XỨ SỞ NÀY NỢ ÔNG ẤY LỜI TRI ÂN

XỨ SỞ NÀY NỢ ÔNG ẤY LỜI TRI ÂN

LS Đặng Đình Mạnh

12-3-2017

Khi đọc những dòng chữ Việt ngữ này, là bạn đang chiêm ngưỡng tác phẩm của các linh mục thừa sai Dòng Tên gồm các cha Gaspar De Amaral, cha Antonio Barbosa, cha Francisco De Pina và cha Alexandre De Rhodes, tất cả họ đều là tác giả của quốc ngữ mà người Việt ta đang sử dụng hàng ngày.

Với linh mục Gaspar De Amaral, cha đã soạn cuốn từ điển Việt – Bồ. Với linh mục Antonio Barbosa, cha soạn cuốn từ điển Bồ – Việt. Với linh mục Francisco De Pina, được cho là cha đã dựa vào cách phát âm tiếng Bồ để chuyển tự ghi chép tiếng Việt khi ông vào Đàng Trong (Từ sông Gianh trở vào Nam). Nhưng các cha đều mất khá sớm, tuy vậy, cùng với một số linh mục khác trong giai đoạn tiên khởi này, các cha đã giúp đặt nền móng đầu tiên cho quốc ngữ Việt Nam.

Với linh mục Alexandre De Rhodes, thì cha đã dựa vào hai công trình từ điển nêu trên và bổ sung thêm phần La tinh để hình thành nên cuốn từ điển Việt – Bồ – La.

Thực tế, chính việc bổ sung phần La tinh của cha Alexandre De Rhodes đã trở thành đóng góp quan trọng bậc nhất giúp hình thành nên chữ viết theo lối La tinh mà sau đó nhanh chóng trở thành quốc ngữ Việt Nam.

Đánh giá về vai trò của linh mục Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh nên quốc ngữ Việt Nam, tờ Nguyệt San MISSI do các linh mục Dòng tên người Pháp quản lý đã từng viết nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông, đại lược như sau : “Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, cha Alexandre De Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến ba thế kỷ”.

Quả vậy, khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách in quyển từ điển và các sách đầu tiên bằng chữ quốc ngữ tại nhà in Vatican – Roma, thì cha Alexandre De Rhodes đã giải phóng cho nước Việt Nam về chữ quốc ngữ.

Bởi lẽ trước đó, tương tự như Nhật Bản và Cao Ly (Triều Tiên), thì người Việt Nam sử dụng lối chữ viết tượng hình, biểu ý của người Tàu hoặc chữ nôm do tự sáng chế và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Cao Ly mới chế biến ra chữ viết riêng của họ, nhưng vẫn không theo cách viết La tinh nên bị hạn chế nhiều. Còn người Nhật Bản thì sau nhiều lần thử nghiệm chế biến lối chữ viết khác, nhưng cuối cùng đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình, biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, chính người Tàu dưới chế độ cộng sản của Mao Trạch Đông cũng đã từng tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Alexandre De Rhodes, đã tiến bộ trước người Tàu đến hơn ba thế kỷ rưỡi (1651 – 1017 – tính từ năm in cuốn từ điển Việt – Bồ – La đến thời điểm hiện nay.

Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng mình cha Alexandre De Rhodes khởi xướng ra chữ Quốc ngữ. Trước đó, các cha thừa sai Dòng Tên người Bồ Đào Nha ở Ma Cao đã nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt, viết bằng các mẫu tự La Tinh rồi. Tuy nhiên, chính cha Alexandre De Rhodes là người hệ thống hóa, hoàn tất công trình làm ra chữ quốc ngữ thành công vào năm 1651, tức là năm mà cuốn tự điển Việt – Bồ – La chào đời tại nhà in Vatican – Roma.

Thế nên, chính tại nhà in Vatican ở Roma là nơi mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình, và chính năm 1651 cũng là năm khai sinh chính thức của chữ quốc ngữ Việt Nam.

Theo đó, chữ viết theo lối La tinh ban đầu được các nhà truyền giáo đặt nền móng cho việc sử dụng trong cộng đồng Ki-tô giáo Việt Nam, đến khi được người dân Việt Nam chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, thì mặc nhiên nó đã tự mình được nâng cấp thành chữ quốc ngữ.

Ghi nhận công nghiệp của cha Alexandre De Rhodes đối với xứ sở, năm 1941, một tấm bia kỷ niệm nhân ngày sinh nhật thứ 350 của cha đã được dựng ở gần bên bờ Hồ Gươm trước cửa đền bà Kiệu – Hà Nội. Đến năm 1957, khi Hà Nội thuộc sự quản lý của chính quyền Cộng Sản thì bia đã bị gỡ bỏ.

Chính quyền Sài Gòn cũ đặt tên ông cho một con đường tọa lạc trước mặt Dinh Độc Lập, nay là Dinh Thống Nhất, đối xứng với phía bên kia là đường Hàn Thuyên, tên danh sĩ được ghi nhận có công phát triển và phổ biến lối chữ Nôm. Sau năm 1975, chính quyền cộng sản đổi tên đường thành Thái Văn Lung và bây giờ thì đã trả lại tên cũ là Alexandre De Rhodes cho con đường này.

Về tiểu sử : Nguyên, cha Alexandre De Rhodes (Đắc Lộ) sinh ngày 15/03/1591 (hay 1593 ?) tại vùng Avignon, miền nam nước Pháp. Gia đình ông thuộc gốc Do Thái ở thành phố Rhodes (bán đảo Iberia), tổ tiên sang tị nạn ở vùng Avignon là đất của Giáo Hoàng. Ông gia nhập Dòng Tên tại Roma năm 1612, thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển mạnh mẽ.

Đầu năm 1625, cha Alexandre De Rhodes đến Việt Nam bắt đầu từ Hội An. Cha bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Việt là Đắc-Lộ. Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của cha. Nhưng cuộc đời truyền giáo của cha ở đây rất gian nan, trong vòng 20 năm, cha bị trục xuất đến sáu lần. Đến năm 1645, cha bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. Cha mất ngày 5/11/1660 ở Iran, thọ 69 tuổi.

Hiện nay, ở Việt Nam đã từng xuất hiện ý kiến phủ nhận công lao đóng góp của cha Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh chữ quốc ngữ, một trong số họ nêu quan điểm : “Alexandre De Rhodes làm sách bằng chữ quốc ngữ là để phụng sự cho việc truyền bá đức tin Ki-tô giáo, chứ tuyệt đối không vì bất cứ một lợi ích nhỏ nhoi nào của người Đại Việt cả. Người Việt Nam đã tận dụng chữ quốc ngữ, mà một số cố đạo đã đặt ra, với sự góp sức của một số con chiên người Đại Việt, để làm lợi khí cho việc giảng đạo, thành lợi khí của chính mình để phát triển văn hóa dân tộc, để chuyển tải một cách đầy hiệu lực những tư tưởng yêu nước và những phương thức đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp. Đây chẳng qua là chuyện “gậy ông đập lưng ông” mà thôi. [1]

Riêng đối với công chúng, thì :

– Lối chữ viết đã trở thành quốc ngữ của xứ sở với chín mươi triệu đồng bào cả trong và ngoài nước cùng sử dụng;

– Lối chữ viết được dùng để thể hiện những dòng lịch sử oai hùng của dân tộc từ thuở hồng hoang đến nay;

– Lối chữ viết được dùng để thể hiện lời ru “Ầu ơ …” ân cần của mẹ từ ngày sinh ra ta làm kiếp người;

– Lối chữ viết được dùng để thể hiện sự yêu thương giữa những thành viên trong gia đình, giữa những đôi tình nhân, giữa những người tri kỷ …

– Lối chữ viết được dùng thể hiện ca từ những nhạc phẩm bất tử như Bạch Đằng Giang, Hội nghị Diên Hồng, Trưng Nữ Vương, Lòng mẹ, Tình ca …

– Lối chữ viết mà dân ta có thể tự hào là riêng biệt trong khi rất nhiều quốc gia khác, kể cả nhiều cường quốc vẫn còn phải vay mượn (Úc, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Ấn Độ, Gia Nã Đại, Nhật Bản, Đại Hàn …);

Thì người khai sinh của lối chữ viết ấy chắc chắn phải là ÂN NHÂN của xứ sở mình, bất kể đến quốc tịch của họ, bất kể đến tôn giáo của họ và bất kể đến động cơ của họ khi khai sinh lối chữ ấy !

Và với chế độ :

– Lối chữ viết được Ông Hồ Chí Minh dùng để viết lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh chế độ;

– Lối chữ viết được dùng để thể hiện Hiến pháp quy định sự độc tôn chính trị của Đảng Cộng Sản;

– Lối chữ viết được dùng trong tất cả mọi sinh hoạt chính trị, hành chính, xã hội, kinh tế, giáo dục, văn hóa …

– Lối chữ viết mà hơn 700 tờ báo của chế độ đang dùng;

– Lối chữ viết mà hơn 24.000 vị tiến sĩ khoa bảng quốc gia đang dùng;

– Lối chữ viết mà hơn 400 trường Đại học, cao đẳng các loại và hàng vạn trường học các cấp đang dùng;

Nhưng lại không mấy ai trong số họ nhắc đến ngày sinh nhật của cha Alexandre De Rhodes, người có công khai sinh lối chữ viết mà nghiễm nhiên đã là quốc ngữ của xứ sở, như là một trong những ân nhân của dân tộc này thì thật là đáng thất vọng !

