Xà quần chuyện cải cách tiền lương

Xà quần chuyện cải cách tiền lương

Viet-studies

Đặng Kiên Trung

12-12-2015

Tôi nghe các đại biểu Quốc hội bàn về “cải cách tiền lương” – nói gọn là tăng lương, xà quần như kiến bò vành nia phát mệt! Ông bà nghị nào cũng thấy sự cấp bách phải tăng lương, bảo đãm cán bộ, công nhân, viên chức có thể sống được bằng tiền lương, nhưng trong lúc Nhà nước nợ công như chúa Chổm lấy đâu ra 40 ngàn tỷ đồng để tăng lương theo lộ trình như đại biểu thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thị Quyết Tâm nói…!

Trên thế giới hiếm có nước nào như Việt Nam, người dân phải è cổ nuôi bộ máy cầm quyền “đông như quân Nguyên”, trong khi kinh tế lụn bại, nợ công chồng chất, tài nguyên cạn kiệt…! Ông bà nghị nào cũng thấy, muốn tăng lương phải tiết kiệm chi tiêutinh giản biên chế. Chuyện nầy không chỉ các ông bà nghị nhìn thấy, nhưng nói mãi có làm được đâu! Bởi lẽ bệnh tiêu xài hoang phí như con ngựa bất kham, anh cũng vậy, tôi cũng vậy, chúng ta đều vậy nên ai nói ai nghe?! Hội chứng xây tượng đài, trụ sở hoành tráng hiện nay bất chấp dân tình nghèo khó, ngân khố tróng rổng chứng minh điều đó!

Còn tinh giản biên chế ư? Chuyện này khó còn hơn hái sao trên trời! Cán bộ, viên chức nhà nước đồng lương chết đói mà ai cũng muốn nhào vô, vì trong tình hình xã hội nhiểu nhương, đời sống khó khăn đây là chốn nương thân an toàn nhất, phải bằng mọi cách nhào vô bằng được, mà đã vô được đừng hòng trở ra “vô một gà, ra ba heo” mà! Tôi lấy làm lạ cho ông Tổng nhà mình, lâu nay không biết ông ở đâu mà nghe ông trả lời cử tri quận Ba Đình – Hà Nội thắc mắc hỏi về số công chức không làm được việc, biên chế chỉ tăng chứ không giãm ông trả lời tỉnh rụi: “Bộ máy đúng là công kềnh”!

Vậy, giải pháp nào xử lý hai vấn đề trên để có thể tăng lương? Thiển nghĩ, điều tiên quyết là các ông bà nắm quyền từ trung ương đến địa phương, phải nhìn thấy đã đến lúc nếu tiếp tục kéo dài tình trạng chi tiêu vung tay quá trán và để biên chế bộ máy tiếp tục phình ra như hiện nay thì hậu quả khôn lường, phải kiên quyết chặn đứng! Tôi chỉ sợ các ông bà không đủ dũng khí vượt qua chính mình để làm điều cần phải làm và cấp trên không gương mẫu thì không đời nào khiển cấp dưới làm được. Thí dụ về tiết kiệm chi tiêu, một chuyện nhỏ như hàng ngày ông bà đi làm hay đi công tác xa bằng ô tô công nay đi xe gắn máy, xe đạp, xe buýt  vừa tiết kiệm ngân sách, vừa được tiếng ông bà bình dị, gần dân; đến chuyện lớn như xây dựng cơ bản, cần thiết lắm mới làm, khi làm phải cân nhắc chi ly bảo đãm chất lượng và hiệu quả xử dụng, không nhắm mắt làm bừa và người có thẫm quyền phê duyệt dự án phải dứt khoát không nhận “lại quả” để không bị rủt ruột công trình và giử gìn sự liêm khiết của cán bộ.

Còn về tinh giản biên chế, vật cản lớn nhất là bệnh bảo thủ, giáo điều ăn sâu vào cốt tủy các nhà lãnh đạo đất nước, cái gì đã nghĩ, đã làm ngày xưa ra sao bây giờ vẫn vậy, không muốn thay đổi cho phiền phức, không khéo vạ lây mất chì lẫn chài. Tôi nói một chuyện nhỏ như con thỏ là cái loa phường, nó ra đời từ thời khốn khó “Bảo Đại ỉa cứt su”, nay thời đại thông tin bùng nổ, cái loa phường lạc điệu vô duyên vẫn tồn tại, gây phiền hà chúng ghét. Nếu bỏ cái loa phường có thể làm ngay, sẽ giãm bao nhiêu biên chế, tiết kiệm bao nhiêu tiền ngân sách trả lương và mua sắm thiết bị; nhất là làm vui lòng dân, vậy mà cơ quan và người có trách nhiệm không ai làm, nói chi đến chuyện lớn! Phải chăng tinh giản biên chế đi vào ngõ cụt?! Theo tôi vẫn có lối thoát, chỉ có dám làm hay không thôi. Đó là làm một cuộc “đại phẩu thuật” tổ chức – bộ máy:

Thứ nhất, giải thể các đoàn thể chính trị – xã hội của Đảng, trả các đoàn thể trở về với dân, tổ chức và hoạt động dưới hình thức tổ chức xã hội dân sự.

Thứ hai, giải thể các ban chuyên môn của Đảng, thực hiện chế độ chuyên viên phục vụ sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, tập trung tại văn phòng cấp ủy đảng từ trung ương đến địa phương.

Thứ ba, trong bộ máy chính quyền các cấp loại bỏ 30% số viên chức dựa bệ ăn lương vô tích sự.

Với những giải pháp quyết liệt trên, sẽ cắt giãm khoảng một nửa biên chế, tiết kiệm ngân sách khoảng tiền khổng lồ tăng lương 100% cho cán bộ, viên chức nhà nước.

Tháng 12 năm 2015

                                                                                          Đ.K.T

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 12-12-15

Chuẩn bị đón nhạc sĩ Việt Khang mãn án tù ngày 14 tháng 12

Chuẩn bị đón nhạc sĩ Việt Khang mãn án tù ngày 14 tháng 12

Hoà Ái, phóng viên RFA
2015-12-13

Bạn bè của Nhạc sĩ Việt Khang đã từ Sài Gòn đến TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang để chờ đón nhạc sĩ Việt Khang

Bạn bè của Nhạc sĩ Việt Khang đã từ Sài Gòn đến TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang để chờ đón nhạc sĩ Việt Khang

Nguồn do ông Trần Bang cung cấp

Sáng hôm nay ngày 13 tháng 12, Đài ACTD nhận được thông tin từ những người quan tâm đến nhạc sĩ Việt Khang, ở VN cho biết họ đang trên đường đến tư gia của nhạc sĩ này để chào đón anh được trả tự do sau 4 năm tù đày.

Hôm nay, ngày 13 tháng 12 năm 2015, một nhóm khoảng 30 người từ Sài Gòn đến TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang để chờ gặp mặt nhạc sĩ Việt Khang, tác giả hai bài hát “Anh Là Ai” và “Việt Nam Tôi Đâu”, mãn án 4 năm tù giam vì tội “tuyên truyền chống phá Nhà nước”, theo Điều 88 Bộ Luật Hình Sự VN.

Vào lúc 11 giờ trưa, tháp tùng trong nhóm người này, ông Trần Bang, người bị đánh đổ máu đầu trong cuộc biểu tình tại Sài Gòn chống Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình viếng thăm VN, cho Đài ACTD biết:

“Chúng tôi xuống TP. Mỹ Tho ở Tiền Giang nhưng chưa gặp được Việt Khang. Hiện tại bây giờ chưa biết Việt Khang ở chổ nào. Mẹ Việt Khang vẫn cứ nói là ngày mai mới ra nhưng đúng theo luật thì phải trong ngày hôm nay chứ không ai có thể dám giam giữ quá hôm nay”.

Đến khoảng 12 giờ 45 chiều, chúng tôi liên lạc được với bà Chung Thị Thu Vân, thân mẫu của nhạc sĩ Việt Khang và có cuộc trao đổi ngắn như sau:

Hòa Ái: Xin chào bà, xin hỏi bà nhận được thông báo nhạc sĩ Việt Khang ra tù khi nào?

Bà Chung Thị Thu Vân: Chào cô Hòa Ái. Đúng ngày 14 tháng 12 đó cô.

Hòa Ái: Dạ thưa, giấy thông báo gia đình nhận được cách đây bao lâu?

Bà Chung Thị Thu Vân: Dạ mình cũng biết trước vì trong bản án có ghi ngày 14 là họ tạm giữ nên cứ canh đủ 4 năm thì cháu về. Thông báo mình nói chính xác vì tuần trước, hôm mùng 6 cũng có đi thăm thì cũng được người ta thông báo tuần sau ngày 14 là ngày mai cháu được về.

Hòa Ái: Xin hỏi thêm, gia đình có được thông báo ngày giờ chính xác để đến tận trại giam đón người thân về hay không, thưa bà?

Bà Chung Thị Thu Vân: Họ nói có quản chế cho nên mình không được đi đón. Mình cứ ở nhà. Người ta sẽ đưa về địa phương.

Hòa Ái: Như vậy gia đình có biết được giờ nào nhạc sĩ Việt Khang sẽ về đến nhà không?

Bà Chung Thị Thu Vân: Thưa không. Người ta không có thông báo.

Hòa Ái: Theo như bà cho biết bà được thăm gặp nhạc sĩ Việt Khang lần mới nhất là vào hôm mùng 6 tháng 12, sức khỏe của nhạc sĩ như thế nào?

Bà Chung Thị Thu Vân: Trước đó bị rối loạn tiêu hóa cho nên hơi xanh xao. Hôm gặp cũng còn hơi xanh. Hỏi thì nói vậy. Hôm nay chắc đỡ rồi.

Hòa Ái: Dạ thưa, trong thời gian thụ án suốt 4 năm qua, trong những lần thăm gặp con mình, bà ghi nhận tinh thần của nhạc sĩ Việt Khang ra sao?

Bà Chung Thị Thu Vân: Mỗi tháng mỗi thăm cháu thì thấy tinh thần cháu cũng tốt.

Hòa Ái: Qua lần mới nhất 2 mẹ con gặp nhau, nhạc sĩ Việt Khang chia sẻ với bà điều gì khi biết tin mình sắp mãn hạn tù?

Bà Chung Thị Thu Vân: Cháu dặn mẹ đừng nôn vì sợ mẹ ăn ngủ không được rồi mẹ bệnh. Cháu nói “con không có nôn”. Nói thì vậy chứ mình biết tâm tư của người trong đó làm gì không nôn.

