Luật sư của Trump yêu cầu chặn các bằng cớ lấy được trong vụ lục soát ở Mar-a-Largo

 Ba’o Nguoi-Viet

June 26, 2024

FORT PIERCE, Florida (NV) – Hôm Thứ Ba, 25 Tháng Sáu, nhóm luật sư của cựu Tổng Thống Donald Trump yêu cầu vị thẩm phán chủ tọa phiên tòa xử vụ hồ sơ mật hãy chặn không cho các công tố viên sử dụng các bằng cớ lấy được từ những hộp đựng hồ sơ mà FBI tịch thu từ gia trang của ông Trump ở Florida, nguồn tin thông tấn xã AP cho hay.

Cuộc tranh cãi này đánh dấu giai đoạn kết thúc ba ngày công tố viện và luật sư biện hộ đấu khẩu nhau về các vấn đề từ tính hợp pháp trong việc chỉ định công tố viên đặc biệt Jack Smith đứng ra khởi tố vụ án cho tới vấn đề liệu vị cựu tổng thống thuộc Đảng Cộng Hòa có bị cấm không được đưa ra lời bình phẩm nào có khả năng gây nguy hại cho các nhân viên FBI đặc trách thực hiện cuộc điều tra về các hồ sơ mật đó.

Ông Trump đang phải đối diện với mười mấy tội đại hình vì bị tố cáo tàng trữ các tài liệu được đánh dấu tối mật tại nhà riêng của ông ở Mar-a-Lago, Palm Beach, và tội cản trở nỗ lực của chính quyền muốn thu hồi các hồ sơ đó. Ông Trump đã khai trước tòa rằng mình không có tội.

Những thùng hồ sơ chồng chất trong biệt thự Mar-a-Lago của cựu Tổng Thống Donald Trump ở Palm Beach, Florida, trong vụ FBI lục soát ngày 8 Tháng Tám, 2022 (Hình: U.S. Department of Justice)

Vấn đề nổi bật trong phiên xử hôm Thứ Ba là luật sư của ông Trump yêu cầu quan tòa ngăn chặn, không để cho các hộp đựng tài liệu mật bị lấy đi trong cuộc lục soát của cơ quan FBI vào ngày 8 Tháng Tám năm 2022 nói trên bị công khai hóa.

Một trong các luật sư của ông Trump, là Emil Bove, nói với quan tòa rằng lệnh khám xét đại quy mô mọi nơi trong nhà của ông Trump đã dẫn tới việc các giấy tờ cá nhân của ông cũng bị lấy đi theo các tài liệu được đánh dấu là những hồ sơ tối mật.

“Phạm vi quá rộng lớn của vụ lục soát đã vi phạm quyền dân sự của Tổng Thống Trump,” luật sư Bove tuyên bố.

Công tố viên David Harbach gợi ý rằng vụ xét nhà trên quy mô lớn tại gia trang của vị cựu tổng thống là hợp lý do bởi tính phức tạp của các địa điểm cần phải được lục soát, bao gồm luôn cả các nhà vệ sinh, vì nơi đó cũng chứa cả những hồ sơ mà chính quyền muốn thu hồi. (TTHN) 


 

Tô Lâm Qủy Nhập Tràng Cộng Sản

Ba’o Dat Viet

June 25, 2024

=== Vi Anh ===

Quỷ nhập tràng là do cỗ tục lưu truyền trong dân gian Viêt Nam kể về hiện tượng người chết trong lúc khâm liệm thì sống dậy và có những hành động ghê gớm. Những câu chuyện về quỷ nhập tràng thường gắn liền với con mèo đen hay còn gọi là linh miêu, truyền thuyết kể rằng khi người chết chưa được khâm liệm mà một con mèo màu đen nhảy qua xác chết thì sẽ làm cái xác chết vùng dậy phá gia cang, xóm làng.

Tô Lâm qua thời cuộc Cộng Sản Việt Nam trong nước Việt Nam gần đây giết hại sinh mạng chánh trị của nhiều đại cán đồng đảng CS. Nhiều dấu chỉ cho thấy y có thể ám hại cả Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyên phú Trọng vốn là người đã dùng Tô Lâm ám hải các đồng đảng CS làm cuỉ đột lò tham nhũng. Và mới đây con quỷ nhập tràng Tô Lâm đang manh nha ám hại chủ nhà của tang gia là Tổng Bí Thư Cộng Sản Việt Nam đã bát thập bịnh hoạn gần đất xa trời không biết ngày nào.

Tang gia Cộng Sản Việt Nam rối loạn, giết hai sinh mạng chanh trị lẫn nhau, giành giựt tranh ngôi, giành quyền thừa kế lôn xộn như bầm bầu. Từ khi 1975 của  gia đình Cộng Sản Việt Nam này, đây là một cuộc nội loạn, một biến động suy tàn sụp đổ lớn nhất, mà con quỷ nhâp tràng Tô Lâm là kẻ chủ động lợi hai nhất.

Phân tích của nhiều chuyên gia cho thấy Tô Lâm đã đã tước gần hết quyền lực của Tổng Bí Thư Trọng, biến ông chủ lò nắm quyền sinh sát nhiều năm qua thành một ông già bệnh hoạn và cô độc giữa chiến trường gió tanh mưa máu. Trong những ngày tới, không chỉ các thuộc hạ thân tín mà cả bản thân ông Trọng và ông Thủ Tướng Phạm Minh Chính – có thể lâm nguy khi ông Tô Lâm giật nốt chiếc ghế tổng bí thư. Hồ sơ mật về những vi phạm của ông Trọng khi còn làm bí thư Thành Ủy  Hà Nội với dự án khu đô thị Ciputra, của ông Chính khi làm bí thư Tỉnh Ủy Quảng Ninh bảo kê cho tập đoàn AIC của bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, vẫn đang được cất giữ trong két sắt của Bộ Công An, chưa biết lúc nào sẽ được ông Tô Lâm “khui ra” như ông ta đã làm với ông Võ Văn Thưởng, cựu chủ tịch nước, hoặc ông Vương Đình Huệ, cựu chủ tịch Quốc Hội.

Lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam vốn theo mô hình thể chế của Trung Cộng trong đó ông Tô Lâm sẽ là một bản sao thu nhỏ của ông Tập Cận Bình, tổng bí thư đảng kiêm chủ tịch nước Trung Quốc, quyền uy ngang ngửa với nhà độc tài Mao Trạch Đông sáng lập ra Trung Cộng.

Tổng bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tám bó có thể sống nay chết mai, tuổi già sức yếu, bịnh hoạn như Lê Ngọa Triêu là ông vua phải nằm trên ngôi. Cộng Sản Việt Nam hai chức vụ đại diện ngoại giao và nội trị lúc này đều do hai đại cán CS đều xuất thân ngành công an cảnh sát, một là Chủ tịch Nước Tô Lâm gốc Bộ Trưởng Công an và Phạm minh Chính Thủ Tướng cũng gốc công an, Phó Cục Trưởng Tình báo.

Lương Tam Quang, đệ tử ruột của Tô Lâm, được Quốc Hội ‘đảng cử dân bầu’: chính thức “bầu” làm người thay thế ông này ở Bộ Công An Việt Nam. 455 trong số 455 đại biểu Quốc Hội có mặt tại nghị trường nhấn nút “tán thành” việc ông Quang làm bộ trưởng, tức 100%.

Việc ông Quang đại diện Bộ Công An tiếp giới chức cao cấp của Bộ Nội An Hoa Kỳ trước khi ngồi vào ghế bộ trưởng cho thấy ông này được ông Tô Lâm “tín nhiệm cao” để cho ngồi vào cái ghế “quyền lực nhất sau tứ trụ, nhưng thực tế quyền thế mạnh hơn tứ trụ. Ngoài ông Lương Tam Quang, hai “đệ tử ruột” khác cũng vừa được ông Tô Lâm “cài cắm” là ông Tô Ân Xô và ông Nguyễn Duy Ngọc. Ông Xô được điều động về phủ chủ tịch, trong lúc ông Ngọc, đồng hương Hưng Yên với ông Tô Lâm, sang làm chánh văn phòng trung ương đảng.

Tô Lâm đã lật đổ định chế của đảng Cộng Sản Việt Nam. Tô Lâm  nhân danh bí thư Đảng Ủy Công An Trung Ương triệu tập hội nghị đảng ủy và lãnh đạo công an 63 tỉnh thành, ra nghị quyết “đề nghị” Bộ Chính Trị bổ nhiệm Tướng Quang làm bộ trưởng Công An thay vì cử một ủy viên Bộ Chính Trị đảm nhiệm chức vụ này. Làm thế coi như lật đổ Bộ chính trị thời Tổng Trọng và cho Tổng Trọng ra rìa.

Cuộc tranh giành quyền lực ở thượng tầng chính trị Ba Đình vẫn tiếp tục và quyết liệt hơn nữa cho đến khi ông Tô Lâm kiêm luôn cả ghế tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, thực hiện “nhất thể hóa” hai chức vụ lãnh đạo đảng và nhà nước, hoàn toàn theo mô hình thể chế của Trung Cộng trong đó ông Tô Lâm sẽ là một bản sao thu nhỏ của ông Tập Cận Bình, tổng bí thư đảng kiêm chủ tịch nước Trung Quốc, quyền uy ngang ngửa với nhà độc tài Mao Trạch Đông./.

Vi Anh


 

Việt kiều Mỹ 2 lần bị bắt oan, kiện đòi bồi thường được trả chưa tới phân nửa

Ba’o Nguoi-Viet

June 25, 2024

LONG AN, Việt Nam (NV) – Hôm 25 Tháng Sáu, tại trụ sở Viện Kiểm Sát Tỉnh Long An, ông Lâm Hồng Sơn, 68 tuổi, Việt kiều Mỹ, đã được Viện Kiểm Sát hai tỉnh Long An và An Giang trao quyết định bồi thường 2.9 tỷ đồng ($113,912) sau 34 năm ròng rã đi kiện do hai lần bị bắt giam oan, khiến tán gia bại sản.

Trong đó, Viện Kiểm Sát Tỉnh An Giang bồi thường hơn 2 tỷ đồng ($78,560) về “thiệt hại tinh thần,” và gần 700 triệu đồng ($27,496) “thu nhập thực thế bị mất và chi phí khác” cho ông Sơn. Còn Viện Kiểm Sát Tỉnh Long An chỉ bồi thường hơn 209 triệu đồng ($8,209).

Ông Lâm Hồng Sơn nhận quyết định bồi thường, sáng 25 Tháng Sáu. (Hình: Hoàng Nam/VNExpress)

Theo ghi nhận của báo VNExpress, buổi lễ chỉ diễn ra chớp nhoáng trong vài phút.
Theo một lãnh đạo Viện Kiểm Sát Tỉnh Long An, sau khi nhận quyết định giải quyết bồi thường, ông Sơn có 15 ngày khiếu nại không đồng ý quyết định. Còn nếu đồng ý, Viện Kiểm Sát sẽ tiếp tục lập dự trù ngân sách để chi trả tiền cho ông Sơn.

Nói với báo đài, ông Sơn cho biết mình yêu cầu bồi thường gần 6 tỷ đồng ($235,680), nhưng không thể cung cấp đầy đủ các chứng cứ thiệt hại do thời gian xảy ra sự việc đã 34 năm. Vì vậy, hiện đồng ý với mức bồi thường này và mong nhận tiền sớm.

“Việc oan sai coi như đã tạm thỏa mãn. Nhưng tôi vẫn còn đang tiếp tục đeo đuổi vụ kiện dân sự, yêu cầu Công An Tỉnh An Giang giao trả lại số tiền tôi đã đầu tư vào công ty thời bấy giờ, cũng như thiệt hại về số hàng hóa nhập cảng, hợp đồng xuất cảng bị phá vỡ… Tổng số tiền tôi đang khiếu kiện là gần $4 triệu. Tòa Án Tỉnh An Giang đã thụ lý gần bốn năm nay,” ông Sơn nói thêm.

Trước đó hôm 28 Tháng Năm, Viện Kiểm Sát hai tỉnh trên đã tổ chức buổi minh oan, xin lỗi công khai “phục hồi danh dự” cho ông Sơn do bị công an bắt giam oan hai lần trong năm 1990 và 1991, với cáo buộc “lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và trốn thuế.”

Theo hồ sơ vụ án, hồi Tháng Tư, 1988, Ban Chỉ Huy Cảnh Sát Công An Tỉnh An Giang ký hợp đồng với ông Sơn về việc mở cơ sở chế biến thức ăn gia súc tại địa phương.
Ông Sơn bỏ ra 30 lượng vàng để xây cất nhà xưởng và mua sắm trang thiết bị, được công an cho làm giám đốc xí nghiệp, tiến hành hoạt động và nộp một số tiền khoán mỗi tháng cho Công An Tỉnh An Giang.

Một năm sau, Công An Tỉnh An Giang tiếp tục dùng mặt bằng này liên doanh với đối tác Thái Lan, thành lập công ty Ancresdo kinh doanh dịch vụ. Ông Sơn được bổ nhiệm làm giám đốc do có kinh nghiệm làm ăn.

Đầu năm 1990, khi ông Sơn đang thực hiện hợp đồng mua bán sắt giữa Ancresdo và công ty Kinh Doanh Tổng Hợp huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, thì Công An Tỉnh An Giang bất ngờ phát đi thông báo “ông Sơn không phải là người của Ancresdo.”

Công An Tỉnh Long An bắt, khởi tố ông Sơn với cáo buộc “lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa.”

Trong khi Công An Tỉnh Long An đang thụ lý vụ án, thì Công An Tỉnh An Giang làm biên bản “xin mượn bị can hai ngày để làm việc” nhưng giam ông Sơn luôn ba tháng, với cáo buộc “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa.” Đồng thời, chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm Sát tỉnh truy tố ông Sơn về tội “trốn thuế” trong vụ nhập cảng 13 chiếc xe hơi.

Thế nhưng sau khi điều tra, Cơ Quan Điều Tra Công An Tỉnh Long An kết luận, việc bắt oan ông Sơn “liên quan trách nhiệm của một số cán bộ Công An Tỉnh An Giang.”

Ông Sơn bên đống hồ sơ nhiều năm khiếu kiện, kêu oan. (Hình: Vĩnh Phúc/VNExpress)

Hơn một năm sau, Viện Kiểm Sát Tỉnh An Giang cũng cho rằng căn cứ buộc tội ông Sơn “không vững chắc” nên ra quyết định trả tự do và đình chỉ điều tra.

Ông Sơn cho biết, cuộc sống gia đình bị đảo lộn từ khi ông bị bắt oan. Khi ra tù, tán gia bại sản, ông phải bán căn nhà ở quận 1, Sài Gòn, để trang trải cuộc sống và lo cho các con.

Tuy nhiên, các cơ quan tố tụng hai tỉnh chỉ xem đây là “bài học kinh nghiệm sâu sắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trong thời gian tới.” (Tr.N)


 

Những Cái Chết Tức Tưởi Của các Nhà Văn bị csvn giết

Kim Luan Nguyen

Những người bị giết đều là những tinh hoa, là danh sĩ đạo cao đức trọng, yêu nước thương dân, có thành tựu văn hóa sáng giá cống hiến cho nền văn hiến nước nhà. Họ chết mỗi người mỗi cách, đau xót và hàm oan…

Dương Quảng Hàm (1898-1946), hiệu là Hải Lượng, là nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo dục Việt Nam. Tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu, do ông dày công biên soạn, được xem là cuốn văn học sử phổ thông bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam

Dương Quảng Hàm sinh trong một gia đình có truyền thống nho học tại làng Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Cụ nội là Dương Duy Thanh (1804-1861), từng làm Đốc học Hà Nội. Thân phụ là Dương Trọng Phổ, anh cả là Dương Bá Trạc, một trong những người sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục, trường học cách mạng đầu tiên của thành phố Hà Nội, em là Dương Tụ Quán, đều là những danh sĩ có tiếng đương thời.

Thuở nhỏ ông học chữ Nho, sau ra Hà Nội học chữ Quốc ngữ. Năm 1920, tốt nghiệp thủ khoa trường cao đẳng Sư phạm Đông Dương, làm giáo viên trường Bưởi. Năm 1945, ông được bổ nhiệm làm thanh tra Trung học vụ, rồi làm Hiệu trưởng của trường Bưởi.

Trong hơn 20 năm (1920-1945), Dương Quảng Hàm đã làm việc không mệt mỏi, vừa giảng dạy, vừa viết sách giáo khoa văn học và sử học cho nhà trường, từ bậc tiểu học đến bậc trung học, vừa bằng tiếng Pháp vừa bằng tiếng Việt. Hai cuốn sách có giá trị nghiên cứu nhất của ông là Việt Nam văn học sử yếu (1941), Việt Nam thi văn hợp tuyển (1942). Riêng tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu được Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa chính thức dùng làm sách giáo khoa chương trình lớp Đệ Tam (tức là lớp 10) trong nhiều năm liền.

