có thể nộp phạt từ 300 triệu đến 1,5 tỷ để khỏi vào tù. Nếu bị phạt từ bảy năm tù đến 15 năm tù, có thể nộp phạt từ 1,5 tỷ đến 5 tỷ để mua tự do.

Những người bị kết tội “trốn thuế” cũng có thể nộp khoản tiền phạt tương ứng từ ba đến năm lần số thuế mà họ gian lận và khỏi phải vào tù.

Tương tự, các tội khác trong nhóm tội phạm kinh tế như “vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới,” “sản xuất, buôn bán hàng cấm,” “tàng trữ, vận chuyển hàng cấm,” “sản xuất, buôn bán hàng giả,” “kinh doanh trái phép,” “đầu cơ,” “lừa dối khách hàng,” “cho vay nặng lãi,”… đều có thể nộp tiền phạt để khỏi vào tù.

Ngoài việc gạt bỏ tội “cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng,” dự luật này còn gạt bỏ một số tội khác như “báo cáo sai trong quản lý kinh tế.” Một viên chức Bộ Tư Pháp từng giải thích, việc gạt bỏ các tội vừa kể ra khỏi luật hình sự nhằm “bảo đảm tính minh bạch, rõ ràng trong chính sách hình sự” vì “không nên tạo ra một tội danh giống như cái túi để xử lý những vi phạm mà không đủ căn cứ để truy cứu về một tội danh cụ thể.”

Điểm đáng chú ý là dự luật sửa luật hình sự hiện hành của Việt Nam không đề cập gì đến nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia, trong khi càng ngày càng nhiều chính phủ, tổ chức quốc tế lên án và yêu cầu chính quyền Việt Nam phải hủy bỏ nhiều tội trong nhóm tội này như: “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (điều 79), “phá hoại chính sách đoàn kết” (điều 87), “tuyên truyền chống nhà nước” (điều 88), “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước” (điều 258). Lý do là vì chúng mơ hồ và thường được chính quyền Việt Nam tận dụng nhằm kết án, giam cầm những người chỉ bày tỏ chính kiến của họ một cách ôn hòa. (G.Đ)

Thoát nghèo rồi lại tái nghèo, nguyên nhân vì sao?

Thoát nghèo rồi lại tái nghèo, nguyên nhân vì sao?

van-kieu-622

Một gia đình Vân Kiều nghèo ở Quảng Trị.

File photo

Về công tác xóa đói, giảm nghèo thiếu bền vững tại Việt Nam, nhiều hộ dân được cho là thoát nghèo nhưng rồi lại rơi vào ngưỡng nghèo trở lại. Lý do vì sao?

Nguyên nhân

Trang kinh tế của nhà nước cho biết để thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo cho người dân thì mỗi năm nhà nước chi chừng 90.000 tỷ đồng; và kết quả là mỗi năm Việt Nam có từ 3 – 4% hộ nghèo thoát được cảnh nghèo. Tuy nhiên, sau đó 3-4 năm thì những hộ này lại tái nghèo, và có những năm số liệu tái nghèo lại còn cao hơn số liệu đã thoát nghèo.
Còn Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội báo cáo đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo giai đoạn 2005 – 2012 nêu rõ cứ 3 hộ thoát nghèo thì có một hộ tái nghèo.
Những hộ nghèo thường tập trung ở những vùng nông thôn và các vùng dân tộc miền núi. Đó là những nơi tỷ lệ hộ nghèo cao và cơ hội thoát nghèo chưa bền vững.

Trận bão năm ngoái đã làm sập ngôi nhà, sau đó tôi phải đi vay mấy chục triệu để xây nhà nên giờ gia đình tôi lại trở lại diện hộ nghèo, không biết số tiền tôi vay khi nào mới trả lại được vì sản xuất nông nghiệp như tôi cũng chỉ đủ ăn qua ngày.
-Nguyễn Thị Lan

Khi được hỏi lý do thoát nghèo nhưng sau một thời gian lại rơi vào cảnh nghèo trở lại, chị Nguyễn Thị Lan ở Nghệ An cho biết vì lý do thiên tai nhất là về mùa mưa bão. Gia đình chị là diện hộ nghèo được hỗ trợ 30 triệu đồng để xây nhà tuy nhiên nhà đó đã sập vì trận lụt nay nhà nước không hỗ trợ nữa nên nhà chị phải chạy vạy vay mượn để xây cho được ngôi nhà mà theo nguyên văn của chị để ‘có chỗ chui ra chui vào’; thế là nhà chị lại rơi vào cảnh nợ nần, túng quẫn, nghèo khó:

“Trận bão năm ngoái đã làm sập ngôi nhà, sau đó tôi phải đi vay mấy chục triệu để xây nhà nên giờ gia đình tôi lại trở lại diện hộ nghèo, không biết số tiền tôi vay khi nào mới trả lại được vì sản xuất nông nghiệp như tôi cũng chỉ đủ ăn qua ngày.”

Còn ông Nguyễn Văn Nghĩa ở Tp Hồ Chí Minh cho biết nguyên nhân do vợ ông mắc căn bệnh hiểm nghèo và để có tiền chữa bệnh cho vợ thì ông phải bán hết tài sản, rồi vay nợ tiếp để có tiền trả viện phí:

“Mới vừa rồi vợ tôi gặp phải căn bệnh hiểm nghèo, nằm viện hơn nửa năm và để có tiền trả viện phí để chạy chữa cho vợ thì gia đình tôi phải bán sạch mọi thứ, thế mà không đủ tôi còn phải vay thêm tiền mới đủ tiền trả viện phí, giờ trong nhà tôi không còn gì có giá trị nữa mà lại còn nợ mấy chục triệu nữa.”

cuu-van-622.jpg
Người dân nghèo hành nghề cửu vạn tại Việt Nam. (Ảnh minh họa)

Còn chị Nguyễn Thị Huyền ở Hà Nội vì muốn thoát nghèo nên chị đã vay ngân hàng một số tiền để đầu tư tuy nhiên vì thua lỗ mất cả chì lẫn chài, giờ không trả được nợ thế mà lại còn hoàn nghèo.

“Tôi thấy trong năm trước giá Vàng tăng, nên tôi đã vay ngân hàng để đầu tư vào Vàng nhưng không ngờ sau đó giá Vàng giảm mạnh thế là tôi bị thua lỗ nên lãi ngân hàng vẫn chưa trả được.”

Bên cạnh những hộ tái nghèo do những hoàn cảnh khách quan như bệnh tật, thiên tai… thì còn có những người lại không muốn thoát nghèo vì gia đình thuộc diện hộ nghèo thì sẽ có được nhiều ưu đãi hơn. Đó là một số khoản như được phát gạo vào mỗi dịp tết, được khám chữa bệnh miễn phí hay là con cái đi học được miễn giảm học phí. Chị Nguyễn Thị Trang ở Quảng Bình chia sẻ:

“Hộ nghèo được rất nhiều ưu đãi nên có nhiều người không muốn thoát nghèo, hộ nghèo như tôi con cái đi học được miễn học phí, mỗi tháng tôi được nhận 180.000 đồng.”

Nguyên nhân để mà tái nghèo thì rất là nhiều, một là liên quan đến những cái rủi ro, biến đổi khí hậu những sự cố của người nghèo thì rất dễ tái nghèo thôi đó là 1 trong những lý do cơ bản nhất, hạn hán, lũ lụt, giá cả.
-Chu Thị Hạnh

Phát biểu về tình trạng thoát nghèo rồi lại tái nghèo, cô Chu Thị Hạnh phó vụ trưởng, văn phòng quốc gia về giảm nghèo cũng đồng ý với những nguyên nhân khách quan cũng như nhiều yếu tố chủ quan mà người dân nêu ra:

“Nguyên nhân để mà tái nghèo thì rất là nhiều, một là liên quan đến những cái rủi ro, biến đổi khí hậu những sự cố của người nghèo thì rất dễ tái nghèo thôi đó là 1 trong những lý do cơ bản nhất, hạn hán, lũ lụt, giá cả… những cái đó toàn là những yếu tố khách quan tác động vào cho người nghèo, nghèo thì lại tái nghèo thôi. Yếu tố chủ quan bây giờ mình khó mà đánh giá được. Chủ quan thì là do ý thức của người nghèo.”

Giải pháp?

Tại một số nơi tại Việt Nam để thoát cảnh nghèo, nhiều gia đình chọn cách thức vay nợ để cho con cái mình đi xuất khẩu lao động. Theo họ đó dường như là con đường duy nhất, để mong cho họ sớm thoát cảnh nghèo. Ông Nguyễn Văn Nghĩa cho biết:

“Để mong thoát cảnh nghèo, tôi đã chơi canh bạc cuối cùng là cho con trai tôi đi xuất khẩu lao động nước ngoài, như vậy mới mong thoát nghèo được.”

Nhiều ý kiến lâu nay cho rằng để giải quyết tình trạng xóa đói giảm nghèo cho người dân thì ngoài biện pháp hỗ trợ tạm thời, cơ quan chức năng cần cho người nghèo chiếc cần câu cá. Một khi có nghề nghiệp ổn định, nơi cư trú bền chắc, người dân mới có điều kiện lao động để sinh sống và đóng góp cho xã hội. Đây là một kế hoạch tổng thể, lâu dài chứ không thể chắp vá như lâu nay.

