Tôi vừa nhận được thư yêu cầu luật sư bào chữa của Mẹ Nấm (Nguyễn Ngọc Như Quỳnh), gửi từ trại giam Công an tỉnh Khánh Hòa.
Mẹ Nấm bị truy tố về tội “Tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 88 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 3 năm đến 20 năm tù giam.
Mẹ Nấm là người phụ nữ can đảm đấu tranh cho sự tiến bộ của xã hội, được tổ chức Civil Rights Defenders của Thụy Điển trao giải thưởng “Người bảo vệ nhân quyền” năm 2015 và được phu nhân tổng thống Mỹ Melania Trump trao giải thưởng “Phụ nữ quốc tế dũng cảm năm 2017”.
Sau khi nhận được thư của Mẹ Nấm, tôi đã làm thủ tục bào chữa gửi Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa theo qui định pháp luật, nhưng không biết Tòa án tỉnh Khánh Hòa có cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho tôi hay không ?
Tòa án tỉnh Khánh Hòa nổi tiếng gây khó khăn cho luật sư tham gia bào chữa các vụ án liên quan đến dân chủ, nhân quyền.
Vùng đất phía Bắc của người Bách Việt từng lên đến tận phía Nam sông Dương Tử (hay Trường Giang), tới khu vực Hồ Động Đình (tức tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc của Trung Quốc ngày nay). Việc này không chỉ được ghi nhận lại trong các truyền thuyết mà còn nằm trong những chứng tích của lịch sử.
Truyền thuyết
Theo Lĩnh Nam Chích Quái thì ông nội của Lạc Long Quân là Đế Minh (cháu 3 đời của Thần Nông) sinh ra con cả là Đế Nghi. Khi Đế Minh đi tuần thú phương Nam thì gặp và cưới con gái bà Vụ Tiên sinh ra Lộc Tục. Ngay từ tấm bé Lộc Tục đã thể hiện rất thông minh và đoan chính.
Đế Minh rất ngạc nhiên trước tư chất thông minh và tài trí của Lộc Tục nên muốn chọn làm người nối ngôi, thế nhưng Lộc Tục lại muốn nhường ngôi cho anh mình là Đế Nghi.
Cuối cùng Đế Minh quyết định truyền ngôi cho con trưởng Đế Nghi làm vua phương Bắc, và cho Lộc Tục làm vua phương Nam, lấy sông Dương Tử làm giới tuyến. Ông tế cáo trời đất trên Thiên đài rằng: “Trước đất trời nguyện rằng: Nam, Bắc cương thổ có khác. Nam không xâm Bắc. Bắc không chiếm Nam. Kẻ nào phạm lời nguyền thì chết dưới đao thương”.
Nước Xích Quỷ được tô màu có diện tích gấp 10 lần nước Việt ngày nay. (Ảnh: Wikipedia)
Từ đấy phía Bắc sông Dương Tử do Đế Nghi cai quản, phía Nam sông Dương Tử do Lộc Tục cai quản. Lộc Tục khi lên ngôi Vua lấy hiệu là Kinh Dương Vương, năm 2879 TCN đặt quốc hiệu là Xích Quỷ, biên giới phía Bắc tới Động Đình Hồ, phía Nam giáp với nước Hồ Tôn, phía Tây giáp với Ba Thục, phía Đông giáp với biển Nam Hải.
Như vậy theo sự phân chia vào thời đấy thì biên giới phía Bắc của người Việt lên đến Động Đình Hồ (phía Nam sông Dương Tử), bao gồm cà các tỉnh của Trung Quốc ngày nay như Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Tây, Quảng Đông, v.v.
Bản đồ nước Việt cổ. (Ảnh: Wikipedia)
Nếu tính diện tích thì Bắc giáp Động Đình Hồ vĩ tuyến 29 Bắc, phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành sau này) vĩ tuyến 11 Nam, phía Tây giáp Ba Thục (tỉnh Tứ Xuyên) kinh tuyến 105 Đông, phía Đông giáp bể Nam Hải, kinh tuyến 118 Đông. Tổng cộng diện tích của Xích Quỷ khoảng 2.900.000 km2.
Khi vua Kinh Dương Vương mất, con trai là Lạc Long Quân lên nối ngôi, lập ra nhà nước Văn Lang. Khi ấy, biên giới của Bách Việt vẫn được vẹn toàn.
Truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ. (Ảnh qua vietbao.vn)
Trong khi đó, dù hậu nhân sau này đã mở mang bờ cõi về phía Nam, nhưng lại mất đi phần đất phía Bắc, nên diện tích Việt Nam bây giờ là 331.698 km2 (tính cả diện tích trên biển), chỉ bằng khoảng 1/10 so với trước kia.
Hai Bà Trưng khôi phục giang sơn
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào năm 40 SCN đã giành được thắng lợi và lấy lại nguyên vẹn lãnh thổ nước Việt cổ.
Hai Bà Trưng cùng các nữ tướng quả cảm của mình đánh đuổi quân Hán đến tận Động Đình Hồ, một nữ tướng là Trần Thiếu Lan đã tử trận tại sông Thẩm Giang. Đây là con sông nối với Hồ Động Đình. Sách thời nhà Nguyễn có ghi chép rằng: “Các sứ thần triều Lý, Trần, Lê đi sứ sang Trung Quốc, khi qua nơi đây đều có sắm lễ vật đến cúng miếu thờ bà Trần Thiếu Lan.”
Hình ảnh Hai Bà Trưng đánh đuổi quân Hán.
