Có thể bạn chưa biết về Fidel Castro

Có thể bạn chưa biết về Fidel Castro

Posted by adminbasam on 26/11/2016

FB Hoàng Ngọc Diêu

26-11-2016

Fidel Castro và Che Guevara. Ảnh: internet

Thế giới cả hai phía cộng sản và tự do đã viết rất nhiều về Fidel Castro, một lãnh tụ cộng sản lừng lẫy, một trong những người nắm quyền hành và duy trì chế độ độc tài cộng sản lâu nhất trong lịch sử. Phía cộng sản viết về những thành tích cách mạng và dựng lên hình ảnh một lãnh tụ anh hùng và giản dị của vùng châu Mỹ Latin. Phía tự do liệt kê ra những thành tích tàn sát những người phản kháng mà Fidel Castro đã thực hiện trong suốt cuộc đời ông ta.

Trong phạm trù này, ít người biết, có lần, Che Guevara, đã bênh vực hành động tàn sát những người phản kháng của Fidel Castro, rằng: “trò xét xử là trò cũ kỹ lỗi thời của bọn tư sản. Đây là cách mạng và cách mạng thì phải trở thành một cái máy giết người máu lạnh được nuôi dưỡng bằng lòng căm thù” (“These procedures are an archaic bourgeois detail. This is a revolution. And a revolutionary must become a cold killing machine motivated by pure hate.”).

Xét ra, chuyện giết người không cần xử của những người cộng sản là chuyện không đáng ngạc nhiên. Mặc dù so với các đồng chí của ông như Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Polpot… .v..v… thì bảng thành tích nhân mạng của Castro còn thua xa, nhưng cái chất tàn bạo của cộng sản trong Castro thì vẫn không hề thua sút.

Càng ít người biết, đặc biệt là những “cháu ngoan” phía cộng sản, rằng Fidel Castro thật sự không phải là một lãnh tụ giản dị như được sơn phết mà thật sự, ông ta sống một cuộc đời xa hoa và phóng đãng. Phần lớn thời gian ông sống ở hòn đảo Caya Piedra ở phía nam Cuba, nơi đó có du thuyền lộng lẫy, có hàng trăm người phục dịch, có cảnh binh bảo vệ, có hàng trăm cô gái phục vụ chuyện chăn gối bất cứ khi nào ông cần. Chiếc xe Mercedes-Benz đặc biệt của Castro mua từ Đức về được tháo rời ra và khám xét rất kỹ và được “độ” lại với hệ thống bảo an, kể cả lớp chống đạn đặc biệt…v..v..

Mỗi buổi, trước khi Catro ăn phải có người thử trước vì ông ta sợ bị giết bằng thuốc độc. Castro còn có một người giống hệt ông tên là Silvino Alvarez, giả làm Castro mỗi khi ông ta cảm thấy bất an khi xuất hiện trước công chúng. Thậm chí hai người cận vệ của Castro phải có nhóm máu y hệt như ông ta, phòng khi Castro cần tiếp máu khẩn cấp và vô vàn những chuyện khác [1].

Những chuyện này thế giới không hề biết cho đến khi Juan Reinaldo Sanchez, cận vệ và trợ lý riêng của Castro đào thoát khỏi Cuba đã viết cuốn “The Double Life of Fidel Castro” (hoặc La vida oculta de Fidel Castro, bản tiếng Tây Ban Nha) được xuất bản [2]. Một tuần lễ sau khi xuất bản cuốn sách này, Juan Reinaldo Sanchez qua đời vì bệnh nhiễm trùng phổi và cái chết của ông trở thành đề tài của những chuyện được bàn tán xôn xao, kể cả những chuyện mang tính chất của thuyết âm mưu.

Rest in peace Fidel Castro 1926 – 2016.

[1] Castro the commie hypocrite who lives like a billionaire: He’s posed as a man of the people. But a new book reveals Cuba’s leader has led a life of pampered hedonism and a fortune as big as the Queen’s (Daily Mail).

[2] Juan Reinaldo Sanchez: Fidel Castro’s bodyguard who blew the whistle on the leader’s secret life (Independent).

Tuấn Khanh: Thế kỷ kết liễu độc tài

Tuấn Khanh: Thế kỷ kết liễu độc tài

Blog RFA

Tuấn Khanh

H1Những ngày của đầu năm 2015, tin tức về cái chết của Fidel Castro, nhà lãnh đạo cộng sản khét tiếng của Châu Mỹ Latin đang được lan truyền khắp nơi. Có thể đó chỉ là tin đồn. Có thể ông ta đã chết nhưng đảng cộng sản Cuba đang chọn tìm một thời điểm thích hợp để công bố, như số phận của nhiều nhà lãnh đạo cộng sản khác. Cũng có thể tin đồn đó chỉ là cách phản ánh một tâm thức chán ghét của của đám đông về nhân vật này. Nhưng điều quan trọng hơn, với những gì đang diễn ra ở Cuba, thì ý nghĩa tồn tại thể chất của nhà độc tài cộng sản 88 tuổi không còn quan trọng: Trong mắt loài người văn minh, Fidel Castro kể như đã chết.

Cũng giống như nhiều lãnh tụ cộng sản háo danh khác, Fidel Castro cũng thích nhảy múa cùng những huyền thoại của mình, để ông được “sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Một trong những huyền thoại hay được sách vở Cuba tuyên truyền rầm rộ là ông đã phá vỡ được đến 638 vụ ám sát của CIA Mỹ tổ chức nhằm vào ông. Những vụ ám sát được công bố qua các phương thức như bỏ thuốc độc, nổ xì-gà… rất ư là 007. Với theo nhiều tài liệu phân tích của các sử gia, thì đa số là do các tổ chức Cuba phản kháng lưu vong tìm cách thực hiện. Nhưng điều đáng nói nhất, thì người dân Cuba ít được phép nhắc đến, đó là Fidel Castro đã cai trị dân tộc mình bằng máu và nước mắt hơn nửa thế kỷ.

Không chỉ riêng ở Cuba, mà ngay ở Việt Nam, các giáo viên dạy sử cũng được nhận lệnh gia công cho các huyền thoại này. Trong một giờ dạy về lịch sử quốc tế, tôi còn nhớ mình phải học thuộc lòng rằng Cuba như chỉ sinh ra từ Fidel Castro và chủ nghĩa cộng sản. Người thầy dạy sử, mà tôi tin chắc rằng ông ta chưa bao giờ được một lần đặt chân đến Cuba, đã say mê thuyết phục những đứa học trò trung học chúng tôi rằng nơi đó là thiên đường, và Fidel là một kỳ nhân của thế gian khi cải tạo đất nước này sang hình thái xã hội chủ nghĩa.

Ở thiên đường đó, mà tôi cũng từng mơ màng trong suốt nhiều năm, có những điều thật trớ trêu. Hơn một triệu người dân Cuba không chấp nhận cộng sản, chọn cách ra đi đã hàng năm gửi về cho thân nhân của họ hơn 1 tỷ USD kiều hối, tương đương với 35% ngoại tệ thu về hàng năm của cả nước, giúp nền kinh tế này thoi thóp sống. Nơi quốc gia này, nhân viên nhà nước làm việc cho chính phủ, chỉ có được mức lương trung bình khoảng 15 USD/tháng nhưng phí điện thoại di động là 40 USD/ tháng. Tôi không có dịp gặp lại người thầy của mình để hỏi lại cảm giác của ông về những tin tức như năm 2014, người dân Cuba mới bắt đầu được đi du lịch nước ngoài mà không còn cần phải làm bản trả lời thẩm vấn nộp cho công an địa phương. Hoặc chỉ để nhìn lại ông, khi chìa cho ông bản tin chính báo chí Việt Nam đăng tải, rằng các phát minh của thế kỷ 20 như tivi màu, internet… người dân Cuba chỉ được chạm đến trong thế kỷ 21.

Năm 1961, sau một thời gian làm cách mạng lật đổ chế độ thân Mỹ của tổng thống Fulgencio Batista, Fidel Castro tuyên bố mình đi theo chủ nghĩa cộng sản, đưa đất nước này vào bóng đêm tăm tối của chế độ độc tài toàn trị. Dù được ca ngợi là thành tựu ở một vài lãnh vực như y khoa, kiểm soát tội phạm… nhưng đất nước Cuba cũng được nhắc đến về cuộc sống rên siết trong vòng vây của chế độ cộng sản. Một chế độ mà chính chủ tịch mới, ông Raul Castro đã phải thú nhận trước quốc hội vào tháng 4/2011, rằng « Hoặc là chúng ta sửa đổi, hoặc như thế là hết. Chúng ta không còn có thể đi men theo bờ vực thẳm, chúng ta sẽ chìm đắm, và cùng chìm theo ta là nỗ lực của bao nhiêu thế hệ ».

Triều đại bàn tay sắt của Fidel Castro vẫn còn được được mô tả trong bản báo cáo về nhân quyền năm 2009, qua lời của Rodolfo Bartelemí Coba, một nhà tranh đấu cho quyền con người, rằng “Chúng ta sống 24 giờ một ngày, mà vốn đã được chuẩn bị sẵn sàng để bị giam giữ”. 10 ngày sau lời phát biểu này, ông Rodolfo cũng đã bị bắt đi mất tích.