Tại sao phải giết Tổng thống Ngô Đình Diệm?

Tại sao phải giết Tổng thống Ngô Đình Diệm?

Ngo_Dinh_Diem_-_Thumbnail_-_ARC_542189-622.jpg

Tổng thống Ngô Đình Diệm tại Washington DC tháng 8 năm 1957.

Courtesy U.S. Air Force
Cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 đã đưa đất nước Việt Nam vào một khúc quanh lịch sử. Cái chết của hai anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông là Ngô Đình Nhu, những tướng lãnh tham gia cuộc đảo chánh không ai biết người ra lệnh thủ tiêu hai ông là ai nhưng sau khi tro bụi của cuộc cách mạng lắng xuống những gương mặt đứng phía sau giật dây cho cuộc tàn sát ấy bắt đầu được điểm danh và lịch sử luôn công bằng cho từng người một.

Mặc Lâm phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành, một nhân chứng lịch sử, một người bạn, người cố vấn cho Tổng thống Ngô Đình Diệm từ những ngày đầu tiên khi từ Mỹ trở về Việt Nam chấp chính cho tới khi biến cố xảy ra.

Cái tốt và chưa tốt của chế độ Đệ nhất Cộng hòa

Mặc Lâm: Thưa ông Bùi Kiến Thành, xin cảm ơn ông cho phép chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này. Ngày 1 tháng 11 hàng năm có lẽ ai theo dõi tình hình Việt Nam trong lịch sử đương đại đều nhớ là ngày mà cuộc đảo chính không những lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm mà còn giết cả hai anh em ông ấy tại Sài gòn vào năm 1963. Ông có nhận đình gì về ngày lịch sử này thưa ông?

Bùi Kiến Thành: Có lẽ cũng là một ngày chúng ta nên ôn lại cái được và cái chưa được cái tốt và cái chưa tốt của chế độ Đệ nhất Cộng hòa để chúng ta rút bài học.

Mặc Lâm: Vâng, trước khi đi sâu hơn vào chi tiết xin ông vui lòng cho biết về mối quan hệ của ông với Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Bùi Kiến Thành: Trong khi tôi học ở Columbia vào những năm 1952 cho tới năm 1954 lúc đó thì chí sĩ Ngô Đình Diệm đang ở New Jersey. Cứ mỗi cuối tuần thì ông qua New York thăm chơi với tôi cùng một anh bạn nữa là anh Bùi Công Văn, ảnh là phóng viên của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ. Cứ tối thứ Bảy thì ông qua ngồi nói chuyện suốt đêm cho tới sáng Chủ Nhật thì ông đi lễ, đi lễ về rồi lại nói chuyện suốt ngày, tới chiều Chúa Nhật thì ông trở lại tu viện Maryknoll.

Chúng tôi sống với nhau trong cảnh bạn cố tri trao đổi như thế trong suốt gần hai năm tại New York trước khi ông Diệm về bên Pháp và sau đó về làm Thủ tướng chánh phủ.

Sau khi ông Diệm về làm Thủ tướng chính phủ chấp chánh vào ngày mùng 7 tháng 7 thì ông Diệm gửi điện qua New York và Washington yêu cầu tôi trở về để giúp đỡ. Ngày 23 tháng 8 năm 1954 sáu anh em chúng tôi là cựu sinh viên của các đại học Mỹ về giúp cho ông Diệm trong thời kỳ rất là khó khăn. Làm Thủ tướng mà không có cảnh sát không có quân đội chỉ vỏn vẹn có 27 sĩ quan đi theo mà thôi.

Người Mỹ không chấp nhận cái lý luận của ông Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ ông Diệm đi, đó là vấn đề cốt lõi chứ không phải do bà Nhu thế này thế khác. Bà Nhu gây ra nhiều tai tiếng, nhưng không có vai trò chánh hay lý do chánh làm sụp đổ chính phủ Ngô Đình Diệm.
-Bùi Kiến Thành

Cả một đất nước do Pháp đang cai trị vì vậy khi nắm lại quyền tự do, quyền tự chủ, quyền độc lập trong thời kỳ đó rất là khó khăn vì vậy chúng ta phải đánh giá cao việc ông Diệm bình định được tình hình, đưa quân Pháp ra khỏi nước Việt Nam một cách ổn định và xây dựng nền đệ nhất cộng hòa. Điều này khi nghiên cứu lịch sử và đánh giá cao tinh thần của cả một thời kỳ không riêng gì ông Diệm mà những người đi theo hỗ trợ giúp đỡ cho ông Diệm, những nhân sĩ ở miền Nam, nhân sĩ ở miền Trung, miền Bắc… tất cả đều có công lớn đã xây dựng chế độ đệ nhất cộng hòa, nhưng rất tiếc rằng sau đó chúng ta không làm được những chuyện ta cần phải làm để đến nỗi bị đổ vỡ.

Mặc Lâm: Thưa ông trong khi gần gũi với Thủ tướng Ngô Đình Diệm ông và các người được Thủ tướng mời về cụ thể làm những việc gì để giúp cho chính phủ còn non nớt lúc ấy?

Bùi Kiến Thành: Tôi bên cạnh ông Diệm suốt ngày mà! Khi tôi về tại Dinh Gia Long ngày 23 tháng 8 đó ăn cơm trưa với ông Diệm và một số Bộ trưởng, Tổng trưởng, có những nhân hào nổi tiếng của Việt Nam như ông Phạm Duy Khiêm, Bác sĩ Bùi Kiến Tín, Nguyễn Văn Châu… chúng tôi hết sức khẩn thiết làm bất cứ việc gì để ổn định tình thế, tôi ở suốt ngày suốt đêm trong dinh một thời gian rồi sau đó tôi mới dời ra ngoài. Sau khi bố trí lại thì ngày nào đêm nào tôi cũng vào trong dinh để mà làm việc với Thủ Tướng rồi Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Một là bên Dinh Gia Long, sau nữa khi dời sang Dinh Độc Lập tôi cũng sát cùng ông Diệm như một cộng sự đặc biệt vì cái chỗ thân tình từ khi còn nhỏ kia, khi tôi mới 15-16 tuổi, hồi đó gia đình tôi thân với ông Diệm lắm. Chính ông cụ tôi đã cất giấu ông Diệm trong khi bị Nhật tìm bắt ông. Sau này khi không còn tham chính nữa ông cụ tôi tiếp tục làm y sĩ riêng cho Tổng Thông đến ngay ông ấy bị sát hai. Cái thân tình ấy dẫn tới chỗ hết sức gần với nhau. Tất cả những chuyện thâm cung bí sử, khó khăn trong thời kỳ tháng 8 tháng 9 tới tháng 12 năm 1954 thì thật sự hội lại chỉ có 4 người trong Dinh Gia Long thôi: Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Bác sĩ Bùi Kiến Tín và Bùi Kiến Thành. Chúng tôi bàn với nhau cái gì cần phải làm. Làm sao nắm được quân đội, làm sao đối kháng với Bình Xuyên, làm sao giải tỏa được thành phố Sài Gòn xây dựng lên một chính quyền được nhân dân ủng hộ.

Riêng về tôi đặc biệt là có trách nhiệm giúp cho Tổng thống, khi ấy là Thủ tướng, quan hệ với các phái bộ đặc biệt của Mỹ từ bên Mỹ gửi qua chứ không phải quan hệ với sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Sứ quán Mỹ tại Sài Gòn thân với Pháp, ông đại sứ Mỹ Donald Heath rất thân với Pháp, sau đó thì Lawton Collins cũng thân với ông Cao Ủy Pháp Paul Ely. Công việc của tôi và của ông Ngô Đình Nhu là bắc cây cầu trực tiếp với chính phủ Mỹ ở Washington, qua những phái bộ đặc biệt của Hoa Kỳ gửi qua trong đó có Trung tướng O’Daniel, Đại tá Lansdale sau này là General Lansdal, Paul Hardwood (Trưởng phái bộ CIA), việc của tôi làm lúc ấy cũng chỉ trong 4 người mà thôi bao nhiêu là công việc hết sức khó khăn.

Xây dựng được tờ báo Tự Do là việc tôi hết sức thú vị. Tôi nói với Thủ tướng mình cần có cơ quan ngôn luận tự do. Tờ báo đó được Bác sĩ Bùi Kiến Tín, lúc đó là Bộ Trưởng Bộ Thông tin, ký giấy phép. Tôi tập hợp những nhân sĩ ở Bắc Hà vào làm trong đó có Tam Lang, có Đinh Hùng, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong, Vũ Khắc Khoan …làm ban biên tập để cho tờ báo Tự do có tiếng nói tự do trong thời kỳ hết sức khó khăn như thế. Chỉ có tờ báo Tự do lúc ấy là thực sự nổi tiếng, có tiếng nói tự do trong một khung cảnh rất khó khăn và để chống lại những tờ báo thiên Pháp hay thân các chế dộ trước kia của Sàigon và những đài phát thanh khi đó tại Sài Gòn theo phe quân đội chửi bới Ngô Đình Diệm suốt ngày. Tôi có nhiệm vụ lập nên đài phát thanh “Tiếng nói Quốc dân đoàn kết”, một đài phát thanh đặc biệt để nói lên những sự việc như thế nào trong khi chúng ta phải xây dựng một chính quyền độc lập đó là việc Thủ tướng Ngô Đình Diệm giao cho tôi làm.

