Skip to content

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)

  • TRANG CHỦ
  • TIN & LUẬN
  • LỜI CHỨNG
  • VIDEO
  • TỦ SÁCH
  • TÌM HIỂU ĐỨC TIN CÔNG GIÁO
    • GIÁO LÝ DỰ TÒNG
    • VỀ NGUỒN KINH THÁNH
    • GIÁO LÝ CÔNG GIÁO
    • GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI
  • GIẢI TRÍ
  • CHỦ TRƯƠNG
  • LIÊN LẠC

Category: TIN TỨC

Tin Tức – Thế Giới , Việt Nam, Tin Hoa Kỳ

Posted on 12/23/2015

Quà tặng Giáng Sinh 2014

“The Gift of the Magi” là câu chuyện Giáng Sinh của năm 1906. Bây giờ đã là thế kỷ thứ 21 và chúng ta có thêm một câu chuyện về quà tặng Giáng Sinh vào năm nay, 2014. Chuyện quà Giáng Sinh của năm 1906 xảy ra tại thành phố hoa lệ New York nhưng chuyện năm 2014 lại xảy ra tại Kansas City, thành phố lớn nhất tiểu bang Missouri.    

Kansas City có diện tích 820  km² bao gồm các quận Jackson, Clay, Cass và Platte với dân số ước tính khoảng trên hai triệu người. Tại đây, trong suốt hơn 10 năm qua, cứ vào dịp Giáng Sinh một  thương gia ẩn danh dành ra một trăm ngàn đô la tiền mặt, toàn là giấy 100, để tặng cho người nghèo trong thành phố. Người ta gọi ông là “Ông Già Noel Bí Mật” (Secret Santa).

Một cư dân Kansas City tên Jen Behrend cho biết: “Ông Già Noel Bí Mật” của Kansas  đã có năm ông ấy đến trạm xăng QuikTrip và trả tiền xăng cho mọi xe đến đây hoặc khiến mọi người tại trạm xăng phải ngạc nhiên khi tặng mỗi người tờ 100 đô-la. Ông ấy dấu tên nhưng tôi hy vọng ông ấy biết là những người sống ở Kansas City đều ái mộ ông vì tấm lòng hảo tâm”.

Năm 2014 “Ông Già Noel Bí Mật” đã thay đổi cách tặng quà. Thay vì tự tay phát những tờ 100 đô-la, ông nhờ Cảnh sát quận Jackson làm việc đó. Nhiệm vụ của họ là chạy trên xa lộ, tìm những xe xấu xí nhất như bị móp méo, sơn xe bị trầy sướt hoặc kính bị nứt bể…

http://3.bp.blogspot.com/-_Zf-0pK8Ccc/VJ_nTAuPNZI/AAAAAAAAKI8/11UwVrmNQC4/s1600/217+4.jpg

Cảnh sát chặn những chiếc xe này lại không phải vì vi phạm luật giao thông. Thay vào đó, cảnh sát mở đầu với lời chúc “Merry Chirstmas” và tặng chủ xe mỗi người một tờ 100 đô-la làm quà Giáng Sinh.

http://3.bp.blogspot.com/-90xm6rddv30/VJ_nvSknK7I/AAAAAAAAKJE/eKbwkqD6G-A/s1600/217+5.jpg

Nhà từ thiện dấu tên & dấu mặt hội ý với cảnh sát

… Và phân phát cho cảnh sát mỗi người 10 tờ giấy 100 đô-la để thay mặt ông tặng quà cho những người nghèo:

http://2.bp.blogspot.com/-E0g4KQIt1wo/VJ_oEdSFVpI/AAAAAAAAKJM/zmzU_MlEEos/s1600/217+6.jpg

Phản ứng đầu tiên của những người bị cảnh sát chặn xe trên xa lộ là sự lo lắng. Họ lo sốt vó vì đã nghèo mà lại gặp eo.

http://1.bp.blogspot.com/-hLojjDe0mKU/VJ_oYYCDkbI/AAAAAAAAKJU/Ha-eQ9f8Y4g/s1600/217+7.jpg

Nhưng không, sự lo lắng biến mất khi cảnh sát chúc họ “Merry Christmas” và chìa ra món quà 100 đô-la.

http://4.bp.blogspot.com/-iS6CPKR7KNU/VJ_owIXfUpI/AAAAAAAAKJc/Bc-1XBP4pew/s1600/217+8.jpg

Và niềm vui vỡ òa khi một món quà Giáng Sinh… từ trên trời rơi xuống.

http://3.bp.blogspot.com/-8dJIxCSHhlc/VJ_pORTbkNI/AAAAAAAAKJo/7WxCoDiCOgA/s1600/217+9.jpg

Cảnh sát còn hào phóng tặng 200 đô-la nếu trên xe có hai người. Thế là niềm vui được nhân đôi.

http://2.bp.blogspot.com/-W4M5hGh5R6I/VJ_pgMvj0dI/AAAAAAAAKJw/7xl9Az-0Up4/s1600/217+10.jpg

Ngoài việc tặng quà Giáng sinh cho những người lái xe “cà tàng” trên xa lộ, “Ông Già Noel Bí Mật”còn nhờ cảnh sát vào siêu thị tặng những tờ 100 đô-la cho các bà nội trợ, những kẻ vô gia cư trong dịp mua sắm cuối năm.

http://1.bp.blogspot.com/-veA7H7u2d34/VJ_p-ifkyJI/AAAAAAAAKJ4/rzyOLef2Ijo/s1600/217+11.jpg

Ở Việt Nam cũng có những nhà từ thiện sẵn sàng phân phát tiền cho người nghèo. Nhưng  chắc chắn họ không bao giờ nhờ cảnh sát giao thông đi phân phát hộ theo kiểu Mỹ… Làm như vậy chẳng khác nào “giao trứng cho ác”!

Bạn không tin vào câu chuyện quà Giáng sinh này? Bản tin đã được đài CBS đưa vào phần tin tức ngày 12/12/2014:

http://2.bp.blogspot.com/-C2Oz13DGjnw/VJ_qXftG8VI/AAAAAAAAKKA/Ghpc2KQ8z7s/s1600/217+12.jpg

Đã có gần 50 triệu lượt người trên thế giới vào xem clip. Bạn cũng có thể vào xem tại:

https://www.facebook.com/video.php?v=10153003404704073&set=vb.340093714072&type=2&theatersas***

Chú thích:

[*] O’Henry (1862 – 1910) là nhà văn nổi tiếng người Mỹ, tên thật là William Sydney Porter. Truyện ngắn của ông nổi tiếng là dí dỏm, dễ hiểu, giàu tình cảm và luôn có những cái kết bất ngờ một cách khéo léo.

Năm 1894, ông thành lập tờ tuần san hài hước “The Rolling Stone” và làm chủ bút. Tờ báo này không mấy thành công nên chết yểu sau một năm. Ông cũng làm phóng viên cho báo khác và thỉnh thoảng đóng góp vẽ hí họa.

Cuộc đời của O. Henry chỉ gặp toàn chuyện trắc trở. Ông qua đời trong nghèo khổ tại thành phố New York ngày 5/6/1910 vì bệnh lao phổi cộng thêm chứng xơ gan. Năm 1919, Hội Nghệ thuật và Khoa học (Society of Arts and Sciences) thiết lập “Giải thưởng Tưởng niệm O. Henry” (O. Henry Memorial Awards), hàng năm trao cho những truyện ngắn xuất sắc.

Tại Việt Nam đã có nhiều bản dịch một số truyện ngắn của O. Henry. Truyện ngắn “The Gift of the Magi” (Quà Giáng Sinh) và  “The Last Leaf” (Chiếc lá cuối cùng) đã được đưa vào chương trình quốc văn trước năm 1975.

Đọc truyện ngắn của O. Henry bằng tiếng Việt trên Việt Nam Thư Quán:

http://vnthuquan.net/truyen/tacpham.aspx?tacgiaid=504

http://3.bp.blogspot.com/-ViQoGgK1mFE/VJ_q31Tt7KI/AAAAAAAAKKM/HEukpZ1_Dj4/s1600/William_Sydney_Porter.jpg

O. Henry – William Sydney Porter

 

Posted on 12/23/201512/23/2015

Nhớ Hà nội xưa thuở thiếu thời.

Nhớ Hà nội xưa thuở thiếu thời.

 Bút ký của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Gia đình chúng tôi đã qua định cư tại California được gần 20 năm. Tính ra thì số những năm tháng này cũng tương đương với khỏang thời gian tôi sinh sống trên quê hương đất Bắc là nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Lúc này là vào giữa tháng 10 năm 2014, thì khí hậu ở đây tại bờ biển miền Tây nước Mỹ (West Coast) đã bắt đầu mát dịu, nhiệt độ ban ngày chỉ vào khỏang trên dưới 20 độ C – chứ không còn nóng bức ở mức 35 – 37 độ như hồi tháng trước vào cuối mùa hè nữa. Có thể nói Mùa Thu đang tới trên đất Mỹ đây rồi.

Buổi sáng nay, tôi nhớ lại mấy câu thơ mình đã làm hồi 30 năm trước, lúc bắt đầu bước vào tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh” và đang sinh sống tại Sài gòn. Xin được ghi lại đày đủ bài thơ đó như sau :

Mùa Thu Nhớ Bạn

Mùa Thu chợt đến – lòng man mác

Nhớ Hà nội xưa – thuở thiếu thời

Bạn bè năm ấy – giờ đâu nhỉ?

Kẻ vắng người còn – dạ khó nguôi!

Sài gòn 1983.

Tôi sinh trưởng tại một làng quê trong tỉnh Nam Định cách xa Hà nội chừng trên 100 cây số thôi. Vì thế mà ngay từ trước năm 1945 trong làng đã có nhiều bà con đi làm hay định cư ở ngay tại đất Hà thành hoa lệ này. Khi về thăm viếng bà con trong làng, thì những người này thường hay kể chuyện về cuộc sống văn minh tiến bộ của người dân tại Hà nội. Và bọn trẻ con chúng tôi luôn luôn thích thú kể lại cho nhau nghe những câu chuyện ngộ nghĩnh đó về phong cảnh và con người của cái thành phố ngàn năm văn vật này.

Huynh Luong Thien-Doan Thanh Liem- My Loi

Rồi đến năm 1952 lúc đã bước vào tuổi 18, thì tôi được gia đình gửi ra theo học tại Trường Chu Văn An ở Hà nội. Đã từng trải qua cảnh chiến tranh tàn phá kinh hòang ác liệt ở miền quê, tôi thật chóang ngợp với tình hình an ninh trật tự và sung túc thịnh vượng của thành phố là thủ phủ của miền Bắc Việt nam vào thời gian đó. Và chỉ vài ba tháng sau, là tôi đã có thể thích nghi hòa nhập vào với cuộc sống chung với các bạn đồng trang lứa với mình nơi thành phố xinh đẹp dễ thương, thanh lịch và đày dãy những di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh này. Xin được ghi chi tiết hơn về cuộc sống thời trai trẻ của thế hệ chúng tôi ở Hà nội thời kỳ trước năm 1954.

I – Cái thời vui sống ở Hà nội năm xưa ấy.

Với tính vô tư năng động của tuổi trẻ, lớp bạn học chúng tôi lao mình vào chuyện học tập để bù đắp lại quãng thời gian bị mất trong những năm phải di tản chạy lọan trước đây. Mà thành phố Hà nội lúc nào cũng hào phóng cung ứng cho bọn trẻ chúng tôi những cơ hội giải trí thư giãn thỏai mái – sau những giờ phút phải tập trung suy nghĩ, học tập miệt mài căng thẳng.

Một địa điểm chúng tôi thường lui tới để gặp gỡ nhau và nhìn ngắm phố phường, đó là Hồ Hòan Kiếm ở trung tâm thành phố. Nơi di tích lịch sử với truyền thuyết con rùa mang lưỡi gươm trả về cho nhà vua Lê Lợi (The Lake of the Returned Sword), thì lúc nào cũng tấp nập xe cộ qua lại và người đi bộ vòng quanh ven hồ. Và vào những ngày mùa hè oi bức chúng tôi còn thường rủ nhau đi tắm bơi lội tại khu hồ Quảng Bá Nghi Tàm sát với Hồ Tây.

Gặp ngày trời đẹp, chúng tôi còn rủ nhau dành cả một buổi chiều để đạp xe chạy vòng quanh khu vực Hồ Tây dài đến trên 20 cây số – để hít thở không khí trong lành và thưởng thức những vẻ đẹp nơi đồng quê êm ả thanh bình tại vùng ngọai thành Hà nội. Ở vào tuổi mười tám đôi mươi, chúng tôi thật lòng say mê hồn nhiên vui sống với “cái tuổi thanh xuân thơ mộng ấy”.

Chúng tôi còn rủ nhau đi coi những phim từ Hollywood của Mỹ thật hấp dẫn với những tài tử gạo cội, màu sắc âm thanh tòan hảo. Đặc biệt phim “Gone with the wind” (Cuốn theo chiều gió) với cặp diễn viên Clark Gable – Vivien Leigh trổ tài diễn xuất thật tuyệt vời.

 1 / Mùa thu Hà nội.

Và đặc biệt là cảnh vật nơi đất kinh kỳ vào mùa thu, thì thật đày vẻ quyến rũ – quả thật nó đã gây ấn tượng thật sâu đậm trong tâm hồn nhạy cảm của lớp thanh thiếu niên chúng tôi. Đó là phương diện khách quan của khung cảnh địa lý nhân văn. Còn về mặt tâm lý chủ quan, thì chúng tôi chịu ảnh hưởng nhiều bởi thơ văn và âm nhạc thời tiền chiến – với những bài thơ bất hủ của cụ Nguyễn Khuyến như “Thu ẩm”, “Thu điếu”, Thu vịnh” v.v…, hay các bài nhạc của Đặng Thế Phong như “Giọt Mưa Thu”, “Con Thuyền Không Bến”. Và cả của những bài văn, bài thơ trong kho tàng văn chương của Pháp nữa, điển hình như bài “Chanson d’automne” (Ca khúc Mùa Thu) tuyệt vời của Paul Verlaine. Tôi thật vui thích sảng khóai mỗi khi ngâm nga những câu thơ tuyệt đẹp trong Truyện Kiều của cụ Tiên Điền Nguyễn Du, cụ thể như câu : “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”.

Vì thế, mà các văn nghệ sĩ ấy đã giúp cho chúng tôi biết thưởng ngọan những vẻ đẹp ngây ngất của mùa thu một cách cực kỳ linh động viên mãn. Điều này rõ rệt đã góp phần rất quan trọng để làm tăng thêm phẩm chất trong đời sống tình cảm của thế hệ thanh niên chúng tôi (quality of life) – mặc dầu hồi đó cuộc chiến tranh đang ở vào giai đọan ác liệt ngay tại các miền quê không cách xa Hà nội bao nhiêu.

 2 / Chuyện học hành, thi cử hồi ấy.

 Tại trường Chu Văn An là một cơ sở giáo dục có danh tiếng vào bậc nhất ở miền Bắc từ lâu, thì tôi được sát cánh với nhiều bạn học thật thông minh xuất sắc – nhờ vậy mà mình cũng phải cố gắng để mà theo kịp với chúng bạn. Hồi đó, các sách giáo khoa bằng tiếng Việt vẫn còn thiếu, nên chúng tôi phải học bài trong các sách viết bằng tiếng Pháp với lối trình bày in ấn thật rõ ràng, sáng sủa đẹp mắt. Và nói chung, thì các thầy giáo đều rất tận tâm trong việc sọan bài giảng và hết lòng hướng dẫn cho chúng tôi trong việc học tập để đạt được kết quả tốt trong các kỳ thi kết thúc hai năm cuối bậc Trung học.

Và chừng vài tháng trước kỳ thi văn bằng Tú Tài I vào năm 1953 cũng như Tú Tài II vào năm 1954, chúng tôi thường họp thành từng nhóm 3 – 4 người để cùng học ôn bài chung với nhau. Nhờ vậy, mà trong lớp có đến gần một nửa học sinh trường công lập đều vượt qua được cửa ải kỳ thi Tú Tài I – mà hồi đó được coi là rất gay go hóc búa. Trong khi đó, thì số thí sinh từ các lớp tư thục lại đậu rất ít, có lớp không quá 10% số học sinh thi đậu. Vì số học sinh thi đậu không nhiều, nên danh sách các học sinh trúng tuyển đều được công bố trên các tờ báo ở Hà nội nữa, để bà con tiện bề theo dõi.

 II – Bạn bè năm ấy – giờ đây ai còn, ai mất?

 Có thể nói trong mấy năm sinh sống và học hành tại Hà nội hồi đó, thì tôi có duyên quen biết gắn bó thân thiết được với cả trăm bạn đồng môn, bạn cùng lứa tuổi với mình. Chúng tôi sống gần gũi nhau, học tập sát cánh với nhau – và cùng có chung những mộng đẹp về một tương lai tươi sáng cho bản thân mỗi người, cũng như cho đất nước và dân tộc Việt nam thân yêu của mình.

Thế nhưng do Hiệp định Geneva quy định việc chia cắt phân đôi đất nước, mà anh em chúng tôi lại phải rời xa nhau, kẻ thì di cư vào miền Nam, người thì theo với gia đình ở lại miền Bắc. Cho đến năm 2014 này, thì chúng tôi đã chia tay sống xa cách nhau đúng 60 năm rồi. Xin ghi lại danh tánh các bạn đã ra đi và các bạn mà tôi đã có dịp gặp lại trong thời gian gần đây.

1 / Những người bạn đã vĩnh viễn ra đi.

Ít nhất phải có đến cả chục bạn đã ra đi từ giã cõi đời, mỗi người trong một hòan cảnh khác nhau. Xin liệt kê như sau.

*Trong số các bạn ở lại miền Bắc sau năm 1954, thì gần đây tôi biết rõ các bạn này đã từ giã cõi đời : Các anh Phạm Xuân Nhàn, Đặng Mộng Lân, Đặng Công Tọai.

*Số bạn di cư vào miền Nam và đã mất ở đây : Các anh Đỗ Vinh, Nguyễn Bá Khánh, Nguyễn Hồ Quỳ, Nguyễn Văn Quí, Nguyễn Hữu Đạo.

*Số bạn mất ở California : Các anh Vũ Ngô Luyện, Nguyễn Ngọc Đĩnh, Nguyễn Hữu Tuệ, Nguyễn Duy Hy, Nguyễn Ngọc Phan, Nguyễn Tri Phương, Đoàn Hữu Khánh.‎

 2 / Những người bạn vẫn còn liên lạc được gần đây.

A – Khá nhiều bạn hiện định cư trên đất Mỹ, cụ thể như :

*   Tại California : Các anh Trịnh Đình Cương, Trần Quang Hải, Đỗ Phan Ngọc, Nguyễn Trọng Hiền, Vũ Ngọc Óanh, Nguyễn Ngọc Thụy, Ngô Văn Quang, Trần Văn Điền, Lưu Trung Khảo, Nguyễn Quang Hạ.

  • Tại Texas : Các anh Vũ Tiến Thông, Đặng Văn Đức, Vũ Hữu Bao, Đỗ Huy Hòang.
  • Tại Washington DC : Các anh Hòang Song Liêm, Ngô Đình Thuấn, Bùi Hữu Thư.
  • Tại New Jersey : Anh Chu Văn Hồ.
  • Tại Florida ; Anh Vũ Ngọc Đại

B – Tại Paris Pháp quốc, thì tôi đã gặp lại các bạn : Đỗ Đăng Di, Võ Thế Hào, Bạch Lý Từ, Vũ Dương Tuyền, Phạm Xuân Yêm.

C – Tại Montréal Canada, thì có các bạn : Trần Văn Kim, Đinh Bảo Lĩnh, Bùi Thiệu Tường.

D – Tại Việt Nam, thì ở Hà nội có các bạn : Đỗ Xuân Lôi, Ngô Văn Trọng, Nguyễn Phúc Giác Hải.

* Ở Sài gòn, thì có Phạm Hòai Đức, Lê Đức Cửu và đặc biệt có ba anh là Linh mục Công giáo : Hòang Sĩ Quí, Nguyễn Đức Thiệp, Đoàn Phú Xuân.

III – Để tóm lược lại.

 Trên 60 năm đã qua, bao nhiêu chuyện đổi thay với những hệ lụy buồn vui đã xảy ra trên đất nước ta. Mà khủng khiếp nhất là những đau thương tang tóc chồng chất gây ra bởi cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn – khiến làm thiệt mạng đến cả mấy triệu con người – mà tất cả đều là bà con ruột thịt thân yêu của hết thảy chúng ta. Rồi tiếp theo đó lại là một chế độ độc tài đảng trị hủ lậu và khắc nghiệt nhất trong lịch sử trên 4,000 năm của đất nước ta.

Mặc dầu vậy, cái tình cảm thân thương gắn bó giữa các bạn học năm xưa tại Hà nội lúc chúng tôi mới ở vào tuổi mười tám đôi mươi, thì không bao giờ lại có thể bị suy xuyển phai lạt đi được. Vào năm 2014 lúc này, chúng tôi đều đã bước qua tuổi 80 cả rồi và cũng đều đủ từng trải để mà biết an phận vui sống cho đến hết những ngày cuối đời của mình.

*Bài viết ngắn ngủi này nhằm gợi lại chút ít kỷ niệm của thế hệ bọn trai trẻ chúng tôi đã có duyên gặp gỡ, sinh sống và học tập chung với nhau nơi thành phố lịch sử thân yêu hồi những năm đầu của thập niên 1950.

Để kết thúc, ngòai bài thơ “Mùa Thu Nhớ Bạn” đã ghi ở phía trên, tôi xin được gửi thêm đến tất cả các bạn hai câu thơ sau đây nữa :

“Cái tuổi thanh xuân thơ mộng ấy

Hãy còn vang vọng mãi trong ta”.

Và cũng xin được gửi lời thăm hỏi thân ái đến với tất cả các bạn.

Xin được bày tỏ nỗi niềm thương tiếc và quý mến đối với tất cả các bạn đã vĩnh viễn ra đi.

Xin cầu chúc các bạn cùng gia quyến luôn được mọi sự An Lành./

 Thành phố Costa Mesa, California Tháng Mười 2014

Đoàn Thanh Liêm

Posted on 12/23/2015

Những mùa Giáng sinh ở ngôi nhà thờ cổ

 Những mùa Giáng sinh ở ngôi nhà thờ cổ

tuankhanh

RFA

Lại thêm một năm nữa, tiếng chuông đón mừng mùa Giáng sinh ngân vang trên một ngôi nhà thờ nhỏ ở Phố Hiến, Hưng Yên. Không gian cô quạnh khiêm nhường nơi này, lặng lẽ ôm trong lòng nó một ký ức lịch sử độc đáo của người Việt, mà khó nơi nào sánh được.

Nếu dựa trên sự có mặt của ngôi nhà thờ Phố Hiến (1650), có lẽ đây là nhà thờ Công giáo lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam, đến nay đã có trên 300 năm tuổi. Năm 1650, những người Hà Lan đã khởi công xây dựng ngôi nhà thờ này với các chất liệu chủ yếu bằng gỗ, thông qua sự cho phép của chúa Trịnh (Thanh Đô Vương Trịnh Tráng / 1623-1652) để phục vụ cho những người thương buôn ngoại quốc đầu tiên Đàng Ngoài.

Lý do của việc cho phép này, bởi chúa Trịnh lúc đó đang mở rộng thương cảng ở Phố Hiến, cửa ngõ đường sông cách Hà Nội 55 cây số, nhằm đẩy mạnh việc mua bán với thương nhân nước ngoài, cũng như học hỏi các vấn đề về quân sự và vũ khí trong cuộc đối đầu với nhà Nguyễn (lúc đó là Nguyễn Phúc Tần / 1620-1687). Sự có mặt của nhiều người ngoại quốc như Pháp, Anh, Nhật, Ấn Độ, Trung Hoa, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… đặc biệt là người Hà Lan và đạo Công giáo, đã khiến cho chúa Trịnh mở rộng ứng xử, cho phép xây một nhà thờ của tín ngưỡng bên ngoài, ngay tại đường đê, cho các tàu nước ngoài ghé vào làm lễ, trước và sau chuyến đi biển của họ.

Tuy sách vở ghi rằng chúa Trịnh không mặn mà với thương buôn, người nước ngoài như ở Đàng Trong, nhưng thực tế ở Phố Hiến cho thấy thế kỷ 17-18, nơi này đã có một thời kỳ rực rỡ của ngoại giao, xuất khẩu, nhập khẩu. Nhiều đời Chúa Trịnh là người căn cơ Khổng giáo, nhưng chính thức cho phép việc xây dựng một nhà thờ ngoại giáo ở Việt Nam lúc đó, cũng có thể cho thấy một áp lực từ sự lớn mạnh của thương nhân ngoại quốc ở Phố Hiến và đạo Công giáo như thế nào. Chính vì vậy mà người miền Bắc vẫn có câu “Nhất kinh kỳ, nhì Phố Hiến”

Như vậy, từ năm 1651, người Việt đã chứng kiến một lễ Giáng sinh đầu tiên trong lịch sử, dù lúc đó giáo dân chưa phát triển. Nhà thờ Phố Hiến (hay còn gọi là Nam Hoà) này khởi đầu chỉ được dựng bằng các vật liệu đơn giản như gỗ, tre, lá… (có thể khởi đầu còn dè dặt, vì sợ chúa Trịnh cho là phô trương thanh thế ngoại giáo) nhưng sau một vài lần do hoả hoạn, mưa gió… Nên nhà thờ dần dần được mở rộng và kiên cố hơn. Đến năm 1898, một linh mục Bồ Đào Nha đã mang bản vẽ đến, cùng nhân công người Việt xây dựng hoàn chỉnh đến ngày nay. Đây cũng là ngôi nhà thờ hiếm hoi trên đất nước Việt Nam có phong cách Bồ Đào Nha với vẻ đẹp vừa kiêu kỳ, vừa dịu dàng hết sức quyến rũ.

