Gió lùa ánh sáng vô trong bãi

 Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 3 mùa Vọng năm A 11/12/2016

Tin Mừng (Mt  11: 2-11)

Ông Gioan lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Kitô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” Đức Giêsu trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.”

Họ đi rồi, Đức Giêsu bắt đầu nói với đám đông về ông Gioan rằng: “Anh em ra xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Thế thì anh em ra xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến.

“Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông.”

  •      *      *      *      *

 “Gió lùa ánh sáng vô trong bãi”

Trăng ngậm đầy song, chảy láng lai.

Buồm trắng phất phơ như cuống lá,

Lòng tôi bát ngát rộng bằng hai.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mai Tá lược dịch

Trình thuật mùa đợi chờ hôm nay, làm phấn chấn hết mọi người. Người người hôm nay, được dặn dò: Hãy vui lên!. Vui, không vì “Nắng tươi đẹp, khung trời rồi rực sáng”. Mà vì, Đức Chúa Quang Lâm nay gần đến, sao vẫn buồn?

Với phụng vụ thời xưa, Mùa Vọng là mùa đền tội, khá nghiêm ngặt. Theo đó, con dân nhà Đạo tuần này được khuyên nên giữ chay lòng, khiết tịnh ít nhất ba ngày. Với Công Đồng Vatican II, Phụng vụ đã bắt đầu cho sử dụng mầu Hồng cho áo lễ. Mầu phấn khởi, nhắc nhở về lời khuyên của ngôn sứ Isaia:

“Vui lên đi, này đồng hoang cỏ cháy.” (Is 35: 1).

Hãy cứ vui, mà chào đón Đấng Nhân danh Chúa ngự đến” (Is 35: 2).

Ngài ngự đến, cứu chuộc hết anh em.” (Is 35: 4).

 Cứu rỗi hay cứu chuộc, là ơn chữa lành. Là, những trọn vẹn – lành thánh, đến với cuộc đời mỗi người và mọi người. Mọi người tuy được cứu rỗi, cũng đừng nên coi việc chữa lành đây mang tính xác phàm, thôi. Nhưng, còn mang cảm tính, ý nghĩa xã hội và tâm linh, nữa. Quả là, ta chỉ được kiến tạo thành người trọn vẹn, khi hạnh phúc hài hoà tuôn chảy vào chính con người mình, thôi.

Tin Mừng hôm nay, còn minh xác thêm một điều, là: ta tìm ra chính mình ngay trong cuộc đời của Đức Kitô. Điều này, được thánh Gio-an Tiền Hô công bố qua việc thánh nhân sai môn đệ mình đến hỏi Chúa:

“Thầy có thật là Đấng phải đến hay không?” (Mt 11: 3).

Câu hỏi, bao hàm hai việc: bản thân thánh nhân muốn biết về Đức Kitô; hoặc, chính thánh nhân muốn cho môn đệ mình hiểu về Chúa. Điều này hạ hồi sẽ rõ. Nhưng sau đó, thánh nhân lại đã công bố:

“Đấng đến sau tôi, quyền thế hơn tôi…

Ngài sẽ thanh tẩy anh em trong Thánh Thần và lửa” (Mt 3: 11).

Và lúc đó, câu trả lời của Đức Chúa nói lên tính cách Thiên Sai của Ngài:

“Hãy về mà thuật lại với Gioan,

những điều mắt thấy tai nghe…” 

Câu trả lời của Đức Giê-su, ăn khớp với ý nghĩa bài đọc thứ nhất: công nhận Đức Kitô là Đấng Thiên Sai. Đấng “đến cứu anh em” (Is 35:4).

Tin mừng thánh Mátthêu lại cũng thực sự nói lên tính Thiên sai của Chúa. Và như thế, lời xác minh này ăn khớp với tinh thần của Mùa Vọng, mùa chờ đợi. Ta chờ ngày Chúa đến lại. Ngài đến lại, là đến một cách đầy đặn, trọn vẹn cho cuộc sống của ta. Như Kinh Nhập Lễ vừa nói rõ, ta vẫn cần “kinh nghiệm sống về niềm hân hoan Đấng cứu chuộc.”

 Cần ở đây, là cần Chúa mang đến cho mỗi người ơn cứu chữa rất trọn vẹn, lành thánh. Và, đây chính là điều mỗi người chúng ta cần làm. Cần, là làm sao để mỗi người đều có kinh nghiệm trở nên toàn vẹn trong Đức Kitô. Cần là bởi, nhiều người trong chúng ta vẫn chưa thực sự biến đổi chính mình, để trở thành “một Kitô” khác. Một Kitô đích thực, như Ngài muốn. Và, thời gian cứ kéo dài. Cứ chờ đợi ta.

Nhằm giúp ta làm được như thế, bài đọc thứ hai trích dẫn lời của thánh Gia-cô-bê, khuyên bảo:

 “Hãy kiên nhẫn, như nhà nông chờ đất trổ sinh hoa mầu.

Chờ cơn mưa đầu mùa. Mưa cuối vụ.”

(Gc 5: 8).

Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng giới thiệu thánh Gioan Tiền Hô như vị thánh lớn, chưa từng thấy. Và, thánh nhân còn được thêm ưu điểm là được sinh ra cùng thời với Đức Chúa. Ưu điểm này, Đức Kitô cũng đã ban cho mỗi một người,chúng ta. Được ưu điểm ấy, ta cố gắng làm sao để Đức Kitô trở nên thành phần trong cuộc sống của mỗi người.

Thật ra, thánh Gioan Tiền Hô là nhân vật dũng mãnh, vẹn toàn. Thánh nhân không giàu có. Cũng chẳng tiếng tăm. Lại không là bậc siêu sao, thượng thặng. Nhưng, mọi người vẫn bước theo chân mềm của thánh nhân bước vào chốn hoang vu vắng lặng nơi sỏi đá khô cằn, để được nghe thánh nhân những giảng và dạy. Lời dạy rất thách-thức để đổi thay.

Cũng một kiểu tương tự, lời mời gọi vào chốn hoang vu, nay được gửi đến mỗi kẻ tin vào Đức Kitô, từ nhiều năm. Vẫn từ bao giờ, tín đồ của Chúa được kêu mời hãy dọn đường, và cũng dọn lòng, để Chúa đến với tâm can mỗi người. Hãy sửa soạn con tim của mọi người. Để rồi, mỗi người và mọi người đều hân hạnh có kinh nghiệm về “niềm vui cứu rỗi”. Niềm vui được ơn chữa lành, rất lành thánh, trọn vẹn. Có như thế, cuộc sống của chúng ta mới có ý nghĩa và đáng sống.

Giáng Sinh là thời của ân huệ/quà tặng, của hành động cho đi lẫn tiếp nhận. Hãy đảm bảo là các quà tặng ta trao nhau, bao gồm cả niềm vui đi Đạo, mọi người đang nhận lãnh. 

Lm Frank Doyle sj biên-soạn

Mai Tá lược dịch

Trích Hồi Ký Tống Văn Công: CUỘC TRANH LUẬN VỀ TƯ PHÁP TRÊN BÁO SỰ THẬT

Trích Hồi Ký Tống Văn Công: CUỘC TRANH LUẬN VỀ TƯ PHÁP TRÊN BÁO SỰ THẬT

Viet-studies

9-12-2016

tong-v-cong
Ảnh bìa, Hồi ký Tống Văn Công. Nguồn: Người Việt Books
Tôi gởi đơn xin tòng quân, nhưng được phân công về Phòng Bình dân Học vụ, Nha Giáo dục Nam Bộ, do thạc sĩ Hoàng Xuân Nhị làm giám đốc. Phòng này mới thành lập do nhà giáo Nguyễn Hậu Lạc làm trưởng phòng. Đã có một vài người tới trước tôi như Ca Lê con cả của giáo sư Ca văn Thỉnh, Đặng Minh Trang con giáo sư Đặng Minh Trứ… Chưa có công việc gì làm, chúng tôi thường đến hai nơi: một là, văn phòng của Nha Giáo dục để gửi thư và nhận thư; hai là tới Thư viện đọc sách báo.

Thư viện của Nha Giáo dục có khá nhiều sách. Ở đây tôi được đọc hai bộ sách lớn củả chủ nghĩa cộng sản: “Lịch sử Đảng cộng sản Liên xô” và “Những nguyên lý chủ nghĩa Lê Nin của Stalin”. Cũng ở đây tôi đọc quyển “Sửa đổi lề lối làm việc” của X.Y.Z. Giám đốc Hoàng Xuân Nhị giới thiệu “quyển này là một tác phẩm lớn của Hồ Chủ tịch”. Quyển sách khiến tôi tha thiết mong muốn được trở thành đảng viên cộng sản bởi câu này: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Trong sách này, Cụ Hồ cảnh báo cán bộ đảng viên chớ có làm “quan cách mạng”, cậy quyền, cậy thế, hũ hóa, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo… Bài “ Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, đẩy mạnh phê bình tự phê bình” của Cụ Hồ tôi đọc như nuốt từng lời đã góp phần cho tôi được… “ngu lâu”.

Đặc biệt tại thư viện của Nha Giáo dục, tôi được đọc về cuộc tranh luận hồi năm 1948 trên báo Sự Thật của Đảng cộng sản Đông Dương (với danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác) và báo Độc lập của Đảng Dân Chủ “Về vai trò của Tư pháp trong Nhà nước cách mạng Việt Nam”. Một bên là Quang Đạm biên tập viên của báo Sự Thật do Trường Chinh làm Tổng biên tập và bên kia là luật gia Vũ Trọng Khánh nguyên Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với sự hỗ trợ của luật gia Vũ Đình Hòe đương kim Bộ trưởng Tư pháp. Dù rất ham đọc, tôi không hiểu bao nhiêu. Tuy nhiên vấn đề gai góc đó buộc tôi tiếp tục tìm hiểu mãi. Còn hồi đó khi biết Cụ Hồ có quan điểm giống như Quang Đạm thì tôi ngờ rằng Vũ Trọng Khánh đã bị lý thuyết của bọn thực dân phương Tây đầu độc!

Quang Đạm viết “Tư pháp với Nhà nước” trên số báo 91 ngày 15–4–1948, sau đó bài “Tính chất chuyên môn trong Tư pháp” trên số báo 93 ra ngày 19–5–1948. Ông cho rằng: Trong xã hội có giai cấp không có gì nằm trên cuộc đấu tranh giai cấp. Tư pháp là mộtbộ phận của nhà nước được phân công vận hành để cùng với chính quyền phục vụ lợi ích giai cấp. Độc lập Tư pháp, Tam quyền Phân lập chỉ là huyền thoại nhằm che đậy bản chất áp bức của chế độ tư bản. Ở nước ta trước đây, chính quyền thực dân cũng đưa ra huyền thoại đó, nhưng tòa án của nó chưa bao giờ mang lại công lý cho nhân dân ta. Ông kêu gọi Tư pháp không nên “độc lập” mà nên “kết hợp” với chính quyền và phối hợp với tập quyền. Tức là Tư pháp phụ trách về chuyên môn, nhưng chịu sự lãnh đạo chung.(Hồi đó chưa nói là chịu sự lãnh đạo của Đảng). Ông cho rằng Tư pháp độc lập dễ trở thành đối lập.

Vũ Trọng Khánh, nhân danh một số “anh em có trách nhiệm về Tư pháp” trả lời Quang Đạm. Ông cho rằng luật cao hơn đấu tranh giai cấp. Luật không chỉ là công cụ của giai cấp thống trị mà còn là công cụ bảo vệ kẻ yếu chống lại kẻ mạnh và kẻ có quyền lực. Ông đặt câu hỏi cho Quang Đạm: “Khi điều 712 Dân luật bắt kẻ nào làm thiệt hại đến người khác thì phải bồi thường cho người ấy, và bộ Hình luật làm tội những kẻ đánh nhau hay giết người không vì cớ chính trị thì đó là bảo vệ ai và đàn áp giai cấp nào”?

Trả lời Quang Đạm về “Trạng thái độc lập Tư pháp sẽ chuyển thành đối lập”, ông Vũ Trọng Khánh viết: “Khi một người nào đó ra lệnh cho Tòa án phải xử thế này thế khác mà Tòa án không nghe theo thì chúng tôi cho rằng đấy là giữ quyền độc lập. Nếu ông Quang Đạm cho như thế là đối lập thì tôi muốn hỏi ông, khi các thẩm phán can thiệp vào việc hành chính hay chính trị thì các ủy ban hành chính sẽ cư xử thế nào để cho khỏi thành ra ‘đối lập’”? Ông Quang Đạm khuyên rằng: “Tư pháp phải kết hợp với nhà nước mà đối lập với các lực lượng phá hoại chính quyền. Không một bộ phận nào được tách mình ra khỏi khối đoàn kết”. Đáp lại những lời kỳ quặc ấy, tôi chỉ hỏi: “Các thẩm phán đứng trong hàng ngũ kháng chiến từ trước tới nay thì gọi là ở trong hay ở ngoài khối đoàn kết? Khi Tư pháp trừng trị kẻ bắt người trái phép, tha bổng cho những kẻ bị bắt vô chứng cứ thì đó là phá hoại chính quyền hay củng cố chính quyền”?

Ông Vũ Đình Hòe kế nhiệm ông Vũ Trọng Khánh làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã viết bài “Tư pháp trong chế độ dân chủ mới” (báo Độc lập tháng 7 năm 1948) cho rằng, nước ta từ thời cổ đại cho tới thời thuộc địa chưa bao giờ có nền Tư pháp độc lập. Chính Cách mạng Tháng Tám, có Hiến pháp 1946, nhân dân ta mới được hưởng hệ thống luật tiến bộ này. Ông nhắc rằng Tam quyền phân lập, Tư pháp độc lập đang là thể chế hiện tồn của nhà nước cách mạng chúng ta”.

Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc hồi tháng 2 năm 1948, tức là 2 tháng trước khi xảy ra cuộc tranh luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tư pháp làmột cơ quan trọng yếu của chính quyền, cho nên càng phải đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì quyền lợi nhỏ và riêng mà hại đến quyền lợi to và chung cho cả tư pháp và hành chính”. Như vậy là từ năm 1948, Cụ Hồ đã dứt khoát đặt “đoàn kết, hợp tác” lên trên “độc lập tư pháp”! Hai năm sau, trong thư gửi Hội nghị Học tập của cán bộ ngành Tư pháp (từ ngày 2 tháng 5 đến 23 tháng 7 năm 1950) để cải cách tư pháp phục vụ tình hình mới, Cụ Hồ lại viết hoàn toàn giống những điều Quang Đạm đã viết trong cuộc tranh luận hồi năm 1948: “ Luật pháp là vũ khí của một giai cấp thống trị, dùng để trừng trị giai cấp chống lại mình; luật pháp cũ là ý chí của thực dân Pháp, không phải là ý chí chung của nhân dân ta. Luật pháp cũ đặt ra để giữ gìn trật tự xã hội thật, nhưng trật tự xã hội ấy chỉ có lợi cho thực dân phong kiến, không phải có lợi cho toàn thể nhân dân đâu. Luật pháp đặt ra trước hết là để trừng trị áp bức. Phong kiến đặt ra luật pháp để trị nông dân. Tư bản đặtra luật pháp để trị công nhân và nhân dân lao động. Luật pháp của ta hiện nay là ý chí của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng. Một điều nữa các chú cần nhớ là giai cấp thống trị sử dụng luật pháp kết hợp với những cái khác. Luật pháp của các giai cấp bóc lột đặt ra để áp bức các giai cấp bị bóc lột. Nếu nó đứng một mình thì bộ mặt áp bức của nó lộ rõ quá. Cho nên giai cấp phong kiến cho nó dựa vào cái khác. Cái ấy là cái gì? – Phong kiến cho luậtpháp dựa vào đạo đức của nó. Đạo đức phong kiến chủ yếu là cương thường: Tôn vua, kính thầy, yêu cha…”

Mặc dù luật gia Vũ Đình Hòe vẫn là Bộ trưởng Tư pháp, nhưng cuộc học tập rất quan trọng nói trên lại do ông Trần Công Tường, Thứ trưởng, bí thư Đảng đoàn Đảng cộng sản trực tiếp lãnh đạo! Đến năm 1960 nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xóa bỏ Bộ Tư pháp và các Trường luật. Từ đây, công dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sống trong thể chế Đảng công khai đứng trên pháp luật. Ông Vũ Đình Hòe khôn ngoan đã lùi dần để sinh tồn, đến cuối đời ông viết quyển sách có tựa đề “Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh” đề ra 5 yếu tố: 1– Yếu tố pháp quyền dân tộc và ảnh hưởng Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ; 2– Yếu tố pháp quyền quân chủ lập hiến của Vương quốc Anh qua các cuộc cách mạng dân chủ; 3– Yếu tố pháp quyền của Cách mạng Pháp dưới lá cờ Tự do, Bình đẳng, Bác ái; 4– Yếu tố pháp quyền công nông của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, với chuyên chính vô sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa; 5– Yếu tố pháp quyền dân tộc dân chủ của cách mạng Trung Hoa trải qua hai lần Quốc Cộng hợp tác.

Bị tha hóa tệ hại, Vũ Đình Hòe nhìn chế độ toàn trị là chế độ pháp quyền nhân nghĩa và tìm cho nó “5 yếu tố” hết sức oái oăm! Ông Vũ Trọng Khánh là người dũng cảm bảo vệ những điều mình tin là đúng, ông đã bị dìm năm này sang năm khác, từ Bộ trưởng Bộ Tư pháp, xuống Chưởng lý tòa Thượng thẩm, Giám đốc tư pháp Liên khu 10, Trưởng ban nghiên cứu pháp lý, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP Hải Phòng, rồi Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Hải Phòng, cuối cùng là chuyên viên trong một phòng thuộc cấp Sở, của thành phố Hải Phòng.

Không chấp nhận tư pháp độc lập, quyết liệt chống nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Quang Đạm cho đến Đại hội 12 của Đảng cộng sản năm 2016 là nhằm bảo vệ Đảng đứng trên nhân dân, đứng trên Hiến pháp và luật pháp.

Tổng Bí thư: Đảng suy thoái nhưng cấm bôi bẩn

Tổng Bí thư: Đảng suy thoái nhưng cấm bôi bẩn

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-12-09
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị chỉnh Đảng ở Hội trường Diên Hồng tòa nhà Quốc hội ngày 9/12/2016.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị chỉnh Đảng ở Hội trường Diên Hồng tòa nhà Quốc hội ngày 9/12/2016.

Courtesy quochoi.vn

Thông điệp răn đe

Phát biểu tại Hội nghị chỉnh Đảng tại Hội trường Diên Hồng tòa nhà Quốc hội ngày 9/12/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xác định sẽ không đóng cửa để chỉnh đốn Đảng và sẽ diệt tận gốc nạn tự diễn biến tự chuyển hóa trong nội bộ Đảng.

Ông Nguyễn Phú Trọng, trong tư cách người đứng đầu Đảng Cộng sản đã gởi một thông điệp răn đe đến những kẻ thù vô hình không có danh tính. Những người ông gọi là lợi dụng việc đấu tranh khắc phục khuyết điểm, tiêu cực để bôi nhọ, kích động chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam và sự nghiệp cách mạng của nhân dân.

Đối với những ngươi dân bình thường đang chịu sự cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì có vẻ có điều gì không ổn vì một đảng xấu thì sẽ bị phê bình bêu riếu, không thể xem đó là lợi dụng để chống phá được.

Những nhà lý luận tuyên giáo, người ta thường xuyên lập luận như thế và người ta không thấy có những cái trái khoáy như vậy.
-Ông Nguyễn Đăng Quang

Ông Nguyễn Đăng Quang, cựu Đại tá Công an hiện nghỉ hưu ở Hà Nội nhận định:

“Những nhà lý luận tuyên giáo, người ta thường xuyên lập luận như thế và người ta không thấy có những cái trái khoáy như vậy. Nói như thể là kiểu nói lấy được, những câu nói nói có được dư luận đồng tình hay không thì bản thân người nói cũng thừa biết là như thế nào rồi. Nhưng người ta nói thì cứ nói thôi, nó chẳng có giá trị lớn lao gì, chẳng có giá trị thực tiễn nào hết.”

Hội nghị ngày 9/12/2016 ở Hà Nội mang tên Hội nghị cán bộ toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đương nhiệm về tăng cường chỉnh đốn Đảng.

Chỉ đạo tại Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hàm ý vận mệnh của Đảng và chế độ đang chao đảo. Theo lời ông Tổng Bí thư, toàn Đảng cần nhận rõ rằng, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là cuộc chiến đầy cam go, nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến vận mệnh của Đảng và chế độ.

Cẩm nang nhận diện “tự diễn biến”

Bóng ma “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng là gì mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho là đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ cầm quyền ở Việt Nam. Ngay khi Hội nghị Trung ương 4 khai mạc vào ngày  9/10/2016 vừa qua với cảnh báo về biểu hiện vì những biểu hiện gọi là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, TS Hà Sĩ Phu một nhà phản biện chính trị độc lập thuộc thế hệ tiên phong đã từ Đà Lạt nhận định:

dien-hong-622
Hội nghị chỉnh Đảng tại Hội trường Diên Hồng tòa nhà Quốc hội ngày 9/12/2016. Courtesy quochoi.vn

“Bản thân Đảng của các ông ấy nó chuyển biến theo hướng bất lợi cho Đảng. Trước đây chuyện tự diễn biến, tự phân hóa được hiểu theo  nghĩa, các đảng viên ngày càng thấy rằng, con đường đi độc tài chuyên chế của Đảng là phi khoa học là không đúng, mà phải tiến dần sang phía dân chủ pháp trị theo ý kiến nhân dân. Trước đây cụm từ ấy chỉ có nghĩa như vậy thôi, nhưng gần đây cụm từ ấy có thêm một nghĩa mới là, bộc lộ sự mâu thuẫn trong nội bộ đảng về mặt nhân sự, chẳng những về mặt tư tưởng mà con về mặt nhân sự có thể dẫn đến lật đổ nhau, như ở Đại hội Đảng lần thứ 12 và thậm chí như vụ ở Yên Bái và đến vụ Trịnh Xuân Thanh nữa…”

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII được xem là một Nghị quyết cập nhật về vấn đề chỉnh Đảng, làm rõ hơn bóng ma suy thoái trong Đảng và đề ra biện pháp đối phó. Nghị Quyết Trung ương 4 đưa ra một cẩm nang 27 điểm để nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và vấn đề tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Đặc biệt, biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ được nhận diện bằng việc phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, hay đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.

Tư tưởng bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ, sử dụng phương tiện truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng…cũng được cho là một trong các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Các đảng viên ngày càng thấy rằng, con đường đi độc tài chuyên chế của Đảng là phi khoa học là không đúng, mà phải tiến dần sang phía dân chủ pháp trị theo ý kiến nhân dân.
-TS Hà Sĩ Phu

Một điểm quan trọng được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII quy kết cho hiện tượng tự diễn biến tự chuyển hóa cho thấy tình hình khác nghiêm trọng. Đó là sự phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học – nghệ thuật. Tác động lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, hoặc điều gọi là bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.

Tình trạng tham ô, nhũng nhiễu ở Việt Nam từ cấp thấp nhất lên tới cấp lãnh đạo được xem như một sự thật không thể chối cãi. Có thể nói người dân Việt Nam đã quen sống chung với tham nhũng. Nghị quyết chỉnh Đảng cũng bày tỏ quyết tâm chống tham nhũng và làm trong sạch Đảng. Nhưng những nỗ lực này trong mấy nhiệm kỳ đã tỏ ra chưa đạt kết quả bao nhiêu. Cựu Đại tá Công an Nguyễn Đăng Quang từ Hà Nội nhận định:

“Cá nhân tôi cho rằng có một một nghịch lý rất lớn, lãnh đạo Đảng càng hô hào chống tham nhũng, càng ra nhiều nghị quyết, chỉ thị chống tham nhũng, thì tham nhũng này lại càng khỏe ra càng mạnh lên. Thế cho nên tôi cho rằng trong lĩnh vực này đánh tham nhũng chống tham nhũng chẳng qua chỉ là đánh trận giả bắn chỉ thiên là chính thôi, chứ thực chất không phải chống tham nhũng thực sự.”

Liên quan đến vận mạng của chế độ, Đảng Cộng sản Việt Nam đang thực hiện một chiến dịch chỉnh Đảng toàn diện như lời ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đương nhiệm về tăng cường chỉnh đốn Đảng.

Luật sư Trần Quốc Thuận nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội trong phát biểu gần đây với chúng tôi có nói rằng, nếu tình trạng tha hóa tham ô tràn làn không ngăn chặn được, thì Đảng và chế độ sẽ mất niềm tin người dân không ủng hộ nữa. Trong hoàn cảnh như thế thì cơ sở tồn tại của Nhà nước sẽ rất thấp.

DÂNG MÌNH VÀ PHÓ THÁC MÌNH CHO ĐỨC MẸ

DÂNG MÌNH VÀ PHÓ THÁC MÌNH CHO ĐỨC MẸ

Dâng mình cho Đức Mẹ là một cách phó thác mình cho Đức Mẹ. Khi phó thác mình cho Đức Mẹ, tôi có thể trình bày nỗi lòng mình cho Mẹ. Tôi nói với Mẹ, như để vơi đi nỗi lòng người con thơ dại, nhưng sau cùng là để Mẹ ủi an và dẫn dắt theo như Mẹ muốn.

  1. Ngày mồng 8 tháng 12 là lễ kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Dịp này, Chúa thôi thúc tôi hãy dâng mình và phó thác mình cho Đức Mẹ một cách khẩn thiết và sốt sắng, trong tâm tình hiệp thông với toàn thể Hội Thánh toàn cầu nói chung và Hội Thánh tại Việt Nam nói riêng.
  2. Lý do là tại nhiều nơi, tình hình đang lâm nguy, hoặc sắp lâm nguy. Lâm nguy đó sẽ lan rộng. Cứu tình hình đó là cứu chính mình.

Trước viễn cảnh đó, Đức Mẹ được Chúa giới thiệu là Đấng mà mọi con cái Chúa có thể và nên phó thác.

  1. Dâng mình cho Đức Mẹ là một cách phó thác mình cho Đức Mẹ.

Khi phó thác mình cho Đức Mẹ, tôi có thể trình bày nỗi lòng mình cho Mẹ. Tôi nói với Mẹ, như để vơi đi nỗi lòng người con thơ dại, nhưng sau cùng là để Mẹ ủi an và dẫn dắt theo như Mẹ muốn.

  1. Đức mẹ luôn muốn những gì Chúa muốn .Thánh ý Chúa lại thường rất khác ý muốn của con người chúng ta.

Chính vì thế, mà phó thác mình cho Mẹ đòi tôi phải sẵn sàng từ bỏ ý riêng mình, để vâng phục thánh ý Chúa.

  1. Theo kinh nghiệm đời tu, tôi thấy việc phó thác nhấn mạnh đến từ bỏ cái tôi, để thuận theo ý Chúa, luôn là một cuộc chiến nội tâm gay gắt.
  2. Thường thì tôi cũng như nhiều người phó thác, chẳng bao giờ dám có ý chống lại thánh ý Chúa. Nhưng chỉ tìm cách dối mình, coi ý mình cũng hợp ý Chúa.Dối mình bằng những ảo tưởng khoác áo đạo đức bề ngoài, nhưng bên trong vẫn nặng cái tôi ích kỷ.

Đôi khi cái tôi đó cũng không đến nỗi phải gọi là ích kỷ, nhưng thiếu thận trọng. Ở đây, tôi nhớ lại lời khuyên chân thành mà cha linh hồn của Charles de Foucauld đã gửi cho Charles: “Hãy coi chừng lòng nhiệt thành của Cha, hãy rất thận trọng”. Đúng là lòng nhiệt thành, khi không được thận trọng dưới ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, sẽ trở thành kẻ phá phách chương trình cứu độ của Chúa.

  1. Để việc phó thác được thực hiện đúng hướng, tôi thường cầu nguyện. Chúa dạy tôi hãy nhìn vào gương Đức Mẹ và gương Chúa Giêsu.
  2. Gương Đức Mẹ phó thácđược nổi bật ở biến cố Mẹ được báo tin Chúa chọn làm mẹ Đấng Cứu Thế, Mẹ thưa: “Này con là nữ tỳ của Chúa, con Xin Vâng” (Lc 1,38).

Với lời Xin Vâng đó, Mẹ đã phó thác mình trọn vẹn cho Chúa suốt đời.

Phó thác của Mẹ là để chìm mình trong khiêm nhường tuyệt đối, âm thầm ca ngợi Chúa. Và chôn vùi mình vào thinh lặng, nghèo khó để lắng nghe Chúa trên đường phục vụ.

Phó thác của Mẹ là chia sẻ con đường thương khó của Chúa Giêsu.

Phó thác của Mẹ là khiêm tốn ở lại bên môn đệ Gioan, để lặng lẽ chia sẻ với Hội Thánh sơ khai.

Nhìn gương phó thác của Mẹ Maria, tôi thấy khiêm nhường cùng với niềm tin vào quyền năng và lòng thương xót Chúa chính là những điều quan trọng làm nên phó thác.

  1. Gương phó thác của Chúa Giêsuđược nổi bật ở giờ phút Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá, đã nói với Chúa Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 13,16).

Chúa Giêsu phó thác mình trong tay Chúa Cha, ở giờ phút thê thảm nhất. Bị sỉ nhục, bị đau đớn, bị loại trừ, bị kết án, chính trong hoàn cảnh bi đát ấy, Chúa Giêsu nói lên lời phó thác nơi Chúa Cha. Chứng tỏ rằng: Phó thác đẹp nhất là ở chỗ: Cho dù tất cả đều đổ vỡ, lòng tin vào Thiên Chúa vẫn vững bền.