Dương Quảng Hàm chết khi còn đang tại chức vào đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, tại Hà Nội, ở tuổi 48. Dương Quảng Hàm mất tích bởi ông là đảng viên Quốc dân đảng.

Khái Hưng (1896-1947) là một nhà văn Việt Nam nổi tiếng. Cùng với Nhất Linh, ông là cây bút chính của Tự Lực Văn Đoàn.

Ông sinh năm 1896, xuất thân trong một gia đình quan lại ở xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Dương, nay thuộc Hải Phòng.

Khái Hưng học ở trường Albert Sarraut. Sau khi đỗ tú tài I, vì không muốn làm công chức, ông về Ninh Giang mở đại lý bán dầu hỏa. Được một thời gian Khái Hưng lên Hà Nội dạy ở trường Tư thục Thăng Long. Trong khoảng thời gian 1930 đến 1932, Nhất Linh từ Pháp về nước và cũng dạy tại trường này. Khái Hưng đã quen Nhất Linh ở đó và họ trở thành một cặp tác giả nổi tiếng.

Khái Hưng tham gia Tự Lực Văn Đoàn do Nhất Linh thành lập. Văn đoàn này bắt đầu xuất hiện công khai từ 1932, và đến đầu năm1933 thì tuyên bố chính thức thành lập với ba thành viên trụ cột là Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo…

… Là một trong những cây bút chính của nhóm, tiểu thuyết đầu tay của Khái Hưng, Hồn bướm mơ tiên (1933), là tiểu thuyết đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn. Tiểu thuyết cuối cùng của ông là Thanh Đức (1943) và cũng là tiểu thuyết cuối cùng của nhóm. Khái Hưng cũng viết chung với Nhất Linh hai tiểu thuyết là Gánh hàng hoa và Đời mưa gió và ra đời chung tập truyện ngắn Anh phải sống cùng năm1934.

… Trong thời gian Đệ nhị Thế chiến, giống như Nhất Linh, Khái Hưng cũng tham gia hoạt động chính trị. Do tham gia Đảng Đại Việt dân chính thân Nhật nên Khái Hưng từng bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp tháng 3 năm 1945, Khái Hưng được trả tự do.

Khái Hưng mất năm 1947. Một số tài liệu cho rằng Khái Hưng bị Việt Minh bắt giam tại Liên Khu 3 (Lạc Quần, Trực Ninh) rồi đem xử tử hình ở bến đò Cựa Gà, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Theo ông Nguyễn Tường Triệu, con nuôi Khái Hưng, thì Khái Hưng mất tích sau Tết Ðinh Hợi (22/1/1947).

Hồi còn dạy học ở thị trấn Vĩnh Bảo, Hải Phòng năm 1973, tôi đã nghe chính miệnmiệng những du kích Thái Bình – những kẻ thừa hành bản án – kể rằng họ được lệnh bỏ rọ trắm xuống sông nhà văn Khái Hưng – chủ soái của Tự lực Văn đoàn. Kẻ hành quyết kể lại thái độ của Khái Hưng rất bình thản, ung dung chui vào rọ nứa cho những kẻ chân đất đầu trần buộc dây, gài đá, vần xuống sông. Ở dưới đáy sông sặc nước, chắc nghẹt thở lắm… Khái Hưng chết chỉ vì ông là đảng viên đảng Đại Việt!

Phạm Quỳnh (1892-1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn. Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt – thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp – để viết lý luận, nghiên cứu. Ông được xem là người chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập, tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến.

Phạm Quỳnh sinh tại số 17 phố Hàng Trống, Hà Nội; quê quán ở làng Lương Ngọc (nay thuộc xã Thúc Kháng), phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, một làng khoa bảng, có truyền thống hiếu học. Mồ côi mẹ từ 9 tháng tuổi, mồ côi cha từ khi lên 9 tuổi; Phạm Quỳnh côi cút được bà nội nuôi ăn học.

Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng, đỗ đầu bằng Thành chung (tốt nghiệp) Trường trung học Bảo hộ (tức trường Bưởi, còn gọi là trường Thông ngôn).

Năm 1908, Phạm Quỳnh làm việc ở Trường Viễn Đông Bác cổ tại Hà Nội lúc vừa tuổi 16.

Từ năm 1916, ông tham gia viết báo cho một số tờ có uy tín đương thời; làm chủ bút kỳ cựu của Nam Phong tạp chí từ ngày 1 tháng 7 năm 1917 cho đến năm 1932; tuyên truyền cho tư tưởng “Pháp Việt đề huề”.

… Năm 1930, Phạm Quỳnh đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải thành lập hiến pháp, để quy định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ.

Năm 1931, ông được giao chức Phó Hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội. Năm 1932, giữ chức Tổng Thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.

Ngày 11 tháng 11 năm 1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua thay Khải Định, ông được triều đình nhà Nguyễn triệu vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại. Tại Huế thời gian đầu ông làm việc tại Ngự tiền Văn phòng, sau đó làm Thượng thư Bộ Học và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lại (1944-1945).

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Ông về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phú Cam, Huế.

Ông bị Việt Minh bắt giam ngày 23 tháng 8 năm 1945 và giam ở lao Thừa Phủ, Huế. Ông bị xử bắn sau đó cùng với nguyên Tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi (anh ruột Ngô Đình Diệm) và Ngô Đình Huân (con trai của Ngô Đình Khôi). Người thừa hành lệnh này là Đặng Văn Việt (về sau trở thành con hùm xám đường 4 – tiểu tướng Napoleông).

Chuyện này do Tố Hữu – Chủ tịch lâm thời thành phố Huế kể cho Trần Huy Liệu nghe.

Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú, và được cải táng ngày 9 tháng 2 năm 1956 tại Huế, trong khuôn viên chùa Vạn Phước.

Thông tin về ai đã ra lệnh giết ông được lý giải theo nhiều giả thuyết khác nhau.

Cuốn Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XX, mục về Phạm Quỳnh (1892-1945) cũng có một dòng: Đến Cách mạng Tháng Tám 1945 chính quyền nhân dân khép án tử hình.

Có lệnh cấp tốc di dời Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh ra khỏi cố đô đề phòng những chuyện bất trắc không hay sau này. Nhóm du kích áp tải đến một quãng rừng cách xa Huế thì nghe tiếng tàu bay Pháp ầm ì trên đầu tưởng đâu như tiếng máy bay thả biệt kích. Sợ không hoàn thành trách nhiệm di dời nên nhóm áp tải đã tự động thủ tiêu cả ba người mà không chờ chỉ thị của cấp trên. Giả thuyết này không đề cập đến cấp trên là ai hay cơ quan nào ra lệnh.

Có người cho rằng trong số người đi áp tải đó có người nhà Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, người có mối hiềm từ lâu với Phạm Quỳnh nên đã lợi dụng việc này mà giải quyết ân oán.

Có nguồn tin, vì Pháp cho biệt kích tìm Phạm Quỳnh nhưng nhóm này bị bắt và để lộ thông tin, và Phạm Quỳnh bị dân quân địa phương (Hiền Sĩ, Thừa Thiên, Huế) giết.

Nhà văn Thái Vũ lý giải: “Mà lúc ấy trong dân chúng, buổi đầu cách mạng, cũng là trong ngày đầu chính quyền mới do dân làm chủ thì mấy tiếng Việt gian, diệt Việt gian kèm theo hành động lan truyền… khắp mọi nơi, nhất là đối với những người có “thành tích” thân Pháp. Mà hai cụ họ Phạm và Ngô thì rõ ràng quá, tránh sao lúc trong dân, chỉ mới hưởng 1 ngày đầu chính quyền cách mạng, còn căm thù bọn thống trị Pháp và đám tay chân người bản xứ của chúng, có hành động manh động. Đó hẳn là “nỗi uẩn khúc” cuối cùng của ông chủ báo Nam Phong”.

Tạ Thu Thâu (1906-1945) là một nhà cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, một lãnh tụ Cộng sản Đệ Tứ thời sơ khai của các phong trào cộng sản tại Đông Dương, theo chủ nghĩa Trốtskít. Nhà nghiên cứu Thiếu Sơn đánh giá “Không ai phủ nhận được tấm lòng yêu nước của ông, chẳng những yêu nước mà còn dám xả thân hy sinh cho nước. Chỉ có điều khác là nói tới nước, ông liền nghĩ tới dân, thứ nhất là dân vô sản”.

Tới nay, tuy không có tranh cãi về việc mặt trận Việt Minh sát hại Tạ Thu Thâu, vẫn còn nghi vấn về lệnh giết từ đâu đến. Giả thuyết của nhà sử học Daniel Hémery cho rằng các cấp chỉ huy địa phương ở Quảng Ngãi nhận lệnh cấp trên đã ra lệnh giết. Tạ Thu Thâu bị đưa ra pháp trường bắn ba lần mới chết nhờ tài hùng biện thuyết phục của ông mà các đao phủ thủ không nỡ xả súng vào người anh hùng yêu nước.

Trong buổi phỏng vấn ngày 25 tháng 6 năm 1946, Hồ Chí Minh đã trả lời đảng viên Xã hội Daniel Guérin về cái chết của Tạ Thu Thâu như sau: Ce fut un patriote et nous le pleurons… Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés (Tạ Thu Thâu là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất… Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt). [The Anti-Colonial Movement in Vietnam]. Cũng khoảng thời gian 1945, người của Trần Trọng Kim hỏi Hồ Chí Minh về cái chết của Tạ Thu Thâu. Hồ Chí Minh trả lời “chệch đường ray”. (Hồi ký Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim) Vì sao Việt Minh giết Tạ Thu Thâu? Đó là cách mà Stalin giết Trốtsky để trừ hậu họa. Kiều bào ta hồi đó ở Pháp có xu hướng tả, hầu hết ngả về Đệ Tứ. Còn trong nước do tuyên truyền, Trốtsky nhân vật sau Lê Nin đòi xét lại chủ nghĩa Mác được xem là tay sai của đế quốc, cướp của giết người.

Thời đó, Tạ Thu Thâu là lãnh tụ Trốtskít ở Việt Nam. Ông là cây bút sắc bén (giỏi viết báo Pháp ngữ và Việt ngữ), một diễn giả xuất sắc hùng biện, một trí thức có uy tín, nhân cách ôn hòa nhũn nhặn. Tạ Thu Thâu hoạt động mạnh ở Sài Gòn và tiếng tăm vang xa cả nước. Ông chống Pháp, bị bắt 6 lần, 5 lần bị kết án, tổng cộng 13 năm tù 10 năm biệt xứ. Năm 1945, từ Côn Đảo được thả, Việt Minh đón đường bắt lọng và sát hại ông trên cánh đồng Mỹ Khê, Quảng Ngãi. Một cuộc đời xán lạn vì dân vì nước lãnh cái chết thật bi thảm.

Thiều Chửu (1902-1954) là nhà văn hóa, dịch giả và cư sĩ. Ông là tác giả 93 tác phẩm viết và dịch. Ngoài bộ Hán Việt tự điển có giá trị vượt thời gian, ông còn dịch 14 bộ kinh căn bản của đạo Phật như Kinh Di Đà, Thủy Sám, Địa Tạng, Kim Cương Bát Nhã, Viên Giác, Pháp Hoa, Dược Sư, Phả Môn, Di Giáo, Tứ Thập Nhị Chương, Kinh Lễ Sáu Phương, Lục Tổ Đàn Kinh, Khóa Hư. Các sách dịch khác của ông có thể kể: Vì sao tôi tin Phật giáo, Phật học cương yếu, Tây du ký…

Ông tên thật là Nguyễn Hữu Kha, xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo ở Hà Nội. Thân phụ của ông là Nguyễn Hữu Cầu, quen gọi là cụ cử Đông Tác, từng tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục nên bị thực dân Pháp đày đi Côn Đảo.

Cuối năm 1920, cụ Cử Cầu ra tù, ông về giúp cha mở hiệu thuốc Lợi Nhân Đường ở Ngã Tư Sở. Ông học được nghề thuốc Nam và trở thành vị lương y suốt đời chữa bệnh cứu người không lấy tiền. Ông lấy hiệu Tịnh Liễu (Tịnh: trong sạch, Liễu: hiểu biết), bắt đầu tự học đạo Phật và ngoại ngữ. Được bà nội và bác ruột dạy chữ Hán, cùng đức tính kiên trì tự học, dần dà ông đã am hiểu chữ Hán, Nho giáo và Phật giáo, lại thông thạo các tiếng Anh, Pháp, Nhật. Bén duyên với Phật giáo, ông lấy hiệu là Thiều Chửu, có nghĩa là cái chổi quét bụi, thể hiện rõ tâm nguyện của mình là “cây chổi quét bụi ấy sẽ làm trong sáng giáo hội qua ngòi bút cải cách của mình”.

Sau khi Hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập năm 1934 và ra báo Đuốc tuệ, Thiều Chửu nhận lời làm quản lý và biên tập cho tờ báo. Ông cũng tham gia thành lập Hội truyền bá quốc ngữ vào năm 1938 để nâng cao dân trí.

Năm 1941, khi trường Phật học Phổ Quang được mở, ông đảm nhận việc dạy chữ Hán, giảng kinh và chủ trì các khóa lễ mà nhiều học viên sau này trở thành các bậc tu hành có uy tín như Hòa thượng Thích Tâm Tịch, đệ nhị Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Năm 1945, sau Cách mạng tháng 8, Hồ Chí Minh mời ông ra làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội trong chính phủ Lâm thời, nhưng ông từ chối để tiếp tục việc giảng dạy cho các lớp Phật giáo, cùng cô nhi, để theo con đường tu trì lợi tha mà mình đã chọn.

Năm 1946, ông cùng một lớp học tăng ni và một số trẻ mồ côi hội Tế Sinh vượt qua vô vàn gian khổ duy trì đến cùng trường vừa học vừa làm.

Khi đội Cải cách ruộng đất về địa phương, thấy trường làm ăn nên nổi, quy ông là địa chủ, vu cáo ông dùng Phật giáo để mê hoặc quần chúng, cộng với sự thương cảm cho nhiều nông dân bị hàm oan trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc mà cảm thấy mình bất lực, đêm 15 rạng ngày 16 tháng 6 năm Giáp Ngọ 1954, tức cuối ngày giỗ cha, ông ra thác Huống trên sông Cầu tại xóm Đồng Tâm, xã Vạn Thắng, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên làm lễ Tam Bảo và Thiên địa rồi gieo mình xuống sông. Trước khi mất, Thiều Chửu thức trắng đêm viết thư tuyệt mệnh và lời kết bản Tự Bạch gửi Hồ Chí Minh: “… Cái án “mạc tu hữu” (tức vu cáo, ông viết chữ Nho) mà ông Nhạc Phi phải chịu đời phong kiến còn có lẽ; ai ngờ đời nay chính bản thân tôi lại bị, thì tôi còn biết van vỉ làm sao được nữa”. Cái chết “Thiên cổ kỳ oan” của ông đã gây ra nỗi chấn động và tiếc thương vô hạn trong dân chúng địa phương và giới Phật Tử cả nước. Ni sư Thích Đàm Ánh, một học trò của Thiều Chửu, kể Thiều Chửu có dặn đừng vớt xác ông, nhưng các hậu duệ và học trò không ai nỡ làm thế.

Thái Doãn Hiểu


 

 Nữ chủ tịch huyện ở Đồng Nai bị cách chức, chưa rõ vì sao có $6.7 triệu

Ba’o Nguoi-Viet

June 23, 2024

ĐỒNG NAI, Việt Nam (NV) – Theo một quy trình kỷ luật cán bộ rườm rà, mãi đến hôm 23 Tháng Sáu, bà Nguyễn Thị Giang Hương mới bị cách chức chủ tịch huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, sau vụ bị một băng nhóm lừa đảo “online” chiếm đoạt 170 tỷ đồng ($6.7 triệu).

Theo báo Pháp Luật TP.HCM, quyết định cách chức bà Hương của Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Đồng Nai quy hàng loạt tội cho bà này như “không trung thực trong việc kê khai tài sản,” “quanh co, đối phó, che giấu nguồn gốc số tiền chưa kê khai,” “không cung cấp hồ sơ liên quan đến việc sở hữu các tài sản”…

Bà Nguyễn Thị Giang Hương vừa mất chức chủ tịch huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. (Hình: Công Luận)

Bên cạnh đó, nữ chủ tịch huyện này còn bị cho là “làm những việc pháp luật không cấm nhưng ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, địa phương và trách nhiệm nêu gương của đảng viên.”