Khi giành được giang sơn, Hai Bà Trưng giao cho nữ tướng Phật Nguyệt chức Tổng trấn khu hồ Động Đình – Trường Sa. Năm 1979, giáo sư Trần Đại Sỹ tìm thấy tại thư viện bảo tồn di tích cổ ở tỉnh Hồ Nam (tỉnh thủ phủ phía Nam Động Đình Hồ, Trung Quốc) có ghi chép trận đánh Động Đình Hồ như sau: “Quang Vũ nhà Hán sai Phục ba tướng quân Tân tức hầu Mã Viện. Long nhượng tướng quân Thận hầu Lưu Long đem quân dẹp giặc. Vua Bà sai nữ tướng Phật Nguyệt tổng trấn hồ Ðộng đình. Mã Viện, Lưu Long bị bại. Vua Quang Vũ truyền Nhị thập bát tú nghênh chiến, cũng bị bại. Nữ vương Phật Nguyệt phép tắc vô cùng, một tay nhổ núi Nga mi, một tay nhổ núi Thái sơn, đánh quân Hán chết, xác lấp sông Trường giang, hồ Ðộng đình, oán khí bốc lên tới trời”.
Giáo sư Trần Đại Sỹ từng tới Trung Quốc để tìm hiểu về lịch sử cuộc chiến giữa Hai Bà Trưng và quân Hán, thấy rất nhiều tỉnh đều thờ Vua Bà, nhiều nhất là tỉnh Hồ Nam (khu vực Động Đình Hồ), nhưng không ai còn nhớ Vua Bà là ai.
Khi ông đến đến Côn Minh, giáo sư sử học Đoàn Văn ở đây cho hay: “Trong truyền thuyết dân gian nói rằng hồi đầu thế kỷ thứ nhất có trận đánh giữa quân vua Bà với quân Hán tại Bồ lăng. Nay Bồ lăng nằm trên lãnh thổ Tứ Xuyên, chỗ ngã ba sông Trường giang và Ô giang.”
Giáo sư Trần Đại Sỹ đến bến Bồ Lăng thuộc huyện Bồ Lăng, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc để tìm hiểu. Tại đây giáo sư được Sở du lịch hướng dẫn đến miếu thờ 3 vị thần, tướng của Vua Bà. Nhưng bản thân họ cũng không biết Vua Bà và 3 vị tướng này cụ thể là ai, chỉ cho biết vua Bà là người nổi lên chống tham quan thời Hán, cả vùng đó đều có đạo thờ Vua Bà.
Miếu thờ có rất nhiều câu đối, nhưng cuộc cách mạng văn hóa của Trung Quốc đã hủy gần hết các câu đối này. May mắn là ba câu đối vẫn còn tồn tại tới ngày nay.
Phía trước cửa miếu có câu đối rằng:
Khẳng khái, phù Trưng, thời bất lợi, Ðoạn trường, trục Ðịnh, tiết… can vân.
Nghĩa là:
Khẳng khái phù vua Trưng, ngặt thời của Ngài không lâu. Ðuổi được Tô Ðịnh, nhưng đau lòng thay, phải tự tận…
khí tiết ngút từng mây.
Phía trong miếu có câu đối:
Giang thượng tam anh phù nữ chúa, Bồ Lăng bách tộc khốc thần trung.
Nghĩa là:
Trên sông Trường giang, ba vị anh hùng phò tá nữ chúa, Tại bến Bồ lăng, trăm họ khóc cho các vị thần trung thành.
Những tư liệu này cho thấy biên giới người Việt thời Hai Bà Trưng phía bắc tới Động Đình Hồ (phía Nam sông Dương Tử), phía Tây tới tận Ba Thục (tức tỉnh Tứ Xuyên ngày nay).
Bản đồ nước Lĩnh Nam thời Hai Bà Trưng, phía Bắc đến Động Đình Hồ, phía Tây đến Bồ Lăng (Ba Thục). (Ảnh: Wikipedia)
Trải qua ngàn năm Bắc thuộc, người Việt dồn dần xuống phía Nam để tránh sự cai trị hà khắc, khiến khu vực phía Bắc người Hoa Hạ ngày càng đông hơn.
Năm 938, Ngô Quyền lãnh đạo người Bách Việt đánh bại quân Nam Hán, làm chủ lại các vùng đất của nước Việt. Tuy nhiên một dải đất lớn phía Bắc là Nam Hải, Tượng Quận, Quế Lâm đã bị bỏ qua, và diện tích nước Việt nhỏ hơn trước. Sau này dù bờ cõi đã được mở rộng về phía Nam, nhưng diện tích ngày nay chỉ bằng hơn 1/10 so với trước đây.
Truyền thuyết không cách xa sự thực
Trong bài viết có tựa đề “Thử tìm lại biên giới cổ của Việt Nam” trên diễn đàn Lý Học Đông Phương, vốn là bài diễn văn tiếng Pháp của giáo sư Trần Đại Sỹ đọc trong dịp khai giảng niên khóa 1991-1992 tại Viện Pháp – Á, được dịch giả Tăng Hồng Minh đăng tải, giáo sư Trần Đại Sỹ đã nhắc tới nhiều luận điểm khẳng định biên giới cổ của Việt Nam nằm ở hồ Động Đình. Những luận điểm này được đích thân giáo sư Trần Đại Sỹ khảo cứu và viếng thăm thực địa, trong đó nổi bật là:
1 – Núi Ngũ lĩnh trong truyền thuyết về Đế Minh xác thực nằm ở Trường Sa, Hồ Nam. Ngoài ra tại tỉnh này còn có rất nhiều các di tích được nhắc tới của tộc Việt như: hồ Động Đình, núi Tam Sơn, sông Tương, Thiên đài, Tương đài, cánh đồng Tương.
