Bế tắc và lối thoát

Bế tắc và lối thoát

Kính Hòa, phóng viên RFA

 RFA

Hội nghị trung ương lần thứ tư, khóa 12 của đảng cộng sản Việt Nam hôm 5/11/2016 tại Hà Nội.

Hội nghị trung ương lần thứ tư, khóa 12 của đảng cộng sản Việt Nam hôm 5/11/2016 tại Hà Nội.

Courtesy chinhphu.vn

Bế tắc và lối thoát

03:16/09:55

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh 

Cuộc chiến chống tham nhũng bất khả thi

Nghị quyết của hội nghị trung ương lần thứ tư, khóa 12 của đảng cộng sản Việt Nam tập trung vào lời kêu gọi chống tham nhũng và xây dựng đảng.

Nhiều blogger hoài nghi về chuyện chống tham nhũng của đảng cộng sản từ bấy lâu nay. Ông Nguyễn Phú Trọng lại như châm dầu vào ngọn lửa hoài nghi vẫn âm ỉ này khi ông lại nói rằng chống tham nhũng của đảng chính là chống lại đảng. Nguyên văn lời ông là ta lại đánh ta.

Blogger Siêu Hình trình bày trên trang Dân Luận lý do tại sao đảng cộng sản Việt Nam không thể chống tham nhũng được:

Từ sự tuyển chọn, kết nạp cho đến giám sát thẩm tra đều một tay các ban bệ cơ quan của Đảng Cộng sản thực hiện, sự thống nhất quyền lực không chấp nhận phân quyền đã làm cho cả hệ thống chính trị phải ôm đồm hết tất cả công việc.Chính vì không có sự phân quyền, giám sát đối trọng lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực và các ban bệ cơ quan mà còn tập trung tất cả vào tay một Đảng nên sự giám sát này mang tính thi hành mệnh lệnh tuyệt đối từ cấp trên mà cấp trên này dù gì đi nữa cũng là chịu sự chỉ huy và chịu trách nhiệm đối với Đảng, mà đặc thù trong các quốc gia Cộng sản thì đã từng có quá khứ chuyên chính tuyệt đối mà ở đó mệnh lệnh chính trị từ Đảng có thể chi phối bất cứ công việc gì.

Cũng trên trang Dân Luận, tác giả Lã Yên phân tích thêm sự lạm quyền trong hệ thống cai trị độc đảng tại Việt Nam hiện nay:

Quyền hạn nhiều, trình độ có thấp lại không được giám sát, dễ sinh ra thói tự tung tự tác. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến việc lạm quyền ngày càng tăng. Do không hiểu luật hoặc hiểu không rõ nên họ lạm dụng quyền lực một cách hiển nhiên, tự cho mình cái quyền xâm hại nhân phẩm, tính mạng người khác mà không mảy may suy nghĩ.

Quyền hạn nhiều, trình độ có thấp lại không được giám sát, dễ sinh ra thói tự tung tự tác. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến việc lạm quyền ngày càng tăng.
– Lã Yên

 Một blogger người Mỹ viết tiếng Việt là giáo sư Jonathan London viết rằng ông hoài nghi khả năng chống tham nhũng của Việt Nam nếu vẫn không có cải cách gì ở phương cách của tầng lớp lãnh đạo vẫn thực hiện từ trước đến nay trong việc quản trị đất nước:

Xin lỗi nếu tôi còn hơi hoài nghi về khả năng rằng ‘bệnh tham nhũng’ có thể được đề cập một cách hữu hiệu chỉ hoặc chủ yếu bằng việc điều chỉnh, tự phê bình  như bao nhiêu thập kỳ trước. Có vẻ phải có một cơ chế để giám sát quyền lực công khai hơn. Có vẻ phải có một nền báo chí độc lập và chuyên nghiệp hơn.

Lời đề nghị của vị giáo sư Mỹ chỉ được viết ra vài ngày trước khi tổ chức Phóng viên không biên giới xếp người đứng đầu đảng là ông Nguyễn Phú Trọng vào một danh sách 35 người là kẻ thù của tự do báo chí.

Trong khi đó thủ đô Hà Nội lại tổ chức một cuộc họp mặt lần thứ 18 của các đảng cộng sản trên toàn thế giới. Giáo sư Nguyễn Đình Cống bình luận về sự kiện này một cách trào phúng:

Nguyên Tổng bí thư ĐCSVN Nông Đức Mạnh (phải) ngồi trên một chiếc ghế chạm trổ đầu rồng màu vàng tại nhà riêng khi đã về hưu. Ảnh minh họa chụp trước đây. File photo

Có một việc rất nên làm mà không biết Bộ Chính trị, Ban Bí thư hoặc Ban đối ngoại Trung Ương có nghĩ ra không. Đó là mời các đại biểu đi thăm dinh thự của một số quan chức của Đảng, đã về hưu hoặc đang tại chức. Sau khi thấy được những dinh thự xa hoa, lộng lẫy của các vua chúa Cộng Sản, thấy được ngai vàng ở nhà ông này, tượng vàng ở nhà ông kia v. v… thì sự cảm phục, kính trọng Đảng Cộng Sản Việt Nam được nâng lên tầm cao, có thể tinh thần và quyết tâm làm cách mạng vô sản của các đại biểu sẽ được nâng lên trong chốc lát.

Hình ảnh mà giáo sư Cống đề cập về tài sản của các vị quan chức của đảng ngày càng được lưu truyền rộng rãi trên không gian mạng, trong đó tấm hình phòng tiếp khách sơn son thếp vàng của cựu Tổng bí thư Nông Đức Mạnh vẫn được xem như là hình ảnh tiêu biểu cho sự giàu sang của các qaun chức cộng sản Việt Nam.

Giáo sư Cống vốn là một đảng viên cộng sản, và đã tuyên bố từ bỏ đảng. Ông cũng là người viết rất nhiều bài trên các trang blog, và mạng xã hội, yêu cầu chấm dứt việc xem chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa độc tôn ở Việt Nam.

Dân trí và trách nhiệm của những người còn lại ngoài đảng

Một lý do thường được những người bảo vệ chế độ cai trị độc đảng đưa ra để duy trì chế độ ấy là cho rằng trình độ dân trí Việt Nam thấp, nếu mở rộng dân chủ, cạnh tranh đa đảng phải sẽ dẫn đến loạn lạc.

Luật sư Lê Luân đặt câu hỏi rằng ai là nguyên nhân cho cái gọi là dân trí thấp đó:

Ngược lại với họ, tôi chỉ cần đặt câu hỏi, dễ dàng nhận ra người ta đang nguỵ biện mà không biết, hoặc là để né tránh thực tế gốc rễ của nó.

Câu hỏi: Ai khiến cho dân trí thấp?

Giáo dục, do ai đặt ra và kiểm soát? Do ai định hướng và đào tạo? Do ai có quyền dạy, dạy gì và bác bỏ điều gì, nếu muốn?

Đó chính là chính quyền, nhà nước đang trị vì quốc gia ấy.

Nhưng ngoài trách nhiệm của chính quyền và nhà nước đang cai trị, nhà báo Trương Duy Nhất cho rằng còn có trách nhiệm từ sự cam chịu của dân chúng nữa. Trong bài viết về những cơn lũ đến hẹn lại lên tại miền Trung, ông đặt câu hỏi tại sao cả nhà nước và dân chúng cứ đặt ra những vấn đề lớn lao, còn chuyện giải quyết cụ thể nạn lũ lụt hàng năm lại chưa bao giờ được nói đến:

Tại sao không ai nghĩ tới điều này? Tại sao bao chục năm rồi, vẫn là những mái lá nhà tranh, những thôn làng ọp ẹp chỉ một cơn lũ thôi đã cuốn sạch sành sanh? Bao nhiêu nhiệm kỳ, bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu những chương trình mục tiêu mới cũ- cũ mới về nông thôn, những chương trình mục tiêu thiên niên kỷ gì đấy nữa… Những “đoàn tàu” mục tiêu với định hướng phát triển, phát triển định hướng gì đấy vẫn hùng hục lao về một nơi nào đó, rất xa xôi. Còn những vùng quê ấy, vẫn như bị bỏ rơi lại phía sau. Tài sản của nhiều hộ dân, hàng triệu triệu những hộ dân vùng lũ, vẫn không gì hơn ngoài mấy con bò. Một thùng mì tôm, mấy ổ bánh mỳ, với nhiều gia đình vẫn là nỗi khát khao.

Sống trong lũ, chết chìm trong lũ.

Chính phủ cam chịu. Dân tình cam chịu. Một dân tộc cam chịu. Loay hoay, xà quần trong lũ không ra lối thoát. Mặc cho lũ, kệ cho lũ. Cứ lũ xong – mì tôm cứu trợ. Lũ về – cứu trợ mì tôm. Không phải lũ chồng lên lũ, mà lũ chồng lên hết thế hệ này đến thế hệ khác.

Riết rồi quen. Quen đến mất quên cả khái niệm phản kháng, như một lẽ tự nhiên. Quen đến kiếp đời không nhận ra cái vận số cả dân tộc còn đang ngụp lặn chìm vùi trong một cơn lũ khác, đại lũ – Cơn lũ tư tưởng đục đắm tanh hôi, mà cứ tưởng “vĩ đại quang vinh”. Cơn lũ mà thế gian đều đã biết đạp qua, bỏ lại mình ta. Khi chới với nhận ra thì thiên hạ đã bơi xa, quá xa rồi.

Chúng ta chỉ trích đảng cộng sản Việt Nam yếu kém, không có khả năng cải cách, không có khả năng thay đổi. Nhưng hãy nhìn vào chính chúng ta để nói xem bản thân chúng ta có khả năng thay đổi hay không.
– Nguyễn Thị Từ Huy

 Khi chới với nhận ra thì thiên hạ đã đi xa quá rồi, câu cảm thán của nhà báo Trương Duy Nhất nhắc đến bài viết của nhạc sĩ Tuấn Khanh trước đó chưa lâu khi ông bình luận về giải Nobel văn chương năm nay được trao cho một nhạc sĩ hát rong Bob Dylan. Ông viết rằng thế giới đang vươn xa, tìm tòi những điều hay, trong khi Việt Nam vẫn loay hoay với những trận lụt ở thôn làng mà không có cách nào giải quyết được.

Luật sư Lê Luân cho rằng trách nhiệm của giới trí thức Việt Nam cũng rất nặng nề trong tình trạng tụt hậu của Việt Nam, trong tình trạng được cho là dân trí thấp của người Việt Nam:

Mà đến nay, ngay cả trí thức, nếu chính họ nói rằng dân trí thấp để đổ lỗi cho hiện trạng xã hội, thì bản thân họ là kẻ phải chịu trách nhiệm đầu tiên về hậu quả đó, bởi trách nhiệm của người trí thức là khai sáng, là đem đến cho người dân những giá trị nhận thức đúng và khai phóng họ khỏi những thứ hủ lậu, tụt hậu và xấu xa, dù họ trong chính quyền hay ở ngoài thực thể đó, thì việc để cho dân trí thấp thì họ không thể đứng ngoài công cuộc “dân ngu” đó được. Họ là thành phần phải cúi đầu đầu tiên mà nhìn lại và nhận lấy trách nhiệm đó về mình, vì rằng họ đã không thể đóng góp hay làm gì cho nhận thức của người khác, của xã hội, mà sau nửa thế kỷ họ vẫn vô tư đổ lỗi cho người khác về tình trạng dân trí thấp.

Trên bình diện cao hơn, blogger Nguyễn Thị Từ Huy tự hỏi chính mình và các tổ chức được gọi là bất đồng chính kiến với những người cộng sản hiện nay:

Chúng ta chỉ trích đảng cộng sản Việt Nam yếu kém, không có khả năng cải cách, không có khả năng thay đổi. Nhưng hãy nhìn vào chính chúng ta để nói xem bản thân chúng ta có khả năng thay đổi hay không, bản thân các tổ chức đang tồn tại có khả năng cải cách hay không, và chúng ta có khả năng hình thành các tổ chức mới hay không…

Nhạc sĩ Tuấn Khanh trong bày viết về quan hệ Việt Nam Trung quốc, có viết rằng tình cảnh của người Việt Nam đang thua thiệt người Trung quốc về nhiều mặt, đứng trước nguy cơ bị họ thống trị. Ông so sánh tình cảnh đó như đang ở trong một nồi nước sôi sùng sục, nhưng ông thì ông đã leo ra khỏi nó về mặt tâm thức, như nhiều người Việt Nam khác, và đó, theo ông là một niềm tin ở tương lai của dân tộc này:

Và tôi nhận thấy mình có một niềm tin mới, rằng sẽ không có một sự “trở về” hay “đi tới” nào cả. Dân tộc này, đất nước này không thể đi vào khốn khó, nếu người người cùng nuôi hy vọng và nhìn bằng sự thật về đất nước mình, dân tộc mình, và cùng nhau leo ra khỏi nắp nồi đóng kín đó, trước khi quá muộn.

Một luật sư người Việt sống ở Hà nội là ông Hirota Fushihara viết bằng tiếng Việt một cách dí dỏm rằng nếu cách đây mấy mươi năm ông thường xuyên bị theo dõi khi sống ở Hà nội vì đảng sợ diễn biến hòa bình, thì bây giờ ông không còn bị theo dõi nữa, mà lại học được một từ mới là tự diễn biến. Đối với ông, học được từ mới đó là đón chờ một thời đại mới.