  1. Gương phó thác của Chúa Giêsu và của Mẹ Maria đã giúp tôi rất nhiều. Chúa dùng hai gương sáng để đào tạo tôi.

Việc đào tạo Chúa dành cho tôi về phó thác là thường xuyên, từng ngày, từng giờ. Rất nhiều khi, việc đào tạo đó được tôi cảm nghiệm như còn dài, còn mãi, chẳng bao giờ cùng.

Ngay trong những ngày này, tôi thấy mình mệt mỏi, cạn kiệt về sức khỏe thể xác và tâm hồn, tôi chỉ còn phó thác và xin ơn phó thác.

  1. Tôi xin ơn phó thác. Bởi vì tôi sợ tôi không biết phó thác. Tôi xin ơn phó thác một cách rất đơn sơ. Tôi chỉ lập đi lặp lại lời cầu:“Con đuối lắm rồi. Con xin phó thác con trong tình yêu của Cha, vì Cha là cha của con”. Thế thôi.
  2. Thế rồi, kết quả là tuyệt vời. Chúa dẫn đưa tôi vào con đường mà thánh ý Chúa muốn. Chứ không phải con đường, mà tôi muốn.

Chúa dẫn đưa một cách mạnh mẽ, nhưng nhẹ nhàng. Tôi cảm được điều đó.

  1. Với kinh nghiệm trên đây về phó thác, tôi có một lời khuyên tha thiết gửi đến anh chị em, đó là hãy phó thác mình cho Chúa luôn luôn và trong mọi hoàn cảnh. Đừng bao giờ phó thác mình cho quỷ Satan, cho dù chỉ một phút một giây.
  2. Tôi nói như vậy, vì tôi biết đang có phong trào thờ quỷ Satan, và phó thác mình cho quỷ Satan, để nhờ quỷ Satan mà được của cải, địa vị, thắng thế về những lợi ích trần gian.

Hồi tôi còn học ở Cộng Hòa Liên Bang Đức, một vị giám mục tại đó đã nói với tôi về phong trào thờ Satan, dâng mình cho Satan, nhờ Satan mà kiếm lợi. Phong trào đó hoạt động ngay trong giáo phận của Ngài, với những lễ nghi và cam kết trước mặt Satan hiện hình. Phong trào đó đã lan rộng ra nhiều nơi dưới nhiều hình thức.

  1. Trước đây, khi còn tại chức, mỗi năm tôi thường được gặp Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Lần nào cũng vậy, Đức Thánh Giáo Hoàng đều chúc tôi một lời: “Hãy can đảm”, đồng thời ban tặng tôi một tràng hạt Đức Mẹ Mân Côi. Tôi hiểu Ngài muốn tôi hãy phó thác mình cho Đức Mẹ, qua việc lần chuỗi mân côi. Tôi vẫn thực thi lời dạy của Ngài.

Thực thi lời dạy của Đức Thánh Giáo Hoàng, lòng tôi mở ra về bổn phận phải đổi mới chính mình, bắt đầu ngay từ việc dâng mình và phó thác mình cho Đức Mẹ và Chúa mỗi ngày.

  1. Xét mình về phó thác, nhiều khi tôi thấy tôi cần bỏ đi nhiều ảo tưởng và nhiều tham vọng, mà tôi tự coi là đạo đức, đó là những hành trang làm cho hành trình ơn gọi trở thành nặng nề. Tôi cần tập trung nhiều hơn vào niềm tin ở Đức Mẹ và Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, trong tinh thần tỉnh thức và cầu nguyện.

Được dâng mình và phó thác mình cho Đức Mẹ và cho Thiên Chúa, tôi cảm thấy mình được hạnh phúc lạ lùng. Hạnh phúc lạ lùng này đang uốn nắn hồn tôi, theo lời khuyên của thánh Gioan Tiền Hô. Với hạnh phúc đó, tôi nhớ về mọi đồng bào yêu dấu của tôi.

Long Xuyên, ngày 29.11.2016.

+ Gm. GB BÙI TUẦN

——-

VÒNG TAY SONG NGUYỀN gởi

THIÊN CHÚA TÌM KIẾM CON NGƯỜI

THIÊN CHÚA TÌM KIẾM CON NGƯỜI

thien-chua

Chuyện kể rằng, có hai người bạn chia tay nhau đi tìm điều qúy giá nhất trên đời. Họ hẹn sẽ gặp lại sau khi đã tìm thấy.

Người thứ nhất đi tìm viên ngọc qúy. Bất cứ nơi nào bán đá qúy, anh đều tìm đến. Cuối cùng, anh cũng mãn nguyện vì đã tìm được viên ngọc qúy, anh trở lại quê hương chờ bạn.

Người thứ hai đi tìm Chúa. Anh đi khắp nơi thọ giáo các bậc thánh hiền, cặm cụi đọc sách, nghiền ngẫm, nhưng vẫn không tìm được Chúa.

Nhiều năm trôi qua, đang lúc tuyệt vọng, anh nhìn dòng sông lững lờ: một đàn vịt con đang bơi lội tung tăng. Trong khi vịt mẹ tìm con, thì bày con lại cứ muốn rời mẹ đi tìm ăn riêng. Vịt mẹ chẳng hề tỏ vẻ giận dữ, cứ lẽo đẽo theo bày con và gom chúng lại. Thấy cảnh vịt mẹ mải mê tìm con như thế, anh mỉm cười trở về quê hương.

Khi người bạn hỏi điều qúy mà anh đã tìm được là gì mà khiến gương mặt anh rạng rỡ như thế. Lúc đó, con người trở về với hai bàn tay trắng, nhưng tâm hồn tràn ngập niềm vui mới thốt lên:

– Điều qúy giá mà tôi đã tìm thấy, đó là trong khi tôi đi tìm Chúa, thì chính Người đã đi tìm tôi.

***

“Ngôi Lời đã nhập thể, và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Nhiều khi chúng ta tưởng mình đi tìm Chúa, nhưng thật sự là chính Chúa đi tìm chúng ta trước.

Ngay khi con người sa ngã phạm tội, Thiên Chúa đã lên kế hoạch cứu chuộc.

Ngay khi con người phản bội bất trung, Thiên Chúa đã mở lối cho họ quay bước trở về.

Ngay khi con người vô phương cứu lấy chính mình, Thiên Chúa đã sai Con Một đem thân cứu độ

Đêm nay là đêm giao duyên đất trời, đêm hội hoa đăng, đêm đầy ánh sáng, đêm Thiên Chúa viếng thăm con người. Đúng như thông điệp chứa chan hy vọng của tiên tri Isaia: “Một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng ta và một Người Con đã được ban tặng cho chúng ta” (Is 9,5).

Con người không thể lên tới Thiên Chúa, nên Thiên Chúa đã xuống với con người. Chúa xuống trần gian để cho trần gian biết đường về trời. Chúa mặc lấy bản tính con người để cho con người trở nên con cái Chúa, thánh Gioan viết: “Những ai tin ở Người thì Người ban cho quyền được làm con Thiên Chúa” (Ga 1,12).

Giáng sinh là mùa tặng quà: “Đức Giêsu là quà tặng qúy giá nhất Thiên Chúa trao gởi cho con người (x Ga 3,16). Đến lượt mình, chúng ta cũng hãy trao tặng cho anh em những gì họ cần thiết nhất, với tất cả lòng yêu qúy, trân trọng như chúng ta đang dâng tặng cho chính Hài Nhi Giêsu. Những kẻ nhỏ bé nhất, những người cô độc nhất, những kẻ chịu nhiều đau khổ nhất lại chính là những con người cần được tặng quà nhất. Chúng ta cần chứng tỏ rằng họ đáng kể đối với chúng ta, rằng tên họ chiếm một vị trí trong quả tim chúng ta. Đó chính là quà tặng mà Hài Nhi Giêsu đang mong đợi.

Một cách nào đó, khi tặng quà, chúng ta muốn trao ban vô vị lợi, trao ban không tính toán, trao ban trọn vẹn. Mẹ Têrêsa Calcutta định nghĩa: “Kitô hữu là người trao ban chính bản thân mình”.

***

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã tìm kiếm chúng con, đã cứu chuộc chúng con, và đã cho chúng con được làm con Chúa. Xin cho chúng con mau mắn đáp lại tình yêu bao la của Chúa bằng cách yêu thương anh em với tất cả trái tim nồng cháy của chúng con. Amen!

Thiên Phúc

MÙA VỌNG: MÙA MÀU HỒNG

MÙA VỌNG: MÙA MÀU HỒNG

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

Nếu khởi đầu Mùa Vọng là một màu xanh của những tâm hồn biết rằng Thiên Chúa hằng hy vọng vào mình và hành trình Mùa Vọng là một màu tím của những cuộc đời sám hối, thì ở giữa lòng Mùa Vọng, đời người đã được đặt vào một vận hành mới với một năng lực mới cho một cuộc đời mới.  Những cái mới ấy Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay diễn tả bằng một niềm vui và lễ phục minh họa bằng một tông màu bất ngờ tươi sáng để cùng với Giáo Hội, Chúa Nhật hôm nay xin được gọi tên Mùa Vọng là mùa màu hồng.

mua-vong

Vâng!  Màu hồng.  Nhưng không phải là một thứ ửng hồng e lệ của tình yêu buổi đầu gặp gỡ, cũng không phải là thứ bột hồng điểm trang của hương phấn trong ngày lễ hội, mà chính là màu hồng của niềm vui chan hòa và những chí bền chiến đấu đã làm nên sức sống và sức mạnh không ngừng gieo hưng phấn trên hành trình đức tin.

Qua cách gọi tên Mùa Vọng là mùa màu hồng, xin được gợi ý về hiệu quả của niềm hy vọng.

1) Niềm hy vọng đem lại cho đời tín hữu một niềm vui chan hòa.

Không phải vô cớ mà thánh Phaolô năm xưa đã kêu gọi các tín hữu của mình “Hãy vui lên!” cũng chẳng phải tình cờ khi Phụng Vụ gọi Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng là Chúa Nhật của niềm vui, mà tất cả đã là một hữu ý dàn dựng để làm nổi bật lên nỗi vui mừng và niềm hy vọng không phải như hai nỗi niềm đặt cận kề nhau, mà như hai yếu tố tương tại vào nhau của cùng một nỗi niềm duy nhất kết nên đời sống Kitô hữu.  Có hy vọng là có niềm vui.

Bởi có hy vọng nên đời tín hữu cũng có một vũ trụ quan tươi vui: Họ không chấp nhận cuộc đời theo kiểu “cũng liều nhắm mắt đưa chân” trôi nổi vật vờ theo dòng nước cuốn, mà là đón nhận cuộc đời bằng một phong thái thanh thản vui tươi.  Họ không chấp nhận nhìn môi trường mình đang sống như những sự kiện bên lề mà biết nhận ra đó chính là nơi mình được kêu gọi đến để thể hiện ơn gọi làm người và làm con Chúa.  Cho dẫu cuộc đời có thế nào cũng vẫn có đó niềm hy vọng vươn cao.  “Trong khi chưa có được điều mình thích, hãy bắt đầu bằng cách thích những điều mình đang có.”  Tôi muốn một cuộc đời rộng đẹp nhưng trước mắt tôi vẫn chỉ là những mảnh đời chật hẹp thì trong niềm hy vọng, tôi phải bắt đầu bằng cách nới rộng đời mình ra.

Bởi có niềm hy vọng nên đời tín hữu cũng có một nhân sinh quan chan hòa.  Trong đại dương không ai là một hòn đảo.  Trong chuyến đi cuộc đời chẳng ai là người lữ khách cô đơn.  Thế nên, trong tinh thần liên đới, tín hữu là những kẻ đồng hành và đồng hành cũng có nghĩa là biết cho đi và nhận về.  Cũng giống như tình yêu, hy vọng là rộng mở, là biết cho đi.  Trong đổi chác, không ai có thể cho cái mình không có, nhưng trong niềm hy vọng, không ai có thể có được điều mà mình không biết cho đi.  Bởi lẽ bạc tiền cho đi sẽ có lúc vơi cạn, nhưng niềm hy vọng biết cho đi thì ngược lại, bỗng trở nên phong phú lạ thường.  Nỗi vui cho đi sẽ thành nỗi vui lớn hơn của kẻ cho và người nhận gộp lại, và niềm hy vọng biết cho đi sẽ nên niềm hy vọng vĩ đại của một sự sống triển nở sinh sôi.

Rõ ràng là với niềm hy vọng, cuộc sống đã biến thành niềm vui, cho dẫu niềm vui ấy chưa ở độ tinh ròng mà vẫn còn đan xen với những nỗi niềm riêng tư hay nỗi lo đại cuộc, nhưng đã hồng hào lên một sức sống tươi trẻ vì đó chính là thành quả của niềm hy vọng.

Chắc cộng đoàn còn nhớ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô I.  Triều đại Giáo Hoàng của ngài chỉ có ba mươi ba ngày nhưng hình ảnh của ngài thì thế giới khó mà quên.  Đó là hình ảnh của một Giáo Hoàng với nụ cười thật tươi, nụ cười trong hồn và nụ cười ngoài miệng.  Chính ngài là người đã lập lại quan điểm của thánh Tôma để chủ trương: vui vẻ là một nhân đức.  Và Mẹ Têrêsa Calcutta, một trong mười phụ nữ được xếp vào hàng vĩ nhân hiện đại, khi người ta hỏi Mẹ xem phải làm gì cho cuộc sống tốt hơn, Mẹ bảo: “Hãy mỉm cười.  Cười là thông điệp hòa bình.  Cười là nếm cảm thực tại Thiên Chúa”.

2) Niềm hy vọng đem lại cho đời tín hữu một chí bền chiến đấu.

Những lúc an bình, niềm hy vọng mở ra một cuộc sống tươi vui nhưng khi gặp phải thử thách, niềm hy vọng lại trở nên sức mạnh kiên cường.  Chính vì thế, hy vọng không chỉ được xem là nhân đức của nụ cười mà còn được khẳng định là nhân đức của sự chiến đấu trước những thách đố không thiếu trong đời.

Có những thách đố đến từ những nghịch lý trong đời sống đức tin thể hiện qua những câu hỏi “tại sao?” khó mà trả lời nếu không có niềm hy vọng.  Như câu hỏi tại sao của Cựu Ước: “Tại sao kẻ lành thường gặp hoạn nạn còn kẻ dữ lại cứ phây phây?”  Như câu hỏi của thánh Phaolô: “Tại sao điều tốt muốn làm tôi lại chẳng làm, còn điều xấu muốn tránh tôi lại hay vấp phải?”  Như câu hỏi về Giáo Hội: “Tại sao Giáo Hội bản chất là duy nhất mà trong lịch sử vẫn cứ mãi ghi dấu bằng những cuộc phân ly?”  Như câu hỏi của các bạn trẻ Tây Ban Nha đặt ra cho Đức Gioan Phaolô II năm 1982: “Tại sao Thiên Chúa tốt lành mà trong tạo thành của Ngài lại có quá nhiều tội ác?”  Như câu hỏi của báo chí: “Tại sao người ta cứ phải lo đề phòng đối phó mà không biết yêu thương nhau?”  Hay như câu hỏi mỗi người thường đặt ra với lòng mình: “Tại sao nhân đức như lúa tốt chăm hoài vẫn khó mọc còn nết xấu như cỏ dại nhổ mãi vẫn cứ còn?”  Những câu hỏi ấy được đặt ra và còn được đặt ra mãi mãi.  Sẽ là hoang mang chao đảo nếu không tìm được giải đáp; nhưng sẽ không có câu trả lời đích thực nếu không nại đến niềm hy vọng vào điều toàn bích vốn chỉ có nơi Thiên Chúa và trong cuộc sống mai sau.