Tôi tin rằng, xứ sở này nợ ông ấy lời tri ân !

——————

[1] http://antg.cand.com.vn/vi-VN/ktvhkh/2010/9/73427.cand

Đất & Người Hà Nội- S.T.T.D Tưởng Năng Tiến –

Đất & Người Hà Nội- S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

tuongnangtien's picture

Nếu buộc chỉ được giữ riêng cho mình một bản nhạc Việt thôi, có lẽ, tôi sẽ chọn “Giấc Mơ Hồi Hương” của Vũ Thành (Lìa xa thành đô yêu dấu/một sớm khi heo may về/lòng khách tha hương vương sầu thương/nhìn “em” mờ trong mây khói/ bước đi nhưng chưa nỡ rời/ lệ sầu tràn mi/ đượm men cay đắng biệt ly) dù chưa bao giờ được đặt chân đến “thành đô yêu dấu”!

Có lúc, tôi còn chợt nghĩ thêm rằng: “Nếu sáng mai mở mắt và chợt thấy mình đang đứng giữa Ba Mươi Sáu Phố Phường thì chắc chắn (sau một thoáng ngỡ ngàng) tôi sẽ hớn hở dạo quanh khắp Hà Thành, cứ như một chú cá hồi đang hăm hở tìm về sông xưa, bến cũ vậy.

Và nếu trong số bạn đồng hành có ai vui miệng, chỉ trỏ, liếng thoắng, giới thiệu chỗ này, nơi nọ (Tháp Rùa, Hồ Gươm, Văn Miếu, Chùa Một Cột, Đền Ngọc Sơn, Cầu Thê Húc, Ô Quan Chưởng, Thành Cổ Loa …) dám tôi sẽ gắt: “biết rồi nói mãi!”

Mà sự thực thì đúng thế. Tui  biết hết trơn từ lâu. Mọi danh lam thắng cảnh ở đất Thăng Long nào có lạ gì. Tôi đều đã xem qua hình ảnh, ít nhất, cũng cả ngàn lần rồi chớ bộ.

Món ngon Hà Hội, tôi cũng đã được thưởng thức (đều đều) qua sách báo, chả thiếu thứ chi: chả cá Lã Vọng, bún chả Thăng Long, bánh tôm Cổ Ngư, bánh cuốn Thanh Trì, phở ghánh Hàng Trống, kem dừa hồ Gươm …

Cho mãi đến hôm nay, khi tóc đã đổi mầu, Hà Thành vẫn là nơi mà tôi ước ao được sống qua những ngày thơ ấu. Đối với một đứa bé sinh trưởng ở Á Châu thì có  nơi nào (và lúc nào) mà cuộc đời rộn rã, tưng bừng và hào hứng hơn ở  Hà Nội – vào một chiều mưa?

Đó là những buổi chiều vàng. Chỉ hình dung ra thôi cũng thấy sung sướng và thích thú đến run người. Coi: già, trẻ, lớn, bé đều hăm hở (và hớn hở) đổ túa hết ra đường với thau chậu, rổ rá, lưới vợt … cầm sẵn trong tay. Vui còn hơn Tết nữa!

Có vụng về lắm thì cũng vồ được một hai ký chớ. Ít nhất thì cũng phải đủ cho một ơ cá rô kho tộ, một tô canh chua cá lóc, và vài con cá chép chiên dòn. Ăn rồi (dám) nhớ cho tới chết!

Ảnh: vnexpress

Ngoài hương vị của thức ăn thanh khiết, phong cảnh hữu tình, và văn hóa nền nã, Hà Nội còn ghi đậm trong trí nhớ của tôi cả trang sách viết về những ngày tháng hào hùng (“ngoài sức tưởng tượng”) nữa. Đọc mà cứ thấy thương mãi những đứa con người dũng cảm của mảnh đất ngàn năm văn vật:

“Ba phát đại bác cách nhau một phút một, ba hỏa pháo xanh tím xanh, tám giờ mười chín phút tối 19-12, tất cả tự vệ chiến đấu bỏ chạy hết, lũ chúng tôi, Tự Vệ Thành mà người ta gọi là Tự Vệ Công Tử, lũ chúng tôi đã khởi đầu cuộc kháng chiến toàn quốc…

Người ta vẫn cho Tự Vệ Thành là chỉ biết ăn diện, mèo chuột, vì đã có tự vệ chiến đấu giữ thủ đô. Nhiều tiếng xì xào bi thử: Tiểu tư sản! Và dư luận khinh miệt chúng tôi đến nỗi chính chúng tôi cũng tưởng rằng chỉ cần nghe tiếng súng nổ, ấy là anh em tự vệ Thành đã kịp chạy lên đến trung tâm an toàn khu ‘lánh nạn’ rồi!

Thế mà khi nghe tiếng súng nổ lại chỉ thấy mặt toàn những thứ tự vệ tóc chải bóng, giầy còn bóng hơn tóc, và nếp quần thẳng tắp như xe chỉ…

Súng rộn lên hơn pháo tết. Cái tết oanh liệt nhất của thành Thăng Long, kể từ tết của vua Quang Trung năm Kỷ Dậu. Chúng tôi giữ thành được hơn 1 tháng, người biến thành chuột, chui rúc, leo trèo, hầm hố, cống rãnh, kẽ ngạch, gầm thang, vừa cố sống vừa chiến đấu.

Chiến đấu! Tiếng hét thất thanh đêm 19-12.

Chiến đấu, tiếng tự nhiên của những tâm hồn can trường, nhưng chiến đấu lại cũng là tiếng ngại ngùng, hỗn hợp, hay có khi sợ hãi, trong những kẽ không ngờ đã biến thành chiến sĩ vào 1 đêm lịch sử. Này cụ Ký già sở Địa ốc, này ông bác sĩ Th trắng, béo tròn, này em học sinh niên thiếu, giữa buổi họp tối 20, dưới hầm rạp ciné hàng Bạc, trong tia mắt mỗi người đều có cả 1 cơn sốt rét. Thế nhưng, nhưng đến lúc phải giơ tay xung phong vào những tiểu tổ liên lạc – liên lạc, trên một chiến trường chưa có giới tuyến rõ rệt có là gì khác sự dấn thân vào chỗ chết?

Những cử chỉ đẹp, xưa nay chỉ đọc thấy trong sách – mà chúng ta vẫn coi là những câu chuyện bịa đặt, nhằm mục đích tuyên truyền giáo lý, những cử chỉ đẹp, đẹp hơn trong sách nữa … đã khiến cho 2 giọt lệ chân thành cảm phục phải đọng trên khóe mắt của một bạn Hoa kiều:

– Dì oai ti! Dì oai ti!

Dì oai ti! Ý ngoại địa, ngoài sức tưởng tượng, người Hoa kiều thốt lên câu nói ấy là phải lắm!” (Nguyễn Kiên Trung. Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử . Sài Gòn: NXB Nguyễn Đình Vượng, 1958)

Nguyễn Kiên Trung là bút hiệu của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn. Ông sinh năm 1920 và đã mất năm 1979 trong lao tù cộng sản. Những người dân Hà Thành can trường (“ngoài sức tưởng tượng”) như thế hệ của ông, nay,  cũng không còn:

Nhưng người Hà Nội đến lạ! Họ biết Xã Hội Chủ Nghĩa là cái bánh vẽ cực kỳ thối tha mà cứ hớn hở ngồi vào lột lá bóc ăn và xơn xớt khen ngon khen ngọt đến nỗi người ngoài nhìn vào phát thèm.

Họ biết Hồ Chí Minh gian manh xảo trá mà cứ ngoác miệng ngợi ca lúc ông ta còn sống và khóc khô nước mắt khi ông chết. Họ biết bè lũ kế thừa đang đi tiếp con đường của ác quỉ mà vẫn tranh nhau làm tôi mọi, cúc cung tận tụy.

Họ biết lịch sử đang rao giảng là thứ cực kỳ giả dối nhưng học thuộc vanh vách, nếu có ai mạnh dạn đính chính thì phồng mang trợn mắt, cãi cối cãi chầy như sợ mất đi độc quyền làm thân sáo vẹt. Họ nhận quá nhiều đau khổ do độc tài đảng trị nhưng không dám đối mặt với kẻ thù cứ ươn hèn đổ vạ cho phong kiến, cho tư sản, cho địa chủ, cho Mỹ Ngụy, xua con em vào chết ở miền Nam mà không biết đang hiến máu cho hung thần và đang hy sinh cho một thiên đường mù.