Thảm họa Formosa và thảm họa BP: So sánh để học kinh nghiệm

Thảm họa Formosa và thảm họa BP: So sánh để học kinh nghiệm

Trà Mi-VOA

clip_image001

Sự cố Formosa đã khiến cá chết hàng loạt ở miền trung Việt Nam.

Thảm họa môi trường biển chưa từng thấy trước nay tại Việt Nam do Formosa gây ra hồi tháng 4 khiến người ta nhắc nhớ thảm họa môi trường biển lớn nhất lịch sử Mỹ trong vụ tràn dầu của công ty BP cách đây 6 năm.

Cả hai cùng là khủng hoảng do con người gây ra, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế, sức khỏe, đời sống của nhiều thế hệ và tương lai môi trường.

Tuy nhiên, có những khác biệt rất rõ nét về cách giải quyết giữa hai vụ việc, dẫn đến những kết cục khác nhau.

Một nhà hoạt động pháp lý từng tích cực hỗ trợ vô số ngư dân gốc Việt tại các bang duyên hải bị ảnh hưởng trong vụ tràn dầu BP tại Mỹ năm 2010 phân tích những điểm khác biệt này để nêu lên những cách xử lý Việt Nam nên học hỏi, áp dụng vào sự cố Formosa.

Ngoài việc giúp đỡ pháp lý cho hàng trăm người Mỹ gốc Việt trong thảm họa môi trường BP, luật sư Phan Quốc Cường còn tham gia vận động chính sách và điều trần tại Quốc hội, kêu gọi bảo vệ quyền lợi cho các nạn nhân bị thiệt hại.

Trong cuộc trao đổi với Tạp chí Thanh niên VOA, vị luật sư trẻ dấn thân vì cộng đồng nhìn lại vụ tràn dầu BP để chia sẻ kinh nghiệm với các đồng nghiệp trong nước nhân thảm họa Formosa.

clip_image002

Vụ tràn dầu của công ty BP cách đây 6 năm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.

LS Quốc Cường: Chúng ta có thể thấy rằng, thứ nhất, phản ứng của chính quyền rất khác biệt. Sau vụ tràn dầu tại Louisiana, chính phủ Mỹ ngay lập tức cho lực lượng cứu hộ tham gia. Hai, ba tháng sau, họ vận động hàng trăm ngàn người tham gia vào lực lượng cứu hộ, làm sạch môi trường. Thông tin báo chí, tự do báo chí giúp người dân cả nước biết rõ về những diễn biến mới nhất. Còn tại Việt Nam, báo chí [bị] cấm đả động tới hoặc bị bưng bít. Một số bài tường thuật nêu lên một số ý kiến về luật pháp hoặc bảo vệ người dân đòi thiệt hại thì ngay lập tức bị áp lực lấy xuống. Cần hiểu rõ vụ tràn dầu ở Louisiana là một sự bất cẩn và tắc trách. Hệ thống họ sử dụng bất thình lình không hoạt động đúng mới xảy ra sự cố này. Hoàn toàn không có sự biết rõ của chính phủ hay dự tính của công ty đổ chất độc ra biển. Hai cách cư xử rất khác nhau vì hệ thống tư pháp và cách hành xử của chính phủ hai nước cũng rất khác nhau. Một bên có luật bảo vệ môi trường rất nghiêm ngặt. Còn một bên biết rõ hoặc cố tình để cho công ty đó xả thẳng chất độc ra biển. Đó chính là hành vi mang tính hình sự. Một hành vi bất cẩn bên Mỹ cũng đã khiến cho hãng dầu BP chịu trách nhiệm về hình sự lẫn dân sự, phải bồi thường cho chính phủ rồi chịu trách nhiệm trực tiếp với mỗi người dân, doanh nghiệp trên khắp 5 tiểu bang bị ảnh hưởng và trên toàn nước Mỹ. Nếu so sánh, thật sự sự cố tình vi phạm của Formosa và sự hợp tác của chính phủ Việt Nam lớn hơn rất nhiều so với lỗi của BP.

Trà Mi: Trở lại vụ BP 6 năm trước, lúc đó chính phủ Mỹ có vụ kiện riêng và những người dân bị ảnh hưởng có những vụ kiện riêng, thưa luật sư?

LS Quốc Cường: Đúng vậy. Bộ Tư pháp Hoa Kỳ chính thức khởi đơn kiện BP. Song song đó, họ cũng truy tố hãng BP ra tòa về trách nhiệm hình sự. Sau đó, BP phải gấp rút chi ra hàng chục tỷ đô la bồi thường cho các cấp từ thành phố, thị xã, tiểu bang cho đến liên bang. Rất nhiều cơ quan chính phủ Hoa Kỳ đã kiện BP. Cho đến thời điểm này, 6 năm sau, vẫn còn một số vụ chưa giải quyết xong.

Trà Mi: Đó là tổng cộng chi phí họ phải tiêu tốn 54 tỷ đôla?

LS Quốc Cường: Mình nghĩ số đó sẽ tiếp tục tăng vì tới hôm nay quá trình kiện tụng vẫn tiếp diễn, và dĩ nhiên, thảm họa vẫn còn hậu quả kéo dài. Ngoài ra, còn chi phí mà họ phải làm sạch dầu trong mấy chục dặm biển cũng rất tốn kém.

Trà Mi: Trong vụ đó, ông đã can thiệp và hỗ trợ cho những thành phần nào và các vụ kiện đó thành quả ra sao?

LS Quốc Cường: Sự tham gia của mình trong hai vai trò, trong hai thời gian khác nhau. Thứ nhất, một-hai tuần sau vụ nổ giàn khoan Deepwater Horizon ngày 20/4, khoảng đầu tháng 5, BPSOS, một tổ chức của người Mỹ gốc Việt, cử mình trong tư cách một luật sư cộng đồng xuống dưới đó giám sát tình hình. Rất đông cộng đồng Việt Nam ở các làng duyên hải trên khắp các tiểu bang từ Texas, Louisiana, Mississippi, Florida, tới Alabama. Ở 5 tiểu bang này, số ngư phủ Việt tại các làng duyên hải lên tới hàng chục ngàn người. Chúng tôi, một tổ chức cộng đồng, có tổ chức những nỗ lực trực tiếp kéo dài từ tháng 6 đến hơn 1,5 năm về sau. Mình đưa phẩm vật thiện nguyện từ khắp nơi về, đưa các kế toán viên về đó giúp bà con tiến hành việc bảo vệ quyền lợi về pháp lý và tài chính. Mình cũng giúp đưa những các chuyến thực phẩm cứu trợ bằng cách hợp tác với các cơ quan chính phủ Mỹ và các tổ chức thiện nguyện Mỹ, đưa các phái đoàn y bác sĩ về đó giúp bà con. Mình cũng vận động chính sách tại các cấp Thống đốc và dân cử địa phương. Mình cũng tổ chức các phái đoàn của người Mỹ gốc Việt lên tận Washington DC để điều trần tại Quốc hội Mỹ về quyền lợi và cuộc sống của người dân đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng thế nào. Sau này, khi tôi ra hành nghề tư nhân, trong tư cách luật sư tư nhân, mình đại diện cho bà con và các doanh nghiệp nhỏ bị thiệt hại để đòi bồi thường. Tới lúc này, phần lớn bà con ngư phủ mà tôi đại diện đã được bồi thường qua nhiều đợt, bây giờ vào giai đoạn cuối.

Trà Mi: Trong vụ Formosa ở Việt Nam, chính phủ đã nhận 500 triệu đôla bồi thường, chưa nói đến phí tổn dọn dẹp, phục hồi bao nhiêu, chưa kể đến bao nhiêu người bị thiệt hại đã bị trả đơn kiện. Trong lúc này, những nạn nhân bị ảnh hưởng đó có thể làm gì?

LS Quốc Cường: Chính quyền Việt Nam vội vã tiến hành dàn xếp, thỏa thuận ngầm với Formosa để khỏa lấp vụ này. Một chính phủ được tạo ra để phục vụ dân, nhưng khi họ không hiểu hoặc quay mặt với quyền lợi của tập thể nhân dân, thì chính người dân phải đứng lên đòi công lý cho mình. Họ, các luật sư trong nước và người Việt khắp nơi trên thế giới cần phải tạo sự đồng nhất, hỗ trợ cho nhau để đòi quyền lợi cho các nạn nhân trực tiếp, không để chính phủ quyết định mọi chuyện mà bỏ rơi đi quyền lợi của dân. Họ phải sử dụng hệ thống tư pháp hiện tại, dù hệ thống đó không phải là độc lập. Đây là cơ hội để giới luật sư trẻ trong nước và thế hệ trẻ, vì quyền lợi người dân, đứng lên mở ra một mặt trận về pháp lý, truyền thông. Những người dân bé nhỏ với một hệ thống công lý và tư pháp không màng đến quyền lợi của họ trước một tập đoàn kinh doanh đa quốc như Formosa với sức mạnh kinh tế và quyền lực chính trị cùng với nền truyền thông bị kiểm duyệt bởi chính phủ và đảng, dân chỉ còn cách dựa vào nhau tạo ra sức mạnh và tiếng nói cho quyền lợi của mình.

Trà Mi: Trở lại vụ BP, lúc thảm họa xảy ra có các tập đoàn luật sư và giới chuyên môn tới giúp khảo sát thiệt hại ra sao?

LS Quốc Cường: Đã có rất nhiều phái đoàn luật sư thiện nguyện, Mỹ có, Việt có. Riêng tổ chức chúng tôi đã tổ chức trên 20 buổi hội thảo pháp lý miễn phí để các luật sư tham gia cùng nghiên cứu các luật lệ liên quan đến thảm họa này và cung cấp thông tin, giúp người dân hiểu rõ quyền của họ ra sao. Khi họ hiểu được quyền và cách đòi quyền lợi cho mình thì sự tự tin của họ cũng tăng lên kèm theo sự tin tưởng. Những buổi hội thảo pháp lý đó cộng với các phương tiện truyền thông độc lập, với vận động chính phủ. Bên này, chính phủ đáp ứng nhanh chóng trước áp lực quần chúng. Còn bên Việt Nam, đòi hỏi bà con phải can đảm và kiên nhẫn, phải dám chấp nhận sự trừng phạt, cô lập, hay đàn áp của chính phủ.

Trà Mi: Các tổ chức luật sư thiện nguyện bên Việt Nam, dù họ muốn giúp đỡ, nhưng khả năng hạn hẹp, không đủ kinh phí cũng là một trở ngại. Luật sư nghĩ sao?

LS Quốc Cường: Do đó cần sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, nhất là cộng đồng người Việt ở hải ngoại, giúp họ vượt qua trở ngại này. Ví dụ, các luật sư ngoài nước liên kết với các luật sư trong nước, cung cấp tài liệu pháp lý liên quan. Cũng có thể tạo ra những đợt gây quỹ. Nếu truyền thông trong nước cô lập, thì hôm nay chúng ta có Facebook và internet khuyếch trương tiếng nói của các xã hội dân sự đang đại diện cho bà con.

Trà Mi: Trong vụ BP, khi khảo sát, thống kê thiệt hại có biết bao nhiêu nạn nhân mà lực lượng thiện nguyện thì có giới hạn, làm thế nào xoay sở?

LS Quốc Cường: Mình thường xuyên theo dõi các cuộc điều tra do chính phủ và các ủy ban độc lập họ tiến hành. Lúc đó có rất nhiều cơ quan chính phủ, hành pháp, họ tiến hành điều tra độc lập, song song với nhau. Bên lập pháp cũng có những ủy ban độc lập do Quốc hội lập ra. Về phía tư nhân, cũng có rất nhiều tổ chức thiện nguyện trong xã hội dân sự họ tham gia điều tra. Thậm chí các tờ báo lớn có khả năng, họ cũng tiến hành các cuộc điều tra riêng của họ. Cho nên, về thông tin, rất rõ ràng. Ngoài ra còn có nhiều cơ quan, hội nhóm bảo vệ môi trường tham gia. Khi các cuộc điều tra khảo sát kết thúc với kết quả rõ ràng, chính phủ mới có dữ kiện đầy đủ để minh bạch với quần chúng số tiền đòi bồi thường và trừng phạt là bao nhiêu. Khi chính phủ chấp nhận số tiền đó rồi, cũng không thể cấm đoán người dân theo đuổi những vụ kiện riêng của họ. Ở Việt Nam, cá chết trắng các tỉnh duyên hải, ngư dân không có việc làm, mà họ còn nói không đủ bằng chứng thiệt hại thì mình không hiểu đâu là bằng chứng về tư cách đạo đức, về trách nhiệm phục vụ công lý và phục vụ quyền lợi nhân dân. Hy vọng ngày càng có nhiều người nhận thức được sự thật chua chát đó mà hành động, khiến chính phủ phải thay đổi tích cực. Mọi thảm họa hay thử thách đi kèm với cơ hội, cơ hội tạo nội lực sức mạnh, cơ hội hội tụ xung quanh những người có năng lực, gầy dựng lại với nhau tạo tiếng nói đòi công lý. Cho nên, trong thời gian tới, đáp án không nằm nơi chính quyền Việt Nam. Sự thay đổi phải đến từ xã hội dân sự. Các tổ chức luật sư đoàn cần lên tiếng. Chúng ta cần thấy sự phát triển ngày càng mạnh của xã hội dân sự, nhất là trong vụ Formosa. Sự ủng hộ của người Việt khắp nơi và của các luật sư đoàn quốc tế cũng hết sức quan trọng, mang lại những ủng hộ tinh thần, vật chất cần thiết cho các luật sư trong nước.