Xin được nhắc lại,  ca nhạc sĩ Việt Khang, tên thật là Võ Minh Trí. 2 nhạc phẩm “Việt Nam Tôi Đâu” và “Anh Là Ai” được sáng tác hồi năm 2011 trong bối cảnh thanh niên VN xuống đường chống Trung Quốc xâm lấn biển đảo. Nhạc sĩ Việt Khang bị bắt vào tháng 9 năm 2011. Sau đó được thả ra và bị bắt lại vào tháng 12 cùng năm. Ngày 30 tháng 10 năm 2012, anh bị tuyên án 4 năm tù giam và 2 năm quản chế. Cộng đồng người Việt hải ngoại đã gửi một thỉnh nguyện thư với khoảng 150 ngàn chữ ký đến Nhà Trắng nhờ can thiệp trả tự do cho người nhạc sĩ này cùng các tù nhân lương tâm tại VN. Quốc hội Hoa Kỳ cũng từng nhiều lần lên tiếng yêu cầu Chính phủ VN trả tự do ngay lập tức cho anh, tuy nhiên bản án dành cho nhạc sĩ Việt Khang vẫn giữ nguyên mà không được thuyên giảm dù chỉ 1 ngày như bạn bè và những người quan tâm trông đợi.

Hòa Ái cũng xin được thưa thêm, giỏ hoa tươi thắm cha mẹ nhạc sĩ Việt Khang nhận thay cho anh ngày hôm nay được bạn bè mua từ một tiệm bán hoa tại TP. Mỹ Tho. Bà chủ tiệm bán hoa không hề biết đến bài hát “Việt Nam Tôi Đâu” và “Anh Là Ai” nhưng sau khi được nghe 2 nhạc phẩm này và thân phận tù đày của nhạc sĩ Việt Khang, bà chỉ nhận nửa giá tiền cùng lời chia sẻ rất tự hào khi quê nhà Mỹ Tho có một nhạc sĩ yêu nước như vậy.

Đài ACTD sẽ cập nhật thông tin và gửi đến quý thính giả khi nhạc sĩ Việt Khang về đến nhà.

Tại sao du học sinh không về nước?

Tại sao du học sinh không về nước?
Nguoi-viet.com

 

Ngô Nhân Dụng

Nếu chỉ nhìn vào con số tiền bạc tự động chảy vào Việt Nam mà không cần bán gì hết thì ai cũng mừng. Tổng số tiền ngoại quốc đổ vào trong nước trong năm 2015 sẽ lên đến 13, 14 tỷ Mỹ kim. Tính trung bình mỗi người Việt Nam ở nước ngoài gửi về nước gần 3000 đô la; mỗi người dân trong nước được hơn 150 đô la!

Trong mấy chục năm nay tiền từ người Việt ở nước ngoài chảy vào trong nước, nhưng trong cùng thời gian đó, nước Việt Nam đã mất một thứ còn quý hơn nữa, là con người, đặc biệt là những người có khả năng. Ngay sau khi chế độ Cộng Sản được đem vào miền Nam, những đợt vượt biển, ra đi tìm tự do đã là một cuộc “xuất não” lớn. Nhưng đáng lo cho đất nước hơn nữa là đến nay những du học sinh Việt Nam ra nước ngoài phần lớn đã chọn không trở về. Mỗi người chọn “ở lại” là nước Việt mất một người.

Báo mạng trong nước đang nói rất nhiều về trường hợp anh Ðỗ Lâm Hoàng, một sinh viên du học tại Úc đã chọn ở lại sau khi tốt nghiệp. Tâm sự của anh Hoàng có thể coi là tiêu biểu cho hầu hết các du sinh Việt Nam đang học ở Mỹ, ở Châu Âu, CANADa hay ở Úc, vân vân, đã hoặc đang phân vân muốn “chọn ở lại.”

Ðỗ Lâm Hoàng được chú ý vì anh đã chiếm giải nhất trong cuộc thi tài Olympia. Anh được thưởng 35 ngàn Mỹ kim, rồi sau 10 tháng được học bổng của một đại học Australia, nước Úc, trị giá trăm ngàn Mỹ kim nữa. Những năm sống trong môi trường đại học nước Úc, anh dần dần học được nhiều điều mới trong cách sống: “…tôi được dạy rằng, trong công việc muốn gì thì nói thẳng ra và đối xử bình đẳng với nhau trong công việc. Chúng tôi được đào tạo để đối diện và chịu trách nhiệm,…”

Sau khi tốt nghiệp Ðỗ Lâm Hoàng về Việt Nam 3 tháng. Anh cho biết bạn bè đã mách cho anh các cơ hội làm việc tốt, nhưng thiếu nhất là tính “minh bạch.” Ai cũng dặn dò anh một câu: “Em về Việt Nam làm, có nhiều cái khác biệt so với nước ngoài. Khác biệt lớn nhất là: trong giao tiếp, có những cái em biết đôi khi em cũng không nên nói, nếu có biết cũng lập lờ làm như mình không biết… không nên thể hiện sự hiểu biết của mình.” Làm việc ở Việt Nam phải “che giấu con người thật và hy sinh một số tự do cá nhân, một thứ rất quan trọng trong yếu tố con người.” Còn làm việc ở Úc “môi trường làm việc minh bạch, không đòi hỏi bôi trơn này nọ nên chúng tôi luôn được là chính mình.”

Trong thời gian làm việc tập sự tại Sở Giáo Dục của bang Victoria, người chỉ huy anh trao cho trách nhiệm làm một “chuyên viên mạng không dây, wireless.” Ông ta dặn dò, “có cần gì cần hỗ trợ thì cứ nói thẳng ra.” Không khí làm việc thẳng thắn, minh bạch. Có lần anh hỏi người chỉ huy tại sao ông ấy có thể giao công việc quan trọng cho một sinh viên thực tập như mình? Ông ta nói: “Tôi thấy anh hiểu biết rất sâu vấn đề này. Tôi tin tưởng anh có trách nhiệm nên tôi rất tự tin khi giao công việc này cho anh.”

Hoàng hỏi tiếp: “Như ở nước tôi, sếp quyết định hết mọi thứ. Vậy tại sao ở đây ông không quyết định mọi thứ mà ông để cho tôi quyết định?” Ông ấy trả lời: “Nếu có chuyện đó cũng lạ thật. Tôi muốn nói cho anh biết người quản lý không phải là người biết tất cả mọi thứ. Mà người quản lý phải là người biết trong tay họ có những nhân viên như thế nào và họ phải biết sử dụng nhân viên của họ.” Hoàng công nhận: “Sau buổi đối thoại đó, tôi nghĩ rằng, chọn con đường ở lại có thể sẽ tốt hơn cho tôi.”

Các du học sinh ở lại có thể vì lý do kinh tế. Nhưng Ðỗ Lâm Hoàng đã nêu ra những lý do sâu xa hơn: “Nếu về mà trái ngành nghề, làm việc không có lợi cho cộng đồng, về để mà vinh thân phì gia mặc kệ cộng đồng thì thà đừng về còn hơn.”

Nói “Làm việc không đúng nghề của mình” Hoàng đã nhắc nhớ đến trường hợp một giáo sư Ðại Học Kỹ Thuật-Công Nghệ ở Cần Thơ gần đây. Ông Doãn Minh Ðăng đã đưa lên Facebook những điều bất công ông phải chịu trong nhà trường, và sau đó ông bị “xử lý kỷ luật.” Thay vì tiếp tục giảng dạy và nghiên cứu, nhà khoa học này được đưa qua làm một công việc hành chánh không cần một hiểu biết khoa học, kỹ thuật nào cả!

Ðỗ Lâm Hoàng cũng nói rõ các trở ngại khác nếu về làm việc trong nước, mà vụ Giáo Sư Doãn Minh Ðăng là tiêu biểu: Không được tự do suy nghĩ. Mất tự do phát biểu. Không được sống con người thật của mình. Phải chịu luồn cúi những kẻ không hiểu biết, thiếu đạo đức, chỉ thăng tiến trong xã hội nhờ bè đảng, cái bè đảng lớn nhất chính là đảng Cộng Sản!

Phải sống trong một môi trường bất minh và không bình đẳng như vậy, người sinh viên tính trở về sẽ suy nghĩ: “Chúng tôi về là để cống hiến, để làm việc chứ không phải về nắm bắt cơ hội, để trở thành kẻ cơ hội.” Chắc phần lớn các du học sinh Việt Nam cũng đang nghĩ như thế. Họ chọn “ở lại” đóng góp cho quốc gia nơi họ du học, vì biết rằng nếu trở về cũng không có cơ hội đóng góp gì cho đất nước, vì phải sống trong một xã hội vẫn còn di sản của chế độ “hồng hơn chuyên.”

Cho nên, nước Việt Nam đang bị mất rất nhiều tài năng. Những tài năng đó, đời xưa ông Thân Nhân Trung (1419-1499), sống vào đời Lê Thánh Tông đã gọi là “nguyên khí của quốc gia.” Thân Nhân Trung viết một câu nổi tiếng: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia.” Sau khi khẳng định điều đó, ông nói tiếp: “Bởi thế các đức Thánh Ðế, Minh Vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên.”
Thân Nhân Trung là một nhà Nho, môn đồ Khổng Giáo, cho nên đã quen biết với quy tắc “cử hiền tài.” Chữ “Hiền” trong văn chương đời xưa cũng có nghĩa là người có khả năng, chứ không phải chỉ nói đến tính hạnh tốt. Trong Lễ Ký, Khổng Tử mô tả một xã hội “đại đồng,” khi “đạo lớn được thi hành,” ông viết: “Ðạo lớn được thi hành, thiên hạ đều là chung, tuyển chọn người hiền có tài năng, nói điều tín nghĩa hòa mục, cho nên người ta không chỉ thương yêu cha mẹ mình, không chỉ lo cho con cái mình,…” (Ðại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục, cố nhân bất độc thân kỳ thân, bất độc tử kỳ tử,…)

“Cử hiền dữ năng,” nói theo lối Tây phương bây giờ, gọi là “meritocracy,” có thể tạm dịch là “chế độ cử hiền tài.” Chế độ này có thể được áp dụng trong việc quản trị một quốc gia cũng như trong các công ty kinh doanh, các tổ chức bất vụ lợi, khi cả xã hội dùng quy tắc “cử hiền tài” để chọn người nắm quyền hành trên những người khác. Theo quy tắc “cử hiền tài” thì phải chọn những người có khả năng thay vì chọn những người thân thuộc, cùng bè đảng, cùng thuộc một “giai cấp ưu đãi,” là các đảng viên đảng cầm quyền. Cử hiền tài thì trong công việc chung, dù là việc nước hay việc của xí nghiệp, của cơ quan, “người ta không chỉ thương yêu cha mẹ mình, không chỉ lo cho con cái mình” (nhân bất độc thân kỳ thân, bất độc tử kỳ tử). Chắc chắc chắn không ai chỉ “lo cho các đồng đảng của mình!” Chế độ “cử hiền tài” là căn bản cho một xã hội sống với “cơ hội đồng đều,” khi mọi công dân được “bình đẳng trong cơ hội.”