Sự tàn bạo của chính quyền cộng sản Cuba, thông qua Lực Lượng Vũ Trang Cách Mạng (FAR) là đề tài kinh hoàng của những người vượt thoát khỏi Cuba. Theo hồ sơ của Hiệp hội Đồng hương Mỹ-Cuba (Cuban American National Foundation) thì từ sau khi Fidel Castro cầm quyền, đã có khoảng 12.000 đối lập chính trị bị bắn, chôn sống hoặc tra tấn đến chết. Nhưng các tài liệu ngoài tiếng Tây Ban Nha thì cho biết số lượng những nạn nhân này có thể lên đến 17.000 người, chỉ tính riêng từ năm 1959 đến 1990.

Một bản tin về chuyện ngay sau khi Mỹ bỏ cấm vận với Cuba vào 17/12/2014 vừa rồi, cũng như tin tức chủ tịch Raul Castro ký trả tự do cho 35 nhà đối lập trong danh sách 100 người được quốc tế đề nghị (8/1/2015), số người đào thoát khỏi Cuba vẫn tăng đến 117%. Dù tự do và thay đổi đang ở ngay trước mặt nhưng người dân Cuba đã không còn kiên nhẫn để chờ đợi nữa. Họ làm mọi cách để chạm vào tự do ngay khi hàng rào kẽm gai vừa lỏng lẻo chứ không còn kiên nhẫn và cam chịu để chờ đến khi hàng rào đó sụp đổ. Không thể đợi Fidel chết và chế độ cộng sản Cuba sụp đổ trên bản đồ chính trị, người dân muốn tiễn đưa ngay cơn ác mộng của đời mình bằng hành động cụ thể nhất.

Khác với các nhân vật như đại tá Gaddafi hay tổng thống Mubarak, các nhà lãnh đạo cộng sản vẫn hay lên tiếng tố cáo sự tư hữu xa hoa của chế độ phương Tây, bày tỏ cuộc sống khiêm tốn của mình. Nhưng khi mọi thứ được phơi bày, người dân mới té ngửa khi biết rằng mọi thứ đều là dối trá. Chính các nhà lãnh đạo cộng sản là kẻ tham nhũng ghê sợ nhất, xa hoa nhất trên tấm lưng còng của tổ quốc mình. Theo tiết lộ từ cuốn La Vie Cachée de Fidel Castro (tạm dịch: Cuộc đời bí ẩn của Fidel), một nhân viên cận vệ của Fidel Castro kể rằng nhà lãnh tụ này chưa bao giờ từ bỏ lối sống tiện nghi tư bản mà ông ta vẫn hay lên truyền hình nguyền rủa nó. Juan Reinaldo Sánchez, người đã làm cận vệ riêng cho Fidel trong suốt 17 năm, sau đó đào thoát qua Mỹ, tiết lộ rằng dân cả nước Cuba không thể nào hình dung nổi cuộc sống sang trọng phung phí của Fidel. Thậm chí Fidel Castro còn quy hoạch một hòn đảo nhỏ thành của riêng cho mình, đảo Cato Piedra, nằm ở phía nam của Vịnh con Heo. Juan nói rằng nơi đó được Fidel Castro xây dựng như một vườn địa đàng, đầy những trại nuôi rùa biển và cá heo.

Thế kỷ 20 và 21 đã chứng kiến nhiều cuộc kết liễu độc tài. Từ Stalin đến Mao Trạch Đông… rồi Kim Chính Nhật đến Gaddafi… giờ thì đã rất gần với Fidel Castro, nhân vật bạo chúa được khoác áo người hùng trong vai diễn của lịch sử cộng sản thế giới. Như một quy luật không thể thay đổi: bất cứ chế độc tài nào rồi cũng phải ra đi, dù đi nhanh hay đi chậm. Thế kỷ như đang kết liễu những nhà độc tài, những nhà nước độc tài núp bóng vì nhân dân, vì tổ quốc. Những người như tôi cũng có dịp để kết liễu những bài học lịch sử nhồi sọ của mình, để ghi vào đó, một trang sử mới bằng tên của những người yêu nước Cuba đã chết cho quê hương của họ được tự do.

Freedom House: Việt Nam không có tự do Internet

Freedom House: Việt Nam không có tự do Internet

November 25, 2016

Nguoi-viet.com

Hàng chục người dân cầm biểu ngữ đòi trả tự do cho ông Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy ở gần tòa án Hà Nội ngày 23 Tháng Ba, 2016. Ông Vinh và Bà Thúy phổ biến các tin tức “lề trái” trên Internet nên bị chế độ Hà Nội bỏ tù. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

WASHINGTON (NV) – Tại Việt Nam, không hề có tự do thông tin, tự do truy cập Internet như nhà cầm quyền CSVN tuyên truyền, tổ chức Freedom House vừa tố cáo trong một bản phúc trình.

Theo Freedom Hose, một tổ chức nghiên cứu phi chính phủ, nhà cầm quyền CSVN kiềm chế không bắt nhiều người khi đang thương thuyết Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương. Nhưng ngay sau đó, họ kết án ba người sử dụng Internet, khi hiệp định đã được ký một tháng.

Trang mạng xã hội Facebook và Instagram nhiều lần bị ngăn chặn tại Việt Nam hồi Tháng Năm, 2016 nhằm không cho người ta phổ biến tin tức về các cuộc biểu tình chống công ty Formosa gây thảm họa cho biển Việt Nam và nhà cầm quyền không minh bạch, không đứng về phía nhân dân, thông tin không đầy đủ và không có biện phát tốt để đối phó với thảm họa có thể kéo dài nhiều thế hệ.

Một đạo luật về an ninh mạng được chế độ Hà Nội đưa ra hồi cuối năm ngoái nhằm siết chặt thông tin Internet và phạt nặng những ai vi phạm. Theo Freedom House, tình trạng tự do sử dụng internet tại Việt Nam vẫn tồi tệ trong năm nay như năm ngoái.

Khi đảng CSVN tổ chức đại hội đảng và các phe cánh đấu đá nhau để tranh giành những chỗ trong guồng máy chóp bu của đảng và nhà nước, chính những phe cánh đó phổ biến những bài viết, thông tin tố cáo nhau, đổ tội cho nhau trên mạng xã hội. Không ai biết tác giả của những bài viết, thông tin đó là ai, đến từ đâu. Không có cuộc điều tra nào để lôi những thủ phạm đó ra tòa. Nhưng bất cứ ai bị gán ghép cho thuộc thành phần chống đối chế độ, đòi hỏi tự do thông tin, tự do hội họp mà nói chung nhân quyền, đều bị chế độ Hà Nội tìm mọi cách để trấn áp, từ hành hung, cắt sinh kế hàng ngày đến tù tội.

Theo cuộc khảo sát của Freedom House, tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nước tệ hại nhất về tự do thông tin trên Internet. Tuy các nước khác cũng chẳng có tự do thông tin trên internet nhưng họ cũng còn nới lỏng hơn là chế độ Hà Nội. Việt Nam còn thua cả Thái Lan, Malaysia, Indonesia, thậm chí thua cả Cambodia.

Trong năm qua, ít nhất 15 người dân tại Việt Nam đang bị nhà cầm quyền CSVN giam giữ. Các vụ ngăn chặn không cho ra khỏi nhà, hành hung, thẩm vấn đối với những ai bị liệt vào thành phần “phản động” tức đòi hỏi tự do dân chủ, nhân quyền, xảy ra rất thường.

 Nhà cầm quyền CSVN dùng các điều luật hình sự mơ hồ như các điều 79, 88 và 258 để giam giữ và bắt tù bất cứ hai vào bất cứ lúc nào chế độ muốn. Ngay như cơ quan Cao Ủy Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc, trong năm 2016 cũng đã phải lên tiếng đến sáu lần, cáo buộc chế độ Hà Nội vi phạm nhân quyền. (TN)

Không Qúa Muộn Ðể Nên Thánh

Không Qúa Muộn Ðể Nên Thánh

Người Nhựt Bản có kể một câu chuyện như sau:

Zenkai là một thanh niên con của một hiệp sĩ Samourai. Anh được tuyển vào phục dịch cho một viên chức cao cấp trong triều đình. Không mấy chốc, Zenkai đem lòng say mê người vợ của chủ mình. Anh lập mưu giết người chủ và đem người đàn bà trốn sang một vùng đất lạ.

Anh tưởng có thể ăn đời ở kiếp với người đàn bà. Nhưng không mấy chốc, người đàn bà đã để lộ nguyên hình của một con người ích kỷ, đê tiện. Zenkai đành bỏ người đàn bà và ra đi đến một vùng đất khác, ở đó anh sống qua ngày bằng nghề hành khất.

Trong cảnh bần cùng khốn khổ, Zenkai đã bắt đầu hồi tâm để nhớ lại những hành động tội lỗi của mình. Anh quyết định làm một việc thiện để đền bù cho quá khứ nhơ nhớp của mình.

Anh đi về một vùng núi hiểm trở, nơi mà nhiều người đã bỏ mình vì khí hậu khắc nghiệt cũng như vì công việc nặng nhọc. Zenkai đem hết sức lực của mình để khai phá một con đường xuyên qua vùng núi ấy.

Ban ngày đi khất thực, ban đêm đào đường xuyên qua núi. Zenkai cặm cụi làm công việc ấy ròng rã trong 30 năm trời.