2 – Thiên đài mà Đế Minh tế cáo trời là có thật, nằm gần bên bờ Tương Giang. Trên đỉnh này có một ngôi chùa nhỏ, bên trong còn có nhiều chứng tích về Hai Bà Trưng và trận Động Đình. Ngoài ra giáo sư Trần Đại Sỹ còn tìm thấy một tài liệu mang tên “Thiên đài di sự lục” tại thư viện Hồ Nam, trong đó miêu tả rõ rằng Thiên đài thờ vua Đế Minh và vua Kinh Dương.
3 – Cánh đồng Tương là nơi mà Lạc Long Quân và Âu Cơ đã hẹn nhau tái hội mỗi năm một lần là có thật. Giáo sư Trần Đại Sỹ kết luận rằng cánh đồng Tương chính là vùng trũng phía Tây Ngạn, giới hạn phía Bắc là hồ Động Đình, Nguyên Giang. Phía Nam là Linh Lăng, Hành Giang. Phía Tây là vùng Chiêu Dương, Lãnh Thủy. Nhưng nay cánh đồng Tương chỉ còn khu vực tứ giác: Tương Giang, Nguyên Giang, Liên Thủy, Thạch Khê Thủy.
Cùng với một số luận điểm vững chắc khác, giáo sư Trần Đại Sỹ đi đến kết luận rằng:
Biên giới cổ của nước Việt Nam, với các triều đại Hồng Bàng, Âu Lạc, Lĩnh Nam, phía Bắc quả tới hồ Ðộng Đình, phía Tây giáp Tứ Xuyên.
Vậy là diện tích nước Việt cổ thực sự lớn gấp 10 lần ngày nay.
TPO – Sáng 11/6, hàng triệu con cá nổi kín mặt nước kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè kéo dài cả cây số, cá ngoi lên đớp khí xen lẫn trong rác.
Đa số cá nổi lên đớp khí là rô phi.
Theo người dân, từ sáng sớm họ đi tập thể dục hai bên bờ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè đã thấy cá nổi lên dày đặc để đớp khí. Càng về trưa, lượng cá nổi lên càng nhiều, bao phủ toàn bộ mặt nước kênh kéo dài từ cầu số 1 đến cầu số 7.
Tôi có ông bạn học hiện làm cấp tướng trong hải quân VN, trong một buổi nhậu bạn bè với nhau cách đây gần năm ở HN, tôi hỏi hắn:
– Nếu bây giờ TQ tấn công trên biển, quân của cậu chống được bao lâu?
Hắn cười: – Chắc là chưa đến 3 ngày!
Tôi ngạc nhiên: – Sao chết nhanh vậy?
Hắn lại cười: – Không phải chết, mà là chạy. Thời đại này ai dại gì chết cho ai?!
– Đấy là cậu nói về lính hay sĩ quan các cậu?
– Cả hai, nhưng sĩ quan chạy trước rồi lính mới chạy. Lính không dám chạy trước, chỉ trốn thôi. Sĩ quan mới chạy!
Tôi thắc mắc: – Tại sao thế? Sĩ quan tinh thần cao hơn và phải làm gương cho lính cơ mà?
– Ừ, nhưng sĩ quan lại biết mình toàn nói dối và thấy cấp trên cũng toàn nói dối, và ai cũng biết chết thì mình chịu, thắng thì là chiến công của sếp, tội gì chết thế!
Chúng tôi cười xòa, coi đó là câu chuyện cười nói cho vui, vì ông bạn trong Bộ tổng tư lệnh ở HN, nó đâu có phải ra trận. Nhưng nó cũng không cần phải mua vui với tôi, nó nói có phần nhiều là thật. Thế nên tôi không quên được.
Một bữa khác cách nay khoảng nửa năm, trong chuyến xe đêm từ Sài gòn đi Nha Trang, tôi nằm cạnh anh lính trẻ trả phép ra Cam Ranh. Tôi hỏi chuyện ăn ở sinh hoạt của lính nghĩa vụ ngoài đó, cậu thật thà:
– Cháu mới đi mấy tháng, nhờ có người quen chạy cho nên không phải đi vùng xa hay đảo, chỉ ra Cam Ranh thôi, được về phép đều đặn, nếu biết quà cáp cho sĩ quan còn được kéo dài phép…
– Thế sĩ quan có về phép thường xuyên không?
– Sĩ quan của bọn cháu toàn sĩ quan chuyên nghiệp, gia đình họ ở Cam Ranh và Nha Trang luôn, họ đâu cần về phép, và họ có thể về nhà bất cứ lúc nào họ muốn, họ sướng lắm!
– Thế họ có ăn chung với các cháu không?
– Không, họ có tiêu chuẩn riêng cao gấp mấy lần lính bọn cháu! Họ ăn ở riêng.
– Thế tiêu chuẩn lính bọn cháu thế nào?
– Chúng cháu được 35 ngàn đ/ngày. Thế là cao đấy chú ạ, vì chúng cháu gần Ban chỉ huy Vùng. Mấy thằng bạn cháu đóng quân ở xa kêu khổ lắm, chỉ có 28 ngàn đ/ngày thôi…
– Sao lại 28 ngàn thôi?!