Lý do chính khiến các du học sinh Việt Nam không trở về nước là vì sẽ không được sống xứng đáng với nhân phẩm của mình, mà một phần quan trọng trong nhân phẩm là quyền sống, suy nghĩ và phát biểu tự do, luôn luôn được “là chính mình” như Ðỗ Lâm Hoàng xác nhận. Lý do quan trọng khác khiến nhiều người không muốn về nước là vì họ biết khi trở về sẽ lại phải sống trong một xã hội không có “bình đẳng trong cơ hội.”

Nhiều sinh viên có thể chọn trở về vì biết họ “có gốc lớn,” nhờ xã hội bất bình đẳng mà họ sẽ được ưu đãi. Nếu những sinh viên đó chỉ cần sống “vinh thân phì gia mặc kệ cộng đồng,” thì con đường trở về là hợp lý. Nhưng với tuổi trẻ người ta còn giữ được nhiều lý tưởng, nhiều người “có gốc lớn” cũng không muốn sử dụng uy thế, tiền bạc của cha mẹ mình để tiến lên trong xã hội, họ cũng nghĩ rằng chỉ khi nào mình thăng tiến nhờ tài năng thì mới xứng đáng.

Trong một chế độ độc đảng, độc quyền, xã hội không thể có “bình đẳng trong cơ hội.” Chế độ độc tài đảng trị đang gây ra cơn “xuất não” làm hao mòn nguyên khí dân tộc Việt Nam. Ðảng Cộng Sản có thể đang vỗ bụng tự khen là họ đã thu vào được 14 tỷ Mỹ kim kiều hối. Nhưng nước Việt Nam vẫn tiếp tục mất, dòng nguyên khí của quốc gia vẫn tiếp tục chảy ra nước ngoài!

Chỉ khi nào dân Việt được sống tự do dân chủ thì mới chấm dứt được tai họa mất nguyên khí này.

Công ty ở Houston thưởng tiền Noel mỗi nhân viên $100,000

Công ty ở Houston thưởng tiền Noel mỗi nhân viên $100,000
Nguoi-viet.com

HOUSTON, Texas (NV)Hôm Thứ Năm, tin từ tạp chí trên mạng The Root cho hay, một công ty tại Houston mới vừa làm cho giấc mơ Mùa Giáng Sinh của nhân viên trở thành hiện thực sau khi mọi người, dù giữ chức vụ nào và làm công việc gì, vẫn nhận được $100,000 tiền thưởng dịp Noel.


Một nhân viên công ty Hilcorp vui mừng khi biết được tiền thưởng. (Hình: thefederalistpapers.org)

Tất cả 1,380 nhân viên công ty Hilcorp, một trong số các hãng thăm dò và sản xuất dầu khí lớn tại Hoa Kỳ, đã nhận được món tiền thưởng hậu hĩnh đó, coi như là lời cảm tạ của ban giám đốc công ty đối với thành tích làm việc xuất sắc của họ.

Nhân viên tiếp đón khách hàng Amanda Thompson nói với đài KTVU rằng đây quả thật là món quà đáng giá, và cô tin rằng bản thân mình cũng như các nhân viên khác của công ty chẳng ai mà lại không ra sức làm việc hết mình, 100% mỗi ngày.

Kể cũng chẳng có gì lạ khi Hilcorp vừa mới được tạp chí Fortune vinh danh là một trong số 100 Công Ty Tốt Nhất Cho Công Nhân, năm nay là năm thứ ba liên tiếp.

Cô Thompson kể rằng, hồi năm 2010, tất cả nhân viên công ty đều được quyền chọn phần thưởng là một chiếc xe hơi trị giá $50,000 hoặc là $35,000 tiền mặt vì công ty đã đạt chỉ tiêu sản xuất cho 5 năm qua. (V.P.)

NGUYỄN TẤN DŨNG LẠI TỰ ĐÁNH BÓNG BẰNG MỘT “GIẢI THƯỞNG”!

NGUYỄN TẤN DŨNG LẠI TỰ ĐÁNH BÓNG BẰNG MỘT “GIẢI THƯỞNG”!

RFA

(bài viết của Hoàng Ngọc-Tuấn)

Hôm nay báo Vietnamnet loan tin: “Vinh danh Thủ tướng, vinh danh Việt Nam” – “Giải thưởng Nhà lãnh đạo thế giới vì Hoà bình, An ninh và phát triển do Diễn đàn Toàn cầu Boston trao cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được xem là ghi nhận xứng đáng cho những nỗ lực nhiều năm qua của ông vì hoà bình và an ninh trong khu vực…”

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/278356/vinh-danh-thu-tuong–vinh-dan…

Nhưng cái “Giải thưởng Nhà lãnh đạo thế giới vì Hoà bình, An ninh và phát triển” là gì? Và “Diễn đàn Toàn cầu Boston” là ai?

H1

Nguyễn Tấn Dũng, vừa được “Giải thưởng Nhà lãnh đạo thế giới vì Hoà bình, An ninh và phát triển” của Nguyễn Anh Tuấn. Nguồn ảnh: internet

“Giải thưởng Nhà lãnh đạo thế giới vì Hoà bình, An ninh và phát triển” là một giải thưởng dỏm do Nguyễn Anh Tuấn (kẻ sáng lập và làm Tổng Biên Tập của Vietnamnet) lập ra, và cái “Diễn đàn Toàn cầu Boston” (Boston Global Forum) thì cũng do Nguyễn Anh Tuấn lập ra và làm Giám Đốc Điều Hành (Founder and CEO):

http://bostonglobalforum.org/blog/category/about-us/board-of-directors/

Nguyễn Anh Tuấn kiêm nhiệm cả Ban Tư Tưởng (Board of Thinkers) của “Diễn đàn Toàn cầu Boston” (Boston Global Forum):

http://bostonglobalforum.org/blog/category/about-us/board-of-thinkers-new/

Nguyễn Anh Tuấn kiêm nhiệm cả Ban Biên Tập (Editorial Board) của “Diễn đàn Toàn cầu Boston” (Boston Global Forum):

http://bostonglobalforum.org/blog/category/about-us/editorial-board/

Nguyễn Anh Tuấn kiêm nhiệm cả Ban Điều Hành (Executive Board) của “Diễn đàn Toàn cầu Boston” (Boston Global Forum):

http://bostonglobalforum.org/blog/category/about-us/excutive-board/

Nên nhớ rằng năm 2012, Nguyễn Anh Tuấn đã lập ra giải thưởng dỏm “Quốc Tế Trần Nhân Tông”, và báo Vietnamnet đã rầm rộ đăng tin rằng “Giải Thưởng Quốc Tế Trần Nhân Tông” sẽ trao cho Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Ky. Nhưng rốt cuộc cả 2 người này không hề đến nhận giải thường, và cái giải thưởng đó chết tiệt luôn, không kèn không trống:

http://vietnamnet.vn/vn/giai-tri/89762/ngay-hoi-lon-cua-giai-thuong-quoc…

NGUYỄN TẤN DŨNG KHÔNG NGỪNG TỰ ĐÁNH BÓNG BẰNG MỌI THỦ ĐOẠN RẺ TIỀN NHẤT.

Năm 2011, tôi đã vạch ra sự thật về việc Nguyễn Tấn Dũng tự đánh bóng, qua bài viết: “‘Báo chí nước ngoài’ ca ngợi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng? Thật ra chỉ là một trò lừa bịp!”
http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork…

Và bài “Thông Tấn Xã Việt Nam biến rác thành vàng để lừa bịp nhân dân”:
http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork…

Cộng Sản Việt Nam sẽ không bao giờ ngừng lừa bịp nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, tôi tin rằng càng ngày càng ít người dân Việt Nam tin vào những trò lừa bịp ấy. Chúng ta cần phải liên tục vạch ra tất cả cả những trò lừa bịp của Cộng Sản Việt Nam để càng ngày càng nhiều người dân Việt Nam biết rõ sự thật.

Peter F Drucker : Một con người chính trực

Peter F Drucker : Một con người chính trực

(1909 – 2005)

 Bài của : Đoàn Thanh Liêm

Peter Ferdinand Drucker sinh năm 1909, tại thành phố Vienna, thủ

đô nước Áo. Ông mới qua đời tại thành phố Claremont, thuộc miền

Nam California vào năm 2005, ở tuổi thọ 96. Trong suốt trên 60

năm ông chuyên dậy học tại nhiều trường đại học ở Mỹ, viết rất

nhiều sách chuyên về vấn đề quản lý, và đồng thời còn làm cố vấn

cho rất nhiều đại công ty kinh doanh tư nhân, cho các cơ quan

chánh phủ tại ba quốc gia Mỹ, Nhật và Canada, và đặc biệt ông đã

tận tình hỗ trợ cho các tổ chức thiện nguyện bất vụ lợi.

Có thể nói Peter Drucker là một mẫu người ngoại hạng, với sự

nghiệp chuyên môn hết sức lớn lao, và nhất là một nhân cách sáng

ngời của sự ngay thẳng chính trực.

Bài viết này xin được giới thiệu chi tiết với quý bạn đọc người Việt

về con người sĩ phu trí thức rất mực cao quý này của thế kỷ XX.

 

A – Học tập ở Âu châu, thành danh ở Mỹ châu.

Sinh trưởng trong một gia đình trí thức tên tuổi, với người cha là

một vị luật sư và giáo sư đại học, Peter Drucker ngay từ buổi thiếu

thời đã được tiếp xúc với những vị thức giả có tên tuổi lớn tại Âu

châu, điển hình như Sigmund Freud là người đã khai sinh ra ngành

Phân tâm học (Psychanalysis).