Trà Mi: Nếu người dân Việt Nam kiện Formosa tại Việt Nam không thành, họ có thể kiện ở Đài Loan, quê nhà Formosa, hay kiện ra tòa quốc tế chăng?

LS Quốc Cường: Cũng cần giới luật sư Đài Loan tư vấn xem có thể tiến hành kiện tại Đài Loan hay không. Cũng có một số tòa án quốc tế giải quyết các vấn đề tranh chấp về thiệt hại kinh tế, tuy nhiên, cần sự hợp tác và ý thức của chính phủ Việt Nam vì phần lớn các tranh chấp môi trường ở quốc tế là giữa các chính phủ với nhau.

Trà Mi: Chân thành cảm ơn luật sư Phan Quốc Cường về những thông tin vừa chia sẻ.

Nguồn: http://www.voatiengviet.com/a/tham-hoa-formosa-va-tham-hoa-bp-so-sanh-de-hoc-kinh-nghiem/3581430.html

Thiên tai hay nhân hoạ

Thiên tai hay nhân hoạ

khat-vong-bay-len

Trần Nhật Phong (Danlambao) – Chọn lựa cơ chế nào là do chính các bạn quyết định, không ai quyết định cuộc đời của bạn và con cháu của các bạn cả, trừ phi các bạn “hèn”, “buông xuôi”, “mặc cho số phận”, để những kẻ khác thao túng cuộc sống của các bạn và chính con cháu của các bạn, muốn con cháu các bạn có đời sống như chúng tôi và con cháu chúng tôi, các bạn phải tự mình tranh đấu, hy vọng các bạn đã nhìn ra sự bất công các bạn đang chịu đựng, và được che đậy bằng cái gọi là “thành quả rực rỡ của cách mạng”, để các bạn hiểu rõ, mảnh đất các bạn đang sinh sống, những con người đang sống trên mảnh đất đó, đang bị sự khinh bỉ, dè bỉu của cả cộng đồng quốc tế, chứ không phải như chiếc bánh vẽ mà các bạn tưởng là “mảnh đất đáng sống” đâu.
*

Nhiều bạn trẻ lại inbox cho tôi, so sánh những thiên tai ở Hoa Kỳ với Việt Nam, cho rằng thiên tai thì không nơi nào tránh khỏi, và sự tàn phá của thiên tai ở Mỹ có khác gì ở Việt Nam đâu, sao cứ dùng chuyện này đề đả kích nhà nước?

Đúng chứ! Đã gọi là thiên tai thì làm sao tránh khỏi, nước Mỹ mà tôi đang sinh sống, ở California luôn phải đối diện với tiềm năng động đất, phải chịu đựng hạn hán trong nhiều năm dọc các bờ biển miền đông Hoa Kỳ, năm nào cũng phải đương đầu với các trận bão từ Đại Tây Dương, các tiểu bang trong lòng nước Mỹ như Kansas, Kentucky, có năm nào mà không bị tàn phá bởi những cơn lốc xoáy, các tiểu bang miền nam như Louisiana, Mississippi có năm nào mà không lụt lội.

Chính phủ của chúng tôi ứng phó như thế nào với những thiên tai nói trên? Họ đã làm rất nhiều việc để ứng phó, và tiền chính là từ nguồn thuế của chúng tôi đóng hàng năm, hàng tháng, chính phủ chúng tôi không sử dụng tiền của dân chúng để xây tượng đài vô tội vạ, không sử dụng tiền thuế của chúng tôi để trả lương cho những nhân viên vô tích sự, không sử dụng tiền thuế của chúng tôi để… đi chữa bệnh ở nước ngoài.

Tại California, do đường nứt San Andre kéo dài từ khu sa mạc miền nam California đến tận San Francisco, chúng tôi luôn trong tình trạng xảy ra động đất bất cứ giờ phút nào, mà hàng năm vẫn có những trận động đất nhỏ diễn ra.

Để giảm thiểu về thiệt hại nhân mạng, chính phủ tiểu bang chúng tôi qui định, cất nhà không quá 3 tầng, muốn xây một cao ốc nhiều tầng, bản vẽ phải phù hợp các qui định trong đó bao gồm nền móng có thể chống nổi mức tương đối của động đất, các chất liệu xây dựng phải đúng qui định của chính phủ, để giảm bớt các tiềm năng nguy hiểm cho mạng sống con người, như sườn nhà bằng gỗ, vách nhà thông thường là tường bằng bột ép (dry wall). Còn nếu là các tòa nhà thương mại (commercial building), thì đòi hỏi các sườn nhà phải bằng thép (Stainless steel).

Mỗi dự án xây dựng, đều được chuyên viên của chính phủ đến kiểm tra, ví dụ xây nền móng, phải đúng qui định độ sâu bao nhiêu, dùng xi măng và cốt sắt như thế nào, đường ống thoát nước dơ và đường ống dẫn nước sạch ra sao? Hệ thống điện và Gas phải dùng nguyên liệu gì cho an toàn, đặc biệt là hệ thống gas, đòi hỏi mức an toàn cao một khi có động đất, nếu không đúng thì chuyên viên bắt buộc không ký giấy, và nếu họ không ký thì những bước xây dựng kế tiếp phải ngưng trệ.

Còn ở những tiểu bang nằm giữa Hoa Kỳ đối diện với những cơn lốc xoáy hàng năm, đa số nhà đều phải có hầm (basement), giúp cho người dân tránh những trận lốc xoáy mãnh liệt, có thể cuốn phăng đi những ngôi nhà.

Các tiểu bang miền nam thì nhà luôn có cột theo kiểu nhà sàn, và được xây cao hơn bình thường để giảm bớt những thiệt hại về lũ lụt, trong khi các tiểu bang bờ biển miền đông, chính phủ luôn dự trữ các bao cát, ván gỗ, cung cấp cho người dân mỗi khi sắp sửa có những trận bão đánh vào từ Đại Tây Dương.

Đó là những luật lệ qui định của chính phủ, nhằm giúp người dân giảm thiểu các thiệt hại nhân mạng, bên cạnh đó chính phủ còn khuyến khích người dân mua bảo hiểm cho các tài sản như nhà, đất đai, để khi có thiên tai, người dân được các hãng bảo hiểm bồi thường và họ có tài chánh để sửa sang lại.

Bên cạnh việc ứng phó với những thiên tai, chính phủ luôn có những luật lệ cứng rắn để đối phó với nhân họa. Đặc biệt là đối với môi trường sống của dân chúng Hoa kỳ luôn được chính phủ ưu tiên hàng đầu.

Các đạo luật gắt gao về ô nhiễm luôn được công chúng Hoa kỳ bỏ phiếu thông qua, nhằm tạo ra môi trường sạch sẽ hơn. Hàng trăm triệu chiếc xe phải tuân thủ luật kiểm soát khí thải của chính phủ (Smog check), các công ty công nghiệp nặng, phải tuân thủ những qui định nghiêm ngặt về xử lý những chất thải công nghiệp, muốn phát triển hay mở một công ty có tiềm năng gây nguy hại môi trường, những nhà đầu tư buộc phải chứng minh làm sao xử lý những chất thải công nghiệp, và cách xử lý có thuyết phục hay không? Nhiều khu vực các chính quyền địa phương phải mở ra nhũng cuộc họp khoáng đại, và tổ chức cho người dân bỏ phiếu là chấp thuận hay không? Đôi khi chính quyền địa phương chấp thuận, nhưng lại bị chính quyền tiểu bang hay liên bang phản đối thì dự án cũng không thực hiện được.

Bên cạnh những qui định nghiêm ngặt về môi trường, chính phủ luôn khuyến khích người dân trồng cây xanh nơi họ cư ngụ, đa phần các thành phố trên toàn quốc, đều qui định tối thiểu phải có 12% cây xanh trên tổng diện tích của một khu đất. Nhiều thành phố, nhất là những thành phố gần sa mạc, có cả chương trình tài trợ cho dân chúng trong kế hoạch trồng cây xanh, vừa có nguồn thu cho dân chúng về trồng trọt nông nghiệp, vừa tạo cho môi trường được tươi sạch cho tương lai.

Các dự án xây dựng thêm đường phố cũng vậy, những công ty trúng thầu đều phải chứng minh khả năng hoàn tất dự án của họ. Nơi tôi ở, vài năm trước đây, chính quyền quận có dự án mở rộng các xa lộ (freeway) để đáp ứng với nhu cầu ngày càng đông đúc cư dân, gây ra nạn kẹt xe. Họ buộc công ty trùng thầu dự án phải bảo đảm tiến độ xây dựng đúng thời hạn, và nếu bị trễ thì công ty này bị phạt lên đến một triệu Mỹ kim cho một ngày bị trễ hạn, và cứ thế nhân lên. Nhờ qui định nghiêm ngặt đó, mà những công ty trúng thầu không bao giờ dám trễ nải các dự án, khiến cho cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng, đó là chưa kể họ phải chứng minh nhiều thứ khác như nguồn tài chánh của dự án từ đâu trước khi được quận chi trả, các nguyên liệu được sử dụng trong dự án là gì, bảo đảm được bao nhiêu năm, nguồn gốc của nguyên liệu từ đâu v.v…

Bạn muốn xây dựng một khu đất trong thành phố thành một khu thương mại, ngoại trừ những qui định về an toàn như phòng chống động đất, phòng chống thiên tai, bạn còn phải trình lên bản vẽ sơ đồ, bạn xây càng lớn, càng nhiều thì qui định đòi hỏi cũng càng tăng theo, ví dụ bãi đậu xe đòi hỏi tối thiểu đậu được bao nhiêu chiếc, theo kích thước mà bạn muốn xây, 10 căn thì bao nhiêu chiếc xe có thể đậu, 20 căn thì bao nhiêu chiếc xe, không phải bạn muốn xây bao nhiêu là xây.

Để bảo đảm an toàn cho đời sống và môi trường của người dân, những cơ quan kiểm soát của chính phủ đều thuê mướn những chuyên gia làm việc, muốn trở thành chuyên gia của chính phủ, các bạn phải trải qua những cuộc phỏng vấn hay thi rất nghiêm ngặt, ngoại trừ những cuộc phỏng vấn hay thực hành để chứng minh khả năng, khi được nhận bạn sẽ có thời hạn 3 tháng để minh khả năng trước khi được nhận chính thức, trong thời gian 3 tháng đó bạn không chỉ chứng minh khả năng làm việc, mà còn thái độ làm việc hay cách ứng xử. Nhiều thành phố hay quận hạt, còn đòi kiểm tra hồ sơ cá nhân của bạn xem bạn có bị kỷ lục xấu hay không, nợ nần của bạn như thế nào, có ảnh hưởng đến công việc làm của bạn hay không, nhằm ngăn chặn những tiêu cực tham nhũng có thể xảy ra.

Mỗi khi thành phố hay quận hạt có việc làm mở ra (open job), thì có đến hàng ngàn lá đơn xin việc, bạn sẽ vượt qua tất cả những người khác để vào vị trí số 1 mới được thuê mướn, không có tình trạng “thẻ đảng” được ưu tiên nhé.

Vài năm trước đây, ở thành phố Garden Grove, ông thị trưởng có tên là Bruce Broad Water, dùng uy thế cá nhân của ông để can thiệp cho con trai ông được làm lính cứu hỏa, vì anh này đã không vượt được cuộc thi khảo hạch của sở cứu hỏa, kết quả không những anh chàng này không được nhận, mà ngay cả ông Broad Water cũng mất luôn chức thị trưởng thành phố về tay cho Bảo Nguyễn một ứng cử viên gốc Việt. Cho thấy trong xã hội minh bạch, việc bổ nhiệm hay thuê mướn nhân viên làm việc cho chính phủ, đều phải trải qua những cuộc khảo hạch gắt gao, không phải có “thẻ đảng” chống lưng là “đúng qui trình”.

Chính vì những minh bạch rõ ràng từ luật lệ, qui định mà nơi chúng tôi đang sinh sống, người dân an tâm và đặt niềm tin vào chính phủ, vì những luật lệ, qui định do chính người dân chúng tôi bỏ phiếu, và chúng tôi chịu trách nhiệm với những gì chúng tôi quyết định, không ai có thể áp đặt luật lệ cho chúng tôi. Do đó chúng tôi giảm được rất nhiều những thiệt hại từ “nhân họa”, và luôn đứng vững vàng trước các “thiên tai”.

Còn xứ sở mà các bạn đang sinh sống, luật lệ thì lỏng lẻo, lương chính phủ thì không đủ sống, con cái quan chức thì nhờ quan hệ leo lên ghế lãnh đạo ban ngành nhưng lại không có khả năng làm việc, các vị trí lãnh đạo ban ngành thì phải có “thẻ đảng”, dù bạn có tài năng cỡ nào, có bản lãnh cỡ nào cũng chỉ đứng khoanh tay chờ “lệnh”, các bạn không có cơ hội tạo ra sự thay đổi bởi vì “cơ chế nó như vậy”.

