From facebook: V Phung Phung shared Suong Quynh‘s post.

Ơ ANH SANG SÂU PHÁN CÂU NÀY NHƯ SẤM TRUYỀN ẤY NHỞ?
ĐÓ LÀ ĐIỀU TẤT YẾU ANH Ợ.

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)

Ơ ANH SANG SÂU PHÁN CÂU NÀY NHƯ SẤM TRUYỀN ẤY NHỞ?
ĐÓ LÀ ĐIỀU TẤT YẾU ANH Ợ.
Suy Tư Tin Mừng Trong tuần thứ Nhất mùa Chay năm A 05/3/2017
Tin Mừng: (Mt 4: 1-11)
Bấy giờ Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ. Ngài ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Ngài thấy đói. Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Ngài và nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi!” Nhưng Người đáp: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.”
Sau đó, quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Ngài trên nóc đền thờ, rồi nói với Ngài: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá.”
Đức Giêsu đáp: “Nhưng cũng đã có lời chép rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.”
Quỷ lại đem Ngài lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, và bảo rằng: “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi.”10 Đức Giêsu liền nói: “Xatan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.”
Thế rồi quỷ bỏ Ngài mà đi, và có các sứ thần tiến đến hầu hạ Ngài.
* * * *
“Anh trở lại con đường lên núi biếc,
thương mây bay từ đó vẫn cô đơn.”
(dẫn từ thơ Đinh Hùng)
Mai Tá lược dịch
Đường lên núi biếc, dù mây bay từ đó vẫn cô đơn. Cô đơn, với nỗi niềm Chúa cảm nghiệm cảnh tình người phàm khi Ngài vật vã với băn khoăn, rất thử thách.
Trình thuật tuần đầu Mùa Chay hôm nay, kể cho ta nghe tâm tình của Chúa khi Ngài bị thử thách/cám dỗ, đến như thế. Thử thách/cám dỗ, là những thử và thách suốt 40 ngày đêm nơi hoang vu, sa mạc. 40 ngày đêm, nói lên chuỗi ngày dài một đời, Chúa từng trải nhiều thử thách/cám dỗ mãi đến ngày Ngài kết tận hành trình nơi đồi cao chốn vắng, rất Calvary.
Chốn vắng Calvary xưa, có thử thách/cám dỗ đưa Chúa vào với mê say để Ngài không thực hiện được ý định Cha đưa ra. Mê say, còn là thử thách/cám dỗ đặt ra với Chúa, rất nhiều lần.
Thử thách/cám dỗ đặt ra, qua cung cách Cha muốn Ngài thực hiện vai trò của Đấng Mêsia có quyền uy trên cả hoàng đế La Mã, như thánh Mátthêu từng ghi. Thử thách/cám dỗ là thách đố khả năng giải quyết khó khăn do đế quốc La Mã đem lại. Thử thách/cám dỗ, còn là thách thức chức năng Chúa nhận từ Cha, hầu giúp con dân loài người sống yên hàn, lành lặn. Thử thách/cám dỗ, còn là thách đố và thử xem Chúa có nhắm mắt làm ngơ nỗi đau của mọi người, để rồi sẽ trao cho Cha giải quyết mọi việc.
Thử thách/cám dỗ cướp tay trên quyền uy của đế quốc, để rồi Ngài cũng sẽ hành xử hệt như thế. Thử thách/cám dỗ đặt ra với Đức Giêsu, là thách Ngài giành lại quyền uy của hoàng đế La Mã, rồi cũng sẽ ăn trên ngồi chốc, bức bách dân con lớp người ở dưới. Bởi, một khi đã có quyền hành là có quyền để hành người khác, hệt như vậy. Bởi thế nên, Đức Giêsu chối bỏ mọi lợi lộc dành cho kẻ có quyền. Ngài chối bỏ quyền đối xử với mọi người theo cung cách ấy. Ngài đả kích không chỉ giới cầm quyền La Mã thôi, nhưng Ngài còn chỉ trích chính những uy và quyền ấy nữa. Ngài chọn đường lối không quyền lực, nhưng vẫn sống. Sống với người không quyền, trong “Vương Quốc” của Ngài.
Thử thách/cám dỗ thứ hai, là thách đố khả năng giải quyết tình trạng nghèo đói trên thế giới. Thời của Chúa, có đến 95% người dân Galilê ở dưới mức tối thiểu, để sống còn. Dân lành thời đó, không đủ cơm bánh và cá, mà qua ngày. Họ cứ lần lượt rơi vào vòng lao lý, tật bệnh hoặc chết yểu. Một số trường hợp, do Hêrôđê tạo ra. Ông lập chương trình xây cất nhiều toà nhà đồ sộ. Lại đánh thuế cao khiến dân đen chịu không nổi đến độ không còn gì để ăn và để sống nữa.
Thử thách/cám dỗ cuối cùng đến với Đức Giêsu, là thách đố để xem Ngài có khả năng kích động dân đen, khiến họ căm phẫn quyết chống lại quyền uy của vua quan/lãnh chúa, thời ấy không? Thử thách/cám dỗ, là dỗ dành Chúa đòi lại cơm áo gạo tiền cho dân lành hèn hạ thấp cổ bé họng, ở bên dưới. Thử thách/cám dỗ đưa ra với Chúa, là xem Chúa có hành xử như vua quan mọi thời. Hoặc, Ngài sẽ còn đối xử tệ bạc hơn cả vua quan thời đó, khi có quyền. Nhưng, Đức Giêsu đã chối từ quan niệm coi mình như Đấng ban phát mọi thứ, hầu thoả mãn đòi hỏi của mọi người. Ngài chọn đường lối khác hẳn mọi vua quan/lãnh chúa, ngõ hầu trở nên Đấng Mêsia do Cha định đoạt. Ngài không chấp nhận đường lối của vua quan ở trần gian chỉ biết hưởng thụ, cho thoả thích.
Với Tin Mừng thánh Mátthêu, thử thách/cám dỗ lớn nhất đưa ra với Chúa, là chỉ lo chuyện lành thánh, cốt khuynh loát những điều do Cha định đoạt, mà chỉ theo ý mình. Khuynh loát, để Cha phải can thiệp mà giải quyết các khó khăn chốn gian trần. Và, buộc Cha Ngài phải làm thế, ngay tức thì. Thử thách/cám dỗ này nguy hiểm hơn thứ gì hết, vì đụng chạm đến đền đài thánh thiêng, lẫn nguyện đường, và cả cuộc sống ngoan hiền, ngõ hầu dẫn dụ Cha sửa đổi mọi chuyện để thuận theo ý Con, chứ không theo ý Cha.
Người đời thời của Chúa, vẫn muốn tuân theo đường lối giản đơn, rặt như thế. Họ là những người ở Qumran. Những kẻ từng dấn bước theo chân Gioan Tẩy Giả, cả vào lúc khó khăn, đầy bức bách. Và, thử thách/cám dỗ đây, là muốn chế ngự quyền uy thánh thiêng của Chúa. Là, kiểm soát lòng thương xót của Ngài. Thử thách/cám dỗ đây, là nghĩ rằng lòng đạo của mình còn lớn lao/cao cả hơn lòng xót thương của Cha. Và, Đức Giêsu nhận ra rằng: nếu thế thì Chúa Cha không là Thiên Chúa đích thực là Cha của Ngài. Ngài thực sự đã chọn đồng hành với Cha Ngài. Và kết cục, Ngài chọn thuận theo ý Cha, chứ không theo ý riêng của chính Ngài. Và, chọn lựa này mới thật là chọn lựa khác biệt.
Nếu Đức Giêsu không chọn quyền hành để đánh bạt đối thủ là đế quốc La Mã rất sừng xỏ, không chọn ban phát mọi sự hợp nhu cầu/đòi hỏi của mọi người, cũng chẳng cướp tay trên quyền uy có từ Cha, thì thử thách/cám dỗ đưa ra cho Ngài, là thách thức gì? Thử thách/cám dỗ ấy là sống đích thực đời người phàm. Đời, của những người con không có quyền cũng chẳng có uy. Những kẻ luôn thiếu thốn đủ mọi thứ. Chọn lựa của Ngài, là cùng chung số phận với những người nghèo hèn ấy. Ngài chọn lựa sống như họ, để rồi Ngài đi vào tương quan đích thực với dân đen, hèn kém, chẳng trông đợi vào ai.
Điều này, thoạt nghe chẳng có gì mới mẻ, hoặc hấp dẫn. Nhưng, mục tiêu Đức Giêsu nhắm đến là như thế. Là, thâu thập dân con mọi người vào với tình thương của Cha. Là, sẽ không một ai bị gạt ra ngoài nhóm hội/cộng đoàn thân thương để chung sống. Nhóm ấy, cộng đoàn ấy vẫn có Chúa, có Cha vào mọi lúc. Bởi, chính Cha đang ở ngay trong nhóm. Bởi, chính cộng đoàn là nhóm hội của Cha, đã có được tình thương yêu, hy vọng. Hy vọng, mọi người sẽ sống chung và sống cùng. Cùng sống, cùng lướt vượt mọi khó khăn, rất đồng đều. Đó chính là đường lối Chúa chọn sống.
Ngài lướt vượt mọi thử thách/cám dỗ Ngài theo đường khác. Cám dỗ ấy, Ngài thấy rất rõ, suốt đường đời Ngài từng trải. Và, nay Ngài trở về với những gì là căn bản của chính con người. Trở về với con người đích thực, trước/sau mọi thử thách/cám dỗ. Ngài trở về, cả vào lúc những người khó nghèo/bần hàn kia đã quay lưng chống lại Ngài. Vì thế, đế quốc mới giết hại Ngài. Vì thế, Chúa Cha mới không kịp nghe tiếng Ngài kêu cầu, nơi vườn cây Dầu.
Và đây chính là thông điệp gửi đến với Hội thánh, hôm nay. Thông thường, Hội thánh vẫn muốn thi đua với thế gian, ngoài đời. Vẫn muốn đấu tranh tạo phần thắng, hầu lấy lại quyền uy chính trị, từng luột mất. Lấy lại quyền, để tạo uy hùng dũng mãnh, trên chúng dân. Thông thường, Hội thánh vẫn muốn thi đua với các tổ chức bác ái, quyết lấy lại uy tín bằng việc ban phát các phẩm vật cho dân đen nghèo hèn. Thông thường, Hội thánh từng tìm cách tỏ ra mình những muốn sống đời lành thánh để kéo Chúa về cùng phe, để Ngài sẽ đi theo con đường mình đang thực hiện. Quả là, Hội thánh nay cũng gặp thử thách/cám dỗ như Đức Giêsu, ở thời hôm trước.
Bản thân ta cũng thế. Ta vẫn muốn trở thành nhân vật quan trọng có khả năng giải quyết mọi vấn đề; để rồi, sẽ lôi kéo Chúa vào phe mình, mỗi khi cần. Thông thường, ta cũng muốn chối bỏ những thử thách/cám dỗ, rất tương tự. Bởi thế nên, hãy đề cao cảnh giác cả vào khi ta đã khá giả và trở nên mạnh mẽ, cũng nên biết mình chỉ là kẻ hèn mọn, vẫn phải sống với những khó khăn không dứt bỏ. Bằng không, nhiều lúc ta vẫn cứ nghĩ mình là kẻ sở hữu cả Đức Chúa, chăm lo cho Chúa, rất nhiều điều. Vì nghĩ thế, nên ta cứ cho rằng mình đang theo Đức Giêsu và chính mình đang là Chúa, nữa không chừng?
Thật sự, hãy nhớ rằng mọi người cũng như ta, chỉ là những kẻ vô danh tiểu tốt trong đám đông quần chúng. Cũng chỉ là phận hèn loài người được Chúa đoái thương. Được Chúa ban phát đôi điều để có thể sống sót, sống còn với mọi người. Có thể những gì Chúa ban cho ta, không là bánh/là cá, như người Do thái khi xưa từng học biết. Nhưng, ta học biết để Chúa trở thành chính Chúa. Và, qua học hỏi, ta khám phá ra rằng ta được Chúa đi bước trước, là để Ngài vẫn thương ta, vẫn muốn ta về với Ngài
Hãy cảm tạ Cha đã để Đức Giêsu lướt thắng mọi thử thách/cám dỗ, được như thế. Hãy nguyện cầu, để Hội thánh của ta cũng được thế. Hãy chúc nhau có được cơ may lướt thắng được chính con người mình. Lướt thắng mọi thử thách/cám dỗ vẫn xảy đến với mình, vào mọi lúc. Có thế, ta mới an tâm bước vào Mùa Chay thánh. Có thế, ta mới thấy vui được Chúa dẫn đưa ta ra khỏi mọi thử thách/cám dỗ, rất trần gian.
Trong hân hoan dấn bước như thế, ta hãy cùng dân con ở đời ngâm nga đôi lời thơ ý nhị, rằng:
“Anh trở lại, con đường lên núi biếc,
Thương mây bay, từ đó vẫn cô đơn.
Những bông hoa, còn có nửa linh hồn,
Những lá cỏ, nghiêng vai tìm mộng ảo.”