Sau khi tốt nghiệp trung học tại quê nhà vào năm 1927, thì Peter

qua học về luật tại đại học Frankfurt bên nước Đức. Tại đây, ông

đậu văn bằng tiến sĩ về luật quốc tế và công pháp. Ông chịu ảnh

hưởng của bậc đại sư, mà cũng là một người bạn của thân phụ ông,

đó là giáo sư Joseph Schumpeter về sự quan trọng của tinh thần

sáng tạo và tài năng tháo vát trong lãnh vực kinh doanh. Rồi sau

này khi rời bỏ nước Đức lúc Hitler lên cầm quyền vào năm 1933,

để qua sống tại Anh quốc, thì ông được thụ giáo với cả vị kinh tế

gia lừng danh thời trước chiến tranh là John Maynard Keynes

Ở tuổi đôi mươi ông đã hăng say tham gia viết báo, làm việc trong

ngành bảo hiểm, rồi ngành xuất nhập cảng và ngân hàng tại nước

Đức và nước Anh.

Vào năm 1937, với tư cách là đặc phái viên cho một nhóm báo chí

Anh quốc, ông qua Hoa Kỳ cùng với người vợ mới cưới là Doris

Schmitz. Vào tuổi ba mươi, với tài năng chín mùi, Peter Drucker

đã có nhiều cơ hội phát huy sở học và kinh nghiệm thâm hậu của

mình. Ông được mời giảng dậy tại nhiều trường đại học tại phía

miền đông nước Mỹ như trường New York University trong gần 30

năm. Đồng thời, ông vẫn tiếp tục cộng tác với các tờ báo nổi danh

về kinh tế tài chánh như Wall Street Journal, The Economist,

Harvard Business Review, và với cả các tờ báo có uy tín hàng đầu

như The Saturday Evening Post, The Atlantic Monthly v.v…

Kể từ năm 1945, ông được nhiều đại công ty như General Motors

mời làm cố vấn. Tính ra ông đã nhận làm cố vấn cho trên 50 công

ty tầm cỡ rất lớn như General Electric, Coca Cola, IBM, Citycorp,

Intel… Ông cũng được giới doanh nhân ở Nhật rất tín nhiệm và

mời ông vào chức vụ cố vấn cho các vị giám đốc của Toyota Motor

Corp., Ito-Yokado Group v.v… nữa. Đó là chưa kể đến việc làm cố

vấn miễn phí cho các tổ chức bất vụ lợi như Hội Nữ Hướng đạo

Mỹ, Salvation Army, Hội Hồng Thập Tự, tổ chức CARE v.v…

Sau đó vào thập niên 1970, thì ông qua California, tiếp tục việc

dậy học và làm cố vấn cho nhiều cơ sở kinh doanh tại phía bờ biển

miền tây nước Mỹ. Ông giữ chức vụ Giáo sư về Khoa học Xã hội

và Quản trị tại trường Cao học về Quản trị Claremont, mà sau này

được đổi tên là “Peter F. Drucker School of Management” để vinh

danh ông vào năm 1987. Lớp học cuối cùng ông dậy tại trường này

là vào năm 2002, lúc ông đã bước vào tuổi 92.

Về sự nghiệp biên soạn sáng tác, ông đã cho xuất bản 39 cuốn

sách, phần lớn bàn về vấn đề quản trị, mà điển hình là cuốn “The

Practice of Management” xuất bản năm 1954 và cuốn

“Management : Tasks, Responsabilities, Practices” xuất bản năm

  1. Riêng về lãnh vực các tổ chức bất vụ lợi, thì có cuốn viết

năm 1990 với nhan đề : “Managing the Non-Profit Organisation:

Principles and Practices”. Phần lớn các sách của ông đã được dịch

ra trên 30 ngôn ngữ khác nhau trên thế giới.

 

B – Các giai thọai về nhân vật xuất chúng Peter Drucker.

Ít có nhân vật nào mà lại xông xáo họat động năng nổ tích cực

trong cả ba khu vực cấu thành “không gian xã hội” như là Peter

Drucker (the social space bao gồm khu vực Nhà nước, khu vực Thị

trường kinh tế và khu vực Xã hội dân sự). Ông giúp cho các nhà

lãnh đạo cơ sở công quyền, cũng như giám đốc công ty xí nghiệp

tư nhân trong việc họach định được một chính sách tối ưu. Mà đặc

biệt ông còn hỗ trợ hết mình cho các tổ chức phi chánh phủ, bất vụ

lợi thực hiện được những thành tựu tốt đẹp cao nhất trong công

cuộc phục vụ nhân quần xã hội.

Những khám phá của ông trong lãnh vực quản lý xí nghiệp đã trở

thành một huyền thọai, được truyền tụng trong giới doanh nhân

cũng như trong giới hàn lâm đại học. Nhiều người đã gọi ông là

nhà tư tưởng táo bạo, một triết gia của xã hội kỹ nghệ đang ở vào

giai đọan phát triển cao độ. Lớp học do ông giảng dậy thu hút quá

đông sinh viên theo học, đến nỗi nhà trường phải sử dụng cả khu

tập thể dục mới có đủ chỗ rộng rãi cho thầy trò sinh họat, trao đổi

thảo luận với nhau cho thoải mái được

Một cựu sinh viên kể lại câu chuyện như sau : Dù lớp học đày ắp

sinh viên, mà giáo sư Drucker vẫn tìm cách nêu các câu hỏi gợi ra

sự tranh luận sôi nổi giữa cử tọa. Có lần ông hỏi cả lớp như thế này

đây : “ Các bạn cho tôi biết sự kiện nào nổi bật, gây ảnh hưởng

nhất trong thời gian 100 năm gần đây trong xã hội nước Mỹ? Các

sinh viên lần lượt kê ra, nào là sự phổ biến điện thọai, điện lực, hai

cuộc thế chiến, cuộc khủng hỏang kinh tế …Tất cả các câu trả lời

đều bị giáo sư lắc đầu, từ chối. Cuối cùng thì ông cho chúng tôi

biết : Đó là việc sản xuất xe hơi hàng lọat (the mass production of

automobile), vì nó tạo cho giới nông dân phương tiện để chở vợ

con ra thành phố vào cuối tuần – nhờ đó mà họ mới tránh được lọai

bệnh tâm thần do sự cô lập quạnh hiu ở nông thôn gây ra… Đây

quả thật là một lối suy luận độc đáo, bất ngờ khiến cả lớp chúng tôi

cứ nhớ hòai!”

So với các bậc tiền bối, thì quả thật Peter Drucker là thứ “hậu sinh

khả úy”, là môn đệ mà đã vượt qua cả bậc sư phụ của mình. Cụ thể

như đối với Frederik Taylor (1866 – 1915) là người khai sáng ra

môn tổ chức công việc sản xuất theo khoa học nhằm nâng cao

năng xuất trong kỹ nghệ, thì Drucker đã bổ túc môn này bằng cách

mở rộng sự nghiên cứu trong lãnh vực văn hóa, quan hệ nhân bản,

và nhất là viễn tượng tương lai đối với những thách đố và khả năng

trong xã hội kỹ nghệ. Và đối với John Maynard Keynes (1883-

1946) thì cũng vậy, Drucker đưa thêm vào lý thuyết định lương vĩ

mô (macro-economics) của vị đại sư này cái phương pháp nghiên

cứu về động thái con người (behavior of people); như vậy là làm

tăng thêm khía cạnh nhân bản trong lãnh vực kinh tế vi mô (micro-

economics).

Các giám đốc công ty đã không tiếc lời ca ngợi vị đại sư Peter

Drucker. Điển hình như Andy S. Grove của công ty Intel Corp., thì

đã viết : “Lời khuyến cáo của ông đã ảnh hưởng đến không biết

bao nhiêu hành động hàng ngày tại các xí nghiệp. Và riêng đối với

tôi, thì cái ảnh hưởng đó đã kéo dài liên tục trong nhiều thập niên”.

Tom Peters thì gọi Drucker là người đã sáng lập ra môn khoa học

quản lý hiện đại; ông là người đầu tiên đã cung cấp cho chúng ta

thứ dụng cụ để quản lý những tổ chức kinh doanh mỗi ngày càng

trở thành phức tạp hiện nay.

 

C – Con người ngay thẳng chính trực.

Nhưng Peter Drucker còn làm cho bao nhiêu người mến phục bởi

sự ngay thẳng chính trực lạ thường của ông. Ngay từ thời còn ở

bên nước Đức, lúc mới có 23-24 tuổi, ông đã viết một cuốn sách về

nhà triết học Friedrich Julius Stahl, mà đã bị chính quyền Đức

quốc xã tịch thu và cho đốt hết đi. Mấy năm sau, thì cuốn sách thứ

hai nhan đề “Vấn đề Người Do Thái tại nước Đức” cũng lại chịu

chung số phận đó. Đến nỗi mà hiện nay chỉ còn sót lại một cuốn

duy nhất trong văn khố nước Áo với dấu hiệu chữ vạn đóng trên

bìa sách.

Được nuôi dưỡng theo truyền thống nghiêm túc của đạo Tin lành,

Peter Drucker đã sống và hành động theo những nguyên tắc chặt

chẽ về luân lý và đạo hạnh. Mặc dầu được các đại công ty trả

lương rất hậu cho dịch vụ cố vấn của ông, Drucker cũng không

ngần ngại phê phán những thiếu sót bất cập của giới doanh nghiệp

tại Mỹ. Khi được biết giới đứng đầu doanh nghiệp dành cho mình

những bổng lộc quá lớn, lên đến cả trăm lần lương của người công

nhân bình thường, ông đã không cầm được sự giận dữ và lên tiếng

phê phán gắt gao chuyện này. Ông nói : “Đó là điều không thể tha

thứ được, xét về mặt luân lý cũng như về mặt xã hội; và chúng ta

sẽ phải một cái giá nặng nề cho tình trạng này.” (This is morally

and socially unforgivable, and we will pay a heavy price for it).

Ông còn ghi rõ là : “ Thâu nhập của người giám đốc không được

gấp quá 20 lần mức lợi tức của người công nhân”.

Thất vọng trước sự sa sút về phương diện giá trị đạo đức của giới

doanh nghiệp Mỹ, ông đã phải thốt lên : “Đó là sự thất bại cuối

cùng của chủ nghĩa tư bản doanh nghiệp” (the final failure of

corporate capitalism).

Và kết cục là ông đã dành hầu hết thời giờ và năng lực vào việc

yểm trợ cho các tổ chức bất vụ lợi. Đó là lãnh vực xã hội dân sự,

mà ông tin tưởng sẽ góp phần quan trọng vào việc phục hồi lại hệ

thống giá trị tốt đẹp truyền thống của nước Mỹ. Ông đặc biệt dành

sự ưu ái cho mục sư và cũng là một tác giả nổi danh với cuốn sách

bestseller “The Purpose-driven Life” Rick Warren của Nhà thờ

Saddleback tại thành phố Lake Forest trong Quận Cam miền Nam

California. Vị mục sư này thuật lại rằng : Ông Peter Drucker căn

dặn tôi : “Chức năng quản lý trong một nhà thờ là làm cho nhà thờ

đó mỗi ngày đích thực là nhà thờ hơn, chứ không phải là một loại

tổ chức kinh doanh (to make the church more churchlike, not more

businesslike). Như vậy thì nhà thờ mới có thể thực hiện đúng sứ

mệnh riêng biệt của mình.”