Chúng tôi cũng giống như các bạn, hàng ngày vẫn phải đương đầu với các tiềm năng nguy hiểm về thiên tai, nhân họa, nhưng chúng tôi có một chính phủ chịu trách nhiệm với công chúng, có những lãnh đạo sẵn sàng chịu trách nhiệm khi ban ngành của họ xảy ra vấn đề, người đứng đầu luôn tỏ thái độ chịu trách nhiệm bằng việc từ chức, sẵn sàng bị truy tố ra tòa và nhận án tù về sự sơ xuất của bản thân hay các nhân viên dưới quyền làm việc.

Còn xứ sở của các bạn đang sinh sống, kẻ gây ra thảm họa môi trường thì được bảo vệ đến tận răng, ống nước sông Đà bị bễ hàng chục lần thì được miễn truy tố vì “nhân thân tốt”, xã lũ khiến cho mất mạng người thì “khiển trách, kỷ luật nội bộ”, ban ngành có vấn đề thì… lỗi của “thằng tiền nhiệm” mắc mớ chi tôi.

Ở xứ sở pháp trị của chúng tôi, thì trước luật pháp ai cũng như ai, bất kể tổng thống hay kẻ ăn mày đều như nhau, cũng phải cất tiếng thưa “Your Honor! Thưa quan tòa!” Còn ở xứ sở của các bạn, pháp luật chỉ áp dụng với dân đen thôi, còn kẻ có “thẻ đảng”, có “nhân thân tốt”, có “công với cách mạng” thì pháp trị chả là cái gì cả, những kẻ đó được những “nghị định”, “thông tư” của “đảng” “bảo kê” rồi, đó chính là sự khác biệt giữa cuộc sống của chúng tôi và các bạn, và đương nhiên con cháu chúng tôi ra đời trong môi trường sạch sẽ hơn, sinh hoạt trong xã hội lành mạnh hơn, biết chịu trách nhiệm cho cuộc sống và xã hội nhiều hơn so với con cháu của các bạn, vì họ trưởng thành trong chế độ “đảng trị” chứ không phải là pháp trị.

So sánh là khập khễnh, câu nói này chỉ đúng một nữa thôi, phải so sánh để hiểu rõ chế độ nào thích hợp với bản thân và gia đình các bạn, chứ không phải so sánh để nói tôi hơn bạn hay bạn hơn tôi, mà phải so sánh để tự hỏi lại bản thân tại sao xứ sở của người ta có một chế độ, một cơ chế tốt, tại sao con em ở xứ sở của người ta chưa ra trường đã có các công ty gọi mời làm việc, còn xứ sở của các bạn, con em ra đường thì “bề hội đồng”, lên Facebook thì văng tục chửi bới, tốt nghiệp xong phải dấu bằng đại học để làm cu li, tại sao con em của kẻ có “thẻ đảng” thì tung tăng du học ở Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp, Thụy Sĩ, còn con em của các bạn thì “xuất khẩu lao động” làm Osin, làm cu li cho những quốc gia như Nga Sô, Ukraine, Trung Quốc, Cộng hòa Czech.

Chọn lựa cơ chế nào là do chính các bạn quyết định, không ai quyết định cuộc đời của bạn và con cháu của các bạn cả, trừ phi các bạn “hèn”, “buông xuôi”, “mặc cho số phận”, để những kẻ khác thao túng cuộc sống của các bạn và chính con cháu của các bạn, muốn con cháu các bạn có đời sống như chúng tôi và con cháu chúng tôi, các bạn phải tự mình tranh đấu, hy vọng các bạn đã nhìn ra sự bất công các bạn đang chịu đựng, và được che đậy bằng cái gọi là “thành quả rực rỡ của cách mạng”, để các bạn hiểu rõ, mảnh đất các bạn đang sinh sống, những con người đang sống trên mảnh đất đó, đang bị sự khinh bỉ, dè bỉu của cả cộng đồng quốc tế, chứ không phải như chiếc bánh vẽ mà các bạn tưởng là “mảnh đất đáng sống” đâu.

5/11/2016

Trần Nhật Phong

danlambaovn.blogspot.com

Phong trào ‘Việt Nam nói là làm’: dân mạng đang ‘like’ điều gì?

Phong trào ‘Việt Nam nói là làm’: dân mạng đang ‘like’ điều gì?

BBC

Ben Ngô

BBC Tiếng Việt

5-11-2016

Nhiều bạn trẻ đang đưa ra những thách thức 'nói là làm' nếu nhận được lượt like khủng như mong muốn. Ảnh: Getty Images.

Những lượt ‘like’ trên mạng xã hội cho thấy giới trẻ Việt Nam đang quan tâm, ủng hộ điều gì và nếu xem số lượng like là thước đo thì liệu chúng ta có nên quan ngại?

Hiện đang có trào lưu “Việt Nam nói là làm” gây ra những vụ cười ra nước mắt.

Gần đây nhất, một thanh niên 21 tuổi, sống tại TP. Hồ Chí Minh, sở hữu trang cá nhân có gần nửa triệu người theo dõi, đăng tuyên bố sẽ nhảy từ tầng bốn tòa nhà Bitexco nếu có một triệu người bấm ‘like’. Vài hôm sau, có ba triệu người xem video và có hơn 300 ngàn lượt ‘like’. Người này, hồi tháng Chín cũng đã “đốt người” và nhảy cầu để thực hiện lời hứa khi bức ảnh của mình nhận được 40.000 lượt ‘like’.

Tháng Mười, truyền thông Việt Nam tường thuật vụ một bé gái 13 tuổi ở tỉnh Khánh Hòa đổ xăng đốt trường sau khi “đủ ngàn like” trên Facebook.

Cô bé, người phải nhập viện vì bỏng nặng, sau đó nói với báo Thanh Niên rằng khi đăng lên Facebook nội dung ‘đủ 1.000 like sẽ đốt trường’ chỉ là đùa vui. Đến khi đạt số ‘like’, cô bé rất sợ hãi và bỏ trốn, “nhưng người ta mua xăng, ép bé đốt trường nếu không sẽ bị đánh”.

Trả lời BBC từ Hà Nội, Tiến sĩ Đặng Hoàng Giang, nhà hoạt động xã hội và là tác giả chính luận, nói: “Có thể những bạn trẻ muốn thực hiện những vụ “Nói là làm” trên mạng xã hội là nhằm để gây chú ý và nhận được sự tán thưởng từ đám đông.”

“Những bạn trẻ này không có lỗi và hành vi này có thể được lý giải là do họ không được phát triển tâm lý lành mạnh, cũng như thiếu một nền tảng nhân văn nên có khao khát làm những điều nổi loạn, táo bạo.”

“Tôi dự đoán sẽ còn có thêm những vụ tương tự trong thời gian tới một khi những người trẻ không nhận được sự quan tâm thích hợp từ phía gia đình, nhà trường và xã hội.”

‘An toàn’

Cũng có ý kiến cho rằng dường như cư dân mạng, phần lớn trong số đó là những người trẻ tuổi, chỉ thích nhấn ‘like’ cho những chủ đề ‘vô thưởng vô phạt’ hơn là những vấn đề mang tính chính sự như biểu tình đòi đóng cửa Formosa hay tính minh bạch của hoạt động cứu trợ lũ lụt miền Trung, hoặc quan chức tham nhũng…

Có thể là vì ‘like’ những điều không-liên-quan-đến-chính-trị thì an toàn cho bản thân họ và không có nguy cơ gặp rầy rà với chính quyền.

Thực tế, các post của giới nhà báo, nhà hoạt động ở Việt Nam bình luận về những vấn đề thời sự, chính trị nếu có được cỡ vài ngàn lượt ‘like’ thì xem như đã “được dân chúng quan tâm kinh khủng”.

Trong một diễn biến khác, một loạt website, trang thông tin điện tử tại Việt Nam vừa bị cơ quan chức năng phạt hàng chục triệu đồng mỗi trường hợp vì để lọt những comment ‘không thích hợp’ hoặc ‘đi ngược đường lối chủ trương của Đảng’ trên trang của họ.

Bắt ‘bác sĩ Hồ Hải’ để dập tắt tiếng nói phản biện?

Nhiều báo tại Việt Nam hiện cũng đã khóa comment trên fanpage và chỉ cho phép người đọc nhấn ‘like’ chứ không được có ý kiến gì.

Có thể bằng cách này, chính quyền muốn kiểm soát suy nghĩ của cộng đồng mạng và đưa thông tin “đi đúng hướng” mà họ muốn.

Trong hàng ngàn lượt comment bên dưới post tuyên bố sẽ nhảy từ tầng bốn tòa nhà Bitexco của facebooker nêu trên , có một bình luận: “Tao like cho mày chết!”. Còn trong đoạn video đốt trường thì các bạn trẻ đi kèm luôn giục “đốt đi, đốt đi…”.

Phải chăng các luợt “like’, bình luận, cổ vũ ấy cho thấy sự vô cảm và thiếu nhân tính trong xã hội đã không còn giới hạn? Và nếu đã không còn giới hạn thì chúng ta sẽ mong chờ điều gì ở thế hệ trẻ hiện nay?

SỰ THÔNG CÔNG GIỮA CÁC THÁNH, CÁC LINH HỒN, VÀ LOÀI NGƯỜI Ở TRẦN GIAN

SỰ THÔNG CÔNG GIỮA CÁC THÁNH, CÁC LINH HỒN, VÀ LOÀI NGƯỜI Ở TRẦN GIAN

linh-hon-luyen-nguc
Sự hiệp thông giữa các thánh gồm có tất cả những ai sống trên trái đất, các thánh trên Thiên Đàng và các linh hồn dưới luyện ngục.  Ba Hội Thánh Chiến Đấu, Khải Hoàn, và Đau Khổ kết hợp thành một gia đình lớn, và hiệp thông với nhau một cách đặc biệt.  Vì thế, sự thống khổ và niềm vui của một người cũng là của tất cả mọi người.  Sự khải hoàn của các thánh, sự đau khổ của các linh hồn và sự thử thách của các người còn sống trên thế gian là điều kinh nghiệm của mọi người.  Khi chúng ta ở thế gian vui mừng khi nghĩ về các thánh, và buồn cho các linh hồn ở luyện ngục, thì các ngài, dù ở trên Trời hay còn ở luyện tội, cũng đều lo lắng cho số phận của chúng ta trên trần thế.  Các ngài thấy và biết rõ các nguy hiểm mà chúng ta đang sống.

Các linh hồn ở Luyện ngục tham dự vào niềm vui huynh đệ với các thánh trên Thiên Đàng, và họ cảm ơn các việc lành thánh mà chúng ta làm để dâng hiến cho họ được sớm giải thoát.  Họ xem chúng ta là những ân nhân của họ.  Khi từ lửa luyện ngục, họ nhìn lên Thiên Đàng và thấy các thánh đang hạnh phúc, thì họ nghĩ rằng một ngày nào đó, họ cũng sẽ được hạnh phúc như thế.  Các linh hồn ở Luyện ngục cũng biết rằng họ có các bạn hữu trên Thiên Đàng đang cầu bầu cho họ trước Ngai Tòa của Chúa.  Do đó, sự liên hệ đặc biệt giữa các linh hồn ở Luyện ngục, với nhân loại trên trần gian, và với các thánh nơi Thiên Đàng, không bị quên lãng.

Chúng ta đừng quên các Thiên Thần, vì dĩ nhiên, các ngài rất chăm sóc cho các linh hồn ở Luyện ngục.  Nhiều linh hồn phú thác cho các Thiên Thần của Chúa.  Các Thiên Thần cho rằng sứ mệnh của họ chưa chấm dứt cho đến khi nào họ đem được các linh hồn lên Thiên Đàng.  Toàn thể các Thiên Thần luôn chú ý đến những linh hồn khi còn sống mà biết tôn kính các ngài.

Nghi lễ cho ngày lễ kính Thánh Micae cho ta biết rằng ngài đã được Chúa chỉ định cho việc nhận các linh hồn vào Thiên Đàng, khi họ rời Luyện ngục.  Do đó, Thánh Micae như là một vị Hoàng tử của vương quốc thống khổ.  Ngài có lòng trắc ẩn với các linh hồn này, và Ngài tiếp tục cầu bầu cho các linh hồn ấy.

Thánh Frances thành Roma rất vui thích khi nói đến các Thiên Thần chăm lo cho mọi người trong suốt đời sống của họ.  Bà nói rằng: “Khi một người chết, tùy theo mức độ công trạng của họ, vị Thiên thần Bản mệnh dẫn đưa người ấy tới phần sâu của Luyện ngục, và ở lại bên phía tay phải của người ấy, trong khi ma quỷ ở phía tay trái người ấy.  Thiên Thần dâng lên Chúa Giêsu các lời cầu nguyện để cầu bầu cho linh hồn ấy được giảm bớt sự đau đớn.  Trong khi ấy, ma quỷ thì chịu sự điều khiển của Lucifer, nên bị hành hạ một cách đặc biệt vì không thể dụ dỗ linh hồn ấy vào Hỏa ngục.  Khi giờ đền tội của một linh hồn đã hoàn tất, người ấy được chuyển qua một nơi chốn cao hơn, và ma quỷ rời linh hồn ấy để trở về với đồng bọn của hắn, những tên ma quỷ khác sẽ chỉ trích hắn vì hắn đã thất bại trong việc dụ dỗ linh hồn ấy.