 Ngoại trừ một số rất ít sớm thức tỉnh như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Trần Xuân Bách, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Dương Thu Hương, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc … tôi chưa thấy một tổ chức nào bi phẫn, chưa thấy một đoàn thể nào muốn nắm tay nhau liên kết xuông đường biểu tình, họp mít-tinh  vạch mặt chỉ tên bè lũ tay sai Nga – Hoa, tập đoàn phi nhân bản, phản nhân quyền, bọn bán nước cầu vinh(Vũ Điện Biền. Phiên Bản Tình Yêu. Fall Church, VA: Tiếng Quê Hương, 2013).

Ảnh: Dân Làm Báo

Cái nhìn thượng dẫn của một người cầm bút, xem ra, lại hoàn toàn trùng hợp với nhận định của một người cầm lái – theo như lời kể của Tiến Sĩ Mạc Văn Trang, vào hôm 23 tháng 2 năm 2017 vừa qua:

“Mỗi lần mình đi taxi hay gợi chuyện để anh tài nói cho nghe nhiều chuyện thực tế thú vị. Lần này, anh tài toàn nói lý lẽ…

– Cơ chế này tạo ra cho người lãnh đạo như vua, chức bé thì vua bé, chức to thì vua to; từ HT, chủ tịch phường, xã trở lên, ‘vua’ tất! Chủ trương, quyết định thì từ trên xuống, nhưng tiền bao giờ cũng chảy ngược từ dưới lên, bác biết không? Trên không cho chủ trương, không duyệt sao dưới dám làm? Bác nhìn 2 bên đường xem, nhà mấy chục tầng xây liền nhau san sát thế kia, có quy hoạch thành phố nào như vậy không? Nhưng trên vẫn ký cho dưới làm liều, và tiền chảy ngược lên. Bây giờ xử bắn mấy anh ở Vinashine, Vinaline hay kỷ luật mấy anh liên quan Formosa… chỉ là cái ngọn, để an dân thôi. Cái gốc là người ký chủ trương từ trên cao chứ. Và tiền cũng chảy ngược lên, càng cao càng chảy mạnh chứ… Cho nên nó dột từ nóc dột xuống…

          – Cậu phân tích hay thật. Nhưng liệu dân ta có nhiều người biết được như cậu không?

– Biết hết chứ bác! Dân ta ai chẳng biết chế độ này thối nát thế nào, nhưng không muốn nói ra. Nhất là dân Hà Nội, hèn lắm bác ạ. Cái gì họ cũng biết, nhưng họ sợ, họ ngại không dám thể hiện. Họ muốn thay đổi nhưng chờ ai đó làm giúp, chứ bản thân lại hãi! Dân miền Trung hay miền Nam họ bộc trực hơn, dũng cảm hơn và cũng đoàn kết, có tổ chức hơn.”

Câu nói của ông tài xế taxi khiến mặt tôi đỏ lên vì ngượng. Tất nhiên, tôi không dám ngượng thay cho dân Hà Nội. Cái thứ đàn ông bỏ chạy trong cơn quốc biến, như tôi, và chạy mất dép (luôn) cho mãi đến cuối đời thì còn dám ngượng “thay” cho ai nữa!

Lời nói thiện

Lời nói thiện

Cổ nhân có câu : “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Đôi khi, chỉ một câu nói thiện ý có thể giúp người khác đứng dậy đi tiếp, nhưng một câu nói “không thiện ý” lại đẩy người khác đến đường cùng…

Dựa vào cảm nhận, chúng ta sẽ thấy rằng, bất cứ một lời nói nào đều sẽ đem lại những kết quả khác nhauLời tốt đẹp khích lệ người khác sẽ giúp họ làm những việc thiện lành, còn lời nói ác đả thương người lại có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Kẻ xấu tạo tin đồn làm hại người khác vẫn tự cho mình là nghĩ được kế hay, nhưng họ đâu biết rằng những gì chờ đợi họ ở phía trước lại là hận thù hay báo ứng.

Ngôn ngữ là cây cầu kết nối giữa người với người, cũng là phương tiện quan trọng để chúng ta nhận thức thế giới bên ngoài. Vậy nên, nếu muốn nói rõ ràng, nói thú vị, làm người nghe vui vẻ hài lòng, dễ nghe lọt tai, thì tâm phải luôn từ bi, nói lời thiện. Như thế chúng ta mới có thể tạo phúc cho mọi người và kết được nhiều thiện.

Miệng người lợi hại tựa như đao kiếm sắc bén. Nhưng miệng thông thường lại chính là thứ dễ tạo nghiệp nhất. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta sẽ gặp không ít người có tài ăn nói, biết cách chuyện trò. Nhưng tiếc là khả năng nếu bị đặt nhầm chỗ, họ lại nói lời chanh chua cay nghiệt, không cho người khác có chút cơ hội để biểu đạt ý kiến.

Trong cuộc sống thường ngày, nếu như ai đắc tội với họ, họ sẽ dùng hết khả năng miệng lưỡi, nghiến răng chửi bới, không ngừng cười nhạo châm biếm, dùng lời ác độc tấn công người khác. Họ sẵn sàng tiết lộ bí mật mười mấy năm hoặc chuyện riêng tư của người khác, làm người ta không còn thể diện, lòng tự trọng bị tổn thương nặng nề, họ sẽ trở nên vô cùng đáng thương…

Tôn Tử cũng từng nói : “Tặng người lời nói, quý như châu báu, hại người bằng lời, hơn cả kiếm giáo”.. Người chân chính sẽ không nói dối, không nói lời ác độc. “Ngồi tĩnh suy nghĩ lỗi của mình, khi rảnh rỗi trò chuyện cũng không nói xấu người khác” – đó không chỉ là việc tu tâm mà còn là của mỗi người trong chúng ta.

Anh chị Thụ & Mai gởi

NỖI ĐAU SẼ KHÔNG DỨT NẾU KHÔNG BIẾT TẠI SAO ĐAU.

From facebook:   Hằng Lê‘s post.
Image may contain: one or more people, people sitting and text

Hằng Lê

NỖI ĐAU SẼ KHÔNG DỨT NẾU KHÔNG BIẾT TẠI SAO ĐAU.

Em học sinh Việt Nam nằm gối đầu lên cặp sách, im lìm như đang ngủ trưa trong một bức hình đăng trên một tờ báo Mỹ. Các nhân viên y tế cứu thương chỉ vì quá thương xót mà tưởng như em còn biết đau nên đặt đầu em cao trên chiếc cặp vậy thôi. Không, em không ngủ trưa, em chết rồi. Em là một trong 32 học sinh trường tiểu học Cai Lậy, Định Tường, bị VC pháo kích chết lúc 2 giờ 55 chiều ngày 9 tháng 3, 1974. Em bị giết chỉ hơn một năm trước ngày chấm dứt chiến tranh để từ đó dân tộc Việt Nam chịu đựng trong độc tài đảng trị đến hôm nay.

Ai giết 32 em học sinh trường tiểu học Cai Lậy, Định Tường?

Các em chết vì đạn pháo kích của Việt Cộng. Vâng. Nhưng đa số tuổi trẻ VN sinh ra và lớn lên sau 1975 không biết sự thật đó. Các em chỉ được nhồi sọ về cái chết của “10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc”.

Ngã ba Đồng Lộc thuộc xã Đồng Lộc, Hà Tĩnh, nằm trên con đường chiến lược nối vào dãy Trường Sơn nên trong thời chiến thường bị Mỹ ném bom. Ngã ba Đồng Lộc gắn liền với chuyện 10 nữ thanh niên xung phong bị bom của Không lực Hoa Kỳ ném trúng ngay miệng hầm. Tiểu đội gồm 10 cô gái trẻ. Tất cả đều cùng quê hương Hà Tĩnh và đều chết tức khắc. Người nhỏ nhất là Vũ Thị Hà chỉ mới 17 tuổi.

Ai giết 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc?

Nếu hỏi 100 em học sinh Việt Nam thì đúng 100 em sẽ trả lời do bom của “Đế quốc Mỹ”.

Nhưng nếu không có “Đế quốc Mỹ” rồi 10 cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc và hàng triệu thanh niên miền Bắc vô tội có chết hay không?

Nếu hỏi 100 em học sinh Việt Nam thì đúng 100 em sẽ trả lời “Không”.

Thật ra, không có Mỹ các cô gái thanh niên xung phong đó cũng có thể chết. Nếu không chết tại Ngã Ba Đồng Lộc rồi cũng một ngã ba khác, một con đường khác, một thôn làng Việt Nam khác. Mười phần trăm dân số Việt Nam đã chết để tham vọng CS hóa Việt Nam của lãnh đạo CSVN và Quốc Tế được hoàn thành.

Số phận Việt Nam vốn đã nằm trong sinh tử lịnh của Mao và các lãnh đạo Trung Cộng không chỉ trước Điện Biên Phủ, sau hiệp Geneve, hiệp định Paris, biến cố Hoàng Sa, Trường Sa mà ngay từ khi đảng CSVN còn đang thai nghén trong nhận thức của Hồ Chí Minh.