** Tóm tắt lại, ta có thể ghi nhận rằng Peter Drucker là một mẫu

người ngoại hạng của thế kỷ XX. Sự đóng góp chuyên môn trong

việc giáo dục đào tạo nhiều thế hệ sinh viên trong ngành quản trị

doanh nghiệp, trong sự nghiệp trước tác, cũng như trong việc cố

vấn hướng dẫn cho giới lãnh đạo cơ sở công quyền, cũng như xí

nghiệp tư nhân, và nhất là trong sự yểm trợ cho các tổ chức bất vụ

lợi thuộc khu vực Xã hội Dân sự, thì thật là lớn lao vĩ đại ít người

nào có thể sánh kịp được.

Mà còn hơn thế nữa, cái nhân cách trong sáng và tính ngay thẳng

chính trực của ông mãi mãi là một tấm gương cao quý cho giới sĩ

phu trí thức cùng khắp thế giới hiện nay noi theo vậy./

California, Tiết Trung Thu Canh Dần 2010

Đoàn Thanh Liêm

Khi chế độ sợ sử

Khi chế độ sợ sử

Tạp ghi Huy Phương

 Nguoi-viet.com

Theo báo chí trong nước, môn lịch sử dự định sẽ bị xóa bỏ khỏi chương trình giáo dục phổ thông, và sẽ được “tích hợp” với môn giáo dục công dân và giáo dục quốc phòng! Dư luận trong và ngoài nước đã lên án gắt gao dự định này, và việc bỏ môn sử trong chương trình giáo dục của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa không phải là không có cơ sở, vì nó đã bắt nguồn từ cuộc Cách Mạng Tháng Tám, đảng Cộng Sản muốn viết lại lịch sử theo chiều hướng có lợi cho đường lối của đảng.

Nghĩa Trang Liệt Sĩ Người Trung Quốc ở Cao Bằng. (Hình minh họa: Tienve.org)

Hiện nay, trong giai đoạn Việt Nam đang trở thành con cái (một loại nghịch tử) của Trung Cộng, lịch sử Việt Nam đã là một trở ngại cho mối giao hảo của Việt-Trung, thì khi đất nước chúng ta trở thành một thành phần không thể cắt lìa của Trung Cộng, là ngôi sao nhỏ thứ năm trên lá cờ của bọn bành trướng. Lý do lịch sử Việt Nam là một chuỗi trường kỳ kháng chiến với giặc phương Bắc, và nước Tàu trở thành một “kẻ thù truyền kiếp” của dân tộc Việt Nam.

Sách “Việt Nam – Những Sự Kiện Lịch Sử 1945-1975” của Viện Sử Học-Viện Khoa Học Xã Hội (cơ quan chính thức của đảng và chính phủ) không hề nói đến chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa và sự hy sinh của những anh hùng tử sĩ VNCH trong trận chiến với Trung Cộng vào Tháng Giêng, 1974. Ngay cuộc tấn công của quân Trung Cộng chiếm các bãi đá Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa diễn ra ngày 14 Tháng Ba, 1988, phía Việt Nam mất ba tàu vận tải của hải quân, 64 thủy binh đã thiệt mạng cũng bị bỏ quên. Đương nhiên chuyện bán nước tày trời, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, vào năm 1958 đã gửi công hàm cho Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai nhìn nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng trên Hoàng Sa và Trường Sa lại phải giấu kín, không được ghi vào sử.

Vì sao đảng Cộng Sản Việt Nam lại giấu sử và viết lại sử, ngăn cấm không cho các thế hệ con em biết những sự thật đẫm máu về Trường Sa- Hoàng Sa, phải chăng là sợ mất lòng đàn anh “láng giềng khốn nạn!”

Cũng trong thời gian xảy ra những biến cố đau thương ở Gạc Ma, những việc nhảm nhí lại được đảng Cộng Sản tôn vinh thành sử sách như việc “Khai mạc Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Hội Chữ Thập Đỏ lần thứ năm” hay “Ngành Nội Thương tổ chức hội nghị đánh giá kết quả bước đầu chuyển hoạt động thương nghiệp sang hoạch toán kinh doanh XHCN.”

Ngay cả tội ác của lính Trung Cộng, trong cuộc thảm sát ngày 9 Tháng Ba, 1979 tại huyện Hòa An, Cao Bằng, khi quân Trung Cộng đã “dùng búa và dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có bảy phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối. Trong thời gian chuẩn bị rút quân, Trung Quốc còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình,” (*) mà ghê tởm thay, cũng được các nhà viết sử Cộng Sản lơ đi kẻo sợ mất lòng ông chủ Trung Cộng!

Những anh hùng do đảng nặn, phịa ra thì lại được ghi vào sử cho con em học ra rả. Đó là những anh hùng tưởng tượng Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu… hay những dũng sĩ “không tưởng” như Bế Văn Đàn lấy thân làm giá súng, Bùi Minh Kiểm tay không ghì máy bay trực thăng thì được nhồi nặn vào đầu óc trẻ thơ. Thế hệ thanh niên bây giờ có thể biết về Lenin, Karl Marx là ai, trong khi một học sinh lớp 8 không biết ông Quang Trung “bà con” ra sao với ông Nguyễn Huệ, phải chăng vì “hai ông” này đều chống Tàu?

Khốn nạn hơn nữa, kẻ thù giết đồng bào lại được ghi công, nhà nước Việt Nam đã xây dựng đài tưởng niệm Liệt Sĩ Trung Quốc với hàng chữ “Việt Nam Nhân Dân Ký Công,” tức là “Nhân Dân Việt Nam Ghi Công” và hàng năm, đảng và nhà nước lại còn cúi đầu dâng vòng hoa tưởng niệm “Đời đời nhớ ơn các Liệt Sĩ Trung Quốc!”

Sao mà có một bọn cầm quyền hèn mạt đến thế.

Những việc tàn độc sau khi Cộng Sản miền Bắc đánh chiếm miền Nam, gọi là “giải phóng,” “thống nhất đất nước,” như tập trung quân cán chính, nhân viên đảng phái miền Nam vào nhà tù lao động khổ sai, đánh tư sản, lùa dân đi kinh tế mới, đổi tiền, các phong trào vượt biển đi tìm tự do… làm chết hàng triệu người Việt Nam, nó chính là tội ác, phải ghi vào sử, nhưng Cộng Sản sợ phải ghi những hình ảnh này vào sử, nó sẽ cho đồng bào biết Cộng Sản có bàn tay vấy máu như thế nào! Trong sử sách Cộng Sản, đảng ta luôn luôn “đánh thắng” dù là bằng cách trói tay và đập đầu chôn sống hơn 5,000 dân Huế trong Tết Mậu Thân!

Hãy nhìn đây sự khiếp nhược của đảng Cộng Sản Việt Nam trước bọn Tàu Cộng: Không có một con đường, một bến sông, một chiếc tàu hải quân nào dám mang tên có “hơi hám” đến cuộc chống Tàu xâm lăng trong lịch sử của cha ông, đó là những địa danh lẫy lừng trong lịch sử như Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng, Đống Đa, Hà Hồi hay các nhân vật lịch sử như Bà Trưng, Bà Triệu. Tất cả những con tàu thuộc Hải Quân VNCH đều hãnh diện mang những cái tên anh hùng chống Tàu như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Toản, Trần Nhật Duật, Yết Kiêu…

Truyền thống của hải quân bất kỳ nước nào trên thế giới cũng là phòng thủ biên giới quốc gia, chống ngoại xâm, nhưng hải quân Cộng Sản Việt Nam chỉ bày ra để bảo vệ đảng, cũng như binh lính công an, bộ đội. Những con tàu của hải quân Cộng Sản Việt Nam hiện nay chỉ dám “rón rén” đặt những cái tên vô tội, ngây thơ không sợ “nhạy cảm” làm mất lòng đàn anh, như tàu HQ.182 tên là Hà Nội, HQ.183 là TP Hồ Chí Minh, HQ.184 là Hải Phòng, HQ.185 là Đà Nẵng, HQ.186 là Khánh Hòa, HQ.187 là Bà Rịa Vũng Tàu, HQ.011 là Đinh Tiên Hoàng, HQ.12 là Lý Thái Tổ. Nghĩ ông Đinh Tiên Hoàng hay ông Lý Thái Tổ thì có đụng gì đến bọn Tàu xâm lược.

Như vậy là quay mặt làm ngơ với lịch sử!

Là học sinh trung học thời VNCH, chúng tôi không những được học sử của Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh… mà trong sách Giáo Khoa Thư thuở tiểu học chúng tôi đã biết đến Ngô Quyền đóng cọc nhọn đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, ông Trần Hưng Đạo tâu với vua, “hãy chém đầu thần đi trước khi hàng giặc,” Trần Quốc Toản, tuổi thiếu niên, bóp nát quả cam trong tay, dựng cờ “phá cường dịch báo hoàng ân!” Thời bây giờ, chúng tôi không biết những Huỳnh Văn Bánh, Lê Thị Riêng, Ngô Văn Năm, Nguyễn Văn Đậu, Phan Thị Ràng… là ai, mà nghĩ thương cho “ông Quang Trung là anh em với ông Nguyễn Huệ!”

Một chế độ sợ sử và viết sử láo, chẳng qua vì hèn ngu, khiếp nhược.

Vì những lý do sợ Tàu, câu chuyện bỏ môn sử nghĩ cũng có nguyên nhân.

Dân tộc không sử là thứ con không cha, nhà không nóc.

Thôi thế thì thôi!

(*)Ghi theo tài liệu của Phạm Trần.
Nếu có thời giờ xin mời bạn đọc vào xem DVD “Thảm Họa Mất Nước”
https://www.youtube.com/watch?v=fpYuc2gs2bk

 

‘Ẩm thực’ thời ‘cách mạng’

‘Ẩm thực’ thời ‘cách mạng’

Tạp ghi Huy Phương

Nguoi-viet.com

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, sau khi người Nam “nhận họ,” người Bắc “nhận hàng,” bao nhiêu kho đạn, lương thực, thuốc men, máy móc… được chở về Bắc để vỗ béo cho cán bộ cao cấp, kể cả 16 tấn vàng, tài sản quốc gia, bị bọn cán bộ cao cấp, mỗi người “cấu véo” một tí, thì miền Nam trở thành một bãi rác hoang tàn. Sau khi đưa vào tù quân cán chính miền Nam, đánh tư sản, đổi tiền, lùa dân đi vùng kinh tế mới, thì dân đen, loại không biên chế, không còn cái ăn cái mặc, đau ốm không thuốc men.