Hai năm trước khi Zenkai hoàn thành công trình của mình, thì người con của viên chức triều đình mà anh đã sát hại trước kia bỗng tìm ra tung tích của anh. Người thanh niên thề sẽ giết Zenkai để trả thù cho cha mình. Biết trước mình không thoát khỏi án phạt vì tội ác mình đã gây ra mấy chục năm trước, Zenkai phủ phục dưới chân người thanh niên và van xin:

“Tôi xin sẵn sàng chịu chết. Nhưng cậu hãy cho phép tôi được hoàn thành công việc tôi đang làm dở. Khi mọi sự đã hoàn tất, cậu hãy giết tôi”.

Người thanh niên ở lại để chờ cho đến ngày trả được mối thù cho cha. Nhưng trong khi chờ đợi, không biết làm gì, người thanh niên đành phải bắt tay vào việc đào đường với Zenkai mà vẫn nuôi chí báo thù cha.

Nhưng chỉ một năm sau cùng làm việc với kẻ đã giết cha mình, người thanh niên cảm thấy mọi ý muốn báo thù đều tan biến trong anh. Thay vào đó, anh lại thấy dậy lên trong lòng sự cảm phục và thương mến đối với sự nhẫn nhục, chịu đựng của Zenkai.

Con đường đã được hoàn thành trước dự định. Giờ đây dân chúng có thể qua lại vùng núi hiểm trở một cách dễ dàng.

Giữ đúng lời hứa, Zenkai đến phủ phục trước mặt người thanh niên để chấp nhận sự trừng phạt. Nhưng người thanh niên vừa đỡ Zenkai dậy vừa nói trong tiếng khóc:

“Làm sao tôi có thể chém đầu được thầy của tôi?”

Câu chuyện trên đây hẳn hàm chứa được nhiều bài học. Ngạn ngữ Latinh thường nói:” Sai lầm, vấp ngã là chuyện thường tình của con người, nhưng ngoan cố trong sai lầm là bản chất của ma quỉ”. Nét đẹp quí phái nhất nơi lòng người đó là còn biết hồi tâm, còn biết nhận ra lỗi lầm và từ đó quyết tâm xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Trong câu chuyện trên đây hẳn phải là hình ảnh của sự phục thiện mà Thiên Chúa vẫn luôn khơi dậy trong lòng người.

Nhưng bài học đáng chú ý hơn trong câu chuyện trên đây có lẽ là: tình liên đới xóa tan được hận thù trong lòng người. Người thanh niên đã khám phá ra giá trị ấy khi bắt tay làm việc với Zenkai, con người mà trước đó anh đã quyết tâm tiêu diệt cho bằng được. Quả thực, tình liên đới, sự đồng lao cộng khổ, sự hiện diện bên nhau có sức tiêu diệt được hận thù trong lòng người.

    Trích sách Lẽ Sống

From: hnkimnga & Anh chị Thụ Mai gởi

Lại Phải Chửi Thề

Lại Phải Chửi Thề

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Nhật báo Người Việt phát hành từ Orange County, California (số ra ngày 29 tháng 10 năm 2016) vừa “hân hoan” cho biết:

Tổng Thống Philippines, Rodrigo Duterte, nói rằng ông vừa hứa với Chúa là sẽ thôi không phát ngôn tục tằn nữa.

Ghé đến thành phố nhà Davao sau chuyến công du sang Nhật, ông Duterte cho biết, Chúa đưa ra tối hậu thư này với ông khi ông đang ngồi trên máy bay.

Trước mặt báo chí tại phi trường, ông Duterte nói: “Tôi nghe một tiếng nói bảo tôi hãy ngưng chửi thề, nếu không thì máy bay sẽ rơi từ trên không xuống, và thế là tôi hứa chấm dứt.

Đ…mẹ, tưởng gì chớ bỏ chửi thề thì dễ ợt. Dù chưa bị Chúa “hỏi chuyện” bao giờ, tui cũng đã thôi được cả ngàn lần rồi. Lần cuối, cách đây đã hơn tuần. Tui chỉ vừa tái phạm sau khi đọc một bài viết ngắn (“Cán Bộ Cướp Tang Vật Tiêu Hủy – Gian Dối Đến Thế Là Cùng”) của blogger Lã Yên trên trang Dân Luận:

Nhớ có lần tôi đến chơi nhà một người bạn – làm phóng viên đài truyền hình. Thấy nó nuôi một cặp vẹt rất đẹp. Tôi hỏi, tao nhớ là mày đâu có thú chơi chim, nay đổi gu rồi à? Nó cười, đâu có, chả là hôm vừa rồi đi đưa tin về vụ thả động vật hoang dã về tự nhiên, thấy có cặp vẹt đẹp nên đem về nuôi. Tôi hỏi tiếp, thế số còn lại thì sao? Chia nhau thôi, con thì nhậu, con thì bán lại cho nhà hàng. Thấy tôi có vẻ nghi ngờ, nó vỗ vai tôi, chuyện khó tin, nhưng đó là sự thật.

Và hôm nay, việc tranh cướp hàng chuẩn bị tiêu hủy tại Bộ Khoa học và Công nghệ, tôi chẳng lấy gì ngạc nhiên. Chỉ tiếc sự việc tương tự như thế này tồn tại từ lâu rồi, nhưng đến nay mới mới bị phanh phui. Quá muộn.”

Theo thông tin báo pháp luật, vào ngày 21-10, Thanh tra Bộ KH&CN phối hợp với Phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (PC46), Công an TP Hà Nội tổ chức tiêu hủy tang vật vi phạm hành chính là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đang được bảo hộ – Cụ thể: 726 chiếc túi xách, 1.057 chiếc ví da, 39 chiếc dây lưng, 06 chiếc đồng hồ đeo tay, 19 chiếc vòng đeo tay, 290 logo, 210 mặt dây lưng và 02 bán thành phẩm túi xách.Tuy nhiên, một clip vừa được tung lên mạng cho thấy tại buổi tiêu hủy có rất đông người xông vào săm soi, lựa chọn và lấy đi nhiều tang vật thu được.

Có lẽ không có ngôn từ nào có thể diễn tả sự tệ hại của một cơ quan công quyền – cấp bộ. Theo luật định, tất cả hàng hóa được kết luận là vi phạm sở hữu công nghiệp như nhái nhãn mác, giả xuất xứ… đều phải bị tiêu hủy. Nhưng ơ đây họ làm gì ? sự thật đã được phơi bầy trong Clip. Thật xấu hổ cho cái gọi là chống hàng giải, hàng nhái.

Ảnh:vietnamnet

Đ…mẹ, mấy con vẹt hay mớ hàng nhái, hàng giả thì ăn nhằm (cái con cặc) gì! Chúng còn tịch thu và chia chác nguyên cả gia sản của hàng chục triệu lương dân, kể cả “ân nhân cách mạng” ấy chứ.

Coi nè:

– Những gì mà Cách mạng lấy được của “nhà giàu” trên toàn miền Nam được liệt kê: “Về tiền mặt ta thu được 918,4 triệu đồng tiền miền Nam; 134.578 Mỹ Kim [trong đó có 55.370 USD gửi ở ngân hàng]; 61.121 đồng tiền miền Bắc; 1.200 đồng phrăng (tiền Pháp)…; vàng: 7.691 lượng; hạt xoàn: 4.040 hột; kim cương: 40 hột; cẩm thạch: 97 hột; nữ trang: 167 thứ; đồng hồ các loại: 701 cái. Trong các kho tàng ta thu được: 60 nghìn tấn phân; 8.000 tấn hoá chất; 3 triệu mét vải; 229 tấn nhôm; 2.500 tấn sắt vụn; 1.295 cặp vỏ ruột xe; 27.460 bao xi măng; 644 ô tô; 2 cao ốc; 96.604 chai rượu; 13.500 ký trà; 1000 máy cole; 20 tấn bánh qui; 24 tấn bơ; 2.000 kiếng đeo mắt; 457 căn nhà phố; 4 trại gà khoảng 30.000 con và một trại gà giá 800 triệu; 4.150 con heo; 10 con bò, 1.475.000 USD thiết bị tiêu dùng; 19 công ty; 6 kho; 65 xí nghiệp sản xuất; 4 rạp hát; 1 đồn điền cà phê, nho, táo rộng 170 hecta ở Đà Lạt” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

     –  “Tại Sài Gòn, 28.787 hộ tư sản bị cải tạo, phần lớn bị “đánh” ngay trong bốn ngày đầu với 6.129 hộ “tư sản thương nghiệp”, 13.923 hộ “trung thương”. Những tháng sau đó có thêm 835 “con phe”, 3.300 “tiểu thương ba ngành hàng”, 4.600 “tiểu thương và trung thương chợ trời” bị truy quét tiếp. Theo ông Huỳnh Bửu Sơn, người trông coi kho vàng của Ngân hàng, trong đợt đánh tư sản này, Cách mạng thu thêm khoảng hơn năm tấn vàng, chưa kể hạt xoàn và các loại đá quý. Có những gia đình tư sản giấu vàng không kỹ, lực lượng cải tạo tìm được, khui ra, vàng chất đầy trên chiếu.” (Sđd, trang 90).