Có những thách đố đến từ những nghịch biến trong lối sống đạo như sự ly thân giữa giáo lý tốt lành của đạo với đời sống kèn cựa của người tín hữu, như cách sống thực dụng của một số thành phần có đạo, như xu hướng tục hóa đang có nguy cơ tràn lan, và phổ biến nhất vẫn là thái độ “mackeno” dửng dưng với đạo của một số kẻ tự nhận là có đạo mà thực tế chẳng tốt hơn ai.  Sẽ là dị ứng co cụm nếu chỉ thở dài thất vọng, nhưng sẽ là bản lĩnh hy vọng nếu biết vươn lên khẳng định niềm tin.

Và cũng có những thách đố đến từ những nghịch cảnh trong cuộc đời như tai nạn bất ưng, như sức khỏe yếu kém, như hoàn cảnh không thuận lợi cho ngành nghề, như những thất bại nhiều mặt.  Sẽ là thất vọng nếu cúi gập trên nỗi đau của mình, nhưng sẽ là hy vọng nếu biết vươn lên, cho dẫu hoàn cảnh có tuyệt vọng đi nữa thì ở đó vẫn cứ sáng rỡ một niềm cậy trông.

Trọn trang Tin Mừng hôm nay là một thách đố không nhỏ mà Gioan Tẩy Giả đã gặp phải: rao giảng về một sự trừng phạt đến cận kề nhưng lại gặp phải sự chậm trễ; loan báo về Đấng Cứu Thế như một vị Chúa oai phong đáng sợ nhưng lại thấy Chúa Giêsu chan hòa nhân ái; công bố về thời mở cửa cứu độ nhưng chính mình lại bị cầm tù vào giữa lúc mọi người xôn xao hạnh phúc.  Đã có lúc nóng lòng chờ đợi như việc gửi môn đệ đến chất vấn Chúa Giêsu qua đoạn Phúc Âm hôm nay, nhưng từ những thách đố ấy, nơi Gioan Tẩy Giả đã chứng minh một niềm hy vọng kiên cường: ông không phải là cây sậy yếu mềm chao nghiêng trước gió mà chính là một tượng đài bất khuất của lẽ cậy trông.

Niềm hy vọng chính là sức mạnh hồng hào giúp Gioan Tẩy Giả và tất cả những ai đang gặp thách đố biết kiên vững kinh qua tất cả.

Tóm lại, với hiệu quả của niềm hy vọng là niềm vui chan hòa và chí bền chiến đấu, đời sống của tín hữu đã được đặt vào một vận hành mới vươn tới một điều còn lớn lao hơn cả chính nỗi niềm của mình.  Đó không chỉ là chân lý cho trí ta đong đầy, không chỉ là thiện hảo cho lòng ta mê thích, cũng không chỉ là nét đẹp cho mắt nhìn no thỏa mà chính là một Đấng, Đấng ấy là Thiên Chúa hằng hy vọng vào ta.

Và như thế, thiết tưởng đã đến lúc đặt ra vấn đề: liệu ta có niềm hy vọng ấy chưa?

Bài đọc thứ nhất nhắc nhở “Đừng sợ.”  Đừng sợ không có niềm hy vọng vì trước khi ta có thể hy vọng thì Chúa đã hy vọng vào ta.  Đó là một hồng ân.  Cũng đừng sợ mình mất niềm hy vọng như thể ta sống có một mình.  Có một Đấng cùng sống với ta và Đấng ấy không dễ gì để mất ta đâu.  Cũng đừng sợ niềm hy vọng của ta sao quá nhạt nhòa, bởi hy vọng là một công trình cả đời.  Điều đáng sợ đáng ngại và đáng đau khổ nhất là “thấy Thiên Chúa bị bóp chết trong một đời người”, nghĩa là người ta khước từ hy vọng, bóp nghẹt hy vọng nhân danh sự tự do hoặc danh lợi thú.

Bài đọc thứ hai khuyến khích “Hãy vui lên!” Vui vì ta là niềm hy vọng trong mắt nhìn cứu độ của Thiên Chúa và đồng thời cũng là niềm hy vọng thắp sáng cho anh em mình nữa, để không chỉ gây thắc mắc “nghĩ gì vui thế mà cười một mình” như Trần Tiến trong ca khúc “Thành phố trẻ,” mà còn để chuyển tải đến môi trường xung quanh một niềm vui chan hòa và chí bền chiến đấu.

Ai đã coi cuốn phim “Cuộc đời Chúa Cứu Thế” chắc còn nhớ lúc kết, sau khi đã có biến cố lên trời và lời trao sứ vụ đến với muôn dân, người ta cho xuất hiện trên màn ảnh một chân dung của Chúa Giêsu thật lớn tươi cười với chiếc răng khểnh đàng hoàng.  Không biết dụng ý của đạo diễn thế nào, nhưng phải nói là có tác dụng phấn khích, vừa đem lại nét tươi tắn cho cuốn phim, vừa đem đến niềm vui chan hòa hy vọng.

Mong rằng nụ cười thật lạ ấy cũng trở thành niềm vui cho ta trên nẻo sống đức tin và thể hiện niềm hy vọng.  Được như thế, Chúa Nhật hôm nay đích thực là Chúa Nhật của niềm vui, và Mùa Vọng cũng thêm sáng nghĩa là mùa màu hồng hy vọng thật đẹp thật tươi thật nhiều nụ cười cho người người hạnh phúc.

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

Langthangchieutim gởi

Bán Tất Cả.

Bán Tất Cả.

Một đồ đệ thắc mắc đến hỏi thầy Rabby:

– Thưa Thầy, trong phúc Âm khi Chúa Giêsu phán bảo người thanh niên giàu có hãy trở về nhà bán hết gia tài, bố thí cho kẻ nghèo khó. Ngài nói điều đó có ngụ ý là phải khước từ hết tất cả mọi sự trên trần gian này không.

Thầy Rabby trả lời đồ đệ bằng câu chuyện sau đây:

– Hồi ấy có một thanh niên rất yêu thích đọc Phúc Âm. Một hôm chàng giở Kinh Thánh ra và cũng đọc thấy câu con vừa nói tới. Ðọc xong những lời Chúa phán dạy, chàng thanh niên cảm thấy hân hoan vui mừng bởi vì anh là người ngay lành chỉ mong tìm được con đường cứu rỗi. Lập tức chàng đem bán xe hơi và những vật có giá trị nhất và đem tất cả dâng cúng cho viện mồ côi. Khi trở về nhà, tối đến chàng mở Kinh Thánh ra đọc, cũng ngay câu đó và nghe như có tiếng Chúa thì thầm bên tai: Hãy bán tất cả. Kế đó chàng bán căn nhà nơi cư ngụ duy nhất của chàng và cũng lấy tiền đó đem bố thí cho kẻ nghèo. Nhưng chàng vẫn nghe có tiếng Chúa văng vẳng bên tai: “Hãy bán tất cả”. Chàng thanh niên tự hỏi. Mình đã bán tất cả những gì quý giá, còn gì phải bán nữa chăng. Sau cùng anh ta nhớ ra là còn quyển Kinh Thánh, và anh cũng đem bán luôn. Khi trở về nhà, từ đó anh ta không còn nghe gì nữa.

Người đồ đệ thắc mắc hỏi:

– Thưa thầy, con không hiểu câu chuyện ngụ ý gì, tại sao chàng thanh niên ấy không còn nghe thấy gì nữa.

Thầy Rabby trả lời:

– Sở dĩ anh ta không còn nghe gì nữa là vì anh ta đã bán đi bảo vật quý giá nhất có thể chuyển đạt lời Chúa cho anh. Thật vậy, Chúa Giêsu không đòi hỏi ta khước từ những gì có thể là dụng cụ làm trung gian dẫn đưa chúng ta đến gần Chúa hơn. Sỡ dĩ Chúa phán bảo chàng thanh niên giàu có bán hết mọi sự là vì Ngài thấy rõ tiền bạc là thần tượng của anh. Chúa Giêsu muốn chúng ta khước từ tất cả những gì tuy tự nó có giá trị nhưng lại có thể là chướng ngại vật ngăn cản chúng ta đến với Chúa. Mỗi người chúng ta phải biết nhận định đâu là những gì giúp ta đến gần Chúa hơn hay duy trì lại và đâu là những điều làm ta xa cách Chúa cần phải dứt khoát khước từ.

***

Quí vị và các bạn thân mến,

Cái giàu có mà Tin Mừng lên án không phải là có nhiều của cải vật chất nhưng là lòng ao ước không kìm chế sự ham muốn và tranh đấu để chiếm cho bằng được những của cải đó. Sự quyến luyến của cải trần gian một cách thái quá có nguy cơ trở thành mối dây ràng buộc hiểm độc bởi vì nó có thể bóp nghẹt tâm hồn con người.

Mùa vọng là thời điểm thuận tiện để nhìn sâu vào đáy lòng mỗi người để nhìn nhận những mối dây còn ghì chặt chúng ta trong trạng thái nô lệ không cho phép chúng ta biết rộng mở tâm hồn đón nhận Ðấng Cứu Thế đang đến trong lịch sử nhân loại và đến trong tâm hồn mỗi người.

***

Lạy Chúa, xin hãy khai mở tâm trí con bằng ánh sáng khôn ngoan của Chúa, để con biết khám phá và nhìn nhận ra đâu là sự giàu sang mà trái tim con vướng mắc. Xin lửa tình yêu Chúa sưởi ấm tâm hồn con để con biết can đảm khước từ tất cả những gì Chúa không ưa thích. Amen.    

Veritas

Anh chị Thụ & Mai gởi

Chiếc Áo Hạnh Phúc

Chiếc Áo Hạnh Phúc

Một vị vua kia có tất cả mọi sự để được hạnh phúc… Nhưng lúc nào nhà vua cũng cảm thấy đau khổ, bứt rứt lo lắng. Các vị lương y khắp nước được triệu tập, nhưng tất cả đều bó tay. Sau cùng có một vị lương y xin yết kiến. Sau khi đã xem xét bệnh tình, vị lương y tâu rằng: “Ðức vua sẽ hoàn toàn hạnh phúc, nếu đức vua mặc được chiếc áo lót của người sung sướng nhất trần gian”.

Thế là nhà vua ra lệnh cho tìm xem ai là người hạnh phúc nhất trên trần đời… Binh sĩ đã đi rảo khắp cả nước, nhưng không tìm được con người hạnh phúc đó. Trên đường quay về chịu tội, họ đã gặp được một bác chăn chiên đang ca hát véo von, không một chút lo âu. Ðám binh sĩ đã sấn lại tóm cổ người chăn chiên và lột áo. Nhưng vừa lột áo người chăn chiên, họ vô cùng sửng sốt vì ông ta không có nổi một chiếc áo lót!

Người đời thường nói: “Có tiền vua tiên cũng được”. Nhưng chắc chắn người ta không thể dùng tiền bạc để mua hạnh phúc, an vui cho tâm hồn mình. Phúc thay những ai có tâm hồn nghèo khó. Chỉ khi nào tâm hồn chúng ta trống rỗng của cải, Thiên Chúa mới có thể lấp đầy.

Trích sách Lẽ Sống

Anh chị Thụ & Mai gởi

Trump Làm Điều Không Tưởng!

Trump Làm Điều Không Tưởng!

     Tôi là một người đàn bà đã sống trên đất Mỹ trên 20 năm trãi qua bao nhiêu cuộc bầu cử tôi luôn bầu theo kiểu khiếm diện , nhưng cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ vừa qua tôi nói với chồng tôi : lần này em sẽ đích thân đến phòng phiếu để bỏ cho ông Trump, em ko muốn lá phiếu của em sẽ bị thất lạc!

 

     Bởi vì tôi rất thích cá tính của Ông ta , thật ko ngờ hôm nay tôi đọc được bài báo trên tôi thấy rằng lá phiếu của tôi đã bỏ cho ông Trump rất đúng !

Tôi cũng cám ơn nhà báo Liz Crokin đã đưa lên mạng xã hội những việc làm tốt ( chắc chưa hết và đủ) của ông Trump để những người luôn chỉ trích và nghỉ xấu ông sẽ suy nghi lại !!

   

     Tôi viết lên những ý tưởng chân thật của riêng tôi , nếu có sự mâu thuẩn với các bạn xin hãy bỏ qua cho tôi nhé , chân thành cám ơn các bạn !

 

   Thân chào các bạn,

       Lưu Mai Hạnh

     

Tài liệu dưới đây do Nhà Báo Liz Crokin đưa lên mạng xã hội ngày 17.11.2016 với nhan đề là ….  TRUMP LÀM ĐIỀU KHÔNG TƯỞNG.
(Trump does the Unthinkable).

Mời xem để biết thêm về con người mà thiên hạ vẫn chế diễu trong cuộc tranh cử Tổng Thống Mỹ vừa qua.

Có phải ….. Donald Trump là một người kỳ thị chủng tộc, độc hành, độc đoán, phân biệt giới tính, bài ngoại, chống Do Thái và kỵ Hồi Giáo không ?- Tôi đã bỏ sót điều gì chăng ?

Bọn tả phái và giới truyền thông khởi động các cuộc tấn công loại gớm ghiếc như vầy vào Trump hàng ngày; tuy nhiên, không có gì có thể xa hơn ngoài sự thật về ông trùm bất động sản này.

Là một nhà báo viết mục giải trí, tôi đã có cơ hội viết về Trump trong hơn một thập kỷ, và trong tất cả các năm của tôi viết về ông, tôi chưa từng nghe bất cứ điều gì tiêu cực về người đàn ông này cho đến khi ông tuyên bố ông sẽ tranh cử tổng thống.

Hãy nhớ rằng tôi đã được trả rất nhiều tiền để đào bới những bẩn thỉu trên những người nổi tiếng như Trump để sinh sống, vì thế, một câu chuyện tai tiếng về một ông tỷ phú nổi tiếng có thể có khả năng bán được rất nhiều báo và sẽ là một niềm hãnh diện to lớn cho tôi.

Thay vào đó, tôi phát hiện ra rằng ông ta không uống rượu hay xài ma túy, ông ấy là một doanh nhân chăm chỉ và hoàn toàn dành tâm trí cho vợ và các con yêu quý của mình. Trên hết, ông là một trong những nhân vật nổi tiếng hào phóng nhất thế giới với một trái tim chứa nhiều vàng hơn cả căn nhà giá $ 100,000,000 ở New York của ông.