Lá cây khoai mì. (Hình minh họa: Issouf Sanogo/AFP/Getty Images)

Cái ăn đã không có, trừ gạo mục từ các mật khu mang về, bo bo, bột mì, khoai sắn nộp nghĩa vụ lẫn đất cát còn không đủ no, thì chuyện đau ốm khó khăn – khắc phục. Xuyên tâm liên là vị thuốc độc nhất toàn năng phổ biến trong quần chúng dành cho những “ông chủ” của đất nước, như Tạ Phong Tần đã viết: “… sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, ai bị bệnh gì vô bệnh viện Bạc Liêu cũng đều được bác sĩ kê toa hai thứ thuốc không bao giờ thay đổi là xuyên tâm liên (viên nén) và chai xi-rô Lạc Tiên, đem về uống đến phù cả mặt mũi mà vẫn không hết ho…” Không phải chỉ có Bạc Liêu mà cả toàn quốc! Phổ biến thì súc muối hay nhỏ nước tỏi vào lỗ mũi. Trong nhà tù “cải tạo” ngoài Bắc, thì phái đoàn y sĩ từ Hà Nội về nhổ răng cho tù bằng kềm, búa, đục thợ rèn, 10 anh thì sưng mặt hết bảy.

Xuyên tâm liên là thứ cây thuốc có ở phía Nam Trung Quốc. Theo tính vị ghi trong tài liệu y học dân gian Quảng Châu, thì cây “xuyên tâm liên” này có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thủng, giảm đau. Được dùng chữa vết thương, tẩm gạc đắp vết thương hoặc làm dịch nhỏ giọt rửa vết thương; chữa viêm họng, viêm phế quản, lị cấp (nước sắc xuyên tâm liên cùng với bồ công anh, sài đất…).

Vào khoảng thời gian “mở cửa” khi mà Việt Cộng đã cho dân chúng nhận những thùng quà từ ngoại quốc gửi về, đặc biệt là những người vượt biên đến được Mỹ, thì hải quan tại phi trường Tân Sơn Nhứt bắt đầu ra lệnh tịch thu thuốc Tylenol trong những thùng quà với lý do là có chất độc, cần phải kiểm nghiệm. Mặc dầu Tylenol đã vài lần bị thu hồi (recall) tại Mỹ, nhưng đó là một thứ thuốc bán rất chạy trên thị trường Bắc Mỹ, đứng hàng thứ ba trong các loại thuốc đau nhức. Nếu hải quan tịch thu Tylenol và thiêu hủy tại chỗ thì không nói, đằng này trong lúc thuốc men khan hiếm, thuốc này dành cho cán bộ dùng, và được tuồn ra ngoài chợ trời để bán với giá cao.

Về cái ăn thì thịt là món hiếm, chỉ có trong các cửa hàng nhà nước, hay được chuyển lậu, bằng cách bó vào đùi, vào mông để qua mắt các trạm kiểm soát. Nhưng nhân dân đã có một thứ “thịt” dễ kiếm khác, đó là ngọn “lá sắn” bỏ đi, sau khi “thu hoạch” củ sắn (khoai mì) nông dân ủ thành phân xanh.

Báo Nhân Dân, “Cơ Quan Trung Ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Tiếng Nói của Đảng, Nhà Nước và Nhân Dân Việt Nam,” vào khoảng thời gian 1978-79 đã có những bài báo nghiên cứu để đưa đến kết luận: “Ba kí lô lá sắn bằng hai kí lô thịt bò,” vì lá sắn chứa rất nhiều chất protein. Sở dĩ tôi còn nhớ rõ, là vì trong trại tù ở Bắc Thái, bọn tù chúng tôi đã phải tập họp ngồi nghe bọn “trật tự-thi đua” đọc đi đọc lại bài nghiên cứu khốn nạn “ba kí lô lá sắn bằng hai kí lô thịt bò.” Trong khi dân nếu tin chuyện đảng hướng dẫn, ăn lá sắn đến vàng da, mờ người, thì Bộ Chính Trị và các quan chức dùng sữa, thịt bò Jersy từ trại Ba Vì và sâm nhung hảo hạng. Cái này thì không phải chờ đến sau Tháng Tư, 1975, mà trước kia, Nguyễn Chí Thiện đã nói lên giữa hai màu da mặt tương phản giữa lãnh tụ phè phỡn và quần chúng tí hon, tương lai của đất nước:

“Nước da hai bác mầu hồng

nước da các cháu nhi đồng mầu xanh

giữa hai cái mặt bành bành

chiếc khăn quàng đỏ quấn quanh cổ cò!”

Về sau mới biết vì sao có chuyện lá sắn có protein: Nguyên ngành chăn nuôi Bắc Việt nghiên cứu ngọn lá sắn nếu đem ủ chua vào khẩu phần vỗ béo bò thịt sẽ làm tăng lượng hấp thụ thức ăn. Trọng lượng bò được vỗ béo tăng dần theo mức bổ sung ngọn lá sắn ủ chua trong thức ăn của bò hằng ngày. Việc ủ chua lá sắn cho bò đã tiết kiệm được thức ăn. Nhân dân không được đảng xem là người mà xem như trâu bò, được dùng lá sắn thay cho cá thịt. Dân ngu thì cứ tin đảng và nhà nước tận cùng, đảng và nhà nước thì dối trá, ai chết mặc ai. Cuộc nghiên cứu của những “đỉnh cao trí tuệ” đã được đăng tải trên báo Nhân Dân, cơ quan của đảng Cộng Sản thì ai mà không dám không tin. Con bò ăn lá sắn lên cân, thì con người XHCN cũng có thể ăn lá sắn để tăng sức, con gà toi nhỏ mũi bằng nước tỏi được, thì con người XHCN có thể nhỏ mũi bằng nước tỏi để khỏi toi.

Câu chuyện này làm chúng ta nhớ lại một anh hoạn lợn (thiến heo) bên Tàu, có bà vợ cứ sòn sòn đẻ năm một, cứ nghĩ là cơ phận con người cũng giống heo, cắt tử cung đi là hết đẻ. Một ngày “đẹp trời” nọ, anh trói vợ ra giữa sân, dùng đồ nghề quyết tâm làm cho vợ cai đẻ, bằng cách tìm cách cắt bỏ tử cung của vợ. Lẽ cố nhiên, bà vợ không sao tránh khỏi cái chết do tri thức của anh chồng hoạn lợn ngu dốt. Dân Việt Nam thời “cách mạng” không thiếu người chết, vì các bậc lãnh đạo quốc gia, có đầu óc và tư duy của những anh chàng “thiến heo” loại này.

Thời “cách mạng” đổi đời, dân được khuyến khích đói thì ăn lá sắn, ốm đau thì đã có nước đái, nhân dân tự sản xuất, không cần phải bào chế hay “nhập khẩu!”

Đó là câu chuyện “niệu liệu pháp” từ cuốn sách của Bác Sĩ F.O. Quinn (Mỹ) do nhà nước xuất bản năm 1989, trong đó đã đề cập đến “phương pháp tự chữa bệnh bằng nước tiểu đơn giản, dễ kiếm, dễ dùng nhưng hiệu quả trị bệnh lại rất cao.”

Thời điểm này, cuốn sách xuất bản nhằm mục đích dạy cho dân chúng biết “khắc phục” chứ không phải là một chuyện tình cờ. Sau này giới y học trong nước công nhận nội dung “niệu liệu pháp” thiếu khoa học và gây hậu quả nặng nề, một số người bệnh vì uống nước đái! Cuốn sách sau đó bị cấm lưu hành và trôi vào quên lãng.

Ngày còn nhỏ, ở nhà quê, tôi cũng có nghe nước tiểu trẻ em cho đàn bà mới sinh dậy và có công dụng chữa các chứng bệnh như sốt nóng, ho ra máu, thổ huyết, hoa mắt chóng mặt, tay chân lạnh do huyết dồn lên đầu, sản hậu ứ huyết, tổn thương, huyết ứ… Nhưng không phải nước tiểu được đồn đãi “trị được bá bệnh” như “xuyên tâm liên” mà người dân khốn cùng phải làm liều.

“Trong nước tiểu có hàng loạt chất độc hại như: Amoniac dùng để tẩy rửa, Creatinine làm co bắp thịt, gây chuột rút, đau đớn, Amylase gây hạ đường máu, Ure gây hôn mê, Bilirubine và chì là chất cực độc, lân dùng để bón cây, ngoài ra còn hàng ngàn loại vi trùng, nấm, virus từ nước tiểu, rồi từ hậu môn xâm nhập qua nước tiểu khi chảy xuống… Do đó, có thể nói, nước tiểu người lớn là… thuốc độc.” (VT News)

Nhà văn Quang Lập (Hội Văn Nghệ Bình Thị Thiên) viết trong Blog năm 1985-86: “Vài ngày sau thằng Thịnh đưa tờ báo có bài: ‘Niệu liệu pháp phản khoa học, một trò lừa đảo!’” Cả hội mới ngớ người ra.

Anh Nguyễn Khoa Điềm nói hội mình anh em dại quá toàn nghe người ta xúi bậy. Anh Vĩ nói rất hay sự tuyên truyền rỉ tai nguy hiểm thế nào, tôi đã nói rồi tiếc thay anh em trí thức cả lại không ai cảnh giác.

Anh Nguyễn Quang Hà cười ha ha ha nói, tôi lừa các ông thế mà các ông cũng tin. Anh Văn Lợi nói Lập ơi tao thử trí thông minh mày, chứ đời nào tao uống. Mình cũng nói với Ngô Minh em trêu anh chứ có họa ngu mới đi uống nước đái. Ngô Minh cũng cười khe khe nói tao cũng lừa mày chứ sức mấy tao ngu!”

“Vì bởi người dân ngu quá lợn…” nên mới dễ bị chúng bịp.

Dân trí thức lại còn giở trò bịp nhau.

Thời “giải phóng” đảng nói với dân: “Đừng ăn những gì chúng ông ăn (có đâu mà ăn) mà hãy ăn những gì chúng ông nói!”

