Tù nhân lương tâm Nguyễn Bắc Truyển đi thẳng từ nhà tù Việt Nam đến Đức sau 6 năm thụ án

RFA
2023.09.09

Vợ chồng ông Nguyễn Bắc Truyển ở Berlin hôm 9/9/2023

FB Kim Phuong Bui

Tối 8/9, tín đồ Phật giáo Hòa Hảo Nguyễn Bắc Truyển cùng vợ đến Berlin, thủ đô của nước Đức sau khi được trả tự do từ trại giam An Điềm, tỉnh Quảng Nam trước chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Biden chỉ vài ngày.

Truyền thông Nhà nước hoàn toàn im lặng trước thông tin này và cũng không giải thích lý do vì sao ông Truyển được trả tự do khi chưa chấp hành xong án phạt tù, hồi năm 2018 Bộ Ngoại giao Việt Nam giải thích lý do trả tự do cho blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm) là “nhân đạo”.

Ông Truyển bị bắt hồi năm 2017 và bị tuyên án 11 năm tù với tội danh “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” cùng với các thành viên khác của Hội Anh Em Dân Chủ và chỉ mới thụ án đến năm thứ sáu.

Theo quy định của Luật đặc xá năm 2018, tội danh ông Truyển bị cáo buộc thuộc trường hợp “không được đề nghị đặc xá.”

Bà Bùi Kim Phượng, vợ của ông Truyển đăng tải trên Facebook cá nhân Kim Phuong Bui bức hình cả hai đứng trước một bức tường có các bức vẽ graffiti nhiều khả năng là bức tường Berlin cho hay:

“Vợ chồng tôi đã đến thủ đô Berlin- CHLB Đức bình an vào đêm ngày 8/9/2023 (giờ Berlin).

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự vận động để trả tự do cho tôi của Chính phủ CHLB Đức và sự hỗ trợ nhiệt tình của các Viên chức Toà Đại sứ và Tổng lãnh sự CHLB Đức trong suốt chuyến đi.”

Bà cũng cho biết hai người cần thời gian để hồi phục sức khoẻ, ổn định cuộc sống và sẽ nói chuyện nhiều hơn trong tương lai.

Trước đó, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Đức xác nhận tin tức ông Truyển được trả tự do và đang trên đường đến Đức với tờ báo Taz và cho rằng đây là “động thái nhân đạo”:

“Chúng tôi hoan nghênh việc trả tự do cho nhà hoạt động nhân quyền này. Đây là một động thái nhân đạo quan trọng của chính phủ Hà Nội.”

Việc trả tự do cho các tù nhân chính trị và buộc phải đi tị nạn ở nước ngoài thường diễn ra trước các sự kiện quan trọng của Việt Nam, đặc biệt là các chuyến thăm của Tổng thống Mỹ đến Hà Nội.

TIỀN KHÔNG LÀM NÊN VĂN HÓA

Kim Dao Lam

Fb Trần Kim Cường

Mình được cha mẹ & thầy cô xưa dạy rằng: Đạo đức là cái nền làm nên Văn hóa, không phải tiền. Đạo đức là điều kiện cần để đi tới có Văn hóa.

Vì thế, cần xem lại (nền) Giáo dục thế nào mà để Đạo đức suy đồi, dẫn đến Văn hóa “kém”, thậm chí “vô văn hóa”.

Cá nhân mình cho rằng, nền “giáo dục Xã Hội Chủ Nghĩa” sẽ tạo ra những “con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa” đậm đà “đạo đức Cách (cái) Mạng”. Rồi từ cái nền Kách cái Mệnh đó sẽ sản sinh ra một thứ tạm gọi là “Văn hóa Cộng sản”, “văn hóa Mác-xít, Lênin-nít”, thậm chí “văn hóa Mao-ít” thừa tính “chuyên chính bạo lực” mà không phải “văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc” đùm bọc chan hòa vốn có từ xưa của ông bà mình.

Nếu thấy Văn hóa hiện nay “xuống cấp”, “hủ bại”, “tệ hại”, v.v, hãy xét lại cái gốc là cách thức/phương pháp/nội dung của Giáo Dục xem nó sai chỗ nào, “phản động” ra sao, gây hậu quả nghiêm trọng đến nền tảng Đạo đức thế nào…để mà sửa, thậm chí triệt để hơn, loại bỏ và thay mới hoàn toàn.

Có thế mới may ra cứu vãn được đà trôi tuột không phanh của cả Đạo đức & Văn hóa.

Cái chính không phải là Tiền! Cái chính là Giáo Dục. Mà để Giáo Dục thành công cần môi trường giáo dục phải thật sự Tự Do, Khai phóng. Mà muốn có Tự do học thuật, hành xử nhân bản, thượng tôn phẩm giá và lương tri thì lại phải cần có một Thể chế Chính trị khoan dung chấp nhận khác biệt tư tưởng, một thể chế thúc đẩy mạnh mẽ các giá trị nói trên phát triển.

Đó (thể chế chính trị) chính là cái Việt Nam hôm nay không có và rất cần, không phải 350.000 tỷ đồng (Hồ)!

(Tèo Ngu Khìn)

CUỐN TẬP NGÀY XƯA CÓ HÌNH BÌA MÀ TÔI RẤT THÍCH…!

Truc Dinh

(Đinh Trực)

Có những kỷ niệm ngày xưa khi đi học, tuy thật đơn giản nhưng thấm đậm biết bao kỷ niệm mà ngày nay và cả mãi sau này sẽ không bao giờ tìm lại được…! Chỉ quay ngược bánh xe thời gian trở về tuổi thơ thật đẹp, thật hồn nhiên mà luyến tiếc…!

Cuốn tập hình bìa Xích lô máy này đã xưa lắm rồi…! Tôi không còn nhớ rõ khoảng thời gian mà tôi sử dụng nó, chắc cũng vào khoảng những năm 1960-1970. Đây là cuốn tập chỉ có những đứa học sinh con nhà “khá giả” mới được xài, bởi loại giấy trắng láng, giúp chữ viết nổi bật hơn màu tím rất đẹp, trang giấy trắng không bị lem mực, bìa giấy dày, được đóng kim chắc chắn nên rất khó bị rách…! Lật vào trong, hít hà mùi thơm kỳ lạ bốc lên, đó là một cái thú kì lạ ngây ngất…!

Ngày đó, những tiệm tạp hóa, những chỗ bán dụng cụ chi học trò lớn nhỏ gần trường, cô chú chủ tiệm thường xếp những cuốn tập trên tủ kiếng cao, rất kiểu bìa khác nhau: nào là: Olympic, con Nai, cầu thủ đá banh, vua Quang Trung,… Nhưng tôi thích khoái nhất là bìa Xích lô máy…!

Hình ảnh chiếc Xích lô máy còn thân quen với nhiều thế hệ học trò trước 1975, không chỉ ở ngoài đời, mà còn trên vở học sinh, với hình bìa vở đã đi vào huyền thoại này…!

Sung sướng nhất là ngày cuối năm phát thưởng trước khi về nghỉ hè… Phần thưởng cho những học sinh Giỏi của lớp là bộ sách của lớp trên khi vào năm học sau cùng với một chục cuốn “Xích lô máy”.

Thằng nhỏ tôi khệ nệ bợ hai tay phần thưởng về nhà, mắt ngó quanh quất để xem mọi người, có ai khen mình không…?

Cuốn tập xưa đã dắt tôi về một vùng miền ký ức, cho tôi nhớ lại bao kỷ niệm tưởng chừng đã ngủ yên trong tiềm thức, rồi bỗng nhiên sống lại trong lòng một thuở được làm kiếp học trò đầy yêu thương…!

Hành trang mang theo suốt cuộc đời, chắc có lẽ không có gì đẹp hơn ngày xưa ôm cặp tung tăng đến trường…!

 

Lừa đảo, bà tổng giám đốc là vợ ca sĩ nổi tiếng ở Việt Nam bị bắt

Báo Nguoi-viet

September 7, 2023

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Công An Hà Nội đã tạm giữ khẩn cấp bà Vũ Thị Thúy, tổng giám đốc công ty cổ phần Đầu Tư Thương Mại Bất Động Sản Nhật Nam và chủ tịch Hội Đồng Quản Trị kiêm giám đốc công ty cổ phần Sông Đà 1.01, để điều tra về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản.”

Theo báo Dân Trí hôm 7 Tháng Chín, bà Thúy, 40 tuổi, quê Thanh Hóa, được biết đến là vợ của ông Phạm Khánh Phương (ca sĩ Khánh Phương), 42 tuổi, ủy viên Hội Đồng Quản Trị công ty cổ phần Sông Đà 1.01 (mã chứng khoán SJC).

Bà Vũ Thị Thúy, tổng giám đốc công ty Bất Động Sản Nhật Nam, bị bắt để điều tra hành vi lừa đảo. (Hình: Nhà Báo và Công Luận)

Nhà chức trách ban đầu cáo buộc bà Thúy đưa ra “thông tin sai sự thật” về công ty Nhật Nam có nhiều bất động sản, dự án đầu tư, có lợi nhuận cao để huy động vốn của nhiều cá nhân, rồi sử dụng một phần tiền này để trả lãi cho các cá nhân trên. Từ đó, bà Thúy chiếm đoạt “số tiền đặc biệt lớn.”

Công ty Nhật Nam thành lập hồi Tháng Bảy, 2019, và mở nhiều chi nhánh và các văn phòng giao dịch bất động sản tại các tỉnh, thành khắp Việt Nam và tự giới thiệu “có quỹ đất trải dài từ Hà Nội, Thanh Hóa đến Tây Ninh, Phú Quốc (Kiên Giang)…”

Để tạo uy tín lôi kéo người dân để “lùa gà,” lãnh đạo công ty Nhật Nam đã tuyển dụng nhiều cựu cán bộ cao cấp từng giữ các chức vụ quan trọng của nhà nước CSVN đứng ra làm bình phong.

Theo đó, nhà đầu tư được công ty Nhật Nam giới thiệu chương trình góp vốn 12 tháng và quyền chọn mua căn chung cư cao cấp tại dự án Elite Tower ở phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, Hà Nội, do tập đoàn Sông Đà Nhật Nam làm chủ đầu tư.

Muốn tham gia chương trình này, nhà đầu tư phải bỏ ra số vốn thấp nhất là 1 tỷ đồng ($41,565), cao nhất là 10 tỷ đồng ($415,649) và sẽ được trả lãi suất 3%/tháng, cộng quyền chọn mua căn chung cư tại dự án nói trên.

Cụ thể, nếu nhà đầu tư bỏ ra 5 tỷ đồng ($207.825), mỗi tháng sẽ nhận được 150 triệu đồng ($6,234) tiền lãi. Sau 12 tháng sẽ nhận được 1.8 tỷ đồng ($74,817) tiền lãi. Theo đó, căn chung cư cao cấp có giá từ 5 tỷ đồng chỉ còn 3.2 tỷ đồng ($133,008) sau khi trừ tiền lãi đã nhận.

Phương án tiếp theo, nhà đầu tư có thể đầu tư với số tiền từ 10 triệu đồng ($415) đến 25 tỷ đồng ($1 triệu) và nhận “phân chia lợi nhuận” hằng ngày trong 24 tháng. Cụ thể, theo công ty này, nhà đầu tư sẽ được phân chia lợi nhuận gồm cả tiền gốc và tiền lãi được trả từ Thứ Hai đến Thứ Sáu, mỗi tháng 20 lệnh trả tiền vào thẻ ATM của nhà đầu tư.

Sau một thời gian, công ty Nhật Nam ngưng phân chia lợi nhuận, ra thông báo hứa trả tiền rồi thất hứa khiến hàng loạt nhà đầu tư điêu đứng.

Bà Vũ Thị Thúy trong buổi đối thoại với nhà đầu tư diễn ra hồi cuối Tháng Tám vừa qua. (Hình: VTV)

Trong khi đó, báo Người Lao Động cho hay hồi cuối Tháng Tám vừa qua, ca sĩ Khánh Phương và công ty có liên quan đến vợ ông là bà Vũ Thị Thúy đã bán toàn bộ hơn 1.1 triệu cổ phiếu SJC đang nắm tại công ty Sông Đà 1.01.

Nhiều nhà đầu tư sau đó thấy dấu hiệu bị lừa đảo nên đòi tiền, đòi chất vấn. Một số người đã làm đơn tố cáo với cơ quan công an.

Trước những ồn ào về việc vợ doanh nhân vướng vòng lao lý, ca sĩ Khánh Phương đã lên tiếng chia sẻ với báo Thanh Niên, thừa nhận công việc bị ảnh hưởng, đảo lộn sau khi thông tin của vợ được đăng tải trên các phương tiện truyền thông.

Giọng ca “Chiếc Khăn Gió Ấm” khẳng định không dính dáng đến việc làm ăn của vợ, ai sai thì người đó sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đồng thời, ông cũng hy vọng truyền thông không nhắc tên mình khi đề cập tới sự việc.

Ông Khánh Phương thẳng thắn: “Nếu trong vụ việc này, cá nhân nào phát hiện tôi sai phạm thì cứ tố cáo, chắc chắn các cơ quan chức năng, pháp luật sẽ đứng ra điều tra làm rõ và có hình thức xử lý. Tôi chỉ mong truyền thông đừng lôi tên tôi vào vụ việc liên quan đến Thúy. Ai là người vi phạm, công ty nào thì hãy đưa thẳng tên, làm ơn đừng kéo tên tôi vào nếu nó không quá liên quan. Còn việc tôi có liên quan đến hay không, các cơ quan chức năng sẽ xác minh. Tôi không muốn người thân, khán giả của mình phải lo lắng, hỏi thăm vì những thông tin này.”

Ông Khánh Phương hiện đang sinh sống cùng gia đình trong căn biệt thự rộng hơn 400 mét vuông, tọa lạc ở mặt tiền đường Nguyễn Thái Học, quận 1, Sài Gòn. Từ nhiều năm trước, căn nhà của gia đình nam ca sĩ được định giá khoảng 200 tỷ đồng ($8.3 triệu), gồm một trệt và sáu tầng lầu. Nam ca sĩ và gia đình dùng để ở và một phần kinh doanh khách sạn. (Tr.N) 


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Trần Huỳnh Duy Thức

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

07/09/2023

Với tất cả trân trọng và thương cảm, nhà văn Ngô Thế Vinh đã gửi đến cho mọi người một tin buồn lớn: Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã từ trần vào hôm 29 tháng 1 năm 2017.