Tôi xót xa nhẩm tính: lính của mình (công nhân và kỹ sư của tôi) ở công trường cảng Vân Phong này được ăn 80 nghìn đ/ngày mấy năm nay, vừa tăng lên 100 nghìn/ngày do giá cả lên, mà tôi vẫn thương chúng khổ, gầy và đen, bắt chúng cố ăn, và lo chúng bỏ về Sài gòn, thế mà chiến sĩ của ta…
Tôi lại đi lạc đề muốn nói rồi. Ý của tôi là, chỉ chuyện ăn ở thôi thì lính của ta cũng thiếu sức chiến đấu rồi, chưa nói đến tinh thần chiến đấu và niềm tin vào cấp trên. Giờ nói về chủ đề chính, đó là bảo vệ lãnh thổ.
Xin kể câu chuyện thứ ba.
Cách đây mấy tháng, chúng tôi tổ chức một đoàn “du lịch-thám hiểm” ra điểm Cực Đông trên đất liền của đất nước với mục đích: sống 1 ngày gần với Hoàng Sa Trường sa nhất (về kinh tuyến).
Trên đường ra đó rất khó khăn, chúng tôi không ngờ cả một khu bán đảo rộng lớn bờ biển dài mấy chục cây số không có dân cư (đã bị đuổi đi hết) và chỉ có một đồn biên phòng gần ra đến Cực Đông đã bị bỏ hoang do chuyển vào gần quốc lộ 1 hơn, trong khi đường lớn do các “dự án lớn” của Vinalines làm đến cũng bỏ hoang không bóng người. Hỏi ra mới biết đó là tình trạng của hàng loạt đồn biên phòng ven biển và trên các đảo khu vực bắc và nam Vân Phong (thuộc Khánh Hòa và Tuy hòa): họ đã rút hết vào sống trong dân và để quản dân, không quản bờ biển nữa.
Hàng trăm cây số ven biển không có ai canh giữ, nhưng đã có sẵn đường lớn nhập vào quốc lộ 1… Ngày xưa họ ở đó là để bắt người vượt biên thôi… Biên phòng VN không quay súng ra biển mà quay súng vào dân!
Câu chuyện thứ tư.
Đơn vị chúng tôi tham gia rất nhiều công trình lớn dọc biển miền Trung, lắp ráp các thiết bị kỹ thuật hiện đại (rất ít khi là đồ TQ). Từ Dung Quất đến Vũng Áng, Vân Phong… Nhưng ở đâu chúng tôi cũng thấy các đơn vị TQ đấu thầu và thắng thầu thi công phần các cầu cảng. Họ chỉ quan tâm và bỏ mọi giá để nhận phần việc đó dù rất nhiều đơn vị VN làm được, nhưng các nhà thầu VN phải lè lưỡi bỏ ra cho họ vì giá của họ quá thấp… Sau đó họ luôn quây kín cả một vùng biển và bờ biển lớn người khác không được vào để họ thi công trong suốt nhiều năm trời. Và họ thường là đơn vị làm kéo dài các dự án lớn nhưng không ai làm gì được. Khui họ thi công xong chúng tôi mới lên lắp thiết bị và không ai biết bên dưới và bên trong những khối bê tông cầu cảng lớn đó có những gì. Chúng tôi thường đùa nhau: ngày đầu tiên TQ đánh VN họ sẽ cho nổ tung tất cả những cầu cảng trị giá vài chục đến vài trăm triệu đôla này (có thể cặp mạn những con tàu lớn đến 150.000-300.000dwt)… hoặc họ sẽ khống chế chúng để làm điểm đổ quân tuyệt vời cho họ, ở Dung Quất, Vân Phong, Vũng Áng và nhiều nơi nữa phía Bắc và Nam, nhất là Kiên Giang cũng sẵn sàng…
Câu chuyện thứ năm.
Tôi về quê ngoại Quảng Ninh, ra Hạ Long gặp mấy thằng bạn cũ, trong đó có thằng đại gia chuyên san đất lấp biển bán nền, giầu không để đâu hết tiền, luôn khoe có đội xe máy húc ủi đào đông như quân nguyên, đã phá không biết bao đồi núi, lấp biết bao bờ vịnh san hô và sú vẹt để bán trên giấy, từ Quảng yên đến Hải Hà…
Gặp nó tôi bảo:
– Tội phá hoại môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long của mày phải đem ra bắn!
Nó cười khẩy:
– Bắn tao hơi khó! Mày phải bắn hết các bí thư và chủ tịch, phó chủ tịch tỉnh và các huyện thị Quảng Ninh này đi đã!” Rồi nó quàng vai người ngồi cạnh:
– A, cả thằng này nữa, giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường mà…
Tôi nhăn mặt nghĩ:
“Đúng thật, nếu muốn bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long mà tôi yêu quí, tôi sẽ phải bắn gần hết các bạn học cũ của mình, vì chúng nó làm quan chức kín cả cái tỉnh quê ngoại của tôi rồi…” – rồi phán tiếp:
– Mày còn một tội lớn nữa! Mày đem xe máy lên Tiên Yên, Ba Chẽ (hai huyện núi biên giới) làm đường từ biên giới xuống cho bọn Ba Tàu sau này tấn công mình lần nữa. Lần trước nó tấn công không có đường xuống, tự vệ dân quân còn cản được. Lần này chỉ mấy giờ là xe nó chạy đến Hạ Long này, lại có cầu bãi chấy rồi; công chúng mày to quá!