Ngo_Dinh_Diem_at_Washington_-_ARC_542189-400.jpg
TT Ngô Đình Diệm bắt tay với Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower, tại sân bay Dulles, Washington DC năm 1957. Courtesy U.S. Air Force.

Mặc Lâm: Xin ông nói rõ hơn tại sao đã là thủ tướng mà còn bị đài phát thanh bên quân đội chống phá bằng cách chửi bới công khai như ông vừa nói, phải chăng còn một thế lực nào công khai chống lại Thủ tướng vào lúc sơ khai ấy hay không?

Bùi Kiến Thành: Thủ tướng Ngô Đình Diệm lúc ấy làm gì có quân? Thủ tướng mà không nắm cảnh sát, công an. Công an trong tay của Bình Xuyên là một đám giang hồ, cướp của. Pháp cho họ quản lý sòng bạc Đại thế giới, Kim Chung… Cảnh sát thì không nắm được còn quân đội thì trong tay của Trung tướng Nguyễn Văn Hinh. Trung tướng Hinh là một người thân Pháp con của ông Nguyễn Văn Tâm, không phải là người ủng hộ cho chính phủ Ngô Đình Diệm vì vậy khi làm Thủ tướng ông Ngô Đình Diệm ngồi trong dinh nhưng cái đài phát thanh là của người khác.

Đài Quốc gia cũng như đài quân đội thì người Pháp, hay thân Pháp, quản lý cứ mỗi ngày chửi bới Ngô Đình Diệm thế này, chửi bới Ngô Đình Diệm thế kia…ngồi trong dinh mà không giải quyết được vấn đề đó vì vậy phải kiên trì xây dựng lực lượng mình lên để giải quyết điều đó.

Xây dựng lực lượng bằng cách thu dụng những nhân sĩ tài ba của đất nước vào ủng hộ mình đồng thời cũng phải có tiếng nói qua cái đài phát thanh “Tiếng nói Quốc dân đoàn kết”, tiếng nói qua tờ báo Tự Do lúc đó đóng một vai trò quan trọng phổ biến tâm tư nguyện vọng, chính sách của Ngô Đình Diệm cho dân chúng được biết. Vấn đề đó cực kỳ quan trọng và tôi được giao trọng trách tổ chức hai việc đó trong những ngày đen tối nhất sau khi ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, tức là những ngày trong tháng 8 tháng 9 năm 1954 cho tới đầu năm 1955 khi bình định xong thì trong hai cơ quan đó, “Đài Tiếng nói quốc dân đoàn kết” không tiếp tục nữa nhưng tờ báo Tự Do vẫn tiếp tục rất tốt. Tờ Tự Do là nguồn dư luận rất tốt trong thời kỳ đó, trong chánh thể đệ nhất cộng hòa.

Không có tổ chức chính trị nồng cốt

Mặc Lâm: Báo chí quốc tế cũng như giới tướng lãnh đa số cho rằng chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ bởi những tuyên bố gây sự giận dữ trong và ngoài nước của bà Ngô Đình Nhu cùng với những hành động đàn áp Phật giáo của chính phủ Ngô Đình Diệm. Ông có chia sẻ gì về việc này?

Bùi Kiến Thành: Đấy chỉ là một phần thôi thực sự ra chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ còn nhiều vấn đề cốt lõi hơn nữa. Ông Ngô Đình Diệm là một người hết sức yêu nước và có công tâm nhưng ông Diệm không có kinh nghiệm tổ chức. Còn ông Nhu thì rất uyên thâm về vấn đề học thuật, ông học rất giỏi về tổ chức thư viện, ông nghiên cứu rất tốt nhưng không có tài năng tổ chức lực lượng chính trị. Nếu quản lý một nhà nước mà không có tổ chức thì làm sao? Vì vậy cho nên cái Đảng Cần lao của ông Nhu không có tổ chức tốt còn cái “Phong trào cách mạng quốc gia” mà ông Bác sĩ Tín làm chủ tịch sáng lập thì nó cũng chỉ là phong trào thôi. Sau một phong trào rồi thì nó lặng im. Quyền chính trị trong nước là ở trong đảng, mà Đảng Cần Lao không được tổ chức tốt vì vậy cho nên chế độ Ngô Đình Diệm không tồn tại được vì không có tổ chức chính trị nồng cốt để làm việc.

Đấy chỉ là một phần thôi thực sự ra chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ còn nhiều vấn đề cốt lõi hơn nữa. Ông Ngô Đình Diệm là một người hết sức yêu nước và có công tâm nhưng ông Diệm không có kinh nghiệm tổ chức.
-Bùi Kiến Thành

Sau nữa còn có cái lỗi ở chỗ lầm lẫn hai việc khác nhau: quản lý các vấn đề nhà nước là việc quản lý hành chính, còn tổ chức nồng cốt do một chính đảng đứng lên để đóng vai trò cột trụ cho một đất nước thì là một việc khác. Do lầm lẫn ở vai trò lãnh đạo chính trị và lãnh đạo hành chính cho nên chế độ Ngô Đình Diệm tập trung nhiều hơn về vấn đề hành chính mà quên đi vấn đề lãnh đạo chính trị, xây dựng nồng cốt tức là sự ủng hộ của nhân dân, làm sao để vấn đề đảng được nhân dân ủng hộ…

Chính phủ Ngô Đình Diệm không làm được, không xây dựng được một đảng chính trị thật sự của dân, do dân và vì dân vì vậy cho nên không đứng vững được và vì thế có thể nói sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm không phải là vấn đề nhỏ bé như chuyện bà Nhu nói cái này cái kia. Có! nó có ảnh hưởng nhưng chuyện đó là chuyện nhỏ đối với khả năng xây dựng nên một chính đảng mạnh thì chính phủ Ngô Đình Diệm không làm được.

Mặc Lâm: Vậy phải chăng do điều mà người ta nhận xét về ông Ngô Đình Diệm là người theo chủ nghĩa dân tộc đã khiến ông bị người Mỹ lo sợ vì không theo sự dẫn dắt của họ, đặc biệt là khi Mỹ muốn đổ quân vào Việt Nam thưa ông?

Bùi Kiến Thành: Khi Mỹ muốn vào Việt Nam năm 1962 ông Diệm nói với người Mỹ rằng các ông nên nhớ trên đất nước tôi trong 4 nghìn năm lịch sử không có một chế độ nào đi theo quân đội nước ngoài mà có thể được nhân dân ủng hộ. Vì vậy ngày nào quân đội Mỹ đặt chân lên đất nước này chúng tôi sẽ mất chính nghĩa, mà khi mất chính nghĩa thì các ông không thể nào thắng được và chúng tôi cũng phải thua theo. Vì vậy ngày nào quân Mỹ đổ bộ lên đất nước này thì kể như ngày đó chính nghĩa Việt Nam đã mất rồi, chúng tôi không thể chấp nhận được.

Người Mỹ không chấp nhận cái lý luận của ông Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ ông Diệm đi, đó là vấn đề cốt lõi chứ không phải do bà Nhu thế này thế khác. Bà Nhu gây ra nhiều tai tiếng, nhưng không có vai trò chánh hay lý do chánh làm sụp đổ chính phủ Ngô Đình Diệm.

Mặc Lâm: Thưa ông, một câu hỏi cho tới ngày nay vẫn nằm trong bí mật, ông thân cận với Tổng thống Ngô Đình Diệm nên có lẽ hiểu được phần nào câu trả lời: ai ra lệnh giết anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và tại sao phải giết họ khi đã nắm tất cả quân đội trong tay và họ đã bị bắt?

Bùi Kiến Thành: Tôi không có thông tin chính xác để nói về vấn đề này nhưng suy luận từ một lần đảo chính trước do Nguyễn Chánh Thi chủ mưu ông Diệm đã lập lại ván cờ bằng cách chỉnh đốn lại, thì lần này Dương Văn Minh và những người theo Dương Văn Minh nghĩ rằng khả năng ông Nhu ông Diệm có đủ bản lĩnh và đủ sự ủng hộ của những quân đoàn còn theo ông ta để lập lại thế cờ thì rất khó khăn cho phe đảo chính. Vì vậy người ta không chấp nhận để cho ông Diệm ông Nhu tồn tại để mà có cái rủi ro đấy. Tôi không có thông tin ai là người ra lệnh giết hai anh em ông Diệm nhưng tôi chắc chắn rằng những người theo phe đảo chánh và nhất là phía Mỹ, thấy nguy cơ Ngô Đình Diệm có thể lập lại thế cờ rất là nguy hiểm vì vậy không để cho Ngô Đình Diệm sống. Đấy là quyết định chính trị chiến lược trong tranh đấu chứ không phải ai làm, hay ai ra lệnh không quan trọng, vấn đề phải tiêu diệt anh em ông Ngô Đình Diệm là để tránh nguy cơ bị lật trở lại.