Vi phạm của bà Hương được kết luận rằng “tạo dư luận xấu trong xã hội, làm giảm sút uy tín bản thân và uy tín của huyện ủy.”

Không thấy bản tin dẫn phản hồi của bà Hương về việc bà bị cách chức.

Nhà chức trách không làm rõ nguồn gốc khoản tiền 170 tỷ đồng mà bà Hương bị lừa với nhiều bí ẩn khi kết quả điều tra của Công An Tỉnh Đồng Nai không được công bố.

Một bản tin của báo Thanh Niên chỉ cho biết vắn tắt rằng vào đầu Tháng Ba, bà Nguyễn Thị Giang Hương bị một nhóm người “dùng các thủ thuật” lấy đi 170 tỷ đồng trong nhiều tài khoản ngân hàng của bà này.

Khoản tiền nêu trên bị nhóm lừa đảo “rút trong nhiều ngày” và đến khi bà Hương nhận ra mình bị lừa, báo công an thì đã muộn.

Trong vụ này, con số 170 tỷ đồng khiến công luận bàn tán rôm rả, thậm chí có một số suy đoán cho rằng số tiền nêu trên bà Hương tham nhũng mà có, vì lương của một chủ tịch huyện trên giấy tờ chỉ khoảng 10 triệu đồng ($393) mỗi tháng.

Đến nay, các vụ giới chức huyện bị lừa tiền hoặc mất trộm vẫn được coi là đề tài “nhạy cảm” tại Việt Nam.

Báo Pháp Luật TP.HCM hồi Tháng Tám năm ngoái cho hay, một nhóm bốn bị cáo bị kết án từ tám đến 19 năm tù với cáo buộc đột nhập nhà ông Vũ Văn Mỹ, chủ tịch huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, để cướp tiền, vàng trị giá 2.3 tỷ đồng ($90,408).

Cổng chào tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. (Hình: Đồng Nai)

Trong vụ cướp xảy ra vào sáng 14 Tháng Mười, 2022, sau khi ông Mỹ vừa rời khỏi nhà, các nghi can leo tường rào, đột nhập, dùng roi điện uy hiếp, khống chế bà vợ ông Mỹ, ép mở két sắt đưa tài sản.

Sau khi lấy toàn bộ tiền, vàng, nhóm này dùng băng keo quấn tay chân nạn nhân rồi tẩu thoát.

Giám định thương tích của nhà chức trách xác nhận bà vợ ông Mỹ bị gãy xẹp đốt sống, tỷ lệ tổn thương 23% cơ thể. (N.H.K) [kn]


 

Nga sẽ mau lẹ quyết định sử dụng võ khí nguyên tử khi tình thế đòi hỏi

Ba’o Nguoi-Viet

June 24, 2024

MOSCOW,Nga (NV) – Nga, nước có kho võ khí nguyên tử lớn nhất thế giới, có thể giảm bớt thời gian họ phải cân nhắc việc sử dụng võ khí nguyên tử nếu Moscow cho rằng có mối đe dọa cấp bách cho nền an ninh của mình từ bên ngoài, theo lời vị chủ tịch ủy ban quốc phòng của nghị viện Nga, thông tấn xã Reuters đưa tin hôm Chủ Nhật, 23 Tháng Sáu.

Cuộc chiến tranh tại Ukraine đã dẫn tới cuộc chạm trán nghiêm trọng nhất giữa Nga và các nước Tây Phương kể từ cuộc Khủng Hoảng Hỏa Tiễn Cuba năm 1962. Hồi tháng trước, Tổng Thống Vladimir Putin tuyên bố Nga có thể thay đổi các tiêu chuẩn để có thể lập tức sử dụng võ khí nguyên tử để đối phó với mọi tình huống bất ngờ.

Hôm Chủ Nhật, chủ tịch ủy ban quốc phòng hạ viện Nga Andrei Kartapolov đã được thông tấn xã nhà nước RIA dẫn lời ông tuyên bố rằng nếu có mối hiểm nguy cao độ cho nước Nga thì thời gian Nga quyết định việc sử dụng võ khí nguyên tử sẽ được rút ngắn để kịp thời đối phó với mối đe dọa cho sự sinh tồn của đất nước.

Mô hình bom nguyên tử AN-602, còn có tên là Bom Nga Hoàng, có sức công phá mạnh nhất từng được thí nghiệm tại Trung Tâm Triển Lãm Nước Nga ở Moscow ngày 6 Tháng Mười Hai, 2023 (Hình: NATALIA KOLESNIKOVA/AFP/Getty Images)

Nguyên tắc mới để Nga sử dụng võ khí nguyên tử một cách cấp bách như nói trên đã được đưa ra hồi năm 2020, cho phép các lực lượng Nga khẩn cấp đối phó với các lực lượng thù địch khi họ sử dụng võ khí nguyên tử hoặc võ khí tiêu diệt hàng loạt tấn công vào lãnh thổ Nga.

Nguyên tắc nói trên cho thấy có sự nhượng bộ trước áp lực của phe cứng rắn trong hàng ngũ giới lãnh đạo Nga, từ Tổng Thống Putin trở xuống, khi họ tin tưởng rằng ông Putin phải rút ngắn thời gian quyết định việc sử dụng võ khí nguyên tử để kịp thời phản ứng chống lại các cuộc tấn công của quân địch.

Tuần trước, Tổng Thống Putin đã nhắc lại rằng sở dĩ có chuyện thay đổi nguyên tắc sử dụng võ khí nguyên tử của Nga là vì các lực lượng thù địch đã phát triển các loại võ khí có khả năng tương đương với võ khí nguyên tử, trực tiếp đe dọa nền an ninh của đất nước Nga.

Cả Moscow và Washington đã từng cắt giảm mạnh mẽ kho võ khí nguyên tử của mình sau khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ, nhưng công cuộc cắt giảm võ khí đó trong thời Chiến Tranh Lạnh, cuối cùng, đã sụp đổ, dẫn tới cuộc chạy đua võ trang gần như bất tận giữa các cường quốc trên thế giới như hiện nay. (TTHN)


 

 Bằng tiến sĩ luật ở Việt Nam ‘cũng 5, 7 đường’

Ba’o Dat Viet

June 24, 2024

Thích Chân Quang (giữa) nhận bài tiến sĩ của Đại học Luật Hà Nội

“Cử nhân luật cũng có dăm bảy loại, thạc sĩ luật cũng có dăm bảy loại, tiến sĩ luật cũng theo đó mà có dăm bảy loại, phó giáo sư luật học còn bị phân loại tệ hơn nữa.“

Sau khi công luận bàn tán về tấm bằng tiến sĩ luật của Thích Chân Quang do Đại học Luật  Hà Nội cấp, báo đảng hôm 24/6 đăng lời bao biện của Tô Văn Hòa, hiệu phó Đại học Luật  Hà Nội, chủ tịch Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Vương Tấn Việt, tức Thích Chân Quang: “Người này này nhận bằng cử nhân Luật tại chức loại giỏi, đủ điều kiện để học thẳng lên tiến sĩ theo quy định.”

“Toàn bộ quá trình đào tạo, công nhận trình độ tiến sĩ của Thích Chân Quang đều được hội đồng đánh giá thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các bước theo đúng quy định,” Hòa nói.

Ông Ngô Huy Cương, một giảng viên khoa Luật bình luận: ‘Ở nước ta cũng giống như bao nước khác, có dăm bảy loại cơ sở đào tạo luật khác nhau dù đều phải tuân thủ chương trình đào tạo theo chuẩn chung quốc gia, bao gồm: khá có, trung bình có, kém có, cực kém cũng có, chỉ không có loại giỏi, loại xuất sắc.

Đó là thực trạng mà ảnh hưởng ngay tới nền luật học và tới vấn đề xây dựng pháp luật, và cũng do chính tác động của nền luật học cũng như của vấn đề xây dựng pháp luật gây nên, có nghĩa là chúng tác động xấu lẫn nhau.

Vì vậy, cử nhân luật cũng có dăm bảy loại, thạc sĩ luật cũng có dăm bảy loại, tiến sĩ luật cũng theo đó mà có dăm bảy loại, phó giáo sư luật học còn bị phân loại tệ hơn nữa.

Ấy thế mà giáo sư luật học lại chỉ có mỗi một loại với một số phẩm chất rất chung là tán rất hay trên căn bản “phi kiến thức nền tảng”, và tận dụng tối đa học hàm  cho mọi hoạt động sống.

Đừng nói là các giáo sư luật học không giúp gì được  cho ai. Vụ bằng tiến sĩ của Thích Chân Quang là một minh chứng sống động nhất cho công trạng của các giáo sư luật học!

Thủ tục sinh ra là để làm rõ được sự thật khách quan, đánh giá và áp dụng chính xác những kết quả tìm kiếm.

Nhưng mặt khác thủ tục cũng bị lạm dụng để làm khó cho người này, lại bao che cho sự thiếu khách quan trung thực, cũng như lại bảo vệ cho sự đánh giá sai và áp dụng sai kết quả tìm kiếm đối với người khác.

Nó cũng giống như một con dao khi mà nằm trong tay công an thì được dùng để bảo vệ con người, nhưng khi nằm trong tay kẻ xấu thì có thể bị dùng để giết người.

Vậy khi nhìn nhận một luận án tiến sĩ luật học thì hãy xem nội dung thực chất của luận án đó và xem kỹ các giáo sư luật học trong hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ đó nói gì về chuyên môn!”

Facebooker Lê Văn Đại nửa đùa nửa thật: “Đạt được thành quả nhanh quá cũng không tốt. Tốt nghiệp đại học 2019, năm 2021 lấy luôn tiến sĩ. Đại Học Luật  Hà Nội đào tạo quá tốt.

Anh em nào có mua bằng cũng lưu ý nên đúng quy trình như người thường để không bị phát hiện. Mà thời này bằng cấp dễ nên đi học đúng học đủ có tiền đóng học phí là có bằng ngay.” 


 

 Giao trứng cho ác-Lâm Công Tử

Ba’o Nguoi-Viet

June 19, 2024

Lâm Công Tử

“Giao trứng cho ác” là câu thành ngữ tượng hình và chính xác trong trường hợp tin người khác một cách mù quáng sẽ làm hại đến bản thân. Ác ở đây là con quạ rất thèm ăn trứng, khi giao một cái trứng cho nó ấp giùm thì không khác gì mang thức ăn khoái khẩu cho nó. Người Việt đang chứng kiến hình ảnh câu thành ngữ này vừa xảy ra công khai tại một ngôi chùa nổi tiếng của miền Bắc: Chùa Ba Vàng.

Ông Thích Trúc Thái Minh (phải), trụ trì chùa Ba Vàng, nói cô Khánh Linh (trái) không dự khóa tu, không sám hối thì sẽ phải lấy nhiều đời chồng và lấy những người vũ phu do quả báo. Bà Phạm Thị Yến (giữa) thuyết giảng về “oan gia trái chủ.” (Hình: Công Thương)

Ác ở đây là ác tăng Thích Trúc Thái Minh cùng với đệ tử ruột là Phạm Thị Yến đang huênh hoang ca ngợi “khóa tu mùa Hè năm 2024” được bắt đầu vào ngày 12 Tháng Sáu để lôi kéo hàng chục ngàn “quả trứng” sinh viên học sinh tới sinh hoạt và tu tập. Trên các tài liệu quảng cáo thì mục tiêu của khóa tu này nhằm: Rèn luyện thể chất; Rèn luyện kỹ năng, giao tiếp; Học hỏi kỹ năng, tiếp thêm động lực khi giao lưu với diễn giả, khách mời; Học lời Phật dạy, rèn luyện bản thân, sửa đổi tâm tính.

Phụ huynh không cần đóng tiền, mọi chi phí đều do chùa Ba Vàng đài thọ, chi tiết này là mồi nhử khiến hàng chục ngàn phụ huynh hớn hở giao con mình cho ông Thích Trúc Thái Minh huấn luyện kỹ năng và tu tập nhằm tạo thêm đạo đức cho con cái khi chúng ra trường. Họ quên một sự thật trong đời sống này “không có gì miễn phí ngoại trừ không khí.”

Câu hỏi đầu tiên: Tiền đâu mà một ngôi chùa có thể bỏ ra lo chỗ ăn ở cho hàng chục ngàn con người? Mục đích của việc miễn phí này là gì và ai là người hưởng lợi nhất?

Trả lời cho câu hỏi đầu tiên về nguồn tiền mà ngôi chùa tai tiếng này bỏ ra không khó: Chùa Ba Vàng là nơi nổi tiếng buôn thần bán thánh qua các dịch vụ oan gia trái chủ, bán vé cho chúng sinh vào nghỉ dưỡng hay du lịch, bán cả niềm tin giả hiệu là xá lợi tóc mang từ Miến Điện về, cũng như những bài thuyết pháp kêu gọi cúng dường đầy tội lỗi. Miễn phí cho hàng chục ngàn con người là cách đầu tư về sau khi bọn trẻ đã hoàn toàn bị những bài thuyết giảng nhồi sọ, những động thái hăm dọa hay những trò vui chơi mà tuổi trẻ yêu thích khống chế, sẽ quay trở lại chùa phục vụ không công cũng như trút hết tiền túi ra cho chùa mà không một câu hỏi nào đặt ra. Nếu sẽ như thế thì ai là người hưởng lợi nhất đã được khẳng định và kẻ nhận lại những mất mát tiền bạc và thời gian không ai khác hơn những “quả trứng” mà cha mẹ của chúng tự nguyện giao cho các ác tăng của ngôi chùa này.

Rất có thể nhiều phụ huynh cho rằng con cái mình theo tu tập trong khóa tu mùa Hè này không ít thì nhiều sẽ hiểu được thế nào là quy y tam bảo là Phật Pháp Tăng hay sự hướng thiện trong đời sống tâm linh. Nhưng họ sẽ không tin được câu chuyện mà hai thầy trò Thái Minh và Thị Yến dàn dựng để khủng bố những đứa trẻ chưa vào đời.

Trong một video đang rất nóng trên mạng xã hội người xem có lý trí sẽ không thể kềm nén sự tức giận khi hình ảnh một cô gái trên dưới 16 tuổi đang đóng vai một kẻ bị trừng phạt vì đã tạo ác nghiệp từ 14 kiếp trước. Cô gái tên là Khánh Linh như bị lên đồng, đầu luôn gục gặc một cách đáng sợ mà nói không được ba chữ “quy y tăng.” Trong khi đó ông Thái Minh ngồi trước vài ngàn tu sinh phát biểu rằng “14 kiếp trước con cùng bạn Khánh Linh tạo ác nghiệp ở chùa vì quyến rũ các sư. Hôm nay thầy cho con và bạn Khánh Linh sám hối để tiêu nghiệp…”

Sau đó là phần trình diễn của bà Yến. Bà đứng kế cô Khánh Linh luôn khuyến khích cho cô gái đọc ba chữ “quy y tăng” nhưng không tài nào đọc được. Bà dẫn chuyện: “Con bạch thầy, ở đây nói cho các bạn biết rằng khi mình làm việc ác rồi không phải chuyển hóa một cách dễ dàng đâu mà phải ăn năn ngay từ lúc mình đang có phước đang quả báo thì khi quả báo nó đến rồi thì rất là khó có thể chuyển được. May mà có lòng từ của thầy mà cái quả báo phá tăng nó như thế này đây, rất khó rất khổ như thế này đây nó không phải là dễ dàng đối với những người mà bị quả báo phá tăng khi quả báo đã đến thì rất đau khổ. Công đức như thế mà còn chưa được thì con xin phát nguyện thêm để con hồi hướng cho cái vong này. Con kính bạch thầy con đem cái công đức ngày mai con chia sẻ pháp với em khóa sinh để hồi hướng cho vong linh được chuyển hóa cái nghiệp chướng này để quy y tăng được. Tất cả ở đây mau hồi hướng tri ân thầy đi, ‘chúng con tri ân thầy. Chúng con tri ân công đức của chư tăng. Chúng con đem công đức này hồi hướng cho Lê Thị Khánh Linh và hồi hướng cho vong linh được đủ duyên phước quy y tăng.’”

Rồi bà Yến hỏi cô Khánh Linh:

“-Con khai đi con làm gì

-Con hát trước chùa!

Và rồi em nói được con xin quy y tăng!”