(Đinh Hùng – Cánh Chim Dĩ Vãng)
Rất chí lý. Bông hoa kia, có khi chỉ còn nửa linh hồn vẫn cứ “nghiêng vai tìm mộng ảo”, thì tôi và anh sẽ chẳng tìm lối đi không thử thách. Để, sẽ thấy Chúa, thấy Cha ở phía trước đang giơ tay đón chờ. Chờ tôi, chờ anh bấy lâu nay ở mọi thời.
Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn,
Mai Tá lược dịch.
httpv://www.youtube.com/watch?v=GmsrjY54OR8
Ai nói yêu em đêm nay Tuấn Vũ & Ngoc Lan
Chuyện Phiệm Đọc Trong Tuần thứ I mùa Chay năm A 05/3/2017
“Ai nói yêu em đêm nay?”
Ai nói yêu em đêm mai?
Ai sẽ yêu em sau này?
Son phấn nào giết ngây thơ?
Ánh đèn nào màu đơn côi?
Lệ sao nhiều hơn mưa lũ.”
(Y Vân – Ai Nói Yêu Em Đêm Nay)
(Mt 7: 24-28)
Trần Ngọc Mười Hai
Sao anh lại cứ hát: yêu em mỗi đêm nay? Thêm nữa, nếu hiểu chữ “Em” đây là Hội thánh Nước Trời, thì sao đây? Và, sao chỉ nói yêu Em đêm nay chứ không phải “Yêu Anh đêm nay”, hoặc ngày mai? Yêu em hoặc yêu anh là yêu ai trong đời người thế?
Đó, là những câu hỏi vụt lên trong đầu bần đạo, vào một đêm không ngủ vốn nảy sinh trong đầu quá nhiều “dự án”, nhớ không hết. Thôi thì, bần đạo nhớ gì viết nấy, nghĩ sao làm vậy, thôi nhé.
Vâng. Viết phiếm tuần này, kể cũng hơi hơi khó. Khó, là bởi các chủ-đề nảy sinh trong đầu lâu nay, đều đã viết và đã phiếm hết cả rồi. Mà đã phiếm, thì phải phiếm những gì hơi hơi mới một chút, thiên-hạ mới chịu đọc. Chứ, viết đi viết lại mãi những chuyện Giáo hoàng với giáo tông, kinh với kệ thì có ai chịu mở sách ra đọc đâu. Nghĩ thế nên, bần đạo bèn nhắn nhủ bạn đọc rằng: nếu lần này bần đạo có viết những gì không hay cho lắm, thì xin bạn đọc bỏ qua cho, kẻo phiền.
Vậy, giờ đây mời bạn và tôi, ta đi vào vùng trời đầy những phiếm bằng truyện kể đầu như sau:
“Thuở xưa có một tên trộm. Một hôm sau một mẻ trộm, chưa được gì hết đã bị phát giác. Anh ta chạy thục mạng loanh quanh tìm chỗ trốn, bước đường cùng đến một đập nước đành nhẩy vội xuống bờ đập. Nhìn quanh quất không thấy có một lùm bụi nào để chui vào ẩn trốn, anh đành ngồi đại xuống đám cỏ đầy bùn. Xa xa đám người rượt theo tìm anh đang chạy tới. Bí quá, anh nhắm mắt lại không dám nhìn họ, cũng không dám nhúc nhích. Đám đông chạy tới nơi, ngạc nhiên thấy một người ngồi an nhiên giữa đám bùn.
Họ bảo nhau:
“Ông này là ai?”
Một người thấy tư thế của ông giống như một thầy tu, nên nói với mấy người kia:
“Có thể ông ta đang ở trong thiền định!”
Thế là mọi người đồng chắp tay kính cẩn chào và hỏi:
-Thưa thầy, chúng con xin phép làm rộn thầy.
Từ nẫy giờ thầy có thấy một người nào chạy ngang qua đây không? Chúng con đang truy tìm một tên trộm.” Anh trả lời: “Ờ… tôi không để ý, không nghe thấy gì hết.” Thế là đám đông kéo nhau đi. Chừng một đoạn đường họ quay trở lại chỗ anh ngồi. Anh vẫn còn ở đó vì chưa biết đi đâu. Thấy anh im lặng, không nhúc nhích, họ rất kính nể, sụp xuống xá lậy và mời anh về trụ ngôi chùa làng đến bây giờ chưa có vị tăng nào về. Trong lúc ngặt nghèo như thế, anh chỉ biết nhận lời để chờ thời.
Tuy ở trong chùa, nhưng máu ăn trộm nơi anh vẫn mạnh. Anh định bụng chờ cơ hội thuận tiện, trộm một mẻ kha khá rồi trốn biệt qua tỉnh khác thật xa.
Sáng sớm hôm đó, anh vào chánh điện, tóm gọn cho vào tay nải nào lư hương, đèn đuốc… những món đồ thờ phụng cổ kính đắt giá, sửa soạn ra đi. Thình lình một Phật tử đến than khóc vì một người thân mới qua đời đêm qua. Ông ta đến chùa nhờ anh cầu siêu. Anh để vội tay nải xuống, lấy khăn lông lau lau chùi chùi mấy món đồ, làm như đang lau dọn bàn thờ. Anh an ủi ông Phật tử vài câu, ghi tên kẻ quá vãng vào tờ giấy và hứa sẽ đến nhà tụng kinh. Thế là mưu toan ăn trộm một lần nữa lại bất thành! Anh thở dài, ngao ngán. Xếp vội các món đồ thờ trở lại lên bàn, anh lót lòng đỡ mấy miếng bánh còn lại từ chiều hôm qua, xong chuẩn bị đến nhà Phật tử. Cũng may anh tìm được nghi thức tụng kinh cầu siêu trong tủ kinh sách, nên yên lòng khoác áo ra đi.
Và như thế ngày này qua ngày nọ, anh ẩn nhẫn trong chùa đợi thời cơ. Nhưng chẳng gặp được cơ hội thuận tiện. Rồi người thì hỏi đạo, kẻ thì thỉnh đi tụng đám, anh không có thì giờ tính kế mưu nữa, chỉ biết tìm tòi trong tủ kinh những sách Phật pháp đọc và học để trả lời câu hỏi của Phật tử. Rồi anh tập ngồi thiền, niệm Phật cho khỏi suy nghĩ lo lắng đến tương lai. Lâu ngày cuộc sống của anh “đạo tặc” bất đắc dĩ phải nương náu của chùa này cũng êm xuôi, dần dần anh cảm thấy an ổn hơn. Và thấm thoát đã hơn năm.
Thói quen mới của anh bây giờ là theo thời khóa của nếp sống nhà chùa, từ miếng ăn miếng ngủ đến lao động và công phu sáng chiều. Anh vui với công việc hàng ngày: quét dọn vệ sinh nhà cửa, trồng trọt chút rau chút bắp. Anh vui với những người nông dân chất phác chân lấm tay bùn, chia xẻ với họ từng niềm vui nỗi buồn, thúng nếp họ gặt, đám khoai anh trồng. Nghĩ lại thời gian qua anh đã sống quá tệ hại, không biết đến công lao cần cù khó nhọc của họ, mà nỡ trộm cướp thành quả dành dụm chắt chiu của họ. Thật tội lỗi biết bao! Anh cảm thấy hối hận vô vàn. Và từ đó anh dành nhiều thì giờ bái sám.
Kể từ đây dấu vết thói quen của cuộc đời một tên trộm thực sự tan biến. Anh bây giờ là một con người mới, con người hiền thiện và là chỗ nương tựa tâm linh cho dân làng.” (Truyện kể do bạn bè dịch từ Anh Ngữ có đầu đề là “The Buddha in mud”)
Truyện kể ở trên, có phải duy nhất chỉ thấy ở nhà Phật chốn tụng niệm lễ bái ở chùa chiền? Thế còn, ở nhà Đạo chốn khổ tu/khắc kỷ có vị nào tương-tự như thế không? Trả lời câu hỏi này mà không am-tường lịch sử đạo-giáo há nào trả lời cho có, rất lấy lệ.
Thế nhưng, nếu xét chuyện dân gian thời Babylon hoặc truyện kể Trung Hoa, Ấn Độ thời nào đó, vẫn có những truyện khá giống nhau ở cốt truyện. Chỉ khác mỗi cung-cách viết lách và kể lể cho phù-hợp với văn-chương, văn hoá của người nghe hoặc với tâm-trạng và thời khắc lúc người kể viết ra trên giấy bút.
Lại nữa, có một truyện kể dân-gian chốn người phàm ở trời Đông, bên nước “Đại Cồ Việt” hoặc ở nước Trung Hoa người Đại Hán na ná cốt truyện và lối kể của Kinh Sách thời xưa/cổ, như bên dưới, xin nghe thử:
“Truyện rằng:
Một người phú hộ giàu có nọ, khi đến tuổi già yếu, biết mình đã gần đất xa trời, ông liền gọi những người mắc nợ đến để yêu cầu thanh toán nợ nần.
Ông phán bảo những con nợ rằng: nếu các ngươi không thể trả nợ cho ta ở đời này thì các ngươi phải cam kết thề hứa một cách trọng thể là sẽ hoàn trả các món nợ của các ngươi ở kiếp sau, ta sẽ đốt hết các tờ khế ước mà các ngươi đã ký kết với ta. Nghe vậy, người thứ nhất mắc nợ ông 10 lượng vàng đến quỳ gối thưa:
– Thưa ông, trong kiếp sau con hứa trả nợ cho ông bằng cách làm con ngựa để ông cưỡi lên và con sẽ đưa ông đi bất cứ nơi nào ông muốn.
Người thứ hai mắc nợ ông 100 lượng vàng cũng đến quỳ gối và thưa:
– Thưa ông, trong kiếp sau con xin chấp nhận làm trâu kéo cày, kéo xe chở đồ cho ông để hoàn trả
món nợ đời này.
Người phú hộ ưng nhận lời hứa của hai người này và bằng lòng đốt tờ khế ước xóa nợ cho họ.
Sau cùng, người thứ ba với món nợ cũng rất khổng lồ là 1000 lượng vàng cũng đến quỳ gối trước mặt ông và thưa:
-Thưa ông, để hoàn trả món nợ khổng lồ của con với ông từ trước đến nay, kiếp sau con sẽ làm cha của ông.
Nghe vậy, người phú hộ tức giận, ông truyền đem roi sắt đến đánh cho một trận nhừ tử vì tội vô lễ và bất kính, nhưng người này bình tĩnh giơ tay ngăn cản người phú hộ và xin được phân trần sự việc. Ông nói:
-Thưa ông, con vốn biết món nợ của con lớn lao lắm, cho dù kiếp sau con có làm thân trâu ngựa cũng không đủ trả nợ cho ông, nhưng con sẵn sàng làm cha của ông, vì chắc hẳn ông cũng quá rõ trách nhiệm nặng nề của cha mẹ đối với con cái mình. Con sẽ làm việc ngày đêm để lo cơm ăn áo mặc cho ông. Con sẽ che chở cho ông như cha mẹ che chở đứa con thơ và chăm sóc ông những khi ông đau ốm cho tới tuổi già. Con sẽ không ngại bao gian khó hy sinh nào, cho dù có phải hy sinh tính mạng để ông được no ấm và không thiếu thốn gì, và khi chết, con sẽ để lại cho ông tất cả gia tài mà con đã tích lũy được với sức lao động và mồ hôi nước mắt của con. Ông thử nghĩ xem đó có phải là cách đẹp nhất để con trả món nợ khổng lồ kia cho ông sao?
Người giàu có lim dim đôi mắt trầm tư lắng nghe. Một lúc sau ông gật gù mỉm cười rồi đứng dậy đốt bỏ khế ước, tha món nợ khổng lồ của hắn như đã tha cho hai người trước. (St sưu tâm)
Đi từ sự thể ở cốt truyện rồi rút ra một kết luận để học-hỏi, xem ra có quá đáng không?
Nói gì thì nói, hỏi gì thì hỏi, hôm nay bần đạo nói và hỏi cũng hơi nhiều, cốt để nói lên một hiện-trạng xảy đến với nhà Đạo mình, rất nhiều năm, cả ở thời quá khứ, hiện-tại lẫn tương-lai. Hiện-trạng, là trạng-huống hiện-tại của nhiều vị khi nghiên-cứu Kinh Sách lại hay có thói-quen hơi “quá lời”, thường đưa ra nhiều kết-luận chưa được kiểm chứng.
Nói và hỏi, cùng kể lể câu chuyện hơi dài giòng, cũng chỉ để kể về hiện-trạng mà có lần bạn-bè trong chốn thân quen cứ là hay thắc mắc: tại sao Hội thánh kể lại nhiều truyện oái-oăm, kỳ-khú ở Cựu Ước, như: truyện vua Đavít cướp vợ người khác, hoặc những chuyện bê-bết của thành Sôđôma và Gômorê tệ là thế, mà kể xong người người lại cứ bảo: “Đó là Lời Chúa!” Câu hỏi đặt ra hôm nay cho nhiều vị, là: Phải chăng các lời kể trong Kinh Sách đều là “Lời Chúa” hết?