Mặc Lâm: Trong ngày đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 ông đang làm gì và có theo dõi hay tham gia trong một vai trò nào đó hay không?

Bùi Kiến Thành: Hôm đó tôi đang đi làm việc ở ngoài thì nghe phong phanh ngày hôm đó có bạo động. Tôi gọi về trong dinh thì gặp ông già Ẩn, tức là cận vệ của Tổng thống tôi hỏi anh Ẩn hiện giờ có vấn đề gì không vậy? tôi nghe ngoài này xào xáo lắm, thì ông Ẩn trả lời không có vấn đề gì đâu anh Thành ơi, mình hoàn toàn kiểm soát được mọi chuyện!

Đó là một cái chủ quan đầu tiên tại vì trong buổi sáng hôm ấy ông Nhu đã có sắp xếp một số chiến lược, chiến thuật nhằm giải quyết vấn đề bạo động nhưng vì chủ quan nên không thực hiện được. Tôi nói với ông Ẩn: coi chừng nhé nếu cần gì thì tôi vào trong dinh ngay để giúp cho các anh. Ông Ẩn nói không sao đâu anh Thành, nên tôi về nhà ăn cơm trưa và chờ cho tới hai ba giờ chiều không thấy gì xảy ra. Nhưng khoảng ba bốn giờ chiều tôi gọi lại thì tình hình bế tắc hết tôi không còn làm gì được nữa.

Ngày hôm đó tôi ở Sài Gòn, tôi muốn làm một cái gì đó để giúp đem lại trật tự an ninh nhưng mà cái thời thế có lẽ như là định mệnh của đất nước mình không cho mình làm gì được trong lúc ấy. Có làm gì được nữa trong lúc ấy khi thế lực của kẻ chủ mưu là người Mỹ đứng sau lưng những ông tướng của mình? thế lực ấy nó quá mạnh chúng ta không làm gì được.

Việc đảo chánh ông Ngô Đình Diệm không phải là chuyện của Dương Văn Minh, Dương Văn Minh chỉ là một con cờ thôi, cũng như Trần Văn Đỗ cũng như mấy ông kia củng chỉ là con cờ còn người chỉ huy, đưa ra tất cả những chiến thuật chiến lược để làm việc này. là người Mỹ mà người đại diện cho Mỹ làm việc này là đại tá Conein, ngồi thường trực tại Bộ Tổng tham mưu để điều khiển mấy ông tướng kia thành ra tất cả bộ tham mưu lúc đó nghe theo lời của một anh đại tá mật vụ của Mỹ, anh thấy có đau khổ chưa?

Mặc Lâm: Theo ông thì tại sao các tướng lĩnh lúc ấy lại nghe theo người Mỹ? Vì những hứa hẹn quyền lực hay âm mưu chính trị nào khiến họ trở thành như vậy?

Bùi Kiến Thành: Do những ông tướng không nghiên cứu tình hình đất nước, do không hiểu lý tưởng, không hiểu được chính nghĩa như thế nào mà đi theo lời của nước ngoài để mà sát hại một tổng thống, tưởng mình làm được cái gì nhưng cuối cùng cũng đầu hàng cộng sản mà thôi chứ làm được gì đâu.

Cái tội của những anh đảo chính Ngô Đình Diệm là tội ngu dốt không biết tình hình kinh tế, tình hình chính trị, tình hình chiến lược trên thế giới nó như thế nào, họ làm cái việc tự mình sát hại mình, đi đến chỗ 10 năm sau phải chắp tay đầu hàng cộng sản.

Đấy là cái tội của các anh làm cho bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa phải chết, đó là tội của các anh vì các anh không hiểu gì về chính trị, hữu dũng vô mưu, đưa đất nước đến chỗ suy tàn.

Nếu chúng ta có cơ hội thì còn thương lượng được giữa miền Bắc với miền Nam, cũng như Tây Đức và Đông Đức có thể thương lượng với nhau. Chúng ta phải có nội lực có sức mạnh để mà thương lượng chứ không phải giao đất nước cho ngoại bang, giao cho Mỹ rồi đi đến chỗ chết.

Đó là tội của những người tự cho mình giỏi hơn người khác. Không thể nào một dân tộc một đất nước nào giữ được chính nghĩa của mình bằng cách bước theo những đội quân nước ngoài bắn phá làng xóm cả. Không thấy cái đó là mất chính nghĩa. Đầu óc các anh ở đâu mà anh vác súng đi theo người Mỹ vào trong làng xóm bắn giết dân chúng mình, như vậy là không thể được. Vì không thấy nên anh làm hại cả một thế hệ, làm hại cả một đất nước.

Mặc Lâm: Nhiều tài liệu lịch sử nói là chính phủ Ngô Đình Diệm từng có ý định nói chuyện với miền Bắc, ông có ý kiến gì về những chi tiết này?

Bùi Kiến Thành: Khi chính phủ Ngô Đình Diệm thấy cái nguy cơ lính Mỹ đổ bộ lên Việt Nam rồi mà không rút ra được thì chiến tranh sẽ tràn lan, mà chiến tranh khi đã tràn lan rồi thì dù cho quân đội Mỹ có đánh thẳng tới Hà Nội đi nữa thì chúng ta vẫn thua như thường tại vì quân đội Trung Quốc nó sẽ vào vì nó không để cho mình tiến qua biên giới của nó. Vì vậy Miền Bắc sẽ chiến đấu đến cùng để không cho quân của Trung Quốc qua chiếm đóng Việt Nam.

Vì vậy nhìn về chiến lược thì hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu thấy rõ ràng cái nguy cơ tác hại cho cả miền Nam và miền Bắc. Hà Nội cũng có những đầu óc thông minh để mà hiểu rõ sự nguy hiểm khi chiến tranh lan rộng như thế. Đó là đồng thuận về tinh thần là làm sao phải làm dịu chiến tranh xuống để tránh việc tàn phá đất nước. Giữa Nam Bắc Việt Nam phải có sự hiểu biết và tìm giải pháp tránh chiến tranh. Muốn làm việc đó thì Việt Nam phải mạnh, không mạnh thì không nói chuyện được.

Qua sự trung gian của đại sứ Ấn Độ trong Ủy ban Đình chiến, và Đại sứ Pháp…qua các cuộc đi săn bắn của ông Nhu trên vùng biên giới hai bên đã có những cuộc chia sẽ, chưa hẳn là thương thảo nhưng đã liên lạc được với nhau rồi. Khi Mỹ nghe như thế thì họ nói chính phủ Ngô Đình Diệm phản thùng và nó đưa việc này ra cho mấy ông tướng lãnh Việt Nam bảo là ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu bán nước cho cộng sản, vì vậy anh phải lật đổ Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Diệm đi để “cứu nước” không thì họ theo cộng sản,  “bán đứng” các anh cho cộng sản….

Những đầu óc suy yếu của những anh tướng hữu dũng vô mưu không biết gì cả, nghe như thế lại tưởng rằng mình là người ái quốc ái quần, lật đổ Ngô Đình Diệm để cứu đất nước khỏi họa cộng sản.

Tôi đề nghị anh đọc cuốn sách “Robert Kennedy and His Time” của Arthur Schlesinger Jr. viết, trong đó có một chương nói về tình hình Việt Nam. (*)

Trong chương đó có viết Bùi Kiến Thành nói cái gì, Ngô Đình Diệm nói cái gì và Tổng thống Kennedy đã quyết định cái gì. Rất tiếc rằng Tổng thống Mỹ không thực hiện được. Tháng 9 năm 1963 Tổng thống Kennedy đã quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam rồi nhưng do cuộc bầu cử năm 1964 nên không thể làm được cho nên chờ tới năm 64 sau khi bầu xong thì sẽ làm, nhưng rất tiếc vận hạn của nước ta và nước Mỹ là Kennedy bị bắn chết, Ngô Đình Diệm bị lật đổ Việt Nam đi vào cuộc chiến tranh tàn khốc do sự thiếu hiểu biết của một số người nông cạn của phía Mỹ cũng như Việt Nam.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông

Trung Quốc chỉ trích Philippines và tòa trọng tài Liên Hiệp Quốc

Trung Quốc chỉ trích Philippines và tòa trọng tài Liên Hiệp Quốc

VOA

30-10-2015

Đảo Pag-asa, thuộc quần đảo Trường Sa, nơi đang có tranh chấp chủ quyền giữa Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông. Ảnh: AP

Trung Quốc tuyên bố quan hệ với Philippines xuống ‘thấp nhất trong lịch sử’ sau khi tòa trọng tài Liên Hiệp Quốc chấp nhận vụ Manila kiện bản đồ lưỡi bò của Bắc Kinh và tàu Mỹ tuần tra các đảo nhân tạo của Trung Quốc.

Bắc Kinh ngày 30/10 bác bỏ hai thách thức lớn đang đối mặt trong tranh chấp Biển Đông: hành động thực tiễn từ Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào vùng biển Trung Quốc nhận chủ quyền và biện pháp pháp lý của Philippines khi tòa trọng tài Liên Hiệp Quốc tuyên bố có quyền phân xử vụ Manila kiện bản đồ 9 đoạn ở Biển Đông.