Chỉ riêng về số lượng bị coi như là thất thu (vì cán bộ thu rồi bỏ túi) đã được ghi nhận như sau, tại một số những địa phương có tổ chức vượt biên chính thức – bán bãi thu vàng – hồi cuối thập niên 1970:

 Hậu Giang, 4.866 lượng; Minh Hải, 48.195 lượng; Bến Tre, 3.789 lượng; Cửu Long, 27.000 lượng; Nghĩa Bình, 27.000 lượng; Phú Khánh, 10.987 lượng; Thuận Hải, 1.220 lượng; An Giang, 1.445 lượng”. (Sđd, trang 129).

Và những vụ  cướp ngày (trắng trợn) tương tự  đâu phải chờ đến năm 1975 mới xẩy ra, ở miền Nam:

Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên toàn miền Bắc, các nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh doanh cho Nhà nước. Bà Trịnh Văn Bô lại được kêu gọi “làm gương”, đưa xưởng dệt của bà vào “công tư hợp doanh”. Bà Bô cùng các nhà tư sản được cho học tập để nhận rõ, tài sản mà họ có được là do bóc lột, bây giờ Chính phủ nhân đạo cho làm phó giám đốc trong các nhà máy, xí nghiệp của mình. Không chỉ riêng bà Bô, các nhà tư sản từng nuôi Việt Minh như chủ hãng nước mắm Cát Hải, chủ hãng dệt Cự Doanh cũng chấp nhận hợp doanh và làm phó…

Cả gia đình ông Trịnh Văn Bô, sau khi về Hà Nội đã phải ở nhà thuê. Năm 1954, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái có làm giấy mượn căn nhà số 34 Hoàng Diệu của ông với thời hạn 2 năm. Nhưng cho đến khi ông Trịnh Văn Bô qua đời, gia đình ông vẫn không đòi lại được. (Sđd, tập II, trang 204 – 206).

Ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang của ông bà Trịnh Văn Bô.

Ảnh: hanoimoi

Thiệt là mặt dầy mày dạn. Vậy mà ông Bùi Thế Duy, Chánh Văn Phòng Bộ Khoa Học và Công nghệ (KH&CN) tuy thừa nhận là có chuyện hôi của nhưng vẫn “ráng” nói thêm: “… đây là lần đầu tiên xảy ra sự cố nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của việc thực thi pháp luật về sở hữu công nghiệp, gây ra dư luận xấu trong xã hội.”

Ông Duy, rõ ràng, muốn lấy thúng úp voi. Cướp giựt vài cái ví da, túi xách, thắt lưng … thì có (đéo) gì đáng gọi là “sự cố nghiêm trọng.” Đảng của ông cướp bóc không ngừng, từ hơn nửa thế kỷ qua, bộ tưởng là không ai biết hoặc thiên hạ đã quên ráo rồi chăng?

Một câu chuyện cảm động nhân Lễ Tạ Ơn

Một câu chuyện cảm động nhân Lễ Tạ Ơn

Nhân ngày Lễ Tạ Ơn, xin được chia sẻ cùng quí vị câu chuyên cảm động và ý nghĩa về một người đã khuất, ông Al Christine, còn gọi là Alex Christine Sr.
Thanh Trúc, phóng viên RFA
2011-11-24
Happy Thanksgiving.

Happy Thanksgiving.

Courtesy holidayspot

Mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi hôm nay rơi đúng vào Thanksgiving Day, Ngày Lễ Tạ Ơn, một truyền thống tri ân cao đẹp ở đất  nước Mỹ mà chính các di dân đến Hiệp Chủng Quốc  cũng thấy mình học hỏi được rất nhiều điều hay từ ngày lễ này.

Và Thanh Trúc cũng mạn phép nhân ngày Lễ Tạ Ơn để xin được chia sẻ cùng quí vị câu chuyên  cảm động và ý nghĩa về một người đã khuất, ông Al Christine, còn gọi là Alex Christine Sr., qua lời  thuật từ vị khách mời quen thuộc của mục Đời Sống người Việt Khắp Nơi, linh mục Martino Nguyễn Bá Thông.

Một người Mỹ luôn tươi cười

Giáo đường Saint Mary On The Hill, Augusta, Georgia, đã không biết tự bao giờ, hàng cuối cùng bên tay phải, ghế thứ ba từ ngoài đếm vào, mỗi chiều thứ Bảy, đó là chỗ ngồi của ông.

Một người Mỹ trắng, cụt một tay, cụt một chân, mặt luôn tươi cười mà chừng như thân xác đang chịu đựng nỗi đau triền miên, đó là Alex Christine. Và câu chuyện bắt đầu:

Chúng ta đang sống được trên thế giới tự do, chúng ta  phải cám ơn những người như ông. Trong ngày Lễ Tạ Ơn này chúng tôi cám ơn ông.

LM Nguyễn Bá Thông

“Thật sự đó là một phần mình viết cho bài giảng trong Lễ Tạ Ơn này. Như quí vị biết tôi chịu chức linh mục năm 2004, về một giáo xứ hoàn toàn là người Mỹ trắng. Tôi cứ nói đùa là giáo xứ chỉ có một mình  tôi không giống ai.

Trong mỗi buổi thánh lễ  thì tôi cũng nhìn ông và ông cũng nhìn tôi. Là một linh mục thì tôi cũng chào hỏi ông, dừng lại hỏi năm ba câu. Được vài tháng thì bà vợ của ông đến nói: “Cha ơi xin Cha, bà dùng chữ là xin Cha thân mật với ông một tí bởi vì ông có nhiều điều muốn chia xẻ với Cha lắm mà thật tình ông không dám. Ông có những tâm sự bên trong bởi vì ông đã từng ở chiến trường Việt Nam.”

Sau đó, linh mục Martino cố tình làm thân và trò chuyện với người đàn ông tàn tật đó nhiều hơn, biết được  ông là người chuyên tháo gỡ mìn, đã qua chiến trường Việt Nam hai lần:

“Đầu tiên ông qua chiến trường Việt Nam là năm 65, sau đó ông trở lại nữa. Ông là người chuyên môn hướng dẫn các quân nhân cách  gỡ mìn và bom đạn được cài đặt.

Năm 70 khi ông trở lại chiến trường Việt Nam lần thứ hai, lúc đó ông đứng đầu quân đoàn chuyên dạy cho người ta cách gỡ bom mìn. Trong một lần như thế thì mìn nổ, ông mất đi một chân và cụt một tay, trong thân xác còn nhiều mảnh đạn và ông cứ đau đớn triền miên như vậy.

Chắc quí vị đặt câu hỏi là  chuyện này dính  gì đến Lễ Tạ Ơn? Câu chuyện dính với Lễ Tạ Ơn là bởi vì sáu năm sau đó, năm 2010, tôi là người chủ tế nghi thức tẩm liệm cho ông tại  nhà quàn vào đêm hôm trước thánh lễ an táng. Có nhiều điều làm cho tôi phải nghĩ tới, nhất là trong Lễ Tạ Ơn này. Bởi có những điều ông chưa bao giờ kể  với tôi, và ngày  hôm đó tôi và mọi người đều bất ngờ.”

Sau khi hoàn tất nghi thức tẩm liệm, linh mục Martino Nguyễn Bá Thông mời trưởng nam của ông Alex, một luật sư, lên nói đôi lời về người cha quá cố của mình. Và Alex Christine Jr. bắt đầu như thế này:

Nhưng, con  yêu dấu, một người đàn ông còn có nhiều trách nhiệm khác cũng quan trọng không kém trách nhiệm đối với gia đình của mình.

Alex Christine Sr.

“Bạn  thử hình dung khi đang ở trong  trận chiến khốc liệt, tại một chiến trường xa tổ quốc, với cái chết rình rập chung quanh, tương lai không biết đi về đâu. Hơn thế nữa, bạn không biết bạn còn có cơ hội để gặp gia đình một lần nữa không. Giữa không gian đó, bạn tìm dăm ba phút gởi một thông điệp tới người thân của bạn. Bạn sẽ nói  gì viết gì?

Bốn mươi lăm năm trước, cha chúng tôi, ông Al Christine, đã đối mặt với tình huống ấy. Ngày 26 tháng  Bảy năm 1965, khi đang phục vụ tại chiến trường Việt Nam trong binh đoàn Mũ Xanh Green Beret đặc trách thao gỡ bom mìn, ông đã viết lá thư đầu tiên cho người con trai trưởng trong gia đình, Alex Junior, lúc đó 14 tuổi. Đó là tôi. Ông không biết rằng đúng bốn mươi lăm năm sau ngày ông thảo lá thư đó từ chiến trường, tôi, em trai Brian, em gái Kathleen, em trai út  Bobby, lại có mặt nơi đây để đưa tiễn ông.

Ông đã bị thương tại chiến trường Việt Nam, nhưng vẫn tiếp tục hoàn thành hai năm phục vụ trước khi trở về quê hương. Năm 1969 ông trở qua  Việt Nam, đến ngày 7 tháng Mười Một năm 1970, trong một lần chỉ huy tháo gỡ bom mìn, ông đã mất  cánh tay phải và một chân trái khi đang cùng các binh sĩ Hoa Kỳ và Việt Nam chiến đấu chống lại một lực lượng quân đội hùng hậu của miền Bắc.