Năm 2004, là năm phát sóng tập đầu tiên của truyện “The Apprentice” và lúc đó tôi đã làm việc như một ký giả viết chuyên mục giải trí cho “Red Eye Edition of the Chicago Tribune” và như một ký giả tự do cho “Us Weekly”. Tôi có cảm giác đinh ninh rằng người tham gia thi đấu của Chicago là Bill Rancic, sẽ giành chiến thắng trong buổi trình diễn thực tế. Vì vậy, tôi đã liên lạc với anh ta và viết toàn tập cho buổi trình diễn ăn khách này. Tôi đã vận dụng để được mời đến New York cho đêm đại chung kết của chương trình và phần hậu tiệc. Đây là nơi đầu tiên tôi gặp Trump và đã hỏi ông một số câu hỏi.

Năm đó, Rancic đã giành chiến thắng “The Apprentice”. Tôi đã tham dự liên tiếp các buổi chung kết của”The Apprentice” vào hai năm sau đó. Giữa những cuộc chung kết đó và những chuyến viếng thăm thường xuyên của ôngTrump cùng gia đình tới Chicago để lo việc xây cất khu Trump International Hotel & Tower, tôi cũng đã có cơ hội để gặp hầu hết các thành viên trong gia đình ông, tôi đã không biết gì ngoài những kinh nghiệm hữu ích về họ. Bởi lẽ giới truyền thông đã thiếu sót thê thảm trong việc tường trình về ông Trump, tôi đã quyết định gom chung lại một số trong các hành vi thiện mỹ mà ông ấy đã dấn thân thực hiện trong hơn ba thập kỷ mà xem ra không ai chú ý hoặc chúng đã rơi vào những lỗ tai điếc.

Năm 1986, Trump ngăn cản việc tịch thu nhà của trang trại gia đình Annabell Hill sau khi chồng bà đã tự tử.

Trump đích thân gọi điện đến cơ quan đấu giá để ngăn chặn việc bán nhà của bà và đã cấp tiền góa phụ cho bà. Trump quyết định hành động sau khi đọc được những lời cầu xin giúp đỡ của bà Hill trong các bản tin.

Năm 1988, một máy bay thương mại từ chối chở bé Andrew Ten 3 tuổi, con trai của một giáo sĩ giáo phái Do Thái Chính Thống đang mắc một căn bệnh hiếm, cần đi chữa bệnh ở một tiểu bang xa vì em cần phải mang theo mình một hệ thống máy hỗ trợ sự sống phức tạp. Cha mẹ đau buồn của em đã liên lạc với Trump để được giúp đỡ và ông ta đã không ngần ngại gửi máy bay riêng của mình để đưa em bé từ Los Angeles đến New York để em có thể có được điều trị.

Năm 1991, 200 lính Marines phục vụ trong Chiến dịch Bão Sa Mạc đang ch tại Trại Lejeune ở Bắc Carolina để lên máy bay trở về với gia đình họ. Tuy nhiên, họ được cho biết chuyến bay không thể đến và sẽ bị hoản mấy ngày vì bị sai lầm lịch trình cho nên họ không thể trở về đúng hẹn với gia đình. Khi Trump được tin này, ông đã gửi máy bay của mình để đưa họ về bằng hai chuyến đi từ Bắc Carolina đến Miami để họ có thể trở về đoàn tụ với những người thân yêu của họ.

Năm 1995, một ngưi lái xe dừng lại để giúp Trump vì chiếc limo của ông bị xẹp lốp. Trump hỏi người Samaritanô nhân hậu là ông phải trả công cho anh như thế nào.

Tất cả những gì anh này muốn chỉ là một bó hoa cho vợ anh. Một vài tuần sau đó Trump gửi tặng anh một bó hoa với thiệp ghi hàng chữ: “Chúng tôi đã trả xong hết tiền nợ thế chấp nhà của bạn.”

Năm 1996, Trump đã đệ đơn kiện thành phố Palm Beach, Florida để cáo buộc chính quyền thị trấn đã kỳ thị câu lạc bộ Mar-a-Lago nơi khu vui chơi của mình bởi vì câu lạc bộ này cho phép người Do Thái và người da đen vào chơi.

Ông Abraham Foxman, người giám đốc của Hiệp Hội Chống Bôi lọ (Anti-Defamation League) vào thời buổi đó, nói rằng Trump “đã đem ánh sáng đến vùng Palm Beach -. không phải chiếu ánh sáng lên vẻ đẹp long lanh của nó, mà là lên khuôn mặt kỳ thị và bần thỉu của nó.” Foxman cũng ghi thêm rằng sự tấn công của Trump lên nạn kỳ thị đã có tác dụng tràn xuống bởi vì các câu lạc bộ khác đã noi gương ông bắt đầu nhận người Do Thái và người da đen.

Năm 2000, Maury Povich người hướng dẫn chương trình đã đem chuyện của bé gái tên là Megan đang chiến đấu với bệnh giòn xương để trình bày lên chương trình của ông và Trump đã đúng lúc xem được. Trump nói rằng câu chuyện và thái độ tích cực của cô bé đã chạm vào trái tim của mình. Vì vậy, ông đã liên lạc với Maury và tặng cô bé cùng gia đình cô một chi phiếu rất hào phóng.

Năm 2008, sau khi các người trong gia đình của cô diễn viên Jennifer Hudson bị sát hại thê thảm tại Chicago, Trump đưa cô diễn viên đã từng đoạt giải Oscar và gia đình của cô đến ở tại khách sạn Windy City của ông miễn phí. Ngoài ra, Trump còn cho an ninh gia tăng biện pháp bảo vệ để đảm bảo côHudson và các thành viên gia đình của cô được an toàn trong suốt khoảng thời gian khó khăn đó.

Năm 2013, Ông tài xế xe bus Darell Barton ở New York thấy một phụ nữ đứng gần mép cầu đang nhìn xuống luồng tàu bè lưu thông phía dưới. Ông ta dừng xe và chạy đến ôm cô lại và cứu cô, thuyết phục cô đừng nhảy xuống.

Khi ông Trump nghe được chuyện này, ông liền gửi đến ông tài xế anh hùng này một tấm chi phiếu chỉ vì ông tin rằng hành vi cứu người của ông này đáng được tặng th ưởng.

Trong năm 2014, Trump đã cho Trung Sĩ Andrew Tahmooressi 24.000 USD sau khi ông này đã trải qua bảy tháng trong một nhà tù ở Mexico vì đã vô tình vượt qua biên giới Mỹ-Mexico. Tổng thống Barack Obama thậm chí đã không buồn lòng gọi một cú điện thoại để giúp đỡ xin thả ông trung sĩ Thủy Quân Lục Chiến này. Thế mà ông Trump đã mở hầu bao để giúp người lính này trở lại cuộc sống bình thường.

Trong năm 2016, Melissa Consin Young đã tham dự một buổi tụ họp ủng hộ Trump và cô rơi nước mắt cám ơn ông Trump đã thay đổi cuộc sống của cô. Cô cho biết cô đã từng đứng với Trump trên sân khấu để tự hào nhận vương miện Hoa Hậu của tiểu bang Wisconsin Hoa Kỳ vào năm 2005. Tuy nhiên, nhiều năm sau, cô phải vật lộn với chứng bệnh nan y và trong những ngày đen tối nhất của cô, cô cho biết cô đã nhận được một lá thư viết tay từ Trump nói rằng “cô là người phụ nữ dũng cảm nhất mà tôi biết”. Cô cho biết những cơ hội làm ăn mà cô nhận được từ Trump và tổ chức của ông cuối cùng đã cung cấp đầy đủ vốn cho thằng con trai Mỹ gốc Mễ của mình học xong trường cao đẳng.

Lynne Patton, một phụ nữ da đen nhân viên điều hành cho Tổ chức Trump, đã đưa ra một bản khai vào năm 2016 để bênh vực cho ông chủ của mình và chống lại những cáo buộc rằng ông Trump là người kỳ thị chủng tộc và là một kẻ độc hành độc đoán. Bà vừa khóc vừa tiết lộ, bà đã vật lộn khó khăn thế nào với việc lạm dụng thuốc và cơn nghiện trong nhiều năm. Thay vì đá bà vào lề đường, bà cho biết Tổ chức Trump và toàn bộ gia đình của ông đã thành tâm đứng cạnh bà suốt “thời gian vô cùng khó khăn đó.”

Lòng tốt của Trump không có giới hạn và sự rộng lượng của ông đã, và vẫn tiếp tục chạm tới cuộc sống của người dân thuộc mọi giới tính, chủng tộc và tôn giáo. Khi Trump thấy ai thiếu thốn thì ông muốn giúp đỡ. Hai thập kỷ trước, Oprah hỏi Trump trong một cuộc phỏng vấn truyền hình xem ông có muốn tranh cử tổng thống không. Ông nói: “Nếu tình hình trở nên quá tệ, tôi sẽ không bao giờ muốn hoàn toàn bỏ ý định ứng cử đó, bởi vì tôi thực sự chán chường khi nhìn thấy những gì đang xảy ra với đất nước này. ” Ngày đó đã đến. Trump thấy rằng nước Mỹ đang cần thay đổi và ông muốn giúp đỡ –

Thật không thể tưởng được !

From: KittyThiênKim & Nguyễn Kim Bằng

Cám ơn cuộc Đời

Cám ơn cuộc Đời

Mặc dầu Lễ Tạ ơn đã qua nhưng xin đăng bài này, rất cảm động.

cam-onHôm nay Thứ Năm ngày 24/11/2016 là Lễ T Ơn tại Mỹ. Trân trọng mời đọc bài viết đặc biệt cho mùa lễ tạ ơn của tác giả Hoàng Thanh. Cô tên thật Võ Ngọc Thanh, một dược sĩ thuộc lớp tuổi 33’., hiện là cư dân Westminster, Orange County. Bài viết về Lễ Tạ Ơn của cô mang tựa dề “Xin Cám Ơn Cuộc Ðời” kể lại câu chuyện xúc

động, giản dị mà khác thuờng, bắt đầu từ cái Bình Thuờng nhất: ” Chỉ với một n cuời 

 

happy-hoa

Xin cám ơn cuộc đời

Thế là một mùa Lễ Tạ Ơn nữa lại đến. Tôi vẫn còn nhớ, lần đầu tiên khi nghe nói về Lễ Tạ Ơn, tôi thầm nghĩ, “Dân ngoại quốc sao mà… “quởn” quá, cứ bày đặt lễ này lễ nọ, màu mè, chắc cũng chỉ để có dịp bán thiệp, bán hàng để nguời ta mua tặng nhau thôi, cũng là một cách làm business đó mà…”

Năm đầu tiên đặt chân đến Mỹ, Lễ Tạ Ơn hoàn toàn không có một chút ý nghĩa gì với tôi cả, tôi chỉ vui vì ngày hôm đó đuợc nghỉ làm, và có một buổi tối quây quần ăn uống với gia đình. Mãi ba năm sau thì tôi mới thật sự hiểu đuợc ý nghĩa của ngày Lễ Tạ Ơn.

Thời gian này tôi đang thực tập ở một Pharmacy để lấy bằng Duợc Sĩ. Tiệm thuốc này rất đông khách, cả ngày mọi nguời làm không nghỉ tay, điện thoại lúc nào cũng reng liên tục, nên ai nấy cũng đều căng thẳng, mệt mỏi, dễ đâm ra quạu quọ, và hầu như không ai có nổi một nụ cuời trên môi.

Tiệm thuốc có một bà khách quen, tên bà là Josephine Smiley. Tôi còn nhớ rất rõ nét mặt rất phúc hậu của bà. Năm đó bà đã gần 80 tuổi, bà bị tật ở tay và chân nên phải ngồi xe lăn, lại bị bệnh thấp khớp nên các ngón tay bà co quắp, và bà lại đang điều trị ung thư ở giai doạn cuối.

Cứ mỗi lần bà đến lấy thuốc (bà uống hơn muời mấy món mỗi tháng, cho đủ loại bệnh), tôi đều nhìn bà ái ngại. Vì thấy rất tội nghiệp cho bà, nên tôi thuờng ráng cuời vui với bà, thăm hỏi bà vài ba câu, hay phụ đẩy chiếc xe lăn cho bà. Nghe đâu chồng bà và đứa con duy nhất bị chết trong một tai nạn xe hơi, còn bà tuy thoát chết nhung lại bị tật nguyền, rồi từ dó bà bị bệnh trầm cảm (depressed), không đi làm được nữa, và từ 5 năm nay thì lại phát hiện ung thư. Mấy nguời làm chung trong tiệm cho biết là bà hiện sống một mình ở nhà duỡng lão.

Tôi vẫn còn nhớ rất rõ vào chiều hôm truớc ngày lễ Thanksgiving năm 1993, khi bà đến lấy thuốc. Bỗng dưng bà cuời với tôi và đưa tặng tôi một tấm thiệp cùng một ổ bánh ngọt bà mua cho tôi. Tôi cám ơn thì bà bảo tôi hãy mở tấm thiệp ra đọc liền đi.

Tôi mở tấm thiệp và xúc động nhìn những nét chữ run rẩy, xiêu vẹo:

Dear Thanh,

My name is Josephine Smiley, but life does not “smile” to me at all. Many times I wanted to kill myself, until the day I met you in this pharmacy.You are the ONLY person who always smiles to me, after the death of my husband and my son.You made me feel happy and help me keep on living. I profit this Thanksgiving holiday to say “Thank you”, Thanh.

Thank you, very much, for your smile…

(Thanh thân mến,

Tên tôi là Josephine Smiley, nhưng cuộc sống Không có “nụ cười” với tôi cả. Nhiều lần tôi muốn tự tử, cho đến ngày tôi vào tiệm thuốc tây này.

Cô là người luôn luôn mỉm cười với tôi, sau cái chết của chồng tôi và con trai tôi. Cô làm tôi cảm thấy hạnh phúc và giúp tôi tiếp tục sống. Nhân dịp ngày Lễ Tạ Ơn để nói lời “Cảm ơn”, Thanh.

Cảm ơn cô, rất nhiều, vì nụ cười của cô …)
Rồi bà ôm tôi và bà chảy nuớc mắt. Tôi cũng vậy, tôi đứng mà nghe mắt mình uớt, nghe cổ họng mình nghẹn… Tôi thật hoàn toàn không ngờ được rằng, chỉ với một nụ cuời, mà tôi đã có thể giúp cho một con nguời có thêm nghị lực để sống còn.

Ðó là lần đầu tiên, tôi cảm nhận được cái ý nghĩa cao quý của ngày lễ Thanksgiving.

Ngày Lễ Tạ ơn năm sau, tôi cũng có ý ngóng trông bà đến lấy thuốc truớc khi đóng cửa tiệm. Thì bỗng dưng một cô gái trẻ đến tìm gặp tôi. Cô đưa cho tôi một tấm thiệp và báo tin là bà Josephine Smiley vừa mới qua đời 3 hôm truớc. Cô nói là lúc hấp hối, bà đã đưa cô y tá này tấm thiệp và nhờ cô đến đưa tận tay tôi vào đúng ngày Thanksgiving. Và cô ta đã có hứa là sẽ làm tròn uớc nguyện sau cùng của bà. Tôi bật khóc, và nuớc mắt ràn rụa của tôi đã làm nhòe hẳn đi những dòng chữ xiêu vẹo, ngoằn nghèo trên trang giấy:

My dear Thanh,
I am thinking of you until the last minute of my life.
I miss you, and I miss your smile…
I love you, my “daughter”.. .