Sau khi chỉ trích các cuộc tuần tra của Mỹ là ‘táo tợn’ và ‘khiêu khích’, Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm nay lên án quyết định của tòa trọng tài Liên Hiệp Quốc là ‘vô giá trị, phi hiệu lực, không có tác động bắt buộc đối với Trung Quốc’.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố “Trong các vấn đề chủ quyền lãnh thổ, quyền và lợi ích hàng hải, Trung Quốc sẽ không công nhận bất kỳ giải pháp nào áp đặt lên Trung Quốc hoặc bất kỳ kế sách đơn phương nào mưu tìm một sự dàn xếp từ một bên thứ ba”.

Cơ quan thông tấn của nhà nước Trung Quốc nói hành động của Philippines làm phương hại tới lòng tin giữa Bắc Kinh với Manila và cảnh cáo Philippines chớ sa lầy ra khỏi con đường thương lượng song phương.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm nay lên tiếng thúc giục Manila quay lại đàm phán song phương với Bắc Kinh để giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Đáp lại, Philippines hoan nghênh quyết định của tòa trọng tài và cho biết đã sẵn sàng đệ trình các hồ sơ luận cứ của mình.

Một giới chức quốc phòng cấp cao của Mỹ nhận xét phán quyết của tòa cho thấy phân xử các vấn đề tranh chấp dựa trên luật lệ và thực hành của quốc tế là khả dĩ để xử lý mâu thuẫn nếu không giải quyết được chúng.

Việt Nam, nước cũng có các tuyên bố chủ quyền chồng chéo với Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông, chưa lên tiếng bình luận về vụ việc.

Một số nhà phân tích cho rằng chiến lược của hai đồng minh Mỹ và Philippines áp lực Trung Quốc phải xác minh các tuyên bố chủ quyền mơ hồ của họ ở Biển Đông dựa trên luật quốc tế.

Học giả Richard Javad Heydaria chuyên nghiên cứu về an ninh khu vực tại đại học De La Salle ở Manila nhận định Washington và Manila đang phối hợp hiệu quả trên bàn cờ Biển Đông.

Tuy nhiên, ít khả năng những diễn tiến này sẽ khiến Trung Quốc phải bẻ lái cho dù tòa có tuyên bố Philippines thắng kiện đi chăng nữa.

Phân tích gia về an ninh William Chooong thuộc Viện Quốc tế Nghiên cứu Chiến lược cho rằng “Không có gì đảm bảo là Trung Quốc sẽ tuân thủ bất kỳ phán quyết nào của tòa bất lợi cho họ”.

Tòa án ở La Haye tối ngày 29/10 tuyên bố có quyền tài phán trong vụ kiện của Manila chiếu theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và bác lập luận của Trung Quốc rằng tranh chấp Biển Đông nằm ngoài thẩm quyền phân xử của tòa.

Theo Reuters, Manila Bulletin, Wall Street Journal.

Trung Quốc bị tứ bề thọ ‘địch’

Trung Quốc bị tứ bề thọ ‘địch’

BẮC KINH (NV) – Một thứ trưởng Ngoại Giao Trung Quốc vừa tuyên bố, Bắc Kinh sẽ không tham dự tiến trình phân xử và không chấp nhận bất kỳ phán quyết nào của Tòa Trọng Tài Về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc.

Tổng Thống Benigno Akino của Philippines chỉ vào đường ranh giới trên bản đồ yêu
sách chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. (Hình: Ted Aljibe/AFP/Getty Images)

Hôm 29 Tháng Mười, tòa này chính thức tuyên bố họ có đầy đủ thẩm quyền để phân xử vụ Philippines kiện yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền tại Biển Đông.

Tuyên bố vừa kể đẩy Trung Quốc lún sâu vào thế bất lợi trong quan hệ quốc tế.

Vì muốn độc chiếm Biển Đông, Trung Quốc hung hăng đối đầu với nhiều bên, đẩy Hoa Kỳ đến chỗ phải nhập cuộc để kiềm chế và nay, Trung Quốc phải đối diện với cơ quan tài phán quốc tế.

Năm 2013, sau khi nhận đơn kiện của Philippines, tòa đã vài lần yêu cầu cả Philippines lẫn Trung Quốc bổ túc bằng chứng, lý lẽ.

Dẫu khăng khăng khẳng định có đầy đủ bằng chứng không thể tranh cãi về chủ quyền tại Biển Đông, thậm chí tuyên bố Biển Đông là tài sản do tổ tiên để lại, nhưng Trung Quốc dứt khoát không đáp ứng yêu cầu của tòa.

Thậm chí Trung Quốc còn cho rằng, tòa vô năng, không có thẩm quyền phân xử.

Việc tòa khẳng định cơ quan này có thẩm quyền phân xử vụ kiện, với Philippines là nguyên đơn và Trung Quốc là bị đơn, khiến Bắc Kinh vất vả hơn trong việc chống đỡ để bảo vệ tham vọng độc chiếm Biển Đông.

Ông Lưu Chấn Dân, thứ trưởng Ngoại Giao Trung Quốc, chống chế, vụ kiện mà Tòa Trọng Tài Về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc nhận thụ lý là một vụ phân xử thiếu thiện chí bởi vì không có sự thuận tình từ phía Trung Quốc. Philippines kiện Trung Quốc không phải vì muốn giải quyết các bất đồng mà chỉ nhằm phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc.

Bởi vì thiếu các bằng chứng và lý lẽ biện bạch cho yêu sách về chủ quyền tại Biển Đông, Trung Quốc chỉ muốn đàm phán song phương với các quốc gia bị yêu sách này xâm hại chủ quyền. Nhiều chuyên gia về luật biển tin rằng, tòa sẽ bác yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền tại Biển Đông.

Đó có thể cũng là lý do chính khiến ông Lưu Chấn Dân phải nói trước rằng, phán quyết của tòa sẽ không làm thay đổi quan điểm của Trung Quốc, cũng như không ảnh hưởng đến chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc tại Biển Đông.

Ngay sau khi tòa tuyên bố, cơ quan này có đầy đủ thẩm quyền để phân xử vụ Philippines kiện yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền tại Biển Đông, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã đề nghị Philippines quay lại “con đường đúng đắn” là đàm phán trực tiếp với Trung Quốc để giải quyết bất đồng về chủ quyền.

Nếu tòa có phán quyết chính thức và phán quyết này phủ nhận yêu sách của Trung Quốc, Bắc Kinh sẽ không thể thuyết phục cộng đồng quốc tế rằng, tất cả những hành động của họ Biển Đông đều nằm trong khuôn khổ của luật pháp quốc tế, rằng Trung Quốc luôn có thiện chí duy trì hòa bình và giữ gìn sự ổn định trong khu vực.

Cần nói thêm là mới đây, khi đến thăm Trung Quốc, bà Angela Merkel, thủ tướng Đức, nhận định, tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông là một xung đột nghiêm trọng và nhấn mạnh là bà ngạc nhiên vì tại sao Trung Quốc luôn bảo rằng họ có thiện chí nhưng lại không chọn các tòa án quốc tế làm giải pháp giải quyết bất đồng. (G.Đ.)

Việt Nam phải tự bảo vệ chủ quyền của mình, thay vì phó mặc cho Mỹ!

Việt Nam phải tự bảo vệ chủ quyền của mình, thay vì phó mặc cho Mỹ!

Lê Minh Nguyên

29-10-2015

Nguồn ảnh: Island Tracker

Các cường quốc thường hay lấn luớt nhược tiểu và thường hay thương thảo để chia chác quyền lợi trên đầu nhược tiểu.

Khi soạn luật biển UNCLOS, các cường quốc biển mà trong đó có Hoa Kỳ muốn vùng nước chủ quyền thật nhỏ, vùng biển quốc tế thật to để tàu thuyền của họ dễ tung tăng không bị ràng buộc. Đã vậy mà HK cũng không phê chuẩn, nhưng lại tôn trọng UNCLOS trong thực tế. Ngược lại, Trung Quốc phê chuẩn nhưng không tôn trọng.

Nạn nhân rõ ràng nhất trong trò chơi quyền lực này là Việt Nam và Phi. TQ chiếm Hoàng Sa năm 1974, HK lúc đó đang đứng cạnh nhưng không can thiệp vì đã làm bạn với TQ để chống Liên Xô, nên có quyền lợi chiến lược lớn hơn. Tháng Hai năm 1979 TQ đánh VN thì ngày 29/1/1979 Đặng Tiểu Bình viếng thăm HK, thông báo TT Carter là ông sẽ đánh VN và nhờ HK giúp thông tin tình báo qua vệ tinh quan sát biên giới Nga – Hoa xem Liên Xô có động binh hay không. Năm 1988 TQ mượn cớ giúp Liên Hiệp Quốc lập trạm thăm dò khí tượng ở Trường Sa để bắn giết 64 binh sĩ VN, chiếm Gạc Ma và các đảo mà VN sở hữu, HK và các cường quốc tây phương làm lơ để mặc.