Thằng đại gia xẹp hẳn xuống lẩm bẩm:
– Đéo mẹ bọn Tàu! Chúng nó còn không chịu trả tiền công cho tao nữa! Đau quá!
(Đó là nó chửi mấy công ty Đài loan thuê rừng 50 năm rồi thuê nó làm đường lên “trồng rừng”. Đường làm xong lên các đỉnh núi biên giới, không trả tiền và rừng tất nhiên cũng không…).
Và câu chuyện cuối cùng.
Tôi đưa con trai lên Tây Nguyên chơi, mới đây thôi, để nó biết Tây Nguyên là thế nào. Một số đoạn đi qua đường HCM mới làm lớn mà vô cùng hoang vắng, thằng bé rất ngạc nhiên hỏi:
– Bố, sao mình làm đường lớn đẹp dài mà không có người đi thì làm gì vậy?
Tôi thở dài chua chát:
– Bố chịu!
Chả lẽ nói ra ý nghĩ thật của mình:
“Bố sợ rằng người ta làm đường để sau này TQ đánh VN sẽ dễ chiếm và khống chế Tây Nguyên và rồi cả đất nước này?
Sau chuyến đi Tây Nguyên về, tôi đùa với con trai:
– Con ơi, hãy học tiếng Anh giỏi để du học rồi ở lại đó luôn, như chị con vậy đó. Bằng không, hãy học tiếng Tàu! Nước mình sắp thay quốc ngữ rồi!**
Vâng, ý của tôi là thế đó. Người Việt nam, chính quyền Việt Nam hiện nay đã chuẩn bị sẵn sàng địa thế và mọi cửa ngõ Lãnh thổ quốc gia để TQ tràn vào dễ dàng nhất. Tinh thần quân đội và sức chiến đấu thì rất bạc nhược rồi, cảnh giác thì… chĩa súng vào dân rồi.
Các “chiến sĩ” Trung Hoa cứ yên tâm mà đến!
Đất nước này dường như đã có chỉ đạo bàn giao nhẹ nhàng để sát nhập vào TQ?
Chỉ còn một điều:
Liệu dân Việt ta có chịu thế hay không???!!!
** đúng theo ước muốn, sách lược của đa số người Việt khá giả trong nước (?!)
—————————
Lời tiên tri của Ngô Đình Nhu:
“…Nếu nền Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ, chẳng bao lâu Miền Nam sẽ mất về tay Bắc Việt. Nếu Miền Nam mất về tay Bắc Việt, thì cả Việt Nam sớm muộn gì cũng sẽ rơi vào tay Trung Cộng…”
Theo anh Phạm Minh Hoàng tường thuật, ông Tổng Lãnh sự Pháp tại Sài Gòn gọi anh đến gặp và thông báo rằng vào ngày 17/5/2017 Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã ký quyết định tước quốc tịch Việt Nam của công dân Phạm Minh Hoàng.
Sự việc
Khi anh Hoàng yêu cầu xem bản quyết định đó, ông Tổng Lãnh sự Pháp cho biết cơ quan công an của Việt Nam chỉ thông báo miệng, nên chính ông cũng chưa nhìn thấy bản quyết định đó, dù chi tiết về người ký và ngày ký quyết định đã được phía Việt Nam xác nhận.
Sau khi nhận tin như trên, anh Phạm Minh Hoàng đã tuyên bố từ bỏ quốc tịch Pháp. Tuy nhiên, thủ tục pháp lý từ bỏ quốc tịch Pháp của anh chưa được khởi động theo luật hiện hành của nước Cộng hòa Pháp.
Quy định hiện hành về quốc tịch Việt Nam
Quốc tịch là một vấn đề pháp lý được quy định chủ yếu tại Hiến pháp năm 2013 (Hiến pháp) và Luật quốc tịch số 24/2008/QH12 ngày 13/11/2008 (Luật quốc tịch).
Hiến pháp quy định tại Khoản 1 của Điều 17 như sau: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.”
Tương tự, Luật quốc tịch quy định tại Khoản 1 của Điều 5 như sau: “Người có quốc tịch Việt Nam là công dân Việt Nam.”
Ngoài ra, Điều 4 của Luật quốc tịch còn khẳng định một nguyên tắc quốc tịch quan trọng: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.”
Quy định hiện hành về tước quốc tịch
Theo quy định tại Điều 31 của Luật quốc tịch, hai nhóm chủ thể sau đây có thể bị tước quốc tịch:
“1. Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thể bị tước quốc tịch Việt Nam, nếu có hành vi gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Người đã nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 19 của Luật này dù cư trú ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam cũng có thể bị tước quốc tịch Việt Nam, nếu có hành vi quy định tại khoản 1 Điều này.”
Phân tích pháp lý
Giả định rằng quyết định tước quốc tịch Việt Nam của công dân Phạm Minh Hoàng đã được Chủ tịch nước Trần Đại Quang ký ban hành vào ngày 17/5/2017 như thông báo của ông Tổng Lãnh sự Pháp. Tuy chưa ai trực tiếp nhìn thấy bản quyết định đó, một điều chắc chắn rằng mọi quyết định tước quốc tịch Việt Nam đều phải dựa vào các căn cứ pháp lý quy định tại Điều 31 của Luật quốc tịch.