Cha tôi đã nhận lãnh nhiều huy chương danh dự và cao quí của quân đội Hoa Kỳ và Đồng Minh, những huân chương như Purple Hearts, Chiến Thương Bội Tinh, Silver Star, Bronze Star, Air Medal, Bảo Quốc Huân Chương Vietnamese Cross Of Gallantry.

Cuộc chiến Việt Nam đã cướp đi cánh tay  phải và chân trái của cha tôi, để lại trong người ông hàng trăm mảnh đạn. Từ ngày đó, năm 1970, ông phải hàng ngày đối diện với  nỗi đau đớn triền miên của thân xác. Thế nhưng ông luôn tươi cười và muốn làm cho mọi người chung quanh cười tươi. Hôm nay, tôi xin phép đọc lại lá thư ông viết năm 1965 từ chiến trường. Có điều tôi e rằng tôi khó có thể hoàn tất, nên tôi xin nhờ cha Martino đọc giùm cho tôi.”

Đó là những lời phát biểu của Alex Jr. về người cha thân yêu của anh  hiện đang nằm kia, một buổi chiều năm 2010. Ông Al Christine nằm đó mà như mỉm cười, lặng lẽ, bình an, không còn đau đớn. Trở lại với linh mục Martino Nguyễn Bá Thông:

“Thì quí vị tự hỏi chuyện này có liên quan gì với Lễ  Tạ Ơn? Thưa quí vị có liên quan. Trong cuộc đời linh mục của tôi thì đám tang này là đám tang thứ hai ba trăm rồi, có gì phải nói? Nhưng phải  nói bởi vì câu chuyện đang được từ từ mở ra, cho tôi cảm nhận được tình yêu của ông, và đó tại sao tôi nói là ý nghĩa của Ngày Tạ Ơn.”

Ý nghĩa của Ngày Tạ Ơn

Thưa quí vị, trong lá thư đó, ông Alex Sr. viết như sau:

“Alex, Con yêu dấu:

Tối nay cha không thể ngủ được và cha quyết định viết thư cho con. Cha thật sự không muốn phải xa con, nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh, nhưng cha muốn con hiểu được lý do tại sao cha phải quyết định xa con.

Chắc đã có nhiều lần con tự hỏi tại sao cha rời con, rời mẹ con, và cả gia đình! Và chắc cũng không ít lần con buồn phiền, bực tức và là cha không có mặt để chơi với con, để dẫn con đi câu cá, và làm những việc rất bình thường mà tất cả các người cha làm với các đứa con trai của mình! Và có thể, con còn ghét cha nữa.
Con, có nhiều điều mà người đàn ông phải làm! Dĩ nhiên cha rất thương con, thương mẹ con, thương các em của con! Và bởi vì cha thương các con, cha muốn được gần gũi với con!

Cha không ao ước gì hơn là được ở bên con và mẹ con, để  được thấy con và giúp con khôn lớn.Cha sẽ rất hạnh phúc khi được làm điều đó, bởi vì người đàn ông sẽ không có gì cả nếu ông ta không có con cái. Vì một ngày nào đó, cha sẽ chết đi, và qua con và các em của con mà tên của cha sẽ tiếp tục sống.
Nhưng, con  yêu dấu, một người đàn ông còn có nhiều trách nhiệm khác cũng quan trọng không kém trách nhiệm đối với gia đình của mình. Cha có trách nhiệm này đơn giản thôi, vì cha là một người đàn ông tự do, sống trong một đất nước tự do, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Đúng bốn mươi lăm năm sau ngày viết lá thư đó, ông Alex đã không còn đau đớn. Ông đã được diễm phúc nhìn thấy bốn đứa con của mình trưởng thành và thành đạt.

LM Nguyễn Bá Thông

Tất cả các quyền lợi và cơ hội mà con được hưởng, đôi lúc có phần lạm dụng, không phải dễ dàng mà có đâu con. Chúng ta được hưởng những cơ hội đó vì đã có những người đàn ông khác xả thân để  bảo vệ nó.  Có thể bây giờ con không hiếu được điều ấy, nhưng một ngày nào đó con sẽ hiểu. Chắc  chắn con sẽ phải hiểu. Đó là tại sao đêm hôm nay cha viết lá thư này cho con.

Con, đừng bao giờ chần chừ bước ra khỏi cái ích kỷ của mình để chiến đấu bảo vệ tự do và quyền lợi đó. Vì nếu con chần chừ, con sẽ mất tất cả. Nếu con không sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ nó, người ta sẽ cướp nó ra khỏi tay con. Cha tin rằng đó là chân lý, là sự thật như cha tin rằng Chúa đã ban con cho cha để tiếp nối cuộc đời khi cha nằm xuống.

Cha đang mong tới ngày cha trở về quê hương và sống bên cạnh con như cha con ta đã từng sống cách đây vài tháng. Cha mong ước điều đó hơn bất cứ điều gì khác. Nhưng con yêu dấu, nếu điều đó không xảy ra, con hãy hiểu cho cha là “tại sao cha quyết định phải xa con”, Cha tin rằng con sẽ trưởng thành và trở nên người đàn ông mà bất cứ người cha nào cũng phải hãnh diện.

Chiến trường Việt Nam 1969,

Cha của con,

Alex Christine.”

Chúng tôi cám ơn ông

Chia sẻ với Thanh Trúc, linh mục Martino Nguyển Bá Thông cho biết nước mắt ông đã tuôn trào khi đọc lá thư của người quá cố, một cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam, nay đã xuôi tay nhắm mắt:

nbt250.jpg
Linh mục Martino Nguyễn Bá Thông. Courtesy OBV. Photo: RFA

“Có thể tôi là người đầu tiên mở màn cho những giọt nước mắt, thế là cả nhà nguyện được tự do khóc, cha con chúng tôi cùng khóc. Tôi khóc, những người Công giáo khóc, những anh em Tin Lành khóc, những người Phật giáo cũng khóc, những người vô thần cũng khóc.
Nhưng quí vị thân mến, chúng tôi khóc vì chúng tôi hãnh diện và chúng tôi tự hào. Chúng tôi tự hào và chúng tôi cám ơn nữa. Cám ơn bởi vì trên thế giới này cũng vẫn có những người như ông.
Đặc biêt đối với tôi, tôi cám ơn ông đã cùng đồng hành với bố tôi, mẹ tôi, các cậu của tôi, cả giòng họ nhà tôi trong chiến trường. Ông không phải người Việt Nam nhưng ông tin vào một thế giới tự do và ông muốn chia xẻ cái tự do đó không phải chỉ với con cái của ông mà đối với tất cả chúng ta. Quí vị thân mến, giờ đây tôi đang ngồi chia sẻ lá thư này mà nước mắt tôi vẫn tuôn giống như lúc đó.

Ngày hôm nay  nghe câu chuyện này, có thể chúng ta cảm thấy  mơ hồ, nhất là các bạn trẻ. Nhưng các bạn thân mến, chúng ta đang sống được trên thế giới tự do, chúng ta  phải cám ơn những người như ông. Trong ngày Lễ Tạ Ơn này chúng tôi cám ơn ông.”

Quí vị vừa theo dõi câu chuyện cảm động về một cựu chiến binh Al Chritine, đã về bên kia thế giới và đã để lại một phần thân thể của mình ở Việt Nam, trong tinh thần và trách nhiệm của một người lính chiến.

Một chút suy tư của linh mục Martino Nguyễn Bá Thông, một lời tri ân trong buổi tối Lễ Tạ Ơn này:

“Đúng bốn mươi lăm năm sau ngày viết lá thư đó, ông Alex đã không còn đau đớn. Ông đã được diễm phúc nhìn thấy bốn đứa con của mình trưởng thành và thành đạt. Các con của ông tiếp tục làm những gì ông đã làm dang dở.

Alex, người con trưởng, trở thành một luật sư và cũng là chủ tịch hội đồng tài chánh của nhà thờ chính tòa giáo phận Saint Augustine. Người em gái kế, cô Kathleen, có bằng cao học giáo dục, và ông rất hãnh diện nói về người con gái này vì cô là phụ nữ đầu tiên trong cả giòng họ nhà ông, những di dân từ Ý, có bằng đại học. Người con trai thứ ba, anh  Brian, là một bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ rất nổi tiếng. Cậu con út, anh Bobby,là thẩm phán của quận mà chúng tôi đang sống, cũng là chủ tịch hội đồng mục vụ thuộc giáo xứ tôi đang chăm sóc lúc bấy giờ.”

Hay là quí vị Hãy cùng Thanh Trúc cảm ơn Thượng Đế đã ban cho đời những con người như ông.

Câu chuyện của mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi tạm ngưng ở đây. Cảm ơn quí vị đã theo dõi như đã từng theo dõi chuyên mục do Thanh Trúc phụ trách mười lăm năm qua.

Thanh Trúc sẽ trở lại cùng quí vị thứ Năm tuần tới.

HAPPY THANKSGIVING

HAPPY THANKSGIVING

Tạ ơn trời – hôm nay tôi còn sống
Mắt còn nhìn, còn đọc được Emails
Đời còn vui, đâu đến nỗi cô liêu.
Thêm kiến thức, thêm từ tâm hỷ xả!
Tạ ơn các bạn gần xa
Hằng ngày chia sẻ cùng ta đủ điều.
Emails nhận được bao nhiêu

 Là bao tình cảm thương yêu nồng nàn

* – Cám ơn tất cả các bạn đã cho tôi biết bao kỷ niệm buồn vui, những món quà vô giá mà không sao tôi có thể mua được.