Nếu xem cho hết vở kịch này thì liệu phụ huynh các trại sinh có cảm giác thế nào khi con mình sẽ gặp trường hợp như thế? Chắc chắn là sợ hãi nếu yếu bóng vía và tin dị đoan. Sẽ giận dữ nếu có kiến thức về Phật pháp. Nhưng nhìn lại hàng trăm ngàn chúng sinh theo chùa Ba Vàng vô điều kiện như hiện nay thử hỏi họ có chút kiến thức gì về Phật pháp để đủ sáng suốt nhận ra cả sư lẫn vãi đều tẩy não con em mình hầu tập trung tiền bạc, niềm tin vô lối của chúng sinh?

Bà Yến luôn cao giọng thốt lên hai chữ hồi hướng nhưng bà hình như không hiểu chính xác hai chữ hồi hướng theo nghĩa của Phật dạy. Hồi hướng là dùng thiện căn công đức tu tập và hành thiện của mình để hướng về mục đích hoặc tự làm lợi ích cho chính mình hoặc làm lợi ích cho chúng sinh khác. Hiểu đơn giản, hồi hướng là nguyện đem công đức tu tập hoặc làm việc thiện lành hướng về người thân, cầu mong cho họ được an lành hoặc siêu thoát.

Với một lý lịch đầy ác nghiệp như kêu gọi đóng tiền oan gia trái chủ thử hỏi bà Yến có công đức gì mà hồi hướng cho người khác? Ngay cả ông Thích Trúc Thái Minh, người đang bị cả nước réo tên, thì có đáng ngồi trên cái bệ cao cao tại thượng kia mà phán xét người khác hay không?

Báo Công Thương vừa ra một phóng sự nói về sự kiện này, phóng viên tờ báo phát hiện ra thêm một chiêu trò của thầy trụ trì khi phát ngôn rằng: Không dự khóa tu, không sám hối thì sẽ phải lấy nhiều đời chồng do quả báo.

Chùa Ba Vàng lấy hình ảnh quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng không phải trong ý nghĩa của quy y Tam Bảo: “Quy” có nghĩa là quay về, “y” có nghĩa là nương tựa. Quy y nghĩa là quay về nương tựa. Trong Phật Giáo, quy y là nơi giúp cho chúng sinh tìm đến sự an toàn cho bản thân, tâm được thanh tịnh, thoát khỏi những khổ đau của cuộc sống. Quy y bao gồm quy y Phật-Pháp-Tăng và gọi chung là quy y Tam Bảo. Cô gái Khánh Linh trong kịch bản không phát âm được “quy y tăng” vì bị cho là đã xem thường giới tăng lữ mà giới tăng lữ trong câu chuyện này là ai nếu không phải là ông Thích Trúc Thái Minh? Thầy trò ông này dựng lên kịch bản này nhằm khủng bố tinh thần các em trại viên với thông điệp rất ngắn gọn: Phải tuân phục thầy bất cứ giá nào! Và từ đó bọn ác tăng nắm trong tay hàng chục ngàn sinh linh của Phật tử cuồng tín để khuấy động Phật Giáo Việt Nam.

Đây chính là nguyên nhân lớn nhất khiến cho sư Thích Minh Tuệ trở thành vị Phật sống vì đã buông bỏ thân xác mình cho Phật pháp. [qd] 


 

Sử gia Trần Huy Liệu: ông thầy bịa sử-Tác Giả: Phan Thanh Tâm

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Phan Thanh Tâm

09/09/2021

Ông Trần Huy Liệu

“Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” là “một sản phẩm được chế ra bởi chính Viện Trưởng Viện Sử Học miền Bắc, Giáo sư Trần Huy Liệu”. Và chuyện “đề cờ” chung quanh câu này đã trở thành một thứ “sự thật lịch sử, “siêu tài liệu”, hay “siêu bằng chứng” là nhờ tài nghệ sáng tác cùng kinh nghiệm làm báo cũng như làm chính trị của “người anh cả” giới sử học Hà Nội. Luật Sư Winston Phan Đào Nguyên đã xác định như vậy trong cuốn “Phan Thanh Giản và vụ án “Phan Lâm Mãi Quốc, Triều Đình Khí Dân”. Tác giả đã dành một năm nghiên cứu quá trình nguồn gốc tám chữ được dùng để hạ nhục cụ Phan ”vì mục đích đánh chiếm miền Nam”.

Tác giả sách cho biết câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” xuất hiện lần đầu tiên tháng 8 năm 1955 trên số 9 tập San Văn Sử Địa tiền thân của tờ Nghiên Cứu Lịch Sử trong bài viết có tựa đề “ Việt Nam Thống Nhất Trong Quá Trình Đấu Tranh Cách Mạng” của ông Trần Huy Liệu. Tuy là bài nóí chuyện tại Câu Lạc Bộ Đảng Xã Hội Việt Nam, nhưng được coi như là một bài viết rất công phu với nhiều chú thích; riêng câu có tám chữ về cụ Phan thì ông Liệu không hề cho hay nguồn gốc câu đó ở đâu. Sinh năm 1964 tại Cần Thơ, là một thuyền nhân đến Mỹ năm 1980, Tiến sĩ Luật khoa Phan Đào Nguyên xác định câu này không có mặt trong cả nước trước 1954 và miền Nam từ 1954 cho đến năm 1975.

Khác với giáo sư Phan Huy Lê khi kể lại chuyện cây đuốc sống Lê Văn Tám là một nhân vật không có thật do ông Trần Huy Liệu chế tạo, giáo sư Lê đã không nói rõ, là Giáo sư Trần Huy Liệu đã nhắn nhủ với Giáo sư trong trường hợp nào. Đằng này, khi công bố chuyện sử gia Viện trưởng Viện sử học chế ra câu “Phan Lâm Mãi Quốc Triều Đình Khi Dân” với sự phụ hoạ của giáo sư sử học Trần Văn Giàu, tác giả Tiến Sĩ Luật Khoa Phan Đào Nguyên đã viết cả môt cuốn sách dày gần 400 trang. Sách được phát hành nhân buổi Hội Thảo và Triển Lãm về Nhân Vật Lịch Sử Phan Thanh Giản” và trao giải thhưởng Văn Học PhanThanh Giản 2021 tại Houston.  Buổi này do Gia Đình Cựu Học Sinh Trung Học Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm Cần Thơ tại Houston, Texas, tổ chức ngày 15/8/2021.

Trong sách Tiến sĩ Luật khoa Phan Đào Nguyên, Cử nhân khoa Lịch sử bằng danh dự năm 1987 tại UCLA, đã chỉ trích thế hệ giáo sư sử học ở Việt Nam do hai bậc trưởng thượng, ông Trần Huy Liệu và Trần Văn Giàu, đào tạo ra trong đó có “tứ trụ”  Hà Văn Tấn, Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, và Trần Quốc Vượng. Ba ông sau đã tiếp tay phổ biến câu “thần chú vạn năng” này. Cuốn sách là một thách đố cho các sử gia miền Bắc: “Họ đã không làm phận sự giáo sư bộ môn lịch sử – là phải tìm hiểu cặn kẽ về một câu có tầm vóc lịch sử. Giỏi lắm thì họ có đặt chút nghi ngờ về xuất xứ của câu này, nhưng rồi vẫn tiếp tục cho rằng đó là một nguồn dư luận cần phải được ghi nhận”.

phải phục vụ chế độ

Tại sao không nói đến xuất xứ tám chữ nói trên? Vì cứu cánh biện minh cho phương tiện. Đề ra những phương  pháp sử học cơ bản nhưng khi cần đạt được mục đích tối hậu thì sử gia cọng sản không làm nhiệm vụ của một sử gia là đưa ra những suy nghĩ vô tư dựa trên những tài liệu uy tín mà “ta chỉ thấy toàn những lời bịa đặt”. Tác giả Phan Đào Nguyên trang 348 trích dẫn tôn chỉ của sử gia Trần Huy Liệu khi ông chủ trương : chúng ta không phải nghiên cứu để nghiên cứu mà là nghiên cứu để phục vụ cho những công tác trước mắt; gắn chặt việc yêu nước với việc yêu chế độ xã hội chủ nghĩa; chứng minh chế độ ta là một chế độ tốt đẹp hơn chế độ thối nát của Mỹ –  Diệm ở miền Nam.

Trang 32 cuốn sách kể lại chuyện Giáo sư Trần Văn Giàu thổ lộ với nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh rằng “Đó là thằng Liệu, không phải tao” khi nghe nhắc tới chuyện khoảng năm 1960 – 1963 đảng Cộng Sản hạ quyết tâm dùng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam.  Phan Thanh Giản là một nhân vật “chủ hoà” bị mang ra đấu tố. Trong phiên toà ông Phan đã bị kết án xử tử.  Ông Trần Huy Liệu trước khi dàn dựng phiên toà đấu tố trên tờ Nghiên Cứu Lịch Sử năm 1963 do ông làm chủ nhiệm và Tổng Biên Tập, ông đã nghiên cứu cách đấu tố điạ chủ ở miền Bắc 10 năm trước. Điều này được tiết lộ qua con trai ông là Trần Chiến viết trong cuốn “ Cõi Người – Chân Dung Trần Huy Liệu” trang 367.

Phiên tòa đấu tố là “một vụ xử án một chiều rất trắng trợn”. Tác giả Phan Đào Nguyên viết, câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” đã được đem ra để làm bằng chứng duy nhất cho tội “mãi quốc”. Nó chứng minh cho việc Phan Thanh Giản đã đi ngược lại “nguyện vọng của nhân dân”; từ đó bác bỏ việc xin khoan hồng cho tội “mãi quốc”. Quan toà tuyên bố bản án tối hậu cho cụ Phan mà chỉ dựa vào  tám chữ mà tám chữ đó lại do chính giáo sư sử học và là quan toà bịa ra. Phiên toà không có sự đối thoại hay tranh luận nào hết.  Có một độc giả Hải Thu viết bài “góp ý về Phan Thanh Giản” cũng đã miệt thị và buộc tội cụ Phan. Sau này người tai khám phá Hải Thu là bút hiệu của Trần Huy Liệu.

Về tội “mãi quốc”, theo Luật sư Phan Đào Nguyên, đây là động từ cho thấy có sự trao đổi giữa kẻ bán và kẻ mua. Nếu cụ Phan bị tuyên án “mãi quốc” thì  quan toà Trần Huy Liệu ít nhất phải có một bằng chứng cho cuộc mua bán, đổi chác giữa cụ Phan và Pháp và đã là mua bán thì cái giá của sự trao đổi là gì? Có phải là tiền bạc, chức tước, hay đất đai cho chính Phan Thanh Giản hoặc con cháu gia đình ông để đổi lấy mấy tỉnh Nam Kỳ? Những điều kiện phải có cho tội danh “bán nước” đã không  được đếm xỉa tới. Đó là chưa nói tới việc Phan Thanh Giản chẳng làm gì có quyền gì mà bán. Tất cả quyết định tối hậu là ở vua Tự Đức. Hoà ước 1862  ký xong trong vòng một năm phải được  vua Napoleon III và vua Tự Đức chấp thuận.

 Điều 11 Hoà Ước 1862

Theo Luật sư Tiểu Bang California và Liên Bang Mỹ Phan Đào Nguyên các sử gia miền Bắc và sử gia Trần Huy Liệu không đọc hết hoà ước 1862 (Nhâm Tuất). Họ gọi Hoà ước này là “hàng ước” và Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp là những kẻ “đầu hàng” hay “bán nước”. Hoà ước có điều khoản 11, cực kỳ quan trọng. Viện trưởng Viện sử học và đàn em không bao giờ nhắc đến điều 11 vì “nó là một công trạng và thắng lợi về ngoại giao cũng như về chính trị của Phan Thanh Giản mà họ không hề biết, hoặc không muốn cho ai biết”. Theo điều này Pháp sẽ trả lại tỉnh thành Vĩnh Long cho vua An Nam, nếu vua An Nam ra lệnh và giải tán những lực lượng kháng Pháp tại hai tỉnh Gia Định và Định Tường.

Liên quân Pháp-Tây Ban Nha đánh bại Nguyễn Tri Phương tại đồn Chí Hoà năm 1861 và sau đó họ liên tiếp chiếm luôn bốn tỉnh lân cận Gia Đinh, Định Tường, Biên Hoà và Vĩnh Long chỉ trong vòng một năm. Gia Định là thủ phủ của ba tỉnh miền Đông. Vĩnh Long là thủ phủ của ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Do đó, việc mất tỉnh Vĩnh Long vào tay liên quân Pháp – Tây Ban Nha đồng nghĩa với việc sẽ mất trọn  Nam Kỳ. Lúc bấy giờ có những cuộc nổi loạn ở Bắc kỳ. Vua Tự Đức muốn rảnh tay đối phó với tình hình phiá Bắc, đành nhận chịu mất ba tỉnh miền Đông Nam kỳ. Việc Pháp trả tỉnh Vĩnh Long cho Việt Nam là một sự nhương bộ của Pháp- Tây- Ban Nha do tài ngoại giao của cụ Phan.

Để lấy lại được Vĩnh Long, Phan Thanh Giản phải thực thi điều 11 của Hoà Ước.   Ông buộc Pháp phải thực thi việc trả lại tỉnh này và cụ phải chứng minh cho người Pháp thấy là ông đã từng viết thư kêu gọi Trương Định giải giáp và bãi binh theo lệnh của vua. Đó là lý do tại sao khi Trương Định không chịu làm theo lệnh vua thì Phan Thanh Giản tuyên bố với phe Pháp là Trương Định là kẻ phản loạn để triều đình Huế hết chịu trách nhiệm về ông ta nữa. Nhờ sự khéo léo về chính trị của cụ Phan, nhà Nguyễn lấy lại Vĩnh Long trong vòng chưa đầy một năm sau khi ký Hoà ước 1862 mà không mất một mạng người nào. Các sử gia miền Bắc không đọc điều 11 nên tuyên bố cả 12 điều trong Hoà Ước là sự nhục nhã của nhà Nguyễn.

Trang 147 sách in lại Hịch Quản Định bản tiếng Việt của Petrus Trương Vĩnh Ký. Hịch Trương Định thông báo lý do ông đánh Pháp để đền ơn chúa và còn nói rõ ông tiếp nhận chiếu phụng của vua, nhận lãnh ấnTống Binh của triều đình đồng thời thừa lệnh vua kêu gọi mọi người chiến đấu chống Pháp. Ngoài ra, cũng qua bài hịch, tác giả Phan Đào Nguyên viết “ta còn được chính tác giả Trương Định cho biết rằng lá cờ của ông đã đề sẵn bốn chữ “Bình Tây Đại Tướng” chớ không phải “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” như hai sử gia Trần Huy Liệu và Trần Văn Giàu đã kể”.  Vẫn theo tác giả Phan Đào Nguyên, Trương Định biết cụ Phan cũng là “một phần tử của nhà vua đang tìm cách lấy lại đất bằng đường lối khác”.

Tại sao Viện Trưởng Viện Sử Học chọn Phan Thanh Giản làm mục tiêu tấn công và đem cụ làm nhân vật chính trong câu “ Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”?  Theo Luật sư Phan Đào Nguyên năm 1955 khi nhận thấy miền Nam không có tổng tuyển cử và miền Bắc chủ trương dùng chiến tranh để chiếm miền Nam thì Trần Huy Liệu chỉ trích đường lối ngoại giao của Phan Thanh Giản là “ảo tưởng” là “liều thuốc độc” và những người không chọn chủ chiến là thành phần “do dự hoang mang”.  Để tranh thủ người dân miền Nam và cán bộ tập kết phải cùng theo con đường đảng đề ra – ông Trần Huy Liệu răn đe – nếu không họ sẽ mang cái án bán nước, đầu hàng và cấu kết với giặc như Phan Thanh Giản bị kết án qua tám chữ nêu trên.

Cả nước ca ngợi quan Phan

Ngoài ra, vẫn theo Luật sư Phan Đào Nguyên, Phan Thanh Giản là một vị quan đức độ và có uy tín sâu rộng trong nhân dân Nam kỳ. Uy tín này có thể làm cho người dân Nam kỳ tin tưởng rằng đường lối ngoại giao của ông Phan là đúng. Do đó, ông Trần Huy Liệu phải chọn cụ Phan làm đối tượng phải diệt.Tiếp đó, ông ta đưa Phan Thanh Giản vào làm nhân vật chủ chốt hay là kẻ tội phạm đứng đầu sổ trong câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” mà đã do chính ông ta chế tạo ra.  Đây là một việc làm cần thiết cho mục tiêu tối hậu của ông Trần Huy Liệu- là giành lấy chính nghĩa và sự ủng hộ của dân miền Nam cho đường lối chủ chiến của phe ông ta ở miền Bắc trong cuộc chiến tranh đang diễn ra ở miền Nam.