Đường lối chiến tranh của Mao trong bài phát biểu tại Diên An: “Nhiệm vụ trung tâm và hình thức cao nhất của cách mạng là chiếm lấy quyền lực xuyên qua đấu tranh võ trang và giải quyết xung đột bằng chiến tranh. Đây là nguyên tắc cách mạng của chủ nghĩa Mác Lê-nin, và phải được thực hiện một cách toàn diện tại Trung Quốc và toàn thế thế giới”.

Đường lối đó chi phối toàn bộ chính sách của đảng CSVN. Quan hệ giữa hai đảng CS có khi nắng khi mưa, khi ấm khi lạnh nhưng đường lối đó chưa hề thay đổi.

Đáp ứng lời yêu cầu của Hồ Chí Minh trong chuyến thăm viếng Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ từ ngày 22 tháng 6 đến 22 tháng 7 năm 1955, các đảng CS đó đã bắt đầu gởi súng đạn ồ ạt đến miền Bắc Việt Nam. Tổng số viện trợ quân sự Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác giúp cho Hà Nội là 2 triệu 362 ngàn 581 tấn, trong đó bao gồm một danh sách dài của các loại vũ khí, từ 3 triệu 600 ngàn khẩu súng cá nhân cho đến 458 máy bay chiến đấu và hàng vạn đại pháo, hỏa tiễn nhiều loại.

Tài liệu đó không phải được trích dẫn từ các “thế lực thù địch” hay “thành phần phản động” nào mà là tài liệu của Viện Lịch sử Quân sự Hà Nội.

Trong tác phẩm Trung Quốc lâm chiến: Một bộ bách khoa (China at War: An Encyclopedia) tác giả Xiaobing Li liệt kê các đóng góp cụ thể của 320 ngàn quân Trung Cộng trong chiến tranh Việt Nam:

“Mặc dù đang mạnh dần, Trung Quốc vẫn lo ngại sự hiện diện ngày càng mở rộng của Mỹ tại Đông Nam Á. Trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn năm 1964 đến năm 1973, quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã can thiệp một lần nữa. Tháng Bảy năm 1965, Trung Quốc bắt đầu đưa quân vào Bắc Việt, bao gồm các đơn vị hỏa tiễn địa-không (SAM), phòng không, làm đường rầy xe lửa, công binh, vét mìn, hậu cần. Quân đội Trung Quốc điều khiển các giàn hỏa tiễn phòng không, chỉ huy các đơn vị SAM, xây dựng và sửa chữa đường sá, cầu cống, đường xe lửa, nhà máy. Sự tham gia của Trung Quốc giúp cho Việt Nam có điều kiện gởi thêm nhiều đơn vị Bắc Việt vào Nam đánh Mỹ. Giữa năm 1965 và năm 1968, Trung Quốc gởi sang Bắc Việt 23 sư đoàn, gồm 95 trung đoàn, tổng số lên đến 320 ngàn quân. Vào cao điểm năm 1967, có 170,000 quân Trung Quốc hiện diện”.

Từ năm 1955 và nhất là từ 1959, khi giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam quyết định mở đường Trường Sơn “giải phóng miền Nam bằng phương tiện võ lực”, số lượng cố vấn Mỹ tại miền Nam cũng chỉ là những nhóm nhỏ và tập trung vào việc bảo vệ và xây dựng căn nhà dân chủ vừa được dựng lên.

Hơn bao giờ hết, các nền dân chủ non trẻ tại Á Châu cần sự giúp đỡ của thế giới tự do. Cũng vào thời điểm đó, các nước Cộng Hòa ở châu Á như Mã Lai, Nam Hàn, Singapore, Đài Loan đang vượt qua quá khứ thực dân hay chiến tranh Quốc Cộng để vươn lên cùng nhân loại. Trên cánh đồng miền Tây nước Việt, trên bến cảng Singapore, trong nhà máy ở thủ đô Seoul, những con người với niềm hy vọng mới đang hăng hái dựng lại căn nhà mới.

Niềm hy vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam vừa lóe lên đã vụt tắt vì đảng CSVN quyết định chiếm Việt Nam Cộng Hòa dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn”.

Người bình thường chỉ biết nhìn một biến cố từ hậu quả nhưng người có ý thức phải hiểu tận nguyên nhân, bởi vì mọi việc xảy ra trên đời, mọi sự vật có mặt trên đời đều có nguyên nhân.

Cả 32 em học sinh trường tiểu học Cai Lậy, Định Tường và 10 người chị Việt Nam của các em chết ở Ngã Ba Đồng Lộc chỉ chết vì một nguyên nhân: Tham vọng CS hóa toàn cõi Việt Nam của lãnh đạo CSVN và CS Quốc Tế.

Dù có Mỹ hay không có Mỹ, dù bằng phương tiện hòa bình hay khủng bố thì chủ nghĩa cộng sản độc tài chuyên chính vẫn phải được thiết lập trên toàn cõi Việt Nam. Mục tiêu đó đã được đóng khung tô màu từ trong đề cương thành lập đảng CSVN 1930.

Do đó, không ai khác mà chính các lãnh đạo CSVN và CS Quốc Tế đích thực là thủ phạm đã giết 2.5 triệu dân Việt Nam trên hai miền Nam Bắc trong đó có 10 cô gái thanh niên xung phong ở Ngã ba Đồng Lộc và 32 em học sinh tiểu học Cai Lậy, Định Tường.

Giờ phút này, tôi tin rằng, trong căn phòng nhỏ ở Virginia, trong căn gác hẹp ở Paris, Santa Ana, Sydney, Berlin… bên những ngọn đèn heo hút ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, hàng ngàn người Việt Nam quan tâm đến tiền đồ dân tộc vẫn còn canh cánh bên lòng một câu hỏi chưa tìm được cách trả lời trọn vẹn “Tại sao sau 40 năm CSVN vẫn còn tồn tại?”

Bởi vì dân tộc ta yếu hèn, phân hóa?
Bởi vì đảng CSVN còn quá mạnh?
Bởi vì cả hai lý do trên?

Thật ra, dân tộc ta không yếu hèn và đảng CS cũng không quá mạnh, nhưng chính vì các thành phần có khả năng thúc đẩy sự chuyển hóa xã hội không có một nhận thức và tầm nhìn đúng về bản chất của cuộc chiến Việt Nam.

Sau 40 năm, một bộ phận không nhỏ người dân Việt Nam vì bị tẩy não nên chưa nhận ra hay chỉ vì bàn tay dính máu đồng bào nên không đủ can đảm thừa nhận nguồn gốc sâu xa của cuộc chiến.

Không hiểu đúng tại sao chủ nghĩa CS đến Việt Nam sẽ không có một cách thích hợp để đẩy chủ nghĩa CS ra khỏi Việt Nam. Và tương tự, không hiểu đúng quá khứ sẽ không có hành động đúng vì tương lai đất nước.

Nỗi đau của dân tộc Việt Nam sẽ không dứt nếu không biết tại sao đau.

Trần Trung Đạo

TỪ KỶ LỤC GÁNH NƯỚC ĐẾN KỶ LỤC BÁN NƯỚC

TỪ KỶ LỤC GÁNH NƯỚC ĐẾN KỶ LỤC BÁN NƯỚC

Phạm Thanh Nghiên

10-3-2017

Từ phát minh…

Hầu hết những phát minh khoa học, những thành tựu thuộc về mọi lĩnh vực của đời sống mà loài người đang thụ hưởng đều là sản phẩm trí tuệ đến từ các nước tư bản.

Người Mỹ phát minh, chế tạo ra tàu ngầm, tàu thủy, thang máy, máy quay đĩa, xe mô tô, quạt điện, xe điện, máy bay, máy giặt, máy điều hòa không khí, radio, tên lửa, tàu vũ trụ, máy nghe nhạc, tivi màu, mạng xã hội.

Người Anh phát minh, chế tạo ra động cơ điện, vaxin trị bệnh đậu mùa, máy bơm nước, máy gieo hạt, máy dệt, động cơ điện, penicillium, rada, động cơ hơi nước…

Người Đức đóng góp cho nhân loại máy in, đồng hồ, nhiệt kế, xe đạp, điện kế, động cơ xe ô tô, động cơ Diesel, la bàn, máy bay trực thăng, kính hiển vi, tên lửa tầm xa…

Người Pháp cũng hãnh diện đóng góp cho nhân loại máy tính (phép cộng trừ), khinh khí cầu, bút chì, máy dệt, ống nghe khám bệnh, chữ nổi, phương pháp khử trùng…

Người Bồ Đào Nha, Nhật, Ý, Hà Lan, Ấn Độ, Phần Lan, Nhật Bản… và nhiều nước tư bản khác đều có những phát minh to lớn, góp phần làm nên một thế giới văn minh, tiến bộ và nhân văn.

Các nước cộng sản thường lên án các nước tư bản là dã man, tàn bạo. Thậm chí bộ máy tuyên truyền cộng sản có thời kỳ còn rêu rao rằng nhiều phát kiến của người Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Ý… tạo ra đều nhằm phục vụ cho mưu đồ thôn tính các nước khác. Thế nhưng nghịch lý thay, Việt Nam và những quốc gia có cùng thể chế chính trị đều đang sử dụng, thụ hưởng một cách đương nhiên sản phẩm trí tuệ của các nước mà họ chửi là bọn “tư bản giãy chết”. Có lẽ, vì sợ mang tiếng là “thôn tính các nước khác” nên nước CHXH có cái đuôi là Việt Nam phải xếp-hàng- cả-nước đứng sau đảng không thèm phát minh ra cái gì cho dù luôn tự nhận mình là “đỉnh cao trí tuệ của nhân loại”.