*. – xin cám ơn tất cả … những ai đã đến trong cuộc đời tôi, và cả những ai tôi từng biết mà chưa quen.

Cám ơn những thăng trầm của cuộc sống, đã cho tôi nếm đủ mọi mùi vị ngọt bùi, cay đắng của cuộc đời, để  nhận ra cuộc sống này th ật vô cùng ý nghĩa 


  * – Cám ơn những dòng thơ, dòng nhạc, đã giúp tôi tìm vui trong những phút giây chán nản buồn phiền nhất, để  quên đi những sầu muộn âu lo, để thấy cuộc đời này vẫn còn có chút gì đó để nhớ, để thương.

Cuộc sống này, đôi lúc mình cũng cần nên biểu lộ tình thương yêu của mình , bằng một hành động gì đó cụ thể, dù chỉ là một lời nói, một Email, một tấm thiệp hoặc một cái hug vì tình thương là phải được cho đi và sẽ được đón nhận, bởi lỡ mai này, những người thương của mình không còn nữa, thì ngày lễ Tạ Ơn có còn ý nghĩa gì nữa không ? 

Xin cám ơn cuộc đời ….Tạ ơn Trời và cám ơn người.

Anh chị Thụ & Mai gởi

288471-thanksgiving

HÃY DẠY CHÚNG LÊN TIẾNG

HÃY DẠY CHÚNG LÊN TIẾNG

FB Luân Lê

23-11-2016

Ở một quốc gia mà người nói lên sự thật và điều đúng đắn thì lại được coi là dũng cảm và bản lĩnh, thế hoá ra chẳng phải là chúng ta từ trước đến nay toàn được giáo dục bằng dối trá và sự ươn hèn cho bao thế hệ đã qua hay sao?

Nếu là thầy giáo, tôi sẽ nói với những học trò của mình rằng, tổ quốc và quê hương này là của các em, chính quyền sinh ra là để phục vụ và trung thành với nhân dân của một nước, trong đó có các em ở đây, không phải để độc quyền và độc tài trong sự lãnh đạo xã hội. Các em không thể chỉ đặt niềm tin và giao phó tất cả số trứng mình có trong tay cho một người mà hoàn toàn họ có thể tha hoá, và nếu tha hoá thì ta cần phải có cơ chế để thay thế nó bằng một thứ tốt hơn. Để làm được điều đó, chúng ta phải luôn có cái giỏ thứ hai hoặc thứ ba để sẵn sàng cho việc đó diễn ra.

Tổ quốc và nhân dân mới là thứ để các em phục vụ, cống hiến và hy sinh, nếu có thể, chứ không phải vì ai, vì vị lãnh tụ, cá nhân hay nhóm đoàn, đảng phái nào, tất cả những thứ gắn với con người hoặc nhóm hội nào đó thì đều có thể phế bỏ hay thay thế được. Nhưng nhân dân và tổ quốc suy bại hay mất đi thì lúc đó chúng ta chỉ còn đường chết hoặc chạy trốn khắp nơi và suốt đời như người Do Thái đã phải làm từ hàng trăm, nghìn năm nay. Họ không có quê hương nhưng họ có linh hồn của họ, đó là tôn giáo và trí tuệ, họ đóng góp được cho thế giới văn minh nhiều hơn những gì chúng ta có thể tưởng tượng, trong mọi lĩnh vực đều có bóng dáng của họ.

Nếu tôi là thầy giáo, tôi sẽ nói với những học sinh của mình, tôi không phải chân lý, tôi không hoàn toàn đúng, nên hãy mạnh dạn nói rằng tôi đã sai, khi có thể và hãy nói lên quan điểm của mình. Đi học là phải nhìn thấy được cái sai của người khác và dám nói lên điều đó, thậm chí gay gắt. Học, là để lên tiếng, không phải để im lặng, nhất là khi tôi đánh điểm 9 cho một người đưa ra đáp án sai mà lại cho điểm F với một người mà rõ ràng ai cũng thấy họ đúng.

Nếu là thầy giáo, tôi sẽ chỉ dẫn chúng đọc sách và phải thực hành, đọc nhiều sách và thực hành càng nhiều càng tốt, việc khác có thể đừng chứ việc đó không được ngừng nghỉ mà phải thực hiện mỗi ngày, làm điều hợp lẽ phải và lương tâm, không nghe theo sự áp đặt của ai khác, không chỉ học từ một người, không coi ai là lãnh tụ và không chỉ biết đến một đảng phái, không cần phải e sợ tôi, nhà trường hay rộng hơn là chính quyền đang cai trị. Vì chính các em mới là chủ thể của đất nước, chính quyền chỉ được lập ra để phục vụ nhân dân và bảo vệ tổ quốc, họ được trả lương để làm điều đó, họ là những kẻ ăn bám xã hội, và các em là người trả lương cho họ để làm việc đó. Nên mọi việc của nhà nước là duy trì trách nhiệm của mình, chứ các em không phải mang ơn họ về bất kể điều gì.

Họ bắt kẻ giết người là trách nhiệm của họ, vì họ được lập ra để làm điều đó. Họ ngăn chặn khủng bố là nghĩa vụ của họ, vì họ sinh ra là để đảm bảo sự an toàn cho xã hội. Họ phải dùng luật pháp để bắt bớ, truy tố và xét xử một người nào đó, và họ không được quyền lạm dụng luật pháp hay nhân danh nó để đánh đập, mạt sát, miệt thị, nhục mạ bất kể người đó là ai, họ có nghĩa vụ phải tôn trọng và tuân thủ luật pháp cũng như nhân phẩm, tính mạng, sức khoẻ con người, mọi hành vi tội phạm đều đã có luật pháp điều chỉnh và nghiêm trị.

Nếu là thầy giáo, tôi sẽ dạy các em học thực, ném bỏ những cuốn sách giáo điều, giáo án và phương pháp ngu ngốc mà chúng ta đang áp đặt vào bao nhiêu thế hệ, nó đã khiến con người trở nên yếu hèn, bạc nhược, dốt nát và bảo thủ, trong sự mơ tưởng vô vọng mà thế giới cười cợt vì những khái niệm và tri thức thụt lùi mà thậm chí là đi ngược lại thế giới văn minh hàng trăm năm. Tôi dạy các em, nếu muốn làm người, thì phải quan tâm đến tình hình đất nước và xã hội mà là quê hương của mình, nếu không để tâm đến điều đó thì các em sẽ không bằng loài kiến. Và người ta sẽ khinh bỉ một người mà không biết gì đến hiện trạng quê hương mình đang sống, vì nó thể hiện và biểu lộ trình độ và tình cảm của bạn dành cho chính mảnh đất máu thịt mà dung dưỡng mình đến đâu.

Tôi sẽ dạy các em biết tôn trọng và học hỏi từ những người giàu chân chính, biết đùm bọc và thương yêu người nghèo khó, biết cầu thị và chia sẻ với những người xung quanh. Biết tôn trọng đồng tiền nhưng không để nó trở thành thứ mình phải nô lệ, biết lao động kiếm tiền nhưng đừng mưu mô hay toan tính để đạt được chúng. Chẳng có giá trị gì với những lợi ích hay đồng tiền như thế cả.

Tôi dạy chúng tự do tư duy, có đấu tranh cho lẽ phải và công bằng mới có tự do, có tự do mới có phát kiến và sáng tạo, có sáng tạo mới đem đến sự phát triển và thịnh vượng. Tôi chỉ dạy chúng không bao giờ nói dối, không cúi đầu trước cường quyền và sai trái, không luồn lách mà làm ăn rồi coi đó là thông minh hay khôn ngoan hơn người khác. Vì làm người thì phải trung thực, đó là đức tính quan trọng nhất của một con người và của cả một xã hội, dù ở bất kỳ đâu và bất cứ thời đại nào.

Tôi không dạy chúng chỉ biết vâng lời cha mẹ, thày cô hay những hệ thống chính trị nào khác, phải biết tư duy độc lập và phản biện, không im lặng trước bất kể điều gì mà mình thấy và hiểu rõ chúng là phi lý, bất công. Vì nếu ta im lặng trước bất công của người khác, thì rồi một ngày chúng ta rơi vào hoàn cảnh của họ, chúng ta sẽ không đủ tư cách để đòi hỏi ai lên tiếng cho mình mà phải chấp nhận đó là kết quả của chính sự im lặng của mình tạo ra từ trước.

Vì, đáp lại sự im lặng sẽ chỉ là sự lặng im của người khác.

Đó là quy luật tất yếu, muốn có sự phản hồi, sóng được truyền đi và khi gặp vật cản, nó sẽ được phản xạ ngược trở lại phương ban đầu mà làm nên sự giao thao và cộng hưởng (tạo thành những bó sóng). Cũng giống như thế giới vừa vui mừng đón nhận thành quả về việc hứng được sóng cực ngắn từ một hành tinh đã tan rã từ hàng tỷ năm trước.