Tiến sĩ Phan Đào Nguyên quả quyết, câu “Phan Lâm Mãi Quốc, Triều đình Khí Dân” không có trong sách báo bằng chữ quốc ngữ của cả nước từ trước và ở miền Nam từ năm 1954 đến 1975. Theo ông Nguyễn văn Trấn (1914 – 1998) còn gọi Bảy Trấn, là một nhà báo, nhà văn, nhà hoạt động cách mạng chống Pháp, Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9 và giảng viên trường Nguyễn Ái Quốc viết trong cuốn “Chợ Ðệm Quê Tôi” thì câu nói đó là câu nói của đàng ngoài: “Chớ tôi từng đọc sách sử, chưa thấy ở trong Nam này có sĩ phu bốc đồng nào nói ra câu bia miệng đó”.

Luật sư Phan Đào Nguyên cho biết sau khi Phan Thanh Giản (1796–1867) qua đời cụ đã được tất cả các sĩ phu và dân chúng miền Nam cũng như cả nước ngợi khen, như có thể thấy qua thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Phạm Viết Chánh, Phạm Phú Thứ.  Chẳng có văn thơ nào lên án Phan Thanh Giản cả. Có một người duy nhất tạm cho là có giọng điệu phê phán quan Phan là Phan Văn Trị, với câu “ngậm cười hết nói nỗi oan (quan?) ta”. Câu này có thể diễn dịch là một câu trách móc nhẹ nhàng chớ không phải là một lời lên án hay kết tội gì cả. Chữ oan hay quan theo lối nói của người miền Nam thì hơi giống nhau.

Ở  Miền Bắc trước 1954 cũng không hề nghe nói đến câu này. Tác giả Phan Đào Nguyên đã cố tìm trong các báo có uy tín như Nam Phong Tạp Chí của Thương Chi Phạm Quỳnh, và bộ Tri Tân Tạp Chí của Ứng Hòe Ngô Tất Tố cũng không thấy có bài nào chê bai hay lên án Phan Than Giản mà toàn là  những bài viết ca ngợi về sự hy sinh và đức độ cũng như thông cảm cho hoàn cảnh của quan Phan.  Ở trong Nam, những tác giả chuyên nghiên cứu về PhanThanh Giản như Lê Thọ Xuân, Trực Phần, Trường Sơn Chí, Khuông Việt  cũng không thấy nói về tám chữ ở đầu bài. Ông Lê Thọ Xuân đã cùng một người Pháp viết cả một cuốn sách với rất nhiều tài liệu bằng tiếng Pháp về cụ Phan cũng không có chữ nào về Phan Lâm Mãi Quốc .

Sử gia hay sử tặc?

Miền Nam sau năm 1954 cho đến năm 1975 không có sách báo nào viết chê bai cụ Phan. Tạp San Sử Điạ tại Sài Gòn không thấy có bài nào đề cập tới câu này. Có một trường hợp ngoại lệ là bài của sử gia Phạm Văn Sơn viết về câu này Phan Lâm bán nước, triều đình khí dân. Ông cũng đã chú thích ở cuối bài là tham khảo từ Lịch sử 80 năm chống Pháp của T-H-L  trang 32 và Nam kỳ chống Pháp của T-V-G trang 160.  Thời này một trong những con đường lớn nhất ở Sài Gòn là đường Phan Thanh Giản nay là đường Điện Biên Phủ. Cần Thơ và Đà Nẵng có trường Phan Thanh Giản coi như cùng cỡ với trường Quốc Học ở Huế hay trường Petrus Ký ở Sài Gòn.  Ngoài ra, ở miền Tây cũng còn có một bệnh viện lớn mang tên Phan Thanh Giản.

Nhà văn Sơn Nam kể lại, hồi xưa khi đi ngang qua miếu Văn Thánh học trò phải cúi đầu chào ông Phan. Nhà văn nói:”Tôi lại vào bên hông miếu Văn Thánh để cúi đầu trước bức ảnh cụ Phan, chớ nào ai vào chánh điện để chào ông Khổng, ông Tăng Sâm, Tử Lộ”. Nhà văn đề nghị, “trong chương trình sử học cho học sinh, nên có một bài nói về ông, đủ tình đủ lý”.  Cố học giả Vương Hồng Sển, trong cuốn Nửa Ðời Còn Lại, chương “Trở lại, thử tìm hiểu cảnh ngộ quan Phan khi đi sứ sang Pháp”, ông viết, “bấy lâu nay (1990), tôi nghe đầy tai lời trách quan Phan làm cho mất nước và vua Tự Ðức đứng đầu tội ấy. Thấp cổ bé miệng, tôi có dại gì cãi họ duy trong thâm tâm riêng tưởng họ chưa tới mắt cá quan Phan”.

“Làm thầy thuốc mà sai lầm thì chỉ giết một người; làm chính trị mà sai lầm thì tàn hại cả đất nước; làm văn hoá mà sai lầm thì gây tai họa cho muôn đời.” Con làm sử gia ma xuyên tạc thì sao đây? Người viết bài này khẩn thiết mong giới sử gia Băc Hà nên lên tiếng về cuốn sách và ý kiến về  “người anh cả” của mình. Cùng với chiến thắng trong việc đổi tên thành phố Sai gon, những ngụy tạo của ông Trần Huy Liệu đã được đưa vào dạy ở trong Nam sau 1975. Cây đuốc sống Lê Văn Tám và câu “Phan Lâm mãi qốc, triều đình khí dân”đã thành một “siêu bằng chứng” mà mọi người Viết Nam đều nghe nói

Sử gia Trần Huy Liệu (1901-1969Đ thực hiện vụ án này có chỉ đạo. Vì sự công bình của lịch sử và là hậu duệ của cụ Phan, người viết bài này đòi hỏi Viện Sử Học Việt Nam phải có lời xin lỗi và đền bồi danh dự cho gia đình họ Phan chúng tôi về những cáo giác khi lên án cụ Phan Thanh Giản. Qua bút hièu Hải Thu Ỏng đã đã hạ thấp cụ xuống hàng súc vật, đòi nhốt cụ trong “chuồng”. Lừa cả nước khi tạo ra  Lê Văn Tám, Ông còn phịa ra vụ án “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khi dân”. Hơn 60 năm sau mới bị khui ra bởi Tiến sĩ Phan Đào Nguyên, Ông Trần Huy Liệu nên còn gọi ông là sử gia hay nên gọi là sử tặc?

Phan Than Tâm

California, tháng 8/2021.

————————-

THÔNG BÁO

THÂN TẶNG BẢN ĐIỆN TỬ (PDF) CỦA CUỐN SÁCH

“PHAN THANH GIẢN VÀ VỤ ÁN PHAN LÂM MÃI QUỐC TRIỀU ĐÌNH KHÍ DÂN”

Tác giả Winston Phan Đào Nguyên xin thân tặng bản điện tử của cuốn sách “Phan Thanh Giản Và Vụ Án Phan Lâm Mãi Quốc Triều Đình Khí Dân” cho tất cả mọi người.

Tác giả chỉ có một yêu cầu nhỏ là nhờ bạn thông báo về cuốn sách này và đường link download dưới đây cho tất cả bạn bè bà con muốn đọc:

https://app.box.com/s/bnfhc25c9folo172xozkv6f7oss9drjb

Nếu bạn ở nước ngoài và muốn sách giấy thì có thể order từ Amazon theo link này:

https://www.amazon.com/-/es/Winston-Phan/dp/1990434177/ref=sr_1_1?dchild=1&qid=1629348969&refinements=p_27%3AWinston+Phan&s=books&sr=1-1&text=Winston+Phan (paperback)

hay

https://www.amazon.com/-/es/Winston-Phan/dp/1990434231/ref=sr_1_2?dchild=1&qid=1629349031&refinements=p_27%3AWinston+Phan&s=books&sr=1-2&text=Winston+Phan (hardcover)

Còn người ở VN muốn mua sách giấy (giá 10 USD) thì xin liên lạc Nhà Xuất Bản Nhân Ảnh tại han.le3359@gmail.com.

Mời đọc online sách “Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”, tác giả LS Winston Phan Đào Nguyên:

https://app.box.com/s/bnfhc25c9folo172xozkv6f7oss9drjb

Mời đọc online sách “Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”, tác giả LS Winston Phan Đào Nguyên: https://app.box.com/s/bnfhc25c9folo172xozkv6f7oss9drjb

 


 

 Rò rỉ bản tường trình của các sư cô tố Thích Chân Quang lạm dụng tình dục

Ba’o Nguoi-Viet

June 22, 2024

BÀ RỊA-VŨNG TÀU, Việt Nam (NV) – Vài ngày sau khi bị Giáo Hội Phật Giáo CSVN cấm thuyết giảng dưới mọi hình thức trong hai năm, Thượng Tọa Thích Chân Quang tiếp tục bị một số sư cô tố giác ông ta lạm dụng tình dục.

Sư Chân Quang, trụ trì Thiền Tôn Phật Quang ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, lâu nay gây tranh cãi với việc hù dọa Phật tử về thuyết nhân quả để họ cúng dường thật nhiều cho chùa của ông.

Thượng Tọa Thích Chân Quang đang bị áp lệnh cấm thuyết giảng hai năm. (Hình: Giác Ngộ)

Trong văn bản rò rỉ hôm 22 Tháng Sáu, một nhóm sáu sư cô tự nhận có thời gian tu tập tại Thiền Tôn Phật Quang, quyết định công khai danh tính và tố giác ông Chân Quang “có hành vi dâm dục trong suốt thời gian dài mà không bị phát giác.”

Theo mô tả của các nạn nhân, ông Chân Quang hỏi thăm các sư cô về “sinh lý,” “ngực lớn”…

Bản tường trình của các sư cô cho rằng bên cạnh những lời nói dụ dỗ, ông Chân Quang còn có các hành vi như sờ soạng ngực, cưỡng hôn, cầm tay sư cô đặt vào bộ phận sinh dục của ông, thậm chí xâm hại tình dục một sư cô rồi sau đó đưa nạn nhân 10 triệu đồng ($392) để đi phá thai tại bệnh viện Từ Dũ ở Sài Gòn…

Các sư cô trong vụ này cũng lý giải chuyện nhiều nữ đệ tử của ông Chân Quang lần lượt bị ông này xâm hại ngay tại Thiền Tôn Phật Quang “vì quá sợ thầy [Chân Quang] mà phải nghe lời và sau đó phải giữ im lặng.”

“…Nếu như một người dám nói ra sẽ lập tức bị đuổi khỏi chùa và cũng không một ai tin tưởng, vì các đệ tử vốn rất kính trọng và tin thầy,” bản tường trình viết.

Ngoài ra, các sư cô cho biết thêm sau mỗi vụ xâm hại tình dục, ông Chân Quang đều “năn nỉ,” yêu cầu nạn nhân “giữ gìn uy tín cho thầy và cho Phật pháp.”

Trước cáo buộc nêu trên, hôm 19 Tháng Sáu, theo báo Thanh Niên, lệnh cấm thuyết giảng còn bao gồm việc ông Chân Quang không được tổ chức các sự kiện tập trung đông người tại Thiền Tôn Phật Quang cũng như ở các địa điểm khác.

Chỉ thị của Giáo Hội Phật Giáo CSVN cũng yêu cầu Thiền Tôn Phật Quang và sư Chân Quang phải “thu hồi tất cả các phái quy y tam bảo có nội dung tự sửa một trong năm giới không đúng với giới luật ngũ giới của Đức Phật.” Ngoài ra, sư Chân Quang còn bị buộc gỡ bỏ tất cả các bài thuyết giảng “gây hoang mang trong xã hội” trên mạng xã hội.

Một phần trong bản tường trình cáo buộc sư Thích Chân Quang lạm dụng tình dục một số sư cô tại tại thiền tôn Phật Quang ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu mà ông này làm trụ trì. (Hình: Chụp qua màn hình)

Lệnh cấm nêu trên được coi là đòn giáng mạnh vào “thu nhập” của sư Chân Quang.

Thời điểm đó, mạng xã hội xuất hiện đơn tố cáo sư Thích Chân Quang của ông Thái Phương, chúng trưởng của Đạo Tràng Phật Đắc tỉnh Đắk Lắk.

Trong lá đơn, ông Thái Phương cáo buộc sư Chân Quang “có âm mưu gây hại đến an ninh quốc gia,” “huấn luyện Đạo Tràng thành robot không có trái tim con người, bất chấp tất cả để làm theo mệnh lệnh của ông…”

Ông Chân Quang còn bị cho là biến Đạo Tràng thành “đội quân khủng bố chuyên nghiệp” để “đánh đập, bắt cóc, hăm dọa…” đối với những ai chống lại Thích Chân Quang. (N.H.K) [qd] 


 

 Dân khinh bỉ vụ ‘đốt lò’ của đảng

Ba’o Dat Viet

June 23, 2024

Đinh Tiến Dũng được cho “hạ cánh an toàn” dù tham nhũng

Nếu thực sự chống tham nhũng, không vùng cấm, có giỏi hãy lôi đám “có đơn xin thôi chức vụ, tự nguyện xin nghỉ việc” như Phúc, Thưởng, Huệ, Mai, Trần Tuấn Anh, Đinh Tiến Dũng ra đối diện pháp luật, xét xử một cách công bằng.

Hôm 21 – 22/6, báo chí mậu dịch đồng loạt đưa tin Bộ Chính trị, Ban Bí thư, và trung ương (dĩ nhiên đều của đảng) đồng ý để ông Đinh Tiến Dũng trong nhóm 20 được “thôi” các chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương đảng, Bí thư Thành ủy Hà Nội cùng nhiều chức vụ lằng nhằng dây điện khác. Đây là chuyện riêng của đảng, nhẽ ra dân không cần quan tâm. Tất nhiên, quốc hội sẽ theo chỉ thị, chỉ đạo của đảng bãi “chức” đại biểu quốc hội của ông Dũng nay mai, cũng kiểu cho “thôi”. Quốc hội chả là gì, khi đảng đã sức lệnh xuống, thì cứ thế mà làm.

Về sự việc này, có nhiều nhố nhăng. Nhẽ ra từ quan chí dân, ai làm sai làm bậy, cứ chiểu theo pháp luật mà xử lý, không phân biệt quan hay dân. Đâu có cái thói quan làm sai thì chỉ xin lỗi, còn dân sai thì chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tay Mai Tiến Dũng cả đời không biết có làm được điều gì để lại tiếng thơm hay không, nhưng phát ngôn được câu ấy quả thật lưu xú danh với đời.

Cả một bộ máy, từ ông cao nhất tới đứa cán bộ quèn, cả hệ thống chính trị với vô vàn tổ chức đoàn thể, cả hệ thống tuyên truyền truyên giáo dày đặc… lúc nào cũng mở loa ca ngợi cuộc chống tham nhũng, nào lò đượm củi gộc, củi khô củi tươi, kiên quyết đến cùng, không có vùng cấm, nhưng khi cần đốt thì lại than rơm ướt rạ ẩm, bật diêm không cháy, lách kiểu này, né kiểu khác. Rõ nhất là việc tạo điều kiện cho đương sự “tự nguyện” làm đơn xin nghỉ việc, xin thôi chức, xin nghỉ theo nguyện vọng cá nhân. Cứ như trò đùa, coi thiên hạ không ra gì.

Xưa nay, đám quan lại quyền cao chức trọng, đám chóp bu cả trung ương lẫn địa phương chả có đứa nào lúc đương chức, đang hét ra lửa, ngựa ngựa xe xe, vênh vênh váo váo, nói ra một lời làm muôn người kinh sợ, chỉ muốn kéo bè kéo cánh, cha truyền con nối… lại tự nguyện tự giác bỏ chức bỏ ghế, bỏ quyền lực cả. Họa có điên. Đốt đuốc giữa ban ngày chẳng tìm ra. Nó có phạm tội, nhúng chàm, nó cũng giấu biệt.

Khi đã biết mười mươi nó phạm tội, hại dân hại nước, chỉ vơ vét cho bản thân và gia đình, dòng họ, thì cứ việc lôi ra mà trảm, từ long đầu trảm tới cẩu đầu trảm. Như Bao Công thời xưa, đã đốt lò thì Bàng thái sư cũng không tha. Nhưng Bao Công biết tôn trọng luật pháp, thời nay thì không thế.

Ông hàng xóm nhà tôi bảo kỷ luật mà đếch dám nói thẳng là kỷ luật thì còn làm được trò gì.

Cứ tuyên truyền huyễn hoặc về lò chống tham nhũng, vùng cấm vùng kiếc, thực tế lại khác hẳn, chỉ toàn lừa mị. Công khai lừa mị những người cả tin, ngây thơ. Thật buồn, đám cả tin ấy lại khá đông, hoặc do không biết gì, hoặc vì chút lợi cá nhân mình.