Ông để lại một sự nghiệp đồ sộ, bộ sách Cây Cỏ Việt Nam (gồm 6 quyển, hai tập) với lời đề tặng:

– Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước.

– Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà-Nam-Ninh.

– Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào.

Tôi băn khoăn tự hỏi: Giáo sư Nguyễn Duy Xuân là ai? Sao một công trình nghiên cứu về thực vật học mà lại mở đầu bằng những “lời đề tặng” u ám, u uẩn và u uất thế? Chúng ta đang sống trong một thời đại, và một đất nước, bi thương đến độ này sao?

Những trang viết kế tiếp của nhà văn Ngô Thế Vinh, với nhiều dòng chữ nghẹn ngào, đã giúp cho tôi lý giải những câu hỏi vừa nêu:

“Giáo sư Nguyễn Duy Xuân cũng là người Cần Thơ, sinh năm 1925 hơn Giáo sư Phạm Hoàng Hộ 4 tuổi, tốt nghiệp Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Vanderbilt Hoa Kỳ, trở về Việt Nam 1963, giáo sư Luật. Nhận chức Viện trưởng từ Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Nguyễn Duy Xuân đã nỗ lực phát triển Viện Đại học Cần Thơ trên mọi lãnh vực từ chương trình giảng dạy, đào tạo ban giảng huấn, xây cất thêm giảng đường, phòng thí nghiệm, thiết lập ký túc xá như hệ thống campus cho sinh viên đến từ các tỉnh xa Miền Tây…

Chỉ trong vòng 9 năm [1966 – 1975] với công lao xây dựng của hai Viện trưởng tiền nhiệm: GS Phạm Hoàng Hộ, GS Nguyễn Duy Xuân, Viện Đại Học Cần Thơ như một Ngọn Hải đăng Miền Tây, trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học, đặc biệt bước đầu ưu tiên phát triển hai lãnh vực Sư phạm và Nông nghiệp, vững vàng sánh bước với các Viện Đại học lâu đời khác của Miền Nam, đóng góp cho sự thăng tiến của vùng ĐBSCL…

Chỉ mấy ngày trước biến cố 30 tháng 4, 1975, cũng như GS Phạm Hoàng Hộ, GS Nguyễn Duy Xuân như một trí thức dấn thân, quyết định ở lại và giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, ông vẫn can đảm nhận chức Tổng trưởng Bộ Văn hóa Giáo dục cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Giữ chức vụ đó chưa đầy một tuần lễ thì chính quyền Miền Nam sụp đổ, TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

GS Nguyễn Duy Xuân bị đưa vào trại tù cải tạo, sau đó bị đưa ra Bắc … đã chết trong tù cải tạo Hà Nam Ninh ngày 10 tháng 11 năm 1986 trong đói khát và bệnh tật không thuốc men. Xác của ông được vùi nông trong nghĩa địa tù cải tạo trên triền núi phía sau trại tù Ba Sao.”

Tôi đã có lần nhìn thấy tấm ảnh chụp bia thờ 626 linh hồn tử vong (từ năm 1975 đến năm 1988) của trại tù này, trên trang web của blogger Phạm Thanh Nghiên.

Có lẽ tên tuổi của giáo sư Nguyễn Duy Xuân cũng được ghi trên tấm bia này vì ông từ trần vào năm 1986, thời điểm mà giới truyền thông nhà nước vẫn xưng tụng (không tiếc lời) về sự “dũng cảm nhìn vào sự thực” và “quyết tâm đổi mới của ĐCSVN.

Nếu “dũng cảm nhìn vào sự thực” thì đây chỉ là sự quyết tâm “bẻ lái con tầu đất nước” theo hướng Trung Nam Hải – như nhận xét và cảnh báo của blogger Trần Huỳnh Duy Thức:

“Trung Quốc và Việt Nam tạo ra một phiên bản khác về sự vi phạm tính toàn vẹn của các quyền con người. Hai nước này đã thừa nhận quyền kinh tế cho người dân nhưng vẫn tước đoạt không khoan nhượng quyền chính trị của họ, gây nên một kiểu tự do què quặt khác.

Mặc dù mô hình này có thể tạo nên sự tiến bộ kinh tế và các thành tích ấn tượng về xóa đói giảm nghèo, nhưng nó cũng đồng thời nuôi dưỡng bất bình và suy thoái xã hội rồi nhốt chúng lại.

Khi sự trầm trọng này trở nên mục rỗng thì nó sẽ dẫn tới việc bộ máy chính trị tự dân chủ hóa hoặc sẽ kết thúc trong sụp đổ toàn diện về kinh tế, xã hội, chính trị và một chế độ bị lật nhào. Đây là tiến trình tất yếu vì nó phá vỡ sự toàn vẹn của các quyền con người vốn thuộc về luật của Tạo hóa.

 Dưới tác động của toàn cầu hóa và xã hội Internet, tiến trình này sẽ diễn biến rất nhanh, nhanh hơn đã từng chứng kiến trong thời gian chiến tranh lạnh dẫn đến sự tan rã của hệ thống Đông Âu và Liên Xô.”

Lời cảnh báo này, tiếc thay, đã bị những người đứng đầu chế độ hiện hành coi như là một “lời nguyền” hay “trù ẻo.” Tuy mang tiếng là theo chủ nghĩa duy vật nhưng họ lại là những kẻ rất dị đoan.

Vốn bệnh tật nên họ sợ “tiếng cú,” và đã vu vạ cho Trần Huỳnh Duy Thức đủ loại tội danh (trộm cắp cước điện thoại, hoạt động chính trị nhằm lật đổ chính quyền) cùng một bản án nặng nề –16 năm tù và 5 năm quản chế, vào ngày 20 tháng 1 năm 2010 – qua một phiên toà mà đại diện của Hội Ân Xá Quốc Tế đã mô tả như là “sự nhạo báng công lý.”

Nhiều năm đã trôi qua nhưng chưa bao giờ người tù nhân lương tâm quả cảm này bị công luận lãng quên. Ông vẫn luôn được nhắc đến với rất nhiều trân trọng, qúi mến, cùng quan ngại:

– BBC (21/01/2010) Người Có Án Nặng Nhất Nói Bị Bức Cung

– BBC (21/01/2010) Các Nhóm Nhân Quyền Chỉ Trích Bản Án

– RFI (30/01/2010) Bốn Nhà Bất Đồng Chính Kiến Ở Việt Nam Kháng Án

– Bauxite VN (14/06/2013) Duy Thức Đã Không Ngủ Suốt 10 Ngày Biệt Giam

– RFA (15/10/2013) Trần Huỳnh Duy Thức Được Vinh Danh Giải Nhân Quyền

– RFA (07/05/2016) Tù Nhân Trần Huỳnh Duy Thức Bị Chuyển Trại Giam

– BBC (17/05/2016) Ông Trần Huỳnh Duy Thức Sẽ Tuyệt Thực

– Ba Sàm (28/05/2016) Trí Thức Tuyệt Thực Cùng Trần Huỳnh Duy Thức

– VOA (31/01/2017) Ông Thức Nhất Quyết Không Lưu Vong

Tôi chưa bao có cái hân hạnh được giao tiếp với ông Trần Huỳnh Duy Thức. Tôi chỉ được biết người tù nhân lương tâm bất khuất này qua công luận. Và công luận thì đã vạch rõ sự ác độc và tính man rợ của những kẻ đứng đầu chế độ công an trị hiện hành. Họ đã gây ra không biết bao nhiêu là cái chết đớn đau và oan khuất:

“Những người bị giết đều là những tinh hoa, là danh sĩ đạo cao đức trọng, yêu nước thương dân, có thành tựu văn hóa sáng giá cống hiến cho nền văn hiến nước nhà. Họ chết mỗi người mỗi cách đau xót và hàm oan:

 Nhà văn Lan Khai bị xô xuống vực, văn hào Ngô Tất Tố bị bức cho treo cổ tự vẫn, Khái Hưng bị bỏ rọ trắn sông, Phạm Quỳnh đối thủ đáng gờm của thực dân Pháp bị xử tử, Tạ Thu Thâu nhà yêu nước lớn bị tử bắn; nàng thơ nữ sĩ Thu Hồng bị bắn lén từ sau lưng; Nhượng Tống dịch giả tài hoa số 1 bị ám sát; Dương Quảng Hàm vị giáo sư đáng kính ra khỏi nhà đi mãi không về; vị bồ tát Thiều Chửu bị bức hại nhảy xuống sông tự tận…

Đó là tất cả sự thực về những cái chết tức tưởi oan khuất của các nhà văn, nhân sĩ mà bọn gieo ác vẫn sống nhởn nhơ trên pháp luật với bộ mặt người lương thiện! Nguyên tắc bất di bất dịch nằm trong ý thức hệ tư tưởng của những kẻ sát nhân lương thiện này là: yêu nước và chính kiến là độc quyền của tao, mày không đi với tao, mày là kẻ thù của tao. Đã là kẻ thù thì mày không có quyền tồn tại! (“Thái Doãn Hiểu – Những Cái Chết Tức Tưởi Của Nhà Văn, Chuyện Bây Giờ Mới Kể”).

Phạm Quỳnh, Ngô Tất Tố, Khái Hưng, Dương Quảng Hàm sinh vào cuối thế kỷ XIX. Lan Khai, Thu Hồng, Nhượng Tống, Nguyễn Duy Xuân sinh vào đầu thế kỷ XX. Kể từ khi cướp được quyền bính đến nay, những người cộng sản Việt Nam đã giết chết bao nhiêu là anh tài và nhân sĩ (thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau) rồi?

Chúng ta bắt buộc phải luôn quan ngại (và canh thức) về sinh mệnh của Trần Huỳnh Duy Thức, cùng hàng trăm tù nhân lương tâm khác, đang nằm trong vòng tay của cường quyền và bạo lực!


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Vũng lầy giáo dục

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Vũng lầy giáo dục

Báo Đàn Chim Việt  –   Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Đường đến trường của học sinh vùng rốn lũ miền Tây

Lá vẫn còn xanh. Hè vẫn còn nấn ná. Trời vẫn chưa muốn vào thu mà (không dưng) sáng nay California chợt thoáng chút âm u, và lấm tấm vài hạt mưa nho nhỏ. Mưa chưa ướt đất nhưng cũng đủ làm cho tôi hơi thấy ngại ngần khi nghĩ đến chuyện phải ra khỏi nhà chỉ vì một ly cà phê nóng.

Thôi thì bắt chước cổ nhân thắp vài cây nến nhỏ, châm một bình trà, rồi ngồi nhẩn nha đọc lại vài bức thư xưa. Lá thư cũ nhất mà tôi còn giữ được (“Thư Gửi Các Cháu Học Sinh”) Chủ Tịch Hồ Chí Minh, đề ngày 3 tháng 9 năm 1945, có mấy câu vô cùng thắm thiết và cảm động:

 “Ngày hôm nay là ngày khai trường đầu tiên ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Bác đã tưởng tượng thấy trước mắt cái cảnh nhộn nhịp tưng bừng của ngày tựu trường ở khắp các nơi… từ giờ phút này trở đi các cháu bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.”

Viễn ảnh về một ngày tựu trường “nhộn nhịp tưng bừng … ở khắp các nơi” và một “nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” dễ khiến cho lòng người phấn chấn:

“Chúng tôi thường tự hào đây là một nền giáo dục riêng của người Việt, một nền giáo dục không có dây dưa gì nhiều với nền giáo dục mà thế kỷ trước, người Pháp đã mang lại.” (Vương Trí Nhàn. “Mấy Cảm Nhận Về Sự Khác Biệt Giữa Giáo Dục Miền Nam Và Giáo Dục Miền Bắc.”  Tạp Chí Nghiên Cứu Và Phát Triển số 7-8 năm 2014).

Niềm tự hào này, tiếc thay, không kéo dài lâu. Khi có cơ hội so chiếu, nhà phê bình văn học và văn hóa Vương Trí Nhàn đã nhìn ra sự bất toàn:

 “Cái mà ta gọi là giáo dục miền Bắc chỉ là sự kéo dài của lối phát triển giáo dục trong chiến tranh… Giáo dục chiến tranh, do dó, luôn luôn là một nền giáo dục dở dang chắp vá, mà lại vẫn phải khoác cho mình cái chức danh lớn lao của một nền giáo dục mới mẻ, cách mạng…

Nói quá lên thì có thể bảo, như một cơ thể, GDMB thuộc loại tiên thiên bất túc, tức sinh ra đã không đủ các bộ phận cần thiết, sinh ra đã bất thành nhân dạng. Phương châm ở đây là làm lấy được, tức là chưa đủ điều kiện, nhưng thấy cần, vẫn cứ làm —  rồi để yên lòng nhau, sẽ viện ra đủ lý lẽ để chống chế, để lấp liếm và xa hơn nữa, sẵn sàng tự ca tụng…”

Hệ quả, tất nhiên, là thảm họa – vẫn theo như nhận định của tác giả bài viết thượng dẫn:

“Mươi năm gần đây, tình hình có chút đổi khác, nhưng là chỉ đổi khác trên bề mặt. Cựa quậy mấy thì nền giáo dục này cũng không khác được so với chính mình. Nó đã cạn kiệt năng lực tự cải hóa. Ngay cả những người trong bộ máy quyền lực cũng đều tính chuyện cho con em mình qua nhiểu nước phương Tây, nhất là sang Mỹ để học.

Nhưng họ chỉ lo được cho gia đình riêng của họ thôi. Ở trong nước, những bài bản của miền Bắc cũ được tân trang lại chút ít vẫn ngự trị trong toàn bộ nền giáo dục, và trong thâm tâm, nhiều người đã bắt đầu nghĩ rằng hình như có một bãi lầy đã được tạo ra và chúng ta không bao giờ ra thoát.”

Đối với những thế hệ đến sau (những kẻ sinh trưởng ngay giữa “bãi lầy”) thì vấn đề không còn gì để mà bàn cãi nữa. Vũ Thạch Tường Minh, một học sinh lớp 8, đã khẳng định như vậy: “Bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là, con không có tính từ nào khác nên con phải dùng tính từ này, là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả gì cả.”

Khoảng cách giữa nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn và cháu Vũ Thạch Tường Minh là ba thế hệ người. Tuy vậy, cả hai đều “nhất trí” là nền giáo dục hiện nay của nước CHXHCNVN (đã) hết thuốc chữa rồi!