( Thanh thân yêu,

Tôi đang nghĩ đến cô Cho đến phút cuối cùng của cuộc đời tôi.
Tôi nhớ đến cô, và tôi nhớ nụ cười của cô …
Tôi yêu cô , “con gái” của tôi.. 
.)

Tôi còn nhớ tôi đã khóc sưng cả mắt ngày hôm đó, không sao tiếp tục làm việc nổi, và khóc suốt trong buổi tang lễ của bà, nguời “Mẹ American” đã gọi tôi bằng tiếng “my daughter”…

Truớc mùa Lễ Tạ Ơn năm sau đó, tôi xin chuyển qua làm ở một pharmacy khác, bởi vì tôi biết, trái tim tôi quá yếu đuối, tôi sẽ không chịu nổi niềm nhớ thương quá lớn, dành cho bà, vào mỗi ngày lễ đặc biệt này, nếu tôi vẫn tiếp tục làm ở pharmacy đó.

Mãi cho đến giờ, tôi vẫn còn giữ hai tấm thiệp ngày nào của nguời bệnh nhân này. Và cũng từ đó, không hiểu sao, tôi yêu lắm ngày Lễ Thanksgiving, có lẽ bởi vì tôi đã “cảm” được ý nghĩa thật sự của ngày lễ đặc biệt này.

Thông thuờng thì ở Mỹ, Lễ Tạ Ơn là một dịp để gia đình họp mặt. Mọi nguời đều mua một tấm thiệp, hay một món quà nào đó, đem tặng cho nguời mình thích, mình thương, hay mình từng chịu ơn. Theo phong tục bao đời nay, thì trong buổi họp mặt gia đình vào dịp lễ này, món ăn chính luôn là món gà tây (tuckey).

Từ mấy tuần truớc ngày Lễ TẠ ƠN, hầu như chợ nào cũng bày bán đầy những con gà tây, gà ta, còn sống có, thịt làm sẵn cũng có… Cứ mỗi mùa Lễ Tạ Ơn, có cả trăm triệu con gà bị giết chết, làm thịt cho mọi nguời ăn nhậu.
Nguời Việt mình thì hay chê thịt gà tây ăn lạt lẽo, nên thuờng làm món gà ta, “gà đi bộ.” Ngày xưa tôi cũng hay ăn gà vào dịp lễ này với gia đình, nhưng từ ngày biết Ðạo, tôi không còn ăn thịt gà nữa. Từ vài tuần truớc ngày lễ, hễ tôi làm được việc gì tốt, dù rất nhỏ, là tôi lại hồi huớng công đức cho tất cả những con gà, tây hay ta, cùng tất cả những con vật nào đã, đang và sẽ bị giết trong dịp lễ này, cầu mong cho chúng thoát khỏi kiếp súc sanh và được đầu thai vào một kiếp sống mới, tốt đẹp và an lành hơn.

Từ hơn 10 năm nay, cứ mỗi năm dến Lễ Tạ Ơn, tôi đều ráng sắp xếp công việc để có thể tham gia vào những buổi “Free meals” tổ chức bởi các Hội Từ Thiện, nhằm giúp bữa ăn cho những nguời không nhà. Có đến với những bữa cơm như thế này, tôi mới thấy thương cho những nguời dân Mỹ nghèo đói, Mỹ trắng có, Mỹ đen có, nguời da vàng cũng có, và có cả nguời Việt Nam mình nữa. Họ đứng xếp hàng cả tiếng đồng hồ, rất trật tự, trong gió lạnh mùa thu, nhiều nguời không có cả một chiếc áo ấm, răng đánh bò cạp…để chờ đến phiên mình được lãnh một phần cơm và một chiếc mền, một cái túi ngủ qua đêm.

Ở nơi đâu trên trái dất này, cũng luôn vẫn còn rất rất nhiều nguời đang cần những tấm lòng nhân ái của chúng ta…

Nếu nói về hai chữ “TẠ ƠN” với những nguời mà ta từng chịu ơn, thì có lẽ cái list của chúng ta sẽ dài lắm, bởi vì không một ai tồn tại trên cõi đời này mà không từng mang ơn một hay nhiều nguời khác. Chúng ta được sinh ra làm nguời, đã là một ơn sủng của Thuợng Ðế. Như tôi đây, có đuợc ngày hôm nay, ngồi viết những dòng này, cũng lại là ơn Cha, ơn Mẹ, ơn Thầy…

Cám ơn quê hương tôi -Việt Nam, với hai mùa mưa nắng, với những nguời dân bần cùng chịu khó. Quê hương tôi- nơi đã đón nhận tôi từ lúc sinh ra, để lại trong tim tôi biết bao nhiêu là kỷ niệm cả một thời thơ ấu. Quê hương tôi, là nỗi nhớ, niềm thương của tôi, ngày lại ngày qua ở xứ lạ quê nguời…

Cám ơn Mẹ, đã sinh ra con và nuôi duỡng con cho đến ngày truởng thành. Cám ơn Mẹ, về những tháng ngày nhọc nhằn đã làm lưng Mẹ còng xuống, vai Mẹ oằn đi, về những nỗi buồn lo mà Mẹ đã từng âm thầm chịu đựng suốt gần nửa thế kỷ qua…

Cám ơn Ba, đã nuôi nấng, dạy dỗ con nên nguời. Cám ơn Ba, về những năm tháng cực nhọc, những chuỗi ngày dài đằng đẵng chạy lo cho con từng miếng cơm manh áo, về những giọt mồ hôi nhễ nhại trên lưng áo Ba, để kiếm từng đồng tiền nuôi con ăn học….

Cám ơn các Thầy Cô, đã dạy dỗ con nên nguời, đã truyền cho con biết bao kiến thức để con trở thành một nguời hữu dụng cho đất nuớc, xã hội…
Cám ơn các chị, các em tôi, đã xẻ chia với tôi những tháng ngày cơ cực nhất, những buổi đầu đặt chân trên xứ lạ quê nguời, đã chia vui, động viên những lúc tôi thành công, đã nâng đỡ, vực tôi dậy những khi tôi vấp ngã hay thất bại…

Cám ơn tất cả bạn bè tôi, đã tặng cho tôi biết bao nhiêu kỷ niệm – buồn vui- những món quà vô giá mà không sao tôi có thể mua được. Nếu không có các bạn, thì có lẽ cả một thời áo trắng của tôi không có chút gì dể mà lưu luyến cả…
Cám ơn nhỏ bạn thân ngày xưa, đã “nuôi” tôi cả mấy năm trời Ðại học, bằng những lon “gigo” cơm, bữa rau, bữa trứng, bằng những chén chè nho nhỏ, hay những ly trà đá ở căn tin ngày nào.

Cám ơn các bệnh nhân của tôi, đã ban tặng cho tôi những niềm vui trong công việc. Cả những bệnh nhân khó tính nhất, đã giúp tôi hiểu thế nào là cái khổ, cái đau của bệnh tật…

Cám ơn các ông chủ, bà chủ của tôi, đã cho tôi biết giá trị của đồng tiền, để tôi hiểu mình không nên phung phí, vì đồng tiền lương thiện bao giờ cũng phải đánh đổi bằng công lao khó nhọc…

Cám ơn những nguời tình, cả những nguời từng bỏ ra đi, đã giúp tôi biết đuợc cảm nhận đuợc thế nào là Tình yêu, là Hạnh phúc, và cả thế nào là đau khổ, chia ly.

Cám ơn những dòng thơ, dòng nhạc, đã giúp tôi tìm vui trong những phút giây thơ thẩn nhất, để quên đi chút sầu muộn âu lo, để thấy cuộc đời này vẫn còn có chút gì đó để nhớ, để thương…

Cám ơn những thăng trầm của cuộc sống, đã cho tôi nếm đủ mọi mùi vị ngọt bùi, cay đắng của cuộc dời, để nhận ra cuộc sống này là vô thuờng… để từ đó bớt dần “cái tôi”- cái ngã mạn của ngày nào…

Xin cám ơn tất cả… những ai đã đến trong cuộc đời tôi, và cả những ai tôi chưa từng quen biết. Bởi vì:
Trăm năm trước thì ta chưa gặp,
Trăm năm sau biết gặp lại không?
Cuộc đời sắc sắc không không
Thôi thì hãy sống hết lòng với nhau…”

Và cứ thế mỗi năm, khi mùa Lễ Tạ Ơn đến, tôi lại đi mua những tấm thiệp, hay một chút quà để tặng Mẹ, tặng Chị, tặng những người thân thương, và những nguời đã từng giúp đỡ tôi.

Cuộc sống này, đôi lúc chúng ta cũng cần nên biểu lộ tình thương yêu của mình, bằng một hành động gì đó cụ thể, dù chỉ là một lời nói “Con thương Mẹ”, hay một tấm thiệp, một cành hồng.Tình thương, là phải đuợc cho đi, và phải đuợc đón nhận, bởi lỡ mai này, những nguời thương của chúng ta không còn nữa, thì ngày Lễ Tạ Ơn sẽ có còn ý nghĩa gì không?

Xin cám ơn cuộc đời…

Hoàng Thanh

Phiếm luận về Cờ Lờ Mờ Vờ!

 Phiếm luận về Cờ Lờ Mờ Vờ!

GNsP – Kể từ ngày ông thủ tướng Phúc ê a đánh vần bày chữ CLMV-CLV, cộng đồng mạng bỗng dưng dậy sóng. Phần lớn bà con đều kinh hoàng với cách phát âm khôi hài này. Báo chí chính thống thì ngậm hột thị, có lẽ họ cũng thấy cái gì đấy không chỉnh cho lắm, nhưng không dám lên tiếng.

“Cái gì đấy không chỉnh” có lẽ mọi người bây giờ đã biết. Nó đến từ sự lầm lẫn giữa cách dùng tên của chữ cái và cách phát âm của nó. Trong một video quay trực tiếp, anh Nguyễn Chí Tuyến cũng là một nhà đấu tranh cho dân chủ đã trình bày rõ về vấn đề này. Tôi xin được tóm lại như sau: Trong tiếng Việt, mỗi chữ cái gồm có một cái TÊN và một cách PHIÊN ÂM. Chẳng hạn chữ B có tên là BÊ và phiên âm là BỜ, chữ C có tên là XÊ và phiên âm là CỜ. Khi nói tắt (chứ không phải viết tắt) ngày xưa người ta dùng TÊN, chẳng hạn a, bê, xê (A,B,C) và bây giờ người ta dùng phiên âm a, bờ, cờ.

Vấn đề sử dụng phiên âm thực ra đã được nêu lên từ rất lâu, và bởi những người có thẩm quyền nhưng cho đến nay cũng chưa thống nhất. Trên tờ Tuổi Trẻ tháng 5/2010, ông Lê Tiến Thành, vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học, Bộ GD-ĐT cho biết: (xin trích) “Trường hợp sử dụng cách gọi a, bê, xê hay a, bờ, cờ cũng phải xem xét từ thực tiễn dạy học. Việc sử dụng việc dạy ghép vần cho học sinh lớp 1, để trẻ dễ hiểu, dễ học, các nhà giáo dục đã lựa chọn cách gọi tên “a, bờ, cờ” . Chẳng hạn trẻ ghép “bờ e be sắc bé” sẽ đơn giản hơn nhiều so với “bê e be sắc bé”, hay sẽ ghép vần “cờ o co huyền cò” chứ không thể “xê o co huyền cò”…”

“Cá nhân tôi ủng hộ vì đó là con đường nhanh nhất giúp trẻ ghép vần. Cách phát âm a, bờ, cờ chỉ sử dụng khi ghép vần để trẻ biết đọc tiếng Việt. Còn trong những trường hợp khác, kể cả ở lớp 1, vẫn sử dụng cách đọc a, bê, xê để đọc bảng chữ cái.” (hết trích)
Vậy thì đã rõ, cách phát âm a, bờ, cờ chỉ được dùng trong lớp 1, nghĩa là khi các em học đánh vần. Xong giai đoạn này, các em sẽ dùng a bê xê. Cụ thể là cho tam giác a bê xê chứ không phải a bờ cờ, Nước Việt Nam đọc tắt là “vê en” chứ không phải vờ nờ. Không có gì phải lăn tăn. Vậy mà ông thủ tướng lại văng ra cờ lờ mờ vờ ! Nghe nó kỳ kỳ thế nào ấy. Xấu miệng thì nói ông chưa xong lớp 1, tốt miệng thì đổ lỗi cho thằng đánh máy (lại thằng đánh máy !)
Trong bài này tôi xin mở rộng câu chuyện sang những vấn đề có liên quan đến ngôn ngữ và giáo dục đã được đề cập trên báo Tuổi Trẻ tháng 9/2008. Đó là vấn đề sử dụng phiên âm và những hệ lụy của nó.

Từ lâu lắm rồi và cho tới nay, trong sách giáo khoa học sinh vẫn còn phải học cách viết tên riêng người (hoặc địa danh) nước ngoài theo cách phiên âm. Cách này như sau: Khi viết tên người, tên địa lý nước ngoài, ta viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên đó. Nếu bộ phận tạo thành tên gồm nhiều tiếng thì giữa các tiếng cần có gạch nối.

– Tên người: Lép Tôn-xtôi, Tô-mát Ê-đi-xơn.
– Tên địa lý: Hi-ma-lay-a, Đa-nuýp, Lốt Ăng-giơ-lét, Niu Di-lân, Công-gô”.

Cách viết tên riêng người (hoặc địa danh) nước ngoài theo phiên âm đã gây ra những tai hại như sau:

– Học sinh không biết được tên thật nên sẽ có những kiến thức sẽ sai lạc và lúng túng khi làm việc trong thời đại Internet. Cho dù ngày nay Google rất thông minh, đánh “Lốt Ăng-giơ-lét” nó sẽ tìm ra ngay là Los Angeles. Tuy nhiên, đó chỉ là trường hợp đặc biệt vì Los Angeles quá nổi tiếng. Bằng chứng là nếu đánh “Can sat Xiti” (Kansas City) thì Google đầu hàng ngay, cho dù thành phố này cũng khá nổi tiếng, chứ nếu chúng ta đánh một địa danh của Burundi hay Samoa thì Google bó tay chấm com tức khắc.

– Nếu thầy cô và học sinh gặp tên riêng người (hoặc địa danh) nước ngoài không được học trong sách giáo khoa sẽ viết sao đây? Chẳng lẽ bịa ra một tên theo cách phiên âm chủ quan của mỗi người (mà tên thật thì không thể bịa được).