Nếu thực sự chống tham nhũng, không vùng cấm, có giỏi hãy lôi đám “có đơn xin thôi chức vụ, tự nguyện xin nghỉ việc” như Phúc, Thưởng, Huệ, Mai, Trần Tuấn Anh, Đinh Tiến Dũng ra đối diện pháp luật, xét xử một cách công bằng.

Kẻ ngôi cao việc trọng cũng như đứa ăn trộm vịt, đều phải bình đẳng trước pháp luật. Đốt lò, cách mạng nửa vời, nói thật, giống như cuộc hí trường.

Cách mạng màu, nhưng là màu… đỏ. Còn không, thì nên dẹp lò.

Dân biết cả, chỉ bởi họ không thể làm gì, nhưng họ cười khinh bỉ.

Nguyễn Thông


 

 Một chuyến đi tìm hoài niệm-Lưu An-Vũ Ngọc Ruẩn/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

June 22, 2024

Lưu An-Vũ Ngọc Ruẩn/SGN

Một trong những thú vui của tôi khi về thăm Việt Nam là được lang thang một mình. Hoàn toàn tự do không bị gò bó với thời gian, nơi chốn hay phải theo một chương trình đã được xếp đặt trước cho cả nhóm.

Với tôi, rất đơn giản chỉ khoác lên vai cái ba lô nho nhỏ đựng hai bộ quần áo, vài vật dụng cá nhân, thế là đủ cho một cuộc du hành thích thú, hợp với bản tính lang bạt cố hữu của mình.

Mấy chục năm sống và làm việc ở hải ngoại, phải chạy đua với thời gian, công việc đầy nhàm chán của đời sống kỹ nghệ, tôi không muốn về Việt Nam để lập lại những gò bó khó chịu đó nữa. Tôi cũng không thích, thật ra cũng có chút dè xẻn, kiết chi mà không muốn cư trú ở một khách sạn sang trọng nhiều sao. Với tôi khi về Việt Nam, những cái hoa lệ đó thật nhàm chán, vô vị. Tôi muốn về để tìm lại những cái rất đơn sơ, mộc mạc mà ngày xưa tôi đã lầm lẫn coi thường mà không nhìn được giá trị của nó. Chẳng có gì thích thú hơn.

Ban đêm nằm trên chiếc chõng tre, trong một chiếc màn chống muỗi, nghe tiếng côn trùng ca vang, rúc rỉa như ru ngủ trong căn nhà mái lá, vách rơm trộn đất ở miền quê. Ban ngày len lỏi giữa những rạch nước đục phù sa trong những cồn đất giữa dòng sông bằng chiếc thuyền nho nhỏ. Khi mệt mỏi, đói bụng tạt vào quán ăn bên sông hay trên con đường mòn đồng quê, thưởng thức những món ăn dân dã, đặc sản của địa phương… Tất cả là những nét đẹp tuyệt vời của thiên nhiên mà tôi chưa một lần nào lãng phí, bỏ qua  mỗi khi có dịp về thăm quê.

Với cách du lịch đó, Tháng Tư năm 1995, tôi làm một chuyến đi xuống miền Tây Nam Bộ, nơi mà tôi đã có rất nhiều kỷ niệm trong vài năm cuối đại học và bốn năm bước vào đời công chức, khởi đầu con đường quan lộ của mình.

***

Vĩnh Long, thành phố đầu tiên tôi dừng chân, vào buổi xế trưa, dưới cái nóng như đổ lửa của một ngày nắng gắt. Công việc đầu tiên là tìm một khách sạn nho nhỏ gần trung tâm thành phố nghỉ ngơi bù lại nỗi khổ cực sau gần 3 tiếng đồng hồ bị nén trong chiếc xe đò chật chội.

Chính nơi đây tôi đã có một mối tình đúng nghĩa với Vân, một cô giáo trong thị xã.

Như phần lớn những cuộc tình, ban đầu chúng tôi cũng gặp những khó khăn, thách đố của hoàn cảnh. Đôi lần chúng tôi đã có cảm giác buông xuôi, để mặc cho cuộc tình đi vào đổ vỡ. Nhưng với sự lớn khôn và cứng mạnh của tình yêu đã giúp chúng tôi vượt qua những khó khăn. Chúng tôi dự tính sẽ thành hôn sau khi tôi hoàn tất công tác dài hạn ở hải ngoại trở về. Nhưng thời gian xa cách kèm theo những đổi dời của thời thế, cuối cùng mối tình của tôi và Vân chỉ là một giấc mơ không bao giờ thành sự thật. Ngày tôi từ giã Vân ra đi cũng là ngày buồn bã khởi đầu một lỡ làng dẫn đến vĩnh biệt xa nhau. Chuyến đi này, đến Vĩnh Long tôi muốn tìm lại những nơi mà ngày xưa chúng tôi đã sống, đã đi qua để mong được sống lại với những dấu tích kỷ niệm của một thời hạnh phúc nhất trong đời tôi.

Sau giấc ngủ trưa khá dài, mệt nhọc đã được lấy ra khỏi cơ thể, tôi làm một cuộc đi dạo để khởi động ký ức của mình về thành phố Vĩnh Long nhiều kỷ niệm này, nhìn lại những con đường ngày xưa, nơi đó vẫn còn mang đầy dấu vết của những năm tháng chúng tôi bên nhau. Bầu trời đã chớm hoàng hôn, nhưng hình như cái nóng gay gắt Tháng Tư chẳng có dấu hiệu gì thuyên giảm. Một góc phố, bến đậu xe lam trong thị xã hay vài quán cà phê nào đó ở trung tâm… Dù ngày nay thay đổi khá nhiều nhưng vẫn còn mập mờ trong trí nhớ, kéo tôi về với cảm giác hoài niệm của một thời đẹp đẽ, hoa mộng trong đời tôi.

Gần mấy tiếng đồng hồ lang thang, mệt mỏi đã thúc giục tôi phải tìm một chỗ nghỉ chân, uống nước. Hoàng hôn thật sự đã biến mất, cái nóng rát buổi chiều gần như đã được đuổi đi bằng làn gió dễ chịu, thoáng mát của trời đêm. Hàng cột đèn đường đã bật sáng, ánh điện cũng chỉ đủ tạo ra vẻ mù mờ của không gian. Hàng quán lưu động trên những chiếc xe thô kệch với những bộ bàn ghế thô sơ, thấp lè tè được bầy la liệt trên lề đường, dọc theo bờ sông. Những chiếc đèn dầu của những “chiếc xe hàng ăn” chiếu ra những ánh lửa bập bùng khi gió thổi. Trong cái bóng tối mông lung nhập nhèm đó, tiếng cười đùa, cụng ly, mời nhau uống rượu từ những nhóm khách ăn nhậu làm cho không gian trở nên náo nhiệt. Hoạt cảnh đó là bức tranh độc đáo rất giống nhau ở hầu hết các thành phố miền nam sông nước Cửu Long, nơi mà thực phẩm chẳng bao giờ thiếu thốn.

Tìm được chiếc bàn gần bờ sông, đưa mắt dõi theo những đám bèo lục bình bập bồng di chuyển theo dòng nước. Cảm giác cô đơn đã kéo trí nhớ tôi về quá khứ của hơn 30 năm, trước khi tôi rời xa Việt Nam. Ngày đó, chính tại nơi đây, tôi và Vân ngồi với nhau lần cuối để rồi tôi từ giã Vĩnh Long, từ giã Vân-người tình mà tôi đã xây rất nhiều mộng ước tương lai để ra đi theo tiếng gọi của phong hầu. Tôi còn nhớ rất kỹ ngày đó chúng tôi ngồi đối diện nhau bên một chiếc bàn nhựa. Cũng dưới ánh sáng đèn đường mù mờ, Vân đưa chiếc ly thủy tinh trống không lên ngang tầm mắt. Hướng về tôi, nàng xoay chuyển chiếc ly nhè nhẹ. Rồi với giọng buồn bã nói với tôi:

-Nhìn xuyên qua đáy chiếc ly, dưới ánh sáng mù mờ, hình bóng của anh như bị lòe đi. Mỗi khi em xoay đổi chiều hướng của nguồn sáng thì bóng hình của anh mờ dần rồi biến mất…

Bỏ chiếc ly xuống bàn, chuyển ánh mắt ra giòng sông, với giọng buồn bã, Vân nói tiếp:

-Anh ra đi, là chuyện chẳng thế nào đổi khác được. Nhưng em có linh cảm đây không phải là tạm biệt mà là lần chúng ta mãi mãi xa nhau.

Nghe Vân nói, tôi chợt nhìn thấy rõ áng mây buồn trong ánh mắt của Vân, tôi nắm nhẹ bàn tay của Vân, vuốt nhè nhẹ như muốn xác nhận  thêm lần nữa lời hứa hẹn, tôi sẽ trở về để cho mối tình của tôi và Vân toàn vẹn. Vân không nói gì, mắt vẫn mông lung, buồn bã nhìn theo vài đám lục bình trôi trên sông. Trong không gian tĩnh lặng, buồn bã đó, tôi đọc khẽ bên tai của Vân một bài thơ tôi làm vội vã, dùng tiết tấu tạo âm điệu diễn tả xúc cảm của tôi với Vân:

Hỡi người anh yêu, cho anh xin thêm một lần ước muốn

Em đừng vẽ cuộc đời anh bằng những con đường rất thẳng

Cũng đừng giam giữ anh trong một lâu đài hoa lệ,

Để những buổi hoàng hôn, qua lỗ châu mai

Anh chỉ biết ngồi nhìn đàn chim bay về tổ.

Như một tên tử tù, nhìn trời xanh qua khung cửa nhà giam,

Mà lòng tràn đầy những ước muốn của một người khao khát tự do.

Như em đã biết,

Trời sinh ra anh, không là người diễn viên trên sân khấu

Chỉ biết la hét, cười vui trong vai một kẻ sống trong nhung lụa

Mà lòng mình luôn luôn buồn rười rượi!

Anh sẽ về với em. Chắc chắn, anh sẽ về với em

Để tiếp nối cuộc tình bằng những ước mơ của chúng ta thành sự thật.

Anh sẽ dẫn em đi trên những đường kỷ niệm xa xưa đầy hoa bướm

Những con đường mà chúng mình đã cho nhau nụ hôn đầu tiên,

Anh sẽ làm thơ, đọc cho em nghe những vần thơ tình ái

Anh sẽ viết truyện ngắn, truyện dài lãng mạn,

Kể lể về những cuộc tình của những kẻ yêu nhau

Anh sẽ về với em

Như nước trên nguồn chảy xuống sông,

Sông lại về với biển cả .

Hỡi em yêu,

Hãy tạm biệt anh bằng nụ cười, dù đôi mắt có phải thấm ướt lúc xa nhau.

Hãy vẫy tay buồn làm gió lốc, thổi mây đen ảm đạm .

Hãy viết cho anh những lá thư thật dài,

Kể cho anh nghe toàn những chuyện yêu đương đẹp đẽ .

Để cho anh dù phải xa em mà quên được những tháng ngày tẻ nhạt.

Anh sẽ về với em,

Chắc chắn anh sẽ về với  em

Để chúng mình mãi mãi bên nhau.

Đúng như vậy tôi đã xa Vân để ra đi, mong thỏa mộng công hầu. Nhưng rồi hoàn cảnh đổi thay và mối tình của chúng tôi dang dở. Những giấc mơ, lời hứa hẹn của tôi và Vân chỉ còn là ảo mộng, vu vơ.

Chuyến đi này, chỉ một mình tôi trở lại Vĩnh Long mong tìm lại được phần nào những gì mà ngày xưa của chúng tôi còn lưu lại trong hiện thực hay trong ảo giác. Vĩnh Long ngày nay với tôi là một thành phố thật buồn, thành phố của dĩ vãng, thành  phố của đầy rẫy dấu tích kỷ niệm và dư âm rất buồn vì nó mang màu sắc và âm vang của chia ly.

Ở Vĩnh Long được 2 ngày,  tôi cảm thấy tất cả những gì của thành phố hiện ra đều khơi dậy nỗi buồn đau trong lòng tôi. Thời gian qua đã quá lâu, Vân cũng chẳng còn trên thế gian này nữa, câu tạm biệt ngày ấy đã biến thành vĩnh biệt. Nghĩ như vậy, tôi cảm thấy chẳng có lý do gì để ở lại thành phố quá buồn, nhiều hoài niệm này nữa. Tôi phải rời xa để trốn tránh một nỗi buồn không bao giờ biến mất trong lòng tôi.

***

Rời xa Vĩnh Long, tôi xuống Cần thơ, điểm đến kế tiếp của chuyến đi tìm hoài niệm của mình. Tôi sinh ra ở một làng quê miền Bắc, nhưng phần lớn tuổi ấu thơ được trôi qua ở Hà Nội cho đến khi vào miền Nam ở tuổi lên 9. Với gần 15 năm học hành, lớn khôn ở Sài Gòn, dù thế nào, ít hay nhiều tôi cũng phải có những kỷ niệm với cái thành phố xô bồ, bận rộn này. Nhưng Cần Thơ mới là nơi tôi yêu thích. Tôi đã tưởng rằng sẽ định cư mãi mãi nơi đây, nhận nó là quê hương của đời mình. Rồi những thế hệ tiếp theo của tôi sẽ sinh ra, lớn lên và sẽ đúng nghĩa là người bản địa.

Tôi không quên, ngày đầu tiên từ Sài Gòn xuống đây làm việc, khởi đầu con đường lập nghiệp của mình, Cần Thơ đã chờ đón tôi với vòng tay nồng nàn nhiều ưu ái. Rồi mấy năm sau, ngày tôi đi tu nghiệp hải ngoại, Cần Thơ vẫy tay chào tạm biệt, mong tôi thành tài để được đón chờ tôi ngày trở về. Nhưng thực tế tất cả đã đổi khác, những tính toán, ước mơ của tôi và của Cần Thơ chỉ còn là ảo tưởng. Tôi đã đi, đã tăng tiến tài năng nhưng ngày về lại là một tấu khúc có quá nhiều âm vang lỗi điệu. Mấy mươi năm  qua, sống trong nhung lụa, chu du gần khắp trái đất, nhưng  tôi vẫn không quên được nơi đã dành cho mình những ân tình nhiều gắn bó. Những lần về thăm đất nước, tôi vẫn tìm dịp để về thăm lại, nhìn lại Cần Thơ nhưng tôi vẫn thấy lòng mình vẫn có cái gì buồn buồn, khó nói!

Suốt hai ngày tại Cần Thơ, tôi đi thăm lại gần như hầu hết những nơi mà ngày xưa ít hay nhiều tôi đã  có dịp đi qua. Tạt vào thăm khu kỹ nghệ đồ sộ mới thành lập ở Ô Môn, Thốt Nốt. Với chiếc thuyền gỗ nhỏ, tôi đến chợ nổi Cái Răng, Phong Điền thăm bè nuôi cá, những cồn đất trù phú đủ loại trái cây, rải rác dọc theo giòng sông Hậu. Chiều tối, khi cái nóng đã giảm bớt tôi đi dạo ở khu trung tâm thành phố, nhìn sinh hoạt phố xá về đêm. Khi mỏi chân, hưởng thụ cái thú ngồi xe lôi chạy chầm chậm qua những nơi mà ngày xưa tôi đã làm việc để nhớ hay tìm những gì còn lại trong ký ức…

(Hình: Steve Douglas/Unsplash)

Dù vẫn còn một số bạn bè, quen biết ngày xưa đang sống ở thị xã nhưng tôi không đến thăm họ.Tôi muốn dành riêng cảm xúc của mình trong chuyến đi này cho Cần Thơ. Tôi muốn tìm lại những dấu vết xa xưa của chính tôi ở Cần Thơ dù biết rằng lòng mình vẫn có những âm thanh buồn bã khi nhớ về kỷ niệm thời quá khứ.

Buổi tối, tìm được một chiếc bàn trống ngay bên cạnh bờ sông, trên bến Ninh Kiều. Ngồi nghỉ chân uống nước, tôi dự tính nhìn lại một lần nữa nếp sinh hoạt của một nơi mà bất cứ ai đến Cần thơ đều biết. Chính nơi đây, lúc tôi còn làm việc ở Cần Thơ, đã bao nhiêu lần ngồi ăn nhậu với bạn bè, thân nhân, quen biết từ xa đến thăm tôi. Cũng nơi đây, tôi và Vân đã bao lần ngồi bên nhau nhìn dòng sông nước chảy mà nói chuyện ước mơ.