Bên trong nhà thờ lại là một cảnh quan độc đáo khó tả, khi các kiến trúc sư ngoại quốc tác tạo nên một vẻ đẹp hoàn toàn Á Đông. Sự tinh tế từ chất liệu cho đến các chi tiết ráp nối bằng gỗ khiến người xem phải ngẩn ngơ về khả năng của người xưa – mà ngay cả việc xây dựng thời nay cũng khó mà bắt chước được. Tư duy của người đi trước mới đáng kinh ngạc làm sao. Đến năm 1898 thì giáo dân người Việt và người nước ngoài đã có số lượng khá tương đồng, nên các ghi chú trong và ngoài nhà thờ đã có tiếng Latin lẫn chữ Nho.

Cho đến trước năm 1954, nhà thờ Phố Hiến đã là một nơi quen thuộc của người Công giáo Hưng Yên. Tuy nhiên, khi hiệp định đình chiến Genève 1954 được ký kết, nhiều gia đình Công giáo đã vào Nam chọn một cuộc sống khác, khiến không chỉ Hưng Yên mà toàn miền Bắc trở nên thưa vắng người của nhà thờ. Từ chỗ có hơn 1300 giáo dân, hôm nay, nhà Thờ Phố Hiến chỉ có lại được 187 giáo dân, sau rất nhiều năm vận động (60 năm), nhiều năm đón Giáng sinh lạnh lẽo và hiu quạnh.

Đó là một giai đoạn đầy biến động. Miền Nam đột nhiên đón Giáng Sinh ngày càng lớn do hàng trăm ngàn người Công giáo xuất hiện, mang theo nhiều lễ hội ăn mừng, treo đèn kết hoa… khiến các mùa Giáng sinh ở miền Nam ngày càng nhộn nhịp hơn, thậm chí biến thành ngày vui của cả Lương giáo. Ngược lại, do số giáo dân, linh mục… giảm thiểu mạnh, nên sinh hoạt của các nhà thờ miền Bắc cũng co lại. Theo các tài liệu của các nhà nghiên cứu Ba Lan thì lúc đó, Công giáo miền Bắc mất đi khoảng hơn 450.000 giáo dân và 375 giáo sĩ. Người theo đạo chỉ còn chiếm 2% ở miền Bắc, còn ở miền Nam thì tăng vọt, chiếm đến hơn 9%.

Những năm dài chiến tranh và khó khăn trong việc lo cái ăn, việc sinh hoạt tinh thần với nhà thờ cũng bị ảnh hưởng. Đặc biệt với những giai đoạn mà Công giáo bị chính quyền Cộng sản nghi kỵ, bị kỳ thị là thành phần không đáng tin cậy.

Sinh hoạt Nhà thờ Phố Hiến cũng như nhiều nhà thờ ở miền Bắc yếu đi. Qua các tác phẩm của giới văn bút thân chính quyền trong thời gian này, thành phần Công giáo vẫn bị nhìn với sự gán đặt là thành phần phản động, đáng ghét – tương tự như cách nền thông tin tuyên truyền sau năm 1975 vẫn nguỵ tạo ra hình ảnh tệ hại của các quân nhân VNCH hoặc giới tư sản ở miền Nam Việt Nam.

Vào thập niên 60, có những năm chỉ có một linh mục trong tỉnh, tổ chức sinh hoạt cho cả 16 giáo xứ, thì chính Nhà thờ Phố Hiến cũng không còn đủ sức làm nên những mùa Giáng sinh đẹp như ý muốn. Bên cạnh đó, do dư phòng ốc, lại thiếu cộng đoàn nên khuôn viên nhà thờ, kể cả nơi làm lễ cũng có rất nhiều gia đình kéo nhau vào ở, mang theo cả thỏ, gà… cùng với nơi ở của mình. Tình trạng liên tục thất thoát các cổ vật của ngôi nhà thờ độc đáo này, mục nát các sàn gỗ xưa… khiến không ít người yêu mến lịch sử của Phố Hiến, của Hưng Yên đau lòng, mà không biết làm sao để thay đổi. Những mùa Giáng sinh ở đây, đã từng khe khẽ, từng nhẫn nại để cùng chung sống hoà bình với gần 15 gia đình chia nhau sống khắp ở nhà thờ.

Cho tới hôm nay thì mọi thứ dần dần đã khá hơn. Nhà thờ đang cố gắng gìn giữ những gì còn lại, vì đó không phải là của riêng một giáo xứ, mà vì đó là dấu ấn của một thời đại có một không hai, đầy ngẫu hứng cho các thế hệ sau tìm về. Nhiều gia đình ở trong nhà thờ đã nhận được tiền để tìm chỗ ở mới. Cho đến nay thì chỉ còn một gia đình bộ đội và thường dân còn ở trong khuôn viên nhà thờ. Những giáo dân ít ỏi bắt đầu cùng nhau lau quét và sơn lại ngôi nhà chung đã hơn 3 thế kỷ.

Mùa Giáng sinh năm nay, nhà thờ lại chuẩn bị đón một đêm thánh với những gì đơn sơ nhất của mình có, giữa cái lạnh làm ai ai cũng nao nao, háo hức. Với 187 giáo dân của mình, nhà thờ Phố Hiến là nơi vô cùng giàu có về ký ức, nhưng đầy khó khăn vật chất. Thậm chí tiền lắc giỏ hàng tuần (quyên tiền cho nhà thờ) cũng không đủ trả tiền điện trong tháng

Trong hàng ghế của nhà thờ, có một cụ già im lặng nhìn những thanh niên đang trang trí. Mắt cụ ngời sáng, thăm thẳm những điều không nói hết về một lẽ sống mà ông đã chọn khi đã 83 năm không rời nơi chốn này để đón các mùa Giáng sinh, bất chấp khi đó tối om, bất chấp chỉ có một ngọn nến con hay được trang hoàng tươm tất như hôm nay. Khi hỏi vì sao cụ Dương Hồng Đức, tên đủ của cụ, không theo người chị gái ta đi vào năm 1954, cụ nhìn và nói trong một ánh mắt kiêu hãnh “tôi thấy nhà thờ quạnh quẽ quá, tôi muốn lại. Vì tôi tin Chúa ở khắp mọi nơi”.

Khi hỏi cụ rằng ở lại có gặp nhiều khó khăn không. Cụ Đức run run nói, nhưng cao giọng hơn trong niềm kiêu hãnh ẩn giấu “vâng, tôi biết, và tôi cũng đã sống với rất nhiều điều khó khăn nhưng tôi tin rằng tôi sẽ vượt qua, vì tôi yêu thương”.

“Khó khăn” – nghe chừng như đơn giản qua lời cụ Đức. Nhưng với lịch sử ghi lại bằng tài liệu của cả hai bên, cho thấy mọi thứ đã là máu và nước mắt. Từ năm 1955, lễ Giáng Sinh ở miền Bắc đã bắt đầu co cụm, và khó khăn bởi chính quyền Việt Minh bắt đầu lo ngại về số người ra đi nên tìm cách ngăn cản. Từ tháng 11/1954 đến tháng 1/1955, ở riêng tỉnh Thanh Hoá và Hà Nam đã có gần 50.000 người muốn ra đi nhưng bị lính Việt Minh nổ súng ngăn lại và giải tán. Những năm 60, người Công giáo ở miền Bắc bị coi là công dân hạng hai. Đặc biệt với khu Bùi Chu – Phát Diệm, nơi có hơn 50% giáo dân ra đi, nhà thờ và linh mục có thể bị chụp mũ là gián điệp.

Quá khứ của Phố Hiến ngồn ngộn những câu chuyện truyền kỳ. Từ những chiếc thuyền thương buôn cho đến số phận những con người vô danh đi qua nghịch cảnh, khiến cho tiếng chuông cổ của nhà thờ ngân nga bài hát về nhân thế hôm nay, lại khôn cùng hơn.

Có thể đêm Giáng sinh ở Hà Nội hay Sài Gòn tràn ngập người đi, tràn ngập ánh đèn… nhưng ở ngôi nhà thờ xưa như cổ tích Việt Nam này, tiếng chuông nho nhỏ, dăm ba ánh đèn nhấp nháy và lòng người đầy thương vọng của người giáo dân già, Giáng sinh lại một lần nữa bừng lên ý nghĩa về một mùa lễ không còn là của riêng nhà thờ, của người có đạo hay của riêng bất cứ ai, mà đó là mùa để nhắc về tình yêu và lòng thương khó trên khắp nhân gian, trên đất nước Việt Nam, đã qua muôn trùng khốn khó này.

Posted on 12/23/2015

Một kiểu cầm quyền không giống ai

Một kiểu cầm quyền không giống ai

  • VOA

Chẳng nước nào có cái kiểu cầm quyền kỳ quặc, độc đáo như ở Việt Nam.

Nhiệm vụ đầu tiên của mọi chính quyền chân chính là bảo vệ công dân nước mình đặc biệt là phụ nữ, trẻ em, người già, khỏi những bất công, bệnh tật, tai ương, khỏi những hành động phi pháp. Vậy mà hàng ngày, khắp nơi xảy ra bao chuyện bất công nhưng chính quyền CS vẫn vô cảm, còn đứng về phía đàn áp, hiếp đáp dân lành.

Hằng ngày biết bao vụ xử án xảy ra, tại đó Bộ Chính trị và đảng ủy CS các cấp đã quyết định mức án trước, được xã hội gọi là «bản án tiền chế», không có luật sư, hay có luật sư cũng bằng không vì bị cắt lời, các lý lẽ không được cân nhắc, xem xét. Các luật sư bị công an và ác ôn đánh cho đổ máu chỉ vì bênh vực dân theo đúng luật.

Có nước nào như ở Việt Nam các chiến sỹ dũng cảm, yêu nước xuống đường chống bành trướng, theo đúng chính sách công khai của đảng lại bị ngăn chặn, phá phách, bắt bớ, đánh đập đến bị trọng thuơng, bị tù đày dài dài? Có nước nào hai nhạc sỹ sáng tác bài hát chống xâm lăng, cổ vũ lòng yêu nước bất khuất, lẽ công bằng trong cuộc sống, mà bị tù đến hơn 4 và 6 năm? Chính quyền yếu bóng vía sợ cả những câu hát dân gian lên án bọn bành trướng.

Hai lĩnh vực quan trọng nhất có ý nghĩa đối với vận mệnh quốc gia, phát triển đất nước phồn vinh là lĩnh vực giáo dục và y tế lại bê bối, chậm tiến và bệ rạc đến cùng cực. Ở đó lúc nhúc những giáo sư, phó giáo sư «dỏm», những «tiến sỹ giả» làm nòng cốt, một bộ trưởng giáo dục bất tài, mất gốc đến độ muốn cắt giảm, lược bỏ môn Sử học là môn quyết định nhân cách của công dân. Một nền y tế tồi bại, lẽ ra phải chiếu cố người nghèo bất hạnh, chữa miễn phí cho những bệnh hiểm nghèo như ở mọi nước văn minh, thì trái lại người nghèo, người mắc bệnh nan y lâm vào bế tắc, phải nằm chung 2 người một giường, nhiều khi còn phải trải chiếu nằm dưới gầm giường trong cơn cùng cực.

Trong khi chính quyền mọi nước coi việc thu chi ngân sách là trọng yếu nhất, là huyết mạch quốc gia, thì ở Việt Nam việc thu chi của nhà nước luôn mù mờ, không minh bạch, rò rỉ lớn ở mọi cấp, vì cơ quan thu thuế, hải quan, tài chính, ngân hàng, thanh tra, kiểm sát đều trong tay «đảng cầm quyền» – thực tế là «đảng cầm tiền» – tha hồ chi tiêu, tàn phá nền tài chính đến tận gốc. Ở mọi cấp các cơ quan tài chính kế toán đều có 3,4 loại sổ sách kế toán khác hẳn nhau tuy cùng một nội dung, thu gốc đã bị xà xẻo, rồi báo cáo lên cấp trên một bản kế toán ma thứ nhất, lên quận cấu véo thêm một khoản lớn, làm bản kế toán ma thứ hai, thứ ba, rồi lên tỉnh, lên Bộ Tài chính lại có bản kế toán khác hẳn, ra đến Quốc hội chỉ là con số ma, con số chết. Đã vậy một nền tài chính tong teo lại bị chi tiêu ngông ngênh, bỏ ra hàng nghìn tỷ xây trụ sở tỉnh và tượng đài kỷ niệm; phí tổn xây cầu đường lên đến hàng tỷ mỗi mét; số xe các quan lớn dùng lên đến 40 ngàn chiếc, lương lái xe và chi phí xăng dầu bảo quản hàng năm lên đến hàng tỷ đô la, trong khi trường học nhếch nhác, học sinh đói khổ vượt sông đến trường bằng cách đu dây, lương giáo viên trả chậm đến 3, 4 tháng.

Chính quyền kêu gọi đến khản cổ công nghiệp hóa, kỹ thuật hóa, hiện đại hóa… nhưng thực tế đến nay không làm nổi một chiếc đinh vít tiên tiến để dùng trong xây dựng cầu cống, nhà cửa, cao ốc, nhà máy.

Một bài báo của một cô nhà báo có tâm huyết nhận định rất đúng rằng «Nhà nước này còn nợ nhân dân, dân tộc bài tóan phát triển hiện đại, để Việt Nam không hổ thẹn với láng giềng gần xa, đi trên con đường phồn vinh và hạnh phúc».

Chính quyền hiện tại còn vô cảm, vô trách nhiệm trong việc thực hiện biên chế nhà nước gọn, nhẹ, có năng suất cao, dù luôn «kêu gọi giảm biên chế nhưng sau đó luôn luôn là tăng ghế nhà ăn» đến độ phi lý nhất. Hơn 10 năm trước Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã báo động là biên chế phình quá lớn đến độ dị dạng, riêng số viên chức ăn lương một tỉnh như Thanh Hóa đã bằng biên chế của toàn bộ Phủ Toàn quyền Đông Dương cai trị cả 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia năm 1944.

Báo Đất Việt ngày 13/12 đã báo động là Hoa Kỳ, một nước có diện tích rộng gần gấp 30 lần và dân số đông gần gấp 4 lần so với Việt Nam, vậy mà Hoa Kỳ chỉ có 2,1 triệu viên chức ăn lương (chưa kể quân đội), trong khi đó ở Việt Nam hiện nay có số viên chức ăn lương là 2,8 triệu. Hoa Kỳ có bộ máy cầm quyền thực sự tinh nhạy, trong sạch, có hiệu quả. Nếu Việt Nam cũng đào tạo được những viên chức thành thạo công việc và có tinh thần trách nhiệm như ở Hoa Kỳ, thì Việt Nam chỉ cần có gần 1 triệu viên chức là đủ, có thể giảm biên nhà nước đến 2 triệu người.

Vấn đề quản lý ngân sách, chi thu tài chính công khai, minh bạch ở mọi cấp lẽ ra phải là một trong những nội dung lớn nhất trong dự thảo Nghị quyết của Đại Hội XII sắp đến, nhưng nó bị chìm nghỉm, không thấy tăm hơi đâu cả.

Cầm quyền mà bỏ qua các vấn đề hệ trọng quyết định là tài chính, ngân sách, biên chế, chi cho giáo dục, y tế là ưu tiên, đào tạo công nhân kỹ thuật viên chức theo kịp chuẩn mực quốc tế…thì rõ ràng là không cầm quyền, là bỏ mặc đất nước nổi trôi vô vọng, với biết bao bất công, phi lý xảy ra hàng ngày, khắp nơi, đè nặng lên cuộc sống của mỗi công dân, mỗi gia đình trong xã hội bất hạnh chưa tìm ra lối thoát.

Nguyên nhân cơ bản của tình trạng đảng CS «không cầm quyền», bỏ mặc cho chính quyền bê tha, như tê liệt, chính là do viên chức càng trên cao càng mê mải «cầm tiền» quá nhiều trong một xã hội bất công, quá ư lạc hậu.

Posted on 12/23/201512/23/2015

25-12-1991, ngày cuối cùng của chế độ CS Liên Xô

 25-12-1991, ngày cuối cùng của chế độ CS Liên Xô

Trần Trung Đạo

clip_image001

“Merry Christmas !” Một viên chức trong đoàn tùy tùng của Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev chào Ted Koppel và nhóm phóng viên của hệ thống ABC đang đứng chờ trước bậc thềm điện Kremlin. Ted Koppel chào lại nhưng anh chàng Rick Kaplan, phụ tá của Ted Koppel phản đối  “Với tôi anh phải chúc là Happy Hanukkah mới phải”. Rick Kaplan nói thế chỉ vì anh ta gốc Do Thái. Viên chức Liên Xô không hiểu Hanukkah nghĩa là gì và tưởng là Honecker nên hỏi ngược “Tại sao tôi phải chào Happy Honecker chứ nhỉ?”

Thật ra, thắc mắc của viên chức Liên Xô không phải là không có lý do. Ngày 25 tháng 12 không chỉ là ngày cuối cùng của hệ thống CS Liên Xô mà có thể cũng là ngày cuối của Erich Honecker nữa. Tên lãnh tụ CS Đông Đức này bị truy tố tại Đức và được Gorbachev cho phép tỵ nạn chính trị tại Liên Xô. Erich Honecker sợ bị Boris Yeltsin tống cổ về Đức nên hôm qua đã chạy sang tòa đại sứ Chile ở Moscow xin tỵ nạn. Báo chí loan tin sáng hôm đó Erich Honecker vừa xin tỵ nạn chính trị lần nữa nên viên chức trong đoàn tùy tùng Gorbachev liên tưởng đến y khi nghe “Happy Hanukkah”.

Ngày 25 tháng 12 là ngày nhiều tỉ tín đồ Thiên Chúa Giáo trên thế giới kỷ niệm ngày Chúa Cứu Thế giáng trần nhưng tại Moscow, ngày 25 tháng 12, 1991 là ngày chính thức cáo chung của chế độ Cộng Sản. Thật khó tin nhưng đang diễn ra trước mắt nhân loại. Ngày cuối cùng của chế độ CS Liên Xô được tường thuật theo từng giờ trong tác phẩm Moscow, December 25, 1991, the last day of Soviet Union của Conor Óclery mà người viết tham khảo.

Tối ngày 24

clip_image002

Thời tiết Moscow lạnh xuống gần 0 độ F. Những lớp tuyết dày trên dưới chân tường điện Kremlin dấu vết của cơn bão tuyết ba ngày trước. Nửa đêm 24 tháng 12, một đoàn hành hương đến cầu kinh dưới chân tháp Thánh Nicholas. Từ khi chính sách Glasnost ra đời, việc tiếp xúc tôn giáo có phần cởi mở. Nhiều đoàn hành hương có cơ hội đến thăm viếng các nhà thờ lớn ở Liên Xô. Phần đông người trong đoàn đến từ Mỹ. Dù Giáng Sinh theo lịch Julian do Giáo Hội Chính Thống Giáo Nga dùng là ngày 7 tháng Giêng những người hành hương này muốn đón Giáng Sinh theo lịch Mỹ ở Moscow. Những ngọn đèn cầy được thắp lên trong đêm đông tại quốc gia CS hàng đầu thế giới. Những người hành hương không biết một cách chi tiết những gì sắp xảy ra trên đất nước này trong vài giờ nữa.

Sáng sớm ngày 25

Mikhail Sergeyevich Gorbachev, Tổng Bí Thư đảng CS kiêm Chủ tịch Cộng Hòa Liên Bang Sô Viết thức dậy sớm. Ông ta ý thức ngay rằng, tất cả những gì ông sắp sửa làm từ bữa ăn sáng do đầu bếp Shura phục vụ và cả biệt điện nguy nga mà vợ chồng ông ta nghĩ trước đó sẽ ở cho đến chết đều sẽ là lần cuối. Chiếc xe đặc biệt ZiL-41047 chờ ông. Hai viên đại tá có khuôn mặt lạnh như tiền ngồi trên chiếc Volga theo  sau xe của Gorbachev. Họ không phải là cận vệ nhưng là người mang chiếc cặp trong đó chứa các thông tin tuyệt mật để  phát động chiến tranh nguyên tử. Hai đại tá này biết chiều tối nay họ sẽ chào từ biệt Mikhail Gorbachev để phục vụ lãnh đạo Cộng Hòa Nga Boris Yeltsin.

Mikhail Sergeyevich Gorbachev được thế giới ca ngợi như là người đã thổi vào không khí chính trị Liên Xô làn gió mới và được trao tặng giải Nobel Hòa Bình 1990 nhưng trong nước dân chúng đổ hết công phẫn lên ông ta. Tên Gorbachev đồng nghĩa với suy thoái, thất nghiệp, vật giá leo thang, tem phiếu. Người dân thường dĩ nhiên không biết và cũng không cần biết, Gorbachev là lãnh đạo CS thứ bảy từ Lenin và cũng là người kế thừa một gia sản lạc hậu, ung thối từ trong máu của chế độ.

Nhiều câu chuyện cười ở Moscow về thái độ bất mãn của người dân đối với Gorbachev. Ví dụ, trong một tiệm rượu, một người khách đứng dậy bỏ đi, các bạn anh ta hỏi đi đâu, anh chàng đáp đi giết Gorbachev chứ đi đâu, anh ta mở cửa ra đi thật nhưng trở lại ngay, bạn bè hỏi sao giết Gorbachev mà nhanh thế, anh chàng đáp không giết được vì phải sắp hàng dài quá.

9 giờ sáng ngày 25

Mikhail Gorbachev và đoàn tùy tùng đến dinh chủ tịch ở điện Kremlin hơi trễ hơn thường lệ chút ít. Hãng tin Mỹ ABC gồm Ted Koppel và Rick Kaplan có mặt ngay tại chỗ dừng xe. Họ được Gorbachev  cho phép tường thuật biến cố lịch sử này. Theo lời kể lại của Ted Koppel, Gorbachev rất trầm tỉnh. Nhân viên làm việc trong điện Kremlin vẫn tới đủ nhưng không có việc nào làm khác hơn là dọn dẹp. Thời khóa biểu tiếp khách trước đây được tính từng phút hôm đó trống không. Mặc dù theo thỏa thuận, Gorbachev có đến cuối năm để dời ra khỏi điện nhưng thực tế Yeltsin đã tóm thu hết quyền hành và các phương tiện thông tin. Đơn vị phòng vệ điện Kremlin vẫn túc trực nhưng không đặt dưới quyền chỉ huy của Gorbachev mà trực thuộc thẳng Yeltsin. Chiếc điện thoại màu trắng trên bàn làm việc của Gorbachev còn hoạt động nhưng không ai gọi vào.

10 giờ sáng ngày 25

Trong lúc điện Kremlin chìm trong im lặng, Tòa Nhà Trắng Nga lại sôi nổi với hàng loạt chương trong ngày mới của nền Cộng Hòa. Tòa nhà quốc hội Nga này là biểu tượng của trận chiến chống chế độ toàn trị khi Yeltsin đứng trên xe tăng thách thức đám lãnh đạo CS cực đoan hồi tháng Tám trước đó. Boris Yeltsin lãnh đạo Nga đến văn phòng làm việc. Ông lên văn phòng đặt trên tầng thứ năm bằng cầu thang riêng phía sau. Trên bàn làm việc hàng loạt sắc lịnh chờ ông ký. Một chế độ hình thành bằng máu, dao búa và súng đạn đang được giải thể bằng sắc lịnh. Một trong những sắc lịnh ông phải ký hôm nay là giải tán cơ quan KGB và thay bằng Federalnaya Sluzhba Bezopasnosti gọi tắt là FSB tức Cơ Quan An Ninh Liên Bang Nga. Không chỉ trong ngành an ninh, mật vụ mà cả sắc lịnh về các hí viện, nhạc viện, các viện hàn lâm, trường đại học, viện bảo tàng, v.v. từ nay đều trực thuộc Cộng Hòa Nga.

Các cơ quan ngoại giao quốc tế cũng vậy. Bộ trưởng Ngoại Giao Eduard Shevardnadze nổi tiếng thời Gorbachev bị trục xuất ra khỏi nhiệm sở và thay bằng Bộ trưởng Ngoại Giao Nga Andrey Kozyrev. Tại tất cả nhiệm sở ngoại giao khắp các múi giờ trên toàn thế giới, cờ Liên Xô bị hạ xuống và cờ Cộng Hòa Nga ba màu được kéo lên. Nhiều đại sứ vội vả đánh điện cho Yeltsin tuyên bố trung thành. Tòa đại sứ lớn nhất của Liên Xô là tòa đại sứ tại Washington DC với hơn 300 nhân viên thuộc nhiều sắc tộc. Các nhân viên chia thành nhiều nhóm theo sắc dân và tự tuyên bố họ là đại diện cho cộng hòa của họ tại Mỹ.