Để minh chứng, xin xem qua một “trường hợp thú vị” – nơi một vùng quê, thuộc tỉnh Rạch Giá –  theo như nguyên văn lời của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:

“Một em gốc Khmer học giỏi, thi đậu vào 3 trường đại học (2 đại học ở Sài Gòn và 1 ở ĐH Cần Thơ), nhưng cuối cùng thì giấc mơ đại học cũng đành phải bỏ. Ba má em ấy lí giải rằng: học để làm gì, nhìn quanh số sinh viên tốt nghiệp đại học thất nghiệp tùm lum cả, mà ngay cả xin được việc thì cũng cần đến 500 triệu đồng đút lót thì làm sao nhà có khả năng lo nổi.

Tôi kinh ngạc về con số 500 triệu đồng (tức là 25000 đôla), nên phải hỏi lại cho chắc ăn, thì bà con đều khẳng định đó là con số tiêu biểu, có trường hợp thấp hơn nhưng cũng có trường hợp cao hơn. Tình trạng mua chức đâu phải chỉ ở ngoài Bắc, mà đang lan về nông thôn miền Tây rồi đấy.”

Mọi tệ trạng vừa nêu đang được Đảng và Nhà Nước “đối phó” hay “giải quyết” bằng … chỉ thị số 42-CT/TW (“Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Ðảng Đối Với Công Tác Giáo Dục Lý Tưởng Cách Mạng, Đạo Đức, Lối Sống Văn Hóa Cho Thế Hệ Trẻ Giai Đoạn 2015 – 2030”) như sau:

“Công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ phải được tiếp tục tăng cường và nâng cao về chất lượng, nhằm góp phần xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức trong sáng, ý thức tuân thủ pháp luật; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức, kỹ năng lao động, trở thành những công dân tốt, tích cực tham gia vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”

Sự thực thì thiên hạ không còn ai kỳ vọng hoặc quan tâm gì ráo vào bất cứ lời “kêu gọi” (nghe cứ như hô khẩu hiệu) nào của Đảng tự lâu rồi. Người dân tìm cách tự cứu qua nhiều nỗ lực rất đáng trân trọng, dù gặp không ít khó khăn, ngăn trở và sách nhiễu.

Từ Bangkok, biên tập viên Gia Minh có bài tường thuật (“Nhóm Cánh Buồm Ra Mắt Sách Giáo Khoa Mới”) khá bất ngờ và thú vị. Xin trích dẫn một vài đoạn ngắn:

Nhóm soạn sách giáo khoa Cánh Buồm do nhà giáo Phạm Toàn chủ xướng vào ngày 12 tháng 8 vừa qua giới thiệu bộ sách Văn và Tiếng Việt lớp sáu tại Trung tâm Văn Hóa Pháp ở Hà Nội. Việc ra mắt sách mới của Nhóm Cánh Buồm không thuộc Bộ Giáo Dục như thế được cho là một dấu chỉ tích cực trong tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay.…

Một nhà giáo công khai đấu tranh chống những tiêu cực trong ngành giáo dục Việt Nam lâu nay, thầy Đỗ Việt Khoa cũng tỏ rõ sự ủng hộ đối với sách giáo khoa do Nhóm Cánh Buồn soạn thảo:

 “Đây là nhóm khá tâm huyết đang soạn bộ sách giáo khoa cho liên cấp từ tiểu học trở lên. Theo quan điểm của tôi làm được một bộ sách giáo khoa như vậy là công sức cực kỳ lớn, rất tốt. Sẽ có những chỗ chưa được, có người sẽ đánh giá khiếm khuyết… nhưng sửa dần không sao cả…”

Cùng vào thời điểm này, một công dân Việt Nam khác (ông Hoàng Thành, 25 tuổi) đã đến trước cổng trụ sở Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, cầm ảnh của chính mình – với poster in hình con chuột bạch đang bị tiêm thuốc – cùng dòng chữ: “Học sinh, sinh viên không phải là CHUỘT BẠCH.”

Khi được hỏi về “ý nghĩa” của việc làm này, ông cho biết:

“Bức ảnh của tôi đơn thuần là một hình thức thực hiện quyền biểu đạt ý kiến của mình. Tôi chỉ muốn nhắn tới các bậc cha mẹ và các em học sinh … rằng: Hãy thể hiện quan điểm của mình trước các vấn đề xã hội, thay vì chỉ biết kêu than, vì đó không những là quyền của chúng ta, mà còn là cách chúng ta giúp chính quyền hiểu được nhu cầu của dân chúng và hoàn thiện chính sách sao cho hợp lý nhất…”

Ở bình diện cá nhân, cũng như tập thể – rõ ràng – đang có những nỗ lực đáng kể của rất nhiều người để vượt ra khỏi cái “vũng lầy giáo dục” hiện nay. Với ý thức và quyết tâm, chắc chắn, chúng ta sẽ “thoát” bất chấp sự ngăn trở (cùng sức ì) của chế độ hiện hành – một chế độ mà mọi người đều biết là sinh mệnh của nó đang được đo đếm từng ngày.


 

Độc đảng – lưỡng đảng

Báo Tiếng Dân

Nguyễn Văn Nghệ

4-9-2023

Vừa qua, tôi có xem trên Facebook báo Tiếng Dân bài viết “Ước mơ tếu ngày Quốc khánh” của tác giả Mạc Văn Trang. Tác giả kể chuyện xem trận chung kết Cup bóng chuyền nữ quốc tế năm 2023 qua màn ảnh VTV giữa hai đội VN1 và VN2. Trận đấu diễn ra quyết liệt: “Nhân dân được xem hai đội thể hiện tài năng, ý chí, đạo đức thi đấu nên vô cùng hào hứng, sướng con mắt, đã cái bụng, đáng bỏ thì giờ, tiền bạc ra để thưởng thức tài nghệ của các cầu thủ, con em yêu quý của mình”.

Sau khi xem xong trận đấu chung kết giữa hai đội VN1 và VN2, tác giả bài viết: “Bỗng nhiên cảm hứng thăng hoa, nghĩ: Giá như Việt Nam cũng có hai đảng: Đảng Cộng sản 1 và Đảng Cộng sản 2, cùng lấy Chủ nghĩa Mác, Lê nin – Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng… cũng chẳng sao, miễn là có hai đội thi đấu với nhau như hai đội bóng chuyền nữ VN1 và VN2 đấu công khai, sòng phẳng, có trọng tài độc lập, khách quan, lại có công nghệ VAR để kiểm tra lại những pha bên kia khiếu nại. Khách quan, công khai, minh bạch, công bằng như thế thì Dân chen nhau mua vé để xem và bầu chọn những người xứng đáng vào mỗi vị trí, tuyệt biết chừng nào”.

Ước mơ của Mạc Văn Trang khó mà thực hiện, bởi vì những nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: Kiên định đi theo con đường Bác đi! Mao Trạch Đông nói: “Đảng ngoại vô đảng, đế vương tư tưởng” (Ngoài đảng không có đảng nào khác, đó là ý nghĩ của các bậc đế vương). Do đó trên các thông tin lề phải khi đề cập đến đa đảng đều chốt lại một câu: “Đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam không cần đa đảng và không chấp nhận đa đảng”.

Hiện nay, đa số người dân Việt Nam khi được hỏi trước đám đông (xin nhấn mạnh là “trước đám đông”): Ông (bà) thích độc đảng hay là đa đảng? Không cần phải suy nghĩ và sẽ có câu trả lời: Độc đảng tốt hơn!

Vào thập niên chót của thế kỷ trước, khi còn là sinh viên, tôi vào phòng ký túc xá nữ để thăm một người bạn. Tôi hỏi các bạn nữ trong phòng: Các bạn thích độc đảng hay đa đảng? Các bạn sinh viên sinh sống bên kia vĩ tuyến 17 trả lời phát một: Độc đảng!

Sau khi nghe xong, tôi mới đưa ra một ví dụ: Nếu cho bạn chọn lựa một trong hai, một bộ quần áo đẹp nhất trần gian và hai bộ quần áo xấu hơn một ít, vậy bạn chọn món nào? Sau một hồi đắn đo suy nghĩ và phân tích, các bạn nữ mới nói: bộ quần áo đẹp nhất trần gian, mặc vào rồi đến lúc phải dơ và cần phải giặt giũ và chẳng lẽ trong lúc giặt giũ phơi phóng mình phải khỏa thân sao? Hai bộ quần áo tuy có xấu hơn nhưng cũng có cái để thay ra thay vô!

Tất cả các cán bộ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đều có trình độ lý luận chính trị vững vàng, đều trải qua nhiều năm “Học tập và làm theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh” nhưng xem đi ngó lại thì những bộ mặt tham nhũng trong thời gian qua toàn là đảng viên. Số lượng đảng viên tham nhũng ngày càng “đông như quân Nguyên” và họ đã “ăn không từ một thứ gì” (Lời phát biểu của bà Cựu Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan).

Với mong muốn làm trong sạch bộ máy của đảng, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã mở “Chiến dịch đốt lò” chống tham nhũng. Những việc thanh trừng chống tham nhũng hiện nay chẳng qua là giữa phe này phái nọ “ghen ăn tức ở” với nhau mà thôi (Trong nội bộ đảng vẫn có phe phái. Mao Trạch Đông đã nói: “Đảng nội vô phái, thiên kỳ bách quái” [Trong nội bộ đảng mà không có phe phái là chuyện kỳ quặc, lạ đời]).

Năm Bính Thân (1296) thời vua Trần Anh Tông: “Nhân Huệ vương Khánh Dư từ Bài Áng vào chầu. Người trong trấn kiện Khánh Dư tham lam thô bỉ. Hành khiển đem sự trạng tâu lên. Khánh Dư nhân đó tâu vua: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng có gì là lạ?”. Vua không hài lòng, Khánh Dư bèn trở về. Khánh Dư vào chầu không quá 4 ngày đã trở về, vì sợ ở  lâu bị vua khiển trách” [*].

Từ xa xưa đã có chuyện nương tay hoặc bao che cho nhau của giới cầm quyền. Giới cầm quyền có ai lại đi bẻ hết móng vuốt chim ưng mình đâu!

Thời Nguyễn Tấn Dũng còn giữ chức Thủ tướng, có phát biểu: “Tôi nhớ đồng chí Phạm Văn Đồng – có lẽ làm thủ tướng lâu nhất – có lần nói chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào. Hơn ba năm nay tôi làm thủ tướng cũng chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào” Hoặc nhiều vị lãnh đạo vin vào cái câu: Diệt hết tham nhũng lấy ai làm cán bộ? [**] Do đó móng vuốt chim ưng ngày càng dài ra và sắc bén.

Y phục có thuộc loại xịn nhất thế giới, mặc một thời gian sẽ bị dơ bẩn và khi ấy sẽ phải thay bộ y phục ấy chẳng lẽ bận bộ ấy hoài, như thế ai chịu nỗi. Sau khi thay thì phải cần có bộ y phục khác để mặc vào.

Câu nói “Đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam không cần đa đảng và không chấp nhận đa đảng” luôn xuất hiện trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng của Nhà nước Việt Nam nhưng vẫn chưa được thực hiện bằng cuộc trưng cầu dân ý nào cả!

Nguyễn Văn Nghệ, Diên Khánh – Khánh Hòa

________

Chú thích:

[*] Đại Việt sử ký toàn thư tập II, Nxb Văn hóa- Thông tin, Hà Nội, 2000, t. 110

[**] https://tuoitre.vn/thu-tuong-nguyen-tan-dung-hon-3-nam-nay-toi-chua-ky-luat-ai-348716.htm


 

Nam Hàn bắt giữ 2 nữ tiếp viên hàng không Việt Nam vì vận chuyển tinh dầu cần sa

Báo Nguoi-viet

September 6, 2023

INCHEON, Nam Hàn (NV) – Đài MBC của Nam Hàn hôm 6 Tháng Chín cho hay hai tiếp viên hàng không Việt Nam bị bắt vì buôn lậu ma túy giấu trong túi hành lý.

Danh tính hai nghi can và tên của hãng hàng không Việt Nam không được tiết lộ.

Bản tin của MBC cho biết Sở Cảnh Sát thành phố Incheon, phía Tây Seoul, đã bắt giữ hai trong số bốn tiếp viên quốc tịch Việt Nam.

Hai nghi can được mô tả ở độ tuổi 20 và bị tình nghi mang tinh dầu cần sa trị giá 300 triệu won ($225,161) đến Nam Hàn hồi Tháng Tư bằng cách giấu chúng trong các hộp đựng mỹ phẩm.

Không rõ vì sao sự việc xảy ra từ hồi Tháng Tư mà nay truyền thông Nam Hàn mới công bố.

Theo kết quả điều tra của cảnh sát, các nghi can thừa nhận họ nhận vận chuyển hàng hóa từ Việt Nam sang Nam Hàn để lấy 68,000 won ($51) cho mỗi đơn hàng.

Ngoài ra, hai nghi can khai với cảnh sát Nam Hàn: “Chuyện nhận vận chuyển hàng xách tay qua đường hàng không đã là thói quen” và họ “chỉ nhận vận chuyển hàng mà không biết đó là ma túy.”

Cũng theo Đài MBC, cảnh sát Nam Hàn đang tiếp tục truy lùng hai tiếp viên còn lại liên quan vụ việc, đồng thời mở rộng điều tra xem có thêm nghi can nào tham gia đường dây này hay không.

Theo tìm hiểu của nhật báo Người Việt, ngoài các hãng hàng không Nam Hàn, hiện có ba hãng Vietnam Airlines, Vietjet Air và Bamboo Airways đều có tuyến bay đến phi trường Incheon.

Vụ việc nêu trên khiến công luận nhớ lại vụ bốn nữ tiếp viên hãng hàng không Vietnam Airlines bị bắt quả tang mang 11.4 kg thuốc lắc và ma túy tổng hợp trong hành lý sau chuyến bay từ Pháp về Sài Gòn hồi giữa Tháng Ba.

Bốn tiếp viên sau đó được thả do “không biết bên trong kem đánh răng nhận vận chuyển có 157 tuýp đã được giấu ma túy.” Do đó, “không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự” đối với bốn cô này.

Theo kết luận của Công An ở Sài Gòn, từ manh mối của vụ bốn nữ tiếp viên hãng hàng không Vietnam Airlines, nhà chức trách lần ra đường dây lợi dụng người Việt Nam học tập, định cư tại Pháp để vận chuyển ma túy về Việt Nam qua hai phi trường Nội Bài và Tân Sơn Nhất.