Tôi từng nói đùa rằng cả người Mỹ lẫn người Việt đều phát minh ra “bom”. Khác là người Mỹ phát minh ra “bom nguyên tử” còn cộng sản Việt Nam thì phát minh ra “bom bẩn” gồm phân người trộn với dầu nhớt, động vật chết để ném vào nhà những người dân mà họ coi là kẻ thù. Ngoài “bom bẩn”, chế độ cộng sản còn “phát minh” và “sáng tạo” ra nhiều thứ khác mà nhân loại tiến bộ khó có thể hình dung nổi.

Đến kỷ lục…

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa: “Một kỷ lục thế giới thông thường là một thành tựu tốt nhất được ghi nhận lại và được chính thức xác nhận đối với một kỹ năng cụ thể hoặc một môn thể thao nào đó. Cuốn sách Kỷ lục Thế giới Guinness thu thập và công bố các kỷ lục nổi bật thuộc mọi thể loại, từ những cái đầu tiên trong lịch sử, những thành tựu tốt nhất và tệ nhất của con người cho tới những cái nhất của giới tự nhiên và hơn thế nữa.”

Tương tự, các kỷ lục của nhiều quốc gia (nhất là những nước tiến bộ) trên thế giới cũng thường ghi lại những thành tựu nổi bật thuộc mọi thể loại mà họ đạt được. Người đọc có thể dễ dàng tìm trên mạng các kỷ lục thế giới, hoặc kỷ lục trong phạm vi quốc gia cụ thể mà mình quan tâm.

Dò tìm các kỷ lục Việt Nam, vắng bóng hẳn những thành tựu được đánh giá là “tốt nhất” hay “nổi bật nhất” do con người tạo nên. Là một đất nước nghèo nàn, lạc hậu nhưng người ta sẵn sàng bỏ ra rất nhiều tiền của, công sức, thời gian, nhân lực để lập những kỷ lục kệch cỡm, ngớ ngẩn, lố bịch như chiếc bánh chưng to nhất, tô hủ tiếu lớn nhất, chiếc bánh xèo bự nhất Việt Nam. Khả năng sáng tạo hạn chế, bị kìm kẹp cộng thêm thói háo danh, đua đòi, bệnh thành tích đã khiến Việt Nam có những kỷ lục chẳng giống ai.

Một trong những kỷ lục không biết xếp vào hàng “tốt nhất” hay “tệ nhất” mới được trao cho cụ ông Nguyễn Đường ở thành phố Hội An với danh hiệu “người gánh nước thuê trong thời gian dài nhất Việt Nam”. Thông tin về cụ Nguyễn Đường – người lập kỷ lục mới này cho biết năm nay cụ 90 tuổi, sống với vợ là cụ bà Nguyễn Thị Mỹ 88 tuổi và người con bị bệnh tâm thần trong căn nhà chật chội 25m2. Cả hai ông bà đều quê ở Hội An nhưng “trước năm 1975 vào Sài Gòn làm ăn và gặp nhau nên duyên vợ chồng”. Sau khi Sài Gòn – Hòn ngọc Viễn Đông “bị” quân cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm năm 1975, ông bà trở về Hội An và làm nghề gánh nước thuê từ đó đến giờ. Khoảng 10 năm trở lại đây, cụ bà Nguyễn Thị Mỹ “bị bệnh viêm khớp, sức khỏe yếu dần nên đành nghỉ ở nhà”.

Cụ Nguyễn Đường (90 tuổi) và vợ là bà Nguyễn Thị Mỹ (88 tuổi) ở phường Minh An, TP Hội An làm nghề gánh nước thuê. Sáng sớm, cụ Đường với đôi gánh trên vai lại ra giếng Bá Lễ, cách nhà khoảng 50 m đưa nước đến cho khách hàng. Mỗi gánh nước cụ được trả 10.000 đồng, tất cả đều đưa cho người vợ cất giữ để chi tiêu gia đình. Dù cuộc sống nghèo khó nhưng ông bà thương yêu, chăm sóc lẫn nhau. Gánh nước thuê vắt qua hai thế kỷ, cụ Đường được tổ chức kỷ lục Việt Nam cấp chứng nhận: ”Cụ Nguyễn Đường, người gánh nước thuê trong thời gian dài nhất Việt Nam”. Ảnh và ghi chú: Sơn Thủy (VnExpress)

Có lẽ, tổ chức này nên trao cho cụ Đường thêm một kỷ lục nữa là “Người gánh nước thuê già nhất Việt Nam”. Hay trên đất nước này, vẫn còn những cụ ông, cụ bà gánh nước thuê khác già hơn cái tuổi 90 của cụ Đường?

Chính xác hơn nữa, cho đúng với tầm vóc vĩ đại của kỷ lục thì phải đặt tên cho kỷ lục ấy là “Người gánh nước thuê có thời gian dài nhất và già nhất hành tinh”.

Với những người còn mang ước vọng về một đất nước tự do, phồn thịnh, chắc hẳn sẽ không bao giờ vui, hãnh diện về những kỷ lục như thế này.

Nếu kỷ lục cho người gánh nước thuê với thời gian dài nhất được xác lập, có lẽ cũng nên trao danh hiệu tương tự cho các nghề khác như bán vé số, đánh giầy, hát dạo, bán hàng rong… Cả những kỷ lục về làng đói nghèo, làng ung thư mà báo chí đã phản ánh. Để cho bộ sưu tập kỷ lục Việt Nam được phong phú, nên trao kỷ lục cho gia đình hay làng-xã có nhiều người bị giết nhất trong Cải Cách Ruộng Đất. Tết Mậu Thân 1968, biến cố năm 1975 là những giai đoạn lịch sử với những “thành tích” bất tận, thừa khả năng đạt kỷ lục không riêng gì ở Việt Nam mà là Kỷ Lục… Hành Tinh để xứng với tầm cỡ thế giới về tội ác chế độ này đã gây ra.

Và nhớ, khi lập kỷ lục, đừng quên những cựu quân nhân cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Gì chứ về danh hiệu nhiều người bị bỏ tù nhất, đi tù với thời gian dài nhất thì chắc chắn những cựu sĩ quan VNCH không những đạt kỷ lục Việt Nam mà còn phá kỷ lục thế giới ấy chứ.

Kỷ lục về “người gánh nước thuê có thời gian lâu nhất Việt Nam” đã được xác lập. Nhưng kỷ lục này khó mà có được nếu đất nước không có nhiều kẻ đã “gánh nước đi bán” và làm hoang tàn mảnh đất lắm người nhiều ma này để cụ già 90 tuổi “bị” vinh danh vào kỷ lục trần ai.

Do đó, còn một kỷ lục khác không thể không bình bầu, không thể thiếu vắng trong kỷ lục toàn hành tinh. Đó là “Kỷ lục dành cho người gánh NƯỚC đi BÁN”. Hay tóm gọn: “Kỷ lục BÁN NƯỚC”.

Kỷ lục này nên dành cho ai nhỉ?

Các bạn cùng bình chọn nhé.

THĂM CHA BỬU DIỆP

THĂM CHA BỬU DIỆP

Về thăm miền đất Bạc Liêu

Quê hương sông nước phì nhiêu ruộng đồng

Miền Tây đất ấm tình nồng

Con người chân thật, sông hồng phù sa.

 

Về đây nhớ thuở ông cha

Dày công mở cõi bao la đất trời

Cửu Long về với biển khơi

Người đi đi mãi xa xôi cuối trời.

 

Về nghe gương sáng rạng ngời

Cha Trương Bửu Diệp một đời hy sinh

Vì giáo dân sống quên mình

Chết đi minh chứng ân tình chủ chăn.

 

Ngài quê Cồn Phước, An Giang

Sống thời ly loạn gian nan khốn cùng

Một thời Tây – Nhật tranh hùng

Nhập nhằng đảng phái vẫy vùng đấu tranh.

 

Cha sở Tắc Sậy nhiều năm

Dựng xây họ đạo xung quanh cũng nhiều

Một lòng hết sức thương yêu

Đàn chiên tan tác tiêu điều ngả nghiêng.

 

“Tôi đây sống giữa đàn chiên

Nếu mai có chết tất nhiên giữa đàn

Chẳng đi đâu, chẳng về đâu”

Một lời cam kết cho đầu máu rơi.

 

Cho đàn chiên được sống đời

Cho thân ngã xuống cho trời thêm hoa

Dâng lên Chúa trước ngai tòa

Hương thơm lan tỏa trong ngoài nước Nam.

 

Về đây thấy nỗi hân hoan

Bừng lên trong ánh mắt đoàn hành hương

Người về từ khắp bốn phương

Ân cần tưởng nhớ khói hương lòng thành.