Để trả lời cho câu hỏi ở trên, hôm nay bần đạo lại sẽ dựa vào chứng-cứ do giáo-sư thần-học nổi tiếng đưa ra như sau:
“Trong chương đầu của cuốn sách thứ 3 do tôi viết, tôi có nhấn mạnh lên tổng-hợp cơ-cấu hiểu biết về các kinh-nghiệm từng trải của con người. Tôi bàn nhiều về kinh-nghiệm niềm tin ở Kinh Sách được hiểu không như nền thần-học lời Chúa, bởi: lời của Chúa là lời con người nói về Thiên-Chúa. Tôi nói về chuyện ấy chỉ cốt bảo rằng: nếu ta cho rằng Kinh Sách là Lời Chúa, thì điều đó đơn-giản không phải là sự thật.
Điều đó chỉ nói một cách gián-tiếp về Lời của Chúa, mà thôi. Mọi điều được viết trong Kinh Sách là những chứng-từ của con người đối với Thiên-Chúa, do những người từng sống trong lịch-sử và từng trải-nghiệm về Thiên-Chúa, thôi.
Khi Kinh Sách viết: “Thiên-Chúa đã nói thế, Đức Kitô đã nói như vậy…” tức: không phải Thiên Chúa hoặc Đức Kitô là Đấng từng nói thế theo nghĩa tuyệt-đối/chính-xác, mà chính con người là phàm-nhân lâu nay nói về kinh-nghiệm của họ về Thiên-Chúa. Kinh-nghiệm của những người như thế đến từ Thần Khí và theo nghĩa chính xác này, ta có thể nói một cách không sai chạy rằng Kinh Sách là Bản-văn được thần-hứng, có Thần-Khí tạo nguồn hứng trong đó.
Tuy nhiên, cùng lúc ta cũng nên nhớ đến sự trung-gian mang tính nhân-bản, lịch-sử, nhất-quán. Là phàm-nhân, con người chẳng bao giờ có được cuộc đối-đầu trực-tiếp với Thiên-Chúa hết. Đối hay giáp-mặt là cuộc chạm trán mặt-đối-mặt. Đối đầu/chạm trán này luôn xảy đến qua các trung-gian. Tất cả chỉ là người phàm mắt thịt nói về Thiên Chúa, mà thôi.
Đây là điều cực kỳ quan-trọng khi ta nghiên-cứu thần-học và tìm-tòi để hiểu về sự tiến-hoá của các tín-lý/giáo-điều nhà Đạo. Không thể hiểu được thần-học mới nếu không hiểu ý-niệm này khi ta gặp được mặc-khải do lịch-sử là trung-gian/hoà-hợp nói về kinh-nghiệm diễn-giải của phàm-nhân. Khi con người chúng ta không chấp-nhận được sự trung-gian hoà-hợp này, chắc chắn ta sẽ không thể tránh khỏi được sự việc trượt té vào với chủ-nghĩa căn-bản, rất triệt-để.” (X. Lm Andrew Schillebeeckx, I Am a Happy Theologian, SCM Press Ltd 1994 tr. 41-43)
Cứ theo những điều được trích-dịch ở trên, thì giả như bần đạo là nghệ sĩ chuyên ca hát hoặc viết nhạc, hẳn sẽ phải tìm đến nhạc-bản vừa trích-dẫn để hát riêng cho mình, những ca-từ dễ thương khả dĩ áp-dụng vào nhiều trường-hợp, rất như sau:
“Ai dìu bước em đêm nay?
Ai dìu bước em đêm mai
Ai dìu bước em tương lai?
Nhịp chân nào . . . đưa rã rời?
Ôi tiếng kèn nghẹn như tiếng khóc
Thương cho người một kiếp vô duyên
Rồi từng đêm . . . từng đêm
Qua biết tay . . . bao người
Một lần son . . . nhạt môi
Cay đắng thêm . . . trong đời
Tàn một . . . cơn mê
Bẽ bàng một . . . mình ai
Nghe như trong lòng
Giông tố . . . đang buốt sâu.”
(Y Vân – bđd)
Có hát hò hoặc lý-luận chuyện đạo-hạnh, tưởng đó cũng là cung-cách hoặc đường-lối suy-tư chuyện gì đó, thần-học hoặc học hỏi chuyện thần thiêng, đạo-đức rất lành thánh, hạnh đạo? Bạn cứ tự hỏi cho nhiều rồi tự tìm kiếm cho mình câu trả lời thật đích-đáng. Có như thế, mới nhớ dai, nhớ hoài, nhớ mãi mãi những chuyện cần thiết để nhớ cho riêng mình và cho người.
Nhớ hay quên, cũng đề nghị bạn/đề-nghị tôi, ta thử về với Kinh Sách có những giòng chảy khuyên nhủ hoặc kể lể thế nào đó, để hướng dẫn tâm-linh của riêng mình đi vào một suy-tư, biện-luận lành thánh, rất để đời. Về, là về với Lời của bậc lành thánh rất như sau:
“Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành,
thì ví được như người khôn xây nhà trên đá.
Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào,
nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá.
Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành,
thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát.
Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành”.
28 Khi Đức Giêsu giảng dạy những điều ấy xong,
dân chúng sửng sốt về lời giảng dạy của Người,
vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền,
chứ không như các kinh sư của họ.”
(Mt 7: 24-28)
Gọi những câu trên là Lời Chúa, nghe cũng được. Không có gì là quá đáng. Nhưng, hát những lời dưới đây, có ăn-nhập gì với đề tại mình đặt ra cho mọi người không chứ? Hát, là hát những lời nghe qua hơi “âu yếm”, nghe lại thấy thấy cũng êm-ả một đường-lối sống rất hạnh đạo, rằng:
Ai nói yêu em đêm nay?
Ai nói yêu em đêm mai?
Ai sẽ yêu em sau này?
Khi bóng chiều thẫn thờ rơi
Vũ trường chợt bừng cơn say
Ai nói yêu em đêm nay?
Đời chẳng mong . . . chờ ai
Sắp đến trong . . . tay người
Đời chẳng mong . . . chờ ai
Không vấn vương . . . tơ chùng
Tàn một . . . đêm sau
Qua một bàn . . . cờ vui
Tương lai tan thành
Sương kín . . . trong nửa khuya
Ai nói yêu em đêm nay?
Ai nói yêu em đêm mai?
Ai sẽ yêu em sau này?
Khi xế chiều phấn son phai
Rã rời cuộc đời buông say
Ai nói yêu em đêm nay?
(Y Vân – bđd)
“Tương-lai tan thành sương kín …trong nửa khuya”. Hoặc: “Rã rời cuộc đời buông say” đêm nay”, âu cũng chỉ là giòng chảy đầy ý-nghĩa của một cuộc sống có yêu, có thương rất nhiều “đêm”, mà thôi.
“Đời chẳng mong chờ ai!” “Không vấn vương tơ chùng”… âu cũng là những lời và lời của người đời. Chứ chẳng thể nào là “Lời Chúa” hết. Dù “lời” ấy có nói về tình-tự thương yêu, đằm thắm rất con người, chỉ thế thôi.
Xem thế thì, câu hát cứ mải miết hỏi rằng: “Ai nói yêu em đêm nay? Ai nói yêu em đêm mai? Ai sẽ yêu em sau này?” nếu cứ vang-vẳng mãi trong tai người nhà Đạo, hẳn sẽ làm người nghe chết khiếp đi được. Không chết, cũng sẽ ngồi lại mà suy-nghĩ, tư-lự thật nhiều rồi cũng sẽ quyết-định đi đến hành-động có những quyết-tâm, thật không nhỏ.
Thế đó, là hiệu-quả của việc phiếm hoài, phiếm mãi lai rai cả vào thời sau này, để rồi đạo-giáo của ta sẽ khá hơn thời trước và thời về sau, những là tương-lai/mai ngày nhiều hưng-phấn. Nghĩ thế rồi, mời bạn/mời tôi ta cứ thế trực chỉ về đằng trước mà ra đi. Đi, mà không ngoái lại về phía sau vì đã có câu trả lời ở trong bụng cho câu hỏi “Ai sẽ Yêu em đêm nay”, hoặc mai ngày rất vĩnh cửu.
Trần Ngọc Mười Hai
Chỉ dám hỏi mình/hỏi người
những câu hỏi
nhè nhẹ như thế,
mà thôi.


Trần Bang added 2 new photos.
Nếu Đảng cộng sản VN vì nhân dân VN, vì Tổ quốc VN thì một bản tin Đặc Biệt (…) làm nức lòng nhân dân VN lan truyền chóng mặt vào tối ngày CC, tháng M, năm 2017 như sau:
– Sáng Ngày ( CC) TƯ Đảng cộng sản VN họp ra một Nghị quyết duy nhất: trả lại quyền lực cho toàn dân VN, “ĐCSVN không là đảng duy nhất lãnh đạo toàn diện nhà nước và xã hội VN”
– Chiều ngày CC Quốc Hội CHXHCN VN họp phiên toàn thể đặc biệt thông qua những vấn đề quan trọng (để chuyển giao quyền lực trong ôn hòa) của đất nước:
1. Biểu quyết xóa bỏ vĩnh viễn Điều 4 HP 2013, đạt 87% số phiếu đồng thuận.
2. Thành lập Hội Đồng bầu cử Quốc gia gồm 200 thành viên. Các thành viên được chọn từ các Tổ chức chính trị, XHDS (không phải đảng cộng sản và tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản) tham dự, mỗi tổ chức không vượt quá 40 thành viên (20%) và không ít hơn 2 thành viên (1%), Thủ tướng, Chủ tịch nước, Chánh án tối cao, Chủ tịch QH và các Bộ trưởng đương nhiệm được tham dự như các thành viên đương nhiên.
3. Đảng CS từ trung ương đến địa phương trả lại toàn bộ tài sản ( bất động sản, động sản) như văn phòng, trụ sở, hội trường, xe cộ, nhà cửa, tiền tệ, cổ phần, cổ phiếu, công ty, xí nghiệp, trường đảng… và các dạng tài sản khác mà ĐCSVN đang nắm giữ trả lại cho Quốc gia, chính quyền các cấp tương đương kiểm kê và nhận bàn giao.
4. Giải tán QH.
5. Bầu Quốc Hội lập hiến, do Hội đồng bầu cử Quốc gia đảm nhận.
6. Trong thời gian Bầu cử Quốc Hội lập hiến, và Thông qua Hiến pháp mới. Mọi hoạt động của Nhà nước VN từ TU tới địa phương vẫn thực hiện theo Luật hiện hành, trừ những điều trái với Bộ luật Nhân quyền Quốc tế.
7. Thời gian chuyền tiếp, để Bầu cử QH lập hiến, và thông qua Hiến pháp mới là 300 ngày kể từ ngày CC.
8. Những người làm ở các cơ quan đảng CSVN từ TƯ đến địa phương mất việc sẽ được hưởng mọi chế độ như trường hợp người lao động bị mất việc (khi công ty bị phá sản) theo Luật lao động hiện hành.
Bỏ điều 4 HP 2013, các cơ quan gọi là Đảng đoàn, TU, Tỉnh uỷ, Thành uỷ, Huyện uỷ, Đảng ủy, Chi bộ tự động mất chức năng (tự kỷ) lãnh đạo ba nhánh Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp. Ngân sách nhà nước không trả lương và không chi trả các chi phí hoạt động “lãnh đạo” của ĐCSVN vì thế những người làm việc ở đó mất việc.
(Và Hiến pháp 2013 cũng không có quy định các cơ quan đảng chồng lên nhà nước TƯ, các Bộ ngành và chính quyền địa phương.)
P/s: Không thể quá ưu ái như bản đề xuất của FBker Phạm Phú Thứ bên dưới, vì như thế sẽ lại tạo ra bất công xã hội. ảnh 1 copy từ FB Đinh Văn Hải.
Một Mảnh Đất Lành- S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

tuongnangtien
Tôi thấy lũ trẻ “phượt” ào ào nên cũng vội vã phóng theo (chớ ở nhà hoài buồn quá) dù chả có chút ý niệm gì, về những nẻo đường sắp tới.
Đi đâu đây cà?
Ngần ngừ chút xíu rồi tôi quyết định là mình nên khởi sự bằng cách trở lại một chốn đã quen – Thái Lan – nơi mà tôi bắt đầu cuộc đời tị nạn, gần bốn mươi năm trước!
Vì không biết rằng tiếng anh có từ ngữ “guest house” nên tôi gu gồ (đại) “bangkok hotel” và tìm ra một cái khách sạn, ở giữa thủ đô, với giá 40 U.S.A dollar mỗi ngày. Kể cũng chả mắc mỏ gì, nếu so với loại phòng bình dân ở California.
Ngủ qua đêm, sáng hôm sau đi lơn tơn mới thấy trên cùng một dẫy phố nhưng có rất nhiều nhà trọ mà chỉ phải trả 18 Mỹ Kim hà. Thế là tôi lật đật xách ba lô, chạy sang chỗ mới.
Qua đêm sau nữa, tôi “khám phá” ra rằng không chỉ ở mặt tiền mà trong những con hẻm (lủa tủa) hai bên cũng có cả đống guest house. Giá cả, tất nhiên, nhẹ nhàng hơn thấy rõ: mười hai đô la chẵn. Còn nếu “chịu” ở chung (ở dorm) với vài ba mạng nữa thì chỉ nửa giá đó thôi – breakfast included !