Tính đến Tháng Năm, có tổng cộng 78 người bị khởi tố liên quan đường dây của bốn nữ tiếp viên nêu trên. (N.H.K)


 

Giải pháp cho rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh và hồ chứa nước Ka Pét

 Giải pháp cho rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh và hồ chứa nước Ka Pét

 11:37 | Posted by BVN4

Nguyễn Ngọc Chu

Xem bản đồ của Google, rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh có màu xanh đậm nhất trên toàn bộ giải đất phía Nam Tây Nguyên và Bình Thuận, kéo dài từ Gia Nghĩa, qua Bảo Lộc đến Phan Thiết. Mở rộng lên toàn bộ đất nước thì Mỹ Thạnh là một trong số rất ít các vùng có màu xanh đậm nhất. Nhìn bản đồ rừng Việt Nam từ năm 1945 qua các thời kỳ mà trong lòng như có muối xát. Chúng ta không chỉ làm ngắn tuổi thọ chính mình, mà đang cắt từng phần tuổi thọ của các đời con cháu.

I. Vài nét về dự án hồ chứa nước Ka Pét 

Nghĩ rằng, trước khi quyết định triệt phá 680,41 ha rừng tự nhiên, lãnh đạo tỉnh Bình Thuận, lãnh đạo Bộ NN&PTNT nhiệm kỳ 2010-2015 đã phải “nhắc lên, đặt xuống” nhiều lần. Và dự đoán rằng, trước khi bấm nút thông quyết định biến 680,41 ha rừng nguyên sinh thành lòng hồ Ka Pét, 500 vị ĐBQH khoá XIII cũng đã “rất trăn trở”.

Theo FB của Tuyên giáo Bình Thuận thì “DỰ ÁN HỒ CHỨA NƯỚC KA PÉT CÓ VAI TRÒ LỚN TRONG ỔN ĐỊNH KINH TẾ- XÃ HỘI, AN NINH ĐỊA PHƯƠNG”. Tóm tắt các điểm chính như dưới đây.

“Hồ thủy lợi Ka Pét được xây dựng ở Huyện Hàm Thuận Nam, có sức chứa 51,2 triệu m3 nước (nếu hoàn thành sẽ xếp thứ 4/50 hồ thủy lợi ở Bình Thuận). Tổng mức kinh phí đầu tư là 874 tỷ đồng.

Mục tiêu của dự án:

(1) Cấp nước tưới cho khoảng 7.762 ha đất sản xuất nông nghiệp của huyện Hàm Thuận Nam;

(2) Cấp nước thô cho khu công nghiệp Hàm Kiệm II: 2,63 triệu m3/năm; tạo nguồn nước thô để cấp cho sinh hoạt của khoảng 120.000 người dân khu vực huyện Hàm Thuận Nam và thành phố Phan Thiết;

(3) Phòng, chống lũ và cải tạo môi trường, điều tiết nước cho vùng hạ du khu vực huyện Hàm Thuận Nam và tỉnh Bình Thuận; tăng dòng chảy trong mùa khô, góp phần cải thiện môi trường sinh thái vùng hạ du nhất là đoạn qua thành phố Phan Thiết, góp phần phát triển du lịch, dịch vụ của Tỉnh.

Tổng diện tích sử dụng đất của dự án xây dựng hồ thủy lợi Ka Pét là 693,31 ha, trong đó diện tích có rừng là hơn 680 ha (680,41 ha).

Chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đặc dụng là 162,55 ha; rừng phòng hộ là 0,91 ha; rừng sản xuất là 471,09 ha, rừng nằm ngoài quy hoạch 3 loại rừng là 45,85 ha và diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 12,9 ha.

Để thay thế cho 680,41 ha diện tích rừng tự nhiên bị ngập tại hồ thủy lợi Ka Pét, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành chức năng tổ chức khảo sát trồng mới với diện tích 1.844 ha (gấp 3 lần diện tích rừng dùng để xây dựng Hồ chứa nước Ka Pét)”.

II .Bẫy “đổi 1 lấy 3” về diện tích trồng rừng 

Chính cơ chế “đổi 1 lấy 3” về diện tích trồng rừng là một trong những nhân tố “an ủi”, làm cho các vị ĐBQH Khoá XIII (2014) bấm nút thông qua dự án hồ Ka Pét. Xoá đi 680,41 ha rừng nguyên sinh, nhưng lại được “lời” đến 1844 ha rừng trồng mới. Cái tỷ lệ được gấp 3 lần diện tích rừng trồng mới, không chỉ “an ui”, mà thực ra đã đánh lừa nhiều người. Vì cây trồng mới đấy không phải là rừng tự nhiên. Rừng tự nhiên có được là từ nhiều chục ngàn năm. Tuổi của rừng tự nhiên không phải tính bằng tuổi vài trăm năm của cây lâu năm nhất còn tìm thấy trong rừng. Vì cũng như con người, cây rừng được thay thế từ đời này qua đời khác.

Giá trị của rừng nguyên sinh, khác với cây mới trồng – không phải là chủ đề để bàn luận ở đây. Nhưng cũng phải thêm một lần cảnh báo, để các vị ĐBQH thận trọng cho các quyết định về phá rừng nguyên sinh trong tương lai. Cây trồng mới, dù diện tích tăng gấp 10 lần, dù vài trăm năm sau nữa, cũng không phải là rừng nguyên sinh. Cho nên 18,44 km2 cây trồng mới trong kế hoạch – không thể nào so sánh được với 6,8 km2 rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh nhiều ngàn năm tuổi.

Chính cãi bẫy “đổi 1 lấy 3” đã trở thành “lá bùa” che mờ mọi mục đích phía sau của việc phá bỏ rừng nguyên sinh trong các dự án. Cứ tiếp tục cái bẫy “đổi 1 lấy 3” thì hàng ngàn ha rừng nguyên sinh sẽ tiếp tục bị huỷ diệt.

III. Đề xuất

Theo thông tin của người dân địa phương, ở ven biển TP Phan Thiết, đào sâu xuống 10 m mà vẫn bị nước mặn; còn ở phần cao phía Tây của Hàm Thuận Nam, khoan xuống 40 m may ra mới hy vọng có nước.

Bài toán “Cấp nước sinh hoạt cho 120000 người dân Hàm Thuận Nam và TP Phan Thiết, cấp nước tưới cho 7.762 ha đất sản xuất nông nghiệp của huyện Hàm Thuận Nam và 2,63 triệu m3/năm cho khu công nghiệp Hàm Kiệm II, không thể không giải quyết. Còn các mục tiêu khác của hồ Ka Pét có thể bỏ qua.

Nhưng không thể vì các mục tiêu này mà phá đi 680,41 ha rừng tự nhiên hàng ngàn năm mới có được. Phải tìm một lối thoát khác để vừa giữ lại được rừng tự nhiên cho muôn đời con cháu, vừa cấp được nước cho 120000 đồng bào Nam Bình Thuận cũng như nước tưới cho 7.762 ha đất nông nghiệp và khu công nghiệp Hàm Kiệm II.

Bởi vậy, xin đề xuất lối thoát theo các hướng sau.

1/ Bài toán đáp ứng nhu cầu nước

Xây dựng các chuỗi hồ nhân tạo nhỏ hơn ở các vị trí khác, không động đến rừng nguyên sinh, để giải bài toán về nước cho Hàm Thuận Nam. Để làm điều này cần thành lập một nhóm các nhà khoa học, giao nhiệm vụ đi khảo sát nghiên cứu thực địa và đề xuất giải pháp. Đây là bài toán thuộc trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT.

2/ Bài toán dân sinh

Nông nghiệp, đặc biệt là lúa, không đưa đến nguồn lợi lớn. Bởi vậy,

a/ Tạo công ăn việc làm mới trong lĩnh vực công nghiệp, du lịch và dịch vụ (có thu nhập cao hơn nông nghiệp) cho một bộ phận hoặc toàn bộ dân đang sống nhờ 7762 ha đất nông nghiệp. Giảm tỷ lệ dân nông nghiệp ở Hàm Thuận Nam xuống.

b/ Chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Giảm hoặc bỏ hẳn canh tác các cây trồng đòi hỏi nhiều nước mà không đưa lại lợi ích cao. Phải đặt mục tiêu kinh doanh hiệu quả nhất trên diện tích đất sở hữu, chứ không bắt buộc phải là trồng lúa, hay trồng cây nông nghiệp.

Đây là bài toán thuộc trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT và Bí thư Tỉnh uỷ tình Bình Thuận.

  1. Bài toán thoả hiệp tối thiểu

Vạn bất đắc dĩ, trong trường hợp không tìm ra lối thoát theo phương án 1 và 2 phía trên, thì xem tính khả dĩ của bài toán thoả hiệp tối thiểu. Tức là chỉ sử dụng một phần diện tích khu rừng (1/3 hoặc ít hơn), kết hợp với đào sâu lòng đất phần không có rừng, tạo nên 1 hồ chứa nước (khoảng 15 – 25 triệu m3 nước) đáp ứng cho nhu cầu tối thiểu. Với phương tiện hiện nay, đào hồ chứa nước nhân tạo 10 – 15 triệu m3 nước không phải là vấn đề khó. Hãy nghĩ đến đê ngăn nước biển của Hà Lan; hay dòng sông nhân tạo dài nhất thế giới 1600 km chảy qua sa mạc ở Libya chuyên chở 2,5 triệu m3 nước mỗi ngày; hay dự án Kaleshwaram trên sông Godavari, tưới cho 180000 ha, 19 hồ nước, 19 nhà máy bơm gồm 43 máy bơm, mỗi máy bơm công suất 40 MW, bơm qua 203 km đường ống và 1531 km kênh mương. Lúc đó sẽ nghĩ ra giải pháp cấp nước mà không cần phải phá rừng nguyên sinh.

Để có kết luận về hướng này cũng cần có nghiên cứu và đề xuất giải pháp của các nhà khoa học. Quyết định phương án này cũng là trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT.

  1. Phương án khác

Dựa trên khảo sát thực tế, các nhà khoa học có thể đưa ra các phương án khác. Điều quan trọng nhất là quy tụ được trí tuệ của các nhà khoa học tốt nhất, và cả trí tuệ trong nhân dân, tham gia giải quyết vấn đề, chứ không chỉ riêng các nhà quản lý ở Bộ NN&PTNT, ở tỉnh Bình Thuận, ở QH “đóng cửa bấm nút”.

Tin tưởng một cách sắt đá rằng, nếu Bộ trưởng Bộ NN&PTNT biết huy động trí tuệ của các nhà khoa học và trí tuệ trong quần chúng, thì chắc chắn có giải pháp tốt cho vấn đề cấp nước ở Hàm Thuận Nam mà không phải phá bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh.

IV. Trách nhiệm của lãnh đạo hiện thời

Các quyết định của Quốc hội, Bộ NN&PTNT, Tỉnh uỷ Bình Thuận vào năm 2014, không có nghĩa là tự động phải tuân theo lúc này. Hoàn cảnh khác, tiềm lực khác, phương tiện khác. Lãnh đạo hiện thời mới là người quyết định có triệt phá 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh để xây dựng hồ chứa nước Ka Pét hay không.

Bởi thế, trách nhiệm số 1 trong quyết định phá bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh vào thời điểm hiện tại phụ thuộc vào quyết định của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan. Từ đề xuất của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT mới đến trách nhiệm của Chính phủ và Quốc hội quyết định.

Cùng với Bộ trưởng Bộ NN&PTNT là trách nhiệm của Bí thư Bình Thuận đương thời. Quyết định của Bí thư Bình Thuận tiền nhiệm không phải lúc nào cũng đúng, cũng vô tư. Đã có rất nhiều lãnh đạo tiền nhiệm bị kỷ luật. Quan trọng nữa là thời thế khác. Vì quyền lợi của người dân Bình Thuận, Bí thư Bình Thuận hiện nay phải có trách nhiệm đưa ra quyết định về đồng ý hay phản đối việc phá bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh cùng các đề xuất.

Và không thể không nhắc đến trách nhiệm của các vị ĐBQH Khoá XV hiện nay. Nếu 680.41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh bị phá bỏ vào nhiệm kỳ QH Khoá XV, thì đó là trách nhiệm của QH khoá XV, chứ không thể né tránh là do QH khoá XIII đã thông qua mà thờ ơ. Bởi vì QH Khoá XV có toàn quyền thay đổi quyết định của QH khoá XIII về rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh và hồ Ka Pét.

Có người nói rằng, người dân Nam Bình Thuận thì đang cần nước, còn dân mạng xã hội thì đòi bảo vệ rừng. Đời người thường không quá 100 năm. Nếu không có nước thì không thể sống hết đời người, còn đâu mà bảo vệ rừng cho ngàn năm sau.

Để thấy được cả dân Nam Bình Thuận, cả mạng xã hội nói hộ cho người dân toàn quốc, cần một câu trả lời rõ ràng từ lãnh đạo các cấp có thẩm quyền hiện nay, cụ thể là Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan, Bí thư Bình Thuận Dương Văn An, và 500 vị ĐBQH khoá XV. Khi vấn đề được xem xét lại kỹ lưỡng trên cơ sở các phương án đề xuất của các nhà khoa học, thì quyết định giữ hay bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh sẽ giải toả mọi băn khoăn của người dân.

Trước hết và đầu tiên, trước mọi quyết định hay trả lời, là Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cần thành lập một tập thể các nhà khoa học có năng lực, với nhiệm vụ đi khảo sát và đề xuất các phương án giải quyết. Trong đoàn các nhà khoa học, cần bao gồm cả người ngoài Bộ NN&PTNT, cả những người không còn trong biên chế, cả những người dám nói khác ý lãnh đạo, và không bao gồm những người đã đồng ý với quyết định phá bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh vào năm 2014.

Chúng ta đang dần bán hết tài nguyên thừa kế của cha ông từ ngàn xưa mà không hề nghĩ đến để lại một phần cho đời sau. Chang ta đang tàn phá rừng nguyên sinh, dành bão lũ, sụt lở, nóng bức, thiếu ô xy cho con cháu. Tài nguyên thừa kế của tổ tiên ngàn đời không chỉ dành cho một thế hệ, mọi quyết định đều nặng ngàn cân, chứ không phải thích thì tuỳ tiện giơ tay bấm nút. Phát triển là để trường tồn, không phải phát triển để bức tử hậu thế.