Theo ý kiến cá nhân, cách viết tên riêng người (hoặc địa danh) nước ngoài đúng nhất là :
– viết tên thật trong ngôn ngữ của quốc tịch người đó. Ví dụ: Thomas Edison (Mỹ), Praha (Cộng hòa Tiệp)

– trong trường hợp nước đó không dùng mẫu tự la-tinh hoặc có dùng mẫu tự la-tinh nhưng quá phức tạp, thì tạm dùng các ngôn ngữ phổ biến như Anh, Pháp để thay thế. Thí dụ : thủ đô Trung quốc sẽ là Beijing (theo tiếng Anh) hoặc Pékin (theo tiếng Pháp), Ulaanbaatar (thủ đô Mông Cổ theo tiếng Anh), Myanmar (thay vì Naingngandaw), Copernic (nhà thiên văn Ba Lan, tiếng chính xác là Copernicus).

– và sau cùng, nếu chúng ta đã quá quen với các phiên âm sang tiếng Việt thì sử dụng luôn cho tiện. Đó thường là trường hợp các địa danh như Thành Đô (thay vì Chéngdu), Thụy Điển (thay vì Sverige), Úc (thay vì Australia)…

Việt Nam ngày một hội nhập sâu rộng vào cộng đồng quốc tế trên mọi phương diện, nên việc sử dụng ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh là một chuyện rất dễ dàng và bình thường, nên chúng ta cũng cần thoải mái trong việc sử dụng ngoại ngữ để trao đổi và không nên cứng nhắc trong việc phiên âm kiểu Giọt Bu-shờ (George Bush), Sicagâu (Chicago) hay Uôn-cắp (World Cup)

Và quan trọng nhất là phải bỏ ngay cái Cờ Lờ Mờ Vờ!

Phạm Minh Hoàng

Những đặc tính truyền thống cơ bản của Nền Giáo Dục ở Miền Nam thời trước Năm 1975

Nhân vụ các cô giáo tỉnh Hà Tĩnh bị ép “tiếp khách, rót rượu, hát karaoke cho quan chức tỉnh”, nhìn lại những đặc tính truyền thống cơ bản của Nền Giáo Dục ở Miền Nam thời trước Năm 1975

Phạm Cao Dương (Danlambao) – …Bài này bắt đầu được viết vào lúc những tin tức về những tệ hại trong nền giáo dục ở nước Việt Nam chiếm một phần không nhỏ trong sinh hoạt truyền thông quốc tế cũng như quốc nội. Ngoài những tin tức, những bài nhận định còn có những hình ảnh của các kỳ thi đi kèm. Tất cả đã xảy ra hàng ngày và đã chiếm những phần không nhỏ trong thời lượng phát thanh hay phát hình hay trên các trang báo, đặc biệt là vào những thời kỳ bãi trường hay khởi đầu của một niên học. Mọi chuyện đã liên tiếp xảy ra từ nhiều năm trước và người xem, người nghe có thể đoán trước và chờ đợi mỗi khi mùa hè và sau đó là mùa thu đến. Nhiều người còn dùng hai chữ “phá sản” để hình dung tương lai của nền giáo dục này và nhiều người khác còn tỏ ý nuối tiếc quá khứ mà họ cho là rất đẹp của nền giáo dục ở miền Nam thời trước năm 1975…
*
Bồng bồng mẹ bế con sang, 
Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo.
Muốn sang thì bắc cầu kiều,
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.
(Ca dao Việt Nam)
 
“Tôi muốn thấy có sự kính trọng trong một trường học. Ông thầy tới, học trò phải nghiêm chỉnh đứng dậy chào thầy…” Nicolas Sarkozy, khi tranh cử Tổng Thống Pháp.
(Từ Nguyên, “Tựu Trường 2006”, Báo Người Việt, 10 tháng 9, 2006)
*
Một người bạn mới về thăm Việt Nam trở lại Mỹ trước ngày Lễ Tạ Ơn 2016 ít ngày cho biết rất nhiều người trong nước hiện tại đã đánh giá cao nền giáo dục ở Miền Nam thời trước năm 1975; riêng bà con ở Miền Nam lại lấy làm hãnh diện là đã được đào tạo bởi nền giáo dục ấy, trong những học đường Miền Nam và bởi các thầy cô Miền Nam.
Bạn tôi là một nhà nghiên cứu. Anh đã khách quan kể lại không thêm bớt. Sau đó dư luận lại ồn ào về chuyện xảy ra ở trong nước: 21 cô giáo ở Thị Xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh bị Ủy Ban Nhân Dân tỉnh ép phải “tiếp khách, rót rượu, hát karaoke” cho quan khách. Chưa hết, các nạn nhân lại còn bị vị Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, ông Phùng Xuân Nhạ, thay vì bênh vực cho những nhân viên thấp cổ bé miệng nhất của bộ mình, trước sự bắt nạt của những ông vua con ở các địa phương, lại công khai trách cứ họ là không biết phản đối, khiến dư luận trong và ngoài nước vô cùng phẫn nộ, nhiều người lấy làm tủi hổ.
Việc làm của các quan chức Cộng Sản tỉnh Hà Tĩnh này phải nói là chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử dân tộc Việt Nam, một dân tộc luôn luôn hãnh diện tự coi mình là có nhiều ngàn năm văn hiến.
Nhân dịp này, tôi xin được cùng bạn đọc ôn lại những ưu điểm qua một số những đặc tính cơ bản của sinh hoạt giáo dục ở Miền Nam thời trước năm 1975 nói riêng và văn hóa miền Nam nói chung, chính yếu là sự liên tục lịch sử. Nói như vậy không phải là trong thời gian này miền đất của tự do và nhân bản mà những người Quốc Gia còn giữ được không phải là không trải qua nhiều xáo trộn. Chiến tranh dưới hình thức này hay hình thức khác luôn luôn tồn tại và có những thời điểm người ta nói tới các chế độ độc tài hay quân phiệt và luôn cả cách mạng. Nhưng ngoại trừ những gì liên hệ tới chế độ chính trị, quân sự hay an ninh quốc gia, sinh hoạt của người dân vẫn luôn luôn diễn ra một cách bình thường, người nào việc nấy, người nào trách nhiệm nấy và được tôn trọng hay tôn trọng lẫn nhau. Sự liên tục lịch sử do đó đã có những nguyên do để tồn tại, tồn tại trong sinh hoạt hành chánh, tồn tại trong sinh hoạt tư pháp, trong văn chương và nghệ thuật và tồn tại đương nhiên trong sinh hoạt giáo dục.
Trong bài này tôi chỉ nói tới tới giáo dục và giáo dục công lập. Đây không phải là một bài khảo cứu mà chỉ là một bài nhận định và những nhận định được nêu lên chỉ là căn bản, sơ khởi, và tất nhiên là không đầy đủ. Đồng thời mỗi người có thể có phần riêng của mình. Một sự nghiên cứu kỹ càng, có phương pháp hơn và đầy đủ hơn là một điều cần thiết.
Giáo dục và người làm giáo dục
Giáo dục công lập ở Việt Nam đã có từ lâu đời và tùy theo nhận định của các sử gia, tới một mức độ nào đó định chế này đã tồn tại trên dưới mười thế kỷ. Mục đích của nó là để đào tạo nhân tài cho các chế độ, nói riêng, và cho đất nước, nói chung. Các vua chúa Việt Nam thời nào cũng vậy, cũng coi trọng việc học cả. Có điều coi trọng thì coi trọng, các vua Việt Nam, nói riêng và các triều đình Việt Nam, nói chung, chỉ vạch ra những đường nét chung và những mục tiêu chung, kèm theo là tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn người tài mà không trực tiếp can dự vào sinh hoạt giảng dạy của các trường, hầu hết là các trường tư ở rải rác khắp trong nước. Sinh hoạt này hoàn toàn do các thày ở các trường do các tư nhân đảm trách. Giáo dục là của người dân và của những người làm giáo dục, và cho đến khi người Pháp sang, nó là của giới trí thức đương thời, đúng hơn là của các nhà Nho với tất cả những học thuyết, những nguyên tắc căn bản của giới này. Sang thời Pháp, do nhu cầu bảo vệ và phát triển văn minh và văn hóa của họ, người Pháp lập ra một nền giáo dục mới, nhưng việc điều hành, việc soạn thảo chương trình vẫn được giao cho các nhà giáo được huấn luyện chuyên môn hay ít ra là lựa chọn nghề dạy học với tinh thần quí trọng kiến thức và yêu mến nghề dạy học dù chỉ là tạm thời về phía người Pháp cũng như về phía người Việt. Họ mở các trường sư phạm để huấn luyện giáo chức chuyện nghiệp.
Đặc tính kể trên đã liên tục được tôn trọng trong suốt thời gian miền Nam tồn tại và luôn cả trước đó, từ thời Chính Phủ Quốc Gia của Cựu Hoàng Bảo Đại. Chức vụ Bộ trưởng hay Tổng trưởng giáo dục có thể là do các chính trị gia hay những người thuộc các ngành khác đảm nhiệm, nhưng trong việc lựa chọn nhân sự điều hành trong bộ, ngoại trừ các chức vụ có tính cách chính trị như đổng lý văn phòng, chánh văn phòng, bí thư tức thư ký riêng của Bộ trưởng… tất cả các chức vụ chỉ huy khác trong bộ, từ Thứ trưởng, Tổng thư ký, Tổng giám đốc, Giám đốc cho tới các Hiệu trưởng các trường và đương nhiên là các Giáo sư, Giáo viên, đều là những nhà giáo chuyên nghiệp, không có đại diện đảng phái chính trị ở bên cạnh.
Lý do rất đơn giản: họ là những người vô tư, biết việc, rành công việc và có kinh nghiệm, chưa kể tới sự yêu nghề. Chính trị đối với họ chỉ là nhất thời, tương lai của cả một dân tộc, hay ít ra là của những thế hệ tới mới, là quan trọng. Trong phạm vi lập pháp, rõ hơn là ở Quốc hội, các chức vụ đứng đầu các ban hay tiểu ban, dù là Thượng viện hay Hạ viện đều do các Nghị sĩ hay Dân biểu gốc nhà giáo phụ trách. Ngoại trừ ở những vùng mất an ninh, những gì thuộc phạm vi chính trị nhất thời đã ngưng lại trước ngưỡng cửa của học đường. Thày cô giáo là nhân viên của Bộ giáo dục, do Bộ giáo dục bổ nhiệm, trực thuộc vị Hiệu trưởng của trường sở tại, rồi các nha sở của bộ giáo dục ở trung ương chứ không trực thuộc các Quận hay Tỉnh trưởng.
Về tên các trường, tất cả các trường trung, tiểu học đều được gọi bằng tên của các danh nhân hay anh hùng dân tộc thời trước, được mọi người công nhận, Trưng Vương, Ngô Quyền, Chu Văn An, Đoàn Thị Điểm, Gia Long, Petrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Lê Ngọc Hân,… không hề có tên nào là của các lãnh tụ đương thời dù đó là Bảo Đại, Ngô Đình Diệm hay Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, kể cả Trần Văn Hương gốc nhà giáo… thay vì những tên hoàn toàn xa lạ đối với quảng đại quần chúng Miền Nam về sau này như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám…, những người của một đảng chính trị hay, tệ hơn nữa, là ngụy tạo, không có thật.
Tôn chỉ – mục đích – quốc gia – dân tộc và con người
Nói tới ba nguyên tắc căn bản, đồng thời cũng là tôn chỉ và mục đích tối hậu của nền giáo dục của miền Nam trước năm 1975, có người tỏ ý không thích ba nguyên tắc này. Lý do có lẽ, tôi chỉ đoán như vậy, là vì ba nguyên tắc này phần nào đã được người Cộng Sản Việt Nam nêu lên trong Đề Cương Văn Hóa 1943 của họ. Ba nguyên tắc đó là Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng, sau này là Nhân Bản, Dân Tộc và Khoa Học trong khi trong Đề Cương Văn Hóa của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì là Dân Tộc, Đại Chúng và Khoa Học.
Ở đây người viết không đi sâu vào khía cạnh này vì dù không thích, không đồng ý, ba nguyên tắc Dân Tộc, Nhân Bản và Khai Phóng này vẫn đã trở thành căn bản của nền giáo dục của miền Nam mà không ai lưu tâm tới vấn đề là không biết. Chúng đã giúp cho nền giáo dục này giữ được những truyền thống cơ bản của dân tộc và phát triển một cách vững vàng từng bước một để theo kịp với đà tiến triển của cả nhân loại mà không chạy theo những gì của thời thượng để trở thành lai căng, mất gốc, đồng thời cũng không bị gán cho là bảo thủ, lỗi thời… Tính cách liên tục lịch sử của nền giáo dục của miền Nam sở dĩ có được, phần nào là dựa trên những nguyên tắc này, đặc biệt là nguyên tắc Dân Tộc. Nó cho phép người ta đề cao và bảo tồn những truyền thống dân tộc trong học đường, dù đó là những truyền thống thuần túy Việt Nam hay những truyền thống của Khổng giáo. Đôi câu đối được khắc trên cổng chính của một trong những trường trung học lớn nhất của miền Nam là trường Petrus Trương Vĩnh Ký sau đây là một trường hợp điển hình:
Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt
Âu Tây khoa học yếu minh tâm.
Sự khủng hoảng hiện tại của nền giáo dục ở trong nước là do ở sự thiếu những yếu tố chỉ đạo này. Điều này đã được thấy rõ qua sự vô cùng lúng túng của ông Vũ Đức Đam, đương kim Phó Thủ Tướng, đặc trách văn hóa, xã hội, khoa học, giáo dục và đào tạo trong một buổi điều trần trước Quốc hội và bị hỏi câu hỏi là “có hay không một triết lý giáo dục Việt Nam?” Điều khiến cho người ta ngạc nhiên là không lẽ là một cán bộ ở cấp cao chuyên lo về văn hóa, như vậy, ông lại không biết tới Đề Cương Văn Hóa 1943 của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong đó ba nguyên tắc cơ bản chỉ đạo cho các vận dụng văn hóa, nói chung, văn học và giáo dục… nói riêng, là: dân tộc hóa, đại chúng hóa, và khoa học hóa đã được nêu cao hay sao? Không lẽ ba nguyên tắc này đã trở thành lạc hậu trong tình thế mới, trước quyền hành và quyền lợi của Đảng Cộng Sản Việt Nam?
Liên tục trong phạm vi nhân sự
Nhân sự ở đây không ai khác hơn là các nhà giáo, căn bản là các nhà giáo chuyên nghiệp. Tôi muốn nói tới các nhà giáo tốt nghiệp từ các trường sư phạm, những người ngay từ thuở thiếu thời đã chọn nghề dạy học làm lý tưởng cho mình và chỉ sống bằng nghề dạy học, vui với nghề dạy học hãnh diện với vai trò làm thầy, làm cô của mình, dù đó là sư phạm Tiểu học hay sư phạm Trung học. Một nghề bị coi là “bạc nghệ”, là bị xếp sau so với các nghề khác:
Dưa leo ăn với cá kèo,
Cha mẹ anh nghèo, anh học noọc-man. (nghề Thầy giáo, theo hệ thống giáo dục Pháp xưa)
Tất cả các vị này vẫn còn nguyên vẹn khi đất nước bị qua phân và đã ở các trường trong Nam khi các trường này được mở cửa trở lại sau một thời gian chiến tranh bị tạm đóng cửa, không mấy người tập kết ra Bắc.
Sau khi đất nước bị chia cắt và qua cuộc di cư của non một triệu người từ miền Bắc vô Nam, họ lại được tăng cường thêm bởi một số đông các đồng nghiệp của họ từ miền Bắc vô cùng với các trường được gọi là Bắc Việt di chuyển: Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Trưng Vương, Hồ Ngọc Cẩn, Trần Lục… Tất cả đã cùng nhau hướng dẫn và điều hành các học đường miền Nam trong thời kỳ chuyển tiếp từ Pháp thuộc sang độc lập, đồng thời cũng là những giảng viên cơ bản trong các trường huấn luyện giáo chức thuộc thế hệ mới.
Từ phong thái đến cách giảng dạy, từ cách vào lớp, cho phép học trò ngồi, tới cách viết bảng và xóa bảng, cách chấm bài hay phê bài, các vị này đã để toát ra một sự chừng mực và vô cùng thận trọng của những nhà sư phạm nhà nghề, khác hẳn với một số các đồng nghiệp của họ từ ngoại quốc về chỉ lo dạy các môn học chuyên môn. Học đường do đó đã tránh được nạn chánh trị hóa, tránh được nạn cán bộ chánh trị xâm nhập. Nhiều vị vào những lúc tình thế vô cùng tế nhị đã giữ được thế vô tư và độc lập, nghiêm chỉnh của học đường và tư cách của giáo chức. Cũng cần phải nói thêm là trong thời gian này nhiều vị xuất thân là cử, tú, kép, mền, luôn cả tiến sĩ của thời trước, những người tinh thâm Nho học, vẫn còn có mặt ở các học đường, đặc biệt là các Đại Học Văn Khoa ở Sài Gòn và Huế như Tiến Sĩ Nguyễn Sĩ Giác, Cử Nhân Thẩm Quỳnh, Tú Tài Kép Vũ Huy Chiểu… mà không ai là không quý trọng.
Hệ thống tổ chức, tổ chức thi cử và chương trình học vẫn giữ được những nét chính của Chương Trình Pháp và Chương Trình Hoàng Xuân Hãn, Phan Huy Quát
Đây là một trong những đặc tính căn bản của nền giáo dục của miền Nam trong suốt thời kỳ nền giáo dục này tồn tại. Những gì người Pháp thiết lập không những không bị hủy bỏ, coi như tàn tích của chế độ thực dân, đế quốc mà còn được thận trọng giữ gìn, song song với việc bảo tồn truyền thống văn hóa cổ truyền và đạo đức của dân tộc. Người Việt ở miền Nam trong tinh thần cởi mở và tự do đã biết phân định những gì là kìm kẹp và những gì là hay đẹp mà một chế độ chính trị đem lại, thay vì cứ nhắm mắt đập bỏ để sau này hối tiếc. Các nhà làm giáo dục ở miền Nam đã tỏ ra vô cùng thận trọng trong mọi quyết định. Những gì gọi là cách mạng vội vã, nhất thời dường như không được chấp nhận. Họ chủ trương cải tổ để thích ứng với hoàn cảnh mới và cải tổ từ từ, kể cả khi thế lực và ảnh hưởng của người Mỹ, từ đó áp lực của họ đã trở nên rất mạnh.
Hệ thống giáo dục do người Pháp từ tiểu học cho đến đại học đã tồn tại dưới hình thức Việt hóa bắt đầu từ thời chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945, với chương trình Hoàng Xuân Hãn, vị bộ trưởng giáo dục đương thời, sau này là Phan Huy Quát thời Quốc Gia Việt Nam mới được thành lập. Nó cho phép người ta, từ thầy đến trò, dễ dàng chuyển sang một nền giáo dục mới của một quốc gia độc lập không hề có chuyện trục trặc. Ngay từ cuối niên học 1944-1945, trong rất nhiều khó khăn, từ giao thông, vận chuyển đến thông tin, liên lạc, người ta đã tổ chức được những kỳ thi ở bậc tiểu học bằng tiếng Việt mà không hề có chuyện than phiền, khiếu nại. Điều nên nhớ là Chính Phủ Trần Trong Kim chỉ tồn tại có vẻn vẹn bốn tháng hay hơn một trăm ngày, vô cùng ngắn ngủi, với những phương tiện giao thông và liên lạc hết sức nghèo nàn. Sau này khi gửi sinh viên ra ngoại quốc du học, miền Nam đã không gặp phải những khó khăn trong việc đối chiếu bằng cấp, hệ thống học và khả năng của các đương sự, không phải chỉ riêng cho những ai muốn sang du học bên Pháp mà luôn cả cho những ai muốn sang các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Úc, Nhật… vì đó là một hệ thống giống như các hệ thống khác thuộc thế giới tây phương, một hệ thống gần với hệ thống chung của quốc tế.
Duy trì mối liên tục lịch sử cũng cho phép người ta sử dụng được các sách giáo khoa của người Pháp và những sách giáo khoa về lịch sử và văn chương Việt Nam do chính người Việt soạn thảo từ thời trước năm 1945 và sau đó là từ năm 1947 đến năm 1954 ở những vùng đất của người quốc gia. Điển hình là các sách toán và khoa học bằng tiếng Pháp, do các tác giả Pháp soạn và xuất bản ở bên Pháp nhưng đã được không những các thày mà luôn cả các trò sử dụng làm tài liệu hay để tự học. Trong phạm vi văn chương, những sách của Dương Quảng Hàm, đặc biệt là hai cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu và Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển đã được dùng rất lâu dù cho nhiều sách giáo khoa khác đầy đủ hơn đã được soạn thảo. Cũng vậy, trong phạm vi sử học với cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Về nội dung, đặc biệt là trong văn học, người ta cũng thấy nền giáo dục của miền Nam vẫn giữ được tinh thần tự do, cởi mở. Các tác giả được đem dạy hay trích dẫn đã được lựa chọn căn cứ vào giá trị của các công trình của họ thay vì gốc gác và sự lựa chọn chế độ của họ, thay vì căn cứ vào chuyện họ ở miền Bắc hay ở miền Nam trong thời gian này. Tô Hoài, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân… là những trường hợp điển hình.
Trong phạm vi thi cử, các kỳ thi được thiết lập từ thời Pháp hay có ở bên Pháp vẫn được duy trì, đặc biệt là hai kỳ thi tú tài. Ở bậc đại học hệ thống tổ chức cũng tương tự. Ảnh hưởng của người Mỹ chỉ được chấp nhận một cách từ từ với nhiều thận trọng, mặc dầu người Mỹ đã bỏ ra nhiều tiền bạc và nhân sự qua các chương trình viện trợ khiến cho nhiều người Mỹ đã tỏ vẻ bất bình. Hình thức thi trắc nghiệm áp dụng cho các kỳ thi tú tài chỉ được thực hiện rất trễ về sau này và dư luận đã đón nhận nó với những nhận định khác nhau. Tiếc rằng chỉ vài năm sau Miền Nam đã không còn nữa.
Trong phạm vi tổ chức thi cử, người ta có thể thấy không riêng gì quan niệm, cách tổ chức, cách coi thi và chấm thi cũng như cách cho điểm, định kết quả và công bố kết quả hãy còn chịu ảnh hưởng nhiều của người Pháp mà còn luôn cả những thời quân chủ trước đó nữa. Quyền uy của các giám khảo, các chánh phó chủ khảo, các giám thị đã luôn luôn được tôn trọng và nhiều vị chủ khảo đã tỏ ra vô cùng can đảm giữ thế độc lập cho mình hay biết khôn ngoan né tránh cho mình và cho các đồng nghiệp của mình khi phải lãnh nhiệm vụ ở những vùng xa thủ đô Sài Gòn, an ninh và giao thông không bảo đảm.
Nên nhớ là trong thờ gian này hệ thống trung ương tập quyền vẫn còn tồn tại. Ra đề thi, in đề thi và gửi đề thi về địa phương với tất cả sự bảo mật cần thiết là vô cùng khó khăn, tế nhị và phức tạp. Về phía chính quyền thì từ trung ương đến địa phương hầu như không hề có sự trực tiếp can thiệp. Báo chí, các cơ quan truyền thông vẫn luôn luôn hiện diện và sẵn sàng phanh phui mọi chuyện.
 