Gần 11 giờ sáng Tổng thống Nga Boris Yeltsin qua phòng họp quốc hội Nga ở lầu 1. Tổng cộng 252 đại biểu quốc hội đang tập trung để chứng kiến ngày lịch sử. Nhân dịp này, Boris Yeltsin thông báo tin vui rằng 11 quốc gia cựu Liên Xô trong phiên họp tại Kazakhstan đã đồng ý thành lập Khối Thịnh Vượng chung.

12 giờ trưa ngày 25

Mikhail Gorbachev ăn trưa xong. Phía sau phòng ăn có một phòng nhỏ bỏ trống. Tổng bí thư CS Liên Xô vào, đóng cửa lại và nằm nghỉ. Các phụ tá của ông hớt hải đi tìm. Gorbachev phải có mặt để ký thư từ biệt gởi các lãnh đạo thế giới mà ông có quan hệ tốt. Một danh sách khá dài từ Tổng thống Mỹ George H. W. Bush cho đến Thủ tướng Anh John Major và cả các ông hoàng như Vua Juan Carlos và Nữ Hoàng Sofia của Spain.

Bài bình luận trên báo Nga buổi sáng hôm đó chẳng tốt lành gì cho lãnh tụ CS Mikhail Gorbachev. Tờ Rossiyskaya Gazeta tiết lộ các cam kết mật Yeltsin dành cho Gorbachev khi về hưu bao gồm số phụ cấp bằng với mức lương hiện nay của ông ta có điều chỉnh theo mức lạm phát, hai chiếc xe riêng và một đoàn tùy tùng 20 người kể cả tài xế và an ninh. Đây là thỏa thuận kín giữa Gorbachev và Yeltsin nhưng đã bị cánh Yeltsin tiết lộ cho báo chí biết. Các báo còn cho rằng Gorbachev đòi hỏi một đoàn phục vụ lên đến 200 người. Thật ra, theo Chernyaev, phụ tá của Gorbachev, ông ta chưa bao giờ đòi hỏi một số lượng nhân viên phục vụ đông như thế. Phe Yeltsin chỉ bịa ra để làm nhục Gorbachev.

4 giờ chiều ngày 25

Gorbachev và phụ tá Andrei Grachev xem lại diễn văn mà 4 giờ nữa ông sẽ đọc và quyết định thay chữ “từ chức” bằng chữ “ngưng các hoạt động” trong chức vụ chủ tịch Liên Bang Sô Viết. Diễn văn được sửa tới sửa lui nhiều lần chung quanh các điểm xung khắc giữa Yeltsin và Gorbachev.

Cũng trong buổi chiều cuối cùng này, Gorbachev gọi điện thoại chào từ giã tổng thống Mỹ George H. W. Bush. Buổi điện đàm được truyền hình ABC thu. Gorbachev mở đầu trước bằng gọi một cách thân mật “George thân mến, chúc mừng Giáng Sinh đến anh và Barbara !” và nói tiếp “George, tôi muốn báo anh biết một tin quan trọng. Trước mặt tôi là diễn văn từ nhiệm. Tôi sẽ rời khỏi chức vụ tổng tư lịnh và chuyển giao quyền sử dụng vũ khí nguyên tử sang tổng thống Liên Bang Nga”.  Buổi điện đàm diễn ra trong không khí rất thân mật và tổng thống Mỹ mời Gorbachev viếng thăm Mỹ lần nữa. Cả hai đều tránh nhắc tới tên Yeltsin.

Trời đã về chiều. Gorbachev và hai phụ tá thân cận nhất của ông ngồi quanh nhau bên ly cà phê cuối cùng. Cả ba đồng ý, sau khi đọc diễn văn, Gorbachev sẽ ký quyết định từ nhiệm thay vì ký trước như dự tính.

Trong lúc nhắp cà phê, câu chuyện về số phận Nicolae Ceausescu của Romania được nhắc đến. Mặc dù Gorbachev ví Ceausescu như là Hitler của Romania, cả hai đã duy trì một quan hệ lãnh đạo các quốc gia trong khối CS. Chỉ ba tuần trước khi vợ chồng Nicolae Ceausescu bị xử bắn, Gorbachev đã tiếp y tại điện Kremlin. Trong dịp đó Gorbachev khuyên Ceausescu đừng ngại thực hiện các cải cách dân chủ và tiên đoán “đồng chí sẽ còn sống trong dịp hội nghị các lãnh đạo CS Liên Xô và Đông Âu” tổ chức ngày 9 tháng Giêng. Ngày đó không bao giờ đến và Nicolae Ceausescu cũng đã chết rồi.

7 giờ tối ngày 25

“Kính thưa toàn thể nhân dân”, giọng Mikhail Gorbachev hơi lạc đi vì xúc động, gò má ông rung lên. Trong chốc lát,  ông lấy lại bình tỉnh và đọc tiếp “Số phận đã quyết định rằng, khi tôi trở nên lãnh đạo đất nước, hiển nhiên đã có những sai trái trầm trọng trong quốc gia này. Chúng ta có đầy đủ mọi thứ, đất đai, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và Tạo Hóa đã ban cho chúng ta trí tuệ và tài năng – Tuy nhiên, mức sống của chúng ta tệ hại hơn nhiều so với các quốc gia kỹ nghệ khác và khoảng cách mỗi ngày rộng thêm. Lý do rõ ràng vì xã hội bị bóp ngặt trong tay của một hệ thống quan quyền được tạo ra để phục vụ một ý thức hệ, và phải chịu gánh nặng chạy đua vũ trang, căng thẳng tột cùng. Tất cả cố gắng để thực hiện các cải cách nửa vời đều lần lượt dẫn đến thất bại. Đất nước không còn hy vọng gì nữa.”

Gorbachev tiếp tục nói về các cải cách ông thực thi từ 1985, dù sao, đã là những viên gạch cần thiết lót lên con đường dẫn đến chế độ dân chủ và theo ông “xã hội đã đạt được tự do, tự do về chính trị và tự do về tinh thần”. Gorbachev chấm dứt diễn văn lúc 7:12 phút tối. Ông nhìn lên ống kính truyền hình và thêm vào câu nữa “Chúc quý vị mọi điều tốt đẹp”.

Các lý do làm Liên Xô sụp đổ là nguồn thúc đẩy sự nghiên cứu của nhiều sử gia, nhà nghiên cứu, nhà phân tích và vẫn còn đang được nghiên cứu, phân tích. Tuy nhiên, như nhiều người đông ý, nguyên nhân sâu xa vẫn là (1) những mâu thuẫn có tính triệt tiêu trong bản chất của chế độ CS độc tài toàn trị, (2) sự chuyển hóa không ngừng của xã hội và (3) các nguyên nhân trực tiếp gồm tình trạng tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương.

Mâu thuẫn có tính triệt tiêu của chế độ CS

Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, chế độ CS Liên Xô không thể nào sụp đổ. Sau thế chiến thứ hai, Liên Xô có một đạo quân khổng lồ gồm 500 sư đoàn trong đó 50 sư đoàn thiết giáp. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh với Mỹ và Tây phương, Liên Xô duy trì một đạo quân từ 3 triệu người đến 5 triệu người. Khoảng thời gian Liên Xô sụp đổ, Liên Xô có 210 sư đoàn với một phần tư là các sư đoàn thiết giáp. Kho vũ khí hạt nhân Liên Xô có 27 ngàn đầu đạn nguyên tử trong đó 11 ngàn đầu đạn có tầm bắn xa đến tận nước Mỹ. Mỗi đầu đạn nguyên tử có thể tàn phá một thành phố Mỹ.

Bên ngoài hùng mạnh nhưng bên trong, Liên Xô là một cơ chế chính trị chứa đựng các mâu thuẫn nội tại dẫn đến thối rửa. Chủ nghĩa Marx-Lenin đề cao “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” nhưng thật sự từ Cách mạng CS tại Nga, Trung Cộng, Cu Ba, Bắc Hàn, Việt Nam v.v.. đều phát xuất từ một nhóm nhỏ cán bộ CS biết vận dụng các lý do lịch sử và bất đồng nhất thời trong xã hội để phát động chiến tranh và sau đó tiếp tục cai trị nhân dân bằng súng đạn, nhà tù, sân bắn. Người dân không có quyền chọn lựa. Mâu thuẫn đối kháng mang tính triệt tiêu nhau giữa chế độ độc tài toàn trị và quyền sống, quyền tự do chọn lựa của con người vì thế đã bắt đầu ngay khi cách mạng CS thành công và sâu sắc dần theo thời gian.

Sự chuyển hóa tri thức xã hội

Như người viết đã có dịp phân tích bài Trung Cộng không đáng sợ, sự chuyển hóa tri thức của xã hội là nguồn lực chính thúc đẩy cách mạng dân chủ tại các quốc gia CS. Nguồn lực đó nhanh hay chậm tùy theo điều kiện mỗi nước nhưng là một tiến trình không thể bị ngăn chận bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào. Những nguồn đối kháng từ bên trong các nước CS đã âm thầm lớn mạnh chỉ chờ cơ hội là bùng vở. Sức sống của đất nước cũng như của xã hội là một dòng chảy không bao giờ ngừng nghỉ, các thế lực cầm quyền độc tài chỉ là những khe đá, có thể làm chậm dòng thác văn minh nhưng không thể ngào ngăn chận được.

Khi nhận thức con người được mở rộng sự sợ hãi sẽ giảm dần. Điều này thể hiện không chỉ ở người dân Liên Xô lúc đó mà cả các cấp lãnh đạo CS Liên Xô cũng không còn sợ các biện pháp chế tài của trung ương đảng. Chưa bao giờ trong lịch sử đảng CS Liên Xô có một ủy viên bộ chính trị từ chức. Không cần phải tìm hiểu cũng biết điều gì sẽ xảy ra cho Boris Yeltsin nếu ông ta từ chức trong thời kỳ Lenin, Stalin.

Yếu tố chính tác động vào sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống CS tại châu Âu và sẽ diễn ra tại Trung Cộng cũng như Việt Nam chính là nội lực phát xuất từ xã hội, kết quả của các phong trào xã hội và sự chuyển hóa không ngừng của xã hội.  Các quốc gia CS còn lại như Trung Cộng, Việt Nam tìm mọi cách để ngăn chận sự phát triển tự nhiên của văn minh con người, cố tình che đậy, bưng bít thông tin nhưng chỉ làm chậm lại tiến tình cách mạng dân chủ một thời gian ngắn mà thôi. Cuộc chiến tranh xoi mòn từng mảnh nhỏ này đang diễn ra từng giờ, từng phút và phần thắng đang nghiêng dần về phía người dân.

Tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương

Thập niên 1970 Liên Xô có vẻ trong vị trí ổn định và có ảnh hưởng quốc tế nhất. Vị trí của Liên Xô lên cao tại Phi Châu, Trung Đông và Á Châu. Tuy nhiên sau thượng đỉnh Vladivostok giữa Leonid Brezhnev và Tổng thống Mỹ Gerald Ford tình hình bắt đầu đổi khác.  Nền kinh tế Liên Xô suy sụp dần vì hơn 30%, nhiều phân tích cho rằng hơn một nửa, ngân sách quốc gia phải đổ vào cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ. Giống như đòn kinh tế Mỹ đang áp dụng hiện nay đối với Vladimir Putin, thập niên 1980, Mỹ cũng thỏa thuận với Saudi Arabia để giữ giá dầu thấp nhằm đánh vào nền kinh tế sống nhờ xuất cảng dầu khí của Liên Xô.

Gorbachev kế thừa một “sự nghiệp cách mạng” nhưng trong thực tế một gánh nặng của chủ nghĩa độc tài toàn trị kéo dài từ 1917 cho đến tháng 3 năm 1985, thời gian ông được chọn làm tổng bí thư đảng. Cơ chế chính trị trung ương không giữ được các cộng hòa địa phương. Trước Giáng Sinh 1991 vài ngày, 11 nước cộng hòa Sô Viết gồm Ukraine, Liên Bang Nga, Belarus, Armenia, Azerbaijan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Turkmenistan, Tajikistan và Uzbekistan tuyên bố họ không còn là những tiểu quốc trong liên bang Sô Viết. Bốn nước Estonia, Lithuania, Latvia, Georgia chọn nghiêng hẳn về phía Tây thay vì theo Nga.

Không có con đường nào khác dành cho các lãnh đạo CS

Chế độ CS, một chế độ đi ngược dòng phát triển văn minh nhân loại và quyền con người như Mikhail Sergeyevich Gorbachev xác nhận trong diễn văn từ chức “hệ thống toàn trị đã ngăn chận một quốc gia để trở nên giàu có và thịnh vượng, hệ thống đó phải bị giải thể.” Điều đó đã xảy ra tại Nga, Đông Âu, Phi Châu và đương nhiên sẽ xảy ra tại Trung Cộng và Việt Nam. Cách mạng dân chủ là một tiến trình không thể nào đảo ngược. Các lãnh đạo CSVN chỉ có một trong hai chọn lựa, hoặc như Mikhail Gorbachev hoặc như bị lật đổ như Nicolae Ceausescu, Erich Honecker chứ không có chọn lựa thứ ba nào.

  1. T. T.Đ.

Nguồn: FB Trần Trung Đạo

Posted on 12/23/2015

Trước thềm Đại hội 12

Trước thềm Đại hội 12

BVN

Lê Phú Khải – một người ngoài Đảng

23-12-2015

Nhiều người quan tâm đến tình hình đất nước đã hỏi tôi: “Theo ý anh, ai trong Bộ Chính trị hiện nay sẽ làm Tổng bí thư tại Đại hội 12 sắp tới là tốt nhất?”.

Tôi trả lời: “Trong gần bốn triệu đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, có nhiều người tài giỏi và có đức, yêu nước thực lòng. Nếu để ứng cử tự do và bầu phổ thông đầu phiếu trong toàn Đảng thì sẽ chọn được một Tổng bí thư xứng đáng, dân được nhờ. Nếu chỉ chọn trong Bộ Chính trị, hay Ban Chấp hành Trung ương thì… Bác Hồ sẽ là… người Thanh Hóa!”.

Nhiều người đã rất ngạc nhiên. Nhiều người còn mắng tôi: “Thấy ông là nhà báo mới hỏi, sao lại…?”.

Tôi bèn kể cho họ nghe câu chuyện “Bác Hồ là người Thanh Hóa”. Chuyện như sau: Có bốn anh bộ đội đi chơi với nhau. Một anh quê ở Nghệ An, ba anh kia quê ở Thanh Hóa. Anh quê Nghệ An nói: “Bác Hồ là người quê choa”. Một anh quê Thanh Hóa nói: “Không phải, Bác Hồ là người quê tôi!”.

Thế là cãi nhau. Cuối cùng phải bỏ phiếu. Kết quả: Bác Hồ là người Thanh Hóa, vì ba anh anh Thanh Hóa đều bỏ phiếu Bác là người quê mình. Rõ ràng dân chủ, công khai, minh bạch, thiểu số phục tùng đa số: Bác Hồ vẫn là người Thanh Hóa.

Phương Tây văn minh trải qua những vận động đi lên của lịch sử đã gọi cái đa số trong câu chuyện kể trên là đa số thiểu số (majorité minimal). Nguyên tắc tập trung dân chủ, thực chất là mất dân chủ ngay trong Đảng đã tạo ra cái đa số tối thiểu ấy. Nhiều lần đại hội mất dân chủ, đã dẫn đến nông nỗi này cho Đảng hôm nay… phải họp Trung ương liên tục, họp mãi vẫn chưa tìm được “lãnh tụ” xứng tầm.

Năm 2015, tính ra có đến 6993 cái đại hội trong cả nước. Này nhé, 63 tỉnh thành là 63 cái đại hội tỉnh đảng bộ. Mỗi tỉnh ước tính có 10 huyện thị, vị chi là có 630 cái đại hội huyện đảng bộ, mỗi huyện ước tính có 10 xã. Vậy ước tính cả nước có 6993 cái đại hội. Đó là chưa kể các đại hội của các ngành ở Trung ương. Đại hội nào cũng cờ dong trống mở, chăng đèn kết hoa xanh đỏ tím vàng như sân khấu cải lương chèo tuồng! Cả ăn uống liên hoan nữa. Tất cả đều lấy từ ngân sách nhà nước, từ thuế của dân để chi… Vậy mà vẫn không tìm ra được người tài đức để cứu Đảng cứu nước!

Cái nguyên tắc tập trung dân chủ thật là đáng sợ, thật là đại bi kịch cho đảng cầm quyền. 

L. P. K.

Tác giả gửi BVN.

Posted on 12/23/2015

Ðại sứ Mỹ: Bắt LS Ðài, Việt Nam ‘đang chơi trò nguy hiểm’

Ðại sứ Mỹ: Bắt LS Ðài, Việt Nam ‘đang chơi trò nguy hiểm’
Nguoi-viet.com

 

HÀ NỘI (NV) – Nhà cầm quyền Việt Nam “đang chơi một trò rất nguy hiểm. Họ đang liều cả với TPP, cả với tương lai kinh tế trước mắt” là lời Ðại Sứ Mỹ Te Osius tại Việt Nam nói với bà Vũ Minh Khánh, vợ Luật Sư Nguyễn Văn Ðài.

Bà Vũ Minh Khánh và Luật Sư Hà Huy Sơn vừa có cuộc tiếp xúc với Tòa Ðại Sứ Mỹ tại Hà Nội buổi chiều ngày 22 tháng 12, 2015.


Từ trái sang: Ông David V. Muehlke (bí thư thứ nhất phụ trách chính trị, ÐSQ Mỹ), chị Vũ Minh Khánh, Ðại Sứ Ted Osius, Luật Sư Hà Huy Sơn. (Hình: FB Ðoan Trang)

Theo bản tường thuật của nhà báo tự do Ðoan Trang viết trên Facebook, bà Vũ Minh Khánh tiếp xúc tại nhà riêng của Ðại Sứ Ted Osius có sự hiện diện của tùy viên chính trị David V. Muehlke, vận động chính phủ Mỹ đòi CSVN trả tự do cho Luật Sư Nguyễn Văn Ðài.

Luật Sư Nguyễn Văn Ðài bị công an CSVN chận đường bắt giữ sáng ngày 16 tháng 12, 2015, khi ông đi gặp phái đoàn nhân quyền của Liên Âu, buộc quay về nhà lục soát và tịch thu nhiều trang thiết bị điện tử rồi bắt đưa đi giam với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước…” theo điều 88 của Luật Hình Sự của chế độ. Cùng bị bắt với LS Ðài còn có chị Lê Thu Hà, một cô giáo dạy Anh ngữ và cũng tham gia phong trào vận động dân chủ hóa Việt Nam.

Luật Sư Ðài đã từng bị bỏ tù 4 năm từ 2007 đến 2011 cũng với điều luật mơ hồ này.

Theo bản tin tường thuật của FB Ðoan Trang, đến ngày 22 tháng 12, 2015, Luật Sư Nguyễn Văn Ðài và cô giáo Lê Thu Hà bị bắt đã sáu ngày, nhưng gia đình của cả hai người vẫn không được liên lạc với họ, cũng nhưng không nhận được thông tin gì từ họ.

Bà Khánh cho biết, mặc dù việc thăm nuôi thân nhân đang bị giam giữ là quyền của gia đình, nhưng phía cơ quan an ninh điều tra (ANÐT) đã khước từ quyền đó, nhất định yêu cầu bà phải làm đơn cho họ xét duyệt, “có gì sẽ báo sau.”

Bản tin của FB Ðoan Trang nói ông Ted Osius chia sẻ với bà Khánh và khẳng định, “Mỹ cũng như các quốc gia phương Tây ở Việt Nam đều rất tức giận với việc Bộ Công An bắt Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, cũng như đã lần lượt lên tiếng về vụ việc này. Ông cho biết, gần như ngay sau vụ bắt, ông đã có cuộc gặp Bộ Trưởng Công An Trần Ðại Quang và Thứ Trưởng Tô Lâm.”

Ðược hỏi, “Trong hai cuộc gặp đó, ông có thấy bất kỳ một tín hiệu, một manh mối nào từ phía công an, cho thấy tại sao họ bắt anh Ðài và chị Thu Hà không,” Ðại Sứ Ted Osius lắc đầu: “Không. Họ vẫn chỉ đưa ra các lý do như họ đã từng đưa ra trong những lần bắt các nhà hoạt động khác. Tôi có nói với họ, rằng Luật Sư Nguyễn Văn Ðài cũng như các nhà hoạt động đang bị họ giam giữ kia, đều là những người yêu nước, chỉ mong điều tốt đẹp cho Việt Nam, chỉ mong Việt Nam phát triển và hội nhập để trở thành một phần của thế giới. Nhưng ông Trần Ðại Quang và ông Tô Lâm không đồng ý như vậy.”

Ðại Sứ Ted Osius cũng không trả lời được câu hỏi “có phải chính quyền Việt Nam đang muốn điều gì đó lắm, nên phải bắt Luật Sư Nguyễn Văn Ðài để gây sức ép ngược lại với cộng đồng quốc tế.”

Bà Vũ Minh Khánh lo ngại: “Phải chăng vì Việt Nam đã ký được nhiều hiệp định quốc tế về kinh tế, như TPP, FTA… rồi, nên bây giờ chính quyền Việt Nam trở mặt, phá bỏ các cam kết, bắt giữ người hoạt động nhân quyền để trả đũa và để gửi lời cảnh báo tới tất cả giới hoạt động nhân quyền-dân chủ?”

FB Ðoan Trang dẫn lời ông Ted Osius đáp: “Tôi lại diễn giải vụ bắt bớ này theo một cách khác. Tôi cho là với việc bắt anh Ðài và chị Hà, Bộ Công An Việt Nam muốn gửi một thông điệp rằng họ đang rất mạnh và họ không e ngại điều gì cả.” Dù vậy, ông cũng thừa nhận, không hiểu sao chính quyền Việt Nam “liều” như thế (take a great deal of risks). “Họ đang chơi một trò chơi rất nguy hiểm. Họ đang liều cả với TPP, cả với tương lai kinh tế trước mắt.”

Theo FB Ðoan Trang tường thuật, bà Vũ Minh Khánh băn khoăn rằng nếu vậy, liệu có phải Mỹ và cộng đồng quốc tế, nhất là các quốc gia phương Tây, đã hết các cơ chế để có thể gây áp lực với Việt Nam.

Ðại Sứ Ted Osius cười: “Không đâu. Mỹ vẫn còn rất nhiều đòn bẩy (leverage) để tạo sức ép. Tôi đang có trong tay bức thư của Dân Biểu Alan Lowenthal phản đối vụ bắt giữ Luật Sư Nguyễn Văn Ðài; ông Alan Lowenthal là người sẽ tham gia cho ý kiến quyết định việc Mỹ có thể đồng ý để Việt Nam gia nhập TPP không. Ngoài TPP, Mỹ còn nhiều đòn bẩy khác nữa. Và cũng không phải chỉ có lá thư của ông Alan Lowenthal đâu, đây chỉ là một trong số rất nhiều lá thư chính phủ Mỹ đã nhận được trong những ngày qua, lên tiếng về vụ bắt Luật Sư Ðài. Tóm lại, mọi việc chưa xong đâu.”

Tuy thế, đại sứ Hoa Kỳ cũng nêu rõ rằng ông cảm nhận được sự cứng rắn của phía Bộ Công An, và chắc chắn chính quyền Việt Nam sẽ không thả Luật Sư Nguyễn Văn Ðài sớm. “Có nhiều vụ việc, họ có những tín hiệu cho thấy mọi việc sẽ được giải quyết nhanh chóng, nhưng trường hợp này thì không. Tôi cũng không muốn gia đình nuôi hy vọng, nên tôi phải nói rõ là có thể chuyện sẽ kéo dài đấy.”

Luật Sư Hà Huy Sơn cho biết, ông Nguyễn Văn Ðài là một nhà hoạt động rất ôn hòa và luôn nỗ lực tuyên truyền về các giá trị nhân quyền cho người dân. Luật sư đã làm đơn đăng ký bào chữa cho ông Ðài, nhưng tất nhiên chưa được cơ quan ANÐT “duyệt.”

Kết thúc buổi gặp, ông Ted Osius khẳng định: “Chúng tôi sẽ làm tất cả những gì chúng tôi có thể làm. Chúng tôi sẽ không bỏ cuộc. (We won’t give up).”

Trong khi đó, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ bầy tỏ sự “quan ngại sâu xa” đối việc chế độ Hà Nội bắt giam Luật Sư Ðài.

“Chúng tôi quan ngại sâu xa về việc Luật Sư Nguyễn Văn Ðài đã bị tống giam theo điều 88 của Luật Hình Sự Việt Nam.” Trong cuộc họp báo hôm Thứ Hai, 21 tháng 12, 2015, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ John Kirby phát biểu như vậy và nói tiếp rằng, “Chúng tôi thúc giục Việt Nam bảo đảm rằng hành động và luật lệ của họ tương ứng với các cam kết quốc tế mà họ đã ký kết, và chúng tôi kêu gọi nhà cầm quyền trả tự do vô điều kiện cho các tù nhân lương tâm.”

Theo tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW), chế độ nhà cầm quyền Việt Nam còn giam giữ ít nhất 130 tù nhân lương tâm. Mọi người vừa thấy nhạc sĩ Việt Khang mãn hạn tù 4 năm trở về thì kết án tù Nguyễn Viết Dũng 15 tháng tù và bắt giam Luật Sư Nguyễn Văn Ðài.