Do đó, vấn đề pháp lý chính trong trường hợp anh Phạm Minh Hoàng là anh thuộc diện nào trong hai nhóm chủ thể có thể bị tước quốc tịch nêu trên. Hãy phân tích từng nhóm chủ thể đó để xác định sinh mệnh pháp lý của anh Hoàng ra sao.
Thứ nhất, nhóm chủ thể theo Khoản 1 của Điều 31
Đây là nhóm các “công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài”. Như vậy, nhóm này có hai yếu tố nhận diện bắt buộc: (1) [là] công dân Việt Nam; và (2) [phải] “cư trú ở nước ngoài”.
Công dân Việt Nam được xác định là người có quốc tịch Việt Nam, như Điều 17 Hiến pháp và Điều 5 Luật quốc tịch quy định. Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 3 của Luật quốc tịch giải thích cụ thể như sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.” Như vậy, yếu tố cư trú “lâu dài” ở nước ngoài rất quan trọng.
Anh Phạm Minh Hoàng là công dân Việt Nam, từng có thời gian sinh sống và làm việc lâu dài ở Pháp. Tuy nhiên, từ 10 năm nay, anh đã hồi hương theo luật định và được nhà nước Việt Nam chấp thuận cho giữ quốc tịch Việt Nam, cấp giấy Chứng minh Nhân dân dành cho người cư trú tại Việt Nam và, quan trọng nhất, cho anh nhập hộ khẩu thường trú tại nhà riêng anh ở quận 10, TPHCM.
Nói cách khác, anh Phạm Minh Hoàng là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, chứ không thuộc nhóm chủ thể “công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài”. Một khi đã xác định anh Hoàng không thuộc nhóm chủ thể này về hình thức, thì không cần xét tiếp đến việc anh “có hành vi gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” hay không.
Thứ hai, nhóm chủ thể theo Khoản 2 của Điều 31
Đây là nhóm “người đã nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 19 của Luật [quốc tịch] này dù cư trú ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam.”
Khoản 1, Điều 19 của Luật quốc tịch quy định như sau: “Công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện sau đây […].”
Như vậy, người xin nhập quốc tịch Việt Nam chỉ có thể là công dân nước ngoài và người không quốc tịch. Sinh ra đã là người Việt Nam, vẫn giữ quốc tịch Việt Nam (dù có thêm quốc tịch nước ngoài), chưa từ bỏ quốc tịch Việt Nam, thì không cần phải xin nhập tịch Việt Nam. Trên thực tế, anh Phạm Minh Hoàng chưa từng xin nhập tịch Việt Nam theo Điều 19 của Luật quốc tịch, trái lại anh chỉ xin hồi hương và được nhà nước Việt Nam chính thức xác nhận rằng anh vẫn giữ (chứ không phải được nhập) quốc tịch Việt Nam.
Nói cách khác, anh Phạm Minh Hoàng đang là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, chứ không thuộc nhóm chủ thể “người đã nhập quốc tịch Việt Nam.” Cũng như trên, một khi đã xác định anh Hoàng không thuộc nhóm chủ thể này về hình thức, thì không cần xét tiếp đến việc anh “có hành vi gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” hay không.
Nhà nước Việt Nam có thể trục xuất công dân Việt Nam khỏi lãnh thổ Việt Nam?
Hiến pháp quy định tại Khoản 2 của Điều 17 như sau: “Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.”
Như vậy, bất kể việc công dân Việt Nam (dù đang thường trú tại Việt Nam hay định cư ở nước ngoài) đã hoặc đang “có hành vi gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, nhà nước Việt Nam hoàn toàn không có quyền trục xuất công dân mình sang nước khác, hoặc không cho họ nhập cảnh vào lãnh thổ Việt Nam.
Mọi hành vi vi phạm pháp luật, nếu có, của công dân phải được xử lý theo quy định luật pháp có liên quan, chứ không bằng giải pháp trục xuất. Cần lưu ý rằng, kể cả trong trường hợp tước quốc tịch đúng luật theo Điều 31 của Luật quốc tịch, thì hệ quả pháp lý đương nhiên theo đó cũng không phải là trục xuất đương sự khỏi Việt Nam.
Có cần thiết từ bỏ quốc tịch Pháp để giữ quốc tịch Việt Nam hay không?
Như đã nêu trên, Điều 4 của Luật quốc tịch khẳng định một nguyên tắc quốc tịch quan trọng: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.”
Như vậy, bất kể công dân Việt Nam có bao nhiêu quốc tịch nước ngoài, nhà nước Việt Nam chỉ công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam mà thôi. Chính vì nguyên tắc này nên nhà nước Việt Nam không có quyền gán cho công dân Việt Nam đang thường trú tại Việt Nam hành vi xâm phạm an ninh quốc gia để rồi đương nhiên tước quốc tịch và trục xuất họ sang nước khác.
Do đó, việc anh Phạm Minh Hoàng tuyên bố từ bỏ quốc tịch Pháp nhằm đặt nhà nước Việt Nam vào tình huống pháp lý không thể tước quốc tịch Việt Nam của anh có thể khẳng định là không cần thiết, bởi lẽ dù công dân Việt Nam có hai quốc tịch trở lên, đối với nhà nước Việt Nam người ấy vẫn chỉ có một quốc tịch duy nhất, đó là quốc tịch Việt Nam.
Anh Phạm Minh Hoàng không thuộc hai nhóm chủ thể có thể bị tước quốc tịch Việt Nam như quy định tại Điều 31 của Luật quốc tịch, thì dù anh muốn tiếp tục duy trì quốc tịch Pháp hay nhận thêm nhiều quốc tịch khác nữa, nhà nước Việt Nam cũng không có quyền tước quốc tịch Việt Nam của anh trong mọi trường hợp, trừ phi họ hành động bất chấp luật pháp.