Nếu tôi là thầy giáo, tôi sẽ dạy chúng cất lên tiếng nói của lòng chính trực, vì ngôn ngữ sinh ra không phải chỉ để nói lời ba hoa hay tán tỉnh, vẽ vời, ngôn từ sinh ra để viết nên những giá trị và điều đẹp đẽ, mà đẹp đẽ nhất là truyền lửa, tình yêu thương và cứu vớt cho đồng loại mình, bởi ngay cả loài kiến còn có ngôn ngữ bằng những tín hiệu để truyền cho nhau những thông điệp trong đời sống của mình. Cá heo có tiếng kêu, loài dơi phát sóng siêu âm, muông thú có những cách biểu đạt âm thanh riêng cho từng loài. Còn chúng ta, có chữ viết và ngôn từ là để lên tiếng, truyền cho nhau những giá trị của tình yêu thương, lòng dũng cảm và sự chân thành.

Và sự im lặng, không bao giờ được coi là một đức tính tốt hay đại diện cho điều tử tế, nhất là nó là thứ biểu đạt được tìm thấy khi đứng trước các bất công và phi lý diễn ra hiển hiện và đầy rẫy trên quê hương, tổ quốc mình đang sống.

Tôi, hy vọng vào những người thầy có đủ tư cách, phẩm chất, lương tri và trí tuệ để vực dậy những thế hệ tương lai về một quốc gia, xã hội và con người nhân bản, văn minh và khoa học, nơi của điều tử tế và sự chân thành.

Tôi đặt hy vọng, gần như tất thảy sự lạc quan hiếm có của bản thân mình, vào những người thầy có trách nhiệm với quốc gia và dân tộc, nhưng không phải từ và ở những con người đi làm nhiệm vụ chính trị hay chạy chọt để được vào vị trí nhà giáo kiếm đồng tiền làm kế sinh nhai.

CHUYỆN KỂ CHO CON: LỄ TẠ ƠN – THANKSGIVING

CHUYỆN KỂ CHO CON: LỄ TẠ ƠN – THANKSGIVING

Chuyện được kể rằng, có một nhóm 102, gồm cả 35 người thuộc đạo Tin Lành Cải Cách ly khai (Puritanisn separatists) người Anh di cư gọi là Pilgrims Fathers.

hinh-le-ta-on

 

 

 

 

 

 

 

 

Trước đó, bị hoàng đế Anh lúc đó bắt họ phải cải đạo để theo tôn giáo của ông ta.  Những người này không chấp nhận và bị giam vào tù.  Sau khi giam một thời gian vị hoàng đế truyền họ đến và hỏi lần nữa, họ vẫn quyết không cải đạo.  Hoàng đế không giam họ vào tù nữa mà nói với họ rằng nếu họ không theo điều kiện của ông ta thì họ phải rời khỏi nước Anh.  Vì lý do tín ngưỡng bị đàn áp, họ rời quê hương Anh Quốc, khởi hành vào tháng 9 năm 1620 trên chiếc tàu Mayflower, một thuyền buồm trọng tải 180 tấn từ Plymouth.  Đầu tiên, họ đến tạm cư tại Leyden, Hòa Lan (Netherland), nhưng cuộc sống ở đây làm họ thất vọng.  Do đó, nhóm người này quyết định đi tìm một chân trời mới tại Tân Thế Giới vì họ muốn tạo dựng một thánh địa mới cho tín ngưỡng của họ.

Trên chuyến đi sang Tân thế giới, họ đã trải qua bao gian lao, thử thách, gian truân và nguy khốn…  Sau 65 ngày trên biển lạnh, vào ngày 21 tháng 11 năm 1620, tàu đến Cape Cod, sau cuộc hành trình dài 2750 hải lý (1 hải lý = 1,852m).  Cap Cod là một bờ biển chưa ai đặt chân tới (sau này là Massachusetts).  Khi tàu cập đến được nơi này, thì Susanna White cũng cho ra đời một bé trai, đặt tên là Pelégrine (nghĩa là “người hành hương”).  Tuy biết là đã đi sai đường, nhưng họ phải xuống tàu, và ký ngay ngày hôm đó một hiệp ước sống hòa hợp với dân bản xứ (Narranganset và Wampanoag).  Đó là Maryflower Compact Act, trong đó ghi những gì phải làm khi định cư.  Có nhiều cuộc chạm trán nho nhỏ với thổ dân da đỏ, nhưng không quan trọng lắm.  Họ phải đi tìm chỗ ở khá hơn bởi vì lúc đó là mùa đông đầu tiên của họ, một mùa đông đầu tiên vô cùng khác nghiệt và quá lạnh lẽo.

Sau 6 tháng lên đất liền, thời tiết khắt khe và thiếu thốn.  Ngay từ cuối thu, vì bệnh dịch và lạnh lẽo, họ đã mất đi 46 người trong số 102 người khởi hành trên tầu Mayflower.  Trong số người chết có 14 người vợ (trong số 18 người cả thảy), 13 người chồng (trong số 24 người).  Trong tình trang khốn cùng đó, như một phép lạ, một thổ dân da đỏ biết tiếng Anh (Năm 1605, được một thuyền trưởng người Anh chở về Anh để học tiếng Anh, sau trở lại làm thông ngôn) đã dẫn một số thổ dân cùng mang bí rợ và thịt gà tây tới giúp, đồng thời chỉ cho họ cách trồng trọt, bắt cá và săn bắn.  Vị cứu tinh đó tên là Tisquanto mà di dân gọi tắt là Squanto.

Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp do những người dân da đỏ này cung cấp.  Rồi đến mùa xuân, họ may mắn được những thổ dân da đỏ tốt bụng đến giúp đỡ và cho họ ít lương thực.  Họ bắt đầu học những cách sống và sinh tồn ở vùng đất này từ những thổ dân tốt bụng…  Khi người Pilgrims đã có thể tự lo cho bản thân được, họ tổ chức một buổi tiệc để tạ ơn Chúa Trời vì đã cho họ có thể sống đến ngày hôm nay, họ mời những người da đỏ và cùng nhau ăn uống vui vẻ.  Từ đó về sau, hằng năm con cháu của người Pilgrims luôn tổ chức lễ tạ ơn để cám ơn cho những gì tốt đẹp đã đến với cuộc sống.

Các con thân mến,

Mục đích của ngày lễ Tạ Ơn (Thanksgiving Day) là để cám ơn Thượng Đế đã ban phước lành trong năm cho chúng ta.  Đây cũng là dịp nhớ về quá khứ của quê hương, của cả dân tộc, của gia đình và của bản thân mình để cám ơn đất nước, quê hương, con người, xã hội và gia đình đã cho chúng ta có được cuộc sống tốt đẹp trong năm qua.  Do đó ngày lễ Thanksgiving Day thường mang tính cách của việc đoàn tụ gia đình với bữa ăn nấu bằng gà tây (turkey) rất thịnh soạn và ấm cúng.  Ngày lễ này cũng là dịp để người ta suy tư về niềm tin tôn giáo và dành thì giờ và dâng lời cầu nguyện.

Các con thương, chúng ta là cũng thuộc những nhóm di dân cùng đến nước Mỹ, nhưng không giống những di dân khác tìm đường sang Mỹ với phần lớn vì lý do kinh tế.  Người Việt chúng ta ra đi khỏi nước để tìm tự do vì không thể sống được dưới chế độ độc tài – độc Đảng và dòng họ trị, không tự do, phi dân chủ.  Một chính quyền đã quay lưng lại đàn áp và bóp nghẹt dân tộc, và những người đấu tranh cho dân chủ và toàn vẹn lãnh thổ chỉ vì quyền lợi và ích kỷ riêng mà quên đị cội nguồn, công lao và bao xương máu của tiền nhân và dân tộc đã cố công xây dựng cho giang sơn gấm vóc Việt Nam trường tồn qua bao thế hệ.  Các di dân người Việt chúng ta cũng phải hòa đồng với các tục lệ người Mỹ bao gồm cả văn hóa và đa ngôn ngữ; nhưng bao giờ chúng ta cũng mong cảm tạ đất nước này đã cưu mang chúng ta và cho chúng ta nhận biết được tình người và chiều dầy của sự hy sinh.

Các con thương,

Trong tất cả các tập tục để người Việt chúng ta hội nhập vào xã hội Mỹ, có ngày Lễ Tạ Ơn là một ngày lễ không riêng gì của dân Mỹ, mà chính chúng ta nghĩ là rất quan hệ đến chính mình.  Chúng ta cũng phải tưởng nhớ đến bao hy sinh, bao ân tình của những người đã giúp chúng ta sang định cư nơi đây.  Bỏ qua mọi thành kiến hay chủ nghĩa cá nhân, chúng ta thật tình chân thành cám ơn đến những bà con thân quyến, những cơ quan thiện nguyện, những tổ chức tôn giáo, những người bạn tốt không bà con dòng họ và những người chưa hề quen biết đã bảo trợ, giúp đỡ chúng ta trong những lúc khó khăn ban đầu khi mới tới định cư nơi miền đất tự do, trù phú này và cho chúng ta xây dựng lại mái ấm tình người và cuộc đời.  Xin tạ ơn Trời và tạ ơn người đã cho chúng ta biết thế giới này vẫn còn có những tấm lòng bác ái và có những bàn tay nồng ấm tình thân, tình người.