Ánh sáng từ mặt trăng tròn trịa treo giữa bầu trời ngàn sao lấp lánh hoà lẫn với đèn đường, rọi xuống mặt nước sông nhấp nhô sóng nhẹ. Tạo ra những giải sáng lung linh trên mặt nước sông, thật đẹp. Những cái đó hòa trộn với xúc cảm của kẻ giang hồ khi trở về nhìn lại Cần thơ, làm tôi chợt nhớ đến bài thơ tiền chiến“ Nhà Tôi“  của Yên Thao. Bài thơ nói đến ngày về của một người chiến binh, trên bước đường chinh chiến, anh ta nhìn lại quê nhà trong tâm trạng hào hùng của một kẻ nam nhi . Đây là bài thơ tôi thường ngâm cho Vân nghe, mỗi khi chúng tôi ngồi bên nhau bên dòng sông tâm sự:

Đêm hôm nay tôi trở về lành lạnh

Sông sâu mừng lấp lánh sao lưa thưa

Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ

Chắc tay súng tôi về mơ Nguyễn Huệ

Tôi có người vợ trẻ đẹp như thơ

Tuổi đôi mươi cưới buổi dâng cờ

Má trắng mịn thơm thơm mùi lúa chín

Ai bước đi mà không từng bịn rịn

Rồi yêu thương nào có mấy ai vui

Em lặng hồn, nhìn với lúc chia phôi

Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ!

Tôi là anh lính chiến

Theo quân về giải phóng quê hương

Mái đầu xanh đầy bụi viễn phương

Này anh đồng đội

Người bạn pháo binh

Đã đến giờ chưa nhỉ?

Mà tôi nghe như trại giặc đã tan tành!

Tuyệt vời thay một bài thơ cao ngạo, kiêu hùng mang quá đầy ý nghĩa! Thời gian xa nhau được diễn tả bằng những vết vá trên ống quần nâu bạc màu chinh chiến. Lòng nhớ thương, bịn rịn dành cho người vợ trẻ đẹp như mơ mới cưới ngày ra đi, hiển hiện trong cái đau xót lúc chia ly. Nhưng ngạo nghễ bao nhiêu khi người chinh phụ vẫn mạnh bước rời xa dù trong lòng mình ướt lệ! Rồi ngày về, nhìn quê nhà mà tưởng đến quân thù đang giãy chết. Đúng như vậy, bài thơ quá hay! Không còn gì để mô tả hơn được cái tuyệt vời, đầy hùng tráng của giấc mơ Nguyễn Huệ trong những vần thơ “ Nhà tôi “ của Yên Thao nữa.

Thả hồn vào âm vang của những vần thơ quá hay, quá kiêu hùng đó, tôi chợt nhìn về chính mình, về hiện trạng của tôi lúc này. Cũng trong cái tâm trạng của kẻ tìm về nơi mình thương nhớ. Cũng có dòng sông trước mặt dưới ánh trăng sao lấp lánh. Cũng nơi đây đã ghi nhớ bao lần hò hẹn với tình nhân… Nhưng tôi về đây trong tâm trạng của một khách lãng du đi tìm lại hoài niệm của đời mình. Chẳng một tí gì mang ý nghĩa của hào hùng, ngạo nghễ, dù tâm hồn tôi vẫn có đôi chút lãng mạn nhưng cái lãng mạn đó nhuốm đầy vẻ ủy mị của một kẻ quá tầm thường:

Tôi sẽ về thăm em chiều nay hay chiều mốt

Cho dòng sông không ngái ngủ buổi bình minh

Và cả những con đường em đã đi qua dạo ấy

Vẫn mờ mờ bóng điện sáng ban đêm.

Tôi sẽ về với em dù trời mưa hay trời nắng

Thoáng vẽ trong hồn tôi con đường xưa thật nhỏ

Bước chân em nhẹ nhàng như chân chim se sẻ

Ngẩn ngơ nhìn, tôi tìm em trong giấc mộng hôm nay.

Tôi về đây, bập bềnh tóc trắng gió bay bay

Xin hãy mở giùm tôi cánh cửa thời dĩ vãng

Để tôi mơ, dù phải cúi đầu lệ ướt thấm vành môi

Cho ngày về, thoáng nụ cười, buồn dang dở?

Đúng như vậy, tôi đã dùng những câu thơ viết vội khi trở lại Cần Thơ với tâm trạng của kẻ làm thơ ủy mị đi tìm hoài niệm. Không có một tí gì kiêu hùng như của người lính chiến trong những vần thơ Yên Thao.

(Hình: Nhan Nguyen/Unsplash)

Hôm sau, khi mặt trời chớm ngả về chiều. Tôi vừa từ chiếc xe lôi bước xuống bến xe Cần Thơ, dự định lấy xe về lại Sài Gòn, chấm dứt chuyến lang thang. Từ phía con đường bên ngoài bến xe, một ông lão quần áo khá tề chỉnh, tay dắt một đứa bé trai, khoảng 12, 13 tuổi,  chạy vội đến chỗ tôi. Ông lão cầm lấy cánh tay tôi lắc lia lịa ra vẻ mừng vui tột cùng:

-Thầy Hai, trời ơi sao lại gặp được thầy ở đây? Thầy về nước bao giờ vậy?…

Ông ta hỏi tôi dồn dập, tôi chẳng biết trả lời ra sao vì chưa biết ông là ai. Trong khi tôi ngẩn ngơ giương mắt nhìn ông già rồi lại nhìn sang đứa cháu của ông ta. Tôi nhíu lông mày, cố kéo trí nhớ về để xác định một người quen biết nào đó mà mình đã vô tình lãng quên. Nhưng hoàn toàn vô ích. Một lúc sau, ông lão hình như nhìn thấy vẻ thắc mắc của tôi. Ông ta lay nhẹ cánh tôi mạnh hơn kèm theo lời nói:

-Thầy Hai, quên tôi rồi sao? Tôi là Châu, nhân viên nông trại ngày xưa mà có lần thầy cho tôi, ông ba Mỹ và chị Điệp cùng về Sài Gòn công tác, nhận hàng viện trợ của Nhật cho đại học đó. Chúng tôi ở nhà thầy mấy ngày, ông bà Hai, ba má thầy đã quá tốt, giết gà vịt đãi chúng tôi đó, thầy nhớ ra chưa?

Câu nói của ông lão đã khơi động trí nhớ giúp tôi nhận ra người quen biết của mình ngày xưa. Ngày đó, mỗi lần được cử về Sài Gòn công tác, tôi thường xin cho vài nhân viên về theo, lấy lý do cần họ để giúp đỡ, khuân đồ đạc. Nhưng thật ra tôi chỉ muốn giúp họ có tí tiền công tác và nhất là để họ có dịp thăm viếng con cháu hay thân nhân của sống trên Sàigòn. Hồi đó, nhà tôi ở bìa thành phố, khá rộng rãi lại có cơ sở chăn nuôi nho nhỏ vì vậy vấn đề cư trú của họ rất thoải mái. Bố mẹ tôi lại thuộc giới lao động, ít học, chẳng có tí gì ngăn cách kẻ trên, người dưới khi họ đến tạm trú. Đã vậy gia đình có sẵn gà vịt, vấn đề ăn uống dành cho họ luôn luôn thịnh soạn.

Từ đó, họ tự phân chia với nhau đi theo tôi khi có dịp về Sài Gòn công tác. Với bất cứ ai được tôi dẫn về nhà, bố mẹ  tôi đều đối xử rất chân tình. Chính vì vậy mỗi khi tôi về Sàigòn, họ đều mang gạo, rau, trái cây gửi biếu cho bố mẹ tôi. Hôm nay tình cờ gặp lại họ. Cuốn phim dĩ vãng giữa những người nhân viên cũ và gia đình tôi lần lượt hiện ra trong trí nhớ. Tôi vui mừng ôm chặt lấy đôi vai của ông lão, nhân viên cũ cùng làm việc của mình, cảm động tôi nói với ông ta:

-Ông Châu! Tôi đã nhận ra ông rồi. Mấy chục năm rồi chứ ít sao?

Nói xong, đưa tay lên nhìn đồng hồ thấy vẫn còn sớm, dư đủ thời gian để đón xe về Sài Gòn trong ngày, tôi muốn hỏi thăm về đời sống của những người quen biết ngày xưa rồi tôi mời hai ông cháu vào một quán nước gần bến xe.

Qua lời kể của ông Châu, gần như hầu hết những nhân viên lao động cũng như các chị thư ký nơi tôi làm việc ngày xưa đã về hưu, nhưng vẫn còn sống ở Cần Thơ. Cuộc sống của họ cũng như hàng triệu người Việt khác luôn luôn tùy thuộc vào sự thăng trầm của đất nước. Tôi cũng chẳng giấu giếm ông Châu, tôi kể cho ông ta biết về những nỗi cực nhọc, đắng cay, buồn vui mà tôi đã phải trải qua trong mấy chục năm sống ở hải ngoại.

Tôi rất xúc động nhìn thấy sự buồn bã trên khuôn mặt người nhân viên cũ của mình khi biết mẹ tôi đã mất trong giai đoạn thiếu thốn cực nhọc nhất của đất nước. Ông Châu cho biết, ông cũng như nhiều người nhân viên khác đã có dịp lên Sài Gòn, cư trú tại nhà tôi. Họ không quên lòng tốt của bố mẹ tôi dành cho họ. Từ những bữa cơm thịnh soạn đến việc lo lắng giường chiếu khi họ ngủ đều được bố mẹ tôi chu toàn tươm tất. Ngay cả những người khi có việc quan trọng phải dẫn theo thân nhân, họ dẫn đến nhà tôi tạm trú vẫn được gia đình tôi giúp đỡ tận tình.

Ngồi tâm sự khá lâu, có lẽ đã đến lúc chia tay để kịp về Sài Gòn vào buổi tối, tôi nắm bàn tay nhăn nhúm của ông lão với vẻ buồn bã tôi nói:

-Đã đến lúc tôi phải lên xe rồi ông Châu ạ. Nhờ ông nhắn lời hỏi thăm của tôi đến những người khác. Ông nhớ nói với mọi người tôi không quên những tình cảm mà họ đã dành cho tôi ngày xưa, thời tôi còn làm việc. Tôi chúc ông và mọi người mãi mãi khỏe mạnh, hy vọng chúng ta lại có dịp gặp nhau lại.

Nói xong tôi cầm lấy chiếc ba lô của mình, định bước ra khỏi chỗ ngồi. Ông Châu nhìn tôi có vẻ ngập ngừng tí chút, rồi ông chậm chạp nói với tôi:

-Thấy Hai, nếu thầy không có việc gì gấp, mời thầy đến  nhà tôi ăn cơm tối, ngủ lại rồi sáng mai thầy hãy về….

Tôi chưa kịp trả lời thì ông ta nói tiếp:

-Tôi sẽ báo tin cho những người khác biết. Chắc chắn họ rất vui mừng đến gặp gỡ, chào hỏi thầy.

Nhìn tôi đưa tay lên vò trán, như hiểu được sự lưỡng lự của tôi, ông Châu nói tiếp:

-Thật ra, ở quê chẳng có gì đặc biệt để mời thầy, nhưng đây là dịp để gia đình tôi đền đáp lại phần nào lòng tốt của ông bà thân sinh của thầy. Tôi mong thầy đừng từ chối.

Nghe ông Châu nói, tôi biết không còn đường nào để chối từ lời mời của ông ta được. Với hơn 3 năm làm việc, tiếp xúc bạn bè ở miền Nam, tôi đã hiểu khá rõ con người nơi đây. Họ đơn giản, họ nghèo ngôn ngữ để diễn đạt tâm hồn, cảm xúc nhưng họ rất chân tình, không biết màu mè, môi mép, đưa đẩy kiểu ngoại giao. Khi họ đã nhận ai là người thân thiết, thì chẳng bao giờ tính toán thiệt hơn. Họ dám cho những cái họ đang cần, đang thiếu mà không một chút nhăn mặt ngại ngần.

Bước xuống chiếc xe lôi, tôi theo ông cháu ông Châu đi qua chiếc cầu bằng bê tông bắc ngang qua rạch nước chạy dọc theo đường lộ liên tỉnh. Chúng tôi đi vào con đường đất khô ráo, khá rộng, khoảng vài chục mét. Quẹo vào con đường rẽ riêng biệt dẫn đến một căn nhà ngói bề thế đứng giữa một khu vườn trồng cây ăn trái rộng lớn. Vách và mái nhà vẫn còn màu đỏ nâu nguyên thủy, chứng tỏ căn nhà xây cất không lâu. Hình như thấu hiểu được sự ngạc nhiên của tôi khi nhìn thấy cơ ngơi hoành tráng của mình. Ông Châu không dấu được sự sung sướng, tự hào, quay sang tôi ông nói:

-Cũng nhờ mấy năm được mùa, nhất là nhờ mấy ổng cởi mở, thêm vào mấy đứa con lớn khôn, chịu làm ăn gom góp lại tôi mới xây được căn nhà  này đó, thầy Hai.

Nói xong ông Châu dẫn tôi đi một vòng thăm cơ ngơi của mình, trước khi vào nhà giới thiệu với vợ con.  Khu vườn bao quanh nhà với những  mương dẫn nước chạy ngang dọc như bàn cờ. Trên bờ mương những hàng cây ăn trái đang có giá trên thị trường như nhãn,  đu đủ, bưởi năm roi… trồng xen kẽ nhau. Những cành cây xum xuê trái nặng trĩu phải dùng cột chống đỡ để khỏi bị gãy. Tất cả nói nên sự màu mỡ của khu vườn và sự khá giả của chủ nhân. Ông Châu chỉ những thửa ruộng xanh tươi bao quanh khu vườn với những bông lúa mới chớm vàng rũ xuống vì nặng hạt, nói với tôi:

-Tất cả 7 công ruộng này tôi trồng lúa nàng thơm giống mới, hàng năm trừ chi phí cũng kiếm được xấp xỉ 50 triệu đó thầy Hai.

Đi bên cạnh ông Châu, tôi có cảm tưởng, niềm hạnh phúc dạt dào trong lời nói, dáng điệu, tiếng cười của ông đã êm nhẹ thấm cả vào thân thể tôi. Cho tôi cái cảm giác vui mừng, có chút tự hào về sự thành công của người nhân viên cũ. Đưa mắt kín đáo nhìn mái tóc trắng gần hết, khuôn mặt nhăn nheo sạm nắng của ông Châu, tôi muốn chia sẻ sự sung sướng  đang có nơi ông. Tôi nghĩ hiện tại, ở cái tuổi về già ông rất xứng đáng được đền bù sau gần một đời người lao lực.

Chúng tôi vào nhà được một lúc, khi ráng chiều đã thấp thoáng trên ngọn cây. Sáu người nhân viên khác lần lượt đến, trong đó có  chị thư ký trực tiếp của tôi ngày xưa. Họ ôm lấy tôi, hỏi thăm, kể lể cho tôi nghe những khó khăn cũng như những thành công vui vẻ trong mấy chục năm vừa qua.  Điều làm tôi cảm động rớm nước mắt đó là họ luôn luôn nhắc đến bố mẹ tôi với những câu nói quá chân tình. Họ chia xẻ sự xót đau, thương tiếc với tôi khi biết mẹ tôi đã mất từ lâu, lúc tôi còn đang khốn khổ ở hải ngoại không có điều kiện về đưa đám.

Họ nhắc lại  những lần lên Sài Gòn tạm trú ở nhà bố mẹ tôi, những bữa ăn thịnh soạn mà gia đình tôi đã tiếp đãi họ… Tôi cảm thấy gần họ, yêu cái chân chất, mộc mạc từ con người họ, những con người của đồng ruộng miền Nam.  Nhưng tôi cũng không giấu được cảm giác thoáng buồn khi nhìn về thực tế, hoàn cảnh của mình.  Họ vẫn là họ. Họ mãi mãi sống và chết nơi đây, quê hương, đất nước, dân tộc của họ và cũng là của tôi.  Còn tôi thì đã khác, quê hương vẫn trong lòng, nhưng cuộc đời tôi đã xa vời vợi. Ngay cả tình thân ái giữa tôi và họ hôm nay, có lẽ chỉ là một cuộc tao phùng thoáng qua trong đời tôi, đời họ mà thôi. Gặp nhau thoáng qua hôm nay nhưng rồi cũng sẽ đi vào quá khứ khi từ giã, xa nhau. Rất khó khăn nếu không muốn nói là không còn có dịp để tái ngộ, nếu có chỉ là những hoài niệm mỗi khi chợt nhớ đến nhau mà thôi.