 


 

Cao Tuấn: Về một người Việt Nam đi tìm các ẩn số chính trị trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung

Diễn Đàn Thế Kỷ

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy (1924-1990). Wikipedia

Người Việt Nam nói ở đây là ông Nguyễn Ngọc Huy, tác giả quyển sách “Các Ẩn Số Chánh Trị Trong Tiểu Thuyết Võ Hiệp Kim Dung” xuất hiện ở Hải Ngoại vào khoảng 1985, 1986 nhưng tác phẩm này không được biết đến nhiều như các tác phẩm “chính thống” khác của tác giả Nguyễn Ngọc Huy. Tuy vậy, theo thiển ý, đó là một tác phẩm đứng đắn, độc đáo, đáng đọc và đáng suy nghĩ. Nếu ông Huy chứng minh nhà văn Kim Dung, người Trung Hoa, có những hậu ý chính trị khi viết các bộ tiểu thuyết võ hiệp nổi tiếng thì có thể chính ông Huy, một nhà chính trị Việt Nam cũng có những thông điệp chính trị riêng khi bỏ thì giờ viết sách về Kim Dung. Nhưng trước hết ông Nguyễn Ngọc Huy là người thế nào?

VĂN LÀ NGƯỜI

Ông Nguyễn Ngọc Huy (1924-1990) được biết đến đầu tiên là một người làm thơ. Ông làm thơ rất sớm, hầu hết các bài thơ đều được viết vào tuổi sấp sỉ 20. Thơ của ông, với bút hiệu Đằng Phương, nhất quán có một nội dung đặc biệt:

Tôi chẳng phải là một nhà thi sĩ

Lấy văn thơ làm Lẽ Sống trên đời

Đem ngọc châu trau chuốt mãi lên lời

Để trang điểm nàng Ly Tao diễm lệ

Tôi chỉ là một người dân đất Việt

Cảm nỗi buồn của kẻ mất quê hương

Nỗi nhục nhằn nỗi khổ cực đau thương

Của nòi giống kẹt trong cùm lệ thuộc

Tôi đánh bạo lấy vần thơ bỡ ngỡ

Để diễn trình quan niệm đấu tranh chung

Để phô bầy những nguyện ước chờ mong

Những triển vọng về tương lai giống Việt

Tôi mượn thơ để gây lòng phấn khởi

Cho chính mình trong những lúc gian lao

Trong những khi thất bại, những khi nào

Chân yếu đuối muốn rời đường chiến đấu

(Thay Lời Tựa tập thơ HỒN VIỆT xuất bản lần đầu vào năm 1950)

Thơ Đằng Phương nên được xếp vào loại “Anh Hùng Ca” – nói về dân tộc, lịch sử, lòng yêu nước, yêu quê hương, ngợi ca những người tranh đấu vì nước quên thân:

Hỡi những ai kia đã luỵ mình

Đã vì non nước chịu hy sinh

Đã vì chủng tộc khai đường sống:

Đây nén hương lòng kẻ hậu sinh!

(Nén Hương Lòng)

Diễn tả cảnh hy sinh bi tráng của họ như trường hợp Nguyễn Thái Học và 12 liệt sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng tuẫn tiết trên đoạn đầu đài:

Sau cái nhìn chào non nước bi ai

Họ thản nhiên, lần lượt bước lên đài

Và dõng dạc buông tiếng hô hùng dũng:

Việt Nam Muôn Năm! Một đầu rơi rụng

Việt Nam Muôn Năm! Người kế tiến lên

Và Tử Thần kính cẩn đứng ghi tên

Những liệt sĩ vào bia người tuẫn quốc.

(Ngày tang Yên Báy)

Ý nghĩ của nhà thơ trong sáng, giản dị:

…..

Trên đường lối đấu tranh cho lẽ sống, 

Bóng anh hùng nòi giống nếu không quên

Thì giang sơn vạn cổ vẫn lâu bền

Và Lịch Sử vẫn luôn bừng nhuệ khí

(Anh Hùng Đất Việt)

Nếu bài hát “Tình Ca” của Phạm Duy “tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi!…Mẹ hiền ru những câu xa vời… Ạ ạ  ơi…tiếng ru muôn đời…tiếng nước tôi….Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui…Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!…” đã khiến người Việt Nam suốt mấy thế hệ không nguôi thương nhớ quê hương thì bài thơ “Anh Hùng Vô Danh” của Đằng Phương cũng có ảnh hưởng không kém kể từ thập niên 1950 cho đến ngày nay. Lời tâm can vang vọng rất tự nhiên:

Họ là kẻ khi quê hương chuyển động

Dưới gót giầy của những kẻ xâm lăng

Đã xông vào khói lửa quyết liều thân

Để bảo vệ Tự Do cho Tổ Quốc

Trong chiến đấu không nài muôn khó nhọc

Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan, 

Người thất cơ đành thịt nát, xương tan

Nhưng kẻ sống lòng son không biến chuyển.

Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm

Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa

Họ buông gươm trở lại chốn quê nhà

Để sống lại cuộc đời trong bóng tối

Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi

Trong loạn ly như giữa lúc thanh bình

Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh

Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách

Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên

Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên

Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật

Nhưng máu họ đã len vào mạch đất

Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông

Và anh hồn chung với tấm tinh trung

Đã hoà hợp làm linh hồn giống Việt.

Sau tuổi hoa niên ông Nguyễn Ngọc Huy không còn làm thơ nữa hoặc làm rất ít, nhưng cuộc đời còn lại cho đến khi chết ông sống đúng như thơ, từ suy nghĩ đến hành động, luôn hướng về mục đích phụng sự Tổ Quốc.

Có lẽ không cần nhắc quá nhiều đến sự kiện ông Huy là người trí thức đậu cử nhân luật khoa và tiến sĩ chính trị học ở Paris trong trong thời gian sống lưu vong ở Pháp và trở về miền Nam Việt Nam làm giáo sư dạy về Luật Hiến Pháp, Học Thuyết Chính Trị, Bang Giao Quốc Tế tại các trường đại học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Cần Thơ trong khoảng thời gian 1964-1975. Trong những năm tháng chiến tranh nhiễu nhương ấy, ông Huy nổi tiếng là một nhà giáo dậy giỏi, một lý thuyết gia uyên bác và một lãnh tụ chính trị quốc gia tận tuỵ nhưng cẩn thận, ôn hoà. Trong suốt cuộc đời ông Huy cũng viết nhiều sách báo giá trị bằng cả 4 ngôn ngữ Việt, Pháp, Anh, Hán

Tuy được xem là một lãnh tụ chính trị quan trọng của người quốc gia Việt Nam nhưng ông Nguyễn Ngọc Huy chưa bao giờ ở vị trí quyền lực để thực thi lý tưởng xây dựng một quốc gia dân chủ pháp trị lương hảo, tạo nội lực đủ sức chống lại chủ nghĩa Cộng Sản độc tài toàn trị.

Lần duy nhất ông đến gần guồng máy quyền lực là khi người đồng chí “như hình với bóng” của ông là ông Nguyễn Văn Bông, giáo sư đại học thạc sĩ công pháp, chủ tịch Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến mà ông làm Tổng Thư Ký, chuẩn bị ra làm Thủ Tướng vào năm 1971 theo lời mời bất đắc dĩ của ông Tổng Thống “quân phiệt” Nguyễn Văn Thiệu.

Tuy nhiên đảng Cộng Sản Việt Nam, trông thấy trước được mối nguy hiểm, đã mau chóng ra lệnh cho đặc công ở Sài Gòn ám sát ông Nguyễn Văn Bông như họ đã từng ám sát những địch thủ tài năng, đức độ và quan trọng khác của người Việt Quốc Gia là các ông Trương Tử Anh, Lý Đông A, Khái Hưng, Huỳnh Phú Sổ…trong cuộc phân tranh Quốc-Cộng kéo dài 30 năm (1945-1975).

Người ta có thể không đồng ý về những quan điểm chính trị của ông Nguyễn Ngọc Huy nhưng không ai có thể phủ nhận được trường hợp của ông Huy: “văn tức là người”. Bởi vì không ai có thể giải thích khác hơn được về một người “lúc hết hơi mới biết đến mạng trời và nhắm mắt mới đành thôi hoạt động” và khi chết chỉ sở hữu vài bộ quần áo cũ và một một ít sách.

Và cũng không có ai có dịp tiếp xúc với ông Huy mà không thấy ông là người chừng mực, tự chủ, quyết tâm. Bình dị trong lời nói nhưng phong phú trong ý tưởng. Không bao giờ làm bộ tịch, không bao giờ “đao to, búa lớn”. Một người “dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch”. Một người “thong dong tựu nghĩa”.

Có nhiều người viết về Kim Dung nhưng viết hẳn một quyển sách công phu về riêng một khía cạnh – “ẩn số chính trị trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung” –  thì ông Huy là người duy nhất.

Một câu hỏi đến tự nhiên: Tại sao một người lỗi lạc lại bận rộn như ông Huy lại “mất công” với với loại truyện giải trí bình dân như thế?

Câu trả lời chỉ tìm thấy sau khi đã đọc xong quyển “Những Ẩn Số Chánh Trị…” dầy 290 trang. Và câu trả lời có thể sẽ là như sau:

Mặc dầu truyện võ hiệp nói chung bị xem là loại văn chương bình dân nhưng riêng với Kim Dung ông Huy nhìn thấy hình ảnh của một đại văn hào có một sở học uyên bác và óc tưởng tượng dồi dào – Những bộ truyện trường thiên của Kim Dung đều có thể so sánh được với các bộ sách bất hủ của dân tộc Trung Hoa đã làm say mê cả người bình dân lẫn người trí thức, người Việt Nam lẫn người Trung Hoa, với những ý nghĩa triết lý hoặc các bài học chính trị, đạo đức tiềm ẩn như Tam Quốc Chí, Đông Chu Liệt Quốc, Tây Du Ký… Nếu suy nghĩ khi đọc truyện Kim Đung người ta có thể học được nhiều điều hữu ích.

Ông Huy nghiên cứu, quen thuộc với lịch sử, tư tưởng và  văn hoá Trung Hoa. Luận Án Tiến Sĩ  của ông ở đại học Paris viết bằng tiếng Pháp đã được chính ông dịch sang tiếng Việt có đề tài “Người Ưu Tú Trong Tư Tưởng Chánh Trị Trung Quốc Cổ Thời” (Le thème de l’élite dans la pensée politique de la Chine antique), 1963. Tác phẩm của Kim Dung, vì thế, đã hấp dẫn ông Huy một cách tự nhiên.

Ngoài sự kính nể của người trí thức đối với người trí thức, nhà tư tưởng đối với nhà tư tưởng,  ông Huy viết về truyện Kim Dung vì ông cùng chia sẻ với nhà văn một số giá trị căn bản chung, vì thấy ở Kim Dung một tâm hồn đồng điệu bất kể khoảng cách về không gian, thời gian hay chủng tộc. (Lẽ dĩ nhiên nói như thế không có nghĩa ông Huy đồng ý hoàn toàn với những điều ông tìm thấy về tư tưởng của Kim Dung).

Tác phẩm của Kim Dung phong phú, đồ sộ và có thể nghiên cứu, nhận định dưới nhiều khía cạnh. Ông Huy chỉ giới hạn, như đã nói, vào một khía cạnh mà ông quan tâm hơn cả đó là “các ẩn số chính trị” trong tác phẩm. Ông đi tìm những ẩn số này bằng khả năng phân tích và tổng hợp của một nhà khoa học chính trị, một người quen viết nghị luận cũng như bằng tâm tư của một chính trị gia Việt Nam đang “trong gian truân cố chuyển lại cơ trời”, luôn luôn suy nghĩ về những vấn đề của đất nước mình.

NHỮNG “BÍ MẬT” CỦA KIM DUNG ĐàĐƯỢC “BẬT MÍ” THẾ NÀO?

Để tránh những hệ luỵ rắc rối không cần thiết các tiểu thuyết gia gần như luôn luôn xác định “tác giả không có ý ám chỉ một nhân vật hay một sự việc có thật nào trong đời sống cho nên mọi trùng hợp nếu có chỉ là ngẫu nhiên”. Kim Dung cũng không đi ra ngoài thông lệ ấy khi tuyên bố “Nội dung tiểu thuyết không tránh khỏi sự biểu lộ tư tưởng của tác giả nhưng không phải tác giả cố ý đem nhân vật, sự tích cùng bối cảnh đến một lãnh vực tư tưởng hay một chính sách (có thật) nào đó…Tiểu thuyết võ hiệp không liên quan gì đến tư tưởng chánh trị, ý thức tôn giáo, khoa học trúng hay trật, đạo đức phải hay trái…”

Lập trường “phi chính trị” nhưng “nói để mà nói” của Kim Dung đã không ngăn cản ông Huy đi tim dụng ý chính trị của tác giả rải rác trong các tác phẩm và ông đã tìm ra, đã nhìn thấy một số dữ kiện có ý nghĩa chính trị. Các dữ kiện này vừa đủ số lượng, vừa ăn khớp vào nhau để có thể đưa ra nhũng thông điệp về lập trường của Kim Dung.

Trong phần “Lời Mở Đầu” của quyển “Các Ẩn Số Chánh Trị…” ông Huy nêu một vài chi tiết quan trọng:

Lúc đảng Cộng Sản Trung Hoa tranh đoạt được quyền lãnh đạo Trung Quốc, Kim Dung vẫn còn ở lại lục địa, sau đó mới dời ra sống ở Hongkong và làm biên tập viên cho hai tờ báo thiên tả là Đại Công Báo và Trường Thành Hoạ Báo cho đến năm 1957. Sự kiện này cộng với các ẩn số chính trị tìm thấy trong một số các bộ truyện của Kim Dung khiến ông Huy suy đoán Kim Dung vốn là người trí thức khuynh Tả, có thiện cảm với các đoàn thể theo Xã Hội Chủ Nghĩa và các quốc gia theo chế độ Cộng Sản và không có thiện cảm với các đoàn thể thuộc phái Hữu và các quốc gia Tây Phương.

Qua thời gian, cái nhìn của Kim Dung dần dần thay đổi khi nhận chân người Cộng Sản áp dụng một chính sách chuyên chế toàn diện, tàn ác và phi nhân nên Kim Dung quay ra kết án họ.