Năm 1995 TQ chiếm Vành Khăn, Phi viện dẫn hiệp ước liên minh quân sự với HK để cầu cứu TT Clinton, nhưng HK nói hiệp ước không bao gồm Vành Khăn. Năm 2012 TQ chiếm Scarborough và HK cũng làm lơ. Hiện giờ TQ đang bao vây Cỏ Mây không cho tiếp tế để Phi bỏ đảo và HK cũng đang làm lơ.

Trong khi đó thì HK, đứng trước đòi hỏi mạnh mẽ của Nhật sau khi Nhật nghi ngờ TT Obama đâm sau lưng mình khi đi bách bộ nói chuyện riêng với ông Tập Cận Bình ở Palm Springs ngày 7/6/2013, nên cuối cùng đã chính thức lên tiếng xác nhận là Senkaku có trong liên minh quân sự Mỹ-Nhật. HK có sự khác biệt đối xử vì Nhật là cường quốc, có sức mạnh nội lực và có vai trò an ninh chiến lược ở vùng Đông Bắc Á.

Tàu Lassen đi vào Trường Sa ngày 27/10/2015 mà theo các viên chức quốc phòng HK, có lộ trình 72 hải lý đi từ phía bắc đến phía tây nam, qua vùng chủ quyền 12 (CQ12) của các đảo mà Phi và Việt Nam có chủ quyền, và vào vùng 12 hải lý của đảo Subi, nhưng không vào vùng 12 của Vành Khăn (Reuters 27/10).

Mục đích chính yếu là để khẳng định quyền tự do hàng hải theo UNCLOS và không dính líu gì cả đến vấn đề chủ quyền, có nghĩa là các đảo ấy, hay cả quần đảo là của ai thì HK cũng chấp nhận thôi!

Vấn đề thực sự là lưu thông hàng hải theo UNCLOS mà HK và TQ thông dịch luật này khác nhau.

Lưu thông vô hại (innocent passage) hay chỉ cần đường đi ngang chứ không có ý đồ gì khác thì được đi vào vùng CQ12. TQ đã sử dụng quyền này tháng 8/2015 vừa qua ở eo biển Alaska, khi đi qua vùng quần đảo Aleutian. Tàu Lassen đi vào Subi thì cũng không khác gì mấy, nhưng để tránh va chạm hai bên đã chuẩn bị cho nhau cả tháng trước đó.

Vùng nước chủ quyền 12 hải lý chung quanh chỉ áp dụng cho đá/đảo nổi khi triều dâng và thiên nhiên chứ không do nhân tạo. Subi và Vành khăn không hội đủ điều kiện này vì nửa nổi nửa chìm nên chỉ có vùng nuớc chủ quyền 500 mét. TQ muốn nó là 12 hải lý nhưng mập mờ. Vì không có UNCLOS để bảo vệ Subi nên TQ nhuờng nhịn HK, nhưng với các nước khác thì không, kể cả Nhật, như TQ đã từng tuyên bố.

Vùng đặc quyền kinh tế EEZ 200 hải lý thì HK cho rằng nước chủ chỉ có chủ quyền trên tài nguyên (cá, khoáng sản) và nước chủ không được ngăn cản trên các lãnh vực khác như dọ thám, tập trận, vẽ bản đồ, nên tàu/máy bay đi vào không cần phải xin phép mà chỉ cần thông báo. Ngược lại, TQ thông dịch là hoạt động của các nước khác phải xin phép và đã rất khó chịu khi HK cho máy bay và tàu vào thám thính gần Hải Nam, nơi TQ đặt căn cứ tàu ngầm.

Theo Diplomat 27/10, kể từ chuyến thăm HK của ông Tập vào cuối tháng 9/2015, các viên chức giấu tên của HK cho biết là đã liên tục và đều đặn thông tin việc tàu HK sẽ vào vùng 12 ở Trường Sa. Sự loan báo của giới truyền thông có vai trò đếm ngược (countdown) đi từ vài tuần đến vài ngày rồi đến 24 giờ. Đó là một sự cố ý, thiết kế để cung cấp cho TQ đầy đủ sự báo trước – và đầy đủ thời gian để TQ hình thành các phản ứng chính thức (hơn là để trong tay các viên chức quân sự ở thực địa phản ứng).

Việc 5 tàu chiến TQ đi vào vùng CQ12 ở Alaska mà HK không phản ứng gì cả, nhất là khi đó TT Obama có mặt ở Alaska, làm cho người ta có cảm giác đây là một vở kịch được cẩn thận dàn dựng, có tính cách sòng phẳng ‘quid pro quo’ bánh ít đi bánh quy lại. Cho nên dù TQ có vẻ không chấp nhận Điều 17 của UNCLOS về ‘quyền đi qua vô hại’, TQ cũng đáp lễ lại HK khi tàu Lassen đi vào vùng 12 của đá Subi, bằng cách chỉ phản ứng chiếu lệ cho có, bỏ qua các tranh cãi là Subi có vùng CQ12 hay không. Theo báo Economist 27/10, các tranh chấp từ trước đến nay giữa HK và TQ không nhằm vào vùng CQ12 mà là vùng EEZ.

Một quan chức quốc phòng Mỹ giấu tên nói rằng “Đây không phải là cuộc tuần tiễu cuối cùng” và có khả năng trở nên thường xuyên hơn trong tương lai (VOA 28/10). Tuy nhiên nó không có giá trị gì nhiều cho các nước khác như Việt Nam vì:

Đây là vấn đề thông thương hàng hải chứ không phải là vấn đề chủ quyền, và là việc diễn dịch UNCLOS như thế nào để các bên đều đồng ý là đảo nào có vùng CQ12, đảo nào có EEZ và những giới hạn nào ở vùng EEZ.

TQ có một chính sách kỳ thị đối xử, dù việc đi phù hợp với UNCLOS nhưng chỉ HK mới được lưu thông bên trong quần đảo Trường Sa, còn các nước khác thì không, kể cả Nhật Bản. Hơn nữa, TQ cố tình mù mờ trong việc áp dụng UNCLOS để có thể giải thích theo ý riêng của kẻ mạnh và dùng UNCLOS làm bình phong. Thực tế là TQ áp dụng luật sức mạnh.

Nếu chỉ HK đi vào vùng và các nước khác không vào để tạo thành những tuyến qua lại thông thường thì HK chỉ cuỡi ngựa xem hoa, chủ vườn vẫn là TQ. TQ đã lập vùng nhận dạng phòng không ở biển Hoa Đông (ADIZ), HK không công nhận, cho B-52 bay qua nhưng chỉ một lần, còn các hãng hàng không dân sự HK được chính quyền HK khuyên là nên tuân thủ các quy định của TQ. Máy bay Lào hôm 25/7/2015 bị TQ đuổi trở lại Nam Hàn. HK đã đánh trống bỏ dùi và thực tế là ADIZ có hiệu lực.

HK không vào vùng 12 từ năm 2012 tức là đã 3 năm, đủ dài để TQ làm mưa làm gió trong vùng. Việc HK hứa hẹn trở lại, dù nói là thường xuyên cũng không ai biết là bao giờ, trong khi TQ có khả năng xây mỗi năm một thành phố lớn cỡ Los Angeles thì việc xây thêm các đảo nhân tạo ở Trường Sa là chuyện nhỏ.

HK chỉ muốn kiểm tra /ngó chừng TQ đừng dùng sức mạnh quá đáng hay vũ lực khi trỗi dậy thành siêu cường, chứ không có ý ngăn chặn TQ trở thành siêu cường, cho nên khi chưa có yếu tố vũ lực thì HK có lý cớ để ngó lơ, mà hệ quả là các nước nhỏ trong vùng bị thiệt hại qua chính sách ‘lát cá’ của TQ.

HK chỉ cho cần câu để những nước nhỏ như VN, Phi, Mã tự bắt cá chứ HK không cho cá. VN và các nước phải tự bảo vệ chủ quyền của nước mình. HK có thể giúp tàu, các khí cụ bảo vệ biển đảo, hay kỹ thuật chế tạo vũ khí, chứ HK không can thiệp quân sự thế cho những nước này.

Để kết luận, có thể nói rằng sự kiện Lassen 27/10 tuy cần thiết nhưng chỉ là bước đầu muộn màng mà Nghị sĩ John McCain nói, lẽ ra phải được thực hiện từ lâu và HK nên tiến hành những hoạt động tuần tiễu thường xuyên trên không, trên biển trong những tuần lễ và những tháng tới (VOA 28/10). Nó giúp kềm chế TQ trong vấn đề lập vùng kiểm soát quá lớn ở Trường Sa, vi phạm UNCLOS. Nó không cuốn lại (rollback) những gì TQ đã làm. Nó cũng không có khả năng làm TQ dừng xây dựng ở những nơi họ đã bồi đắp. Nó cũng không có khả năng ngăn chận TQ chiếm thêm trong số khoảng 209 rạn san hô chưa ai chiếm đóng và xây dựng chúng thành đảo nhân tạo.

Trong vấn đề chủ quyền, Việt Nam vẫn còn bơ vơ và càng ngày càng yếu đi khả năng bảo vệ Trường Sa, bởi do đảng CSVN không có khả năng xây dựng nội lực dân tộc.