Như vậy, các Thiên Thần Bản Mệnh thăm viếng các linh hồn nơi Luyện ngục và cầu bầu cho họ trước Tòa Chúa.

Trong chuyến thăm viếng Luyện nguc dài 2 tiếng đồng hồ của Thánh Nữ Mary Magdalen Dei Pazzi, bà thánh đến thăm một nhà tù mà người ta phạm tội vì sự ngu dốt hay yếu kém, và bà thấy các Thiên Thần Bản Mệnh của các linh hồn ấy ở ngay bên cạnh họ để an ủi.
Thánh Nữ Margaret Mary Alacoque cũng vậy, trong khi bà bị bịnh, Thiên Thần Bản Mệnh của bà mời bà đến thăm Luyện ngục với Ngài.  Ngài đưa bà đến một nơi rộng lớn đầy những lửa và than đá.  Tại đó, Ngài cho bà thánh thấy rất nhiều linh hồn trong hình dáng con người, đang giơ tay ra để cầu xin lòng thương xót, và bên cạnh họ là các Thiên Thần Bản Mệnh đang an ủi họ với những lời yêu thương.
Các mặc khải trên đây đúng theo lời giảng dạy về Thần Học và hợp với đại đa số các Tiến sĩ Hội Thánh.  Các ngài nói rằng các Thiên Thần Bản Mệnh đưa các linh hồn vào Luyện ngục, và để cho họ liên lạc với chúng ta, linh hứng để ta cầu nguyện cho các linh hồn ấy, và rồi báo tin cho các linh hồn xem ai là người cầu bầu cho họ.  Khi thời kỳ đền tội đã hoàn tất, các Thiên thần đưa họ lên Thiên Đàng và đến với chúng ta để báo cho ta biết về sự giải phóng của họ.  Chúng ta đoan chắc rằng các Thiên Thần hành động như người trung gian giữa Luyện ngục và Trần gian.

Ngoài ra, các Thiên Thần còn là người trung gian giữa Luyện ngục và Thiên Đàng.  Chúng ta đã nhắc đến việc họ dâng lên Chúa các lời nguyện và sự hy sinh mà chúng ta dâng lên để cầu cho các linh hồn ở Luyện ngục, và các ngài đem những an ủi mà Chúa ban đến cho các linh hồn.

Mỗi khi Chúa hay Đức Mẹ Maria ngự xuống Luyện ngục thì đều có các Thiên thần bao quanh, sự huy hoàng và sáng láng của các Ngài đem lại nhiều an ủi và niềm vui cho các linh hồn ấy.  Nếu các Thiên Thần đã chăm sóc cho các linh hồn ấy khi ở trần gian, tại sao lại không chăm lo cho họ trong thời gian họ ở trong Luyện ngục chứ?

Để kết luận, và để hiểu rõ sự lưu tâm của các Thiên thần ở trong Luyện ngục, chúng tôi kể một câu chuyện do nhà văn Rossignoli kể trong tác phẩm của ông:

“Trong tu viện của Thánh Catherine ở vùng Naples, các tu sĩ có thói quen đạo đức là đọc kinh chiều cho các linh hồn vào mỗi buổi tối, trước khi đi ngủ.  Như vậy, trước khi nghỉ ngơi, người tu sĩ có thể đem lại chút ủi an cho các linh hồn.  Một tối kia, các nữ tu vì quá mỏi mệt vì lao động mệt nhoài, nên họ không đọc kinh chiều cầu cho các linh hồn.  Do đó, một ca đoàn Thiên Thần từ Thiên Đàng đi xuống và bắt đầu đọc kinh chiều cho các linh hồn trong cung ca đoàn của tu viện.  Nhờ vậy, các linh hồn không lo buồn vì sự thiếu kinh nguyện.  Như vậy chúng ta có cần thêm chứng từ nữa không?”

Vậy chúng ta hãy luôn nhớ rằng niềm vui và hạnh phúc của các thánh, sự đau đớn và thống khổ của các linh hồn ở Luyện ngục và các thử thách và phiền muộn của các người đang sống ở thế gian đều hợp thông với nhau.  Các thánh ở trên Thiên Đàng rất cảm động khi nhìn thấy sự nguy hiểm mà loài người trên trần gian phải đi qua, và các ngài nhìn xuống Luyện ngục với lòng thương xót và trắc ẩn.  Họ cầu bầu cho các anh chị em của họ sớm hưởng hạnh phúc trên Thiên Đàng.  Còn các linh hồn thì cảm ơn các ân nhân ở trần gian, và ngước mắt lên trời để chiêm ngắm các thánh đang hưởng hạnh phúc vĩnh cửu.  Họ vui mừng và đầy hy vọng khi biết rằng lời cầu bầu của các anh chị em trên trời cũng như trên thế gian sẽ giúp rút ngắn thời gian thống khổ.  Thật là một tương quan đẹp đẽ và thân thiện giữa Luyện ngục, Thiên Đàng và Trần gian, và đó chính là di sản quý báu và đẹp đẽ của Giáo hội Công giáo.

Trích trong tác phẩm The Holy Souls, của Lm Alessio Parente
Kim Hà dịch thuật

Anh chị Thụ & Mai gởi

Cầu nguyện cho các Linh Hồn

 Cầu nguyện cho các Linh Hồn

Dòng Tên Việt Nam

Man Mourning at Graveyard

Nhớ đến các linh hồn, cầu nguyện cho họ và cầu nguyện với họ giúp mình nhớ về nhiều điều.

– …nhớ về thân phận của mình. Ai trong chúng ta rồi cũng sẽ đến lúc trở về cát bụi và đến với Chúa. Mình sống tiếp phận người của mình ra sao đây?
– …nhớ về những người thân yêu, thân quen đã qua đi…nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp với họ. Cuộc sống mình là chuỗi những tình thương yêu mình nhận lãnh từ họ. Mình làm cho tình thương yêu đó tiếp nối trong cuộc đời mình thế nào đây?
– …nhớ về những người đã khuất nhưng vẫn còn đó nỗi buồn hay đổ vỡ mà mình chưa hàn gắn được. Mình cũng đã góp phần làm ra những đổ vỡ đó, mình hàn gắn lại thế nào và không lập lại kinh nghiệm đó trong cuộc sống hiện tại ra sao?
-…và sâu nhất là nhớ về Tình Yêu Chúa đang dành cho mỗi người. Hỏa ngục không phải do Chúa làm ra, vì Chúa là Sự Sống sao lại muốn con người phải chết. Luyện ngục không phải là hình phạt của Chúa, vì Chúa là Sự Sống luôn tạo cơ hội để mỗi người có được sự sống của Chúa; nên khi các linh hồn chưa chia sẻ trọn vẹn sự sống của Chúa như các Thánh thì họ có cơ hội Chúa ban nơi thanh luyện. Chúa yêu mỗi chúng ta thế đó.

Chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn không phải để thay đổi Chúa theo ý mình mong. Chúng ta cùng cầu nguyện với và cho các linh hồn để mỗi chúng ta và các linh hồn nơi thanh luyện tiếp tục mở lòng nhận tình yêu của Chúa để thay đổi.
Ước mong bạn và tôi được thanh luyện mỗi ngày trong tình yêu của Chúa, và nhớ hiệp ý cầu nguyện cho/với các linh hồn trong tháng 11 này.

Sĩ Nghị, SJ

VN cần 480 tỷ đô la để tái cơ cấu kinh tế khi nợ công sắp chạm trần

VN cần 480 tỷ đô la để tái cơ cấu kinh tế khi nợ công sắp chạm trần

Tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam (2)

Tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam (2)

Trong bối cảnh nợ công Việt Nam gần chạm ngưỡng 65% GDP, Việt Nam dự định chi hơn 10 triệu tỷ đồng – tức là gần 480 tỷ đô la – cho kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế.

Bộ trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư Nguyễn Chí Dũng vừa báo cáo với quốc hội về đề án tái cơ cấu nền kinh tế trong giai đoạn từ nay đến năm 2020. Ông cho biết kế hoạch này cần khoảng 480 tỷ đô la. Truyền thông trong nước đưa tin, kế hoạch này đang gây ra những tranh luận trái chiều và về liệu số tiền lớn như vậy sẽ được huy động từ đâu khi ngân sách quốc gia hạn hẹp do nợ công tăng cao.

Phương án tái cơ cấu kinh tế được đề ra vào năm 2013 nhưng theo tiến sĩ kinh tế Lê Đăng Doanh kế hoạch này đã không được thực hiện hiệu quả do không có đủ phương tiện, và đụng chạm tới các nhóm lợi ích.

Theo tiến sĩ Doanh, tái cơ cấu là chuyển đổi số vốn được đầu tư từ lĩnh vực không hiệu quả sang lĩnh vực khác và chủ yếu là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Việc cồ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được đẩy mạnh trong tháng qua sau khi chính phủ quyết định bán toàn bộ cổ phần trong 2 doanh nghiệp nhà nước lớn nhất trong lĩnh vực đồ uống – Sabeco và Habeco. Theo tiến sĩ Doanh, nhà nước đã thu được hơn 6.500 tỷ đồng từ cổ phần hóa Sabeco, Habeco và Vinamillk và nếu tiếp tục thực hiện như vậy thì phương án tái cơ cấu kinh tế là khả thi.

Tuy nhiên tiến sĩ Doanh đã chỉ ra những khó khăn và trì trệ của việc thực hiện đề án này trong những năm qua.

“Khó khăn và trì trệ có liên quan tới lợi ích nhóm ở các doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước này có các lợi ích nhóm và họ không muốn cổ phần hóa. Nếu họ cổ phần hóa rồi họ cũng rất chậm không chịu ghi danh lên thị trường chứng khoán vì lên thị trường chứng khoán đòi hỏi có tiêu chuẩn về công khai minh bạch và người ta sẽ giám sát chặt chẽ hơn.”

Theo tiến sĩ Doanh, lợi ích nhóm không chỉ có trong những doanh nghiệp đó mà nó là “một đường dây mà có câu kết với các quan chức ở các bộ ở trên và không chỉ có một bộ. Năm 2013, thủ tướng lúc đó là Nguyễn Tấn Dũng đã đề ra phương án đầy tham vọng cổ phần hóa 435 doanh nghiệp nhà nước trong vòng 2 năm nhưng không thực hiện được, và theo ông Doanh “điều đó chứng tỏ rằng lợi ích nhóm và các trở lực vẫn rất là lớn.”

“Vì vậy cho nên việc tái cơ cấu này sẽ phải gắn liền với việc cải cách thể chế chính trị và việc phải công khai minh bạch và phải giám sát chặt chẽ quá trình quản trị của nhà nước.”

Khi thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lên thay ông Dũng đã tuyên bố rằng “người nào không cổ phần hóa thì người đó sẽ bị thay thế.” Tiến sĩ Doanh cho đây là một dấu hiệu tốt cho sự đổi mới.

“Chứng tỏ rằng là ở đây sẽ có các biện pháp tôi hy vọng là sẽ có hiệu quả hơn, mạnh mẽ hơn để tác động đến cái lợi ích nhóm đấy.”

Một trong 3 mục tiêu của đề án tái cơ cấu kinh tế là tái cơ cấu đầu tư công nhưng theo tiến sĩ Doanh quá trình đầu tư công ở Việt Nam bị gắn với các lợi ích nhóm trong nhiều ngành và nhiều dự án công nên đã không hiệu quả.

“Cho nên cái đó phải có sự công khai minh bạch tức là phải có 1 luật đầu tư công mới và phải có sự giám sát độc lập và quy trách nhiệm. Nhược điểm lớn nhất của Việt Nam hiện nay là quá trình đó thường được quyết định bởi một nghị quyết tập thể. Những cái gì khó khăn thì người ta đưa ra quyết định tập thể. Và đấy là một điều rất là không rõ ràng và thiếu trách nhiệm ở cơ chế hiện nay. Và đấy là điều cần phải sửa trong thời gian sắp tới.”

Một trong những đề xuất về việc huy động nguồn vốn cho đề án tái cơ cấu kinh tế của chính phủ là kiều hối. Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân tại phiên họp quốc hội hôm 3/11 đã đề xuất “phát huy tốt nguồn vốn nước ngoài thì trong đó kiều hối rất đáng quan tâm.” Theo kết quả nghiên cứu của CIEM công bố đầu năm 2015, lượng kiều hối Việt Nam nhận trong 14 năm là trên 90 tỷ đô la, dòng vốn lớn thứ 2 chỉ sau vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và lớn gấp đôi vốn viện trợ phất triển ODA. Tuy nhiên tiến sĩ Doanh cho rằng điều này là không khả thi bởi huy động kiều hối không theo cơ chế thị trường.

“Điều đó là không tưởng. Nếu như vận dụng biện pháp như vậy (huy động hành chính) thì sẽ rất không có hiệu quả, thậm chí còn phản tác dụng.”