Khoảng hai chục hội đoàn xã hội dân sự tại Việt Nam mở chiến dịch vận động chữ ký đòi chế độ Hà Nội trả tự do cho Luật Sư Nguyễn Văn Ðài. Mọi người có thể vào ký tên qua hộp thư liên lạc freenguyenvandai2015@gmail.com. Hiện đã có hàng trăm người tham gia ký tên. (TN)

Posted on 12/22/2015

Hàng ngàn học sinh biểu tình chống xây trung tâm thương mại

Hàng ngàn học sinh biểu tình chống xây trung tâm thương mại
Nguoi- viet.com

HÀ NỘI (NV) – Hơn 2,300 học sinh các trường đột ngột nghỉ học để cùng khoảng 1,200 hộ kinh doanh tại chợ Nành, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội, biểu tình phản đối việc xây trung tâm thương mại.

Theo truyền thông Việt Nam, khoảng 9 giờ sáng 21 tháng 12, 2015, trước cửa ủy ban xã Ninh Hiệp có hàng ngàn người tụ tập phản đối việc xã chuẩn bị giải tỏa khu đất đang dùng làm bãi gởi xe ở trung tâm xã để xây trung tâm thương mại. Ðây cũng là lý do dẫn tới việc hơn 2,300 học sinh nghỉ học.


Học sinh và tiểu thương chợ Nành tại trụ sở ủy ban xã Ninh Hiệp sáng 21 tháng 12. (Hình: Tuổi Trẻ)

Từ ngày 18 tháng 12, 2015, hàng trăm tiểu thương đã biểu tình, nhất quyết quyết chống lại hành động của nhà cầm quyền địa phương.

Trên mạng xã hội, Tễu Blog viết kèm theo hình ảnh là “Bà con lập bàn thờ với hương hoa, giấy khen, ảnh liệt sĩ, cờ đảng… và cả quan tài để thể hiện quyết tâm liều chết đấu tranh, công an và cảnh sát cơ động đã được huy động sẵn sàng trấn áp người dân.”

Họ đòi giữ lại kiốt để bán hàng. Một tiểu thương cho biết: “Một kiot 3m2 bán với giá 15 tỷ, còn ở phía khu vực để xe một kiot ngang 3m dọc 10m có giá 25 tỷ, thế mà chúng nó cướp của dân đấy.”

Mô tả của phóng viên Tuổi Trẻ, có hàng trăm học sinh tiểu học, trung học cơ sở mặc nguyên áo đồng phục đi theo cha mẹ. Nhiều em trong số đó được cha mẹ cho bánh kẹo, thậm chí có người mang cả mì gói cho trẻ ăn ngay trước ủy ban xã.

Bà H, một người dân cho biết: “Tôi có hai cháu đang đi học tại trường tiểu học, nhưng đều cho nghỉ để phản đối xã.”

Nhiều người dân tập trung tại ủy ban xã và khu vực bãi giữ xe cho biết “sẽ tiếp tục cho con nghỉ học những ngày tới nếu chính quyền không dừng quyết định lấy bãi giữ xe xây trung tâm thương mại.”

Nói với Tuổi Trẻ, ông Hoàng Việt Cường, trưởng Phòng Giáo Dục huyện Gia Lâm cho biết, theo phúc trình, hai trường mầm non trong xã có trên 100 trẻ nghỉ học. Trường tiểu học có gần 1,480/1,646 học sinh nghỉ học. Riêng trường trung học cơ sở có duy nhất một học sinh đi học trong tổng số 940 học sinh.

Nhiều người dân cho biết, họ vừa nhận được thông tin ngày 22 tháng 12, ủy ban xã sẽ lấy bãi giữ xe giao cho chủ đầu tư để xây trung tâm thương mại.

Posted on 12/22/2015

Công lý ở Việt Nam và lá thư 127

Công lý ở Việt Nam và lá thư 127

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-12-21

  • RFA

Cái gọi là công lý ở Việt Nam và lá thư 127 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg8587979

Sinh viên Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha tại Tòa án Long An hôm 16/5/2013.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Pháp luật nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Luật sư Nguyễn Văn Đài bị bắt giữ theo điều luật 88 bộ luật hình sự của Việt Nam, phạt tù những người được cho là tuyên truyền chống phá nhà nước. Vậy là người luật sư vốn nổi tiếng với những vụ án chính trị, bước vào nhà tù lần thứ hai.

Báo chí chính thống của nhà nước đồng loạt đưa tin này.

Luật sư Lê Công Định, người từng là tù nhân chính trị nhận xét:

Trong tất cả bản tin được báo lề phải đưa về vụ bắt giam và khởi tố anh Nguyễn Văn Đài hôm nay, đều có đoạn: “Bản thân Nguyễn Văn Đài đã nhận 60.000 USD của các Tổ chức “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”, “Họp mặt dân chủ”, “Ủy ban cứu trợ thuyền nhân Việt Nam” ở Mỹ.”

Mục đích của lối đưa tin như vậy là nhằm định hướng dư luận (ngây thơ) rằng anh Đài đã câu kết và dùng tiền của “nước ngoài” để chống phá nhà nước.

Về phương diện pháp lý, việc nhận tiền như vậy (nếu có) hoàn toàn không vi phạm pháp luật Việt Nam hiện hành. Hành vi nhận tiền duy nhất bất hợp pháp và bị xem là tội phạm hình sự theo luật định, chính là tham nhũng.

Điều luật 88 của bộ luật hình sự vốn bị nhiều chỉ trích là không rõ ràng nhằm mục đích trấn áp các tiếng nói đối lập, những người bất đồng chính kiến với đảng cộng sản. Điều 88 cùng với nhiều điều luật khác được cho là đặt ra để tạo điều kiện cho sự lạm dụng quyền lực. Bình luận về cụm từ chống phá nhà nước trong điều luật này, blogger Nguyến Đình Ấm viết rằng nhà nước của đảng cộng sản hiện nay vốn chịu nhiều trách nhiệm về sự mất mát lãnh thổ của dân tộc, và làm hại dân, do vậy nếu căn cứ theo chính những lời nói của ông Hồ Chí Minh, người thành lập đảng, rằng dân có quyền đuổi nhà nước, thì việc chống đối lại nhà nước này là một điều chính đáng.

Trên nhiều trang mạng xã hội, các trang blog đã bắt đầu xuất hiện cuộc vận động đòi thả luật sư Đài.

Blogger Nguyễn Lân Thắng viết:

Quyền lực chỉ có giá trị khi có sự đồng ý…
Im lặng là sự đồng ý…
Nếu mỗi người không tự nói lên chính kiến của mình thì tức là bạn đã chấp nhận thứ quyền lực độc tôn, độc tài mà đảng cộng sản Việt Nam đang áp đặt lên đầu chúng ta thông qua nhà tù và còng số 8…
Càng nhiều người phản đối, chúng ta càng mạnh lên, kẻ độc tài sẽ đến lúc phải bỏ chạy…

Phản đối điều luật 88 bộ luật hình sự
Phản đối tất cả những điều luật hòng lấy đi quyền con người của chúng ta
Đảng cộng sản Việt Nam phải trả lại quyền lực cho nhân dân !

Trước khi luật sư Đài bị bắt một vài hôm, một vụ án khác cũng lôi kéo được sự chú ý của các blogger, đó là vụ án Nguyễn Viết Dũng. Anh Dũng tham gia cuộc tuần hành bảo vệ cây xanh tại Hà nội vào tháng tư năm nay, và trong cuộc tuần hành đó anh có đeo trên người huy hiệu của quân lực Việt Nam Cộng hòa. Người ta cho rằng việc đeo huy hiệu đó là lý do chính khiến anh bị bắt và truy tố. Nhưng trớ trêu một nỗi là trong pháp luật Việt Nam lại không có điều luật nào liên quan đến những huy hiệu này, vì thế tại phiên toàn anh bị xử tội gây rối trật tự công cộng.

Tại phiên tòa xử anh Dũng một luật sư của anh bị đuổi ra ngoài vì những yêu cầu trưng bằng chứng, ba luật sư còn lại bỏ ra khỏi tòa để phản đối. Người bị tòa án đuổi ra là luật sư Lê Văn Luân, ông viết rằng:

Phiên tòa không một nhân chứng, không vật chứng. Luật sư cũng không thể bào chữa, bị cáo thì đã báo không đủ sức khỏe tại phần đầu phiên tòa, dù được đo huyết áp ngay tại phiên tòa nhưng bác sỹ lại “báo kín” với chủ tọa mà không ra công khai tình trạng sức khỏe của bị cáo tại phiên tòa cho bị cáo và các luật sư được biết.

“ Não thiếu kiến thức luật pháp, đôi mắt mù loà ánh sáng công lý, chân tay bị trói chặt vào định hướng hoang đường, thì có khác gì con lừa bị kéo lê đi giữa đêm tối?
– Luật sư Lê Công Định “

Luật sư Lê Công Định nhận định về tòa án và các quan tòa Việt Nam hiện nay:

Nghe tường thuật về phiên toà xử Nguyễn Viết Dũng hôm qua và qua kinh nghiệm đã có trong các phiên toà chính trị khác, thấy thật thương cho thân phận con rối của các thẩm phán Việt Nam.

Não thiếu kiến thức luật pháp, đôi mắt mù loà ánh sáng công lý, chân tay bị trói chặt vào định hướng hoang đường, thì có khác gì con lừa bị kéo lê đi giữa đêm tối?

Blogger Nguyễn Tường Thụy viết bài Nền tư pháp Việt Nam tiếp tục nhạo báng công lý. Trong bài viết này ông đặt câu hỏi tại sao anh Dũng đi tuần hành ôn hòa cùng hàng trăm người khác mà chỉ mỗi mình anh bị truy tố! Câu trả lời của ông là nhà nước Việt Nam bỏ tù những người làm cho họ khó chịu chứ không phải vì hành động họ làm. Trong trường hợp anh Nguyễn Viết Dũng, việc đeo phù hiệu Việt Nam cộng hòa đã làm cho nhà cầm quyền khó chịu. Blogger Nguyễn Tường Thụy viết tiếp:

Vâng, nền tư pháp của Việt Nam vốn là như vậy. Truy tố hay không, kết án ở mức nào lại còn tùy thích. Cáo trạng thì gần như sao nguyên kết luận điều tra, bản án lại gần như sao nguyên cáo trạng. Thế mà cũng bày đặt ra công an, kiểm sát, tòa án. Sống trong xã hội Việt Nam đầy những bất an, chẳng biết đằng nào mà lần.

Một vụ án khác không liên quan đến chính trị là vụ tranh cãi nhau giữa một người bán quán và công ty nước giải khác Tân Hiệp Phát. Người bán quán phát hiện thấy chai nước của Tân Hiệp Phát có chứa ruồi, và muốn Tân Hiệp Phát phải mua sự im lặng của ông bằng tiền. Ông bị bắt, và trong phiên tòa người ta thấy ông bị còng tay. Đây là một vụ việc dân sự, nhưng người ta cho rằng cơ quan chấp pháp đã đứng về phía kẻ có tiền là Tân Hiệp Phát để biến người bán quán thành kẻ phạm tội.

Bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, hay blogger Mẹ Nấm nhận xét là vụ án này được đưa ra với mong mỏi báo thù hơn là niềm tin công lý.

Trở lại với điều luật 88, một người tù chính trị từng bị truy tố bởi điều luật này vừa mãn hạn tù, đó là nhạc sĩ Việt Khang. Tác giả Thanh Tôn viết rằng chuyện nhà nước Việt Nam bỏ tù nhạc sĩ Việt Khang là đỉnh cao của sự ô danh và chà đạp nhân quyền ở Việt Nam.

Lá thư 127

Một sự kiện lớn khác gây sự chú ý trên không gian mạng, tuy không được báo chí nhà nước đưa tin, là 127 nhân sĩ trí thức Việt Nam ký tên một bức thư ngỏ yêu cầu đảng cộng sản Việt Nam từ bỏ chủ nghĩa cộng sản.

Nhiều người cho rằng đây là một sự kiện chưa có tiền lệ.

Những người đặt bút ký lá thư nêu rõ nguyên nhân làm họ thảo bức thư đó là:

Văn hóa xuống cấp; đạo đức xã hội bị băng hoại; nhân dân ngày càng mất lòng tin vào thể chế chính trị.

Sự phát triển của đất nước bị kìm hãm chủ yếu là do Đảng Cộng sản Việt Nam từ nhiều năm nay dẫn dắt cả dân tộc đi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô-viết dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin. Trên con đường đó, trong vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam bám giữ thể chế độc tài toàn trị với bộ máy cầm quyền hết sức nặng nề, thiên về dùng bạo lực và dối trá, vi phạm nhiều quyền tự do dân chủ và lợi ích chính đáng của nhân dân, tạo thuận lợi cho tệ tham nhũng, ức hiếp dân và sự thao túng của các nhóm lợi ích bất chính. Đường lối sai lầm theo ý thức hệ cùng với bộ máy cầm quyền nhiều khuyết tật cũng không dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc để có đối sách đúng đắn bảo vệ độc lập, chủ quyền chống mưu đồ và hành vi bành trướng của Trung Quốc.

Trong một bài viết khác, Giáo sư Nguyễn Đình Cống, một trong 127 vị nhân sĩ trí thức, giải thích rõ hơn nguyên nhân cộng sản của sự xuống cấp về đạo đức xã hội ở Việt Nam hiện nay:

Đảng Cộng Sản cũng nói đạo đức, nhưng đó là đạo đức cách mạng dựa trên sự đấu tranh để bảo vệ chế độ, bảo vệ đảng chứ không phải là đạo đức để làm người lương thiện.

“ Đảng Cộng Sản cũng nói đạo đức, nhưng đó là đạo đức cách mạng dựa trên sự đấu tranh để bảo vệ chế độ, bảo vệ đảng chứ không phải là đạo đức để làm người lương thiện.
– Giáo sư Nguyễn Đình Cống”

Sự toàn trị của Đảng Cộng Sản, ngoài việc  tạo ra sự suy đồi đạo đức thì còn tạo ra một hệ thống luật pháp và đội ngũ  thi hành kém hiệu quả. Luật pháp thiếu trong sáng và nghiêm minh, tạo ra nhiều oan sai cho dân lành và tạo  điều kiện cho một số người lợi dụng. Không những thế ĐCS còn đặt mình cao hơn luật pháp, làm cho pháp luật mất tính thiêng liêng.

Không thấy lá thư yêu cầu một thể chế chính trị có nhiều đảng phái cạnh tranh với nhau, nhưng bức thư cũng nêu rõ là việc cải cách thể chế là từng bước, và đảng cộng sản Việt Nam phải xúc tiến ban hành Luật về các đảng phái chính trị và đảng cầm quyền.

Tuy nhiên có nhiều blogger không tin vào sự hữu hiệu của lá thư ngỏ của 127 nhân sĩ trí thức. Nhà văn Phạm Thành, hay blogger Bà Đầm Xòe viết:

Đặt hiện thực nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam qua 70 năm cộng sản cầm quyền  làm nền tảng cho bất kỳ một ý kiến hay một luận thuyết nào cho con đường phát triển của Việt Nam mới là người hiểu, người biết và người hành động. Còn cứ loay hoay với ước muốn mong đảng thay đổi, rồi góp ý chân thành, tâm huyết thì giá trị của những việc làm này còn thua xa với ước nguyện thay đổi của những dân oan ngày ngày bám trụ đòi quyền lợi trên các ngõ đường, góc phố của đất nước.

Một trí thức Việt Nam sống ở nước ngoài là ông Lê Minh Nguyên cũng không tin rằng lá thư có thể đưa đến một kết quả thực tế nào:

Giai tầng trí thức trong nước, nhất là trí thức của thế hệ đi trước, có lòng và có sự cố gắng trong khả năng của sự đối lập trung thành. Tuy nhiên sự thay đổi thực sự và ôn hoà thường bắt đầu từ đường phố như ở Ba Lan hơn là từ bàn phím, nhưng CS đã tìm cách ngăn chận điều này từ trong trứng nước. Người viết vẫn hy vọng lá thư này sẽ mang đến một sự thay đổi nào đó có ý nghĩa cho dân tộc Việt Nam chứ không phải là một câu chuyện tình trong Hồn Bướm Mơ Tiên.

Điều mà ông Lê Minh Nguyên cho rằng phong trào dân chủ tại Việt Nam còn thiếu cũng chính là điều blogger Nguyễn Vũ Bình hiện sống ở Hà nội quan tâm là tổ chức của các nhóm đối lập vẫn thực sự chưa tồn tại.

Hiện vẫn chưa thấy phản hồi gì từ phía nhà nước của đảng cộng sản Việt Nam về lá thư 127, và cũng có thể là đảng cộng sản vẫn sẽ im lặng như những kiến nghị yêu cầu sửa đổi Hiếp pháp trước đây.

Để kết thúc chúng tôi xin trích dẫn ra đây hai nhận định của hai blogger. Một người nói về bộ máy chính quyền, còn người kia nói về không gian xã hội.

Blogger Người Buôn gió quan sát thấy bộ máy cồng kềnh của đảng đã tạo nên những món nợ kinh khủng mà thời gian qua nhiều cơ quan đảng đã hết sạch tiền. Trước cảnh vỡ nợ, Người Buôn Gió nhận xét viễn cảnh bộ máy quyền lực của Việt Nam như sau:

Sớm muộn gì cũng phải đến hạn trả nợ, lúc ấy sẽ là hết Đảng CSVN. Các uỷ viên trung ương Đảng ở hội nghị lần thứ 13 này, tất nhiên hiểu rõ tính chất tương lai là như vậy. Nhiệm kỳ của các trung ương uỷ viên Đảng CSVN trong 5 năm tới đây sẽ chia làm hai loại.  Một loại chú trọng tích luỹ tiền bạc để trở thành những nhà tư bản khi chế độ CNXH sụp đổ. Một loại chú trọng làm việc minh bạch, khách quan, lấy tiếng để trở thành những chính trị gia cho một chế độ tương lai. Sẽ không ngạc nhiên khi thấy ở năm tới đây hàng ngũ cộng sản VN có nhiều kẻ vội vã vơ vét nhưng cũng nhiều kẻ tỏ vẻ thanh bạch, trong sáng, có nhiệt huyết. Một bức tranh nhiều mầu sắc trái ngược nhau sẽ diễn ra trên chính trường Việt Nam sau đại hội đảng lần thứ 12 trở đi.

Blogger thứ hai là Giáo sư Jonathan London cho rằng xã hội Việt Nam đang được tự do nhất kể từ khi đảng cộng sản cầm quyền đến nay, tuy nhiên không vì thế mà bộ máy đàn áp đã biến mất. Sau đây là nhận xét về cái mà ông gọi là phạm vi không gian chính trị công cộng ở Việt Nam:

Thứ nhất, rõ ràng sự nổi lên của Internet đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nó. Thứ hai, không nên phóng đại sự phát triển của phạm vi công cộng chính trị Việt Nam. Bộ máy vẫn đang thống trị hầu như tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Dù công dân ngày càng sẵn sàng chia sẻ chính kiến​ ​thì vẫn có nguy cơ phải gánh chịu áp lực của bộ máy an ninh.

Ông kết luận rằng thực trạng ấy hiện nay phản ánh những căng thẳng xã hội trong một giai đoạn lịch sử quan trọng, và thực trạng ấy sẽ đóng góp như thế nào cho sự phát triển chính trị của đất nước là còn chưa chắc chắn.

Posted on 12/21/201512/21/2015

Hoa hậu 22 tuổi hướng về Chúa!

Hoa hậu 22 tuổi hướng về Chúa!

Marta An Nguyễn chuyển dịch

Nói chuyện về Đức Giáo hoàng, về Thánh sử Luca, về triết gia Platon với Hoa hậu Thụy Sĩ là chuyện khá kỳ lạ. Vào đầu buổi phỏng vấn, cô Lauriane Sallin e sợ nói, “tôi không phải là chuyên gia về tôn giáo”. Nhưng lời e sợ này được thấy nhanh là không có căn cứ: cô gái Thụy Sĩ có khả năng trải rộng suy nghĩ nhất quán của mình về Chúa, đức tin công giáo và các liên hệ luân lý theo đó – và cả thẩm mỹ nữa.

Nói chuyện về Đức Giáo hoàng, về Thánh sử Luca, về triết gia Platon với Hoa hậu Thụy Sĩ là chuyện khá kỳ lạ. Vào đầu buổi phỏng vấn, cô Lauriane Sallin e sợ nói, “tôi không phải là chuyên gia về tôn giáo”. Nhưng lời e sợ này được thấy nhanh là không có căn cứ: cô gái Thụy Sĩ có khả năng trải rộng suy nghĩ nhất quán của mình về Chúa, đức tin công giáo và các liên hệ luân lý theo đó – và cả thẩm mỹ nữa.
Ngày 7 tháng 11 vừa qua, tại thành phố Bâle, cô được bầu làm tân Hoa hậu Thụy Sĩ. Cô trả lời không che giấu ngay cả hoài nghi và những câu hỏi tò mò. Nếu các câu hỏi về hiện sinh luôn ở trong lòng cô thì đức tin là kết quả của một suy nghĩ phát triển dần qua các thử thách trong đời mà cô gặp, nhất là sau cái chết của người chị cả Gặlle vào mùa xuân vừa qua vì bị ung thư óc.

Cô đã trả lời báo chí về các vấn đề tôn giáo mà cô quan tâm. Cô thấy điều gì hấp dẫn ở đó?

Lauriane Sallin: Về mặt văn hóa, tôn giáo là sợi chỉ mà người ta có thể lần theo đó, qua các thời kỳ, để tiếp cận được với các bối cảnh khác nhau của tư tưởng. Về mặt cá nhân hơn, từ lâu tôi đã tự đặt cho mình các câu hỏi về cuộc hiện sinh. Đã có một thời gian tôi cảm thấy mình đơn độc với loại chất vấn này, và rồi khi đọc sách vở, tôi khám phá ra nhân loại đã không ngừng đối diện với các thực tế này. Và ngay lập tức, tôi cảm thấy mình được bảo bọc che chở.

Những câu hỏi hiện sinh… Những câu hỏi nào?

Đặc biệt là câu hỏi về hạnh phúc và trong suốt thời gian chị tôi bệnh. Dù gặp tất cả những chuyện này, con người có thể có hạnh phúc không? Tôi đã đi qua nhiều giai đoạn khác nhau. Một vài tư tưởng gia cho rằng khái niệm hạnh phúc là không có. Nhưng nếu như vậy thì tại sao người ta sống? Tôi nghĩ hạnh phúc là điều có thể, nhưng phải biết chính xác thế nào là hạnh phúc. Cá nhân tôi, tôi tiếp cận với một vài nguyên tắc đầu tiên của đức tin kitô: sự tôn trọng, tình yêu cho người thân cận – không phải là người cách tôi 6 000 cây số, nhưng người ở bên cạnh tôi.

“Đứng trước cái chết của chị tôi,

tôi không thể cứ ở trong tình trạng tức thời.”

Như thế cô liên hệ vấn đề hạnh phúc với mệnh lệnh phúc âm “hãy thương nhau”?

Đúng. Tôi không thể nào hạnh phúc nếu tôi chỉ nghĩ đến tôi. Trong nhãn quan này, vấn đề tha thứ là chính yếu. Vào dịp lễ Phục Sinh, tôi đi lễ khi tôi còn rất đang giận một người. Lần đầu tiên trong đời, tôi đọc Kinh Lạy Cha mà tôi suy nghĩ từng chữ. “Xin Cha tha nợ cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ con”. Trong hoàn cảnh này, tôi nhận ra tôi có chọn lựa. Tôi có thể nuôi hận thù và làm cho người kia không sống được. Nhưng đó là một việc làm vô tận, oán oán trùng trùng. Người ta có thể ghét ai và ghét suốt đời. Tôi chọn thái độ tha thứ: tôi không muốn mình là người hận thù.

 “Lần đầu tiên trong đời, tôi đọc Kinh Lạy Cha mà tôi suy nghĩ từng chữ tôi đọc”

Như vậy đức tin công giáo là một tiến trình phát triển dần dần?

Trong gia đình tôi, mọi người đều tin nhưng mỗi người mỗi cách. Chúa nhật nào cha tôi cũng đi lễ nhưng chúng tôi không nói với nhau nhiều về chuyện này. Đối với tôi, đức tin không phải là chuyện vì cha mẹ bắt, nhưng đó là một cái gì rất riêng tư. Nó thuộc về tôi. Nó được xây dựng dần dần qua các sách vở tôi đọc, từ các triết gia Aristote, Descartes đến Phúc Âm Thánh Luca. Tôi muốn tìm hiểu Phúc Âm này. Vì thế tôi phải đọc kỹ, nó đòi hỏi tôi phải cố gắng, nhưng đó là cách duy nhất để nắm được ý nghĩa của Phúc Âm.

Tôi cũng nhận ra, tôn giáo giúp tôi có một độ lùi về các sự việc trong một thế giới mà con người thường xuyên phải sống trong tức thời. Có một ngày, một người bạn nói một câu làm tôi chấn động: “Trong mỗi người, có một phần của Nước Chúa trong đó”. Đứng trước cái chết của chị tôi, đích xác là tôi không thể sống tức thời, trong những chuyện mình sống từng giây – vì người sống từng giây là chị tôi, chị sắp chết. Phải nhìn cái gì xa hơn và tư tưởng nhỏ này đã giúp tôi rất nhiều.