Tôi “chịu” liền. Tưởng gì chớ “chung đụng” thì có hề chi. Số trại lính, trại tù, trại cải tạo, trại tị nạn … mà tôi từng sống qua – trên những cái giường đôi – nếu chỉ tính bằng đầu ngón tay, không kể ngón chân, dám thiếu!
Thêm vài ba bữa, sau khi la cà với một mớ đồng hương (mấy anh chị tị nạn, cùng với những em nhỏ chạy bàn, phụ hồ, bán kem, bán nước dừa, bán trái cây …) tôi được cho hay là có rất nhiều cao ốc, ở ngoại ô Bangkok, phòng thuê hàng tháng chưa tới ba ngàn tiền baht – tròm trèm chỉ cỡ 100 MK thôi – tính luôn wifi và điện nước.
Loại chung cư này thường cao tới bẩy tám tầng, nằm cạnh bên nhau, tạo nên những con hẻm nhỏ song song, vô cùng xầm uất. Hàng quán san sát, thức ăn ê hề, rẻ rề, ngon miệng, và chưa nghe có ai bị ngộ độc phải vô nhà thương hết trơn hết trọi. Vào giờ cao điểm, xe cộ – đôi khi – phải di chuyển cùng với tốc độ của … khách bộ hành nhưng không nghe tiếng còi và cũng không có tiếng người chèo kéo/mời mọc hay cãi cọ gì ráo trọi.
Tôi dọn vô thử. Ở tuốt trên tầng sáu. Tuy thang máy chậm, phòng hơi chật và hành lang hơi tôi tối nhưng sạch sẽ, và yên tĩnh đến không ngờ. Cũng như người Lào, người Thái không ồn. Tiếng duy nhất mà tôi nghe suốt ngày, từ sáng sớm đến chiều, chỉ là tiếng chim thôi.

Ảnh chụp tháng hai 2017
Dân Thái tin rằng chim chóc mang lại điềm lành nên để chúng được sống hoàn toàn tự do, và tha hồ ca hót. Nhiều loại chim lắm. Có con líu lo, có con rủ rỉ, có con tíu tít không ngừng nhưng tôi nhận ra ngay tiếng ríu rít quen thuộc của những con se sẻ.
Loài chim này có lẽ hiện diện khắp địa cầu. Tiếng kêu thân quen của chúng, trong những lùm cây, vào lúc chiều tàn, đã nâng đỡ cho tâm hồn đa cảm và yếu ớt của tôi – không biết bao lần – suốt cả cuộc đời lưu lạc. Cứ nghe se sẻ huyên náo chuyện trò là tôi lại trạnh nhớ tiếng chim ngày cũ, dù bao kỷ niệm (không mấy êm đềm) đều đã phôi pha.
Từ một trại cải tạo heo hút, tôi nhận được giấy “tạm tha” cho trở về nhà, vào năm 1978. Mùa mưa nào mà Đà Lạt chả buồn nhưng mùa mưa năm ấy, tôi không chỉ buồn mà còn đói nữa. Ở tù bị đói, đã đành; ở nhà, ai ngờ, cũng đói!
Lòng buồn, bụng đói, dạ hoang mang, tôi không biết làm chi với cuộc đời mình nên đành chỉ nằm nghe mưa và chờ nắng. Mong có chút xíu nắng thôi cho trời bớt lạnh, cho bầy se sẻ túa lên mái nhà (âu yếm rỉa lông, rỉa cánh cho nhau) và tíu tít mừng vui, đón chào nắng ấm.
Đà Lạt hay có những cơn bão rớt, và những trận mưa dầm dề lê thê kéo dài cả tuần chứ không phải cả ngày. Tuy thế, vẫn có những lúc mặt trời cũng lấp ló ở một nơi nào đó. Nắng cũng làm sáng, và làm ấm phố phường đôi chút nhưng tiếng chim kêu rộn ràng (như những ngày xưa cũ) thì không còn nữa.
Thỉnh thoảng mới có tiếng kêu thương lạc lõng của một con chim se sẻ, trên mái ngói, rồi tiếng đáp trả nho nhỏ buồn buồn (nghe cũng cô đơn và não lòng không kém) từ một căn nhà xa xa nào đó. Cả một dãy phố mà dường như chỉ còn sót vài đôi chim bé bỏng thôi.
Cái đói của chính mình giúp cho tôi đoán được chuyện gì đã xẩy ra cho loài chim này trong mấy năm qua. Sự khắc nghiệt của chế độ hiện hành, hoá ra, không chỉ ảnh hưởng riêng chi đến con người.
Tôi không hiểu là loài se sẻ chết dần vì đói, hay chúng rời đi đến một phương trời nào khác, bỏ tôi ở lại với đói lạnh và buồn. Buồn quá, tôi cũng đi luôn và chưa bao giờ lần dò trở về chốn cũ.

Ảnh chụp tháng hai 2017
Gần nửa thế kỷ đã qua, không biết bây giờ thì bầy sẻ nhỏ ra sao nhưng đồng bào hay đồng hương của tôi thì vẫn vậy – vẫn cứ tiếp tục ra đi bằng mọi giá và mọi cách. Từ Việt Nam, luật sư Võ An Đôn mới buồn bã cho hay:
Tôi vừa nhận được tin gia đình chị Trần Thị Thanh Loan, Trần Thị Lụa và Trần Thị Phúc đang trên đường vượt biên từ Việt Nam qua Úc bằng đường biển, hiện tại ghe chở người vượt biên đã qua khỏi lãnh hải Indonesia, tiến vào hải phận nước Úc.
Cả 3 gia đình trước đây đã một lần vượt biên qua Úc, bị trả về Việt Nam 7/2015. Tòa án tỉnh Bình Thuận phạt tổng cộng hơn 6 năm tù giam về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép”. Cụ thể: chị Loan 36 tháng tù giam, anh Hồ Trung Lợi (chồng chị Loan) 24 tháng tù giam, chị Lụa 30 tháng tù giam. Riêng anh Lợi đang chấp hành hình phạt tù được 20 tháng, chị Loan và chị Lụa được hoãn chấp hành hình phạt tù 1 năm, đến tháng 7/2017 thì đi tù.
Nếu lần vượt biên này bị Úc trả về thì chị Loan sẽ đối mặt với bản án 7 năm tù giam và chị Lụa 6 năm tù giam (Cộng bản án cũ và bản án mới).
Qua điện thoại chị Loan và chị Lụa cho biết: Nếu lần vượt biên này chính phủ Úc không nhận hai chị tị nạn mà trả về nước, thì hai chị sẽ nhảy xuống biển tự tử, chứ không bao giờ chịu trở về Việt Nam lần thứ 2.
Cầu mong cho ba gia đình thượng lộ bình an và sớm đến được bến bờ tự do!
Ủa, chớ “bến bờ tự do” có gì quyến rũ mà dân Việt – từ thế hệ này sang thế hệ khác – cứ mãi khát khao đi tìm mãi thế? Tôi đang sống ở Thái Lan, một đất nước “tự do” đây, có thấy chi hấp dẫn lắm đâu?
Chả qua chỉ là một căn phòng nho nhỏ, vừa đủ cho đôi vợ chồng son, với những tiện nghi căn bản – trong một khu chungcư ở ngoại ô – mà số tiền phải trả hàng tháng chỉ bằng một phần tư lợi tức của một người công nhân, dù với đồng lương tối thiểu.
Nơi đây, tuy phần lớn chỉ là những người lao động có lợi tức thấp nhưng đời sống riêng tư của họ được tôn trọng hoàn toàn và tuyệt đối. Không có ông công an khu vực, bà tổ trưởng dân phố, hay chị hội trưởng phụ nữ (dấm dớ) nào lai vãng cả! Cũng chả thấy bóng dáng đám công an giao thông, cảnh sát cơ động, hay lực lượng dân phòng lảng vảng (xớ rớ) kiếm ăn ở chung quanh!
Dọc theo mấy dẫy chung cư là một dòng sông nhỏ, nước tuy bẩn nhưng cá vẫn còn sống được. Kiên nhẫn ngồi câu, chừng hai ba tiếng, cũng chỉ kéo được hơn chục chú cá rô con.
Phần lớn bờ sông là đất trống, bỏ hoang, mọc tá lả đủ thứ loại trái cây thông thường của vùng nhiệt đới: vú sữa, mít, ổi, chuối, xoài, mãng cầu, đu đủ … Với tay phía nào cũng có thể bẻ được một chùm tầm ruột, vừa mới chín hườm hườm, hay một quả khế (không biết chua/ngọt) vàng ươm.
Bên kia bờ sông – đôi chỗ – cũng thấy nhô lên một toà biệt thự kín cổng, cao tường. Còn phần lớn đều chỉ là những căn nhà nhỏ, vách ván đơn sơ, sắc mầu lộn xộn. Từ ngoài nhìn vào cũng có thể thấy hết đồ vật luộm thuộm bên trong: giường tủ, ghế bàn, tuyềnh toàng, cũ kỹ.
Cái nghèo cũng được bầy ra qua những mâm cơm chiều thanh đạm, dọn ngay trước sân nhà: cá khô, rau luộc, rổ đậu, đĩa trứng chiên nhỏ xíu, và mấy xâu thịt nướng mỏng tang, cùng vài chai bia (hoặc rượu) địa phương – ma dze in Thai.
Tuy thế, trông người Thái nào tôi cũng cảm được là họ đang sống rất bình an. Nỗi an bình của một của cả một dân tộc chưa từng “dám” đánh thắng một đế quốc to nào ráo, đế quốc nhỏ cũng chưa!
Dân Thái – chắc chắn – chưa bao giờ nghe nói đến những thứ (thổ tả) đại loại như chủ nghĩa mác xít lê nin nít vô địch muôn năn, cải cách ruộng đất, hợp tác xã, đánh công thương nghiệp, đổi tiền, vượt biên, trại cải tạo, nợ công, lạm phát, vỡ qũi bảo hiểm xã hội, sự cố môi trường biển, Hội Nghị Thành Đô …
Cộng lại tất cả những cái “chưa” này của dân tộc Thái Lan thì thành một giấc mơ xa vời (và mỗi lúc một thêm xa) của người dân Việt!
TỪ BỎ ĐỂ SỐNG MÙA CHAY
TRẦM THIÊN THU
Thứ Tư Lễ Tro là khởi đầu Mùa Chay. Mùa Chay tới, nhiều người nghĩ phải cố gắng từ bỏ điều gì đó để bước theo Đức Kitô. Tuy nhiên, những điều này lại thường ít ảnh hưởng đến cuộc sống, chúng ta “khôn lỏi” lắm!
Dưới đây là 40 thứ có thể từ bỏ để sống Mùa Chay. Không phải là những thứ liên quan việc ăn uống, nhưng chúng thực sự cần từ bỏ. Mùa Chay kéo dài 40 ngày, mỗi ngày cố gắng từ bỏ 1 điều. Trong 40 điều này, có những điều không chỉ từ bỏ trong Mùa Chay mà phải từ bỏ suốt cả đời.
TRẦM THIÊN THU
(biên soạn theo GreaterThingsToday)
Khởi đầu Mùa Chay – 2017
Chị Nguyễn Kim Bằng gởi
VẾT MÒN
TRẦM THIÊN THU
Con người thật là yếu đuối, hèn nhát, ngu xuẩn, nhưng lại luôn lên mặt tỏ ra mình ngoan hiền! Điều mình muốn thì không làm, lại cứ làm điều mình ghét, không hề muốn (x. Rm 7:15). Ai cũng có những “vết mòn”. Khốn nạn thay!
Một lần nữa, Mùa Chay lại về. Mùa Chay liên quan vấn đề sám hối, sám hối liên quan tội lỗi. Một trong những điều khiến chúng ta thất vọng nhiều nhất là khi cố gắng tiến bộ về tâm linh nhưng cứ tái phạm các tội cũ, cứ lại lăn vào vết xe cũ, tránh mãi chẳng được, chừa mãi không xong!
Chúng ta buồn. Chúng ta nghĩ rồi mình lại tái phạm.Và đúng như vậy. Chúng ta ngập đầu tội lỗi, cắn rứt và xấu hổ. Do đó chúng ta cũng dễ bỏ cuộc. Chúng ta thất vọng và tự nhủ đó không là tội, nếu có là tội thì cũng chỉ là tội nhẹ.
Đây là 12 cách cần ghi nhớ nếu bạn cứ phạm đi phạm lại một tội nào đó:
Bạn có nghĩ mình sẽ nên thánh sau một đêm? Đây là vấn đề đối với nhiều người trong chúng ta. Chúng ta thích“cấp tốc”, giải quyết nhẹ nhàng mà hiệu quả. Thánh GH Gioan Phaolô II nói:“Sự hoàn thiện phải thực hiện suốt đời”. Không gì vĩ đại mà lại dễ dàng. Nên thánh cũng như trở nên vận động viên Thế Vận Hội hoặc người có tài năng xuất chúng. Ai cũng phải khổ luyện, chẳng có gì dễ dàng và mau chóng được. Hãy nhớ: “Dục tốc, bất đạt”.