Dượng rể của Kim Jong Un trốn sang Mỹ vì sợ thanh trừng

Dượng rể của Kim Jong Un trốn sang Mỹ vì sợ thanh trừng

Nguoi-viet.com

SEOUL, Nam Hàn (AFP)Dượng rể của nhà lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un cho hay nỗi hãi sợ về các cuộc thanh trừng đẫm máu trong nội bộ nhà nước Cộng Sản Bắc Hàn đã khiến ông cùng vợ phải bỏ trốn sang Mỹ gần 20 năm trước đây.


Kim Jong Un gieo rắc nỗi sợ hãi lên ngay cả người thân ruột thịt của mình. (Hình: Getty Images)

Trong cuộc phỏng vấn dành cho hãng thông tấn Yonhap, ông Ri Kang cho hay hai vợ chồng ông đã rất lo sợ về những gì có thể xảy ra cho họ trong trường hợp có cuộc tranh giành quyền lực một khi cha của Kim Jong Un là Kim Jong Il qua đời.

Ông Ri là chồng bà Ko Yong-Suk, em gái của mẹ Kim Jong Un.

“Sau gần hai thập niên sống gần Kim Jong Il, tôi thấy rõ sự tàn bạo của quyền lực,” ông Ri cho biết hôm Thứ Tư. “Tôi nghĩ không nên ở gần thứ quyền lực này.”

Ông Ri và bà Ko từng có nhiệm vụ trông nom Kim Jong Un khi ông ta còn là một thiếu niên và được gửi đi học ở Thụy Sĩ. Họ sau đó quyết định sang Mỹ tị nạn, thay vì trở về Bắc Hàn năm 1998.

Mẹ của Kim Jong Un lúc đó bệnh nặng và được điều trị ở Âu Châu, rồi sau đó qua đời ở Pháp năm 2004.

Kim Jong Il qua đời 13 năm sau khi hai vợ chồng này bỏ trốn và cuộc chuyển giao quyền hành cho Kim Jong Un diễn ra khá suôn sẻ.

Tuy nhiên, những gì xảy ra sau đó đã chứng nghiệm nỗi lo sợ của họ khi Kim Jong Un ra lệnh giết dượng rể khác là Jang Song-Thaek.

Câu chuyện của họ được biết tới sau khi bà Ko đưa đơn kiện ba người Bắc Hàn đào thoát và đang sống ở Seoul, với lý do bôi nhọ danh dự và nói xấu về bà. Ông Ri cho hay hai vợ chồng có một tiệm giặt ủi rất thành công ở Mỹ. (V.Giang)

Vụ Minh Hạnh bị công an hành hung được nêu ra trước Quốc hội Đức

Vụ Minh Hạnh bị công an hành hung được nêu ra trước Quốc hội Đức

 Đặng Hà

Trong phiên họp Quốc hội Liên bang Đức ngày 03.12.2015 vừa qua, một Nghị quyết được đệ trình để thảo luận và biểu quyết thông qua. Nghị quyết này mang tên “Tăng cường việc bảo vệ cho Người Bảo Vệ Nhân Quyền trên toàn thế giới và trong phần thảo luận trước khi biểu quyết nghị sĩ Frank Heinrich (đảng CDU/CSU) đã nêu ra trường hợp cô Đỗ Thị Minh Hạnh trong bài phát biểu của ông. Trong đó ông kể rõ về vụ công an Việt Nam hành hung dã man cô Đỗ Thị Minh Hạnh:

clip_image002

Mới tuần rồi tôi nhận được tin cô Minh Hạnh – với tư cách là thành viên của công đoàn độc lập Lao Động Việt“- đã bị bắt giữ cùng với một đồng nghiệp vì can tội tham gia buổi gặp gỡ và trò chuyện với công nhân của một doanh nghiệp Nam Hàn Lực lượng công an đã giải tán cuộc họp mặt này và bắt giữ cô Minh Hạnh cùng với đồng nghiệp Trương Minh Đức. Họ bị giam giữ đến sáng ngày hôm sau và đã bị công an đánh đập tàn nhẫn. Cô Minh Hạnh với thương tích ở đầu và mắt đã phải vào bệnh viện chữa trị. Cho đến hôm nay cô vẫn còn bị rối loạn thị giác.”

Ai sẽ chôn cộng sản?

Ai sẽ chôn cộng sản?

Lê Văn

11-12-2015

Chưa bao giờ trong suốt ngàn năm lịch sử giữ nước và dựng nước của Dân Tộc Việt, số mạng của một đảng ngoại lai, mại bản đã dựng lên chế độ phá nước một cách toàn diện như đảng cộng sản VN – mà thời “cực thịnh” của nó chính là thời “cực mạc” của Dân Tộc – cuối cùng phải đến hồi giãy chết.

Như là định luật “già phải chết”, nhưng tại sao tuổi thọ của đcsvn đến hôm nay già hơn so với các đcs Nga hay Ðông Âu? Sao nó sống lâu nhỉ? Đó là vì từ chính cái đặc điểm hình thành của nó … vì đảng cộng sản Việt nam là một đảng không phải được dựng lên từ đạo quân chiến thắng của Stalin sau thế chiến thứ II như các đảng cộng sản  ở Đông Âu – mà ngược lại nó có nền móng vững chắc hơn do quá trình hoạt động lâu đời từ thời 1920, đã trãi qua các thời kỳ chống Pháp và ám hại các tổ chức không cộng sản yêu nước khác, phóng tay cướp chánh quyền, máy móc du nhập cuộc cải cách ruộng đất sắt máu của Trung Cộng hồi 1954, vụ Nhân văn Giai phẩm, các vụ Xét lại Chống đảng ở miền Bắc, dùng bạo lực đánh chiếm miền Nam, tập trung cải tạo và tịch thu tài sản của Dân – Quân – Cán – Chính VNCH, đánh tư sản, diệt địa chủ, triệt hạ công thương nghiệp, đuổi Hoa kiều và tổ chức bán bãi vượt biên sau 1975… Một đảng cộng sản đã cướp, đã giết và bị giết hàng triệu người để đạt địa vị thống trị ngày nay!!! 

Không những thế, chế độ cộng sản tại Việt Nam được xây dựng trên một chủ thuyết chánh trị sai lầm, trái với nhân tính, gây thống khổ cho nhân dân Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua, xô đẩy đất nước vào vực thẳm của chiến tranh, áp bức, tàn bạo, lạc hậu và khốn cùng…Và đáng ghê tởm hơn, nó đang biến thái thành một đảng vừa hèn với giặc, vừa ác với dân, một đảng tuy mang danh cộng sản nhưng thực chất là một tập đoàn Mafia tham nhũng lộng hành, nối giáo cho giặc có hệ thống và rất dã man độc ác.

Việc vỡ nợ xảy ra ở Bạc Liêu, Cà Mau, nay 14 bệnh viện ở  Đắk Lắk … chỉ là những khởi đầu cho sự sụp đổ toàn diện của tiến trình tự hủy.

Khi hàng loạt các ban ngành khác từ trung ương đến địa phương lần lượt hết tiền, khi quản lý kinh tế đến điều hành xã hội, từ việc phân phối tiện ích công cộng, trật tự xã hội, đến duy trì an toàn giao thông, phân phối điện nước, thực phẩm … lần hồi tê liệt thì điều gì sẽ đến?

Chưa bao giờ ngày mà chế độ cộng sản sụp đổ lại càng hiển hiện gần hơn và người sẽ chôn chế độ đã được chính chế độ cho biết.

Tại Diễn đàn đối tác phát triển Việt Nam (VDPF) diễn ra sáng ngày 5/12, đồng chủ tọa diễn đàn – Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam, bà Victoria Kwakwa đã băn khoăn đặt câu hỏi với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Việt Nam sẽ lấy nguồn ở đâu ra để tài trợ cho chương trình phát triển đầy tham vọng trong 5 năm tớỉ” (vì hết tiền) ông Thủ tướng khẳng định chính là “nhân dân, là 92 triệu dân trong nuớc và 4 triệu hải ngoại!!!

Nhưng đáng lẽ bà Kwakwa phải hỏi thêm rằng ai là thủ phạm cho sự vỡ nợ, hết tiền nầy và nếu 92/4 triệu dân đều “cười khẩy – lắc đầu” với ông Thủ tướng thì ngày tận của cộng sản đã đến.

Cái chết của csVN chính là sự hồi sinh cho Dân Tộc Việt … nó phải đến thôi!

Buổi Giao Thời

Buổi Giao Thời

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Công lý Đồng Nọc Nạn thời kỳ thực dân vào năm 1928 vẫn là một giấc mơ cho nhiều người Việt Nam vào năm 2015.

Anh Lãng

Mùa Giáng Sinh năm kia, hay năm kìa (gì đó) có người bạn gửi cho cuốn tiểu thuyết The Time in Between của Maria Dueñas. Sách loại bìa mỏng mà ngó giống y chang như cái gối, thấy mà ớn chè đậu. Bỏ thì thương vương thì tội nhưng tôi quyết định liền, với ít nhiều áy náy: “Thôi, dục (bà) nó đi!”

Tui già cỗi và mệt mỏi quá rồi. Cả ngàn trang sách tiếng Anh thì đọc chắc tới tết, hay (dám) tới chết luôn – cho dù tác phẩm được giới thiệu là # 1 international best seller.

Tuần rồi, tôi mới khám phá ra rằng The Time in Between đã được chuyển thành phim. Maria  Dueñas bắt đầu câu chuyện vào tháng 3 năm 1922, khi nhân vật chính còn là một cô bé đang học việc trong một tiệm may, ở Tây Ban Nha.

Những vật dụng được bầy biện để làm cảnh trí trong phim ngó thân thương hết sức: bàn ủi than, máy may Singer, radio Philips. Tôi cũng rất ngạc nhiên, và thích thú, khi nhìn thấy những chiếc Citroën Traction Avant (đen thui lui) chạy lòng vòng trên đường phố của thủ đô Madrid.

Đây chính là loại xe được dùng làm Taxi ở Đà Lạt, vào những năm cuối thập niên 1960. Cái bàn là than cổ lỗ, cái máy may đạp chân cũ kỹ, và cái máy phát thanh mầu cánh gián (bự tổ chảng)  … cũng đều là những đồ vật quen thuộc trong căn nhà nhỏ xíu mà tôi đã sống qua suốt thời ấu thơ – ở Việt Nam.

Thế mới biết là đất nước mình đi sau thiên hạ một khoảng thời gian dài quá. Thảo nào mà đã có thời Việt Nam bị xếp vào nhóm những quốc gia “chậm phát triển.”

Cái “thời thổ tả” này, may quá, đã qua – theo như lời của (nguyên) Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết: “Trong tất cả các thắng lợi, thì thắng lợi về vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế là thắng lợi lớn nhất… Ngày nay, chúng ta ngẩng cao đầu, sánh vai cùng cường quốc.”