Cô không phẫn nộ chống Chúa? Làm sao cô hòa giải được cuộc hiện sinh với cái chết của chị cô?

Tôi không có cảm tưởng Chúa dính gì trong việc chị tôi chết. Mình phải biết mình đang nói chuyện với một Chúa nào. Với tôi, Chúa là khả thể. Chúa là Đấng giúp mình vượt lên. Tôi không hình dung một Thiên Chúa lại đi phạt. Nếu có Chúa, Chúa vượt lên hình phạt.

Thiên Chúa là Đấng giúp chúng ta vượt lên.

Ông biết đó, luật chơi thì rõ ràng: chúng ta sống và như thế thì chúng ta phải chết. Thảm kịch lớn không phải ở đó, nó ở trong ảo ảnh mà mình tự khắc cho mình, để mình tin chắc, mình không chết ở tuổi 24. Chị tôi bị bệnh từ khi chị 14 tuổi. Tôi nói việc này với người lớn và tôi thấy họ bối rối hơn tôi. Họ sợ không dám nói đến chuyện này. Một đứa trẻ, nó nhìn thẳng mọi sự trước mặt. Nó có thể khổ nhưng nó không che cái sợ này bằng cách tránh trong các khái niệm sai. Thế giới này cho rằng tốt hơn nên chết ở nhà già. Như thế là sai!

Bệnh tật là dự phần vào sự sống. Chị tôi đau, tôi không đặt câu hỏi đó là lỗi của ai. Chỉ là mình phải cố gắng sống cho đến giây phút cuối cùng.

Cô có cầu nguyện được không?

Được, nhưng một cách khá đặc biệt. Tôi cầu nguyện khi có chuyện gì khó khăn. Chúa là Đấng giúp chúng ta vượt lên. Từa tựa như trong phim Star Wars, mình có một nội thần lực (cười). Đó là cái nhìn lạc quan. Có những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn trong cuộc sống nhưng một “tình trạng tốt nhất” (Optimum) là điều có thể có được. Để được như vậy, tôi cần được giúp đỡ, vì thế tôi cầu nguyện.

Cô có cầu nguyện để được là Hoa hậu Thụy Sĩ không?

Không.

Cô tự giác với đức tin công giáo của mình. Cô nhìn Giáo hội bây giờ như thế nào?

Tôi nghĩ nếu Giáo hội không nói một cách cụ thể những gì xảy ra trong thế giới ngày nay thì Giáo hội không còn tính hữu ích của mình. Trong nghĩa này, Đức Phanxicô là một may mắn cho Giáo hội. Tôi đã đọc Thông điệp “Chúc tụng Chúa” và tôi thấy khái niệm môi sinh toàn diện là cực kỳ hấp dẫn. Đức Phanxicô vượt quá cương vị mà bình thường người ta chỉ định cho một giáo hoàng. Đó là một người có suy nghĩ tự do, không tìm cách làm vừa lòng mọi người. Ngài nhìn những gì đang xảy ra trên thế giới và ngài cố gắng làm một cái gì.

Có một dễ dãi chắc chắn khi tự cho là bất khả tri.

Đôi khi người ta nghĩ một Giáo hội bất biến và thụ động. Đức Phanxicô năng động, ngài làm nhúc nhích mọi sự. Nhờ ngài mà Giáo hội suy nghĩ lại về cương vị của gia đình theo tình trạng ngày nay, chứ không phải như một vài người muốn nó phải là. Khi người ta nghe nói về gia đình tái tạo, về kết hợp đồng tính ở Thượng Hội Đồng thì người ta nghĩ rằng, mọi sự đang nhúc nhích.

Còn về vấn đề hôn nhân, tôi đọc và biết khái niệm của Giáo hội đã tiến triển theo dòng lịch sử. Tôi nghĩ đã có một thời mà hôn nhân đến sau khi sinh con. Và người ta đã chính thức hóa theo đó. Lịch sử dạy cho chúng ta nhiều chuyện.

Bởi vì cô vừa nói đến lịch sử, bây giờ chúng ta trở lại với lịch sử. Từ khởi đầu Kitô giáo, thẩm mỹ đóng một vai trò nền tảng trong Giáo hội. Cô có thấy một liên kết giữa cái đẹp và Chúa không?

Rõ ràng là có. Cái đẹp và sự hài hòa giữa các hình thể, nó luôn lôi cuốn và làm dịu mắt. Cũng như tôi đặt câu hỏi về hạnh phúc, tôi cũng tìm để hiểu cái đẹp là gì. Để nắm được ý nghĩa, phải vượt lên sự tạo hình. Theo tôi, nét đẹp là con đường tiến đến sự hài hòa, tiến đến “tình trạng tốt nhất” (Optimum) như tôi vừa nói ở trên. Nó phải hướng về đó.

Như thế một cô Hoa hậu Thụy Sĩ là như thế nào?

Đó là một cái gì toàn diện, vượt lên sự tạo hình. Thân thể của tôi là một trụ đỡ. Tôi cố gắng là một chút gì như bức phúng dụ để đưa mọi người đi xa hơn.

Về cái gì?

(Im lặng) Tôi muốn chuyển tải sự tự do suy nghĩ. Phải suy nghĩ. Rất nhiều người dính chặt hoặc chống đối cái gì đó chỉ vì nguyên tắc, họ không thể nào giải thích rõ lý do. Trong lãnh vực mà tôi quan tâm, có một sự dễ dãi chắc chắn để tự cho mình theo thuyết bất khả tri. Đó là vòng ảnh hưởng hiện đại ngăn không cho chúng ta biện minh: lúc mà người ta không tin ở Chúa, người ta không cần giải thích.

Như thế đức tin kitô là một loại “lật đổ”?

Gần như vậy. Và nó còn làm tôi thích mười lần hơn: tôi có tinh thần phản biện. Cùng một lúc, tôi cởi mở với việc có một ngày nhận thấy Chúa không tồn tại. Cởi mở đến đó. Tôi không có một sự thật độc quyền, có thể một người vô thần họ có lý của họ. Phận sự của tôi là không được ngừng suy nghĩ.

Lauriane Sallin

Tân Hoa hậu Thụy Sĩ 22 tuổi, người vùng Belfaux, ở hạt Fribourg. Cô học lịch sử nghệ thuật và tiếng Pháp ở Đại học Fribourg. Ngày 7 tháng 11-2015, cô được bầu là người đẹp nhất nước Thụy Sĩ. Một chức vị mà cô tặng ngay cho chị cả Gaelle của cô vừa chết vì ung thư óc mùa xuân vừa qua. Trong cương vị Hoa hậu Thụy Sĩ, cô là người trung gian cho tổ chức Corelina, một hiệp hội giúp các em bé bị bệnh tim.

Marta An Nguyễn chuyển dịch

Posted on 12/21/2015

Việt Nam có cơ hội thắng không nếu kiện Trung Quốc đòi lại chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa?

Việt Nam có cơ hội thắng không nếu kiện Trung Quốc đòi lại chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa?

Ls Nguyễn Văn Thân

Trong tháng 8 năm 2014, Trung tâm Phân tích Hải quân Hoa Kỳ (Centre for Naval Analyses) đã xuất bản một tập sách dài 132 trang của Raul Pedrozo, một vị giáo sư luật quốc tế tại Naval War College. Mục đích của tập sách này là cung cấp những luận cứ pháp lý của cả hai bên Trung Quốc lẫn Việt Nam về chủ quyền tại Biển Đông cho giới lãnh đạo chính trị và quân sự Hoa Kỳ. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã nhiều lần bày tỏ lập trường là Hoa Kỳ không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền nhưng kêu gọi các bên giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và theo luật quốc tế.

Dựa trên những bằng chứng lịch sử và luận cứ mà hai bên nêu ra, Gs Pedrozo kết luận rằng yêu sách chủ quyền của Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có cơ sở vững chắc hơn Trung Quốc. Có thể tóm lược phần kết luận của Giáo Sư Pedrozo như sau: từ thế kỷ 18, Việt Nam đã rõ ràng biểu hiện ý chí thực hiện chủ quyền bằng cách thành lập các công ty và biệt đội dưới sự bảo trợ của nhà nước khai thác tài nguyên tại các quần đảo này. Ý chí này được thể hiện qua sự sáp nhập vào lãnh thổ và qua hình thức biểu tượng thụ đắc chủ quyền trong thế kỷ 19 và được củng cố bởi các hành động chiếm hữu hòa bình, quản trị hữu hiệu và liên tục của các vua nhà Nguyễn cho tới thời kỳ đô hộ Pháp. Sau đó, Pháp đã thay thế Việt Nam quản lý những hòn đảo này và đưa quân chiếm đóng trong thập niên 1930 cho tới khi Pháp rời Đông Dương vào năm 1956. Sau khi Pháp rút quân, Việt Nam Cộng Hòa kế thừa và sau đó là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tiếp tục hành xử chủ quyền ngay cả sau khi Trung Quốc đã chiếm đóng bất hợp pháp một phần các hòn đảo này trong năm 1956 và toàn vẹn Hoàng Sa từ năm 1974.

Trong khi đó, Trung Quốc chỉ bắt đầu để ý tới Hoàng Sa vào năm 1909, 2 thế kỷ sau khi Việt Nam đã thực hiện chủ quyền trên quần đảo này. Sự chiếm đóng của Trung Quốc vào năm 1956 và chiếm đóng bằng vũ lực vào năm 1974 rõ ràng vi phạm Điều 2(4) của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc 1945 và do đó Trung Quốc không thể xác lập chủ quyền hợp pháp với quần đảo Hoàng Sa.

Với Trường Sa, Pháp sáp nhập quần đảo này được xem là lãnh thổ vô chủ trong thập niên 1930. Vào thời điểm này, chiếm đóng bằng vũ lực còn là một phương thức hợp pháp vì Hiến Chương Liên Hiệp Quốc chưa ra đời. Anh Quốc kiểm soát một vài hòn đảo tại Trường Sa trong thập niên 1880 quyết định từ bỏ yêu sách chủ quyền sau khi Pháp sáp nhập và chiếm đóng. Do đó, chủ quyền Trường Sa của Pháp hoàn toàn hợp lệ theo luật quốc tế. Pháp chuyển nhượng chủ quyền sang Việt Nam Cộng Hòa trong thập niên 1950.

Tới năm 1956 thì Trung Hoa Dân Quốc chiếm đóng Đảo Ba Bình bất hợp pháp. Trung Quốc cũng chiếm đóng một vài đảo bất hợp pháp từ năm 1988. Những sự chiếm đóng này vi phạm Điều 2(4) của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và do đó không thể xác lập chủ quyền cho Đài Loan hoặc Trung Quốc. Trung Quốc không xác lập chủ quyền chỉ vì Trung Quốc đã liên tục phản đối chủ quyền của Việt Nam được Pháp chuyển nhượng theo luật quốc tế.

Bài phân tích của Gs Pedrozo có tầm quan trọng đặc biệt vì tính độc lập, khách quan, tổng hợp có hệ thống và tiêu chuẩn hàn lâm của nó. Gs Pedroza đã xem xét các công trình nghiên cứu của các học giả gồm có Ts Marwyn Samuel, Ts Greg Austin và Gs Monique Chemillier-Gendreau. Ts Marwyn Samuel là một học giả người Mỹ và là tác giả của quyển Tranh chấp ở Biển Đông (Contest in the South China Sea) xuất bản năm 1982 mà trong đó ông kết luận yêu sách chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa mạnh hơn của Việt Nam nhưng với Trường Sa thì lại đáng ngờ. Ts Greg Austin là giáo sư tại Viện Đông Tây (EastWest Institute) ở New York xuất bản cuốn Biên giới đại dương của Trung Quốc (China’s Ocean Frontier) năm 1998. Như Ts Samuel, Ts Austin cho rằng yêu sách chủ quyền của Trung Quốc mạnh hơn Việt Nam tại Hoàng Sa nhưng nhiều lắm chỉ bằng với những quốc gia khác đối với Trường Sa.

Bài phân tích của Gs Pedrozo chia sẻ quan điểm của Gs Monique Chemillier-Gendreau, tác giả của quyển Chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa xuất bản năm 2000. Bà là giáo sư danh dự của Đại học Paris Diderot về lãnh vực công pháp quốc tế.

Câu hỏi đặt ra là người dân Việt Nam có nắm vững những bằng chứng lịch sử và luận cứ pháp lý liên quan tới chủ quyền của Hoàng sa và Trường Sa hay không? Nếu không thì làm sao có thể bảo vệ chủ quyền của hai quần đảo này một cách hiệu quả? Quan trọng hơn, nhà cầm quyền Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng hồ sơ pháp lý để tiến hành kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế đòi lại chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa hay chưa? Bằng không thì tới khi nào sự hiện diện và kiểm soát Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa của Trung Quốc sẽ trở thành một sự thật không thể thay đổi được mà thế giới phải chấp nhận như chuyện đã rồi?

Các hình thức thụ đắc lãnh thổ

Có năm hình thức một quốc gia có thể thụ đắc lãnh thổ đó là khai hoang (accretion), chuyển nhượng (cession), chinh phục (conquest), tập quán (prescription) và chiếm hữu (occupation). Khai hoang xảy ra khi lãnh thổ được nới rộng qua tiến trình địa lý ví dụ như đảo mới hình thành vào cuối năm 2013 do phun trào núi lửa dưới đáy biển gần chuỗi đảo Ogasawara của Nhật Bản đã lớn nhanh gấp 70 lần trong bốn tháng. Chuyển nhượng là khi một quốc gia kế thừa lãnh thổ được chuyển lại từ một quốc gia có chủ quyền hợp pháp qua một hiệp ước. Quốc gia thu nhận không thể nhận hơn được những gì quốc gia chuyển nhượng có. Chinh phục là sự xâm chiếm lãnh thổ bằng vũ lực. Trong lịch sử thì phương pháp này được công nhận nhưng trở thành bất hợp pháp kể từ tháng 10 năm 1945 khi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc bắt đầu có hiệu lực. Tập quán là khi một quốc gia chiếm đóng lãnh thổ của quốc gia khác và hành xử chủ quyền đối với lãnh thổ đó một cách công khai, hòa bình và liên tục qua một khoảng thời gian dài được xem như là không thay đổi được. Chiếm hữu là khi quốc gia chiếm đóng lãnh thổ vô chủ (terra nullius). Khám phá không chưa đủ mà phải thật sự chiếm đóng như phán quyết của tòa xác nhận trong vụ kiện Island of Palmas Case (Netherlands/USA) 1928. Chiếm hữu phải hội đủ hai yếu tố gồm có ý chí chiếm hữu và hành động chiếm hữu thật sự bao gồm các hình thức quản lý và cai trị như Tòa thẩm định trong vụ kiện Clipperton Island Arbitration (Mexico v France) 1931.

Mức độ quản trị có thể khác biệt tùy theo yếu tố địa lý và thiên nhiên. Luật quốc tế ghi nhận trong một vài trường hợp đặc biệt, quốc gia không nhất thiết phải hành xử chủ quyền tại bất cứ nơi nào và ở mọi thời điểm. Có lúc có thể có một sự gián đoạn nào đó đặc biệt là với lãnh thổ xa xôi có môi trường khắc nghiệt.

Luận cứ chủ quyền của Việt Nam

Việt Nam lập luận rằng là Việt Nam đã chiếm hữu và liên tục thực thi chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ 17. Việt Nam đưa ra các nguồn tài liệu chính thức của nhà nước Đại Nam gồm có Đại Nam thực lục tiền biên (1600 – 1775), Toàn tập Thiên Nam thống chí lộ đồ thư (1680 – 1705), Phủ biên tạp lục (1776), Đại Nam thực lục chính biên (1848), Đại Nam nhất thống chí (1865 – 1882), Lịch triều hiến chương ngoại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo luợc (1876), nhiều bản tấu trình, dụ của các vua và hàng loạt bản đồ trong thế kỷ 17, 18 và 19.

Bằng chứng chủ quyền lịch sử của Việt Nam được giới Tây phương xác nhận. Quyển Ghi chú địa lý Nam Kỳ (Note on the Georgraphy of Cochinchina) của nhà truyền giáo Pháp Monseigneur Jean-Louis Taberd xuất bản năm 1837 miêu tả Hoàng Sa như Bãi Cát Vàng và là một bộ phận của Nam Kỳ. Quyển sách thứ hai của tác giả mang tựa đề Lịch sử và khái niệm tôn giáo, phong tục và đạo lý của mọi người” (History and Description of the Religion, Customs and Morals of All Peoples) xuất bản năm 1838 ghi nhận Hoàng Sa đã trực thuộc Nam Kỳ trong suốt 34 năm trước đó.

Jean-Baptiste Chaigneau (1769-1832) là một người lính hải quân Pháp đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử Việt Nam vào thế kỷ 19. Ông theo Linh Mục Pigneau de Behaine phò Nguyễn Phúc Ánh giành lấy ngai vàng. Ông lấy tên Việt là Nguyễn Văn Thắng và làm quan trong triều đại nhà Nguyễn từ 1794 tới 1826, lấy vợ Việt là bà Hồ Thị Huệ và có một đứa con trai tên Nguyễn Văn Đức. Trong quyển hồi ký Memoires sur la Cochinchina, ông ghi lại là Hoàng Đế Gia Long đã chính thức sáp nhập Hoàng Sa vào năm 1816. Nhà truyền giáo Đức Karl Gutzlaff, tác giả của bài viết mang tựa Geography of the Cochinchinese Empire xuất bản năm 1849 xác nhận Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam và trong đó có đoạn “Từ ngàn xưa, có nhiều người từ Hải Nam thường xuyên ghé thăm hàng năm rồi sau đó đi xuống tới Borneo. Chính quyền An Nam nhận thấy cần phải thu lệ phí và cho một đơn vị đồn trú thu tiền những người thăm viếng cũng như bảo vệ cho ngư dân Việt“.

Ngoài ra, luận cứ của Việt Nam cũng được một số tác giả Tây phương khác chứng thực như Nhà thám hiểm Pháp Adophe Philibet Dubois de Jancigny, Aldrino Balbi (Ý) tác giả cuốn The Italian Compendium of Georgraphy xuất bản năm 1850 và Khâm Sứ Pháp Le Fol trong lá thư ngày 22/1/1929 gửi Toàn quyền Pháp có ghi rõ là Hoàng đế Gia Long đã chính thức chiếm hữu Hoàng Sa vào năm 1816.

Phát triển kinh tế

Tài liệu sớm nhất mà Việt Nam đưa ra là Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá viết vào thế kỷ 17. Đỗ Bá ghi lại Chúa Nguyễn đã lập Đội Hoàng Sa để khai thác quần đảo từ thế kỷ 17. Mỗi năm vào cuối tháng mùa Đông, Chúa Nguyễn cho một hạm đội gồm 18 thuyền đi ra đảo để thu thập vàng bạc, tiền tệ và súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm ra tới đảo mất một ngày rưỡi nhưng nếu đi từ Sa Kỳ thì chỉ mất nửa ngày. Theo Sử gia Võ Long Tê, tuy sách của Đỗ Bá được viết vào năm 1686 nhưng có trích dẫn từ quyển Bản Đồ Hồng Đức. Hồng Đức là tên hiệu của vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Có nghĩa là Việt Nam đã bắt đầu hành xử chủ quyền từ thế kỷ 15.

Một tài liệu quan trọng khác là Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776. Lê Quý Đôn (1726 – 1784) sinh tại làng Diên Hà, tỉnh Thái Bình. Ông dự thi Hương và đỗ đầu giải nguyên lúc 17 tuổi. Ông làm quan thời nhà Lê và cũng là tác giả và biên tập của hàng chục quyển sách. Trong Phủ biên tạp lục, ông viết là “Chúa Nguyễn đã lập ra Đội Hoàng Sa gồm có 70 người. Hàng năm họ thay phiên nhau ra đảo khởi hành từ đầu tháng Giêng. Mỗi người được cấp 6 tháng lương khô. Họ tự do bắt chim, rùa và cá để ăn. Họ tìm thấy nhiều vật quý từ những chiếc tàu bị chìm như kiếm đồng, ngựa đồng, bạc, nhẫn và đồng bạc… Họ trở về trong tháng 8 và ghé Phú Xuân (Huế) để trao lại những vật quý cho vào kho. Sau đó họ được cấp chứng chỉ, thù lao và cho về nhà“.

Thành viên của Đội Hoàng Sa được miễn thuế và nhận tiền thưởng. Nhưng người nào trốn tránh trách nhiệm thì cũng bị trừng phạt nặng nề.

Tới đầu thế kỷ 18 thì các chuyến hải hành của Đội Hoàng Sa bị giảm từ 6 xuống 2 tháng. Lý do là thu nhập ngày càng ít.

Sau đó, triều đại Tây Sơn (1778 – 1802) tiếp tục các chuyến hải hành tới Hoàng Sa. Tây Sơn Thượng Tướng Công ra lệnh cho Chỉ huy Đội Hoàng Sa Hồi Đức Hầu dẫn 4 chiếc tàu đi ra Hoàng Sa để thu thập vàng, đồng, súng, rùa biển và những thứ quý giá khác mang về kinh thành. Những chuyến đi này cũng được nhắc tới trong quyển Hành trình tới Nam Kỳ của John Barrow (Anh) xuất bản năm 1806 ghi lại chuyến đi của Bá tước George Macartney tiếp kiến triều đình nhà Thanh.

Sự khai thác kinh tế một cách có hệ thống tiếp tục khi Bộ Kinh tế cấp bằng khai thác phosphate cho Lê Văn Cang vào năm 1956 tại các đảo Quang Anh, Hoàng Sa và Hữu Nhật cho tới năm 1964. Từ 1957 tới 1962, hơn 24.000 tấn phosphate được lấy từ các đảo này và chuyển đi cho một công ty ở Singapore (Yew Huatt). Tháng 7, 1973, Việt Nam cấp giấy phép cho một công ty Nhật khai thác phosphate tại Hoàng Sa nhưng không thi hành được vì bị Trung Quốc tấn công và chiếm hết quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974.

Quản trị hữu hiệu (effective administration)

Việt Nam từng bước chiếm hữu và hành xử chủ quyền tại Hoàng Sa. Năm 1816, vua Gia Long đã ra lệnh cho Đội Hoàng Sa và hải quân triều đình ra khảo sát, đo thủy lộ, cắm cờ và tiến hành nghi thức thượng kỳ trên đảo chính thức chiếm hữu. Bản đồ đầu tiên của nhà Nguyễn xuất bản năm 1830 bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa trong lãnh thổ Việt Nam. Ba năm sau tức 1833, vua Minh Mạng ra lệnh trồng cây và cột trên đảo để giúp thuyền buôn tránh bị mắc cạn. Năm 1834, vua sai Trương Phúc Sĩ dẫn 29 thủy thủ ra đảo để vẽ bản đồ. Năm 1835, vua hạ chỉ cho Đô Đốc Phạm Văn Nguyên đặt bia đá và xây chùa trên đảo. Năm 1836, vua ra lệnh cho Phạm Hữu Nhật đóng 10 cọc chủ quyền trên quần đảo với hàng chữ “Vua y lời tâu, phái suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi, chuẩn cho mang theo 10 cái bia gỗ, đến nơi đó dụng làm dấu ghi“. Mặt bài khắc những chữ “Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng mệnh đi Hoàng Sa trong nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ“.

Sau đó, thông tin thu thập được dùng để vẽ bản đồ chi tiết năm 1838 ghi rõ Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam cũng trợ cứu chiếc tàu Gootebrok của Hòa Lan bị chìm gần Hoàng Sa năm 1634 và 3 chiếc tàu Hoà Lan khác trên đuờng từ Nhật đến Batavia vào năm 1714. Một chiếc tàu buôn của Pháp vào năm 1830 và tàu buôn Anh năm 1836 được chính quyền địa phương tại Đà Nẵng và Bình Định giúp đỡ cung cấp thức ăn và chỗ ở khi tàu của họ bị đắm.

Thời kỳ đô hộ

Pháp tấn công Việt Nam vào năm 1858. Hải quân Pháp chiếm Đà Nẵng và Gia Định (Sài gòn) vào năm 1858 và 1859. Hai năm sau, Việt Nam nhượng luôn ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định và Định Tường cho Pháp cùng với đảo Côn Sơn theo Hòa ước Nhâm Tuất (1862). Nam Kỳ trở thành lãnh thổ của Pháp năm 1864. Một thập niên sau, Pháp tấn công Hà Nội và triều đình Huế ký Hòa ước Quý Mùi (1883) biến toàn bộ Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp.