 

Người xưa lưu dấu hùng anh

Nhọc nhằn mở đất để dành mai sau

Hôm nay đã thấy tươi màu

Đất lên tiếng hẹn sẽ mau ngày mùa.

 

Đất buồn Tắc Sậy năm xưa

Ngày vui mở hội như chưa bao giờ

Trung tâm truyền giáo, nhà thờ

Mộ nằm thâm thấp đời chờ người thăm.

 

Tinh thần mở cõi phương Nam

Con tàu Giáo Hội vững vàng ngược xuôi

Trong gian nan ngước lên trời

Nhớ cha Bửu Diệp nhớ đời hy sinh.

 

Ngày 12/3/2017

Kính nhớ ngày lể giỗ cha FX Trương Bửu Diệp

Nhà Quê

From:VÒNG TAY SONG NGUYỀN

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui

httpv://www.youtube.com/watch?v=jPH4TbYCMv0

Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui – Khánh Ly

Chuyện Phiếm Đọc Trong Tuần thứ 2 mùa Chay năm A 12/3/2017

 “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”

Chọn những bông hoa và những nụ cười

Tôi nhặt gió trời mời em giữ lấy

Để mắt em cười tựa lá bay.

(Trịnh Công Sơn – Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui)

(2P 2: 8-9)

Trần Ngọc Mười Hai

Chọn niềm vui? Việc ấy, vẫn còn tuỳ. Tuỳ bạn, tuỳ tôi, tuỳ mọi người. Và như thế, sẽ thấy vui như mọi ngày. Nói chữ “tuỳ” là bởi: ai cũng muốn cho mình vui tươi hơn bao giờ hết. Bởi, một khi mình đã vui rồi, mới có thể làm cho mọi người đều vui lây.

Tuy nhiên, chọn hoặc muốn là một chuyện. Còn, sự thật có xảy ra giống như thế hay không, lại là chuyện khác. Chẳng thế mà, bạn bè/người thân muốn cho mình/cho người được vui tươi đến như thế, nên đã gửi cho bần đạo đây một “xác quyết” để đời, như sau:

“Tôi vừa đọc một cuốn sách cũ, tôi đã học được nhiều bài học sâu sắc. Tôi cảm thấy nó là cách rất tốt để mọi người có thể sống một cuộc đời ít phiền muộn. Chính vì vậy, tôi muốn chia sẻ đôi điều mà tôi đã học được từ cuốn sách ấy với mọi người..!

   1.   Sự thanh tịnh nằm ở trong tâm

Cả đời làm việc, đến cuối cùng chỉ muốn bản thân được an nhàn để hưởng thụ cuộc sống. Bạn luôn muốn tìm kiếm sự thanh tịnh ở bên ngoài trong khi bạn không phát hiện rằng nó là cái mà ai cũng có thể đạt được mà chỉ cần lấy ra từ trong tâm. Nếu tâm của bạn bớt tham sân si, bớt ganh đua, ghen ghét… thì tự khắc bản thân sẽ thấy thật thanh thản và thấy đời bỗng nhẹ nhàng làm sao.

 2.    Tức giận chỉ là một cục than hồng có thể làm đau người khác, nhưng người bị bỏng đầu tiên chính là bản thân bạn.  Sẽ có lúc bạn cáu gắt với mọi người nhưng bạn đâu ngờ điều đó lại làm hại chính bản thân mình. Đừng bao giờ nói bất kì câu gì khi bạn tức giận. Người ta thường nói: “Giận quá mất khôn”. Tôi nghĩ điều đó rất đúng, bởi tôi đã từng đánh mất một người bạn của mình chỉ vì nói ra những lời nặng nề kinh khủng khi bạn đó không làm tôi vừa ý. Lúc đó, tôi làm tổn thương người ấy để bây giờ tôi đánh mất một người bạn thân.

    Tha thứ cho người khác, hóa ra là đang “cởi trói” cho chính mình”   Sự tha thứ không phải là những điều mà chúng ta làm cho người khác, mà chúng ta làm cho chính chúng ta đấy thôi.”    Câu chuyện 1: Bao khoai tây “oán…

  1. Suy nghĩ sẽ định hình con người bạn

Chúng ta nghĩ thế nào thì con người chúng ta như thế ấy. Bạn nghĩ bạn vô dụng, chắc chắn bạn sẽ không bao giờ làm nên trò trống gì vì bạn chẳng thèm hành động. Bạn nghĩ bạn thông minh, dĩ nhiên bạn sẽ thông mình vì tự bản thân sẽ biết cách tạo nên điều đó. Chỉ cần suy nghĩ tích cực thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp thôi! Do đó, cuộc sống cũng sẽ ít buồn phiền, vì lúc nào bạn cũng cố biến mọi thứ bạn gặp phải trong cuộc sống thành niềm vui riêng cho mình.

  1. Biết người là thông minh, biết mình là sự giác ngộ

Chiến thắng bản thân còn hơn là chiến thắng cả ngàn trận đánh. Đó là một bài học sâu sắc mà ai cũng cần biết. Tự chinh phục tâm chính mình chính là ải lớn nhất mà con người phải trải qua. Do đó, chúng ta phải tập thiền định để hiểu về chính bản thân mình. Biết được bản thân thích gì, làm gì để thỏa mãn nó chính là cách để bạn sống vui hơn mỗi ngày. Đừng tưởng đây là điều dễ thực hiện vì có người đã mất cả đời chỉ để làm điều này thôi đấy! Chính tôi cũng là người sẽ phải rèn luyện nhiều trong thời gian tới.

 5. Thay thế đố kỵ bằng ngưỡng mộ

Còn đố kị thì tâm bạn sẽ còn buồn phiền. Thay vào đó, chúng ta nên đón nhận sự thành công của người khác bằng sự ngưỡng mộ. Tâm bình thản rồi lấy cái tốt của người khác để làm gương sẽ khiến bạn dễ dàng phấn đấu mà không có sự căm phẫn. Đố kị chỉ làm lòng người thêm nhơ bẩn, thậm chí vì đố kị con người có thể biến chất, trở thành người chuyên làm những hành động xấu xa mà đôi khi chính bản thân mình cũng không ngờ tới.

Lời nhắn nhủ từ tận đáy lòng của phụ nữ tuổi 40 gửi phụ nữ tuổi 30: Ai cũng nên đọc để không phải tiếc nuối Lời nhắn nhủ từ tận đáy lòng của phụ nữ tuổi 40 gửi phụ nữ tuổi 30: Ai cũng nên đọc để không phải tiếc nuối.

 Năm nay, tôi đã bước sang cái tuổi 40. Hiện nay, tôi có hai con nhỏ và rất tự hào về gia đình và tình hình tài chính bản thân mình. Sau một khoảng thời gian sống ở đời, đối diện với những được, mất, thắng, thua, tôi đã tích góp được rất… 

  1. Nhân từ với tất thảy mọi người

Luôn luôn nhẹ nhàng với trẻ con, yêu thương người già, đồng cảm với người cùng khổ, nhân từ với kẻ yếu thế và người lầm lỗi. Một lúc nào đó trong đời, bạn sẽ rơi vào những hoàn cảnh đó. Động lòng trắc ẩn với mọi người, kẻ giàu cũng như người nghèo; ai cũng có nỗi khổ. Có người chịu khổ nhiều, có người chịu khổ ít.

 Nhân từ để yêu thương và đồng cảm với họ. Vì mỗi người có một nỗi khổ riêng chỉ có họ mới thấu. Bởi vì bạn luôn nhìn người bằng con mắt nhân từ nên đời bạn sẽ luôn đẹp. Mọi thứ đều hoàn hảo. Tâm can được thanh lọc bởi những hành động mà bạn dành cho người khác.

 7.  Tùy duyên

“Bàn tay ta vun đắp, thành bại thuộc vào duyên, Vinh nhục ai không gặp, có chi phải ưu phiền”

Bài học sâu sắc cuối cùng mà tôi đã học được chính là để mọi thứ tùy duyên. Như nhà sư đã nói, cái gì của mình thì nó sẽ thuộc về mình, còn cái gì không phải thì nó mãi mãi sẽ không thuộc về mình. Vì vậy, nếu muốn nắm bắt gì đó, đặc biệt là tình yêu thì hãy để tùy duyên.

Bạn có thể cố gắng theo đuổi nhưng có lúc bạn cũng phải biết buông bỏ nếu mọi chuyện đã quá giới hạn và không còn khả năng cố gắng. Cứ nắm giữ chỉ làm bạn đau khổ rồi vấn vương muộn phiền sẽ là điều không thể né tránh. Tâm sẽ nhẹ nhàng nếu bạn để mọi thứ tùy duyên. Đó là cách để bạn có thể chấp nhận cuộc sống dễ dàng hơn. 