Kim Dung cũng điều chỉnh lại cái nhìn đối với các đoàn thể có lập trường chống chọi nhau, cả Tả lẫn Hữu. Theo Kim Dung, không bên nào hoàn toàn phải, toàn người tốt. Không bên nào hoàn toàn quấy, toàn người xấu. Bên nào cũng có người xấu, người tốt  và thường vừa có phẩn phải vừa có phần quấy. Điểu đáng nói là chuyện mức độ –  tốt nhiều hơn hay xấu nhiều hơn, phải nhiều hơn hay quấy nhiều hơn. Chính, Tà không đơn giản là chuyện Trắng, Đen.

Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, từ khi xuất hiện từ đầu thập niên 1960s, trong khi làm mưa làm gió ở Hongkong, Singapore, Nam Việt Nam, các nước Đông Nam Á trong giới Hoa Kiều hải ngoại thì tuyệt đối bị cấm cửa ở Đài Loan và cả Hoa Lục ít nhất trong thời kỳ Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông còn sống.

Cũng cần lưu ý đối chiếu thời kỳ Kim Dung viết truyện Võ Hiệp ở Hong Kong bên cạnh lò lửa “Cách Mạng Văn Hoá” ở Hoa Lục….với bối cảnh chiến tranh lạnh giữa hai phe Cộng Sản và Tư Bản.

Trong phần kết luận của quyển “Các Ẩn Số Chánh Trị…” ông Huy cũng dè dặt nói thêm “không thể loại bỏ giả thuyết là sự trùng hợp giữa các nhân vật và sự kiện trong tác phẩm của Kim Dung với một số nhân vật và sự kiện có thật phát xuất từ nơi tiềm thức của tác giả chứ không phải là một sự cố ý. Nhưng ngay trong trường hợp này, Kim Dung cũng không phải hoàn toàn vô tâm, vì Kim Dung có nhiều ưu tư, nhiều chủ kiến ăn sâu trong tiềm thức thì các tác phẩm viết ra mới biểu lộ các ưu tư và chủ kiến đó cho chúng ta thấy”

Đi vào chi tiết liên hệ đến các ẩn số chính trị trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung ông Huy nhận thấy 2 loại dữ kiện:

– Một số nhân vật đã được dùng để tượng trưng cho một vài quốc gia đặc biệt trên thế giới hoặc để mô tả một vài chính khách nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc cận đại.

–  Một số sự việc đã diễn tả quan điểm của Kim Dung về vấn đề tranh đấu chính trị và một phần trong quan điểm này dựa vào triết lý Đạo Giáo và Phật Giáo.

Ông Huy trình bầy những khám phá của ông một cách thứ tự, lớp lang, dựa trên lý luận với rất nhiều chi tiết khá tỉ mỉ. Sau đây chỉ là một số thí dụ về các ẩn số chính trị – xin nhắc lại chỉ là một số thí dụ tiêu biểu có giá trị thuyết phục cao trong rất nhiều ẩn số mà ông Huy đã tìm thấy – qua các truyện võ hiệp Kim Dung:

  1. Các nhân vật tượng trưng cho một số quốc gia đặc biệt trên thế giới.

Cuộc luận võ trên đỉnh Hoa Sơn được đề cập đến trong các bộ Võ Lâm Ngũ Bá, Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Đại Hiệp có mục đích xác định vai tuồng bá chủ võ lâm. Cuộc luận võ đầu tiên và quan trọng nhất có 5 nhân vật tham dự. Họ có ngoại hiệu là Trung Thần Thông, Đông Tà, Tây Độc, Bắc Cái, Nam Đế. Sau cuộc tỷ thí rất gay go, mọi người đều công nhận rằng Trung Thần Thông là người có võ công cao diệu hơn hết và được quyền giữ bộ Cửu Âm Chân Kinh. Những người còn lại thì tài nghệ suýt soát nhau.

Ngoài ra, còn một nhân vật thứ sáu cũng được xem đồng tài nghệ nhưng không tham dự cuộc luận võ này. Đó là bang chủ của Thiết Chưởng Bang tên là Cừu Thiên Nhạn ngoại hiệu là Thuỷ Thượng Phiêu. Cừu Thiên Nhận có người anh song sinh tên là Cừu Thiên Lý, võ công tầm thường, chỉ hay dùng xảo thuật để loè bịp.

Trong một giai đoạn của cuộc luận võ hay luận kiếm Hoa Sơn, năm nhân vật đầu tiên đã tỉ thí với nhau theo lối “ngũ quốc giao binh”, dịch sát nghĩa là “năm nước tranh chiến với nhau” hàm ý Kim Dung muốn dùng các nhân vật võ lâm để ám chỉ một số quốc gia. Vậy thì, nhân vật nào, quốc gia nào đây?

– Nhân vật tượng trưng cho nước Tầu: Trung Thần Thông.

Trung Thần Thông là ngoại hiệu của Vương Trùng Dương. Trung là ở ngay chính giữa. Tự ngàn xưa, người Tầu đã tự hào là họ sống ngay chính giữa địa cầu (!). Họ đã chính thức gọi dân tộc họ là dân tộc Trung Hoa và nước họ là Trung Quốc.

Về mặt tinh thần, người Trung Hoa theo đạo Trung Dung, đạo của người quân tử lúc nào cũng đứng trong vị thế quân bình. Trong mọi việc làm đều có thái độ thích ứng, vừa phải. Không thái quá, không bất cập. Người cố gắng theo đạo Trung Dung thì sẽ trở thành sáng suốt, hiểu biết và có thể biến cải để ứng phó vượt qua mọi trở lực, nói một cách khác sẽ trở thành Thần Thông.

Phái Đạo Giáo mà Trung Thần Thông đứng đầu là phái Toàn Chân, có nghĩa là sự thật đầy đủ, trọn vẹn. Toàn Chân là môn phái có thật trong lịch sử. Ngoài chủ trương riêng của Đạo Giáo, nó lại còn bao gồm đạo Trung Hiếu của Nho Giáo và các giới luật của Phật Giáo và điều này đã mô tả đúng tính cách tổng hợp của nền văn hoá Trung Hoa cổ truyền.

Tỷ thí tài nghệ để trở thành bá chủ võ lâm, tuy nhiên Trung Thần Thông lại có bản chất ngược lại với tư tưởng bá chủ – lấy được Cửu Âm Chân Kinh nhưng nhất quyết không dùng vì bí kíp võ học tuyệt tác này đòi hỏi phương pháp luyện công quá âm độc, dị thường. Tư cách của Trung Thần Thông, tức Vương Trùng Dương cho thấy cao hơn hẳn Đông Tà, Tây Độc và các nhân vật võ lâm khác, càng chứng tỏ xứng đáng vai trò lãnh đạo, phù hợp với họ Vương, có nghĩa là Vua, người đứng đầu thiên hạ. Đạo lý nhà vua phải theo để cai trị một cách chính đáng, nhân nghĩa gọi là Vương đạo. Chủ trương chính trị Vương đạo là chủ trương chính thức được đề cao trong sử sách Trung Hoa từ ngàn xưa.

Kim Dung là người Trung Hoa nên qua nhân vật Trung Thần Thông Vương Trùng Dương hàm ý nước Trung Hoa có đủ khả năng và tư cách làm số 1 trên thế giới cũng là điều không đáng ngạc nhiên.

– Nhân vật tượng trưng cho nước Nhật: Đông Tà.

Đông Tà là ngoại hiệu của Hoàng Dược Sư. Hoàng là mầu vàng ám chỉ Nhật Bản cũng là dân da vàng.

Nhật Bản nằm về phía đông của Trung Hoa phù hợp với ngoại hiệu Đông Tà của Hoàng Dược Sư. Đông Tà lại mặc áo mầu xanh, theo vũ trụ quan của người Trung Hoa thì mầu xanh thuộc về hành mộc và liên hệ với phương đông, nhấn mạnh thêm nước Nhật ở phía đông.

Căn cứ của Đông Tà là đảo Đào Hoa mà Nhật Bản là đảo quốc và nổi tiếng thế giới là xứ hoa Anh Đào.

Đông Tà có tánh sợ lửa. Điều này ám chỉ các đảo Nhật có nhiều núi lửa và thường bị động đất.

Bà vợ của Đông Tà có tên là Mai Hương. Mà hoa Mai lại được người Trung Hoa xem là quốc hoa. Điều này có thể ám chỉ dân tộc Nhật có liên hệ và chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa.

Thân thế của Đông Tà còn tỏ rõ hơn nữa ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa rất sâu xa đối với nước Nhật – Đông Tà theo học võ với Châu Đồng. Ông này cũng là thầy của Nhạc Phi, một danh tướng anh hùng Trung Hoa. Trước đó Đông Tà là một thư sinh học theo Nho Giáo nên là người văn võ kiêm toàn. Đông Tà thông thạo các thú tiêu khiển của người Trung Hoa là cầm, kỳ, thi, hoạ; nắm vững mọi loại kỹ thuật Trung Hoa như y dược, bói toán, chiêm tinh, tướng số, nông điền thuỷ lợi, binh lược…; biết thưởng thức các món ăn ngon, các thứ trà quý của Trung Hoa…Tuy nhiên, Đông Tà lại thâm hiểu Đạo Giáo và hướng về sự thanh tĩnh vô vi. Đông Tà cũng có một số đức tính tốt là cương trực, nói lời giữ lời theo kiểu “quân tử nhất ngôn”, kính trọng các bậc trung thần, nghĩa sĩ, nhiều khi ra tay giúp người yếu thế, trừng trị bọn tham quan ô lại, bọn trộm cướp hiếp đáp dân lành.

Các dệ tử của Đông Tà đều mang tên Phong như Khúc Linh Phong, Phùng Mặc Phong, Lục Thừa Phong, Trần Huyền Phong, Mai Siêu Phong…Phong nghĩa là gió, giống như chữ Phong trong danh từ nổi tiếng của Nhật là Thần Phong (Kamikaze) nguyên là danh từ dùng để chỉ trận bão lớn năm 1281 đã đánh đắm các chiến thuyền của hạm đội Mông Cổ, cứu nước Nhật khỏi bị Mông Cổ thống trị. Trong thế chiến thứ hai, Thần Phong là tên của đội phi công cảm tử tình nguyện lao phi cơ chứa đầy chất nổ xuống các chiến hạm Mỹ và nổ tung với các chiến hạm này – một cố gắng hi sinh tuyệt vọng nhưng rẩt anh hùng mang đặc tính Nhật Bản.

Đông Tà tuy vậy không được Kim Dung coi là người theo chính đạo mà là một nhân vật nhuốm đầy tà quái hàm ý người Nhật chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, nhưng chỉ theo một phần, rồi tìm cách biến chế và không cư xử đúng theo quan điểm đạo đức của người (quân tử mẫu mực) Trung Hoa.

Đông Tà, tức nước Nhật, trong mắt Kim Dung đã TÀ như thế nào?

Dựa vào Kỳ Môn Bát Trận của Khổng Minh để lập ra Phản Kỳ Môn Bát Trận để bảo vệ đảo Đào Hoa. Cũng dựa vào nguyên tắc sinh khắc, âm dương, ngũ hành, nhị thập bát tú và 64 quẻ kép của Bát Quái. Tuy nhiên trong trận đồ của Đông Tà, vị trí của các quẻ lại ngược lại vị trí các quẻ trong trận đồ Khổng Minh.

Thổi ngọc tiêu kích thích dục tình.

Thiếu tự chế – quá bi thương vì cái chết của vợ, gần như điên cuồng khi tưởng mất con.

Ăn cướp, tống tiền nhà giầu để có phương tiện lập căn cứ địa kiên cố, sang trọng. Dùng thủ đoạn xảo trá để đoạt Cửu Âm Chân Kinh.

Khi tức giận hai đệ tử phản bội đào thoát thì trừng phạt các đệ tử vô tội và hết sức trung thành khác bằng cách cắt đứt gân chân của họ rồi đuổi đi. Đâm mù mắt, chọc thủng tai các đầy tớ, gia nhân, vốn là các thành phần tội phạm, để kiềm chế họ và giữ bí mật về mình.

Sự tàn ác, ích kỷ của Đông Tà ám chỉ nước Nhật sau khi canh tân trở nên cường thịnh thì đi xâm lăng Trung Quốc và các nước khác cốt để làm lợi cho riêng mình, trắng trợn tự xưng là Đế Quốc Nhật Bản, khác với lý tưởng Vương đạo của người Trung Hoa – theo Kim Dung – “trị quốc” để dọn đường cho “bình thiên hạ” tức là tiến tới “thế giới đại đồng”. Biến cố “The rape of Nanking” năm 1937 gây kinh hoàng, chấn động thế giới khi quân Nhật chiếm thủ đô Nam Kinh của Trung Hoa Dân Quốc, đã hãm hiếp và giết hại 300,000 người dân Tầu, thây chất như núi, máu loang đỏ các sông ngòi, là một tội ác khó có thể nào quên.

   – Nhân vật tượng trưng cho các nước Đế Quốc Âu Châu: Tây Độc.

Tây Độc là một nhân vật kinh khủng, có lẽ còn đáng ghét hơn cả Đông Tà, theo sự diễn tả của Kim Dung ám chỉ các nước đế quốc thực dân Âu Châu đã sâu xé, dày xéo, bóc lột Trung Hoa và các dân tộc ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ hàng trăm năm.

Tây Độc là ngoại hiệu của Âu Dương Phong. Âu là Âu Châu. Âu Châu ở phía Tây của Trung Quốc. Người Âu Châu còn gọi là người Tây Dương, hay người Tây Phương. Tây Độc Âu Dương Phong cũng xưng là Bạch Đà Sơn Chủ, tức chúa núi Bạch Đà. Bạch là mầu trắng khiến liên tưởng đến người da trắng, giòng giống… Bạch Quỷ (!).

Trái với nếp sống thanh tĩnh theo Đạo Giáo của Trung Thần Thông Vương Trùng Dương, nếp sống của Tây Độc Âu Dương Phong là sự hưởng thụ vật chất tầm thường, ô trọc. Căn cứ Bạch Đà Sơn chứa đầy gái đẹp, ngọc ngà, châu báu, của ngon vật lạ… vốn là chiến lợi phẩm có từ cướp của, giết người, bắt cóc…do hai chú cháu Âu Dương Phong và Âu Dương Công Tử thực hiện. Mô tả này nhắc thời kỳ các nước Âu Châu ùa nhau đi chiếm thuộc địa, bắt buộc các dân tộc khác làm nô lệ, thực thi chính sách đế quốc bóc lột tàn nhẫn, trở nên giầu có và truỵ lạc

Sự mất trí, điên cuồng lúc về sau của Tây Độc biểu tượng cho sự vong thân của người Tây Phương dẫn đến khủng hoảng xã hội, cách mạng, nội chiến và đánh giết lẫn nhau gây ra đại chiến thế giới 1 và 2.