Với lượng kiều hối 12 tỷ đô la chảy vào Việt Nam mỗi năm, chiếm khoảng 8% GDP, nó được coi là nguồn lợi nhuận dòng từ nước ngoài gửi về. Nhưng theo đánh giá của các nhà kinh tế và tài chính, kiều hối sẽ trở áp lực cho nền kinh tế khi nền kinh tế không có khả năng hấp thụ nó. Và nhà nước hiện không kiểm soát được kiều hối về Việt Nam vì không được đầu tư theo định hướng.

Tôi tưởng như mình vừa sống lại,

 Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 32 thường niên năm C 06/11/2016

 Tin Mừng (Lc 20: 27-38)

Có mấy người thuộc nhóm Xađốc đến gặp Đức Giêsu. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Mấy người ấy hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình. Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. Người thứ hai, rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ? “

Đức Giêsu đáp: “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Môsê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Abraham,Thiên Chúa của tổ phụ Isaác, và Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp. Mà Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Ngài, tất cả đều đang sống.”

 Tôi tưởng như mình vừa sống lại”,

“tự nghìn kiếp trước nỗi oan-khiên.

Oằn lưng gánh lấy hồn sông núi,

Hiu-hắt trong lòng, đóm lửa thiêng”

(Dẫn từ thơ Sông Nhị)

Mai Tá lược-dịch

Với nhà thơ Song Nhị hôm nay, loài người như đã đổi lốt. Vừa đổi lốt, sống lại tự nghìn kiếp. Với nhà Đạo xưa rày, Người từ cõi chết đã sống lại, rất yêu thương. Tất cả, đều đáp-ứng lời dạy của Đức Chúa. Thiên-Chúa của tình-yêu. Thiên-Chúa của sự sống, diễn-bày nơi sự-kiện Cung Hiến Thánh Đường Thân Mình Ngài, rất hôm nay.

Hôm nay, nhiều người thường hay tỏ bày nỗi ngạc nhiên rất mực, khi khám phá ra rằng Đền thánh Phêrô không phải là Nhà Thờ Chánh Toà của Giáo phận La Mã. Thậm chí, có khách hành hương còn đến đây, để tìm cho ra ngai triều của Đức Giáo Hoàng, tức Giám Mục thành Rôma, vẫn không thấy.

Có người lại cứ tưởng chiếc ghế chạm trổ công phu của thánh Phêrô đặt sau bàn thờ trên cao là ngai triều chính hiệu của ngài, nhưng vẫn lầm. Có người lại nghĩ rằng chiếc ghế di động mà Đức Giáo Hoàng vẫn ngồi, là chính ngai triều. Nhưng, vẫn  không đúng.

Thánh đường Latêranô đích thị là Vương Cung Thánh Đường, của La Mã. Ở nơi đây, có đặt ngai triều của Đức Giám Mục thành Rôma, rất đích thật. Từ thế kỷ IV, Giáo hội dùng nơi này để cung hiến thành chốn thánh dâng Chúa. Ở nơi đây, mỗi năm Đức Giáo Hoàng thường thân hành đến chủ sự các nghi lễ phụng tự, rất long trọng. Và chính ở thánh đường này, ngài uy nghi ngồi trên ngai toà mình để ban huấn từ, giãi bày nhiều điều, cho dân Chúa.

Trong cuộc sống của Giáo hội, nhiều giáo hội ở địa phương cũng đã dùng kỷ niệm cung hiến thánh thiêng trong giáo phận mình, như lễ trọng. Việc cung hiến thánh đường Latêranô, chính là lễ hội toàn cầu, nhằm để nhắc ta nhớ mà hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, trên cương vị ngài là Giám Mục thành La Mã. Qua cử chỉ này, ta chứng tỏ rằng giáo hội mình là Giáo hội của chung, tức Hội thánh Công giáo.

Điều đáng buồn, là: đôi khi ta thấy có nhiều người nghĩ họ được phép chọn lựa giữa Giám mục địa phận của mình với Giám mục La Mã. Điều này cũng có ý nghĩa, nhưng không phải tính cách chung, Công giáo.

Nói cho cùng, dù ta có lòng mến mộ Đức Giáo Hoàng riêng biệt nào đi nữa, thì tình cảm riêng tư của ta vẫn không dẫn đến kết quả như một hiệp thông với ngài. Bởi, chỉ có thể hiệp thông với Đức Giáo Hoàng khi có được sự thông hiệp ngang qua Giám mục sở tại của mình, mà thôi. Và, Đức Giám mục địa phận sở tại của ta cũng chủ sự cùng một tiệc Thánh Thể như và với Đức Giám Mục, thành La Mã là Đức Giáo Hoàng.

Trong cuộc sống thường ngày, nhiều người cũng mắc phải những sai lầm như thế, cũng dễ hiểu thôi. Nhiều năm qua, Hội thánh vẫn tập trung vào vai trò của Đức Giáo Hoàng mạnh đến độ chúng ta có thể được tha thứ nếu nghĩ rằng Đức Giáo Hoàng chỉ là Cán bộ Cấp Cao của Giáo triều, và Đức Giám Mục sở tại là Giám đốc hay Thủ trưởng, một chi nhánh. Cho nên, khi Đức Giáo Hoàng ra lệnh “nhảy lên”, thì ta lại hỏi: “Thưa, cao cỡ nào cơ?”. Vấn đề này xem ra hơi giống thái độ của những người bảo hoàng hơn vua, có lịch sử của Hội thánh, tương tự như thế.

Chính vì thế, Công Đồng Vatican II đã làm sáng tỏ vai trò của Đức Giáo Hoàng trong việc cai quản, giáo huấn và thi hành luật pháp, trong Giáo hội. Minh định của Công Đồng đã thận trọng nhằm hồi phục chức năng đúng đắn khi xưa về cương vị lãnh đạo của Đức Giáo Hoàng. Công Đồng cho thấy, việc cai quản, giáo huấn và thi hành giáo luật luôn chứa đựng một bối cảnh, có từ trước.

Công Đồng dạy rằng Đức Giáo Hoàng thực thi cương vị lãnh đạo như vị thủ lĩnh tối cao trong số các Giám mục. Ngài là vị mục tử mang tính toàn cầu. Là, dấu chỉ của sự hiệp nhất trong Hội thánh.

Và, là người có trọng trách giáo huấn, duy trì và bảo vệ niềm tin của toàn thể Hội thánh, ngang qua phương cách mà ngài xác nhận với những người anh em Giám mục có cùng một trọng trách trong giáo hội địa phương của các ngài. Chính từ đó, nguồn cội của cụm từ “vâng phục” có ý nghĩa của sự việc “lắng nghe một cách cẩn trọng”.

Vì thế nên, trong tiệc thánh hôm nay ta cử hành sự hiệp nhất trong đa dạng, khi ta tập trung nhấn mạnh đến Mẹ thánh Giáo hội đối với các giáo hội Công giáo La Mã, ở địa phương. Cầu mong sao, từ đó ta lĩnh hội được điều tốt đẹp để có quyết tâm với Đức Giám Mục sở tại nơi ta sống. Bởi, ngài cũng là đấng kế vị của các thánh tông đồ. Và, ngài cũng đáp ứng với lời kêu gọi của Đức đương kim Giáo Hoàng giúp ngài nghĩ ra các phương cách khả dĩ thực hiện công việc phục vụ Hội thánh. Đó, sẽ là dấu chỉ lớn lao hơn cho sự hiệp nhất Kitô giáo đối với thế giới nhân trần, trong lai thời.

Cũng cầu mong, cho mỗi người chúng ta nhớ được rằng tinh thần mà Tin Mừng hôm nay muốn tỏ bày chính là sự việc Giáo hội được dựng xây bằng gạch hồ thật đấy; nhưng, Thân Mình Rất Hiển Vinh của Đức Kitô được đúc kết bằng những người con biết sống thực tình yêu thương cứu độ Ngài ban cho thế giới, rất hôm nay.

 Lm Richard Leonard sj biên-soạn

Mai Tá lược-dịch

Ôi ơn đời chói vói,

“Ôi ơn đời chói vói”,
Nhớ khi thân tròn ôm gối
Ba trăm ngày trong gói
Ngóng trông ra đời góp mối chung vui
Ôi ơn đời mãi mãi
Thoát thai theo đời vun xới
Bao nhân tình thế giới
Lớn lên trong vườn ân ái muôn đời.”

(Phạm Duy – Tạ Ơn Đời)

(Ga 1: 14)

Trần Ngọc Mười Hai 

Đành rằng “Ơn đời (bao giờ) cũng chói vói”. Đó là chuyện đương nhiên, không cần cãi vã làm chi cho tốn “calôri”. Thế còn, “Ơn Người” thì sao? “Ơn Người” có kể rõ ra là: ta chỉ có mỗi “300 ngày ôm gối” mà thôi không? Đó, mới là vấn-đề mà nhiều người và tôi, hôm nay từng lên tiếng hỏi. Hỏi hết mọi người, cả những người trong Đạo/ngoài đời, đại loại những lời như thế.

Bần đạo bầy tôi hôm nay, có đưa ra đôi ba câu hỏi tương-tự cũng chỉ vì mới được đọc lại đoạn trích-dẫn ở cuốn sách bàn về “Niềm tin, nỗi niềm xuất tự con tim”, nên mới hỏi. Hỏi, là hỏi rằng: Thiên-Chúa đã ban nhiều ân-huệ cho bạn và cho tôi, Ngài có dựa vào công-lênh, tài-cáng gì của tôi hoặc của bạn không? Và, câu trả lời lại đã do cha giáo Kevin O’Shea CSsR từng giảng dạy ở bài giáo-án ngày hôm ấy, vẫn bảo rằng:

“Thiên-Chúa phú ban chính mình Ngài, chẳng vì ta có được cung-lòng hoàn-hảo để đón tiếp Ngài vào nơi đó mà ngự đâu. Bởi, chẳng ai có được khả-năng đón-nhận Ngài hết. Bản thân ta, chẳng khi nào có được cung lòng tốt lành để làm như thế. 

 Thiên-Chúa, Ngài ban chính Mình Ngài bằng vào thân-phận chưa từng có ai đón tiếp cái quyền-hạn được ở lại nơi đó cho đến khi ta chấp-nhận sự việc ấy mà thôi. Và, nếu có ai ngạc-nhiên sửng-sốt về chuyện này thì cũng tựa hồ như ta đây luôn có mặt ở nơi đó, kể từ ngày mình sinh ra và Chúa lại cũng ban cho ta ân-huệ tuyệt-vời, theo qui-cách vào nơi này/lúc ấy, thôi.

 Tôi vẫn muốn thêm thắt ở đây đôi điều, để nói lên rằng: có lẽ ta sẽ nói với nhiều người tốt lành/hạnh đạo là: ta vẫn muốn kiếm tìm Chúa. Nhất thứ, là khi ta lại cứ coi như mình lâu nay tìm kiếm một Đức Chúa mà chẳng bao giờ thấy được Ngài. 

 Thay vào đó, tôi đề nghị: ta hãy thay thế chuyện ấy bằng việc nhận ra rằng: chính Chúa mới là Người hằng đi tìm ta, đã thấy ta và rồi Ngài lại đã công-nhận ta là dân/con của Ngài. Thế nên, ta lại cũng hiểu rằng: việc này có thể chiếu rọi một vài lằn sáng lên nhiều sự việc.

 Nền thần-học của ta có nguyên-tắc căn-bản được mọi người gọi đó là tính ưu-việt của ân-huệ. Chính ra, ta phải gọi đó là tính ưu-việt của ân-huệ Ngài từng ban cho ta, mới đúng. Bởi, ân-huệ sẽ là chuyện trừu-tượng không thể có, nếu nó không được ban/tặng, riêng mình ta. Nỗi kinh-ngạc về chuyện này nằm ở điểm: Ân-huệ ấy “đã” được ban cho ta từ lâu rồi. 

 Thành thử, sống trong trời đất, chẳng có gì gọi là bản-chất vô-huệ, hết. Tự thân, ta chẳng có được tính chất khả-thi vốn dĩ là của Chúa. Nhưng thật ra, ta không có khả-năng đến với Chúa  -và như thế, ta cần được Ngài ban thêm huệ-lộc cộng thêm vào với những gì hiện giờ ta không có. Nếu sự thể là như thế, thì huệ và lộc Trời ban, lại sẽ là “tư-duy” ta có sau này về phần riêng của Thiên-Chúa, mà thôi. 

 Nói cách khác, có lẽ Chúa cũng chẳng tạo nên ta một cách đúng-đắn, ngay từ đầu. Ân và huệ theo sử-tính, cũng chẳng là món quà và là thứ tặng-dữ Ngài ban cho ta, mãi về sau; mà Thiên-Chúa đã cưu-mang ta ngay trong ân và huệ của Ngài, ngay từ đầu rồi. Rõ ràng là thế.

 Ân và huệ, không là thứ gì đó tuyệt-đối ta không ngờ từ trước. Tất cả, chẳng phải vì Ngài đã có món nợ đó đối với ta, mà về phần mình, ta chẳng xứng-đáng được như thế. Và có lẽ, ân và huệ cũng chẳng ban cho một số đấng bậc của ta, nơi ta sau này, nếu như ta chứng-tỏ được mình là kẻ tốt lành/hạnh đạo. Nhưng, ân và huệ, tự nó, vẫn có đó nằm sẵn trong bản-thể của ta là con người bằng xương bằng thịt, ở đời.