Hãy sống như hôm nay là ngày cuối cùng. Tôi đã làm được 4/7 điều rồi và thấy đời mình nó cũng thanh thản đi bớt phần nào. Đặc biệt, tôi thích nhất là điều cuối cùng. Tôi cũng mong rằng những điều này sẽ giúp ích cho bản thân mỗi bạn..!” (Bài viết bè bạn gửi qua mạng, mới đây thôi)

Tuỳ duyên/buông bỏ, đó là câu chuyện đời ở ngoài đời. Còn, chuyện đạo của các vị đi đạo thì sao? Trả lời cho vấn-nạn này, tưởng không dễ. Giống như thể, mới đây thôi, bần đạo đọc được bản tin đăng trên báo điện mang tên là MercatorNet có bài viết, rất như sau:

Những năm gần đây, một số người Công giáo lại để mình đắm chìm trong nỗi đắng cay đến độ họ chẳng nói điều gì hay ho về Đức Giáo Hoàng Phanxicô đương-nhiệm. Mỗi bài diễn-thuyết, mỗi sáng kiến tư riêng, mỗi khi bổ nhiệm ai đó, Ngài đều xem xét kỹ để giúp họ coi lấy đó là bằng-chứng xác-nhận tính bê-bối/bội-bạc này khác. 

Thế đó, còn là tình-huống khá ngoại-thường. Các Kitô-hữu ở trời Tây, đăc-biệt là Giáo hội Công-giáo, đang bị áp-lực nặng nề từ chủ-thuyết trần-tục thực hung-hãn. Dấu-hiệu chống-trả lại chủ-thuyết này mạnh nhất là từ Đức Giáo Hoàng Phanxicô và một số vị đạo-đức đã nổi dậy. Hãy tưởng-tượng mà xem đội binh Hoa kỳ trong trận chính ở Bulge khi họ bị vây hãm tứ bề và cuối cùng cũng bị kiệt sức. May có Patton kịp đến cứu vãn tình-thế. Ông ấy đến gần càng lúc càng gần những người tham-gia cuộc chiến ấy. Mọi người cứ tưởng ông sẽ hành-xử cách thông-thường, nhưng ông lại đi thẳng gia-nhập nhóm binh hùng/hảo tướng người nước Đức, thế mới lạ. 

Sau gần 4 năm trời tại chức, Đức Phanxicô lại đã chứng-kiến rất nhiều lời phàn nàn ở các nơi hệt như 95% hầu hết các lời lẽ cùng ý-kiến mà chính Luther cài đặt vào cánh cửa của Thánh Đường Các Thánh Nam Nữ ở Wittenberg. Những lời này, là từ những người được chính ông rửa chân cho vào Thứ Năm Tuần Thánh, để rồi chân họ cũng liên-quan đến các vấn-đề như hiện giờ về phá-thai, để rồi các vị bèn trả lời “Tôi là ai mà lại dám kết-án” hệt như khi phê-phán về chuyện đồng tính luyến ái, nổi lên vào lúc ấy. 

Chuyện nổi cộm hôm nay liên quan đến đoạn văn trong tông-thư “Amoris Laetitia” bàn về các vị đã ly-thân/ly-dị nay có được phép Rước Mình Chúa không?… 

Chuyện ly-thân/ly-dị nay đã thành chuyện thường ngày rồi, thế mà một số tín-hữu Công-giáo không nhỏ, vẫn không hề biết là Giáo-hội của họ từng cấm-đoán chuyện ly-dị. Một số vị khác, lại cứ tranh-cãi biện-luận rằng đám cưới lần đầu của họ từng có hiệu-lực, không cần biết các linh-mục nói gì đi nữa. Một số khác, lại cũng chẳng biết gì về thần-học Hoà-giải và Hiệp-thông Rước Mình Máu Chúa, hết… 

Kết quả là, một số khá lớn người Công giáo chẳng nhận được sự giúp đỡ về mặt linh-đạo từ Giáo-hội của họ. Vì thế nên, con cái họ vẫn không được rửa tội và rõ ràng thấy mình bị bỏ rơi. Và, tín-thư vốn được Đức Phanxicô chuyển đến, như thể bảo: “Không! Các anh/chị không bị tống khứ khỏi Hội thánh đâu. Ta hãy tìm cách giải-quyết vấn-đề này mà không cần hy-sinh/nhượng-bộ các giáo-huấn của Hôi-thánh.” Nhưng đó mới là chuyện khó. Giả như những người như thế vẫn được phép rước Mình Máu Chúa, dù muốn dù không hay sao đó, thì như thế có nghĩa là Giáo-hội vẫn chấp-nhận ly-dị và không còn tin vào tính-cách thánh-thiêng của việc Hiệp-thông Rước Lễ nữa.

 Điều mà Đức Phanxicô đề-nghị trong tông-thư “Amoris Laetitia” là các linh-mục và Giám-mục phải dẫn dắt mọi người một cách tế-nhị trong việc leo lên ngọn đồi sự thật. Phương-án ngài đưa ra không có nghĩa lỏng lẻo  đặt nặng đến lương-tâm riêng rẽ trên cả luật luân-lý, nhưng về mục-vụ cốt dẫn đưa mọi người hiểu rõ, cảm-kích và cuối cùng biết yêu thích luật đạo-đức, luân-lý. Thật sự ra, thì mọi người đều muốn được sáng-tỏ về chuyện làm sao tháp đặt phương-án đầy lòng trắc ẩn này… 

Chuyện bi-đát, là: cuộc tranh-luận này đang làm tắt ngúm lòng nhiệt-huyết của một số bộ-phận gồm các người Công-giáo có học cũng đạo đức/sốt-sắng với việc tái Kitô-hoá xã-hội. Từ những ngày đầu tiên của nhiệm kỳ Giáo hoàng mình, lịch-trình mà Đức Phanxicô đặt ra cho ngài là: tái-Phúc âm-hoá chốn sa-mạc linh-đạo của người phương Tây. Trong tông-thư “Niềm Vui Tin Mừng” ngay sau khi đắc cử vào năm 2013, những lời rằng: 

“Tôi mơ về một “chọn-lựa mục-vụ”, đó là: sự thôi-thúc mục-vụ khả dĩ thay-đổi được tất cả mọi sự để rồi các thói quen của Giáo-hội, đường lối đối xử với các sự việc, thời-gian và chương-trình, ngôn-ngữ và cơ-cấu có thể hướng tới một cách thích-hợp với việc Phúc-Âm-hoá thế-giới hôm nay hơn là bao-quản chính Giáo-hội… Như Đức Gioan Phaolô Đệ II từng nói với các Giám-mục thuộc Châu Đại Dương hôm ấy rằng: Tất cả mọi cuộc cải-tân trong Hội thánh đều có sứ-vụ như mục-tiêu đặt ra nếu nó không thành con mồi cho một thứ thu mình vào bên trong Giáo hội.” 

Đây kìa, hãy xem “sự việc thu mình vào bên trong Giáo-hội” đang miệt mài quay trở về, ít là trên mạng vi-tính. Một lần nữa, một số người Công-giáo tốt lành và sáng chói đang tự nhìn vào bên trong, tự coi mình như cái rốn vũ-trụ, đang trở-thành cơ-quan kiểm-duyệt, bắt bẻ cả những chuyện nhỏ và lại có thành-kiến nữa. Và, Đức Phanxicô đã thấy trước điều này khi ngài viết tông-thư Niềm Vui Tin Mừng, có những câu sau đây: 

“Một trong các cơn cám-dỗ nghiêm-trọng nhất đang kềm-chế lòng quả-cảm và sốt-sắng đó là tính chủ-bại vốn đưa ta trở-thành những người bi-quan, cáu-kỉnh và vỡ mộng, “bẳn gắt”. Không ai có thể rời khỏi trận-chiến trừ phi người đó hoàn-toàn được thuyết-phục trước là mình sẽ chiến thắng…” 

Giống như nhà vô-thần hay bẳn gắt như Richard Dawkins từng tiên-đoán về “cái chết thật sự của tôn-giáo có tổ-chức hẳn-hòi” trong đời ông, thì việc tái-Phúc-âm-hoá ở thế giới trời Tây lâu nay luôn là công việc khá gay-cấn. Điều đáng tội là những người chỉ-trích Đức Giáo Hoàng đang làm mọi sự để vô-hiệu-hoá kế-hoạch của chính họ.” (X. Michael Cook, The Pope is a heretic? You can’t be serious!”,MercatorNet 05/12/2016)  

Xem thế thì, hỏi rằng Đức Phanxicô có bao giờ biết đến bài hát vừa trích-dẫn, lại có ca-từ tiếp nối hát như sau:

“Mỗi ngày tôi chọn đường mình đi

Đường đến anh em đường đến bạn bè

Tôi đợi em về bàn chân quen quá

Thảm lá me vàng lại bước qua.

Và như thế tôi sống vui từng ngày

Và như thế tôi đến trong cuộc đời

Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi.

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui

Cùng với anh em tìm đến mọi người

Tôi chọn nơi này cùng nhau ca hát

Để thấy tiếng cười rộn rã bay.

Và như thế tôi sống vui từng ngày

Và như thế tôi đến trong cuộc đời

Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi.

Mỗi ngày tôi chọn một lần thôi

Chọn tiếng ru con nhẹ bước vào đời

Tôi chọn nắng đầy, chọn cơn mưa tới

Để lúa reo mừng tựa vẫy tay.