Mới đây, Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Nguyễn Thiện Nhân cũng có ý (gần) tương tự khi ông thiết tha ngỏ lời mời “tất cả đồng bào Việt Nam ở nước ngoài nếu trong 40 năm qua chưa có dịp về nước thì nên về… chắc chắn sẽ thấy nó phát triển.”

Hai vị lãnh đạo quốc gia đều không ngoa (lắm). Đôi khi, tôi  cũng cảm thấy “choáng váng” vì những “phát triển” vượt bực ở quê hương xứ sở của mình.

Những chiếc Traction Avant, La Dalat, Kamaz, Uaz … chắc đã biến khỏi Việt Nam tự lâu rồi. Đất nước hôm nay có những thiếu gia lái Lamborghini Aventador trị giá cả triệu Mỹ Kim, những đại gia khẳng định đẳng cấp bằng cách đi phản lực cơ Beechcraft King Air 350, nằm giường Royal Bed đắt nhất thế giới,  hay nuôi chó Ngao Tây Tạng giá cỡ triệu đô.

Chợ Tôn Đản, chợ Vân Hồ – tất nhiên – cũng đều đã đi vào lịch sử. Qúi mệnh phụ phu nhân giờ đây đều xách ví da hiệu Louis Vuitton, và “đi mua rau sạch ở Thiên Đường Xanh; đồ Tây ở cửa sau khách sạn Sofitel ; bánhngọt ở L’Indochine ; bánh bao hiệu Tâm Tâm, bánh mì ở Hilton cạnh Nhà hátlớn ; đường, dấm, muối, xì dầu và gạo Thái Lan ở Westside, ốc lại lên tận Tây Hồ, còn đồ khô đến chợ Hàng Bè…”

Photo by Paula Bronstein /Getty Images

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng còn khẳng định rằng: “Gần 2 thập kỷ qua, Việt Nam đã kiên trì, nhất quán chính sách tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc phát triển Internet. Cho đến cuối năm 2014, Việt Nam có gần 45 triệu người sử dụng Internet, đạt tỷ lệ trên 49% dân số, cao hơn mức trung bình của thế giới (40,4%) và cao hơn nhiều mức trung bình của khu vực châu Á – Thái Bình Dương (32,4%)”.

Rõ ràng là VN đã áp dụng thành công chiến thuật (“đi tắt đón đầu”) nên đã vượt xa “hơn mức trung bình của thế giới, và cao hơn nhiều nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”  về rất nhiều mặt, chớ không riêng chi internet.

Chỉ có cái “mặt tử tế” thì lại ở dưới mức trung bình xa quá. Theo The Good Country Index, VN đứng hạng áp chót (124/125) theo “chỉ số tử tế” của những quốc gia được khảo sát.

Blogger Nguyễn Tuấn còn cho biết thêm rằng VN đang đứng cùng hạng với đám đầu trâu mặt ngựa:

“Bảng xếp hạng gọi là ‘Good Country Index’ (GCI) cho thấy VN đội sổ trong số các nước tử tế trên thế giới. Bảng xếp hạng này cho thấy VN đứng hạng 103 (trong số 124 nước) về đóng góp cho hoà bình và an ninh thế giới. Còn về đóng góp vào các quĩ từ thiện và cung cấp nơi nương tựa cho người tị nạn thì VN đứng hạng 123, tức áp chót! Tính chung, thứ hạng về tử tế của Việt Nam trên thế giới đứng hạng áp chót (124/125). Điều đáng nói hay cũng có thể xem là nhục là thứ hạng tử tế của VN chỉ đứng chung bảng với mấy nước ‘đầu trâu mặt ngựa’ như Lybia, Iraq, Zimbabwe, Yemen!”

Té ra những chiếc siêu xe bạc triệu, những chiếc ví da hàng hiệu bạc ngàn, cùng những toà cao ốc hay cửa hàng sang trọng (nơi mà bát phở và ly cà phê giá vài chục đô la) chỉ tạo ra được một giai cấp mới (giai cấp đại gia hay tư bản đỏ) chứ không nâng được “vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế” và cũng không giúp “chúng ta ngẩng cao đầu, sánh vai cùng cường quốc” – như ông Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Thiện Nhân kỳ vọng.

Ảnh: ttxva.net

Đất nước – xem chừng – không chịu đi chung hướng, và cũng không  chịu chia sẻ những tiêu chí nhân văn phổ quát, với đa phần nhân loại. Về nhiều lãnh vực, VN còn có xu thế đi lùi – theo nhận xét và phân tích của blogger Anh Lãng:

“Tòa Đại hình Cần Thơ xét xử vụ án Nọc Nạn ngày 17 tháng 8 năm 1928. Chánh án là De Rozario, công tố viên là Moreau, Hội thẩm là ông Sự. Các luật sư biện hộ (miễn phí) cho gia đình Biện Toại là người Pháp, Tricon và Zévaco. Bản án được tuyên bởi một chánh án người Pháp, một công tố viên luận tội người Pháp và những luật sư biện hộ cho các bị cáo cũng là người Pháp, cho một vụ án mà hành vi chống người thi hành công vụ là rất rõ ràng (10 người trong gia đình Biện Toại, trang bị dao và mác nhọn chia làm hai tốp lao đến đoàn cưỡng chế) và gây ra cái chết của một cảnh sát Pháp…

Tòa Đại hình Cần Thơ tuyên Biện Toại, Nguyễn Thị Liễu (em út Toại) và Tia (con trai Toại) được tha bổng. Cô Nguyễn Thị Trong, sáu tháng tù (đã bị tạm giam đủ sáu tháng) tha ngay tại tòa. Miều (chồng Liễu), hai năm tù vì tiền án ăn trộm.

Đó chính là công lý thời kỳ thực dân, thời kỳ mà ngày nay lịch sử được viết bởi bên thắng cuộc, luôn giành cho nó những ngôn từ đen tối nhất. Thế nhưng hãy nhìn bản án tuyên cho ông Đoàn Văn Vươn, cho cậu thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn, và tự đặt ra câu hỏi, vào năm 2015, ở thế kỷ 21, người dân Việt Nam đang thực sự được hưởng nền pháp lý kiểu gì?”

Theo cách nói, hơi nặng nề, của Tiến Sĩ Nguyễn Tuấn thì đây là “nền pháp lý” của bọn đâu trâu mặt ngựa.” Là một phụ nữ nên luật sư Ngô Bá Thành ăn nói nhẹ nhàng hơn: “Ở Việt Nam ta đã có cả một rừng luật nhưng khi xét xử lại dùng luật rừng!”

Có lẽ rừng rú nhất là vụ án Hội Đồng Công Luật Công Án Bia Sơn.” Trong quá trình điều tra, Thiếu Tướng Phạm Văn Hoá (giám đốc công an tỉnh Phú Yên) cho biết: “Họ không kêu oan gì cả, họ thừa nhận cả. Hỏi có yêu cầu luật sư không nhưng người ta không yêu cầu bởi vì người ta biết rõ tội rồi bây giờ chỉ cần khoan hồng cần giảm nhẹ thôi.”

Sau khi “khoan hồng giảm nhẹ,” ngày 4 tháng 2 năm 2013, TAND tỉnh Phú Yên đã tuyên phạt 22 bị cáo với mức án tổng cộng 295 năm tù. Riêng ông Phan Văn Thu bị tòa tuyên phạt án chung thân.

Hơn hai năm sau, vào ngày 30 tháng 11 năm 2015, trên trang Dân Luận, xuất hiện “Thư Kêu Cứu” của thân nhân những người tù trong vụ án này. Xin trích dẫn đôi đoạn để rộng đường dư luận:

Kính gửi:

– Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc

– Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế

– Các tổ chức Nhân quyền Quốc tế

– Bộ ngoại giao Hoa Kỳ

– Đại sứ quán các nước tại Việt Nam

– Các hãng thông tấn, truyền thông trong nước và Quốc tế …

Thưa quý cấp! Chúng tôi là thân nhân của 22 tù nhân đang chịu mức án nặng nề trong vụ án “Ân Đàn Đại Đạo” làm đơn Giám đốc thẩm với sự khẩn thiết, mong muốn các cơ quan có thẩm quyền điều tra, xem xét lại vụ án vì có quá nhiều dấu hiệu oan sai như tôi đã nêu cụ thể trong Đơn Giám đốc thẩm ngày 10/10/2015 (một số báo, đài đã đăng thông tin về nội dung đơn Giám đốc thẩm này).

Đó là việc Tòa án Nhân dân tỉnh Phú Yên đã trọng cung, không trọng chứng. Trước tòa, ông Phan Văn Thu cùng 21 người đều phủ nhận việc Ân Đàn Đại Đạo có Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Quốc khánh…

Tòa cũng đã không đưa ra được bằng chứng để chứng minh cho cáo buộc này. Tuy nhiên, Tòa án đã vẫn giữ nguyên những kết luận trên trong bản tuyên án để buộc chồng tôi và các đệ tử của ông tội “âm mưu lật đổ chính quyền Nhân dân”…

Cũng như vô số những đơn thư kêu cứu trong thời gian gần đây, bức thư thượng dẫn không hề gửi đến bất cứ một cơ quan hay giới chức thẩm quyền nào ở Việt Nam. Trước hiện tượng này, ông Phạm Đỉnh –  chủ nhiệm trang Thông Luậnđã có nhận định rằng “… đây chính là điều bi đát trong hoàn cảnh đất nước hiện nay: người dân oan ức không còn biết cầu mong ở ai khi mà chính nhà cầm quyền là kẻ cướp!”

Gia đình ông Đoàn Văn Vươn cũng như gia đình em Nguyễn Mai Trung Tuấn (rất có thể) sẽ không bị vướng vào vòng lao lý, nếu đất đai và tài sản của họ không có giá trị gì nhiều về nguồn lợi kinh tế. Tương tự, hai mươi hai tín đồ của giáo phái Ân Đàn Đại Đạo – chắc chắn – cũng sẽ không phải lãnh đến mức án hai trăm chín mươi lăm năm tù, nếu Khu Du Lịch Sinh Thái Đá Bia trông bớt phần hấp dẫn và không gợi lòng tham của những quan chức địa phương.

Một góc Khu du lịch sinh thái Đá Bia. Ảnh: báo Công An TPHCM.

Những vụ cướp bóc liên tiếp và trắng trợn như trên chỉ có thể xẩy ra vào buổi giao thời, thời điểm cáo chung của một chế độ khi đã đi đến tận cùng mức bất nhân và bạo ngược của nó.