Xã hội tôn trọng sự học và những người có học
Đây là một trong những đặc tính cơ bản của văn hóa Việt Nam mà xã hội Miền Nam nói chung và nền giáo dục Miền Nam nói riêng thời trước năm 1975 được thừa hưởng. Đặc tính này đã được biểu lộ không riêng qua tinh thần tôn sư trọng đạo mà còn được coi như một giá trị và là một giá trị đứng đầu trong mọi giá trị. Sự học là một giá trị và giáo dục là một giá trị. Sự học hay giáo dục làm nên con người chứ không phải là những yếu tố khác, dù đó là quyền uy và tiền bạc. Người làm công tác giáo dục được tôn trọng và từ đó có được những điều kiện ít ra là về phương diện tinh thần để thực thi sứ mạng của mình mà những người làm chánh trị, những nhà chủ trương cách mạng, kể cả những người cấp tiến nhất cũng phải kiêng nể. Nhưng bù lại, người ta lại trông đợi rất nhiều ở các người làm công tác giáo dục, ở đây là các thày, cô. Giữa những người cùng làm công tác dạy học cũng vậy, tất cả đã tôn trọng lẫn nhau và tôn trọng các bậc tôn trưởng, kể cả những người đã khuất.
Sự thiết lập những bàn thờ tiên sư ở các trường trung học Nguyễn Đình Chiểu ở Mỹ Tho và Phan Thanh Giản ở Cần Thơ phải được kể là tiêu biểu cho tinh thần giáo dục của miền Nam. Đối với các phụ huynh học sinh, sự trông đợi các thày nhiều khi qua mức, ngày nay khó ai có thể nghĩ được điển hình là chuyện “giáo sư mà cũng ăn phở”. Câu chuyện do một vị giáo sư từ Bắc vô Nam sau Hiệp Định Genève và được cử xuống Mỹ Tho chấm thi tú tài kể lại. Buổi sáng, các thày rủ nhau đi ăn phở trước khi nhập trường. Ở tiệm phở, ông nghe người địa phương thầm thì “giáo sư mà cũng ăn phở”. Nên nhớ là Mỹ Tho là một tỉnh nhỏ và hồi giữa thập niên 1950, bằng tú tài là to lắm rồi trong khi các vị giáo sư này lại là giám khảo chấm thi tú tài lận!
Tạm thời kết luận
Bài này bắt đầu được viết vào lúc những tin tức về những tệ hại trong nền giáo dục ở nước Việt Nam chiếm một phần không nhỏ trong sinh hoạt truyền thông quốc tế cũng như quốc nội. Ngoài những tin tức, những bài nhận định còn có những hình ảnh của các kỳ thi đi kèm. Tất cả đã xảy ra hàng ngày và đã chiếm những phần không nhỏ trong thời lượng phát thanh hay phát hình hay trên các trang báo, đặc biệt là vào những thời kỳ bãi trường hay khởi đầu của một niên học. Mọi chuyện đã liên tiếp xảy ra từ nhiều năm trước và người xem, người nghe có thể đoán trước và chờ đợi mỗi khi mùa hè và sau đó là mùa thu đến. Nhiều người còn dùng hai chữ “phá sản” để hình dung tương lai của nền giáo dục này và nhiều người khác còn tỏ ý nuối tiếc quá khứ mà họ cho là rất đẹp của nền giáo dục ở miền Nam thời trước năm 1975.
Ở đây, như đã nói trong phần mở đầu, người viết chỉ vắn tắt ghi nhận một số những dữ kiện căn bản liên hệ tới nền giáo dục ở Miền Nam thời truớc năm 1975. Một công trình nghiên cứu qui mô hơn và kỹ càng hơn còn cần phải được thực hiện trước khi người ta có thể khẳng định những nhận xét này. Tuy nhiên có một điều người ta phải để ý và thận trọng khi nói tới cách mạng và đặc biệt khi làm cách mạng. Người ta có thể xóa bỏ một chế độ chính trị bằng cách mạng, từ đó đoạn tuyệt với quá khứ nhưng người ta không thể theo đà đó mà làm cách mạng trong những phạm vi sinh hoạt khác trong đó có giáo dục một cách máy móc, không thận trọng. Nhận định này có thể bị coi là bảo thủ, nhưng đó là một sự thật và là một sự thật bắt đầu bằng kinh nghiệm. Có điều vì bằng kinh nghiệm nên khi biết được là sai lầm thì đã quá muộn. Những gì thuộc về quá khứ, kể cả quá khứ bị coi là phong kiến, lạc hậu không phải là luôn luôn tệ hại, là cổ hủ và những gì được coi là canh tân, đổi mới không phải luôn luôn là tốt đẹp. Tất cả cần phải có thời gian để “gạn đục, khơi trong”. Duy có một điều không bao giờ thay đổi là: khi giáo dục không còn được coi là một giá trị và khi các thày cô không còn được coi trọng thì xã hội sẽ không còn là xã hội của loài người nữa.
Trở về với thực tế trước mắt, với vụ 21 cô giáo ở Thị Xã Hồng Lĩnh, tỉnh Quảng Trị, nhiều người tự hỏi nếu các cô không được chính Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, cơ quan trực tiếp phải lo cho đời sống và điều kiện hành nghề của các cô bênh vực, thì nghiệp đoàn giáo chức của các cô ở đâu? Tự hỏi nhưng ai cũng biết là ở Việt Nam hiện tại làm gì có nghiệp đoàn vì các luật về lập hội, lập nghiệp đoàn, biểu tình vẫn chưa được Quốc Hội đem ra thảo luận.
Tưởng cũng nên nhớ là ngay từ thời Vua Bảo Đại, qua Chính Phủ Trần Trọng Kim, các đạo Dụ về tự do hội họp, tự do lập hội, tự do lập nghiệp đoàn đã được ban hành ngay từ Tháng Bảy năm 1945. Tất cả đã xảy ra trong một tuần lễ đầu tháng Bảy khiến cho báo chí đương thời đã mệnh danh tuần lễ này là Tuần Lễ Của Các Tự Do. Nhưng chỉ chưa tới ba tuần lễ sau ngày tuyên bố nền độc lập và thành lập Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ngày 22 tháng 9 năm 1945, bãi bỏ các nghiệp đoàn trên toàn cõi Việt Nam. Đồng thời Bộ Trưởng Nội Vụ Võ Nguyên Giáp đã ký nghị định giải tán Hội Khai Trí Tiến Đức và cho Hội Văn Hóa Cứu Quốc tư cách pháp nhân. Trong khi đó, ở các nước tiền tiến, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, các nghiệp đoàn giáo chức rất mạnh và được phía chính quyền kính nể. Tương lai của các giáo chức Việt Nam, nói riêng, và nền giáo dục Việt Nam, nói chung, quả thật không có gì sáng sủa.
(*) DLB: Tác giả là một GS, Tiến sỹ Lịch sử đã nghỉ hưu.