– Nhân vật tiêu biểu cho Liên Xô:  Bắc Cái.

Bắc Cái là ngoại hiệu của Hồng Thất Công.

Bắc Cái là bang chủ Cái Bang, là chúa ăn mày, tức là trùm vô sản.

Liên Xô ở phía Bắc và Tây của Trung Quốc. Bắc nhiều hơn Tây, vả lại Tây đã dùng cho trường hợp Tây Độc để ám chỉ Âu Châu.

Chữ Hồng, họ của Bắc Cái (Hồng Thất Công) theo Hán Văn là rộng lớn mênh mông nhưng lại đồng âm với chữ Hồng là đỏ, mầu tiêu biểu cho đảng Cộng Sản, tức Cái Bang. Thêm nữa, chữ Hồng gồm 2 phần, bên tả là bộ thuỷ, bên hữu là chữ cộng, y như chữ Cộng trong từ ngữ Cộng Sản.

Kỹ thuật tranh đấu của Bắc Cái là Đả Cẩu Bổng Pháp – dùng gậy để đánh chó của nhà giầu, đánh cả cường hào, ác bá, tham quan ô lại – tiêu biểu cho chủ trương Giai Cấp Đấu Tranh, Hàng Long Thập Bát Chưởng tiêu biểu Biện Chứng Pháp Duy Vật. Kiên Bích Trận của Cái Bang biểu tượng kỹ thuật tổ chức và tranh đấu tập thể của Đảng Cộng Sản Quốc Tế do Liên Xô lãnh đạo.

Cái Bang của Hồng Thất Công có 2 phe ăn mày hiềm khích và chống chọi nhau. Một phe áo lành và sạch nhưng ít người, ám chỉ Cộng Sản Đệ Tứ với thủ lãnh Trotsky. Một phe áo rách và dơ nhưng đông người hơn, ám chỉ Cộng Sản Đệ Tam do Stalin cầm đầu. Bắc Cái Hồng Thất Công có thể vừa tượng trưng cho Liên Xô như là một quốc gia, vừa tượng trưng cho Lenin như là một nhân vật. Chỉ khi Lenin lúc còn sống mới dung hợp được cả phe Stalin và phe Trotsky.

    – Nhân Vật tiêu biểu cho các nước thuộc thế giới đệ tam – tức là các nước đang mở mang như Thái Lan:  Nam Đế.

Nam Đế là ngoại hiệu của Đoàn Chính Minh, vua nước Đại Lý, thuộc sắc dân Thái, sau thoái vị đi tu với pháp danh là Nhất Đăng, Nhất Đăng Đại Sư. Người thế độ cho ông không phải là một cao tăng Trung Hoa mà là một nhà sư Thiên Trúc, tức là Ấn Độ, theo Phật Giáo Tiểu Thừa khác với Phật Giáo Đại Thừa thịnh hành ở Trung Hoa.

Hiện nay có cuộc mâu thuẫn giữa các nước đã phát triển ở phương Bắc và các nước đang mở mang ở phương Nam, được gọi là tranh chấp Bắc Nam. Nam Đế là biểu tượng của thế lực phương Nam.

      – Nhân vật biểu tượng cho Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý: Anh em Cừu Thiên Nhạn và Cừu Thiên Lý.

Được mời nhưng không tham dự cuộc Hoa Sơn Luận Võ, Bang Chủ Thiết Chưởng Bang Cừu Thiên Nhạn được xem là có tài nghệ ngang với Võ Lâm Ngũ Bá. Cừu Thiên Lý là anh song sinh của Cừu Thiên Nhạn, trông rất giống, có tánh mưu mẹo, gạt gẫm nhưng tài nghệ kém người em rất xa hàm ý Phát Xít Ý của Mussolini ra đời trước, hay khoa trương,  nhưng không có thực lực như Đức Quốc Xã của Hitler.

Theo sự mô tả của Kim Dung, Thiết Chưởng Bang (Bang hội Bàn Tay Sắt) lúc đầu là hội của những người yêu nước chống sự xâm lấn của nước ngoài, về sau lầm lạc đi vào con đường cướp bóc, hung bạo, xem mạng người như cỏ rác phù hợp với lịch sử chung của 2 chế độ độc tài hữu phái Quốc Xã và Phát Xít.

Ngoại hiệu Thuỷ Thượng Phiêu phản ảnh công phu độc đáo đi trên mặt nước của Cừu Thiên Nhạn ám chỉ chủ nghĩa siêu nhân và siêu tộc của Đức Quốc Xã.

Tín hiệu bàn tay sắt của bang chủ Cừu Thiên Nhạn là gợi ý đến từ bội tinh Thập Tự Sắt, huy chương quân công cao quý nhất của dân tộc Đức cũng như huy hiệu chữ Vạn thời Hitler.

    – Nhân Vật biểu hiệu cho nước Mỹ: Dương Qua.

Dương Qua nhận Tây Độc làm nghĩa phụ và được truyền dậy những công phu siêu đẳng hàm ý nước Mỹ có gốc gác Âu Châu, văn hoá Mỹ cùng tính chất văn hoá Âu Châu, gọi chung là Tây Phương. Dương Qua còn được gọi là Tây Cuồng.

Dương Qua chính là Thần Điêu Đại Hiệp mà chim điêu (eagle) là biểu hiệu của nước Mỹ. Quốc huy của nước Mỹ có hình chim điêu.

Trong lần Hoa Sơn Luận Võ cuối cùng, trong số 5 cao thủ có mặt thì Dương Qua là người trẻ nhất được xem như kế vị Tây Độc nhưng không ác hại như nghĩa phụ, lại học thêm được tinh hoa võ thuật của các cao thủ khác, cũng như tự sáng chế nên có bản lãnh cao hơn mọi người. Điều này phù hợp với sự kiện nước Mỹ là quốc gia Tây Phương, trẻ trung, cường thịnh vượt hẳn các nước đế quốc Âu Châu già nua, tàn tạ như đế quốc Bồ Đào Nha, đế quốc Tây Ban Nha, đế quốc Anh, đế quốc Pháp, đế quốc Hoà Lan, đế quốc Bỉ… để trở nên đệ nhất siêu cường.

  1. Các nhân vật được dùng để mô tả một vài chính khách nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa cận đại.

Trước hết là trường hợp các lãnh tụ Trung Cộng.

Trong thời kỳ sáng tác ba bộ Võ Lâm Ngũ Bá, Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Đại Hiệp, Kim Dung còn thiên tả nhưng đến khi viết hai bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ và Lộc Đỉnh Ký, Kim Dung đã nhận chân được sự thật về Cộng Sản Quốc Tế nói chung và Cộng Sản Trung Hoa nói riêng.

Trong bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ đề tài chính là cuộc tranh chấp đẫm máu giữa Triêu Dương Thần Giáo và các phe gọi chung là bạch đạo. Ông Huy đã tìm thấy nhiều dữ kiện chứng tỏ rằng Triêu Dương Thần Giáo trong Tiếu Ngạo Giang Hồ được dùng để ám chỉ đảng Cộng Sản Trung Hoa và hai vị giáo chủ Nhậm Ngã Hành và Đông Phương Bất Bại biểu tượng hai nhà lãnh đạo quan trọng của Trung Cộng là Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ. Ông Huy lý luận như sau:

Triêu Dương là buổi sớm mai lúc mặt trời ở phía Đông mà bản quốc thiều của Trung Cộng là bản Đông Phương Hồng.

Khẩu hiệu chính của Trung Cộng trong thời kỳ chiến tranh lạnh là “gió đông thắng gió tây” cho nên Giáo chủ Triêu Dương Thần Giáo có tên là Đông Phương Bất Bại là hiện thân của Lưu Thiếu Kỳ, người làm chủ tịch nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) trong 9 năm và nắm thực quyền một thời gian dài trước khi bị lật đổ, bị tra tấn và bị giết.

Giáo chủ Nhậm Ngã Hành biểu tượng cho Mao Trạch Đông, Chủ Tịch đảng Cộng Sản Trung Hoa. Việc Đông Phương Bất Bại bí mật giam Nhậm Ngã Hành trong lòng đất dưới đáy Tây Hồ ở Hàng Châu ám chỉ thời kỳ Lưu Thiếu Kỳ liên kết với Đặng Tiểu Bình tập trung quyền lực Đảng trong tay, dồn Mao Trạch Đông vào thế “ngồi chơi xơi nước”, “hữu danh vô thực” sau thất bại “bước tiến nhẩy vọt” khiến Mao uất hận dùng “đại cách mạng văn hoá” long trời lở đất để quật ngược lại. Cuộc xung đột giữa Nhậm Ngã Hành và Đông Phương Bất Bại cũng kỳ bí và ghê gớm như cuộc xung đột giữa Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ.

Thần Long Giáo trong Lộc Đỉnh Ký cũng được dùng để ám chỉ đảng Cộng Sản Tầu. Giáo Chủ Hồng An Thông là hình ảnh xấu xí của Mao Trạch Đông, bà vợ ác nghiệt nhưng trẻ đẹp Tô Thuyên tức Hồng Phu Nhân biểu hiệu cho Giang Thanh, bọn Ngũ Long Thiếu Niên tượng trưng cho Vệ Binh Đỏ. Những cảnh tượng xấu xa, tàn bạo, tệ hại liên quan đến Thần Long Giáo mà Kim Dung mô tả rất gần với thực trạng chính trị Hoa Lục thời Đại Cách Mạng Văn Hoá.

Kế tiếp là trường hợp của các chính khách quốc gia Trung Hoa trong mắt Kim Dung theo như sự suy đoán của ông Huy.

Cũng trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, nếu Triêu Dương Thần Giáo (bị gọi là Ma Giáo) tượng trưng cho phe Cộng Sản thì phái Bạch Đạo tương trưng cho phe Quốc Gia. Phe Bạch Đạo chính thức theo lập trường bảo vệ đạo lý và tình trạng đương hữu nhưng trong thực tế phân hoá trầm trọng. Có những người đàng hoàng, tử tế nhưng không thiếu kẻ gian ác. Nhân vật tiêu biểu cho loại người sau là Nhạc Bất Quần, chưởng môn của phái Hoa Sơn, sau lên làm “minh chủ” của 5 phái “hợp nhất” gọi là Ngũ Nhạc kiếm Phái gồm Hoa Sơn, Hành Sơn, Tung Sơn, Thái Sơn và Hằng Sơn.

Nhân vật Nhạc Bất Quần được Kim Dung dùng để ám chỉ Tưởng Giới Thạch, sau khi “quốc phụ” sáng lập là Tôn Dật Tiên chết, thì trở thành lãnh tụ số 1 của Trung Hoa Dân Quốc và Trung Hoa Quốc Dân Đảng.

Kim Dung dùng lối chơi chữ ở đây. Không để ý thì không thấy. Nhạc, theo chữ Hán, là hòn núi lớn gồm chữ “khâu” là gò và “sơn” là núi. Cả 3 chữ “nhạc”, “khâu” và “sơn” đều chỉ những khối lớn do đá cấu tạo nên. Mà đá tức là “thạch” – Tưởng Giới Thạch!

Dưới ngòi bút có phần cố ý …“bôi bác” của Kim Dung, Nhạc Bất Quần có bề ngoài khả kính của một lãnh tụ võ lâm mang ngoại hiệu Quân Tử Kiếm nhưng thực chất là Nguỵ Quân Tử hay Quân Tử giả hiệu.

Tưởng Giới Thạch còn có tên là Tưởng Trung Chánh hàm ý thành tín ngay thẳng, không những chính thức theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên – Dân Tộc độc lập, Dân Quyền tự do, Dân Sinh hạnh phúc – mà còn luôn luôn đề cao Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ nhưng, theo Kim Dung, thật sự là người theo chủ nghĩa quyền uy, một nhà độc tài hữu phái đứng đầu một chính quyền ung thối vì tham nhũng.

Giống như Nhạc Bất Quần lớn tiếng tố cáo, miệt thị Ma Giáo, Tưởng Giới Thạch kết án Cộng Sản tà nguỵ, bất nhân nhưng bên trong Tưởng hành động còn tà nguỵ, bất nhân hơn hay cũng chẳng kém. (Trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, Kim Dung còn nghiêng về Nhậm Ngã Hành tức Mao Trạch Đông, hàm ý Mao vẫn đỡ tệ hại hơn Tưởng. Chi trong Lộc Đỉnh Ký, qua nhân vật Giáo chủ Hồng An Thông Kim Dung mới xem Mao, Tưởng đều đáng ghét như nhau).

THÔNG ĐIỆP CHÍNH TRỊ CỦA KIM DUNG.