 Bản-chất con người, lúc nào/bao giờ cũng gồm tóm ân và huệ, rất tự-thân. Và, ta được tặng ban, hoặc có được khả năng “thấy” Chúa, ngay từ đầu. Thật ra thì, không thể có cái-gọi-là “nhân-loại bình thường” vô ân-huệ. Bản-chất “người”, theo định-nghĩa, bao gồm ân và huệ cũng như khả-năng thực-thụ được phép “thấy” Chúa. Những gì vừa nói ở trên, không phải là thi-ca/thi-ảnh, mà là cung-cách Chúa tạo-dựng nên ta, con người của chính ta. 

 Tính-chất “người” là ân và huệ. Đó là theo định-nghĩa Thiên-Chúa tỏ-bày/mặc-khải cho ta biết như thế. Ta được cưu-mang một cách không tì-vết ngay trong tâm-tưởng của Chúa. Thiên-Chúa, Ngài đã thẩm-thấu vào bên trong con người của ta ngay trước khi ta hiện-hữu, nữa. Chất “người” là sự hội-nhập và thẩm-thấu tính-chất rất “Thiên-Chúa”.

 Nói cách khác, ta không bắt đầu sự việc như thế một cách tách-biệt và tự-lập hoặc tự mình có thể tìm kiếm Chúa. Và, cả vào khi kiếm-tìm Ngài đi nữa, đôi lúc ta cũng ở trong tình-trạng đã có ân và huệ và đôi khi, cũng lại không thế. Ta đã bắt đầu sự sống có ân và huệ, đã ở trong ân và huệ rồi. Chính Thiên-Chúa đã công-nhận và sở-hữu ta ngay từ lúc đầu mà ta chẳng biết, đấy thôi.. 

 Ngay từ đầu, Ngài đã thương-yêu ta. Chính vì lý-do này, mà bản-chất của vật tạo-thành (nói theo ngôn-ngữ tạo-dựng là hành-động của Thiên-Chúa) không chỉ là hiện-hữu hoặc sự việc đang kiếm tìm, nhưng là: “đã ở trong Chúa”. Nói như thế, tức bảo rằng: ta đã được Chúa gặp ta và thấy ta ngay trong bản-chất Ngài, rồi. Thiên-Chúa và tạo-vật, lúc nào cũng ở trong nhau, quyện lẫn vào nhau. Ta có mặt ở đây, không phải để “kiếm tìm” một Thiên-Chúa-đã-có-đó, nhưng là để cảm-tạ Chúa vì ngay từ đầu, Ngài đã đi tìm ta và thấy ta, trong tạo-dựng. 

Có thể nói: Thiên-Chúa là Người đầu-tiên kiếm-tìm và gặp-gỡ ta, từ ngàn đời rồi. Mỗi thế thôi.” (X. Lm Kevin O’Shea CSsR, Niềm Tin, Nỗi Niềm Xuất Tự Con Tim”, www.giadinhanphong.com” nxb Hồng Đức 2016-2017)

Vậy thì, theo tác-giả đây, ta có mặt ở thế-gian này là để cảm tạ Thiên-Chúa chứ không để kiếm/tìm Ngài. Bởi, Ngài đã tìm và gặp ta và ở trong ta ngay vào lúc tạo-dựng nên ta rồi.

Nghe dạy/bảo như thế, bần đạo bầy tôi đây, bèn thấy mình nên quay về lại với nhạc-bản của nghệ-sĩ họ Phạm từng hát về “Ơn đời”, như sau:

“Tim vang còn giây lát.
Hơi run còn thơm ngát.
Dương gian còn trong mắt.
Nghe tiếng hát chưa nhạt tan.
Bao nhiêu là thương mến.

Bao nhiêu là quyến luyến.
Với bao nhiêu niềm xao xuyến.
Đời vắng xa như mẹ hiền.

Ôi một lần nương náu.
Đi trên đời chẳng lâu.
Trong trăm mùa xuân héo.
Tay hái biết bao niềm yêu.
Dăm em sèo nhân thế.

Chưa phai lòng say mê.
Với đôi ba lần gian dối.
Đời vẫn ban cho ngọt bùi.
(Phạm Duy – bđd)

Ơn đời, thì như thế. Ơn Người, sẽ ra sao? Thôi thì, ngay lúc này đây, ta hãy đi vào vườn thượng-uyển có ý/lực của bậc thánh-hiền vẫn từng giảng-dạy và nhủ-khuyên, như sau:

“Chúng tôi đã được nhìn thấy 

vinh quang của Ngài,
vinh quang mà Chúa Cha ban cho Ngài,
là Con Một 

đầy tràn Ân-sủng và sự thật.”

(Ga 1: 14)

Ân và huệ Ngài ban, bao giờ cũng tràn-đầy sự thật. Cái sự rất thật, lại được nghệ-sĩ ở ngoài đời trau-chuốt bằng lời thơ/tiếng nhạc, rất như sau:

“Ôi ơn đời chói vói.
Nhớ khi thân tròn ôm gối.
Ba trăm ngày trong gói.
Ngóng trông ra đời góp mối chung vu.
Ôi ơn đời mãi mãi.

Thoát thai theo đời vun xới.
Bao nhân tình thế giới.
Lớn lên trong vườn ân ái muôn đời.

 Mang ơn đời chăn vỗ.
Dâng cho người yêu goá.
Dâng cây đàn bơ vơ.
Dâng biết bao ân tình xưa.
Mang ơn đời nâng đỡ.

Dâng nấm mồ thô sơ.
Với dâng hương hồn thương nhớ.
Còn vấn vương trong chiều tà.

(Phạm Duy – bđd)

Ân và huệ, vẫn là thứ gì rất quí-báu đáng vấn-vương trong đời. Một đời, có rất nhiều chuyện. Từ, chuyện tình-yêu, hạnh-phúc đến chuyện khổ đau/sầu buồn, đầy-đủ cả. Mỗi chuyện, đều mang ý-nghĩa nào đó cũng sắc bén. Mỗi sự việc xảy đến, như ân và huệ từ trên ban tặng. Có khi, là một cảnh báo. Có lúc, là một phản-hồi khi câu chuyện đà xảy đến.

Để xác-chứng và minh-hoạ những ý/tứ và ý/từ ở trên, thiết tưởng không gì bằng ta hãy mời nhau đi vào vùng trời truyện kể, với ý/lời tưởng chừng như trách-móc, khiếu-nại vì đời mình không như đời người.

Nhưng cuối cùng, có lẽ cũng phải công-nhận với ai đó rằng: “Tất cả là ân-huệ”dù ân đó/huệ đây mang dáng-vẻ của tủi-nhục, hờn đau, cần cố-gắng hơn nữa, để vượt qua.

Cuối cùng, ta cũng phải nhận-chân rằng: ân đâu/huệ đó, có chăng chỉ là ảnh-hình về một đặc-trưng/đặc-thù của huệ/của ân ấy, rất như sau:

“Truyện kể về một bệnh SID xảy ra với một em bé không thoát khỏi lưỡi hái của tử thần, vẫn được mọi người chung quanh tận tình giúp đỡ đến khi chết.

 “Có lẽ trong suốt cuộc đời làm phiên-dịch của mình, gần 20 năm, chưa lần nào tôi thấy khó như lần này và cũng chưa bao giờ tôi không thể dịch được, mặc dù tôi hiểu hết ý bác sỹ nói gì. Một ca hóc-búa. Hôm nay, là ngày ra đi của bé Lam. Tôi chưa một lần được biết cháu, nhưng tôi có duyên may được đưa-tiễn cháu về phía “chân mây cuối trời”. Cuộc đời cháu quá ngắn-ngủi, chỉ 4 tháng, nhưng cháu đã mang đến biết bao cảm-xúc, nỗi-niềm và cháu đã nối biết bao người xa lạ lại với nhau và vào nhau.

 Bé Lam là một ca tôi khó quên. 

 Tôi đang ngồi làm việc thì chuông điện-thoại reo. Một ca cấp-cứu cần tôi phải đến bệnh-viện ngay lập-tức. Lúc đó là 8 giờ tối. Hình như có vụ gì đó liên-quan đến cảnh-sát nên không thể dịch qua điện-thoại như tôi vẫn làm khi có chuyện xảy ra đột-ngột, hoặc vào ban đêm. 

 Tôi nghĩ, chắc là đánh nhau, hoặc các tội phạm đâm chém nhau đây. Thói-quen nghề-nghiệp của tôi là: đi cho nhanh để kịp giờ, không mảy may lo sợ. Thấy tôi, cô y-tá trực đêm vui mừng kéo tôi ra một góc báo trước sự việc.

 Một cháu bé 4 tháng tuổi đã tắt thở, tim ngừng đập, được chuyển từ bệnh-viện địa-phương bằng máy bay trực-thăng lên Bệnh-viện Nhi-Đồng Boston, Massachusetts. Cháu được các bác-sĩ hồi-sức cấp-cứu cho tim đập trở lại, nhưng đang ở trạng-thái nguy-kịch, khả-năng tử-vong rất cao. Tôi được đưa vào phòng bệnh-nhân. 

 Bác-sĩ trực-tiếp cấp-cứu cháu, với gương mặt mệt-mỏi, buồn-phiền báo cho tôi biết có nhiều khả-năng cháu mắc bệnh đột-tử ở trẻ sơ sinh (Sudden Infant Death- viết tắt là SID), hiện nay y-học chưa tìm ra nguyên-nhân căn bệnh này. Bác sĩ đang cố gắng tìm tiếp khả năng khác, liệu có thể cứu-chữa cháu được không. Nhưng kết-luận của ông gần như 99% là cháu không thể qua khỏi.

 Bên giường bệnh, người mẹ trẻ khóc-lóc, lo-âu và hy-vọng. Câu hỏi duy-nhất ba mẹ cháu hỏi trong tiếng nghẹn-ngào là: “Hy vọng được bao nhiêu, thưa bác-sĩ?” Câu trả lời của bác-sĩ: “Cháu khó lòng qua khỏi, tôi chưa thấy được tương-lai của cháu trong lúc này”. Dù vậy, hai y-tá vẫn miệt-mài làm việc, bốn màn hình máy tính treo bốn góc theo-dõi toàn-bộ hoạt-động cơ-thể của cháu bé. Mỗi tiếng “tít, tít” kêu lên, là họ lại liên-tục thao-tác hoạt-động theo chuyên-môn để giữ nhịp tim và nhịp thở của cháu bé. 

 Trên đầu cháu, là các loại dây nhợ, dày đặc các ống dẫn bằng nhựa/mủ, tiếng máy chạy ào ào. Tôi căng hết cả cái đầu mình ra để nghe bác-sĩ nói rồi dịch. Tiếp theo đó, bác-sĩ trực đêm đến hỏi thăm tin-tức hồ-sơ bệnh-án của cháu. Về sau tôi mới biết, họ đã biết kết-cục nhưng vẫn cứ hỏi để cho cha mẹ được yên-tâm về mặt tâm-lý.

 Nhằm giúp-đỡ cha mẹ trong hoàn-cảnh đó, “nhân-viên xã-hội” đến thăm-hỏi, động-viên gia-đình bệnh-nhân. Nhiệm-vụ của họ, là chăm-sóc cả vật-chất lẫn tinh-thần cho gia-đình, chí ít là trong hoàn-cảnh bệnh-nhân đang trong cơn nguy-cấp, hiểm nghèo. Họ cung-cấp phiếu ăn miễn-phí, lo chỗ ngủ cho người nhà của con bệnh. Lúc đó đã 10 giờ đêm, nhà ăn bệnh-viện đã đóng cửa, nên họ cử y-tá ra phố mua đồ ăn về cho bố mẹ cháu bé. Họ hỏi rất kỹ là quí vị thích ăn món gì và họ tận-tình đi mua rồi mang đến.

 Gần 1 giờ sáng, hai cô y-tá mắt đỏ ngầu, vẫn luôn chân/luôn tay chăm-sóc toàn-bộ hệ-thống máy móc đảm-bảo cho cháu bé thở được, theo-dõi nhịp tim. Ba xét-nghiệm não (chụp cắt lớp, đo điện não đồ và chụp MRI toàn-thân người bệnh) liên-tục được tiến-hành. Kết-luận thật đáng buồn: cháu bé mắc chứng đột-tử ở trẻ sơ-sinh, y-khoa thế-giới lâu nay đành bó tay, chưa tìm ra nguyên-nhân của căn-bệnh.

 Cuộc họp đầu-tiên với bố mẹ để chuẩn-bị tâm-lý rằng: tình-thế hết sức nguy-kịch. Nhóm y/bác-sĩ mắt đỏ hoe, đầy cảm-thông, ngồi im lặng lắng nghe một người nói nhỏ nhưng dứt khoát: “Chúng tôi rất tiếc phải thông-báo rằng: tình-trạng của cháu ngày càng xấu, nhưng chúng tôi không đầu hàng, chúng tôi vẫn chiến-đấu để giành giật sự sống cho cháu. Cháu cũng là một “chiến-binh dũng cảm” đang đồng-hành với chúng tôi”. 