Chính phủ mất khả năng kiểm soát chi tiêu

Chính phủ mất khả năng kiểm soát chi tiêu

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-10-28

000_Hkg10211130

Mô hình của một dự án phát triển khu dân cư ven biển ở thành phố Hạ Long. Ảnh chụp hôm 20/9/2015.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Việt Nam có thể lâm vào khủng hoảng ngân sách vì tình trạng bội chi triền miên; chính phủ không đủ tiền chi tiêu chưa nói tới trả nợ nước ngoài và tìm cách vay thêm.

Chính phủ vay Ngân hàng Nhà nước 30.000 tỉ đồng hồi gần đây để chi tiêu, kế tiếp dự kiến sử dụng 10.000 tỷ đồng từ tiền thoái vốn nhà nước ở các doanh nghiệp để bù đắp thiếu hụt ngân sách. Tuy vậy dư luận càng lo lắng hơn khi Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng vào tuần cuối của tháng 10 đã đại diện Chính phủ trình Quốc hội kế hoạch phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế để đảo nợ, thực tế không đủ tiền trả nợ nên vay nợ mới để trả nợ cũ đáo hạn.

Theo số liệu chính thức của Bộ Tài Chính được các Đại biểu Quốc hội trích dẫn, năm 2015 chính phủ chỉ trả nợ được 150.000 tỷ nhưng lại vay giải quyết bội chi ngân sách tới 226.000 tỷ đồng và vay trái phiếu chính phủ 85.000 tỷ đồng. Số liệu này cho thấy tổng các khoản vay lớn hơn gấp đôi tổng nợ đã trả, hoặc nói cách khác vay rất nhiều để trả một phần nợ, phần còn lại để chi tiêu.

Tiến sĩ Vũ Quang Việt, nguyên Vụ trưởng Vụ tài khoản thống kê Liên Hiệp Quốc, một chuyên gia am hiểu tình hình kinh tế tài chính Việt Nam từ New York nhận định:

“Tôi có cảm tưởng chính phủ càng ngày càng mất khả năng kiểm soát chi tiêu của mình, hoặc nói ngược lại chính phủ rất muốn chi tiêu. Chính phủ Trung ương đồng ý với các địa phương, xây nhà, xây đường xá, ông nào cũng đòi xây cái này xây cái kia. Và nhiều khi họ chưa có ngân sách mà đã bắt đầu xây rồi. Do làm việc thiếu hiệu quả nên hầu như công trình nào chi phí cũng vượt dự toán ban đầu, công trình nào cũng vậy cả. Thành ra với tình trạng này tôi thấy rất là khó, khả năng nợ ngày càng tăng nhanh và hiệu quả thì thấp. Khả năng trả nợ chắc chắn là sẽ khó khăn.”

Tại kỳ họp cuối cùng Quốc hội Khóa 13, diễn ra từ ngày 20/10 vừa qua, nhiều số liệu được công bố làm nóng dư luận báo chí. Tình hình ngân sách 2015 u tối như thế được giải thích là nguồn thu có vấn đề, như giá dầu thô xuất khẩu giảm một nửa, cộng thêm lộ trình cắt giảm thuế quan với hàng hóa ASEAN và một số thị trường khác mà Việt Nam hội nhập.

“ Tôi có cảm tưởng chính phủ càng ngày càng mất khả năng kiểm soát chi tiêu của mình, hoặc nói ngược lại chính phủ rất muốn chi tiêu.
– Tiến sĩ Vũ Quang Việt”

Đối với ngân sách 2016, các báo cáo tại Quốc hội cho thấy còn nguy cấp hơn nữa. Theo đó trả nợ theo kế hoạch năm 2016 là 155.000 tỷ đồng, nhưng trong đó đảo nợ hay vay nợ mới để trả nợ cũ lên tới 95.000 tỷ đồng và bội chi ngân sách tới 254.000 tỷ đồng. Trong bối cảnh như vậy, chính phủ lên kế hoạch rút 100% vốn nhà nước ở 10 đại công ty như Vinamilk, Bảo Minh, FPT…nếu làm tốt nhà nước có thể thu được 4 tỷ USD cho ngân sách. Nhưng điều làm dư luận lo ngại nhất, chính là đề xuất phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế để đảo nợ.

Đối với tình hình khủng hoảng ngân sách, TS kinh tế Phạm Chí Dũng, nhà hoạt động xã hội dân sự nằm ngoài sự kiểm soát của chính phủ, từ TP.HCM nhận định:

“Ngân sách bây giờ eo hẹp quá, yêu cầu thoái vốn từ hai năm rồi, đến giữa 2015 là phải thoái hết vốn, nhưng hiện nay chỉ mới thoái được 20%-25% vốn. Chẳng hạn Điện lực Việt Nam, Dầu khí trước kia đầu tư vào bất động sản, chứng khoán, tài chính ngân hàng khá nhiều nhưng cho tới nay chỉ thoái được từ 20-25% vốn còn lại vẫn bị chôn vốn. Như vậy tình hình ngân sách khó khăn làm cho nhà nước giật gấu vá vai, thoái vốn rồi xem bến cảng, đường xá chỗ nào bán được là bán hết để thu tiền cho ngân sách nhà nước, bù đắp những chỗ bị khuyết bội chi trầm trọng. Nhưng mà việc này hiện nay không còn toàn bộ nằm trong tay quyền hành của Chính phủ muốn quyết gì thì quyết, mà phải thông qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội.”

Giải pháp

Dư luận báo chí có nhiều ngày nổi sóng về vấn đề chính phủ đề xuất phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế để cứu ngân sách. Ngoài ra còn phát biểu của Bộ trưởng Bộ kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh tiết lộ Ngân sách chính phủ Trung ương 2016 chỉ còn một khoản tiền tươi thóc thật là 45.000 tỷ đồng, không thể điều tiết vào việc gì vì còn chưa trả nợ xây dựng cơ bản ở các địa phương.

SaigonTimes Online là tờ báo đưa tin này đầu tiên, sau đó đã giải thích là, chi ngân sách năm 2016 gần 1,3 triệu tỷ đồng nhưng phần lớn là chi thường xuyên và chỉ còn có 45.000 tỷ là Chính phủ có thể sử dụng cho mục đích đầu tư phát triển, số tiền này quá nhỏ bé khó thể tiến hành bất kỳ chương trình kích cầu nào.

“ Nếu không có các giải pháp kiểm soát một cách chặt chẽ nghiêm túc, không nhìn nhận bản chất vấn đề thì hậu quả khó lường.
– PGSTS Ngô Trí Long”

Về cơ cấu ngân sách của Chính phủ Việt Nam hiện nay, PGSTS Ngô Trí Long chuyên gia kinh tế ở Hà Nội từng nhận xét:

Trong thu ngân sách thì 75% là thu để chi còn lại là để trả nợ, như vậy thực chất không có đầu tư. Muốn đầu tư thì phải đi vay, trong bối cảnh làm không đủ ăn mà đầu tư lại đi vay thì nợ công là một gánh nặng. Nếu không có các giải pháp kiểm soát một cách chặt chẽ nghiêm túc, không nhìn nhận bản chất vấn đề thì hậu quả khó lường.”

Ngày 26/10/2015, hầu hết báo chí chính thức đưa tin về cuộc tiếp xúc báo chí của Thứ trưởng Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn. Theo đó, ông Tuấn khẳng định, kế hoạch phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế nếu được Quốc hội cho phép, sẽ chỉ được thực hiện trên cơ sở bảo đảm an ninh tài chính quốc gia và không làm thay đổi tổng nợ.

Theo lời giải thích của Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn thì đây gọi là tái cơ cấu nợ ngắn hạn trong nước bằng vay quốc tế dài hạn. Tổng nợ không thay đổi, chỉ thay đổi chủ nợ và lãi suất. Tuy báo chí không giải thích rõ hơn, nhưng có thể hiểu là nợ ngắn hạn trong nước tới lúc phải trả lãi hoặc đáo hạn mà không có tiền thanh toán, nên phải vay nợ mới ở nước ngoài bằng phát hành trái phiếu quốc tế dài hạn.

Như thế câu hỏi đặt ra ai là người phải trả nợ trái phiếu quốc tế dài hạn? rõ ràng là các chính phủ tương lai và thế hệ con cháu của nhân dân Việt Nam phải đóng thuế để trả món nợ 3 tỷ USD này.

Trung Quốc bị xếp hạng chót thế giới về tự do Internet

Trung Quốc bị xếp hạng chót thế giới về tự do Internet

VOA

Người sử dụng internet tại một quán cà phê internet ở thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy, Trung Quốc.Người sử dụng internet tại một quán cà phê internet ở thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy, Trung Quốc.

Richard Green

28.10.2015

Một bản phúc trình mới được công bố cho thấy mạng Internet đã trở nên ít tự do hơn cho hàng triệu người trên khắp thế giới trong năm 2015. Thông tín viên Richard Green của đài VOA gửi về bài tường thuật.

Trong bản phúc trình thường niên lần thứ 6 về quyền tự do diễn đạt trên Internet, Freedom House, một tổ chức bất vụ lợi ở Mỹ, cho biết tự do Internet đã bị sút giảm tại 32 trong số 65 quốc gia được khảo sát.