Vâng, hãy đặt ra tiêu chuẩn cao. Đừng dễ dãi với chính mình, nhưng cũng đừng khó khăn với chính mình. Cứ cố gắng làm rồi sẽ làm đúng. Có một “sáo ngữ” nhưng đúng: “Bạn thường té ngã bao nhiêu lần thì cũng phải thường đứng dậy chừng đó lần”. Bạn đang trên đường tiến tới thì té ngã bao nhiêu lần cũng không thành vấn đề.
Số tội lỗi và mức xấu hổ không là “thước đo”để phân định mức độ nghiêm trọng của tội. Chúng ta cảm thấy xấu hổ về tội liên quan xác thịt vì nó ô uế và nhơ nhớp. Việc thiếu cầu nguyện và không tôn trọng người khác có thể là tội còn nặng hơn các tội về xác thịt. Lòng kiêu ngạo có thể ngăn cản tâm linh hơn tội về xác thịt. Nói như vậy không phải là biện hộ cho tội xác thịt, nhưng cảm giác có tội và xấu hổ đôi khi khiến chúng ta không nhận ra rằng tội lỗi không làm chúng ta xấu hổ. Hãy khách quan khi xét mình và đừng đánh mất cảm thức tội lỗi. Hãy thẳng thắn với chính mình, tin vào lòng thương xót của Chúa và đi xưng tội.
Tội nặng (tội trọng) liên quan vấn đề quan trọng.Bản chất của tội trọng là làm chúng ta mất ơn nghĩa với Chúa. Bạn phải biết đó là tội trọng, là yếu tố làm mất tự do,và phải quyết định dứt khoát, đừng tự nhủ: “Tôi biết đó là tội trọng, nhưng tôi cứ phạm”. Nếu lỡ phạm tội trọng, bạn phải cấp tốc ăn năn. Nếu bạn có ý đi xưng tội trong thời gian sớm nhất, đó là bạn đã trở về với Chúa.
Nhận biết điều này giúp bạn bớt phạm tội. Nếu bạn bị “nghiện” và không thể vượt qua một tội nào đó, bạn cần nhờ người linh hướng. Các nhà liệu pháp và các nhà tư vấn có thể giúp bạn tìm ra căn nguyên khiến bạn “nghiện”. Nếu bạn khó chừa một tội nào đó, có thể bạn đã bị “nghiện”. Nhiều người không cho là mình bị “nghiện” nên không chịu “điều trị”. Hãy mạnh dạn nhờ người giúp đỡ để bạn có thể vượt qua. Đừng muốn làm bác sĩ vì bạn bị bệnh. Đừng ngần ngại lãnh nhận Bí tích Hòa giải nếu linh hồn bạn bị bệnh.
Nếu bạn “kẹt” vì một tội nào đó, có thể bạn bị sự ác ám ảnh. Nói là “sự ác” không hẳn là ma quỷ. Có thể đó chỉ là điều thuộc tâm sinh lý – bị kém trí nhớ, ảnh hưởng mối quan hệ không lành mạnh nào đó, hoặc do yếu tố xấu nào đó. Nếu bạn cảm thấy sự ác ảnh hưởng bạn, hãy cầu nguyện và ăn chay. Hãy ăn chay các ngày thứ Sáu và chú tâm cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”. Hãy xưng tội, đừng quan tâm là linh mục nào. Xưng tội là thú tội với Chúa và xin Ngài thương xót.
Có thể bạn đã làm điều gì đó rồi… quen. Ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt. Nó thúc giục bạn, và bạn lấy nhiều lý do để tự biện hộ.Thói quen thành nghiện, nghiện rồi thì muộn rồi. Hãy chống lại cơn cám dỗ ngay khi nó xuất hiện trong tâm trí. Tránh voi chẳng xấu mặt nào. Đừng thí mạng mà đối đầu với ma quỷ, nhưng hãy thẳng thắn nói với nó: “Satan, cút ngay, xa ta ra!”.
Thánh lễ, tràng hạt Mân Côi, áo Đức Bà, ảnh các thánh, Kinh Thánh,… là các vũ khí hữu hiệu trong cuộc chiến tâm linh. Hãy tìm hiểu cách sử dụng hữu hiệu các linh khí này.
Bạn sẽ không bỏ được tội lỗi nếu bạn không thực sự ghê tởm nó. Bạn thấy những con nghiện đáng sợ không?Nghiện gì cũng đáng sợ: Nghiện ma túy, nghiện rượu, nghiện thuốc lá,… Nghiện phạm tội còn kinh tởm hơn nhiều. Hãy cầu nguyện để thanh lọc ước muốn, cố gắng tập trung vào cái tốt đẹp và chân thật.
Hãy chân thành sám hối và tìm người linh hướng, kiểu như bác sĩ gia đình, quan hệ thân thiết để người linh hướng biết thực trạng của bạn. Càng biết rõ thì người linh hướng càng dễ giúp bạn tiến bộ trên đường trọn lành. Ai cũng phải nên thánh, có người nhanh, có người chậm, nhưng chắc chắn ai cũng trải qua con đường sám hối và được Thiên Chúa thương xót thứ tha.
Dù thất vọng nhưng đừng tuyệt vọng. Dù thế nào cũng không được đầu hàng, bỏ cuộc. Đừng tự nhủ rằngtội của mình không là tội. Đó là tự giả dối và hủy hoại chính mình. Hãy đối mặt với tội lỗi và kiên cường chiến đấu. Hãy ghi nhớ: “Đừng bỏ cuộc!”.
Đó là điều bạn phải ghi nhớ rõ ràng. Nhiều người Công giáo phạm tội như thể Chúa ở xa lắm, rồi nghĩ rằng đời còn dài, mai mốt ăn năn cũng được, Chúa nhân từ lắm. Đó là lạm dụng lòng thương xót của Chúa. Kinh Thánh nói:“Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3:17). Phải hiểu tích cực chứ đừng tiêu cực. Hiểu tiêu cực là lợi dụng lòng tốt của Chúa. Ngài luôn chờ cơ hội để tha thứ chứ không muốn kết án. Hãy can đảm “đứng dậy và trở về với Cha” (Lc 15:18), càng sớm càng tốt.
TRẦM THIÊN THU
(chuyển ngữ từ Patheos.com)
Chị Nguyễn Kim Bằng gởi
THỬ THÁCH VÀ LỰA CHỌN
Trình thuật về các lần cám đỗ được coi như phần mở đầu giúp người tín hữu hiểu được điều sâu kín nhất trong tâm hồn Đức Giêsu. Đó là một bản Tin Mừng thu gọn, một thứ hướng dẫn. Những ai muốn hiểu rõ về cuộc đời công khai của Đức Giêsu, cần phải để ý điều này: nếu muốn hiểu biết điều gì trong đó, hãy luôn nhớ lại ba lựa chọn căn bản này của Đức Giêsu.
Cuộc thử thách và lòng trung thành
Thời gian 40 đêm ngày Đức Giêsu trải qua trong sa mạc đánh dấu việc khởi đầu một cuộc phiêu lưu, cuộc phiêu lưu của Giao Ước Mới. Cuộc phiêu lưu này tái hiện quãng thời gian 40 năm dân Do-thái đã trải qua trong cuộc Xuất hành, đồng thời nhắc lại 40 ngày đêm ông Mô-sê đã ở trên núi Xi-nai.
Còn hơn thế nữa, khoảng thời gian này không chỉ là một cuộc khởi đầu, nhưng còn là một cuộc sáng tạo với những yếu tố như cuộc sáng tạo vũ trụ: sa mạc (miền đất trống rỗng, hoang vu), và sự thử thách.
Trong cuộc sáng tạo, A-đam đã phải chịu thử thách, đã đứng trước một lựa chọn, trong đó ông phải bày tỏ tự do của mình. Cũng vậy, với biến cố hôm nay, với cuộc thử thách và lựa chọn trong sa mạc, Đức Giêsu đã bày tỏ tự do của mình, đã thể hiện sự gắn bó với Thiên Chúa, và cho thấy bản tính sâu xa của Người: Con Thiên Chúa và Con Loài Người.
Thực vậy, sa mạc và thử thách luôn là những cơ hội để bày tỏ lòng trung thành hay thái độ bất trung (A-đam, sự kiện con bò vàng …). Lần đầu tiên trong suốt lịch sử cứu độ, Đức Giêsu thực hiện điều mà trước đây, cả A-đam lẫn ÍT-RA-EN không thể thực hiện: lòng trung thành với Thiên Chúa.
Nhờ sự trung thành với căn tính Con Người và Con Thiên Chúa, Đức Giêsu mở ra con đường cho Giao ước Mới, con đường đặt nền tảng trên lòng trung thành, một yếu tố mà con người có thể thực hiện được với nỗ lực và tự do của mình. Và lòng trung thành này được biểu hiện qua việc nhìn nhận Lời Chúa là của ăn, nhìn nhận thánh ý Chúa Cha có giá trị ưu tiên tuyệt đối, nhìn nhận Thiên Chúa là Chúa duy nhất.
Một cuộc chiến đấu
Con người vẫn thường nghĩ về Đức Giêsu như Đấng có uy quyền, Đấng bày tỏ các mầu nhiệm và thực hiện những điều lạ lùng. Về phần mình, Đức Giêsu lại đề ra một cuộc chiến đấu.
Quả thực, qua các cám dỗ tại sa mạc, Đức Giêsu đã thể hiện trọn vẹn tính cách con người. Mặc dù có thể, Người đã không sử dụng các phép lạ cho riêng mình để loại bỏ đi những yếu tố vẫn gắn liền với thân phận con người.
Đức Giêsu muốn uống lấy chén đắng, Người muốn cứu nhân loại chứ không cứu lấy bản thân mình. Chính ý tưởng này còn đưa đến cho Người nhiều thử thách khác, không kém phần cam go, nhưng Người đã vượt qua. Thử thách cuối cùng là cái chết, Người cũng đã đón nhận, bởi vì Người hiểu rằng, chính trong tâm tình tự hiến vì yêu thương, Người nhận lấy vinh quang của cuộc chiến đấu, đồng thời đem lại vinh quang cho tất cả những ai bền lòng vững chí.
Suốt cuộc đời của Đức Giêsu là một cuộc chiến đấu liên lỉ chống lại sự dữ, chống lại quyền lực xấu xa đang đè nặng trên cuộc sống của con người. Người muốn giải phóng họ khỏi những quan niệm, những cách sống đang làm vướng bận mối tương giao của họ với Thiên Chúa, hay làm cho mối tương giao đó không được trong sáng, không đạt tới ý nghĩa thâm sâu. Chẳng hạn như sau khi chứng kiến phép lạ hoá bánh ra nhiều, dân chúng đã muốn tôn Người làm vua, nhưng Người đã lánh đi (Ga 6,15), hoặc khi Phê-rô lên tiếng can ngăn Đức Giêsu, xin Người đừng lên Giê-ru-sa-lem, Người đã không xiêu lòng trước thử thách, nhưng đã quyết liệt khước từ và nặng lời trách móc Phê-rô (x. Mt 16,23).
Như thế, Đức Giêsu không muốn sống an toàn, trái lại, Người lao vào một cuộc đấu tranh, chấp nhận những mất mát thua thiệt về phía mình, kể cả sự sống. Người hiểu rằng, để khai sinh một nhân loại mới, một ý nghĩa mới cho cuộc sống của con người, cần phải chiến đấu, phải hi sinh, phải liều lĩnh. Nếu không có can đảm vượt lên trên cái nhìn bình thường, vượt lên trên sự an toàn cho riêng mình, thì nhân loại không thể nào được cứu vớt, được giao hoà với Thiên Chúa.
Cuối cùng, cuộc chiến đấu này đã dẫn đưa Người tới cái chết trên thập giá, và Người đã chiến thắng nhờ sự Phục sinh. Sự kiện này cho thấy rằng cuộc chiến đấu của Người không phải là vô nghĩa, và con người có thể đạt tới chiến thắng vinh quang nhờ lòng trung thành, nhờ thái độ tuân phục thánh ý Thiên Chúa.
Vì vậy, xét theo cái nhìn bình thường, Đức Giêsu đã hành động như là không yêu mến con người; Người đã mở ra một cuộc chiến và mời gọi họ dấn thân, chứ không đem đến cho họ sự an toàn. Tuy nhiên, chính cuộc chiến do Đức Giêsu khởi đầu lại là con đường duy nhất để đạt tới vinh quang đích thực. Trong cuộc chiến đấu của mình, Đức Giêsu đã liên đới với tất cả những người đau khổ, liên đới với thân phận làm người của nhân loại; Người hành động như thế vì yêu mến họ, yêu mến cách tận tình, muốn đưa họ tới sự sống chân thật. Bình an do Đức Giêsu đem đến là bình an được chiếm đoạt bằng sức mạnh, bằng sự trung tín với Lời Chúa.
Chiến dấu từng ngày và suốt đời
Ba cám dỗ, hay ba chọn lựa, vẫn thường xảy ra trong suốt dòng lịch sử. Mỗi người sẽ gặp phải những thử thách và họ sẽ ngã gục như A-đam và dân It-ra-en, nếu họ không nhìn vào Đức Giêsu, và không noi theo gương của Người.