Kết luận
Vì thông tin về quyết định tước quốc tịch Việt Nam của công dân Phạm Minh Hoàng do Chủ tịch nước Trần Đại Quang ký ban hành vào ngày 17/5/2017 vẫn chỉ là giả định do chưa ai nhìn thấy, nên từ những phân tích pháp lý trên đây, tôi hoàn toàn không nghĩ rằng thông tin đó là xác thực.
Trong tư cách là Chủ tịch nước kiêm Trưởng Ban cải cách tư pháp trung ương, ông Trần Đại Quang chắc chắn không thể hành động sơ suất như thế khi ban hành một quyết định vi phạm các nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp và luật pháp về quốc tịch.
Nếu quả thật ông đã lỡ ký ban hành quyết định vi hiến và vi luật đó, thì trong lúc chưa ai kịp thấy mặt mũi của nó, ông nên lặng lẽ hủy ngay và cho thi hành kỷ luật đối với kẻ đã tư vấn hoặc yêu cầu ông làm như vậy.
Quốc tịch là một vấn đề hệ trọng vì nó thể hiện mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước và công dân. Vi phạm các nguyên tắc pháp lý cơ bản về quốc tịch và xâm phạm quyền công dân hợp pháp của người mang quốc tịch Việt Nam có thể khiến Chủ tịch nước Trần Đại Quang đánh mất uy tín chính trị và hình ảnh của một nhà cai trị công minh, mà ông đang gầy dựng và đã đạt nhiều ưu thế vượt trội so với các đối thủ của mình.
Tước quốc tịch Việt Nam và trục xuất Phạm Minh Hoàng khỏi Việt Nam sẽ tạo nên một tiền lệ pháp lý nguy hiểm, đó là 91 triệu công dân Việt Nam đều cùng ở trong tình huống có thể bị tước quốc tịch Việt Nam và trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam bất cứ lúc nào. Tiền lệ này tuy bất khả thi, nhưng chắc chắn sẽ gây thêm nhiều bất ổn xã hội, vì tính tùy tiện trong việc áp dụng luật và thiếu thượng tôn pháp luật trong hoạt động cai trị của nhà cầm quyền.
ĐẠI BIỂU ĐẶNG THUẦN PHONG NÓI THẲNG DÂN ĐANG BẤT AN vì tham nhũng nhiều, rừng sắp hết, biển gần chết …
“Thực tế rất đau lòng, trong bụng mẹ đã chạy chỗ sinh đẻ. Học phổ thông các cấp, vào đại học cũng phải chạy trường chạy lớp. Rồi chạy chỗ, chạy chức, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển. Vi phạm pháp luật thì chạy điều tra, truy tố, chạy án thậm chí chạy khỏi Tổ quốc đến nơi Việt Nam chưa ký kết về dẫn độ tội phạm để an thân”.
“Đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số không có trong khi nông lâm trường hoạt động kém hiệu quả, chính sách rải thảm và sử dụng lao động giá rẻ, kêu gọi đầu tư thiếu trách nhiệm, biến Việt Nam thành bãi rác công nghệ lạc hậu”.
“Đừng vì tâm tưởng tức thì mà buông bỏ tương lai dân tộc, tiền có nhiều đến đâu đi nữa cũng không mua được môi trường tươi đẹp đã mất và đang mất”.
“Bữa cơm trong nhà cũng cũng lo vì an toàn vệ sinh thực phẩm. Ra đường thì sợ an toàn giao thông, gặp chuyện bất bình thì không dám can thiệp vì sợ vạ lây”.
“Mọi thứ đều do người Việt hại người Việt và từng bước biến sự vô cảm thành vấn đề đạo đức ứng xử đạo giữa người với người” …
Tác giả 2 bài thơ do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc Kiếp Nào Có Yêu Nhau Đừng Bỏ Em Một Mình
đã vĩnh viễn ra đi hôm nay Thứ sáu ngày 9 tháng 6 năm 2017 tại Quận Cam (california)
Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1930 tại Huế. Bà định cư tại quận Cam từ năm1982.
Sau ngày Miền Nam rơi vào tay cộng sản Bắc Việt, Bà trở lại Paris, nổ lực tranh đấu cho những văn, thi nghệ sĩ bị cộng sản cầm tù. Bà cũng là người đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhân là hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1979.
Mỹ tài trợ 15,5 triệu đôla cho Đại học Fulbright Việt Nam
10/06/2017
Tin tức: http://www.facebook.com/VOATiengViet, http://www.youtube.com/VOATiengVietVideo, http://www.voatiengviet.com. Nếu không vào được VOA, xin các bạn hãy vào http://vn3000.com để vượt tường lửa.
Chính phủ Hoa Kỳ vừa chính thức tài trợ 15.5 triệu đôla cho Đại học Fulbright Việt Nam (FUV), một trường đại học tự trị, phi lợi nhuận và theo mô hình giáo dục của Mỹ đầu tiên được thành lập tại Việt Nam. Đại sứ Mỹ Ted Osius công bố khoản tài trợ trị giá 7.2 triệu đô do Cơ quan Viện trợ Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) cấp cho FUV trong ba năm tại một buổi lễ tổ chức ở Trung tâm Hoa Kỳ, tp. HCM hôm 6/6. Khoản tài trợ này sẽ giúp FUV xây dựng chính sách tuyển sinh, các thủ tục hỗ trợ tài chính và học bổng, cũng như mở rộng số lượng sinh viên, theo FUV.