Là nước bảo hộ, Pháp thừa kế mọi chủ quyền của Việt Nam. Tới 1920, nhân viên hải quan Pháp thường xuyên thanh tra Hoàng Sa để ngăn chận nạn buôn lậu vũ khí và bạch phiến. Công tác này tiếp tục trong thập niên 1930. Năm 1929, phái đoàn Pierre de Rouville đề nghị xây cất bốn hải đăng trên đảo Tri Tôn, đảo Linh Côn, đá Bắc và đá Bông Bay. Năm 1930, chính quyền Pháp ở Đông Dương cử phái đoàn đến treo cờ ở Hoàng Sa. Trung Quốc lên tiếng phản đối và Pháp đề nghị đưa vấn đề ra tòa án quốc tế nhưng Trung Quốc từ chối. Năm 1932, Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên, Huế. Năm 1937, Pháp đưa người ra đảo nghiên cứu việc xây cất trạm kiểm soát hàng hải và không lưu và cất hải đăng trên đảo Hoàng Sa (Pattle Island), một trong những đảo lớn ở quần đảo Hoàng Sa. Năm 1939, Toàn quyền Joseph Jules Brevie chia quần đảo Hoàng Sa thành hai nhóm: nhóm An Vĩnh (Amphramite) ở phía đông bắc và nhóm Lưỡi Liềm (Crescent) ở phía tây nam. Ngoài ra, Pháp và Việt Nam đóng quân cảnh sát thường trực trên đảo Hoàng Sa thuộc nhóm Lưỡi Liềm và đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc nhóm An Vĩnh. Quân Pháp và Việt Nam đóng quân tại Hoàng Sa tới 1946 nhưng có lúc bị gián đoạn vì bị quân Nhật chiếm đóng. Sau khi Nhật đầu hàng, Pháp và Trung Hoa Dân Quốc (Tưởng Giới Thạch) đồng ý là Pháp sẽ thay thế quân Tưởng thi hành nhiệm vụ giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra (bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa) trước ngày 31/3/1946. Quân Pháp trở lại Hoàng Sa trong tháng 6, 1946. Nhưng cuộc chiến với Việt Minh buộc quân Pháp rời Hoàng Sa trong tháng 9 năm đó.

Khi biết được quân của Tưởng Giới Thạch vẫn chưa rời Hoàng Sa sau khi giải giới quân Nhật, Pháp chính thức ra thông báo ngoại giao phản đối vào ngày 13/1/1947. Tàu chiến Le Tonkinois cũng được điều đến đảo Phú Lâm nhưng khi thấy quân số ít hơn, quân Pháp – Việt rút quân về đảo Hoàng Sa sửa chữa lại trạm khí tượng và biến nó thành trạm điện tín quốc tế 48860 vào năm 1947. Một lần nữa, Pháp đề nghị đưa tranh chấp ra Tòa án Quốc tế nhưng Trung Quốc từ chối. Lúc đó, Pháp cũng nghĩ tới việc đơn phương kiện Trung Quốc nhưng đình lại vì cho rằng kết quả sẽ tốt hơn khi Việt Nam có một thực thể pháp lý thống nhất. Năm 1953, Pháp đưa tàu do thám Ingenieur en chef Girod vào Hoàng Sa để khảo sát khí tượng, địa lý, địa chất và môi trường sinh thái.

Cùng lúc với các hành động củng cố chủ quyền tại Hoàng Sa, Pháp cũng đưa tàu De Lanessan tới khảo sát ở Trường Sa vào năm 1927. Năm 1930, tàu La Malicieuse đến Trường Sa và làm lễ thượng kỳ Pháp. Đây là hành động chiếm hữu và hành xử chủ quyền đầu tiên tại Trường Sa. Vào ngày 23/9/1930, Pháp gửi điện tín cho các cường quốc thông báo là Pháp đã chiếm hữu Trường Sa vô chủ.

Trong tháng 11, 1928, một công ty phosphate mới ở Bắc Kỳ xin phép khai thác phosphate ở Trường Sa. Sau đó, Pháp gửi các tàu Alerte, Astrobale và De Lanessan tới và thực sự chiếm đóng quần đảo Trường Sa trong tháng 4 năm 1933. Một trụ sở hành chánh được xây cất trên đảo Ba Bình trong tháng 12 và Toàn quyền Pasquier ký Nghị Định 4762-CP ngày 21/12/1933 sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Pháp cho xây một đài phát thanh và trạm khí tượng mang mã số quốc tế 48919 trên đảo Thị Tứ vào năm 1938 và quản lý các phương tiện này cho tới năm 1941 khi quân Nhật đổ quân lên chiếm đóng. Pháp cũng có nhiều công trình khảo sát khoa học hữu ích điển hình là Báo cáo thứ 22 của Viện Khí tượng Đông Dương năm 1934. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Pháp đưa tàu chiến Chevreud trở lại Trường Sa trong tháng 10 năm 1946 và dựng bia đá chủ quyền trên đảo Ba Bình. Khi biết quân Tưởng vẫn còn trụ lại trên đảo Ba Bình, Pháp đã gửi công hàm phản đối. Quân Tưởng rút lui nhưng lén lút trở lại chiếm đảo Ba Bình từ ngày 8/6/1956.

Việt Nam dần dần giành lại độc lập sau Đệ Nhị Thế Chiến. Vào ngày 11/3/1945, vua Bảo Đại tuyên bố độc lập nhưng thoái vị năm tháng sau đó vào ngày 19/8/1945, nhường quyền lãnh đạo cho Việt Minh lúc đó kiểm soát Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập tại Ba Đình và thành lập Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH). Trong tháng 3, 1946, Pháp ký Hiệp ước sơ bộ với Hồ Chí Minh và đồng ý VNDCCH là một quốc gia độc lập trong Liên Bang Đông Dương và Khối Liên Hiệp Pháp. Vào ngày 8/3/1949, Pháp ký Hiệp ước Elysée với Quốc trưởng Bảo Đại công nhận Việt Nam là một nước độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp.

Vào ngày 14/10/1950, Pháp chính thức giao trả Hoàng Sa cho Việt Nam. Lễ bàn giao do Tướng Phan Văn Giáo chủ trì. Tại Hội Nghị San Francisco trong tháng 5, 1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu (chính quyền Bảo Đại) xác nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam trước đại diện 51 quốc gia mà không có ai lên tiếng phản đối.

Quân đội VNCH nhận lãnh trách nhiệm phòng thủ Hoàng Sa và Trường Sa trong tháng 8, 1956. Hải quân VNCH đổ quân lên các đảo Hoàng Sa trong tháng 4 và Hữu Nhật (Robert Island) trong tháng 7, 1956. Cũng trong năm đó thì Bộ Khai thác, Kỹ thuật và Tiểu công tiến hành khảo sát các đảo Hoàng Sa, Quang Ánh, Hữu Nhật và Duy Mộng (Drummond Island). Thủy quân lục chiến nhận nhiệm vụ phòng thủ đối với các đảo này tới 1959 khi trách nhiệm này được chuyển sang cho Quân Khu tỉnh Quảng Nam. Vào tháng 2, 1959, quân đội VNCH đuổi 80 ngư dân Trung Quốc cư ngụ bất hợp pháp trên đảo Quang Hòa (Duncan island) và chiếm đóng đảo này.

Năm 1960, Việt Nam bổ nhiệm Nguyễn Bá Thước làm chỉ huy dân sự đầu tiên đến quản lý Hoàng Sa. Sang năm 1961, quản lý hành chánh Hoàng Sa được chuyển từ Thừa Thiên lại cho Quảng Nam và nâng lên cấp xã. Trong tháng 5, 1971, VNCH tiến hành khảo sát đảo Tri Tôn nhưng Trung Quốc tiếp tục cho quân gây hấn buộc VNCH ra tuyên bố chính thức xác nhận chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa. Vào ngày 21/1/1974, Trung Quốc đưa hải quân xâm chiếm Hoàng Sa và đẩy quân VNCH ra khỏi nhóm Lưỡi Liềm và chiếm đóng toàn bộ Hoàng Sa từ thời điểm đó.

Tương tự như ở Hoàng Sa, Việt Nam tiếp nối chủ quyền của Pháp tại Trường Sa và sáp nhập vào tỉnh Phước Tuy trong tháng 10, 1956. Từ 1961 tới 1963, hải quân VNCH từ các chiếc tàu Vạn Kiếp và Vân Đồn tiến hành đóng cọc chủ quyền tại các đảo Thị Tứ, Loại Ta, An Bang, Trường Sa, Song Tử Đông và Song Tử Tây. Sau 30/4/1975, bộ đội Bắc Việt tiếp thu quyền kiểm soát các đảo này từ hải quân VNCH. Trong tháng 3, 1976, CHXHCNVN sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Đồng Nai.

Luận cứ của Việt Nam là Pháp Pháp đã chiếm hữu hợp pháp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong thập niên 1930 và sau đó chuyển lại cho VNCH. Sau 1975, lãnh thổ của VNCH chuyển lại cho CHXNCNVN. Do đó, Việt Nam hoàn toàn có chủ quyền hợp pháp đối với hai quần đảo này.

Luận cứ chủ quyền của Trung Quốc

Trong tháng 6, 2000, Bộ Ngoại giao Trung Quốc phổ biến văn bản mang tên Vấn đề Biển Nam Trung Hoa (The Issue of South China Sea) chính thức bày tỏ lập trường của Trung Quốc. Tóm tắt là Trung Quốc đòi hết chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa bao gồm lãnh hải chung quanh các đảo dựa trên một vài yếu tố gồm có bằng chứng lịch sử, khai thác kinh tế, quản trị hữu hiệu và sự công nhận của cộng đồng quốc tế.

Tài liệu mà Trung Quốc đua ra cho là bằng chứng lịch sử gồm có một số tác phẩm như Nam Châu dị vật chí (Những vật lạ ở Phương Nam) của Vạn Chấn thời Tam Quốc (220 – 280) viết dưới thời Hán Vũ Đế, Phù Nam truyện của Khang Thái viết cùng thời, Dị vật chí của Dương Phù thời Đông Hán (25 – 220), Lĩnh ngoại Đại Pháp của Chu Khứ Phi và Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát đời Tống (960 – 1279), Đảo di chí lược của Vương Đại Uyên đời Nguyên (1271 – 1368), Đông Tây dương khảo của Trương Nhiếp (1618), Vũ bị chí của Trịnh Hòa của Mao Nguyên Nghi (1628), Hải Lục của Vương Bình Nam (1820), Hải quốc độ chí của Ngụy Nguyên (1848) và Danh hoàn chí lược của Bành Ôn Chương (1848). Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng lập luận rằng các tấm bản đồ từ thời nhà Đường, Tống, Nguyên, Minh đã liệt kê Hoàng Sa và Trường Sa vào lãnh thổ Trung Quốc. Học giả Trung Quốc kết luận rằng ngư dân Trung Quốc là những người đầu tiên khám phá và đặt chân tới hai quần đảo này.

Khai thác kinh tế

Theo Bộ Ngoại giao, ngư dân Trung Quốc đã đánh cá tại Biển Đông từ thời nhà Tấn (265 – 420). Các chuyến hải hành được tổ chức từ thời nhà Minh (1368 – 1644). Ngư dân Trung Quốc sử dụng hải đồ hướng dẫn hải trình từ Hải Nam xuống Hoàng Sa và Trường Sa. Các học giả Trung Quốc cho rằng ngư dân Trung Quốc đã bắt đầu tổ chức các chuyến đi đánh cá hàng năm tại Biển Đông từ khi Trung Quốc Cộng Hòa (Trung Hoa Dân Quốc) ra đời năm 1912. Năm 1918, Okura Unosuke (Nhật) đã viết sách mang tựa Những hòn đảo bão tố (Stormy Islands) diễn tả cảnh ngư dân Trung Quốc sinh sống và trồng trọt trên đảo. Năm 1933, sử gia Ling Chungshen viết bài nhắc đến sự hiện diện của ngư dân Trung Quốc trên một số đảo tại Trường Sa. Mặc dù Bộ Ngoại giao nhìn nhận là sự hiện diện này không được chính quyền Trung Quốc bảo trợ nhưng các hoạt động đánh cá sau đó được nhà nước hỗ trợ. Hơn nữa, ngư dân phải đóng thuế và lệ phí để được quyền khai thác tại Trường Sa.

Năm 1910, triều đình nhà Thanh kêu gọi đấu thầu hợp đồng khai thác các đảo tại Biển Đông và thông lệ này tiếp diễn dưới thời Trung Hoa Dân Quốc (1912 – 1949) nhưng chỉ diễn ra tại Hoàng Sa. Năm 1949, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa của Mao Trạch Đông tiếp tục chính sách khai thác tại Biển Đông và phần lớn là tập trung tại Hoàng Sa. Trung Quốc đã nhiều lần và liên tục phản đối mọi sự khai thác kinh tế từ phía Việt Nam gồm có hợp đồng khai thác dầu khí giữa Việt Nam và Liên Xô vào năm 1980, giữa Petro Vietnam và Conoco một công ty năng lượng của Mỹ vào năm 1996, giữa Petro Vietnam và ONGC của Ấn Độ vào năm 2011 và giữa một nhóm công ty dầu khí Việt Nam và Gasprom của Nga. Tháng 5, 2014, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng tranh chấp tại Hoàng Sa với sự hộ tống của nhiều tàu nhà nước trong đó có 7 tàu chiến.

Trung Quốc cũng đã sử dụng lực lượng hải quân ngăn cản ngư dân Việt Nam và Phi Luật Tân đánh cá trong vùng biển tranh chấp. Tháng 5, 2011, tàu Trung Quốc ngăn cản và cắt đứt dây cáp tàu Bình Minh của Việt Nam. Hai tuần sau đó, tàu Trung Quốc cố ý đâm vào tàu Viking II. Tháng 11, 2012, tàu Trung Quốc cắt dây cáp của tàu Bình Minh 02.

Quản trị hữu hiệu

Trung Quốc cho rằng họ đã kiểm soát và quản trị các đảo tại Biển Đông từ thế kỷ 13. Ví dụ trong lịch sử thời nhà Nguyên đã có những câu chuyện tuần tra của lính hải quân trên các quần đảo này. Học giả Trung Quốc cho rằng hải quân Trung Quốc đã tuần tra Biển Đông từ thời nhà Hán (206 trước Công Nguyên – 220 sau Công Nguyên). Năm 43, Mã Viện chinh phục Bắc Việt và cho hải quân thám hiểm Trường Sa. Hải quân Trung Quốc tiếp tục tuần tra Biển Đông từ thời nhà Tấn, Tống, Minh, Nguyên, Thanh và Cộng Hòa. Năm 1279, Hoàng Đế nhà Nguyên sai Guo Shoujing đi khảo sát Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Năm 1292, một lực lượng viễn chinh của quân Nguyên dẫn đầu bởi Shi Bi đưa tàu đi ngang Hoàng Sa và Trường Sa. Dưới thời nhà Minh, hải quân Hải Nam chịu trách nhiệm tuần tra ở Biển Đông. Bia mộ của Tướng Qian Shicai có khắc hàng chữ “Quảng Đông kề cận Biển Đông và lãnh thổ ngoài biển đều thuộc nhà Minh. Tướng Qian dẫn hơn 10000 lính và 50 tàu lớn tuần tra hàng chục ngàn đảo tại Biển Đông“. Thời nhà Minh, Trịnh Hòa chỉ huy 7 chuyến thám hiểm và khảo sát Ấn Độ Dương cũng như tất cả các đảo lớn tại Biển Đông. Nhà Thanh (1644 – 1911) tiếp tục công tác tuần tra này. Bản đồ nhà Thanh cho thấy lãnh thổ Trung Quốc bao gồm các đảo tại Biển Đông.

Ngoài những tác phẩm, sách vở và bản đồ, học giả Trung Quốc cũng dựa vào những phương tiện khai thác, đánh cá, dự báo thời tiết, chứng chỉ cho phép khai thác để củng cố yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Một số tài liệu cũng ghi chú ý định của nhân viên hải quan dưới thời nhà Thanh xây cất hải đăng trên một số đảo tại Biển Đông.

Sau cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911, chính quyền Quảng Đông đặt Hoàng Sa dưới quyền kiểm soát của Hải Nam. Quyết định này được Chính quyền quân sự miền Nam xác nhận vào năm 1921. Bộ Ngoại giao cho rằng Trung Quốc đã hành xử chủ quyền gồm có cung cấp cờ cho ngư dân đánh cá tại Trường Sa, tổ chức các chuyến du hành và khảo sát và cho phép in bản đồ ghi tên của các đảo tại Trường Sa.

Năm 1928, chính quyền Quảng Đông thành lập một đội quân tiến hành các công tác khảo sát Hoàng Sa. Từ 1932 tới 1935, một Ủy Ban được thành lập duyệt xét các bản đồ và cộng thêm 132 địa danh từ các đảo ở Biển Đông. Năm 1936, Trung Quốc cũng tiến hành xây cất đài phát thanh và trạm khí tượng tại Hoàng Sa.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, quân của Trung Hoa Dân Quốc tiến ra Hoàng Sa và Trường Sa để thi hành các công tác xây cất các phương tiện trên đảo. Tới năm 1950, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) rút hết quân ra khỏi Biển Đông sau khi quân cộng sản lên tới Hải Nam. Nhưng cộng quân không tiến chiếm các đảo Ba Bình và Phú Lâm mà Đài Loan bỏ lại. Đài Loan quay lại chiếm đóng đảo Ba Bình từ 1956. Trung Quốc cũng tiến chiếm đảo Phú Lâm trong thời điểm đó.

Phản đối liên tục

Trung Quốc cho rằng sự phản đối liên tục mọi yêu sách chủ nguyền của nước khác là bằng chứng hành xử chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trường hợp đầu tiên là sự kiện liên quan tới một tàu khảo sát của Đức vào năm 1883. Sau khi triều đình nhà Thanh lên tiếng phản đối, Đức ngưng hoạt động khảo sát trong khu vực. Khi Pháp chiếm hữu Hoàng Sa trong thập niên 1930, Trung Quốc chính thức gửi công hàm phản đối tới Bộ Ngoại giao Pháp vào ngày 27/7/1932. Hai tháng sau, Trung Quốc gửi thư đề ngày 29/9/1932 cho Pháp trong đó có đoạn “chính quyền địa phương tỉnh Quảng Đông đã cấp giấy phép khai thác Hoàng Sa cho công dân Trung Quốc và nghi ngờ về sự hiện diện của người Việt tại đây từ năm 1816 và 1835. Chính quyền Trung Quốc yêu cầu Pháp cung cấp bằng chứng về các bia đá và chùa do Việt Nam xây cất“. Một công hàm khác lập luận rằng Việt Nam không thể sáp nhập Hoàng Sa vào năm 1816 vì Việt Nam lúc đó là một “chư hầu của Trung Quốc“.

Trung Quốc liên tục gửi thư phản đối cho Pháp từ 1938 tới 1947 nhưng từ chối đưa tranh chấp ra tòa.

Từ 1949, Trung Quốc (Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa) tiếp tục thái độ phản đối khi VNCH tiếp nhận đảo Hoàng Sa từ Pháp và phản ứng bằng cách đưa quân chiếm nhóm An Vĩnh ở phía đông. Tháng 5, 1956, Trung Quốc phản đối yêu sách chủ quyền của Phi Luật tân về 7 hòn đảo tại Trường Sa.

Xác nhận chủ quyền

Sau khi VNCH tiếp quản Trường Sa vào năm 1956 và các đảo Hữu Nhật, Hoàng Sa và Quang Ánh năm 1957, Trung Quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý bao gồm các đảo trong Biển Đông. Ngày 20/1/1974, lực lượng hải quân Trung Quốc đánh đuổi quân VNCH ra khỏi đảo Hoàng Sa. Ngày 14/3/1988, quân Trung Quốc đụng độ với Việt Nam tại Gạc Ma ở Trường Sa. Hậu quả là một số tàu Việt Nam bị đánh chìm và hơn 70 bộ đội hải quân Việt Nam bị giết. Sau đụng độ này, Trung Quốc tiến chiếm các đá Châu Viên, Chữ Thập, Ga Ven, Tư Nghĩa, Vành Khăn và Xu Bi.

Năm 2009, Trung Quốc nộp hồ sơ cho Liên Hiệp Quốc tuyên bố chủ quyền toàn bộ Biển Đông. Năm 2012, Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa quản lý Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 29/11/2013, Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh cá do chính quyền Hải Nam phụ trách. Lệnh này bắt buộc tàu của nước khác phải xin phép trước nếu muốn đánh cá trong khu vực.

Danh nghĩa quốc tế

Học giả Trung Quốc đưa ra một vài dữ kiện cho rằng cộng đồng quốc tế công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. Thứ nhất, Hiệp ước Pháp – Trung 1887 phân định biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ trong đó có đoạn “các hòn đảo nhỏ từ kinh tuyến 105 hướng Đông của Paris, kinh tuyến 108 hướng Đông của Greenwich, có nghĩa là đường Nam Bắc đi ngang điểm phía Đông của đảo Trà Cổ thuộc về Trung Quốc. Đảo Cô Tô và các đảo khác ở phía Tây thuộc về An Nam“. Do đó, Trung Quốc lập luận ràng Pháp đã đồng ý nhượng Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam và Việt Nam không có gì để kế thừa chủ quyền của Pháp.

Một vài học giả Trung Quốc cũng cho rằng Pháp đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa vào năm 1921 khi Thủ tướng Aristide Briand nói rằng “vì Trung Quốc đã thành lập chủ quyền từ 1909, Pháp không thể đặt yêu sách chủ quyền với các đảo này“. Ngoài ra, khi một công ty Nhật có tên Mitsui Bussan Kaisha bày tỏ ý định khai thác phosphate tại Hoàng Sa và hỏi thăm dò ý kiến của Pháp, Thuyền trưởng Remy trả lời trong bức thư đề ngày 24/9/1920 rằng “không có văn kiện gì cho thấy ai làm chủ Hoàng Sa. Tuy nhiên, tôi có thể nói rằng nó không thuộc sở hữu của Pháp nhưng đây chỉ là dựa theo trí nhớ của tôi chớ tôi không có văn kiện nào xác nhận quan điểm này“.

Năm 1909, Jean Joseph Beauvais Lãnh sự Pháp tại Quảng Châu gửi một lá thư cho Bộ Ngoại giao nói rằng “Pháp có chủ quyền hợp pháp tại Hoàng Sa nhưng nếu chính thức lên tiếng có thể khuấy động chủ nghĩa dân tộc gây bất lợi cho Pháp “. Ngoài ra, Trung Quốc cũng cho rằng một số viên chức đề nghị Pháp từ bỏ chủ quyền Hoàng Sa để đối lấy quyền lợi của Pháp tại Trung Quốc.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Trung Quốc (của Tưởng Giới Thạch) nhận trách nhiệm giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra. Hai bên đồng ý là Trung Quốc sẽ bàn giao lại cho Pháp trước ngày 31/3/1946. Nhưng khi quân Trung Quốc tiếp tục đóng lại trên các đảo Phú Lâm và Thị Tứ sau ngày 31/3/1946 thì Pháp và Việt Nam không có phản ứng gì. Trung Quốc lập luận rằng điều này cho thấy Pháp đã ngầm công nhận chủ quyền của Trung Quốc. Tương tự nhu vậy, Pháp không phản đối khi Trung Quốc cộng các đảo ở Biển Đông vào Hòa ước Trung Nhật 1952. Hơn nữa, Pháp và Việt Nam không tiến hành chiếm đóng khi Đài Loan rút quân ra khỏi Trường Sa từ 1950 đến 1956. Cho dù Pháp chiếm hữu Trường Sa hợp pháp năm 1933 nhưng đã từ bỏ chủ quyền sau 1945. Do đó, Việt Nam không có gì để tiếp nối.

Học giả Trung Quốc lập luận là Nhật đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và đả kích yêu sách chủ quyền của Pháp vào năm 1938. Điều 2 của Hòa ước Trung Nhật 1952 ghi rằng “Nhật từ bỏ mọi yêu sách chủ quyền đối với Đài Loan, Penghu cũng như Trường Sa và Hoàng Sa“. Riêng đối với lời tuyên bố của Thủ tướng kiêm Ngoại Trưởng Trần Văn Hữu tại Hội Nghị San Francisco năm 1951, Trung Quốc trả lời là họ không tham dự nên không thể phản đối lời tuyên bố này.

Hội nghị Hàng không Dân sự đầu tiên được tổ chức tại Manila năm 1955 với sự tham dự của 15 quốc gia gồm có Đài Loan và Việt Nam. Hội nghị đồng thuận yêu cầu Đài Loan theo dõi và cập nhật tình trạng khí tượng tại Trường Sa 4 lần trong mỗi ngày. Không có ai lên tiếng phản đối đề nghị này.

Công hàm Phạm Văn Đồng

Theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc, khi tiếp đại diện lâm thời của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Lý Chí Dân ngày 15/6/1956, Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm của Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa nói với ông rằng: “Theo dữ liệu của Việt Nam, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa về mặt lịch sử là một phần lãnh thổ của Trung Quốc.”

Bên cạnh đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng chỉ ra một tuyên bố khác vào năm 1965 của miền Bắc về quy định khu tác chiến của Mỹ là “Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đã chỉ định một phần lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong quần đảo Tây Sa làm vùng chiến sự của lực lượng vũ trang Hoa Kỳ“. Ngoài ra, tài liệu của Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn kèm theo một tấm bản đồ thế giới do Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xuất bản năm 1972 trong đó ghi Tây Sa và Nam Sa theo tên Trung Quốc.

Nhưng có lẽ văn kiện quan trọng nhất mà Trung Quốc dựa vào là Công hàm Phạm Văn Đồng. Ngày 4/9/1958, Thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc ra tuyên bố lãnh hải trong đó có nội dung là “Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nay tuyên bố: (1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc…“. Tây Sa và Nam Sa là Hoàng Sa và Trường Sa theo cách gọi của Trung Quốc.