Cuộc chiến đấu ấy, thử thách ấy vẫn diễn ra cách này cách kia theo nhiều hình thức khác nhau; mỗi thời mang một vẻ khác, mỗi giai đoạn lại có vẻ tế nhị hơn, quyết liệt hơn, nhưng bao giờ cũng vẫn là sự chọn lựa giữa Thiên Chúa và trần gian. Đó là một cuộc chiến đấu dài, rất dài, không bao giờ chấm dứt; người ta phải chiến đấu đến giây phút cuối cùng, mà không được quyền bỏ cuộc, rút lui.
Vậy, đâu là những thử thách vẫn thường xảy ra mà không khi nào Đức Giêsu nhượng bộ?
Thứ nhất: Con người được dựng nên không phải chỉ vì những lương thực trần gian. Họ còn có những lương thực thiêng liêng và chính thứ lương thực này mới cần thiết.
Thứ hai: Con người được dựng nên không phải để cảm nghiệm về Thiên Chúa mà thôi. Họ cần phải hiệp thông với Người, như một đứa con, với lòng tin tưởng tuyệt đối. Đó không phải là mối tương giao đặt nền tảng trên lòng yêu mến. Họ ở trong Người, không một chút nghi ngờ, không một khoảng cách.
Thứ ba: Con người được dựng nên không phải để thống trị anh em mình, không phải để bắt người khác thần phục mình. Trái lại, mọi người đều là con một Cha; tất cả đều quy hướng về Thiên Chúa. Hơn nữa, họ không được dựng nên để phục lạy các ngẫu tượng, nhưng là để thờ phượng Thiên Chúa:
Như vậy, vấn đề được đặt ra chính là căn tính của con người. Họ được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi và Ba Ngôi Chí Thánh không ngừng làm cho họ nên giống hình ảnh của Người. Đó là chương trình đã có từ thời sáng thế, và hôm nay vẫn đang được thực hiện. Chương trình này vẫn đang bị đe doạ vì những ham muốn chống đối của con người, và Thiên chúa không ngừng bày tỏ lòng yêu thương của Người:
Chính trong việc cử hành Thánh Thể,
Đức Kitô ban mình làm lương thực để nuôi sống con người.
Đức Kitô xoá tan mọi khoảng cách và nghi ngờ,
Ngài đến ở với chúng ta qua việc rước lễ.
Đức Kitô quỳ gối trước mặt chúng ta,
rửa chân cho chúng ta,
biến chúng ta thành một dân biết phục vụ,
sắn sàng quỳ gối để rửa chân và giúp đỡ người khác.
Con người không được dựng nên cho riêng mình. Cộng đoàn ngày Chúa Nhật là cơ hội để chúng ta thấy rõ căn tính của mình. Trong cộng đoàn này, chúng ta chia sẻ với nhau những thành quả do cuộc chiến đấu của Đức Kitô, đồng thời trở nên hình ảnh của Thiên Chúa.
Đi vào Mùa Chay
là cùng với Đức Kitô
lao vào cuộc chiến đấu.
để bày tỏ lòng trung thành
đặt nền tảng trên Lời Chúa.
G. Nguyễn Cao Luật
Langthangchieutim gởi
Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln đã làm gì khi bị sỉ nhục..!!? ?
Nhà văn Victor Hugo – Pháp từng nói: “Trên thế giới thứ rộng lớn nhất là đại dương, nhưng thứ rộng lớn hơn lại là bầu trời, mà thứ còn rộng hơn cả bầu trời lại chính là lòng người.” Bao dung thì luôn được lợi và người làm thành được sự nghiệp thì nhất định phải có lòng bao dung rộng lớn.
Lâm Tắc Từ, một vị quan nổi tiếng thời xưa, cũng viết: “Hải nạp bách xuyên, hữu dung nãi đại; bích lập thiên nhận, vô dục tắc cương”, ý nói rằng biển vì có thể dung nạp trăm nghìn con sông mà trở nên rộng lớn, vách núi nghìn trượng sừng sững vì không mang dục vọng mới có thể giữ mình cương trực. Đây cũng là nói đến trí huệ của lòng bao dung.
Bao dung là một loại khí phách, cũng là một loại trí huệ. Cổ ngữ có câu: “Cái trán của Tướng quân rộng đến mức có thể phi ngựa, bụng của Tể Tướng rộng đến mức có thể chèo thuyền”. Ý nói, một người có tấm lòng quảng đại, rộng lớn bao nhiêu thì sự nghiệp sẽ to lớn bấy nhiêu.
Có một câu chuyện kể về tổng thống vĩ đại của nước Mỹ – Abraham Lincoln như thế này:
Tổng thống Mỹ thứ 16 Abraham Lincoln xuất thân trong một gia đình thợ giày. Lúc đó, xã hội Mỹ rất coi trọng thành phần xuất thân trong gia đình quyền quý. Đại bộ phận nghị sĩ thượng nghị viện Mỹ đều xuất thân trong gia đình thế gia vọng tộc. Là những người của xã hội thượng lưu Mỹ, họ thấy khó chấp nhận một vị Tổng thống là con trai của một thợ giày rất tầm thường.
Tổng thống Abraham Lincoln
Formal portrait of Abraham Lincoln 1809 – 1865, 16th President of the United States of America, famous for saving the Union in the American Civil and the emancipation of slaves, He was assassinated by John Wilkes Booth in 1865
January 01, 1865
Ngày đầu tiên làm tổng thống, ngay khi Lincoln lên phát biểu trong lễ nhậm chức Tổng thống, một nghị sĩ đã chen vào giữa bài phát biểu của ông. Ông ta nói: “Thưa ngài Lincoln, đừng quên rằng cha ngài thường đóng giày cho gia đình tôi.” Tất cả các nghị sĩ đều cười ầm lên. Họ nghĩ rằng họ đã khiến Lincoln trở thành trò hề.
Tuy nhiên, khi tiếng cười vừa chấm dứt, Tổng thống Lincoln không cao ngạo, cũng không tự ti mà chân thành nói: “Thưa ngài, tôi biết rằng cha tôi đã đóng giày cho gia đình ngài, cũng như nhiều gia đình các nghị sĩ khác… bởi vì không người thợ nào có thể làm được như ông. Ông là một người sáng tạo. Giày của ông không chỉ là giày, ông đã đổ cả tâm hồn vào nó. Tôi muốn hỏi các ngài rằng, các ngài đã từng phàn nàn về giày của ông chưa? Bản thân tôi cũng biết cách đóng giày; nếu các ngài có phàn nàn gì, thì tôi có thể đóng cho các ngài một đôi giày khác. Nhưng theo tôi thấy thì, chưa ai từng phàn nàn về những đôi giày mà cha tôi đóng. Ông là một thiên tài, một nhà sáng tạo, và tôi tự hào vì cha tôi!”
Toàn bộ các nghị sĩ nín lặng. Họ nhận ra rằng họ chưa hiểu gì về Tổng thống Lincoln. Lincoln tự hào về người cha đánh giày của mình, vì chưa ai từng phàn nàn về những “tác phẩm” của ông. Và mặc dù đã là Tổng thống, Lincoln vẫn sẵn sàng đóng một đôi giày mới nếu có bất cứ ai phàn nàn.
Lễ nhậm chức của Tổng thống Lincoln.

Engraving depicting Chief Justice Taney administering the oath to President Abraham Lincoln at his inauguration, Washington D C, March 4th 1861.
March 04, 1861
Sau này có người đã khuyên Lincoln trả đũa người nghị sĩ nọ, nhưng Lincoln nói rằng: “Khi chúng ta trở thành bạn thì đối thủ đã không còn!” Chính sự chân thành và lòng khoan dung của Lincoln đã trở thành một phần nền tảng của văn hóa Mỹ.
Nhà thơ nổi tiếng Gibran từng nói: “Một con người vĩ đại có hai trái tim: Một trái tim chảy máu và một trái tim bao dung”. Khổng Tử nói: “Khoan dung thì được lòng mọi người”. Trong kinh Phật cũng dạy: “Chỉ một ý niệm cũng khiến hoàn cảnh thay đổi”. Cho nên, chỉ một câu nói, một hành động nhỏ hay chỉ một nụ cười thôi đã đủ để khiến cho người xấu quay đầu hướng thiện.
Lẽ trời cũng là lẽ của con người, chính bởi vì có thể bao dung mới có thể thành tựu được biển rộng, núi cao, cũng cải thiện được mối quan hệ giữa con người và con người, thành tựu được sự nghiệp to lớn lưu mãi ngàn đời của các bậc anh hùng, hào kiệt xưa nay.
Tục ngữ nói: “Vàng không thuần khiết, người không ai hoàn mỹ”. Khi đối mặt với sai lầm của người khác, nếu như canh cánh để ở trong lòng và đòi đáp trả thì sẽ chỉ khiến cho tâm linh của bản thân thêm nặng, thêm trầm trọng mà thôi. Thay vì để cho thù hận gặm nhấm tâm linh, chịu đựng thống khổ chi bằng hãy mở rộng lòng mà bao dung hết thảy, chẳng phải chúng ta sẽ được thản nhiên và tự tại sao?
XÃ ….STRESS
(không phải uống thuốc)
Không có stress có lẽ con người cũng không thể tồn tại. Thế nhưng, vượt ngưỡng đến một mức nào đó thì con người cũng…không thể tồn tại, bởi chính stress gây ra nhiều thứ bệnh về thể chất và tâm thần, nên rất cần biết cách “xả” stress trong cuộc sống đầy căng thẳng, âu lo hiện nay.
Stress là một phản ứng bảo vệ, khi cơ thể bị một mối đe dọa, mối nguy hiểm xảy đến cho nó. Người ta gọi nó là phản ứng (hay đáp ứng) “chiến đấu hoặc bỏ chạy” (fight or flight response), nghĩa là trong tình huống đó, chỉ có hai cách để chọn lựa: chiến đấu để sinh tồn hoặc bỏ chạy để… sinh tồn!
Lúc đó, cơ thể phải huy động toàn lực để đối phó. Não thùy sẽ ra lệnh tiết các kích thích tố cần thiết, nào adrénaline, nào norepinephrine, cortisol…ồ ạt đổ vào máu. Tim đập nhanh để bơm máu về các cơ bắp lớn, phổi hổn hển tăng tốc bơm oxy, đường huyết vọt lên cao nhằm tăng cường khẩn cấp năng lượng, đồng tử mắt nở to để nhìn cho rõ, tai vểnh lên, mũi phồng ra… Tóm lại, mọi thứ đều phải trong tư thế sẵn sàng. Trong lúc các mạch máu lớn chuyển máu đến các bắp cơ thì mạch máu nhỏ ngoại biên co thắt lại, để nếu có bị thương thì máu cũng không bị mất nhiều… Vì thế mà người bị stress thường mặt mày tái ngắt, xanh lè, tay chân đơ cứng!
Stress cấp tính có những phản ứng mạnh hơn ta tưởng. Một người đang đứng trước chuồng cọp, thấy cọp sổng chuồng thì… phân, nước tiểu tóe ra mà không hay, tay chân bủn rủn, ngất xỉu. Nguy cơ qua đi, hiểm họa chấm dứt thì mọi thứ lại trở về trật tự cũ. Tim đập chậm lại, hơi thở điều hòa, bắp cơ buông xả. Nếu sự đe dọa không mãnh liệt nhưng cứ dồn dập, hết lớp này tới lớp khác, đến một lúc vượt quámức chịu đựng gọi là “mất bù” thì sẽ tạo ra những hiệu ứng âm thầm gây tác hại không lường được lên thể chất và tâm thần của ta.
Thời đại ngày nay, con người ít có dịp chiến đấu một mất một còn trước thú dữ hay trước “hòn tên mũi đạn” như xưa. Nhưng con người ngày nay lại phải thường xuyên đối đầu với những “hòn tên mũi đạn” còn nguy hiểm hơn, kiểu “bề ngoài thơn thớt nói cười / bề trong nham hiểm giết người không dao”. Stress vượt qua ngưỡng lúc nào không hay và dẫn tới vô số bệnh tật mà bác sĩ cũng phải bó tay, đành gắn cho những cái tên mơ hồ như “rối loạn chức năng”, “mệt mỏi kinh niên”, “rối loạn thần kinh thực vật”… Đại học Y khoa Harvard ước tính có từ 60%- 90% bệnh nhân (ở Mỹ) tìm đến bác sĩ là do stress.