Bà Laura Reed, một nhà nghiên cứu của Freedom House cho bản báo cáo “Tự do Mạng 2015,” cho biết tình trạng này phát sinh phần lớn từ việc các cơ quan tình báo được dành cho nhiều quyền hạn hơn để thực hiện những hoạt động theo dõi điện tử nhắm vào công dân của họ.

Bà Reed cho biết: “Chúng tôi nhận thấy tình trạng này thông qua việc các chính phủ ban hành những luật lệ và chỉ thị mới để nới rộng khả năng pháp lý của họ để thực hiện hoạt động theo dõi, để lưu giữ các dữ liệu của người sử dụng. Chúng tôi cũng nhận thấy sự phổ biến của các loại kỹ thuật theo dõi trên khắp thế giới, cả ở những nước dân chủ hơn lẫn ở những nước mà chính phủ đã lạm dụng những kỹ thuật đó trong quá khứ và đã dùng chúng để đàn áp những nhân vật tranh đấu nhân quyền, những nhà báo phê phán chính quyền và những nhóm khác.”

Bà Reed cho hay các chính phủ cũng tăng cường những nỗ lực để loại hẳn ra khỏi Internet những nội dung mà họ cho là không phù hợp, thay vì chỉ ngăn chặn những nội dung đó. Ngoài ra, các chính phủ cũng đòi hỏi chính những công ty cung cấp dịch vụ Internet phải thực hiện việc này.

Bà Reed nói: “Và giờ đây, vì chúng tôi nhận thấy các chính phủ thật sự nhắm vào nội dung ngay tại nguồn của nó, cho nên đó là một việc hết sức đáng lo. Một mặt vì nội dung đó sẽ bị xoá bỏ vĩnh viễn, không ai có thể truy cập nó ở trong nước hay ở nước ngoài. Mặt khác, có những áp lực đi kèm đối với các công ty truyền thông xã hội, đối với các cá nhân thông qua những vụ truy tố hay những thủ đoạn hăm doạ khác. Do đó tôi nghĩ rằng điều đáng chú ý trong bản báo cáo năm nay là sự thay đổi trong cách thức thực hiện việc kiểm duyệt.”

Việt Nam cũng bị xếp vào danh sách các nước không có tự do Internet.

Việt Nam cũng bị xếp vào danh sách các nước không có tự do Internet.

​66 nước được khảo sát chiếm khoảng 88% số người sử dụng internet trên thế giới. 50 nước trong số đó bỏ tù những người sử dụng vì đã phổ biến trên mạng những ý kiến về các vấn đề chính trị, xã hội – tăng đáng kể so với con số 38 nước của năm ngoái.

Trung Quốc bị xếp hạng chót về tự do Internet. Kế đến là Syria và Iran. Việt Nam cũng bị xếp vào danh sách các nước không có tự do Internet.

Trung Đông là khu vực có tự do mạng ít nhất thế giới, vì Iran tiếp tục đàn áp những nhân vật bất đồng chính kiến trên mạng và Ả rập Xê út tuyên án đánh roi và thậm chí án tử hình cho một số người phê phán trên Internet.

Các tác giả của bản báo cáo ghi nhận rằng hoạt động tranh đấu tiếp tục là lực đẩy chính cho sự nới rộng của tự do Internet và tự do diễn đạt, chẳng hạn như phán quyết có tính chất dấu mốc của Toà án Âu châu trong vụ kiện về “quyền được lãng quên,” một vụ án thoạt đầu là do các nhân vật tranh đấu Internet khởi kiện.

Tập đoàn Cao su VN bị tước chứng chỉ ở Campuchia vì hoạt động bất hợp pháp

Tập đoàn Cao su VN bị tước chứng chỉ ở Campuchia vì hoạt động bất hợp pháp

Xe tải chở gỗ băng biên giới Campuchia vào Việt Nam (Ảnh tư liệu của AFP).

Xe tải chở gỗ băng biên giới Campuchia vào Việt Nam (Ảnh tư liệu của AFP).

Một tập đoàn cao su của nhà nước Việt Nam vừa bị Hội đồng Quản lý Rừng (FSC) – một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận của Mỹ chuyên cung cấp chứng chỉ cho các doanh nghiệp phát triển hoạt động quản lý rừng bền vững – tước chứng chỉ vì những hoạt động buôn lậu gỗ và vi phạm nhân quyền trên các đồn điền cao su ở Campuchia.

Theo thông báo đưa ra hôm thứ Ba, FSC cho biết ban giám đốc của tổ chức đã biểu quyết quyết định tước chứng chỉ của Tập đoàn Cao su Việt Nam (VRG) vào tháng 8, sau 5 tháng điều tra về những khiếu nại từ tổ chức chuyên hoạt động về môi trường có trụ sở tại Anh Global Witness về các hoạt động của tập đoàn này tại Campuchia.

FSC cáo buộc Tập đoàn Cao su Việt Nam đã dính líu tới các ‘hoạt động bất hợp pháp’, bao gồm chuyển đổi khoảng 50.000 ha rừng thành đồn điền cao su mà không có sự tham khảo ý kiến từ công chúng, làm ngơ những khiếu nại đất đai của người dân địa phương, cho phép khai thác gỗ lậu và phá hủy các khu bảo tồn động vật hoang dã.

Trong lúc chuyển đổi rừng thành đồn điền cao su, VRG đã phá hủy hàng chục ngàn cây lấy nhựa, vốn là nguồn sinh kế quan trọng của người dân địa phương, mà không đền bù thỏa đáng cho họ. Tập đoàn này còn cho phép lâm tặc trú ngụ trong khu vực rừng thuộc phạm vi kiểm soát của mình để khai thác và vận chuyển gỗ trái phép.

Thông báo của FSC cho biết Tập đoàn Cao su Việt Nam còn liên quan đến các hoạt động vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, với sự thông đồng của chính quyền Campuchia. “Trong quá trình bảo vệ đất, đã có các cáo buộc rằng các lực lượng vũ trang của chính quyền đã đe dọa và sử dụng vũ lực để chống lại những người biểu tình”, thông báo cho biết.

FSC nói họ đã thu thập được những chứng cứ liên quan đến rất nhiều vụ vi phạm nhân quyền của tập đoàn này qua việc sử dụng bàn tay của giới hữu trách địa phương ở Campuchia. Thông báo đưa ra vụ một ngôi làng ở tỉnh Kompong Thom đã bị bao vây trong 2 tháng và không một nguồn lương thực hay thuốc men nào tiếp cận được với ngôi làng.

Thông báo của FSC nói Tập đoàn Cao su Việt Nam sẽ chính thức bị tước chứng chỉ đối với các đồn điền tại Việt Nam trong 3 tháng, và sẽ vĩnh viễn không được cấp chứng chỉ cho các hoạt động của tập đoàn tại Campuchia.

Phát ngôn viên chính phủ Campuchia Phay Siphan khẳng định chính quyền luôn đảm bảo các công ty phải tuân thủ các quy định, và nói rằng chính người dân địa phương là một phần nguyên nhân.

“Trước khi giao đất, chúng tôi luôn đảm bảo không có người sinh sống ở đó”, ông Phay Siphan được Phnom Penh Post trích lời nói, “nhưng người dân đôi khi đến khai hoang và chiếm đất đã được giao cho các công ty”.

Để giải quyết vấn đề này, chính quyền ra lệnh cho các công ty cho họ một số đất, bao gồm cả giấy chủ quyền, cho dù đó là đất bị chiếm dụng hợp pháp hay không.

Nhưng nhà lập pháp đối lập CNRP Son Chhay nói với Phnom Penh Post,
“Gần như mỗi vụ chuyển nhượng đất đều vi phạm đến quyền của người sở hữu lúc đầu và người dân bản địa, và chúng tôi chắc chắn không hưởng lợi gì từ những vụ sang nhượng này. Tôi không hiểu tại sao chính quyền lại nhắm mắt làm ngơ đối với doanh nghiệp này”.

Nhan Mao, một nông dân địa phương, nói với Cambodia Daily rằng tập đoàn cao su đã cướp hơn 1.000 ha đất của khoảng 200 hộ dân địa phương, những người đã canh tác ở đây qua nhiều thế hệ.

“Chúng tôi chẳng bao giờ được giải quyết gì kể từ khi mất đất vào năm 2012, vì nhà cầm quyền luôn bảo vệ công ty”, ông Mao cho tờ Cambodia Daily biết. “Khoảng một tháng trước, nhà cầm quyền đến gặp các dân làng và cảnh cáo họ là họ sẽ bị bắt nếu dám biểu tình chống công ty”.

Việc tước chứng chỉ tuy không làm cho VRG bị phạt gì nhưng tổ chức Global Witness nói nó sẽ ảnh hưởng đến tài chính của tập đoàn này vì FSC là tổ chức cấp chứng chỉ về công nghiệp rừng hàng đầu thế giới. Một khi đạt được chứng chỉ của FSC, công ty có được sự đảm bảo đối với các khách hàng lẫn nhà đầu tư.

Tập đoàn Cao su Việt Nam chưa đưa ra thông báo hay bình luận gì về vụ việc. Hiện VRG có khoảng 100.000 ha đồn điền trên nhiều tỉnh ở Campuchia.

Theo Phnom Penh Post, Cambodia Daily.