Có người cảm khái với tình đời và sự vô thường của cuộc sống đã viết:
Hoa đẹp .  .  .  .  .  .  Hoa thơm .  .  .  .  .  .  . . Hoa vẫn tàn
Tình nặng .  .  .  .  .  Tình sâu .  .  .  .  .  .  .  .  Tình vẫn tan
Rượu đắng .  .  .  .  . Rượu cay .  .  .  .  .  .  .   Rượu vẫn hết
Người hứa .  .  .  . . . Người thề .  .  .  .  .  .  .  Người vẫn quên
Trăng lên .  .  .  .  .  . Trăng tròn .  .  .  .  .  .  . Trăng lại khuyết
Tuyết rơi .  .  .  .  .  .  Tuyết phủ .  .  .  .  .  .  . Tuyết lại tan
Người đẹp.  .  .  .  .  . Người xấu.  .  .  .  .  .  .  Rồi cũng chết
Người giàu.  .  .  .  .  .Người nghèo .  .  .  .  .   Rồi cũng hết

Vậy tại sao chúng ta không tạ ơn trời và tạ ơn lẫn nhau khi chúng ta còn hơi sức để mà phục vụ, để mà sống trong yêu thương!

“Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy.
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười.”
 (Cao Bá Quát)

Trong mùa lễ tạ ơn, chúng ta tạ ơn trời và tạ ơn người nhưng không quên nguyện cầu cho nước mẹ Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam, và cho nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam biết yêu dân yêu nước, dám nhận rõ sự thật của thảm trạng đói nghèo, bất công, lệ thuộc ngoại bang và chia rẽ giai cấp sâu sắc trong cái xã hội gọi là “Đỉnh cao trí tuệ.”  Đảng của giai cấp công nhân và lao động đã nhẫn tâm bóc lột và đẩy họ vào con đường đói nghèo, không dân chủ tự do… mà có sự đổi mới và cải cách đáng kể khi biết lắng nghe tiếng nói của toàn dân tộc.

Các con thân mến,

Chúng ta cảm thán cho quê hương, dân tộc và nguyện cầu cho giới lãnh đạo Việt Nam biết yêu nước thương dân thật sự, lấy dân làm gốc và luôn làm điều nhân nghĩa thì quốc thái dân an, và trăm họ yên vui chung hưởng thái bình.  Không còn cảnh đói nghèo, bất công.

Chúng ta cũng nguyện cầu cho giới lãnh đạo Việt Nam biết nhận rõ cái sai và dám nhường quyền hành vào trong tay người có tài (không cần phải là Đảng Cộng Sản) nhưng biết thương và lo cho dân thật sự, biết dùng sức mạnh từ cánh tay toàn dân để thanh trừ bọn tham nhũng, bọn hại dân, hại nước và xâm phạm bờ cõi dân tộc, và đừng bao giờ ngủ quên trong u mê là đất nước này chỉ là của Đảng Cộng Sản mà thôi.

Chúng ta luôn cầu nguyện cho mọi người từ ý nghĩa “Thanks Giving” mà biết yêu quí tự do dân chủ, tự do Tôn giáo… đoàn kết và xây dựng xã hội công bằng, và bác ái như các Tiền nhân bao đời đã đem lại cho chúng ta ngày nay.

Thương các con nhiều.
Ngoan Nguyễn

Langthangchieutim gởi

Trong nghĩa trang buồn

Trong nghĩa trang buồn

Một góc Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa năm 2011. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Tạp ghi Huy Phương

Trong sinh hoạt cộng đồng cuối tuần vừa qua tại Nam California, Vietnam Film Club ở Washington, DC, đã tổ chức một buổi ra mắt cuốn DVD “Hồn Tử Sĩ, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” trước một số người tham dự đông đảo, phần lớn là các cựu quân nhân VNCH, tại Westminster.

Ngay đối với đội quân xâm lược từ một quốc gia khác, khi tiếng súng đã ngưng, những đối thủ ngày trước, bây giờ cũng phải được tôn trọng, nhất là đối với những người đã chết.

Nước Pháp có mộ chiến sĩ vô danh nằm dưới Khải Hoàn Môn từ ngày 11 Tháng Mười Một, 1920, nơi có khắc hàng chữ “Nơi đây yên nghỉ một người lính Pháp chết cho tổ quốc.” (1914-1918). Tuy vậy, vào ngày 14 Tháng Bảy, 1940, nghĩa là trong thời gian quân đội Đức chiếm đóng Paris, buổi lễ Chiến Sĩ Trận Vong vẫn được tổ chức với sự cho phép của sĩ quan Đức.

Thay vì đào mồ bới mả kẻ thù lên mà hả hê sung sướng, reo hò khi đã thắng được kẻ thù, chúng ta được biết trong năm 2015, Ukraine đã tháo dỡ gần 140 tượng đài của Liên Xô và chính phủ Ba Lan có kế hoạch hạ bỏ khoảng 500 tượng đài Liên Xô, kẻ thù ngày trước, nhưng không đụng đến tượng đài ở các nghĩa trang, nơi an nghỉ của những người lính Xô Viết.

Sau khi cuộc Nội Chiến Mỹ kết thúc, chính phủ liên bang đã trả lại tài sản bị trưng dụng hoặc bị chiếm đoạt cho phe bại trận để hàn gắn vết thương chiến tranh và những người lính hy sinh từ hai chiến tuyến được chôn chung trong một nghĩa trang với nhau, hoàn toàn không có sự phân biệt kẻ thắng người thua.

Chỉ vài ngày sau khi miền Nam thất thủ, bức tượng “Thương Tiếc,” tác phẩm điêu khắc của Nguyễn Thanh Thu, bằng đồng, nặng 10 tấn, cao hơn 6 mét, ghi lại hình ảnh của một người lính gác súng, ngồi trên bệ đá trước nghĩa trang, đã bị Cộng Sản giật sập và kéo đi. Từ đó, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa được xem như một vùng quân sự, cấm người dân ra vào.

Năm 1995, ký giả Gordon Dillow, sau khi bất ngờ vào được bên trong, ông đã viết trên nhật báo The Orange County Register như sau: “Hai mươi năm trước, đây là nghĩa trang quốc gia lớn nhất với đài tưởng niệm các chiến sĩ của miền Nam Việt Nam, bây giờ là bãi đất hoang vu, bị bỏ mặc không ai chăm sóc, bị phá hoại. Những nấm mồ bị đào xới không còn nhận dạng được. Nhà cầm quyền Cộng Sản đã trồng một số cây, ngay bên cạnh các mộ phần, khiến cho rễ của cây khi lớn lên sẽ phá nát những ngôi mộ bên dưới.”

Ký giả Dan Southerland của đài Á Châu Tự Do, năm 2005, khi ghé thăm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, đã nhận ra đây là một khung cảnh thù địch, khiến cho ông phải bàng hoàng. Nghĩa trang như một căn cứ quân sự, hay như một nhà tù, có lính Cộng Sản canh gác ngày đêm. Họ sợ điều gì vậy?

Ông Southerland cũng dã đi thăm một vài nghĩa trang của những người lính Cộng Sản, sự tương phản làm cho ông ngỡ ngàng, một bên được chăm sóc đẹp đẽ, mở cửa cho mọi người vào, một bên như là một nhà tù. Tất cả chỉ là hoang phế, phá hoại và lấn chiếm.

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, một trong những chủ trương trả thù của quân Cộng Sản, nhằm xóa bỏ di tích của cuộc chiến, là triệt phá tất cả các nghĩa trang của quân đội VNCH trên toàn miền Nam, ngoại trừ duy nhất là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa chưa bị san bằng và mọi việc thăm viếng đều bị kiểm soát.

Bằng chứng là vào đầu Tháng Năm, 1975, Cộng Sản đã cho san bằng hằng nghìn ngôi mộ ở Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp, và sau đó là số phận của nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, nơi chôn cất Thống Tướng Lê Văn Tỵ và hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Theo Wikileaks, hồi năm 2008, Thượng Nghị Sĩ Jim Webb đã bí mật đến thăm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nằm trong tình trạng hoang phế vì không có người chăm sóc. Dịp này, ông Webb gặp bí thư thành ủy Sài Gòn là ông Lê Thanh Hải và chủ tịch thành phố là ông Nguyễn Hoàng Quân. Ông Webb khuyến khích nhà cầm quyền Cộng Sản, đây đã đến lúc hòa giải với cựu quân nhân VNCH.

Các viên chức đảng Cộng Sản này, khi đáp lời ông Webb, đã không nhắc gì tới quân đội VNCH mà chỉ nói tới vai trò quan trọng của Mỹ trong việc phát triển kinh tế Việt Nam, tức là xin viện trợ. Cả hai đều nhắc tới những “bước tiến trong quan hệ hai nước, để người Việt ở Mỹ có thể trở về nước làm ăn!”

Báo chí ở Việt Nam hàng năm nêu ra con số hàng chục tỷ đô la do người Việt hải ngoại, đa số là những người chạy trốn Cộng Sản, gửi về nước cho thân nhân mà nhờ đó có tiền nuôi chế độ. Nhưng chế độ này, tuy bề ngoài vẫn hô hào hòa hợp hòa giải, quên đi quá khứ, nhưng vẫn quyết tâm ngoảnh mặt làm ngơ, không tương nhượng với việc hòa giải ngay cả với người chết là việc trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa hay coi đây như là một di tích lịch sử.

Thật bất hạnh cho miền Nam chúng ta, đã có một đồng minh bội phản và hơn thế, một thứ kẻ thù mọi rợ, nhỏ nhen.