Đúng 10 ngày sau đó vào ngày 14/9/1958, Thủ tướng VNHDCH Phạm Văn Đồng gửi công hàm phản hồi cho Chu Ân Lai với nội dung là: “Thưa Đồng chí Tổng lý, Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.”

Học giả Trung Quốc lập luận rằng rõ ràng VNDCCH đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc trước đây nhưng bây giờ lại muốn nuốt lời. Lập trường này vi phạm nguyên tắc estoppel của luật quốc tế là một quốc gia không được có lập trường bất nhất hoặc tráo trở.

Đánh giá luận cứ của Trung Quốc

Một vài học giả quốc tế đồng ý là có nhiều bằng chứng cho thấy ngư dân Trung Quốc có lẽ đã biết về các đảo tại Biển Đông từ thời ngàn xưa. Tuy nhiên, hiểu biết và khám phá là hai khái niệm khác nhau. Đa số các tài liệu cổ mà Trung Quốc đưa ra cho thấy Trung Quốc có kiến thức tổng quát về các thực thể tại Biển Đông nhưng kiến thức tổng quát này không có gì hữu dụng khi nói đến luận cứ pháp lý. Hơn nữa, ngư dân Trung Quốc là những người đến sau. Hàng ngàn năm về trước, ngư dân Nam Dương, Mã Lai, Phi và Việt đã đặt chân tới các hoang đảo ở Biển Đông. Thủy thủ Mã Lai đã đưa thuyền buồm xuyên qua Ấn Độ Dương cả ngàn năm trước khi Trịnh Hòa thực hành 7 chuyến thám hiểm trong thế kỷ 15. Và Đế quốc Chàm, trước khi bị Việt Nam thôn tính trong thế kỷ 15 là những người đầu tiên xưng bá tại Biển Đông. Lập luận cho rằng ngư dân Trung Quốc khám phá Biển Đông không có gì đáng tin cậy.

Trung Quốc đưa ra một số bản đồ mà họ cho rằng chứng minh chủ quyền của họ tại Biển Đông. Thật ra theo luật quốc tế, bản đồ có giá trị rất thấp khi được sử dụng làm bằng chứng trong các vụ tranh chấp lãnh thổ. Trừ khi bản đồ được đính kèm vào hiệp ước hoặc một văn kiện pháp lý. Không có bản đồ nào mà Trung Quốc đưa ra có thể được xem như là một hiệp ước hoặc văn kiện có tính pháp lý ràng buộc giữa Trung Quốc với Việt Nam hoặc Pháp liên quan tới Biển Đông.

Khám phá và chiếm hữu

Giả sử như Trung Quốc có khám phá các đảo tại Biển Đông, nhưng nếu không có hành động chiếm hữu thì sẽ không có chủ quyền. Trong vụ kiện Island of Palmas (Netherlands/USA) 1928, Tòa Trọng tài Thường trực phán rằng chủ quyền sơ khởi (inchoate title) qua sự khám phá phải được hoàn tất trong một khoảng thời gian hợp lý bằng hành động chiếm hữu lãnh thổ mới vừa khám phá. Chiếm hữu gồm có hai yếu tố: ý chí chiếm hữu và thi hành quyền lực thật sự. Hơn nữa, hành động khám phá không thể lật ngược chủ quyền của một quốc gia khác nếu quốc gia đó đã thực thi quyền lực liên tục và hòa bình sau một khoảng thời gian dài đối với lãnh thổ đó.

Trung Quốc lập luận rằng họ đã chiếm hữu các đảo ở Biển Đông từ thế kỷ 14 nhưng không có bằng chứng gì cụ thể và khả tín. Nhiều lắm là có một số ngư dân Hải Nam đã tạm trú trên một số đảo. Cũng không có bằng chứng gì cho thấy nhà nước Trung Quốc tiến hành tuần tra các đảo, xây cất các phương tiện như hải đăng và trạm khí tượng. Căn bản là không có gì đáng tin cậy cho thấy Trung Quốc đã hành xử chủ quyền hợp pháp, liên tục và qua một thời gian dài mà không có ai phản đối.

Dưới luật quốc tế theo phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế trong vụ Fisheries Case (United Kingdom v Norway) 1951, khi xác định chủ quyền lãnh thổ, sinh hoạt tư nhân không có giá trị trừ khi họ tiến hành khai thác kinh tế dưới giấy phép do nhà nước ban hành. Hành động của một số cá nhân không đồng nghĩa với hành xử chủ quyền của một quốc gia. Không có bằng chứng gì cho thấy là ngư dân Hải Nam hoặc Trung Quốc phải xin giấy phép của nhà nước để đánh cá ở Biển Đông. Do đó, cho dù một số ngư dân Trung Quốc có tạm trú tại các đảo ở Biển Đông không có nghĩa là họ có thể đại diện quốc gia chiếm hữu hoặc hành xử chủ quyền dưới luật quốc tế. Kết luận này được xác nhận bởi một bản báo cáo bí mật của quân đội Trung Quốc vào năm 1933. Theo nhà Địa lý Pháp Francois Xavier-Bonnet, khi Pháp chiếm đóng 9 đảo tại Trường Sa, Trung Quốc lên tiếng phản đối nhưng nhầm lẫn giữa Hoàng Sa và Trường Sa. Một bảo báo cáo mật đề ngày 1/9/1933 do Hội đồng Quân nhân Trung Quốc soạn thảo có đoạn ghi là “Để kết luận, chúng ta chỉ có bằng chứng duy nhất là ngư dân Hải Nam, chúng ta không có làm gì trên các đảo này. Chúng ta cần hạ nhiệt với Pháp nhưng để cho ngư dân tiếp tục đánh cá. Hải quân của chúng ta còn yếu và hiện tại thì 9 hòn đảo này không có hữu dụng gì…“. Sau khi nhận ra Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo khác nhau, Trung Quốc ngưng phản đối với Pháp.

Cũng theo Francois Xavier-Bonnet, vào tháng 6, 1937, Tư lệnh Quân khu 9 Huang Qiang được gửi đi Hoàng Sa với hai nhiệm vụ chính. Thứ nhất là điều tra tình báo về hoạt động của quân Nhật và thứ hai là để xác quyết chủ quyền của Trung Quốc tại đó. Theo báo cáo đề ngày 31/7/1937, Huang rời Quảng Đông ngày 19/6/1937 và tới Hoàng Sa ngày 23/6. Huang đặt chân lên bốn đảo thuộc nhóm An Vĩnh gồm có Phú Lâm, Đảo Đá, Linh côn và Đảo Bắc. Huang trở về Hải Nam ngày 24. Bản báo cáo mật này được trao lại cho các sử gia Han Zenhua, Lin Jin Zhi và Hu Feng Bin khi họ xuất bản Sưu tập tài liệu lịch sử các đảo của chúng ta ở Biển Nam Trung Hoa vào năm 1988 nhưng họ lại không phổ biến bản báo cáo này. Nhưng rất may là bản báo cáo mật này lại được phổ biến vào năm 1987 bởi Ủy ban Đặt tên tại Quảng Đông trong quyển Biên tập địa danh các đảo ở Nam Hải.

Trong bản báo cáo mật, Huang viết rằng đã mang theo 30 cọc trên tàu trong đó có 4 cọc đề năm 1902 thời nhà Thanh và số còn lại đề năm từ 1912 đến 1921. Không có cọc nào đề năm 1937 vì chuyến đi này hoàn toàn bí mật. Huang cùng đồng đội chôn 2 cọc 1902 và 4 cọc 1912 trên Đảo Bắc, 1 cọc 1902, 1 cọc 1912 và 1 cọc 1921 trên đảo Linh Côn, 2 cọc 1921 trên đảo Phú Lâm và 1 cọc 1921 trên Đảo Đá. Tóm lại, chuyến hải hành tới Hoàng Sa năm 1902 của Trung Quốc thật sự không có xảy ra trong lịch sử mà đã được ngụy tạo. Hành động này đã lừa gạt luôn cả giới hàn lâm quốc tế trong đó có Gs Marwyn Samuels, tác giả của cuốn Tranh chấp tại Biển Đông xuất bản năm 1982.

Trung Quốc nhìn nhận tiến trình khai thác kinh tế tại Biển Đông mang tính tư nhân nhưng đến thời nhà Thanh thì công tác khai thác này có sự chấp thuận và hỗ trợ của triều đình được đẩy mạnh dưới thời Dân Quốc qua sự thu thuế và cấp giấy phép khai thác. Nhưng không có bằng chứng độc lập nào xác nhận việc này. Mà nếu có thì nó cũng xảy ra 250 năm quá trễ so với những chuyến khai thác có hệ thống của Đội Hoàng Sa do triều đình nhà Nguyễn tổ chức.

Còn về việc tuần tra thì nhiều lắm là nó cho thấy Trung Quốc có kiến thức tổng quát về các đảo ở Biển Đông. Tự nó không phải là bằng chứng chiếm hữu. Các chuyến hải hành của Trịnh Hòa và Shi Bi cũng vậy. Họ căng buồm đi ngang Biển Đông không có nghĩa là đã hành xử chủ quyền tại đó. Tóm lại, bằng chứng lịch sử của Trung Quốc có giá trị rất giới hạn dưới luật quốc tế.

Sự chiếm đóng của Trung Quốc tại đảo Phú Lâm năm 1946 và cả quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 bằng vũ lực vi phạm Điều 2(4) của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và bất hợp pháp. Với Truờng Sa, lần đầu tiên Trung Quốc có phản ứng xảy ra vào năm 1933 khi Trung Quốc phản đối Pháp chiếm hữu và sáp nhập Trường Sa. Trung Quốc không thể tạo chủ quyền chỉ vì hành động phản đối và việc phản đối không đương nhiên tước mất chủ quyền của Pháp được thành lập hợp lệ theo luật quốc tế vì khi Pháp chiếm hữu Trường Sa vào năm 1933, chinh phục là một phương pháp được luật quốc tế công nhận. Chinh phục chỉ trở thành bất hợp pháp sau tháng 10, 1945 khi Hiến Chương Liên Hiệp Quốcbắt đầu có hiệu lực. Trong khi đó, sự chiếm đóng các đảo Ba Bình vào năm 1946 và 1956 của quân Tưởng Giới Thạch và Trung Cộng với một số đảo tại Trường Sa bằng vũ lực không thể dẫn đến chủ quyền hợp pháp dưới luật quốc tế.

Tóm lại, Trung Quốc không trưng dẫn được bằng chứng đáng tin cậy là họ đã hành xử chủ quyền hòa bình và liên tục tại Hoàng Sa và Trường Sa. Cho dù Trung Quốc có khám phá ra các đảo này, họ đã không nghĩ tới việc thực hiện quyền lực quốc gia trong một khoảng thời gian hợp lý để củng cố chủ quyền của các thực thể đó. Nhưng một số học giả Trung Quốc lập luận rằng đây là một trường hợp ngoại lệ mà luật quốc tế ghi nhận. Đó là hoàn cảnh địa lý của các đảo tại Hoàng Sa và Trường Sa quá xa xôi và có môi trường khắc nghiệt. Dựa vào phán quyết của Tòa Trọng tài trong vụ Clipperton island Arbitration (Mexico v France) 1931, Trung Quốc lập luận rằng họ chỉ cần chứng minh là có hành xử chủ quyền có tính biểu tượng.

Đúng là luật quốc tế có ghi nhận trường hợp ngoại lệ nhưng Trung Quốc không áp dụng được đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Trước hết, vụ Clipperton đòi hỏi quốc gia liên hệ phải có hành xử chủ quyền. Sự tiếp xúc, viếng thăm, tạm trú thỉnh thoảng của ngư dân trong tư cách cá nhân không đồng nghĩa với tầm vóc hành xử chủ quyền của một quốc gia. Không có bằng chứng gì đáng tin cậy là nhà nước Trung Quốc có những hành động cụ thể nào thực thi chủ quyền trên các đảo này – một sự thật mà bản báo cáo mật ngày 1/9/1933 của chính Hội đồng Quân nhân Trung Quốc xác nhận.

Hơn nữa, trong vụ kiện Eastern Greenland (Norway v Denmark) 1933, Tòa án Công lý Quốc tế phán rằng hành xử chủ quyền biểu tượng có thể áp dụng khi không có quốc gia khác chứng minh chủ quyền tốt hơn. Như đã trình bày, lần đầu tiên Trung Quốc có hành xử liên quan tới Hoàng Sa diễn ra vào năm 1909. Nhưng Việt Nam đã chính thức chiếm hữu Hoàng Sa khoảng 100 năm trước đó vào năm 1816.

Thiên triều và chư hầu

Trung Quốc cho rằng vào năm 1816, Việt Nam là một nước chư hầu của Trung Quốc và do đó không thể xâm chiếm lãnh thổ của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Lập luận này hoàn toàn không có cơ sở. Dưới Đế chế phong kiến, Hoàng đế Trung Hoa cai trị thiên hạ là con người chớ không phải lãnh thổ. Lãnh thổ và biên giới có thể thay đổi rất nhanh khi các tiểu quốc chư hầu đụng độ xâm chiếm lẫn nhau. Việt Nam trở thành một phần của nhà Hán vào năm 111 trước Công Nguyên và bị Trung Quốc đô hộ trong 1000 năm. Nhưng Việt Nam đã giành lại độc lập vào năm 939 và nhiều lần thành công đánh bại các cuộc xâm lăng của Trung Quốc trong hơn 900 năm cho tới khi bị Pháp đô hộ. Tuy đã giành độc lập nhưng Việt Nam tiếp tục triều cống với Hoàng đế Trung Hoa để giữ hòa khí với nước láng giềng mạnh và lớn hơn cả trăm lần. Khi vua Gia Long chính thức chiếm hữu Hoàng Sa vào năm 1816, quan hệ thiên triều và chư hầu không ngăn cản Việt Nam hành xử chủ quyền gồm có mở mang bờ cõi và biên giới. Theo định nghĩa, quan hệ chư hầu có nghĩa là Trung Quốc nắm quyền kiểm soát bang giao của Việt Nam và các nước khác nhưng Việt Nam vẫn có quyền hành xử chủ quyền nội địa gồm có quyền mở mang hoặc thu nhận lãnh thổ.

Thoả thuận quốc tế

Lập luận của Trung Quốc là Pháp đã đồng ý nhượng các đảo tại Biển Đông cho Trung Quốc gồm có Hoàng Sa và Trường Sa dưới Hiệp ước Pháp – Trung 1887 không có lô-gích. Tiêu đề của Hiệp ước này là phân định biên giới và chia một số đảo giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ (Tonkin). Nếu sự diễn giải của Trung Quốc là đúng thì tất cả các đảo ở phía Nam thành phố Huế cũng thuộc chủ quyền của Trung Quốc – một kết luận khá điên rồ. Hơn nữa, Pháp đã trao công hàm ngoại giao đề ngày 16/8/1933 cho Trung Quốc xác nhận là Hiệp ước Pháp -Trung 1887 không áp dụng cho Hoàng Sa. Chính Gs Zou Keyuan của Trung Quốc cũng đồng ý là “đường gạch đỏ trên bản đồ là đường phân chia các đảo trong vịnh Bắc Bộ chớ không phải là biên giới lãnh hải giữa hai nước“. Kết luận này phù hợp với sự việc là Bạch Long Vĩ được Mao Trạch Đông trao trả lại cho Việt Nam để thể hiện “tình đồng chí” giữa hai nước. Kết luận của Gs Zou cũng được áp dụng trong Hiệp ước phân định Biên giới trong Vịnh Bắc Bộ giữa Trung Quốc và Việt Nam được ký kết trong năm 2000.

Các lập luận khác cho rằng Pháp đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc hoàn toàn mâu thuẫn và trái với sự thật vì chính Pháp đã có những hành động chiếm hữu cụ thể tại Hoàng Sa và nhất là Trường Sa. Còn Hòa ước Trung – Nhật 1952 chỉ nhắc tới Đài Loan và Penghu chớ không liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa. Hơn nữa, Trung Quốc đã đồng ý trao Hoàng Sa lại cho Pháp sau khi giải giới quân Nhật. Không thể nuốt lời rồi kết luận là Pháp đã chấp nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Về Hội hghị Hàng không Dân sự tại Manila 1955, lý do mà 15 quốc gia đồng ý giao trách nhiệm theo dõi thời tiết cho Đài Loan là vì Đài Loan thích hợp nhất về mặt địa lý. Không thể đồng hóa tiêu đề khí tượng với chủ quyền lãnh thổ.

Công hàm Phạm Văn Đồng và nguyên tắc estoppel

Không có bằng chứng độc lập nào xác nhận câu nói của Thứ trưởng Ung Văn Khiêm với Lý Chí Dân là theo bằng chứng lịch sử thì Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Mà giả sử như là có đi nữa thì lời nói đó cũng không có giá trị pháp lý gì. Nhân nhượng chủ quyền lãnh thổ là một sự kiện vô cùng nghiêm trọng liên quan tới vận mệnh của một quốc gia. Không có bất cứ cá nhân viên chức nào kể cả Thứ trưởng có thể tùy tiện quyết đoán.

Tương tự như vậy, Việt Nam lập luận rằng tuyên bố về khu tác chiến, bản đồ do Cục Đo đạc và Phủ Thủ tướng cùng với công hàm Phạm Văn Đồng phải được hiểu theo bối cảnh chính trị và chiến tranh thời đó. Hoàng Sa và Trường Sa lúc đó thuộc quyển kiểm soát của VNCH. Bắc Việt hầu như hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ của Trung Quốc trong cuộc chiến với VNCH. Tất cả những lời tuyên bố này đều mang màu sắc chính trị và không diễn ra trong một bối cảnh tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc. Do đó, công hàm Phạm Văn Đồng không có ý nghĩa là Việt Nam vĩnh viễn từ bỏ chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuy nhiên, Trung Quốc lập luận rằng nguyên tắc estoppel ngăn cản Việt Nam đi ngược lại với lập trường bày tỏ trước đây. Tuy estoppel được luật quốc tế công nhận và đã được áp dụng trong một vài vụ kiện liên quan tới tranh chấp chủ quyền, khi phân tích kỹ lưỡng thì nguyên tắc này không ủng hộ quan điểm của Trung Quốc. Trong vụ kiện Temple of Preah Vihear (Cambodia v Thailand) 1962, Tòa án Công lý Quốc tế phán rằng estoppel áp dụng khi (1) quốc gia A qua những lời tuyên bố hoặc cung cách hành xử bày tỏ lập trường rõ ràng và nhất quán với quốc gia B và (2) quốc gia B đã bị thiệt hại hoặc quốc gia A đã hưởng lợi khi quốc gia B dựa vào những lời tuyên bố hoặc cung cách hành xử đó. Trung Quốc không đưa ra đủ bằng chứng để thỏa mãn hai yếu tố này.

Thứ nhất, công hàm Phạm Văn Đồng bày tỏ sự tán thành với lời tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của Thủ tướng Chu Ân Lai. Lúc đó, luật quốc tế còn chưa rõ ràng phạm vi lãnh hải là 3 hoặc 12 hải lý. Việt Nam tuyên bố là sẽ tôn trọng lãnh hải 12 hải lý. Do đó, không thể lập luận rằng công hàm Phạm Văn Đồng công nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc một cách “rõ ràng và nhất quán”. Hơn nữa, không có dấu hiệu gì cho thấy Trung Quốc bị thiệt hại vì đã dựa vào lời tuyên bố này. Có thể Trung Quốc sẽ lập luận là vì lời tuyên bố này mà Trung Quốc mới viện trợ cho Việt Nam và do đó Việt Nam đã hưởng lợi. Nhưng cho tới nay, phía Trung Quốc chưa đưa ra bằng chứng nào cho thấy đó là sự thật hoặc là họ sẽ quyết định cắt viện trợ cho Việt Nam nếu không có công hàm Phạm Văn Đồng.

Tương tự như vậy, bản tuyên bố liên quan đến khu vực tác chiến của Hoa Kỳ năm 1965 không hội đủ điều kiện để áp dụng nguyên tắc estoppel. Trong vụ Pedra Branca (Malaysia/Singapore) 2008, Tòa án Công lý Quốc tế phán rằng estoppel không áp dụng được ngay cả khi có một bên đã tuyên bố xác nhận là họ không đòi hỏi chủ quyền của một hòn đá đang bị tranh chấp. Vụ kiện này liên quan tới chủ quyền của Pendra Brabca/Pulau Puteh, Middle Rocks và South Ledge. Ngày 12/6/1953, Thư ký Thuộc địa Singapore viết thư gửi Cố vấn Anh của vua Johor hỏi thăm về tình trạng chủ quyền của hòn đá Pedra Branca cách Singapore khoảng 40 hải lý. Trong thư, Thư ký Singapore viết: “Chúng tôi muốn hiểu rõ tình trạng của Pedra Branca. Tôi rất biết ơn nếu qúy vị cho biết có văn kiện nào chứng minh hợp đồng thuê mướn hoặc trao tặng hoặc có sự chuyển nhượng bởi chính quyền Johore hay không“.

Khoảng ba tháng sau, Xử lý Ngoại Trưởng Johor gửi thư trả lời ngày 21/9/1953 là “về sự thắc mắc nêu ra trong thư ngày 12/6/1953, tôi xin trả lời là chính quyền Johor không đòi hỏi chủ quyền của Pedra Branca“.

Singapore lập luận rằng thư trả lời là bằng chứng từ bỏ chủ quyền hoặc nguyên tắc estoppel áp dụng và là một lời hứa có tính ràng buộc pháp lý. Nhưng Tòa không đồng ý và phán rằng thư của Johor đơn giản là một câu trả lời đáp lại yêu cầu tìm hiểu thông tin của Singapore và sự phủ nhận chủ quyền diễn ra trong hoàn cảnh đó. Tòa sẽ rất khắt khe khi diễn giải văn kiện liên quan tới chủ quyền. Hơn nữa, Singapore không chứng minh được là đã dựa vào thư trả lời đó mà bị thiệt hại.

Chiều hướng nguyên tắc estoppel ngày càng khó áp dụng trong các vụ kiện tranh chấp chủ quyền được tòa xác nhận trong vụ kiện gần đây giữa Bangladesh và Miến Điện mà Tòa Án Quốc tế về Luật Biển ban hành phán quyết vào năm 2012. Trong đó, Tòa bác bỏ luận cứ của Bangladesh là Miến Điện bị ràng buộc bởi nội dung biên bản phiên họp giữa hai phái đoàn khi thương lượng và giải quyết tranh chấp lãnh hải vì trưởng phái đoàn đàm phán không đủ tư cách quyết định chủ quyền của một gia cũng như Bangladesh không chứng minh được thiệt hại thế nào khi dựa vào nội dung của biên bản họp. Tóm lại, nguyên tắc estoppel chỉ được áp dụng một cách giới hạn trong những trường hợp đặc biệt khi lời tuyên bố phủ nhận chủ quyền diễn ra trong bối cảnh thương lượng hoặc tranh chấp chủ quyền giữa hai quốc gia và lời tuyên bố này phải do những người có đầy đủ thẩm quyền quyết định vấn đề chủ quyền của quốc gia đó. Có nghĩa là không có đủ điều kiện để Trung Quốc áp dụng nguyên tắc estoppel với công hàm Phạm Văn Đồng cũng như các lời tuyên bố tương tự.

Kết luận

Dựa trên bằng chứng và luận cứ mà hai quốc gia đưa ra, yêu sách chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa rõ ràng mạnh hơn của Trung Quốc. Chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa có đầy đủ cơ sở về mặt lịch sử và pháp lý. Từ đầu thế kỷ 18, Việt Nam đã bày tỏ ý chí hành xử chủ quyền khi chính quyền nhà Nguyễn thành lập công ty khai thác kinh tế tại Hoàng Sa. Ý chí này được xác nhận bởi hành động và biểu tượng sáp nhập vào lãnh thổ đầu thế kỷ 19 với một hệ thống quản trị hành chánh liên tục và hòa bình của các vua nhà Nguyễn cho tới khi Pháp xuất hiện. Pháp đã kế thừa và tiếp tục cai trị và thật sự chiếm đóng Hoàng Sa trong thập niên 1930. Sau đó, Pháp liên tục khẳng định chủ quyền cho tới khi rời khỏi Đông Dương vào năm 1956. VNCH kế thừa chủ quyền từ Pháp và chưa bao giờ từ bỏ ngay cả sau khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực vào năm 1974.

Trong khi đó, lần đầu tiên Trung Quốc có hành động đòi hỏi chủ quyền Hoàng Sa diễn ra vào năm 1909 tức 200 năm sau khi Việt Nam đã thành lập chủ quyền hợp pháp tại quần đảo này. Hơn nữa, sự chiếm đóng đảo Phú Lâm năm 1956 và toàn bộ Hoàng Sa bằng vũ lực vào năm 1974 vi phạm Điều 2(4) của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc không thể ban cho Trung Quốc chủ quyền hợp pháp.