Thanh tra “siêu dinh cơ” giám đốc Sở TN-MT Yên Bái
RFA 2017-06-09
Một góc dinh cơ của Giám đốc Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Yên Bái.
Courtesy of laodong.com.vn
Thanh tra tỉnh Yên Bái vừa ra quyết định hôm 9/6 về việc thanh tra đất đai, việc cấp phép và xây dựng ‘siêu dinh cơ’ đối với gia đình bà Hoàng Thị Huệ, vợ ông Phạm Sỹ Quý, Giám đốc sở Tài nguyên-Môi trường tỉnh Yên Bái.
Báo trong nước cùng ngày loan tin cho biết các đối tượng bị thanh tra bao gồm UBND TP. Yên Bái, bà Hoàng Thị Huệ và các cơ quan liên quan. Thời gian thanh tra được nói là từ năm 2015 trở lại đây, thời hạn là 45 ngày và nội dung thanh tra không giới hạn trong quyết định.
Cũng theo quyết định, UBND tỉnh Yên Bái đề nghị các cơ quan báo chí không đưa tin về vụ việc trên trong thời gian này để việc thanh tra được hiệu quả, nói thêm rằng sẽ được công bố với báo chí khi có kết quả.
Xin được nhắc lại, mấy ngày nay dư luận xôn xao về quần thể biệt thự sang trọng trên khu đất rộng 13.000 m2 vốn là đất rừng và nuôi trồng thủy sản thuộc gia đình ông Giám đốc Sở Tài nguyên- Môi trường tỉnh Yên Bái.
Trong một diễn biến khác có liên quan, đại biểu quốc hội Nguyễn Bá Sơn ngày 9/6 đã yêu cầu Chính phủ giải trình vấn đề các lô đất được gọi là ‘vàng’ thế nhưng bị định giá thấp rồi sau đó bán ra với giá cao ngất ngưởng mà không rõ nguyên nhân.
Ngày 9 tháng 6 cũng là hạn chót 45 ngày điều tra vụ đất đai ở Đồng Tâm mà chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội hứa với dân địa phương. Vụ việc được nhiều người biết đến khi dân làng Đồng Tâm bắt giữ cán bộ, cảnh sát cơ động và đến khi chủ tịch Nguyễn Đức Chung trực tiếp về làng đối thoại thì dân mới thả người bị giữ ra.
Quân đội Philippines ngày 9/6 đã yêu cầu Facebook khóa hàng chục tài khoản có liên quan đến phiến quân Hồi giáo trong vụ tấn công thành phố Marawi vì cho rằng các tài khoản này đang được sử dụng với mục đích tuyên truyền.
Hãng tin AFP dẫn lời phát ngôn viên quân đội Trung tá Jo-ar Herrera tại một cuộc họp báo ở thành phố Marawi cho biết họ đã phát hiện ra 63 tài khoản Facebook liên quan đến phiến quân, nói thêm rằng những tài khoản như thế có thể ảnh hưởng đến suy nghĩ của người dân Philippines.
Xin nhắc lại mới hôm 7/6 Philippines cũng yêu cầu các công ty truyền thông xã hội bao gồm cả Facebook gỡ bỏ một đoạn video có cảnh các chiến binh đập phá, xúc phạm các biểu tượng thiêng liêng tại một nhà thờ Công giáo vì e ngại rằng có thể gây ra thù hằn và chiến tranh tôn giáo.
Bộ Thông Tin Và Truyền Thông CSVN vừa đề nghị mức phạt tới 2,200 Mỹ kim đối với những người dùng mạng xã hội Facebook nào đăng tải nội dung bị cho là “có hại”.
Theo báo mạng VnExpress hôm Thứ Năm 8 tháng 7, mức phạt này tương đương với số tiền lương trung bình trong một năm của người dân Việt Nam.
Ông Lê Quang Tự Do, một giới chức của Bộ Thông Tin cho biết gần đây thường có nhiều người lên tiếng về những chính sách siết chặt tự do thông tin trên mạng, đề nghị này được đưa ra để ứng phó với sự tăng trưởng nhanh chóng, và ảnh hưởng ngày càng lớn của các mạng xã hội ở Việt Nam.
Theo báo Tuổi Trẻ trong cùng ngày Thứ Năm, dự thảo nghị định đề ra mức phạt từ 20 đến 30 triệu đồng đối với người sử dụng mạng xã hội có hành vi tiết lộ bí mật đời tư hoặc “bí mật khác” khi chưa được sự đồng ý của cá nhân hoặc tổ chức có liên quan. Các hành vi khác có thể bị phạt theo nghị định này bao gồm: miêu tả tỉ mỉ hành động dâm ô, chém giết, tai nạn rùng rợn trong các tin bài, phim, ảnh, cung cấp thông tin không hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam…
Việt Nam hiện có 49 triệu người sử dụng Internet, chiếm hơn nửa dân số, và hơn 45 triệu trương mục truyền thông xã hội. Facebook là mạng xã hội thịnh hành nhất, với khoảng 35 triệu người sử dụng.
Hồi tháng Tư năm nay, một đại diện của Facebook đã đến Việt Nam, và cam kết hợp tác với nhà cầm quyền nhằm ngăn chặn những nội dung “xấu, độc” trên mạng xã hội.