Stress liên quan đến rất nhiều bệnh lý như nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp, tiểu đường, suyễn, đau nhức kinh niên, mất ngủ, dị ứng, nhức đầu, đau thắt lưng, một số bệnh ngoài da, ung thư, tai nạn thương tích, tự tử, trầm cảm, giảm miễn dịch v.v… Tóm lại là rất phức tạp. Bác sĩ nếu không quan tâm đúng mức – đau đâu chữa đó – thì chỉ chữa đựơc triệu chứng bên ngoài còn cái gốc sâu thẳm bên trong là stress vẫn không đựơc giải tỏa, bệnh vẫn cứ luẩn quẩn loanh quanh , chuyển từ “bệnh” này qua “bệnh” khác, và do đó, chất lựơng cuộc sống bị giảm sút rõ rệt! Nhiều khi ta tưởng cholesterol xấu tăng cao trong máu là do thức ăn, nhưng không phải, do stress nhiều hơn! Tiểu đường tưởng do ăn nhiều chất ngọt, thực ra do stress nhiều hơn. Ta thấy đời sống càng căng thẳng, bệnh tiểu đường càng phát triển mạnh!. Ở nước ta mới mấy năm trước, tiểu đường chỉ lai rai, bây giờ thì… “năm sau cao hơn năm trước”, lan tràn cả ở thành thị lẫn nông thôn! Các nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế, người làm việc ở những khu vực dễ bị sa thải thì chết vi tim mạch, tai biến mạch máu não cao gấp đôi các khu vực khác…!
Stress thay đổi từ người này sang người khác. Cùng một sự việc, với người này thì nổi điên lên còn với người kia chỉ là một trò cười, với người này là cả một sự sụp đổ, với người kia là một bài học… Cùng là con ông bà “viên ngoại họ Vương”, cùng “sắm sửa bô hành chơi xuân”, mà Thúy Kiều thì khóc sướt mướt, thở than, nằm mộng, làm mười khúc đoan trường đầy nước mắt trong khi Thúy Vân ngạc nhiênsao chị mình “kỳ cục” vậy! Hẳn là bên trong Thúy Kiều có cái gì đó khác với Thúy Vân, bởi bên ngoài thì cả hai đều “mười phân vẹn mười” cả!
Người dễ bị stress là người thường có tính quá lo lắng, cầu toàn, hay tự chỉ trích, thiếu quyết đoán, hay do dự… Nếu bị thêm sức ép từ bên ngoài thì dễ suy sụp, dễ bị vượt ngưỡng! Nhiều học sinh học giỏi mà thi rớt cho là “học tài thi phận” một phần chính là do stress! Gia đình kỳ vọng nhiều quá, tạo một áp lực vô hình, khiến em không còn là chính mình nữa!
Những dấu hiệu sớm để nhận biết stress là có vấn đề về trí nhớ như hay quên, mất định hướng, thường hoang mang…
Về cảm xúc thì dễ dao động, bứt rứt, dễ bị kích động, tâm tính bất thường, hay cáu gắt, lúc nào cũng có cảm giác bị tràn ngập, rất khó tìm được sự thư giãn. Trong lúc nghỉ ngơi mà vẫn cứ lo lắng, thậm chí còn lo lắng nhiều hơn!
Các triệu chứng về thể chất dễ nhận ra như nhức đầu, đau lưng, rối loạn tiêu hóa, buồn nôn, chóng mặt.. Đặc biệt đau cột sống cổ hay cột sống thắt lưng. Cứ tưởng là loãng xương, là gai cột sống, là thoát vị điã đệm gì gì đó, thực ra gốc ở stress.
Người bị stress dễ bị bệnh vặt, cảm cúm triền miên vì sức đề kháng giảm sút đáng kể, dễ bị mất ngủ, tức ngực, tim đập nhanh và … dễ nổi mụn, nổi chàm trên da. Không có gì ngạc nhiên vì ở trong phôi thai, não và da vốn cùng xuất phát từ một lá mầm ngoai bì (ectoderme). Não mà bất an thì da cũng nhăn nhúm, nổi mụn, nổi chàm, chữa hoài không khỏi, thoa mỹ phẩm đắc tiền cũng vô ích. Não mà an vui thì da cũng tưoi nhuận, hồng hào, sáng láng.
Người bị stress còn hay có những hành vi bất thường như tự dưng thèm ăn, ăn hoài, lên cân đột ngột; hoặc bỗng nhiên bỏ ăn, sụt ký đột ngột…
Có người còn đi qua đi lại, đi tới đi lui, cắn móng tay, nhai nhóp nhép. Các huần luyện viện bóng đá, ông nào cũng hay đi qua đi lại, đi tới đi lui, nhai nhóp nhép “sinh-gom” hoặc phì phèo thuốc lá liên tục giữa lúc hai đội bóng vờn nhau trên sân. Họ bị stress. Nhưng đó là một thứ stress cấp, coi căng vậy mà hiền, chóng qua, hết trận đấu là xong, lại bắt tay nhau vui vẻ! Còn cái thứ stress nhai nhóp nhép kiểu “gặm một khối căm hờn trong cũi sắt”… mới là thứ stress nặng, mạn tính, triền miên, sinh đủ thứ chuyện.
Phòng bệnh hơn chữa bệnh.
Nguyên tắc là đừng tự đòi hỏi mình phải luôn hoàn hảo, phải luôn luôn đúng!
Cũng đừng bao giờ so sánh mình với người khác. Con vịt là con vịt mà con gà là… con gà. Con gà mà dại dột so với con vịt thì sẽ chìm nghỉm trong nước! Lục súc tranh công không thể nào vui đựơc! Một khi đã so sánh thì dù hơn, dù kém, dù ngang bằng cũng đều khổ!
Nên tránh những kẻ chuyên “phun” nọc độc! Họ rất sung sướng khi “tiêm” được nọc độc cho kẻ khác. Tránh những kẻ nhỏ mọn, đố kỵ, “đâm bị thóc, thọc bị gạo”
Bói ra ma quét nhà ra rác, dị đoan mê tín… làm ta căng thẳng lo lắng vô lối. Một lời nói, một cử chỉ của thầy thuốc cũng có thể gây stress trầm trọng không ngờ. Bác sĩ vừa xem phim X quang vừa lắc lắc cái đầu đủ cho bệnh nhân thót tim, nhưng thực ra chì vì bác sĩ mỏi cổ do cả đêm thức coi bóng đá. Bác sĩchỉ cần “phán” một câu mơ hồ như tim hơi lớn, gan hơi yếu, phổi hơi dơ… đủ cho bệnh nhân sống trong hoang mang ám ảnh dài lâu. Lời nói của bác sĩ không chỉ mang thông tin, mà còn truyền cảm xúc, gây stress, bởi người bệnh luôn ở trong một trạng thái tâm lý rất nhạy cảm khi tiếp xúc với thầy thuốc.
Có nhiều cách “xả” stress!
Nhậu nhẹt, hút thuốc lá, ma túy… cũng là một cách xả stress, nhưng rõ ràng là có hại, “chạy ô mồ mắc ô mả”!
Nhảy múa, ca hát, viết nhật ký, viết blog…. là những cách xả stress tốt. Nói chuyện tào lao (tám) cũng là một cách xả stress… , miễn là đừng có “chuyển lửa” từ người này qua người khác! Thực ra, nói ra đựơc với ai đó, một bạn thân thiết, một người có khả năng lắng nghe, một người sẵn sàng làm “thùng rác” cho mình thì mình sẽ cảm thấy nhẹ gánh! Không có bạn bè để tâm sự thì có thể tâm sự cùng tượng đá. Trải lòng ra một lúc, tượng đá cũng xiêu. “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” là vậy! “Chửi chó mắng mèo”, “Giận cá chém thớt” cũng được. Đập bể mấy cái ly cái dĩa… cũng hay! Có điều nên chọn trứơc một ít ly tách, chén dĩa mẻ, để dành sẵn, khi nào cần thì đập nghe vừa rôm rã vừa đỡ tốn kém!
Nguyên tắc chung là phải làm một cái gì đó cho năng lượng bị dồn nén trong stress có chỗ “xì” ra, thoát ra.
Ta vẫn thường nói “xả xú bắp”, “xả hơi” đó thôi…
Tóm lại, đừng có ngồi đó mà gậm nhấm, suy nghĩ vẩn vơ. Giặt đồ, nấu ăn, rửa chén, lau nhà gì cũng tốt. Chạy bộ, đánh đấm, la hét, khóc lóc… cũng đựơc. Đọc sách, xem phim càng hay, miễn là biết chọn phim, chọn sách!
Thấy người chồng trằn trọc mãi không ngủ được, lăn qua lộn lại cả đêm, người vợ hỏi có chuyện gì vậy anh? “Anh mắc nợ anh John hàng xóm một số tiền, hẹn ngày mai trả mà không có một xu dính túi!”. Người chồng đau khổ nói. Lập tức bà vợ tung mền dậy, chạy ra bờ rào gọi với sang nhà hàng xóm: “Anh John ơi, ngày mai chồng tôi chưa có tiền trả cho anh đâu nhé!”. Xong, bà quay vào bảo chồng: “Anh yên tâm ngủ đi, bây giờ là lúc để cho anh John trằn trọc”. Cô vợ đã rất thông minh! Cô đã “chuyển lửa” từ chồng mình sang … chồng hàng xóm. Chắc chắn anh John sẽ trằn trọc cho tới sáng, còn ông chồng cô sẽ ngủ ngon!
“Chuyển” như vậy vẫn chỉ là ở bên ngoài. Chuyển bên trong hay hơn. Chuyện xưa kể bà mẹ già có hai cô con gái, một cô bán dù, một cô bán giày vải. Cô bán dù sống nhờ những ngày mưa, cô bán giày làm ăn khá nhờ những ngày nắng ấm. Bà mẹ lo buồn cho cô bán giày suốt những ngày mưa và đau khổ cho cô bán dù ngày nắng ráo. Có người biết chuyện khuyên bà sao không làm ngược lại, mừng cho cô bán dù ngày mưa và mừng cho cô bán giày ngày nắng?
Não ta có một đặc điểm lý thú là không thể cùng lúc nghĩ tới hai việc. Đã nghĩ điều này thì quên điều kia. Và người ta đã “lợi dụng” đặc điểm này để dịch chuyển các điểm tập trung trên võ não từ vùng này sang vùng khác. Chẳng hạn đang giận sôi lên thì… xảy ra động đất hay cháy nhà, lập tức vùng “giận sôi” của vỏ não tắt ngấm để nhường chỗ cho vùng sợ hãi! Ta biết giận dữ hay sợ hãi đều tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Nó có thể làm ta kiệt sức, suy sụp, thở không ra hơi… Có thể chọn cách nào khác chuyển dịch hay hơn, có lợi cho sức khỏe hơn chăng? ***Có đó***.
Đó là cách thở sâu, thở bụng, đưa hơi xuống huyệt… đan điền (dưới rún chừng 4 cm). Nó giúp làm cho ta tĩnh tâm lại, nó chuyển dịch vùng căng thẳng ở vỏ não qua vùng êm ái của … cái rún, với điều kiện là phải để tâm quan sát xem cái hơi thở đó nó vào ra lên xuống ra sao.
Khi chú tâm vào hơi thở, lắng nghe hơi thở , quan sát nó, dòm ngó nó, nghiền ngẫm nó… thì ta đã đánh “lạc hứơng” cảm xúc ta rồi! Vỏ não khi đã tập trung vào hơi thở thì “quên” tập trung vào các chuyện linh tinh khác.
Cách đơn giản này có khả năng giải stress rất tốt. Tập luyện đúng mức, não thùy sẽ tiết ra một kích thích tố gọi là endorphine, một thứ á-phiện nội sinh, làm cho dịu nhẹ toàn thân, tạo sự sảng khoái, lâng lâng, mà không gây tác dụng phụ.
Thiền, yoga, dưỡng sinh, tài chí, khí công… đều là những cách làm cho thân tâm hợp nhất, làm cho ta quay trở lại với chính mình bằng cách lắng nghe hơi thở của chính mình (có thể kết hợp với động tác hay không cần động tác) đó thôi. Hiện nay các kỹ thuật này ngày càng được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi ở các Trung tâm y khoa lớn trên thế giới để trị liệu các bệnh do stress gây ra, các chứng trầm cảm, tâm thần, lo âu, đau nhức…, kể cả nghiện rượu, thuốc lá,… một cách rất có hiệu quả.
BS Đỗ Hồng Ngọc
Anh chị Thụ & Mai gởi
Ghi thêm: Đọc kinh mân côi hay kinh lòng thương xót Chúa, đọc liên tục như vậy chừng hai chục đến năm chục kinh là ngủ. Nhớ phó thác cho Thiên Chúa mọi sự, phó thác những điều mình biết không thể giải quyết được dể Chúa lo.
Phùng văn Phụng
Mùa Chay là con đường của niềm hy vọng
Linh Tiến Khải – R. Vatican
Mùa Chay là thời gian ăn chay hãm mình để sống lại với Chúa Kitô, để canh tân căn tính được rửa tội của chúng ta, nghĩa là tái sinh từ “bên trên”, từ tình yêu của Thiên Chúa. Mùa chay là lộ trình của hy vọng, là dấu chỉ bí tích của sự hoán cải, đòi hỏi nhiều dấn thân.
ĐTC Phanxicô đã nói như trên với hơn 30.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi tiếp kiến chung sáng 1-3-2017.
Trong bài huấn dụ ĐTC đã dựa trên trình thuật ơn gọi của ông Môshê như kể trong chương 3 sách Xuất Hành để khai triển đề tài “mùa Chay như con đường của niềm hy vọng”.