Buổi tối, một bữa nhậu dĩ nhiên là phải có ở cái vùng miền Nam sông nước phong phú thực phẩm và đầy ắp tình người này. Những ly rượu vẫn còn thơm mùi nếp mới được chuyền cho nhau, hâm nóng bầu không khí của buổi gặp mặt sau hàng chục năm xa cách . Nhưng cũng để mở cửa tâm hồn cho những lời tâm sự thân thương, không gò bó, đuổi đi những cái vớ vẩn kẻ trên người dưới của ngày xưa lúc còn làm việc với nhau.  Những nụ cười giòn giã  khi nhắc đến kỷ niệm vui buồn hàng chục năm về trước, hoà nhập cùng với vị ngọt của những ly rượu… Hình như nó xóa nhòa đi hết những vết thời gian trên những mái tóc, khuôn mặt chúng tôi.

Nhưng cuộc vui thế nào thì cũng đến hồi kết thúc. Những cái bắt tay nồng nàn, ôm xiết nhau rất chặt nhưng thật buồn khi từ giã nhau. Tôi và họ có linh cảm cuộc chia tay  này chắc khó có bao giờ được gặp lại nhau nữa. Thời gian, tuổi tác và không gian  cũng như hoàn cảnh… là những dữ kiện mà chúng tôi đã mường tượng ra những rào cản cho lần tái ngộ tương lai.

Nhìn sáu người nhân viên ra khỏi căn nhà của ông Châu lòng tôi trĩu nặng, buồn rười rượi. Tôi đưa mắt nhìn họ, cố gắng ghi nhận thật rõ dáng điệu, hình dạng của từng người vào trí nhớ mà tự nói với mình, đó là những người bạn sẽ không bao giờ tôi quên nhưng buồn ơi ! Tôi cũng chẳng còn dịp để gặp lại được nữa. Xin Trời Phật hãy phù hộ cho họ, cho gia đình họ mãi mãi có những niềm vui trong một đất nước VN thanh bình, thịnh vượng.

Sáng hôm sau, khi bữa điểm tâm vừa xong, tôi đang sửa soạn để về Sài Gòn, ông Châu im lặng nhét vào cái ba lô của tôi một bịch giấy khá nặng, đưa thêm cho tôi một gói khác đựng nhãn và mấy trái bưởi Năm roi. Ông nói với tôi:

-Thấy Hai, tôi nhờ thầy mang biếu ông Hai, ba của thầy 5 ký gạo thơm. Còn nhãn và mấy trái bưởi này nhờ thầy làm đồ cúng bà Hai, mẹ của thầy hộ tôi. Món quà nho nhỏ trả ơn nghĩa của tôi đến bà.

Cá tính của tôi từ xưa rất ngại việc xách mang luộm thuộm khi đi xa, nhưng với lời lẽ của người nhân viên cũ đã làm tôi khó nghĩ. Nhìn gói quà ra vẻ ngần ngừ tôi nói với ông:

-Thay mặt bố mẹ tôi, xin cám ơn ông, nhưng tôi chỉ xin ông mỗi thứ chút ít mà thôi. Tình cảm của ông và tôi thì ông đã biết rồi, không phải là nhiều hay ít, mà chúng ta thông hiểu nhau mới là điều quan trọng .

Ông Châu nằng nặc không chịu, cuối cùng tôi đành phải nhận tất cả. Khoác chiếc ba lô có thêm 5 ký gạo, tay cầm bịch trái cây tôi nói lời từ giã gia đình họ. Lúc đưa tôi lên xe lôi, ông Châu ôm lấy vai tôi, cảm động ông nói:

-Thầy đi mạnh giỏi, mong có dịp được gặp lại thầy nữa. Thầy cho tôi hỏi thăm ông Hai nhe .

Trước khi chiếc xe lôi lăn bánh, ông Châu nói với theo:

-Tối hôm qua lúc chia tay anh ba Mỹ cho biết sáng nay họ sẽ ra bến xe tiễn đưa thầy, tôi nghĩ họ đang ở đó chờ thầy đó.

Đúng như vậy, khi vừa bước xuống khỏi chiếc xe lôi, tôi thấy từ quán nước gần cổng bến xe, ông ba Mỹ và mấy người khác chạy ra đón. Mỗi người xách theo một bịch, nào rau cải, nào trái cây đủ loại, Nhìn họ tôi biết chẳng phải là cuộc đưa tiễn đơn giản, tay không. Chắc chắn có những món quà luộm thuộm đồng quê, nặng tình thân thiết mà tôi khó chối từ.

Vẫn những câu nói tình cảm, làm quà trả nghĩa bố mẹ tôi ngày xưa. Vẫn những lời thoái thác vô ích của tôi. Tôi phải nhận!  Chỉ vì tôi không thể chối từ được tấm lòng chân chất,  thân tình của họ dành cho tôi được. Cuối cùng những bó rau xanh tươi, những trái đu đủ, ổi xá lỵ, mít trà nóc, bưởi năm roi… vẫn còn thơm mùi ruộng vườn được nhét chung với nhau, rất gọn gàng trong hai cái sọt bằng tre đan. Hình như nhìn thấy ánh mắt ngại ngần của tôi với số lượng quá lớn, kềnh càng đựng quà, ông ba Mỹ nói:

-Đằng nào tới Sài Gòn thầy cũng phải thuê xe về nhà, nặng nhẹ gì đâu mà thầy lo. Chút quà cho ông Hai vui mà thầy Hai.

Rồi cũng nhờ sự xếp đặt của họ với xe đò, hai sọt quà được xếp gọn gàng dưới chỗ ngồi của tôi, bên cạnh tài xế. Khi xe vào địa phận tỉnh Tiền Giang, gần đến ngã ba Trung Lương, tôi chợt muốn tạt vào thăm thành phố Mỹ Tho, một thành phố nhỏ bé, dễ thương nằm bên giòng sông Tiền Giang. Tôi biết sơ sài về Mỹ Tho từ thời còn là học sinh trung học, nhưng từ khi xuống Cần Thơ làm việc rồi quen và yêu Vân. Chúng tôi thường tìm đến thành phố hiền hoà này rong chơi mỗi khi trên đường về Sài Gòn.

Lúc xách ba lô xuống xe ở ngã ba Trung Lương, người lơ xe kéo từ dưới ghế ra 2 cái sọt quà, để xuống mặt đường lộ cạnh bên chân tôi. Lúc đó tôi mới nhớ ra ngoài cái ba lô trên vai, tôi còn thêm những món quà cồng kềnh mà tôi đã quên mất từ khi lên xe. Món quà này đúng là vật cản đôi chân và bản chất giang hồ của tôi.  Làm sao với nó đây? Không dễ dàng cho tôi lang thang như mong muốn được.

Cùng xuống xe với tôi có khoảng 4,5 người, trong đó có một bà già có lẽ trên 70 tuổi, người miền quê Nam bộ đúng nghĩa, đầu đội chiếc khăn quàng ca rô màu xanh lá mạ, miệng lép nhép nhai trầu, tay xách cái túi bằng cói lép xẹp. Bà già nhìn hai sọt quà của tôi, hướng về phía tôi, bà nói bâng quơ:

-Chà, mấy trái xoài tượng ngon ghê, chú mua ở đâu dzậy?

Tôi thật thà trả lời:

-Người quen dưới Cần Thơ cho con đó dì.

Bà già nói tiếp:

-Đúng dzậy! Ở chợ đâu dễ mua được thứ ngon và to như dzậy!

Nhìn vẻ chất phác, vui vẻ dễ bắt chuyện của bà già, tự nhiên tôi cảm mến. Hình ảnh những bà mẹ quê Nam bộ mà tôi đã từng quen biết ngày xưa. Trong những dịp về quê thăm viếng gia đình bạn bè vào dịp giỗ Tết hiện ra trong trí nhớ tôi với nhiều ấn tượng đẹp. Họ có thể là bà nội, bà ngoại, là mẹ, là cô, là dì hay là chị của bạn tôi, nhưng họ đều có một điểm chung là rất thân thiện, cởi mở. Gặp họ dù dưới một dạng quen biết rất sơ sài nhưng vẫn được họ đãi ăn uống no say không một tí ngăn cách. Với sự cảm mến trong tiềm thức đó, tôi buột miệng nói với bà già:

-Dì muốn không, con biếu dì đó.

Bà già hơi chau mày, giương mắt nhìn tôi, có lẽ bà nghĩ tôi nói đùa. Bình thản bà trả lời:

-Cám ơn chú Hai, chú dzỡn với tui hoài…

Nghiêm nghị tôi nói chắc:

-Con không dzỡn với dì đâu, nếu dì thích con cho dì hết đó!

Lúc này bà già không còn nghĩ mình nghe lầm nữa, nhưng trên khuôn mặt, ánh mắt của bà vẫn còn vẻ ngạc nhiên, có vẻ vẫn chưa  tin lời nói của tôi là thật. Đứng gần đó, một thiếu phụ cỡ tuổi trung niên, cùng xuống xe với tôi và bà già. Có lẽ chị ta đã theo dõi trọn vẹn cuộc đối thọai của chúng tôi. Chị ta nói xen vào:

-Chú ấy nói thật đó, dì cứ nhận đi rồi chia cho chúng tôi mỗi người một chút không tốt sao?

Nghe vậy, bà già sung sướng ra mặt, bước đến cầm lấy 2 sọt qùa xoay qua, xoay lại nhìn rõ những vật phẩm trong sọt, ngước cặp mắt lem nhem trong vui mừng, nói với tôi vài lời cám ơn. Tiếp theo là một sự phân chia rất hoà thuận giữa bà và mấy người cùng chuyến xe. Vài người quay lại nói vài lời cám ơn tôi trước khi vội vàng bước lên chiếc xe đò nhỏ khác vừa táp vào đón họ. Tôi cũng không hiểu sao bà lại không lên xe theo những người kia. Hình như bà ta cố ý nán lại chờ đợi tôi hay muốn nói với tôi điều gì thì phải? Nghĩ như vậy, tôi nhìn bà, hỏi:

-Ủa, sao dì không lên xe?

Bà nhìn tôi rất thân thiện, trả lời:

-Chú Hai đi đâu dzậy? Tôi về quận Chợ Gạo, cũng gần đây nếu chú Hai rảnh ghé tôi chơi.

-Cám ơn dì, con  định tạt vào Mỹ Tho chút xíu rồi mới về lại Sài Gòn.

Bà đưa mắt nhìn tôi, trong ánh mắt bà ta có vẻ suy tư, thoáng buồn buồn. Tôi định nói với bà ta vài câu từ giã, nhưng chưa kịp, bà ta đã nói với tôi:

-Chú giống thằng Sáu Út, con của tôi quá. Nó chết đã hơn 10 năm nay rồi, tội nghiệp quá!

Nghe bà lão nói, tôi cũng hơi ngạc nhiên, buột miệng tôi hỏi:

-Chú Sáu Út vì sao mà chết vậy dì?

-Nó chết vì tai nạn lao động, lúc mới 22 tuổi chưa có vợ con gì cả. Nếu còn sống chắc cỡ tuổi chú Hai.

Nghe bà lão xét đoán quá thấp tuổi tác của mình, tôi im lặng đưa mắt nhìn khuôn mặt già nua, thoáng gợn nỗi buồn của bà ta.  Ngẫu nhiên tôi nhìn vào chiếc giỏ cói của bà ta, một trái bưởi năm roi, một chùm nhãn và mấy trái xoài tượng, tôi buột miệng hỏi:

-Sao dì chỉ lấy ít vậy?

-Không ít đâu chú Hai, tôi lấy dzậy là nhiều hơn mấy người khác rồi đó.

Tôi mỉm cười, chẳng hiểu bà lão nói để tôi vui hay đúng thật . Nhưng khi nhắc cái ba lô của mình lên, tôi chợt nhớ là trong đó còn 5 ký gạo thơm. Chẳng có tí ngại ngần, tôi mở ra cầm gói gạo đưa tận tay bà:

-May quá, con còn sót lại 5 ký gạo, biếu dì luôn nè.

Bà lão đưa tay đẩy bịch gạo,nhất định không nhận. Sau mấy lần đẩy qua, đẩy lại cùng với nhiệt lòng của tôi cuối cùng bà lão để cho tôi nhét bịch gạo vào giỏ của bà. Đúng lúc đó, tôi thấy bà thừ người ra, im lặng. Từ khoé mắt bà lão tôi thấy hai dòng lệ chảy xuống khuôn mặt rám nắng, nhăn nheo cuộn dính với vài sợi tóc trắng lòa xòa. Tôi chẳng hiểu vì sao bà lão khóc? Có thể vì cảm động với lòng tốt nhỏ bé của tôi, người mà bà chưa hề quen biết. Hay bà khóc vì qua tôi bà đã  trở về với hình ảnh đứa con trai út bất hạnh của bà ngày xưa? Bà lão đưa bàn tay vuốt nhẹ khuôn mặt tôi, ánh mắt mơ hồ, buồn bã nhìn tôi. Bà nói rất nhỏ:

-Tội nghiệp thằng Sáu Út của tôi quá, nó là đứa con có nghĩa với tôi lắm chú Hai.

Ngẩn ngơ nghe bà lão nói. Tôi nghĩ rằng dù là thằng Hai, thằng Ba, con Năm, con Bẩy… bất cứ một đứa con nào chết đi với bà ta, cũng như với bất cứ bà mẹ, ông cha nào trên thế gian này đều là đứa con tuyệt vời, đáng thương và tiếc nhớ nhất. Chủ quan hay khách quan?  Sai lầm hay chính xác? Chẳng còn là điều quan trọng mà cái đáng ghi nhận, đáng tôn thờ đó là lòng mẹ thương con mà ai ai cũng có. Tôi ôm lấy đôi vai bà lão, muốn gửi đến bà sự cảm thông, an ủi của tôi vì nỗi đau buồn mất mát của bà.

Rồi tôi chợt nhớ đến hai sọt quà, 5 ký gạo thơm của những người nhân viên cũ đã nhờ tôi mang biếu bố mẹ tôi đã không còn nữa, đã được tôi phân phát cho những người không quen biết, trong đó có bà lão dễ mến, đáng thương. Trong lòng tôi thoáng gợn một chút áy náy vì tôi đã không làm theo lời dặn của họ. Tôi cũng biết chắc chắn họ đã phải lựa chọn cái tốt nhất, ngon nhất trong khu vườn, thửa ruộng của gia đình họ để tặng tôi. Nhưng tôi hy vọng họ hiểu rõ con người tôi.

Tôi đã lớn lên, đi làm việc ở miền Nam, đã bao nhiêu lần có được những ân hưởng từ những tấm lòng chân thật, không tính toán của người miền Nam, ít hay nhiều tôi cũng bị ảnh hưởng cái tính phóng khoáng, chân chất của người miền Nam mà họ là tiêu biểu. Vậy có gì lạ đâu, tôi cũng như họ mà thôi. Làm sao tôi có thể chi ly khi mình đã sống và nhận được bao nhiêu sư rộng rãi của những người dân nơi đây ?! Ông Châu, ông Sáu, ông Mỹ, chị Điệp và tất cả hãy hiểu và cảm thông cho tôi.

Tôi lại nhớ đến bố mẹ tôi, chắc chắn qua hàng chục năm nuôi dưỡng, giáo dục tôi, bố mẹ tôi đã quá hiểu rõ thằng con trai, tính tình ngỗ nghịch nhưng cũng là đứa con có chút thiện tâm. Cái thiện tâm đó đã được di truyền từ chính bố mẹ tôi mang đến. Với suy nghĩ như vậy tôi chắc chắn bố mẹ tôi chẳng có gì để tiếc rẻ món quà  nhỏ nhặt của mình mà tôi đã đem tặng cho một bà lão không hề quen biết. Một bà mẹ già đáng thương, đã nhìn qua tôi mà chảy nước mắt khi nhớ đến thằng con trai út bất hạnh của bà ta, nó đã mất vào lúc còn non trẻ.

Lại một lần nữa tôi đưa mắt nhìn bà, vẫn những nếp nhăn nheo của da mặt, vẫn màu sắc sạm nắng gió mưa, vẫn vài lọn tóc trắng lòa xòa trên khuôn mặt… Tất cả là biểu tượng của sự già nua, cực nhọc in hằn trên cuộc đời bà lão. Trong lòng tôi tự nhiên hiện lên một ước mơ rất đẹp để cho thế hệ sau này sinh ra, lớn lên nơi đây không gặp phải những nghịch cảnh như tôi. Ra đi biền biệt nhưng vẫn không quên được quê nhà, người đồng hương và kỷ niệm để rồi lại tìm về mong được sống với những hoài niệm trong đời mình khi mà mái tóc đã bạc màu vì gió mưa!

(Hình minh họa: Minh Pham/Unsplash)