 Họ lặng lẽ mang giấy lau nước mắt cho người mẹ. Họ cảm-thông chia-sẻ bằng sự im-lặng và sự tận-tụy với công việc. Họp xong, họ trở lại chăm-sóc cháu bé, với hàng nắm dây nhợ, máy móc quanh đầu, quanh người cháu. Lúc đó là 2 giờ sáng.

 Cuộc họp thứ hai vào sáng hôm sau, gồm bác-sĩ trưởng Khoa Cấp cứu, bác-sĩ chuyên về não-khoa, bác-sĩ và y-tá trực-tiếp điều-trị cho cháu. Cuộc họp này thật khó-khăn. Sau khi giải-thích tình-trạng của cháu bé, nguyên-nhân không xác-định, bác-sĩ nói: “Mặc dù cháu nằm đó, tim còn đập, nhưng cháu không còn nữa. Khả-năng cứu-chữa cho cháu là vô vọng. Bệnh-viện đề-xuất chuyện rút máy trợ thở. Tiếp đó, cháu sẽ hoàn toàn ra đi.” Người mẹ bật lên tiếng nức nở. Họ lại ngồi yên-lặng, cùng bật lên một câu: “Chúng tôi xin chia-sẻ với gia-đình”.

 Cuộc họp cuối cùng sau đó 24 giờ đồng hồ. Vẫn một thông-tin giống như trước. Bác-sĩ chỉ trên màn hình hoành-đồ của não trông gần như một đường thẳng cho thấy: não-bộ đã hoàn-toàn tê-liệt. Bác sĩ giảng giải kỹ lưỡng về căn bệnh SID và đi đến kết luận: hy vọng chỉ là zero. Tiếp theo là ý-kiến gia-đình có chấp-nhận rút máy trợ thở hay không? Nếu có, thì giờ nào sẽ rút máy cho cháu để cháu ra đi được thanh-thản.

 Y-tá đã tìm-hiểu biết được là gia-đình theo Đạo Phật, và họ tìm đọc trên mạng về Đạo Phật, nghi-lễ chôn-cất, hoặc mời thày tới làm lễ ngay tại bệnh-viện. Rồi bàn về qui-trình rút máy trợ thở, bác-sĩ sẽ trao cháu bé cho bố mẹ, cháu sẽ thở hắt ra, hoặc ho lên, rồi tắt ngụm hẳn, da sẽ chuyển sang màu tím tái. Có gia-đình không muốn chứng-kiến cảnh-tượng này, thường đợi bác-sĩ làm xong rồi nhận cháu bé với thân-xác đã bọc kín. 

 Y-tá còn đề-xuất nếu bố mẹ muốn được nằm cạnh con, họ sẽ tìm cho một cái giường, để có thể nằm ôm cháu. Nghe đến đó, thông-dịch đến đó, tôi nghẹn-ngào, vì chỉ mới 4 tháng trước, mẹ cháu cũng đón cháu từ tay bác-sĩ, nhưng là lúc cháu chào-đời. Còn nay, bác-sĩ đưa cháu để bố mẹ được ôm cháu vào những giây phút cuối. Bố mẹ cháu đã từ-chối vì không thể chịu nổi.

 Bác-sĩ dành cho gia-đình mọi sự ưu ái. Khi nào gia-đình sẵn-sàng thì rút máy, cần hỏi gì thì bác-sĩ ở xung quanh sẵn-sàng trả-lời mọi câu hỏi. Việc rút máy trợ thở có thể tiến-hành trong buổi chiều hoặc đêm, hoặc sáng hôm sau. Gia-đình có nhiều thời-gian để bàn tính và định-liệu.

 Cuối cùng, giờ tốt đã chọn, thầy chùa cũng được mời tới. Thời-gian chỉ tình bằng phút và bằng giây thôi. Tôi ra về, khi mọi việc đã bàn-định xong xuôi. 

 Tôi nhìn cháu bé lần cuối, nói với cháu rằng: “Lam ơi, cháu sống ở trên đời này quá ngắn, nhưng cháu đã làm được một sứ-mạng lớn-lao là gắn kết mọi người lại với nhau, cháu làm tôi yêu quý cuộc sống này, cháu là lý-do để tôi nhìn thấy những điều tốt-đẹp còn hiển-hiện quanh tôi, để tôi thấy rõ tính chuyên-nghiệp trong công việc, tính nhân-văn trong lời nói và cách ứng-xử của các bác-sĩ, y-tá và tình người tồn-tại trong mỗi chúng ta. Cám ơn cháu, cầu mong cháu được siêu-thoát. Cháu hãy phù-hộ cho bố mẹ cháu và người thân của cháu nhé”.

 Tôi bị ám ảnh bởi bao nhiêu phức-cảm: đau-thương, ưu-phiền, lành-thánh, tình người và phong-cách làm việc chuẩn-mực và chuyên-nghiệp đến mức khó tin của tập-thể y/bác-sĩ trong một bệnh-viện có lẽ tốt nhất thế-giới. Tôi cứ suy ngẫm làm sao họ có thể có được cách ứng-xử như thế đối với người đồng-loại. Tôi cứ tần-ngần nghĩ đến những lần đi bệnh-viện ở Việt Nam, bị bác sĩ, y-tá đối-xử thiếu tôn-trọng. Tôi băn-khoăn không biết bao giờ xã-hội Việt Nam mình, nhất là những nơi cung-cấp dịch-vụ giáo-dục và y-tế, có được tính-chất chuyên-nghiệp như thế này.

 Ba tháng sau, bệnh viện gọi điện cho tôi, nhờ tôi dịch qua điện-thoại cho họ với cha của bé Lam. Họ thăm hỏi, chia buồn một lần nữa và thông báo là gia đình được miễn hoàn-toàn viện phí và bệnh-viện cũng hỗ-trợ tiền mai-táng cho cháu. Họ cầu chúc cháu an-nghỉ và chia buồn cùng cha mẹ cháu.”  (Le Phan theo vietbf.com)

Vâng. Tình người hoặc cung-cách cảm-tạ ân-huệ Chúa ban đã thể-hiện qua nhóm bác-sĩ đã săn-sóc bé Lam rồi. Vâng. Có rất nhiều dấu-hiệu nêu rõ ân và huệ trong đời người. Một đời có nhiều thứ để nhớ, nhưng vẫn quên. Và đời người, vào hôm trước lẫn ngày nay, vẫn còn rất nhiều thứ lại cứ hay quên cả những điều hệ-trong trong đời, vẫn rất ân và rất huệ.

Ân và huệ, là những thứ tạo nên cốt-cách cuộc đời, cho con người. Cho cả tôi lẫn bạn, suốt một đời. Trong cõi nghìn thu, mãi mãi vẫn cứ trôi.

Trần Ngọc Mười Hai 

Có nhiều thứ rất hay quên,

nhưng sẽ cố không quên 

những ân và huệ

mà bạn từng làm cho tôi 

cho mọi người.

Ở đời này.  

CÁI GIÁ CỦA CHÂN LÝ

Nhà tu đức học nổi tiếng là Cha Anthony de Melo có viết một bài thơ ngụ ngôn nội dung như sau:

Một hôm lang thang trên đường phố, tôi bỗng thấy có một cửa hiệu với hàng chữ: “Tại đây có bán Chân lý”. Tôi tò mò bước vào hiệu, cô bán hàng niềm nở tiếp đón tôi và hỏi:

– Ông muốn mua loại chân lý nào? Chân lý từng phần hay chân lý toàn diện?

Tôi trả lời:

– Dĩ nhiên là tôi đi tìm thứ chân lý toàn diện. Một thứ chân lý không pha trộn giả dối, một thứ chân lý mà lý trí tôi hoàn toàn đầu hàng vô điều kiện. Tôi muốn có chân lý đơn thuần và toàn diện.

Cô bán hàng nhìn tôi lắc đầu và chỉ sang một cửa tiệm khác, nơi có bán thứ chân lý mà tôi đang tìm kiếm. Người đàn ông đứng coi hàng nhìn tôi với tất cả thương cảm, ông chỉ cho tôi giá biểu món hàng mà tôi muốn mua rồi nói với tôi với một giọng đầy ái ngại:

– Thưa ông, giá của món hàng rất cao.

Đã cương quyết mua cho bằng được chân lý toàn diện tôi liền hỏi:

– Giá bao nhiêu, xin cho tôi biết?

Người bán hàng trả lời:

– Nếu ông muốn mua chân lý này ông phải trả bằng cả cuộc sống của ông.

Tôi ra khỏi tiệm, lòng buồn rười rượi. Tôi nghĩ rằng: Tôi có thể mua chân lý toàn diện bằng một giá rẻ mạt. Thì ra, tôi chưa sẵn sàng để đón nhận chân lý. Tôi vẫn chưa muốn cho đi cuộc sống của tôi. Tôi vẫn còn bám chặt vào những xác tín của tôi.

***

Qúy vị và các bạn thân mến,

Bài thơ ngụ ngôn trên đây hẳn nói lên thái độ của nhiều người trong chúng ta đối với Đấng tự xưng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúng ta chưa tin tưởng đầy đủ và sống trọn vẹn cho Ngài. Là chân lý nhập thể, Chúa Giêsu đòi hỏi nơi con người một sự gắn bó mật thiết với Ngài bởi vì chỉ trong Ngài con người mới có thể biết được mọi mầu nhiệm về Thiên Chúa và về con người.

Là con đường duy nhất, Chúa Giêsu đòi hỏi nơi con người một niềm tin tuyệt đối. Bởi vì chỉ trong Ngài con người mới có thể tìm được cứu cánh của mình.

Là sự Sống đích thực, Chúa Giêsu đòi hỏi nơi con người một tình yêu không chia sẻ. Bởi vì chỉ trong Ngài, con người mới tìm được sự sống, niềm hạnh phúc đích thực.

Được tạo dựng cho Thiên Chúa vốn khát khao chân lý, Thiên Chúa của Tình Yêu và Hạnh Phúc, nhưng con người lại lầm lạc và khốn khổ. Chinh phục được vũ trụ, nhưng con người vẫn lạc lối chưa biết đường về cõi sống. Có được tiền rừng bạc bể nhưng con người vẫn không mua được niềm hạnh phúc đích thực. Chúa Giêsu đã tuyên bố: An tin vào Ngài thì được sống đời đời. Ta là bánh từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời.

Đi theo Chúa Giêsu để xin Ngài chỉ bảo làm cách nào để được sự sống đời đời, nhưng khi nghe Ngài tuyên bố về bán của cải cho người nghèo rồi đi theo Ngài thì chàng thanh niên nhiệt tình, tốt lành kia đã buồn rầu bỏ về.

Con người khao khát chân lý toàn diện, nhưng khi phải đón nhận chân lý ấy con người lại chùn bước vì không muốn chấp nhận những đòi hỏi của chân lý. Chân lý không chỉ để tin mà còn để sống và thực thi.

***

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy chúng con, không phải những ai nói: Lạy Chúa, lạy Chúa là đương nhiên được vào Nước Trời mà chỉ có những ai thực thi ý Chúa Cha. Xin cho chúng con luôn biết tìm kiếm và sống theo ý Chúa cho dẫu có phải chịu thiệt thòi mất mát. Xin cho chúng con không chờ đợi một phần thưởng nào khác hơn là biết rằng: Chúng con đang thực thi thánh ý Chúa. Amen!

Ngọc Nga sưu tầm

Anh chị Thụ & Mai gởi

Toàn là cán bộ đảng ta chết! Sao kỳ vậy ta!?

Toàn là cán bộ đảng ta chết! Sao kỳ vậy ta!?

Tò mò (Danlambao) – Trong sự cố “nhà đảng có tang – dân ta ăn mừng” 12 đồng chí phó, trưởng phòng từ nhiều tỉnh thành tụ về một chỗ ăn nhậu, ca hát ô kê trong giờ làm việc, có một chuyện… sao-kỳ-vậy-ta là có tới 12 đồng chí đảng ta đang xỉn chuyển sang từ trần trong số 13 người tử nạn.
Vụ cháy karaoke bao trùm 4 ngôi nhà, trong đó 13 quan chức bị thiêu ở tầng 5 của quán Karaoke 68 ở Cầu Giấy gồm 6 tầng.
Mỗi tầng của quán karaoke này có 2 phòng hát, thế nhưng trừ anh Trần Quốc Khánh là “phó thường dân không đảng tịch” thì không một nhân viên phục vụ, khách hàng nào khác bị nạn trong tất cả các 10 phòng hát của tầng 1, 2, 3, 4, 6. Cũng không có ai bị chết cháy ở 3 nhà bên cạnh. Đặc biệt chỉ có các đồng chí phó, trưởng phòng của đảng ta là bị thiêu.
Bắt thang lên hỏi ông trời
cháy tùm lum chỉ… chết toàn đồng chí ta?
Câu hỏi này chắc sẽ không bao giờ có câu trả lời, tương tự như câu hỏi “làm thế nào mà đồng chí Chi cục trưởng Kiểm lâm Yên Bái là Đỗ Cường Minh đã tự tử bằng cách bắn từ vào đầu từ… gáy?”.
Thôi thì, cứ xem như là các đồng chí ta đã anh dũng hy sinh vì thế lực thù địch vô hình nào đó như là đảng ta vẫn thường cảnh báo và cảnh giác.
04.11.2016