Đối với Trường Sa, Pháp đã sáp nhập các đảo này trong thập niên 1930 như là lãnh thổ vô chủ. Vào thời điểm này, chinh phục là một phương pháp hợp lệ được luật quốc tế công nhận. Anh Quốc có kiểm soát một số đảo tại Trường Sa trong thập niên 1880 nhưng quyết định từ bỏ chủ quyền sau khi Pháp sáp nhập và chiếm hữu. Do đó, chủ quyền của Pháp tại Trường Sa hoàn toàn hợp pháp. Chủ quyền này được chuyển nhượng sang VNCH. VNCH (và CHXHCNVN sau đó) tiếp tục quản trị mặc dù Đài Loan chiếm đóng đảo Ba Bình bất hợp pháp vào năm 1956 và Trung Quốc đánh chiếm một số đảo và đá vào năm 1988. Sự chiếm đóng đảo Ba Bình của Trung Hoa Dân Quốc vào năm 1946 và 1956 cùng với sự xâm lăng của Trung Quốc tại Trường Sa vào năm 1988 rõ ràng vi phạm Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và do đó không thể ban hành chủ quyền hợp pháp cho Đài Loan hoặc Trung Quốc tại Trường Sa. Trung Quốc cũng không thể kiến tạo chủ quyền chỉ vì Trung Quốc liên tục phản đối chủ quyền của Việt Nam mà Việt Nam kế thừa chính đáng từ Pháp. Do đó, yêu sách chủ quyền của Trung Quốc tại Trường Sa rõ ràng là không có cơ sở pháp lý.

Chắc chắn là Trung Quốc sẽ không từ bỏ tham vọng chiếm hết Biển Đông. Việt Nam không còn con đường nào khác mà phải chuẩn bị ngay hồ sơ pháp lý và tiến hành đơn kiện Trung Quốc trong một thời điểm sớm nhất và thuận tiện nhất. Chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa cần được phổ biến rộng rãi trong quần chúng và nên nằm trong chương trình giảng dạy ngay từ cấp trung học, nhưng không phải qua hình thức tuyên truyền một chiều của Ban Tuyên giáo Đảng Cộng sản Việt Nam vì những thứ đó không có giá trị trước tòa án hoặc công luận quốc tế. Người dân Việt Nam đặc biệt là thế hệ trẻ phải được cơ hội tiếp cận lịch sử một cách trung thực, khoa học và khách quan để xây dựng lập luận có giá trị thuyết phục. Môn lịch sử ở Việt Nam đã bị lạm dụng làm công cụ chính trị phục vụ cho Đảng Cộng sản Việt Nam quá lâu với quá nhiều dối trá điển hình là câu chuyện Lê Văn Tám đến nỗi học sinh chán ghét lịch sử nước nhà. Khi thế hệ trẻ quay lưng với lịch sử nước nhà thì dân tộc đó phải đối diện với nguy cơ và hiểm họa diệt vong đánh mất độc lập chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải. Và cá nhân hay đảng phái nào làm cho giới trẻ có thái độ thờ ơ với lịch sử và vận mệnh dân tộc sẽ là tội đồ muôn thưở của tổ quốc Việt Nam.

  1. V. T.

Sydney, tháng 12/2015

Tham khảo

Alexander Ovchar, “Estoppel in the Jurisprudence of the ICJ: A principle promoting stability threatens to undermine it“. Bond Law Review Volume 21 Issue 1, 2009

Francois Xavier-Bonnet, “Geopolitics of Scarborough Shoal“. Research Institute of Comtemporary Southeast Asia, November 2012

Francois Xavier-Bonnet “Archaeology and Patriotism: Long Term Chinese Strategy in the South China Sea” The Institute for Maritime and Ocean Affairs 2015

Hong Thao Nguyen, “Vietnam’s Position on the Sovereignty over the Paracels & the Spratlys: Its Maritime Claims“. Journal of East Asia International Law V JEAIL (1) 2012

Monique Chemiller – Gendreau, “Chủ quyền trên Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” Người dịch: Nguyễn Hồng Thao, Hiệu đính: Lưu Văn Lợi & Lê Minh Nghĩa, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1998

Phil C.W Chan, “Acquiescence/Estoppel in International Boundaries: Temple of Preah Vihear Revisited“. Chinese Journal of International Law (2004) 3 (2)

Raul Pedrozo, “China versus Vietnam: An Analysis of the Competing Claims in the South China Sea“, CNA August 2014

Tác giả gửi BVN.

Posted on 12/21/201512/21/2015

Giấc Mơ Dương Tường & Ác Mộng Bùi Ngọc Tấn

Giấc Mơ Dương Tường & Ác Mộng Bùi Ngọc Tấn

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Mặc dù nhiều khi mượn áo trí thức để làm dáng nhưng trong thực tế bản chất của lưu manh là thâm thù căm ghét trí thức chân chính. Và họ căm thù trí tuệ nói chung.

Vương Trí Nhàn

Thi sĩ Dương Tường vừa viết thư (“Gửi Bạn Ở Cõi-Bên-Kia”) nhân ngày giỗ đầu – ngày 18 tháng 12 năm 2015 – của nhà văn Bùi Ngọc Tấn:

“Mình đang đi trên một con phố mới, hình như ở Hải Phòng. Lạ hoắc song lại có nét gì quen quen mà không tài nào xác định nổi. Giống như khi ta cố nhớ ra một cái tên rất thân quen, chắc chắn nó ở quanh quanh đâu đây trong bộ nhớ, chỉ dấn chút xíu nữa là “bắt” được mà nó vẫn vuột mất để rồi đến một lúc thôi không  cố nhớ nữa thì nó lại bất ngờ hiện ra. À, đây rồi cái biển tên phố gắn trên một cột đèn. Mình tiến lại và đọc thấy: BÙI NGỌC TẤN…

Thế là mình thức giấc. Và ngồi viết thư cho Tấn đây…

Hà Nội đã có những đường phố mang tên Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng …, những điểm son của văn học Việt Nam. Thế còn bao giờ Nam Định có phố Trần Dần, Bắc Ninh có phố Hoàng Cầm, Thanh Hóa có phố Hữu Loan, Yên Bái có phố Lê Đạt, Thừa Thiên-Huế có phố Phùng Quán?  Và Hải Phòng có phố Bùi Ngọc Tấn? Một dự cảm tâm linh nói với mình: rồi những giá trị đích thực sẽ được trả về đúng vị trí. Con đường mình vừa dạo chơi trong mơ – đường Bùi Ngọc Tấn – rồi sẽ thực sư có trong thực tại. Và biết đâu đấy, mình lại có dịp thả bộ trên con đường ấy, như đã thả bộ trên đường Văn Cao dăm năm trước …”

Đại lộ Phạm Hùng. Ảnh: baomoi

Bức thư thượng dẫn làm tôi nhớ đến những mẩu đối thoại (tưởng tượng) khác, cũng của người ở cõi dương với bạn bè ở bên kia thế giới:

Tôi thỉnh thoảng dạo phố vẫn hay dừng lại nhìn lên một tên phố mà chuyện trò lặng lẽ với con người ngồi ở trên cái bảng sắt tây dó. Để nghe anh ta giãi bày. Và cũng để anh ta đừng tưởng bở.

Thí dụ Văn Cao, ngày hai lượt ra trung tâm thành phố và về Cầu Giấy, tôi từng có lần hỏi anh: Cậu khỏe không? … Bây giờ ở trên cao này có thấy sao không?” Thì Văn Cao bảo tôi:“Tao làm nhạc, làm thơ, vẽ, ai hay nay làm diễn viên lên sân khấu đóng vai kịch ca ngợi đảng trọng hiền tài. Mày với tao sống trong cái chăn toàn rận này, mày lạ đ. gì nữa.

Hôm nọ thằng Dương Bích Liên nó lui lủi đi dưới kia, đầu chúi chúi, hai tay đút túi quần. Tự nhiên nó nhìn lên hỏi, mày lại cam ra làm bù nhìn bịp cho cái chính sách yêu vớt trí thức ư? Thế là tao rơi đánh xoáng một cái xuống. (Trần Đĩnh. Đèn Cù II, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Đại Lộ Mai Chí Thọ. Ảnh:  triviet24h

Tôi thì trộm nghĩ rằng những con phố mang tên Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu (e) chả phải là vở kịch “đảng trọng hiền tài” hay “chính sách yêu vớt trí thức” – như cách dụng ngữ của nhà văn Trần Đĩnh đâu. Những người cộng sản Việt Nam có đời nào mà tử tế dữ vậy. Họ cũng chưa bao giờ qúi trọng hay yêu thương gì giới trí thức cả, “giả trọng” hay “yêu vớt” cũng không luôn.

Nói gần nói xa, chả qua nói thiệt, và nói theo lối thường dân (Nam Bộ) thì đây chẳng qua chỉ là “chính sách ăn theo” hoặc “chiến thuật dựa hơi” của Đảng mà thôi.

Kiểu chơi láu cá chó này ai cũng biết, đâu có xa lạ và mới mẻ gì. Tạp chí Khởi Hành số  phát hành tháng 8 năm 99 – từ California – đã có bài viết (“Khi Chính Trị Chi Phối Văn Hoá”) của Thạc Sĩ Trần Anh Tuấn, về mấy cái mánh (lặt vặt) như thế tự lâu rồi.

Một phần của bài viết, Trần Anh Tuấn dùng để điểm cuốn Lịch Sử Và Văn Hoá Việt Nam, Những Gương Mặt Trí Thức, tập Một – do Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ân và Tạ Ngọc Liễn sưu tầm và biên tập – nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội xuất bản năm 1998. Nội dung cuốn sách được ghi nhận và phân tích như sau:

“Với hơn 700 trang, các tác giả đã chọn ra 71 nhân vật mà họ vinh danh là những trí thức Việt Nam tiêu biểu trải qua 770 năm lịch sử, với 9 thời đại và thời kỳ (Trần, Hồ, Lê, Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Nguyễn, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa V.N.)”.

“Nhưng nhìn vào danh sách là chúng ta thấy ngay sự ăn gian của những người làm sách: trong suốt 720 năm (1225 – 1945) họ chỉ chấm có 38 nhân vật tức 53%. Ðó là Trần Thái Tông, Lê Văn Hưu, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Tuệ Tĩnh, Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn Trãi, Triệu Thái, Lê Thánh Tông, Lê Sĩ Liên, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Hữu Trác, Nguyễn Thiếp, Lê Qúi Ðôn, Lê Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Trần Văn Kỷ, Võ Trường Toản, Phan Huy Chú, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Ðình Chiểu, Phạm Thuật Duật, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Truờng Tộ, Nguyễn Quang Bích, Lương Văn Can, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn An Ninh, và Phạm Tuấn Tài.”

“Trong 50 năm sau cùng (1945 – 1995), họ đưa ra một số lượng khổng lồ là 33 nguời, tức 47%. Trong số 33 tên, chỉ trừ giáo sư Hoàng Xuân Hãn sống ở Pháp, còn lại 32 tên không ai khác hơn là những đảng viên cao cấp của Ðảng Cộng Sản Việt Nam và những nguời phục vụ chế độ cộng sản. Ðó là Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Truờng Chinh, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Khánh Toàn, Ðặng Thái Mai, Trần Huy Liệu, Phạm Huy Thông, Tôn Thất Tùng, Hồ Ðắc Di, Phạm Ngọc Thạch, Trần Ðại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Trần Văn Giáp, Tôn Quang Phiệt, Hải Triều, Ngụy Như Kon Tum, Dương Ðức Hiền, Ðặng Văn Ngữ, Hoài Thanh, Nam Trân, Nguyễn Khắc Viện, Lê Văn Thiêm, Từ Chi, Nguyễn Ðổng Chi, Cao Xuân Hy, Trần Ðức Thảo, Hoàng Thúc Trâm, Ðào Duy Anh, và Hoàng Xuân Hãn.”

Nhạc sĩ Tô Hải mô tả đây là “cái trò nhố nhăng định khoanh vùng lịch sử chỉ còn ở cái ‘thời rực rỡ nhất’ là do Đảng họ lãnh đạo thôi,” chứ CS chả có lòng “yêu vội” hay “yêu vớt” gì Trần Ðức Thảo,  Ðào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn… cả. Họ chỉ “dựa hơi” những nhân vật trí thức này để mở đường cho cái đám thất phu (cỡ như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Truờng Chinh …) được dịp “quá giang” hay “đi ké” vào lịch sử – như những gương mặt trí thức – Việt Nam.

Tương tự, những con đường mang tên Nguyễn Chí Thanh, Xuân Thủy, Phạm Văn Đồng, Mai Chí Thọ, Phạm Hùng, Trần Quốc Hoàn … sẽ bớt dơ dáng và dị hợm (phần nào) khi được đặt cùng với mấy tên phố tử tế và đàng đàng hoàng khác: Nguyễn Tuân, Văn Cao, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… Làm thế coi cho đỡ chướng, và ngó cũng dễ “nuốt” hơn. Trông cũng giống như mấy lát mì cõng cơm (ăn độn) vậy mà!

Tôi còn sợ rằng giấc mơ của Dương Tường (dám) lại là ác mộng của Bùi Ngọc Tấn nữa chớ. Thưở sinh thời, đã biết bao lần nhà văn của chúng ta từng phải sống qua những ngày tháng hốt hoảng và tuyệt vọng:

– “… bàng hoàng khi biết mình có ‘đuôi’….  Anh như ngửi thấy cái mùi của nhà tù. … Đó là đòn đánh ngang đầu. Là đất sụt nơi mình đứng. Là cuộc đời bỗng nhiên không còn là cuộc đời nữa… có cảm giác của một con thú bị nhốt trong chuồng lồng lộn nhưng không sao thoát được. Thì ra họ có toàn quyền làm những việc họ thích. Họ huy động cả guồng máy khổng lồ để hại mình.” (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Westminster, CA: 2000).

– “Tôi thấy rợn hết cả người khi nghĩ đã có mấy thế hệ theo dõi tôi, săn đuổi tôi, vu cáo tôi. Họ đã già đi. Ðã về nghỉ, hưu trí an nhàn. Nhiều người đã chết. Một thế hệ khác tiếp tục việc theo dõi. Rồi một thế hệ tiếp theo nữa. Ðời này sang đời khác.” (Bùi Ngọc Tấn. Hậu Chuyện Kể Năm 2000. Tiếng Quê Hương. Fallchurch, VA: 2014).

Cho mãi đến khi từ giã cõi đời, Bùi Ngọc Tấn mới hết bị “theo dõi” và mới hoàn toàn thoát khỏi “cái cảm giác như một con thú bị nhốt trong chuồng.” Thế mà cái “con thú” này bất ngờ lại được lên tên đường, và cận kề với toàn danh nhân (của ngành công an) những nhân vật “toàn quyền làm những việc họ thích” và có thể “huy động cả guồng máy khổng lồ để hại” người cỡ như Trần Quốc Hoàn, Mai Chí Thọ, Phạm Hùng … thì rõ ràng là một chuyện rất … hãi hùng – một cơn ác mộng – chớ còn gì nữa? Không khéo Bùi Ngọc Tấn lại “rơi đánh xoáng một cái” như không!

Tương tự, tôi e rằng Văn Cao cũng không cảm thấy vinh dự hay hạnh phúc gì cho lắm (sau một kiếp “sống trong một cái chăn toàn rận”) khi ông bị đặt nằm giữa những con phố đầy rẫy bất trắc và tệ đoan xã hội:

– “Quét Gái Mãi Dâm Trên Đường Nguyễn Chí Thanh” – báo An Ninh Thủ Đô

– “Đột Nhập Động Mãi Dâm Trên Đường Phạm Văn Đồng” – báo Người Đưa Tin

– “Bắt Kẻ Giao Hàng Trắng Dọc Đường Trường Chinh” – báo An Ninh Thủ Đô

– “Trộm Vàng Táo Tợn Trên Đường Xuân Thuỷ” – báo VietNamNet

–  “Phóng Viên Truy Đuổi Đối Tượng Trộm Cắp Trên Đường Phạm Hùng” –   báo An Ninh Thủ Đô

– “Dàn Cảnh Cướp Xe Trên Đường Hồ Chí Minh” – báo Dân Trí

-“Xe Buýt Lại Tông Người Trên Đường Lê Duẩn” – báo Người Lao Động

– “Xuất Hiện Hố Tử Thần Trên Đường Trần Quốc Hoàn” – báo Lao Động

-“Tảng Đá Chục Tấn Rơi Trên Đại Lộ Nguyễn Tất Thành” – Báo Mới

– “Ôtô Điên Trên Đường Tôn Đức Thắng” – Báo Mới

-“Đột Kích Hàng Loạt Tụ Điểm Mát Xa Kích Dục Trên Đường Nguyễn Duy Trinh” – Báo Vnexpress.

Tiểu lộ Nguyễn Thị Nhỏ. Ảnh: Dân Việt

Sau 83 năm đô hộ Việt Nam – ngoài những tội ác vô phương chối cãi – người Pháp cũng đã để lại cho xứ sở này những thành quả hiển nhiên, thuộc nền văn minh chung của toàn thể nhân loại: hệ thống cầu cống, giao thông, y tế, giáo dục, ngân hàng, bưu điện, bệnh viện, thư viện, kiến trúc… Nói theo bác Nguyễn Gia Kiểng là “Pháp đã còng tay Việt nam và dẫn vào thời đại mới.”

Sau đó, dân Việt bị còng tay (chặt hơn) bởi những người cộng sản rồi buộc phải… đi lùi! Đó là lý do tại sao trước khi được “vinh hạnh” mang tên “những vị anh hùng cách mạng,” phố phường Hà Nội (nói riêng) và của cả nước (nói chung) sạch sẽ và an lành hơn hiện cảnh rất nhiều.

Điều phiền phức và rắc rối hiện nay là dân Việt không còn chỗ để có thể lùi được nữa. Họ đã bị đẩy đến tận chân tường rồi. Bởi thế, những người cộng sản khó mà có thể tiếp tục giữ được quyền bính trong những ngày tháng tới.

Khác với chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa cộng sản khi sụp đổ không để lại nơi phần đất mà nó cai trị bất cứ một thứ thành quả nào – ngoài bạo lực, nghèo đói, dốt nát, dối trá, và vô số những con đường (cũng như những ngôi trường, những cơ quan, dinh thự …) buộc phải thay tên!

Đến lúc đó, có lẽ, vẫn chưa muộn để “Nam Định có phố Trần Dần, Bắc Ninh có phố Hoàng Cầm, Thanh Hóa có phố Hữu Loan, Yên Bái có phố Lê Đạt, Thừa Thiên-Huế có phố Phùng Quán …  Và Hải Phòng có phố Bùi Ngọc Tấn” – như giấc mơ của Dương Tường.

Posts pagination

Previous page Page 1 … Page 1,236 Page 1,237 Page 1,238 … Page 1,460 Next page
  • Tạo vật sống hiệp quần
  • Tạo vật uyên ương
  • Tạo vật mỹ miều
  • Tạo vật linh động
  • Tạo Vật biết yêu thương
  • Tạo vật sinh động
  • Tạo vật sống quây quần
  • Tạo vật đẹp xinh

Tìm bài viết theo câu chữ :

Bài Mới Đăng Trong Tuần

  • LÁNH CHIẾN LƯỢC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 01/24/2026
  • VẺ ĐẸP CỦA LỜI CẦU NGUYỆN- Tác giả: Fr. Jpseph M. Esper 01/24/2026
  • Đọc mà nước mắt rơi… 01/24/2026
  • Những thợ mỏ bắt đầu gọi bà (Nellie Cashman) là Thiên thần của Cassiar 01/24/2026
  • HƠN CẢ CHỐNG ĐỐI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 01/23/2026
  • ĐÃ ĐẾN LÚC TÔI PHẢI THỰC HIỆN “10 Điều Khuyên” cho người cao niên… 01/23/2026
  • Việt kiều Mỹ đòi lại nhà ở Sài Gòn: Bị ‘đánh úp’ trước ngày cưỡng chế 01/23/2026
  • Cha Tuyên úy Thủy quân Lục Chiến hy sinh tại chiến trường Việt Nam đang trên tiến trình tuyên thánh. 01/23/2026
  • Chính trong sự vô hình ấy, bà đã cứu lấy ký ức của cả một dân tộc. 01/23/2026
  • CON SẼ LÀ KÝ ỨC CỦA CHA: CÂU CHUYỆN VỀ CĂN BỆNH ALZHEIMER Ở TUỔI 53 01/22/2026
  • 110 bạn sinh viên tại Đại học Bang Kansas sẽ được rửa tội vào Đêm Vọng Phục Sinh năm nay. 01/22/2026
  • CHUYỆN TÌNH SAU NGÔI MỘ CỔ CỦA CON TRAI NGƯỜI “GIÀU NHẤT TRỜI NAM” 01/22/2026

Bài Viết được nhiều Người đọc nhất

  • images Thanh niên Tại TGP Sài Gòn từ bỏ lương hơn 7 tỷ để đi Tu 01/10/2026 (53)
  • downloadVỀ GIÀ … 12/19/2025 (37)
  • Author2Cuộc Cách Mạng về Phim Đạo được công chiếu ở Việt Nam năm 2025 12/18/2025 (36)
  • imagesRồi sẽ đến lúc… 01/03/2026 (34)
  • downloadTHẬT MAY MẮN  CHO AI ĐÓ SỐNG QUÁ 65 TUỔI 01/03/2026 (30)
  • download (1)Sự tao nhã chính yếu của con người nằm ở sự kiểm soát bản thân 12/19/2025 (28)
  • images‘Tiền trong dân còn rất nhiều’ và niềm tin trong dân đã cạn-Đặng Đình Mạnh 12/17/2025 (25)
  • imagesCHUYỆN THẤY TRƯỚC QUÁN CƠM Ở SÀI GÒN 01/05/2026 (25)
  • downloadVề cựu Tổng Thống Jimmy Carter (1924-2024) – Phùng Văn Phụng 12/31/2025 (24)
  • downloadCuối Năm Ngẫm Lại Chuyện Đời… 01/12/2026 (24)
  • download2 ĐỨA TRẺ CHỊU CHẾT CHỨ QUYẾT KHÔNG NHỔ NƯỚC BỌT LÊN KINH THÁNH 12/17/2025 (23)
  • imagesĐỒNG TRINH SINH HẠ – Ronald Rolheiser, OMI 12/17/2025 (21)
  • imagesCÁCH CHỮA GÚT (Gout) ĐƠN GIẢN mà HIỆU QUẢ 01/04/2026 (20)
  • downloadNGAY LÀNH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 12/17/2025 (18)
  • imagesCầu nguyện trong thế giới hôm nay – Tác giả: Phùng Văn Phụng 12/11/2025 (29)
  • Author2Tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy (Mt 21:24)-Cha Vương 12/15/2025 (19)
  • download (1)Hội nghị Trung ương 15, cuộc chơi của những kẻ tiếm quyền-*Đặng Đình Mạnh 12/15/2025 (23)
  • 611169887_1189489636719157_3925853444174845829_nCâu chuyện về Stamatis Moraitis: Người đàn ông bị “quên” qua đời 01/10/2026 (15)

Bạn đọc bốn phương

Flag Counter

BÀI VIẾT THEO THÁNG NĂM

BÀI VIẾT THEO THỂ LOẠI

Loạt Bài Mới Đăng

  • LÁNH CHIẾN LƯỢC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 01/24/2026
  • VẺ ĐẸP CỦA LỜI CẦU NGUYỆN- Tác giả: Fr. Jpseph M. Esper 01/24/2026
  • Đọc mà nước mắt rơi… 01/24/2026
  • Những thợ mỏ bắt đầu gọi bà (Nellie Cashman) là Thiên thần của Cassiar 01/24/2026
  • HƠN CẢ CHỐNG ĐỐI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 01/23/2026
  • ĐÃ ĐẾN LÚC TÔI PHẢI THỰC HIỆN “10 Điều Khuyên” cho người cao niên… 01/23/2026
  • Việt kiều Mỹ đòi lại nhà ở Sài Gòn: Bị ‘đánh úp’ trước ngày cưỡng chế 01/23/2026
  • Cha Tuyên úy Thủy quân Lục Chiến hy sinh tại chiến trường Việt Nam đang trên tiến trình tuyên thánh. 01/23/2026
  • Chính trong sự vô hình ấy, bà đã cứu lấy ký ức của cả một dân tộc. 01/23/2026
  • CON SẼ LÀ KÝ ỨC CỦA CHA: CÂU CHUYỆN VỀ CĂN BỆNH ALZHEIMER Ở TUỔI 53 01/22/2026
  • 110 bạn sinh viên tại Đại học Bang Kansas sẽ được rửa tội vào Đêm Vọng Phục Sinh năm nay. 01/22/2026
  • CHUYỆN TÌNH SAU NGÔI MỘ CỔ CỦA CON TRAI NGƯỜI “GIÀU NHẤT TRỜI NAM” 01/22/2026
  • ĐỂ THẤT BẠI-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 01/22/2026
  • Cô bé ấy từng bị bán với giá 5 đô la trong một trại tị nạn… 01/22/2026
  • CẦN KHOẢNG CÁCH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 01/21/2026
  • Không nóng giận là phẩm chất của người đại trí tuệ – Thiên Cầm 01/21/2026
  • Giữa ranh giới sinh – tử, đạo đức đã thắng nỗi sợ 01/21/2026
  • Hoan hô Đinh Văn Nơi – Nói được làm được! 01/21/2026
  • Nguyễn Quốc Khải: Trump: Không có giải thưởng, không có hòa bình 01/21/2026
  • Trump đối mặt lời kêu gọi phế truất sau khi gửi thư ‘bắt đền’ thủ tướng Na Uy 01/21/2026
  • LIÊN LẠC
Proudly powered by WordPress