Trở lại những ẩn số chính trị mà ông Huy tìm thấy, những ẩn số quan trọng nhất có lẽ là những thông điệp mà Kim Dung đã kín đáo gửi đến cho đồng bào Trung Hoa của ông. Những thông điệp này cũng có thể trở thành những điều đáng suy ngẫm cho những người hoạt động chính trị hay tranh đấu chính trị nói chung ở bất cứ nước nào – Trung Hoa, Việt Nam, Miến Điện, Mỹ, Nhật, Âu, Phi….Chẳng hạn như:

  1. Chính nghĩa dựa trên đạo lý thường chỉ là nhận thức chủ quan, dễ dàng đưa đến sự thiên vị. Đoàn thể nào cũng xem đạo lý của mình là đúng, là chính còn đạo lý của đoàn thể khác là sai, là tà. Đấy là chưa kể “nói một đằng, làm một nẻo”.
  2. Trong mọi đoàn thể đều có người tốt, người xấu chứ không phải người của chính phái nhất định là tốt, người của tà phái nhất định là xấu. Ma Giáo có thể có người tử tế như Hướng Vấn Thiên, Khúc Dương Trưởng Lão, danh môn chính phái như Thiếu Lâm, Võ Đang có thể có đệ tử đồi bại như Trần Hữu Lượng, Tống Thanh Thư. Hệ quả này là người ta phải có tinh thần cởi mở và khoan dung đối với nhau. Nên cởi mở và khoan dung như Lệnh Hồ Xung trong Tiếu Ngạo Giang Hồ.
  3.  Mô tả quá trình các nhân vật đạt đến vị trí tối cao như lãnh tụ, như minh chủ nguyên tắc của Đạo Đức Kinh được thực thi là “tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi” (biết đủ thì không bị nhục, biết dừng lại đúng lúc thì không bị nguy) và nguyên tắc “bất tranh” (không tranh dành cho bằng được). Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần tàn phế, tử vong, thân bại danh liệt vì quá tham lam, ham hố. Mưu thâm thì hoạ cũng thâm !
  4. Trong đoạn cuối của Tiếu Ngạo Giang Hồ, giáo chủ Triêu Dương Thần Giáo ngỏ lời gả con gái là Nhậm Doanh Doanh cho Lệnh Hồ Xung và mời Lệnh Hồ Xung làm Phó Giáo Chủ. Mặc dù yêu Nhậm Doanh Doanh tha thiết, Lệnh Hồ Xung khước từ và bỏ đi. Điều này có nghĩa:  Riêng tại các nước có sự phân tranh Quốc-Cộng như trường hợp Trung Hoa (cũng như Cao Ly, Cuba, Việt Nam) sẽ không có, không thể có, hoà giải, hoà hợp dân tộc thực sự nếu các đảng Cộng Sản đang nắm quyền lực tiếp tục chủ trương độc tài, độc đảng, độc tôn phi lý. Các đảng Cộng Sản này phải đi bước trước là thực hiện sự cải cách thực sự.

***

Trong hơn nửa thế kỷ vừa qua cho đến tận ngày nay có đến hằng trăm triệu độc giả ở Trung Hoa, Đài Loan, Đông Nam Á, Bắc Mỹ, Âu Châu …say mê nghiền ngẫm truyện Võ Hiệp Kim Dung, có hàng trăm tác giả viết sách, báo bình luận về tư tưởng, cuộc đời của Kim Dung, thậm chí xuất hiện cả trường phái “Kim Học”.

Tuy nhiên, không thấy ai nghiêm túc đặt vấn đề “đi tìm các ẩn số chánh trị” trong các tác phẩm của Kim Dung. Hoặc giả có đặt vấn đề thì chỉ “giải quyết” bằng cách đưa ra các khái niệm mơ hồ về chuyện Tả, Hữu, Quốc, Cộng… chứ  không có ai tìm ra được các những “bí mật” ẩn tàng một cách rõ ràng, mạch lạc và có hệ thống như ông Nguyễn Ngọc Huy.

Kim Dung đã “qua mặt” được tất cả mọi người nhưng không “qua mặt” được một người – một người Việt Nam!

Phải chăng “dẫu cường nhược có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”?

Cao Tuấn

Phạm Đoan Trang trong mắt luật sư

Phạm Đoan Trang trong mắt luật sư

September 5, 2023

Phạm Đoan Trang đi tù vì chỉ trích nhà cầm quyền

Phạm Đoan Trang chủ động nói với tôi về điều cô ấy đang quan tâm: “Đi hay ở?”. Lời Trang: “Em đi là “chúng nó” chiến thắng. Em không cho phép “chúng nó” chiến thắng như thế. Em đã chuẩn bị tinh thần và em chịu đựng được hoàn cảnh của mình anh nhé”.

Nhiều bạn hỏi về Phạm Đoan Trang, tôi chỉ có câu trả lời vắn tắt:

Nếu bạn đang hỏi về cô gái bé nhỏ mà kiên cường, dấn thân tranh đấu cho bạn được sống đúng với phẩm chất làm người, thì quả thật, tôi có biết về cô gái ấy.

Trước ngày bị bắt không lâu, Trang hẹn gặp tôi tại một quán café trên con đường nhỏ trong khu Cư xá Bắc Hải. Tôi đến trước, chờ không lâu thì Trang tập tễnh bước vào cùng người bạn. Mỉm cười với đôi mắt như đang ngơ ngác trước cuộc đời đen bạc, em ấy đặt trước mặt tôi cuốn “Cẩm nang nuôi tù”, tôi chưa kịp cầm thì Trang lật đến trang ghi tên tác giả và biên tập, chỉ vào tên tôi in trong ấy, Trang hỏi “Anh có ngại không?”. Tôi xem rồi đáp “Ủa, thì anh có biên tập thật mà!”. Chúng tôi cười xòa.

Lần gặp ấy, có lẽ linh cảm thời gian tự do của mình đang cạn dần, Trang nói đến việc nhờ tôi giúp bào chữa khi phải sa vào vòng lao lý. Chúng tôi bàn với nhau nhiều điều trước khi chia tay.

Thật lòng, tôi đã không thích những cuộc gặp như thế, khi tôi và “đối tác” phải bàn bạc về chuyện xui rủi của họ, về một giai đoạn đen tối nhìn thấy trước trong cuộc đời.

Việc đến phải đến, thượng tuần tháng 10/2020, Trang bị an ninh bắt giữ rồi di lý ngay ra Hà Nội. Việc di lý này hoàn toàn nằm ngoài tính toán của chúng tôi, khiến tôi phải liên lạc ngay với các luật sư hành nghề tại Hà Nội để nhờ cùng phối hợp hỗ trợ pháp lý cho Trang.
Cùng lúc này, tôi cũng gởi ngay văn bản kiến nghị đến Cơ quan An ninh Điều tra TP.Hà Nội để yêu cầu xem xét lại thẩm quyền. Vì lẽ, hầu hết các hoạt động của Trang đều thực hiện tại nơi Trang cư trú thường xuyên là địa bàn TP.HCM. Do đó, nếu cho rằng Trang có hành vi vi phạm pháp luật, thì thẩm quyền điều tra phải thuộc về TP.HCM, chứ không thể thuộc TP.Hà Nội.

Văn bản kiến nghị của tôi rơi vào sự thinh lặng. Sau này, khi tiếp cận hồ sơ, tôi vẫn thấy văn bản kiến nghị ấy lưu trong hồ sơ vụ án. Đồng thời, qua hồ sơ cho thấy các nhận định ban đầu của tôi về thẩm quyền điều tra cũng hoàn toàn chính xác. Thế nhưng, với cơ quan an ninh điều tra, cánh tay phải và là con cưng của chế độ, việc buộc họ làm đúng theo quy định tố tụng cũng tựa như hái sao trên trời.

Đương nhiên, Trang bị khởi tố về một tội danh chính trị, cho nên, sự hỗ trợ pháp lý của các luật sư ở giai đoạn điều tra là con số 0 tròn trĩnh, chỉ có thể ở mức độ đăng ký bào chữa rồi chờ. Suốt thời gian điều tra vụ án dài 14 tháng đăng đẵng, các luật sư bặt tin tức của Trang cho đến tận sau ngày có cáo trạng.

Khi ấy, tôi thu xếp ra ngay Hà Nội để hoàn thành các thủ tục bào chữa và thăm gặp Trang tại trại tạm giam số 1, Hỏa Lò Hà Nội.

Vẫn đang là mùa dịch COVID-19, trại tạm giam bố trí nơi luật sư tiếp xúc với thân chủ của mình qua vách kính thủy tinh và nói chuyện với nhau qua điện thoại. Chờ rất lâu quản giáo mới đưa vào khu vực cách ly một cô gái gầy gò, nhỏ bé, mái tóc cắt sát thật ngắn. Tuy vậy, tôi vẫn nhận ra Trang ngay nhờ cặp mắt sáng, tròn xoe, lúc nào cũng như đang ngơ ngác.

Không khó đoán thâm ý của trại giam khi buộc tôi chờ rất lâu mới đưa Trang vào làm việc, vì sau đó, thời gian làm việc sẽ không còn nhiều nữa. Thế nên, chúng tôi tranh thủ trao đổi vắn tắt ngay về vụ án, vì lẽ, với người hiểu biết như Trang, cô ấy thừa hiểu hồ sơ vụ án chỉ là cái cớ hoàn hảo để chính quyền giam giữ Trang, cho dù, cái gọi là hồ sơ vụ án đầy rẫy những chứng cứ khiên cưỡng, phi lý, phi pháp. Cô ấy hỏi thăm về sức khỏe của mẹ mình. Tôi cũng vội thông tin về tình hình bên ngoài, về các giải thưởng nhân quyền, giải thưởng báo chí quốc tế cô ấy được đề cử hay nhận giải. Tôi hỏi thăm về sức khỏe cô ấy, về điều kiện giam giữ, chuyển lời thăm hỏi, lời nhắn của gia đình, bạn tranh đấu của Trang…

Khi tôi đưa tin về các giải thưởng quốc tế, điện thoại đột ngột bị cắt đứt. Một cán bộ quản giáo chạy ập vào phản đối về nội dung trao đổi này và toan lấy các bài báo tôi đang áp vào vách kính thủy tinh cho Trang xem. Tôi giằng lại và đành lớn tiếng dọa: “Đây là các “tài liệu” của luật sư, việc lấy các tài liệu này là xâm phạm quyền hành nghề luật sư, vi phạm pháp luật… Tôi sẽ báo cáo việc này với Giám thị hoặc Bộ Tư pháp (?!)”. Thoạt nghe, quản giáo hơi lượng sượng, rụt lại rồi nói vớt vát “Đề nghị luật sư không nói chuyện bên ngoài”.

Thật ra, ở các quốc gia có nền luật pháp tiên tiến, thì mọi cuộc trao đổi giữa luật sư và thân chủ đều mang tính cách riêng tư và được bảo mật. Nhưng điều đó hoàn toàn xa lạ với cán bộ chấp pháp của nền tư pháp chưa tiến hóa này, mà ở đó, cơ quan điều tra vốn rất tọc mạch, tò mò về các cuộc trao đổi giữa luật sư và thân chủ.

Đồng thời, trước nay, chúng tôi vẫn đoán rằng các điện thoại trao đổi giữa luật sư và thân chủ của mình đều bị nghe lén. Lần này, thì họ ra mặt xác nhận luôn về sự việc nghe lén.

Đến đây, Trang chủ động nói với tôi về điều cô ấy đang quan tâm: “Đi hay ở?”. Lời Trang: “Em đi là “chúng nó” chiến thắng. Em không cho phép “chúng nó” chiến thắng như thế. Em đã chuẩn bị tinh thần và em chịu đựng được hoàn cảnh của mình anh nhé”.

Đó là một trong các cuộc gặp giữa tôi và Trang trước phiên tòa sơ thẩm. Phiên tòa sơ thẩm tuyên cô ấy hình phạt 9 năm tù giam. Tức gần 3.300 ngày tù chỉ vì em ấy dám nói sự thật về hiện tình bi đát của đất nước. Nhưng điều đấy không làm chế độ hài lòng.

Tám tháng sau, tòa án cấp phúc thẩm thông báo xét xử. Lần này, tôi mang trọng trách từ chính tôi và nhiều bạn tranh đấu của cô ấy gởi gắm, rằng: Phải thuyết phục Trang chấp nhận việc “Ra đi” cho bằng được, ngay khi có cơ hội.

Vẫn chốn cũ, khu vực cách ly của Trại tạm giam số 1, Hỏa Lò Hà Nội. Sau tấm vách thủy tinh, Trang trông gầy gò hơn và vẻ mặt tái xanh mướt như tàu lá, hậu quả của biết bao lần rong kinh kéo dài không được chữa trị. Dù vậy, sau ánh mắt sáng, to tròn vẫn như ngơ ngác ấy, Trang vẫn lắc đầu nguầy nguậy, khăng khăng “Em chịu đựng được mà…”.

Tôi phân tích thiệt hơn, tôi viện dẫn mọi lẽ… nhưng vô ích! Túng thế, tôi lật ra lá bài cuối: “Mẹ của em…”. Nghe đến mẹ, bậc sinh thành, Trang cúi mặt giấu đôi mắt rướm lệ đỏ hoe… Im lặng một lát, Trang thốt khẽ “Dạ, để em tính lại”.

Mẹ của em, một trong số ít người được vào dự khán phiên tòa xét xử con gái mình. Trong ít phút giải lao, khi thấy con gái ngồi từ hàng ghế bị cáo đưa mắt xuống dưới tìm mình, bà cụ khẽ mỉm cười, lặng lẽ đưa ngón tay cái “number one” lên hướng về phía con gái! Ngón tay ấy gởi gấm nhiều thông điệp : Khích lệ, đồng tình, khen ngợi và “Mẹ rất ổn, con gái yêu quý của mẹ”… Rõ ràng, cô con gái ngoan cường đã là sản phẩm được hun đúc từ những bậc làm mẹ anh thư như vậy.

Và tôi cũng đã phải xấu hổ khi phải khai thác tình “mẫu tử”, khi biết đấy là điểm yếu nhất của Trang để thuyết phục em.

Lúc này, khi những tin đồn về việc đi hay ở của em ấy lan tràn trên mạng xã hội, trong ấy, không thiếu cả những lời bình phẩm bất lương, kể cả, từ những người dán nhãn tranh đấu. Tôi vẫn tự hỏi : Quyết định cuối cùng của em là gì giữa đi hay ở khi có cơ hội chọn lựa? Em có hai bà mẹ, một là đất mẹ để dấn thân mình bảo vệ phẩm giá làm người, rồi phải trả giá bằng bản án gần 3.300 ngày tù đầy. Thế nhưng, em cũng có cả một người mẹ sinh thành, dưỡng dục nên em đã ở tuổi gần đất xa trời để thương nhớ, đang khắc khoải trông tin em từng phút, từng giây.

Xã hội đen bạc này đã quá đủ để đòi hỏi điều gì khác ở Trang, vì lẽ, họ không có tư cách xứng đáng để đòi hỏi. Nhưng tôi thì khác, tôi vẫn muốn đòi hỏi em ấy một lần sống như “nhi nữ thường tình”, quanh quẩn trong nếp nhà để tự tay chăm sóc những phút tồn sinh cuối cùng của người mẹ già, bậc anh thư. Tròn chữ hiếu, em vẫn là em, với lý tưởng đeo mang phận nước trên đôi vai gầy guộc.

Nhưng lúc này, việc non nước ngoài kia là việc chung của trăm triệu đồng bào phải cùng nhau gánh vác, “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, chứ chẳng phải việc của riêng ai hay của riêng em, Trang ạ, cô gái có đôi mắt như ngơ ngác.

Mong đón em.

Đặng Đình Mạnh