Ngài nói: Thật thế viễn tượng này trở thành hiển nhiên, nếu chúng ta nghĩ rằng mùa Chay đã được Giáo Hội thành lập như thời gian chuẩn bị cho lễ Phục Sinh, và vì vậy tất cả ý nghĩa của thời gian 40 ngày này nhận lấy ánh sáng từ mầu nhiệm vượt qua mà nó hướng tới. Chúng ta có thể tưởng tượng Chúa Phục Sinh mời gọi chúng ta ra khỏi các tối tăm của mình, và tiến bước tới với Ngài là Ánh Sáng. ĐTC định nghĩa mùa Chay như sau:
Mùa Chay là một con đường hướng về Chúa Giêsu Phục Sinh, một giai đoạn của sám hối, hãm mình nhưng không phải là mục đích cho chính nó, nhưng là nhắm làm cho chúng ta chỗi dậy với Chúa Kitô, canh tân căn cước là tín hữu được rửa tội của chúng ta, nghĩa là tái sinh từ “trên cao”, từ tình yêu của Thiên Chúa ( Ga 3,3). Đó chính là tại sao muà Chay, tự bản chất của nó, lại là thời gian của niềm hy vọng.
** Để hiểu rõ hơn nó là gì chúng ta phải quy chiếu kinh nghiệm nền tảng cuộc xuất hành của dân Israel ra khỏi Ai Cập, như được Thánh Kinh kể trong sách Xuất Hành. Điểm khởi hành là điều kiện nô lệ bên Ai Cập, sự áp bức, các lao động cưỡng bách. Nhưng Chúa đã không bỏ rơi dân Ngài và lời hứa của Ngài: Ngài kêu gọi ông Môshê, và với canh tay uy quyền mạnh mẽ, Ngài cho dân Israel ra khỏi Ai Cập và hướng dẫn họ đi qua sa mạc tiến về miền Đất của tự do. Trên con đường từ nô lệ sang tự do đó, Chúa ban cho dân Israel luật lệ để giáo dục họ yêu Ngài là Chúa duy nhất, và yêu thương nhau như anh em.
Thánh Kinh cho thấy rằng cuộc xuất hành dài và vất vả, nó kéo dài một cách biểu tượng 40 năm, nghĩa là thời gian cuộc sống của một thế hệ. Một thế hệ mà trước các thử thách của lộ trình, đã luôn luôn bị cám dỗ tiếc nuối Ai Cập và trở lại đàng sau. Cả chúng ta tất cả cũng biết cái cám dỗ trở lại đàng sau. Nhưng Chúa luôn trung thành, và dân đáng thương ấy được hướng dẫn bởi ông Môshê đi tới Đất hứa. Tất cả con đường này đã thành toàn trong hy vọng: hy vọng đạt tới Đất hứa và chính trong nghĩa này nó là một cuộc “xuất hành”, một cuộc đi ra khỏi nô lệ tới tự do. Và đối với tất cả chúng ta 40 ngày này cũng là một đi ra khỏi nô lệ, khỏi tội lỗi để đến với tự do, để gặp gỡ Chúa Giêsu Phục sinh.
Mỗi bước đi, mỗi mệt nhọc, mỗi thử thách, mỗi té ngã, và mỗi đứng dậy, tất cả chỉ có nghĩa bên trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, là Đấng muốn sự sống cho dân Ngài chứ không phải cái chết, niềm vui chứ không phải khổ đau.
Tiếp tục bài huấn dụ ĐTC nói:
** Lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu là cuộc xuất hành của Ngài, qua đó Ngài đã mở ra cho chúng ta con đường để đạt tới cuộc sống tràn đầy, vĩnh cửu và hạnh phúc. Để mở ra con đường này, việc vượt qua này, Chúa Giêsu đã phải tự lột bỏ vinh quanh của Ngài, hạ mình, vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Việc mở đường cho chúng ta đã khiến cho Ngài phải đổ tất cả máu mình ra, và nhờ Ngài chúng ta được cứu thoát khỏi nô lệ tội lỗi. Nhưng điều này không có nghĩa là Ngài đã làm tất cả, và chúng ta không phải làm gì hết, rằng Ngài đã đi qua thập giá và chúng ta “đi vào thiên đàng bằng xe”. Không phải thế đâu. Sự cứu rỗi của chúng ta chắc chắn là ơn của Ngài, bởi vì là một lịch sử của tình yêu, nó đòi hỏi tiếng “có” của chúng ta và sự tham dự của chúng ta vào tình yêu của Ngài , như Mẹ Maria chứng minh cho chúng ta thấy, và sau Mẹ là tất cả các Thánh.
ĐTC nói thêm trong bài huấn dụ: mùa Chay sống cái năng động đó: Chúa Kitô đi trước chúng ta với cuộc xuất hành của Ngài, và chúng ta đi qua sa mạc nhờ Ngài và theo sau Ngài. Ngài bị cám dỗ vì chúng ta và đã chiến thắng Tên Cám Dỗ cho chúng ta, nhưng cả chúng ta nữa cũng phải cùng Ngài đương đầu với các cám dỗ và thắng vượt chúng. Ngài cho chúng ta nước của Thần Khí Ngài, và chúng ta phải kín múc lấy từ suối nguồn của Ngài và uống, trong các Bí Tích, trong lời cầu nguyện, trong sự thờ lậy. Ngài là ánh sáng chiến thắng bóng tối, và chúng ta được đòi hỏi dưỡng nuôi ngọn lửa nhỏ đã được tín thác cho chúng ta trong ngày chúng ta lãnh bí tích Rửa Tội.
Trong nghĩa đó, mùa Chay là “dấu chỉ bí tích sự hoán cải của chúng ta” (Sách lễ Roma, Lời nguyện Chúa Nhật I mùa Chay); ai đi trên con đường mùa Chay, thì luôn luôn ở trên con đường con của sự hoán cải, của con đường từ nô lệ sang tự do, cần canh tân luôn luôn. Một con đường chắc chắn dấn thân, như đúng đắn phải là như thế, bởi vì tình yêu luôn luôn đòi hỏi dấn thân, nhưng là một con đường tràn đầy hy vọng. Tôi còn nói hơn thế nữa: sự xuất hành mùa chay là con đường trên đó chính niềm hy vọng được thành hình. Sự mệt nhọc đi qua sa mạc – mọi thử thách, các cám dỗ, các vỡ mông, các ảo tưởng – tất cả có giá trị rèn luyện một niềm hy vọng mạnh mẽ, vững vàng, theo mô thức niềm hy vọng của Đức Trinh Nữ Maria, là Đấng giữa các tối tăm của cuộc khổ nạn và cái chết của Con Mẹ vẫn tiếp tục tin và hy vọng vào sự phục sinh của Ngài, vào chiến thắng của tình yêu Thiên Chúa . Với con tim rộng mở cho chân trời này, hôm nay chúng ta hãy bước vào trong mùa Chay. Cảm thấy mình là thành phần của dân Thiên Chúa chúng ta hãy tươi vui bắt đầu con đường hy vọng này.
. ** ĐTC đã chào các đoàn hành hương nói tiếng Pháp, đặc biệt các bạn trẻ đến từ Paris, Pignan, Saint Cloud, cũng như các tín hữu đến từ Thụy Sĩ và Bỉ. Ngài cũng chào các nhóm đến từ Nam Hàn, Hoa Kỳ và các nước nói tiếng Anh khác, cũng như các đoàn hành hương Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và các nước châu Mỹ Latinh. ĐTC khích lệ mọi người sống Mùa Chay tươi vui trong tình bác ái đối với các anh chị em túng thiếu nghèo khổ. Chỉ như thế tín hữu mới thực sự cảm thấy mình là thành phần dân Chúa và anh chị em trong cùng một nhiệm thể Chúa Kitô là Giáo Hội. Ngài cũng cầu chúc chuyến hành hương Roma củng cố họ trong niềm hy vọng vào tình yêu thương của Thiên Chúa là mối dây nối kết tất cả trong đại gia đình của Thiên Chúa là Giáo Hội, cũng như trong gia đình của từng người và trong toàn xã hội.
Chào các tín hữu Ba Lan ngài nói lễ Tro nhắc cho mọi người nhớ tới sự mỏng giòn của cuộc sống con người và của thế giới. Nó thôi thúc chúng ta nhìn vào giáo huấn của Chúa Giêsu, hoán cải tin vào Tin Mừng và hoà giải với Thiên Chúa và với nhau.
Trong các nhóm nói tiếng Ý ĐTC đặc biệt chào hội « Bạn của con tim » tỉnh Altamura, các học sinh các tỉnh Civitavecchia, Legnano, Cislago, Thiene và Cefalù, cũng như sinh viên học viện du lịch Livia Bottardi Roma, và trường kitô hoà lan Meppel. Ngài cầu mong cuộc gặp gỡ đầu mùa Chay khơi dậy nơi họ nỗ lực canh tân tinh thần bằng cách tham dự vào các buổi cử hành mùa chay và các chiến dịch quyên góp bác ái để trợ giứp các anh chị em nghèo túng đó đây trên thế giới.
Chào các bạn trẻ, người đau yếu và các đôi tân hôn, ngài xin Chúa chỉ cho họ con đường hy vọng và xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn họ trong việc hoán cải đích thực, thanh tẩy tội lỗi và phục vụ Chúa Kitô hiện diện nơi tha nhân.
Buổi tiếp kiến đã kết thúc với kinh Lậy Cha và phép lành toà thánh ĐTC ban cho mọi người.
Anh chị Thụ Mai gởi
28 Tháng Hai
Nụ Cười Của Bà Sarah
Kinh thánh thuật lại rằng, khi bà Sarah, vợ của tổ phụ Abraham, một lão bà gần đất xa trời, được Chúa cho biết là sẽ cưu mang và sinh con, bà đã có một phản ứng thật là người và cũng thật là kỳ diệu: bà đã cười!
Phải, bà cụ già Sarah có lẽ đã cười nắc nẻ khi đứng trước một hoàn cảnh xem ra trớ trêu như thế: một người đàn bà trên 70 tuổi mà còn được Thiên Chúa cho có con!… Thiên Chúa xem ra thích khôi hài!
Và khi Thiên Chúa hỏi tại sao cười, Sarah lại chối rằng mình đã không hề cười. Có lẽ do sợ hãi mà Sarah đã nín cười. Sự sợ hãi có lẽ không còn cho con người được nhìn thấy khía cạnh đáng cười, đáng vui trong cuộc sống… Nhưng liền sau khi sinh con, bà Sarah đã tìm lại được óc khôi hài cho nên bà đã đặt cho đứa con một cái tên khá ngộ nghĩnh là Issac; Issac theo tiếng Do Thái có nghĩa là được sinh từ một người đã cười…
Cười, cười một cách lạc quan: có lẽ đó là một trong những nét nổi bật của người có niềm tin. Người ta thường định nghĩa rằng: một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn… Tất cả các vị thánh đều là những người có óc khôi hài. Các ngài là những con người đã từng biết cười với cuộc sống với tha nhân.
Thánh Phanxicô thành Assisi, vị sứ giả của Hòa Bình, đã có lần tuyên bố: “Hãy trả lại sự buồn phiền cho ma quỷ, bởi vì chỉ có ma quỷ mới có đủ lý do để buồn phiền”.
Cha sở họ Ars, là thánh Gioan Maria Vianey, mặc dù thường được người ta tạc tượng như một con người buồn bã, ảo não, nhưng kỳ thực không ai có tâm hồn vui tươi lạc quan như Ngài. Thánh nhân đã nói: “Linh hồn của những ai phục vụ Chúa đều được tràn ngập vui mừng, họ luôn luôn sống như nghỉ ngơi và luôn luôn sẵn sàng để ca hát…”
Thánh Thomas Moore khi bị đưa lên máy chém, đã nói đùa với người lý hình rằng hãy để cho ngài được giúp một tay, cho việc hành quyết được dễ dàng. Ngài còn nói thêm rằng, sau khi đã chém đầu ngài, chớ đụng đến bộ râu vì bộ râu của ngài không hề phản bội một ai…
Một vị tu sĩ nào đó vào thời Trung Cổ đã viết như sau: “Một nụ cười và óc khôi hài thu hút được nhiều người đến với tôn giáo hơn là những khuôn mặt dài vì ủ dột”.
Chúa Giêsu bảo chúng ta rằng: khi ăn chay hãm mình hãy xức dầu thơm vào người.
Còn thứ dầu thơm nào quý giá hơn để tô thắm cho gương mặt của chúng ta cho bằng niềm vui.
Cuộc sống dù có trămnghìn vất vả, đau thương vẫn là cuộc sống đã được Chúa trao ban như một kho tàng cao quý nhất.
Tình đời có đen bạc, nhân nghĩa có phôi pha: những con người đang sống với chúng ta vẫn là những người con cái Chúa và là anh em của chúng ta.
Hãy cười với cuộc sống, hãy cười với người anh em của chúng ta: đó là sứ điệp của Kitô Giáo mà trọng tâm chính là Mầu Nhiệm Phục Sinh. Qua Mầu Nhiệm ấy, Thiên Chúa đã cười cợt, thách thức tội lỗi và sự chết. Sự Sống và Niềm Hy Vọng đã phát sinh từ cái chết của Ðức Kitô.
Trích sách Lẽ Sống