Và như thế tôi sống vui từng ngày

Và như thế tôi đến trong cuộc đời

Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi.

Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi….”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

 Ca-từ dọi lại nhận-định trên, khiến người đọc như tôi/như bạn hẳn sẽ liên-trưởng đến lời vàng bậc thánh-hiền khi xưa từng bảo:

“Quả vậy, người công chính sống ở giữa họ,

mắt thấy tai nghe những hành vi phi pháp

ngày ngày xâu xé tâm hồn công chính của ông.

Như thế Chúa biết cứu những người đạo đức khỏi cơn thử thách,

và giữ những kẻ bất chính để trừng phạt vào ngày phán xét…”

(2P 2: 8-9)

Và như thế, trong cuộc đời của mỗi, có thể mỗi người và mọi người sẽ có chọn lựa riêng cho chính mình, để còn sống. Hệt như nghệ sĩ khi xưa từng tỏ bày lập trường mình bằng ca-từ như sau:

“Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên

Nhìn rõ quê hương, ngồi nghĩ lại mình

Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống

Vì đất nước cần một trái tim !

Và như thế tôi sống vui từng ngày

Và như thế tôi đến trong cuộc đời.”

(Trịnh Công Sơn – bđd) 

Cùng với nghệ-sĩ họ Trịnh ở trên, đề nghị bạn và tôi, ta đi vào cùng trời truyện kể để sẽ thấy đời mình cũng không đến nỗi bi-quan, bi-đát như mọi người tưởng, vì “mình vẫn sống vui từng ngày”, với nụ cười trên môi khi nghe kể những truyện, từ tựa sau đây:

“Truyện rằng,

Có hai anh chàng thanh niên sống ở nhà quê cùng rủ nhau lên tỉnh thành lập nghiệp vì họ thấy rằng cuộc sống ở quê nhà chỉ vừa đủ ăn không dư giả. Sau thời gian dài phấn đấu hơn 30 năm ở tỉnh thành, hai người đã tạo lập được một cuộc sống sung túc về vật chất. Anh A trở thành chủ một hãng xe đò, anh B có hơn 2/3 cổ phần trong một nhà máy dệt. Vì là bạn nối khố từ nhỏ nên sau khi thành công trên đường sự nghiệp, hai người vẫn tiếp tục chơi thân với nhau. 

Một hôm, hai người bỗng nảy ra ý định trở về quê nhà nơi họ chôn nhau cắt rốn, trước là để thăm lại đình làng bé nhỏ trước kia, sau là để thực hiện giấc mộng hồi hương áo gấm về làng như những quan Trạng ngày xưa. 

Khi xe hơi chở họ về đến đầu làng, cả hai cùng rủ nhau xuống đi bộ vừa ngắm cảnh vừa chuyện trò. Đến trước đình làng, hai người gặp một ông lão mặc áo trắng, tay cầm chiếc phèng la. 

Anh A cất tiếng hỏi:

– Ông lão ơi, ông đang làm gì vậy?

Ông lão điềm nhiên trả lời:

– Ta là Thành hoàng giữ phúc phần cho làng này, ngoài việc giữ yên ổn cho dân làng, ta cũng cai quản vấn đề sinh tử của mọi người nữa.

Ta đến báo cho hai người biết là mạng sống của các ngươi chỉ còn ba ngày. Ba ngày sau ta sẽ đến đón hai người về cõi âm. Khi ta nổi một hồi phèng la thì hai người phải đi theo ta để về trình diện ngài Diêm Vương mà không được chậm trễ. 

Nói xong, ông lão biến mất, để lại hai anh chàng đứng ngẩn người như ngây như dại. Thử tưởng tượng ngày áo gấm về làng cũng là ngày biết được cuộc đời chỉ còn ba ngày cuối cùng thì ai không đâm ra hoảng hốt. 

Anh A thấy rằng cuộc đời nhạt nhẽo không còn gì gọi là thú vị, 30 năm phấn đấu để cuối cùng đổi lấy cái chết cận kề trong khoảnh khắc. Về đến nhà anh ta ăn không ngon, ngủ không yên, mà cũng chẳng lo sắp xếp được gì cả. Đến lúc bấy giờ anh mới nghiệm ra rằng dù tiền bạc có nhiều ức vạn đi nữa cũng không thể nào đánh đổi được sinh mạng đáng quý. 

Chưa đến ba ngày thần sắc của anh bơ phờ như một thây ma, mặt anh đầy những vết nhăn, râu ria mọc lún phún, cặp mắt thì đờ đẫn thất thần. Ngày thứ ba anh thức dậy thật sớm, lựa ra bộ đồ sang trọng đắt tiền nhất mặc vào người và đứng trước cửa đợi lão tử thần đến rước. 

Chiều tối hôm đó, quả thật anh thấy ông lão mặc áo trắng, tay cầm phèng la ngày hôm trước xuất hiện. Ông lão chưa kịp gióng lên hồi phèng la thì anh A đã lăn đùng ra chết. Vì quá khẩn trương nên ba ngày cuối cùng cuả anh đã mỏi mòn trong sự chờ đợi, do đó khi thấy thần chết xuất hiện là anh xuất hồn đi theo ngay lập tức. Trở lại phần anh B, sau khi nghe vị thần chết tuyên bố bản án tử hình, anh cũng thấy mủi lòng. 

Thế nhưng tánh tình của anh B vốn rất an phận, anh nghĩ rằng nếu như số mạng của anh có đi đến chỗ chấm dứt thì không có cách nào thoát được. Vì nghĩ như vậy nên anh mang tất cả tiền bạc đã tạo dựng trong 30 năm ra làm của bố thí. Trước hết anh cất một trường học ở quê nhà để giúp cho trẻ em nghèo khổ có nơi học hành. Sau đó, anh giao tiền cho quý vị hội đồng xã xây dựng một bệnh xá nhằm giúp những người dân quê không có tiền lên tỉnh thành trị bệnh. 

Của cải còn lại, anh mang ra phụ giúp việc xây đường, dựng cầu mang lại tiện ích cho cuộc sống của người dân thôn dã. Anh cũng trích ra một phần để giúp đỡ những gia đình đông con không đủ sống đang cần sự trợ giúp tức thời. 

Những công việc này đã tốn hết thời gian ba ngày của anh. Anh B không còn thì giờ để nghĩ đến cái chết sắp sửa xảy ra cho anh nữa. Những người dân nghèo khổ trong làng đột nhiên nhận được một sự bố thí lớn lao nên họ rất lấy làm cảm kích. Những người được sự giúp đỡ đó đã tỏ lòng biết ơn của họ bằng cách tổ chức một buổi hát bội ngoài trời, trước là để tạ ơn thần, sau là để tri ân nhà mạnh thường quân tốt bụng.

 Đoàn múa lân của trẻ em trong làng đã đến trước nhà anh B tưng bừng múa giúp vui. Khi mọi người đang hoan hỉ đứng xem thì ông lão tử thần xuất hiện vì đã đến giờ ông ta đến đón anh B về âm phủ. Thế nhưng không khí trước nhà anh B lúc đó quá vui nhộn cho nên mọi người, kể cả anh B, cũng không chú ý đến sự xuất hiện của nguời lạ mặt này. 

Thậm chí có một chàng trai trong làng thấy ông lão tay cầm phèng la đã tưỏng nhầm ông là một thành viên của đoàn múa lân nên kéo ông ta sắp vào hàng ngũ những người đánh trống thổi kèn. Ông già tử thần gióng thêm một hồi phèng la gọi hồn, thế nhưng vì không khí đang huyên náo cho nên tiếng phèng la của ông bị tiếng trống múa lân át mất. 

Ông già tử thần cố gắng thử thêm ba lần nữa cũng chẳng ai thèm chú ý đến. Vì đã đến giờ nên ông buộc lòng phải ra đi. Anh B suốt đêm hôm đó được dân làng đãi đằng ăn uống thật thịnh  soạn. 

Dân chúng trong làng lâu nay mới có một dịp cùng nhau vui vẻ cho nên ai ai cũng liên hoan cho đến sáng. Sáng ngày hôm sau anh B cứ tiếp tục thực hiện những công việc dở-dang mà anh sắp xếp để phục vụ cho dân trong làng. 

Công việc bận rộn liên tục đã khiến anh quên khuấy mất cái hẹn ba ngày của ông Thành hoàng. Mãi hai ba hôm sau khi sực nhớ lại, anh lấy làm lạ tại sao đã quá kỳ hạn mà không thấy thần chết xuất hiện. Anh đâu biết rằng ông lão có đến nhưng không ai thèm nghe hồi phèng la của ông nên đã buộc lòng phải bỏ đi. Nhờ vậy mà anh B mới còn tiếp tục sống dài dài ra đó. 

Lời bàn của người kể truyện: “Đây là một câu chuyện ngụ ngôn rất có ý nghĩa, nói lên chân lý cuộc sống của con người là phải phấn đấu từng giây mãi cho đến phút cuối của cuộc đời. Xu hướng tiến lên sẽ đưa ta đi về đâu? Dĩ nhiên là ta sẽ đi đến chỗ ta hằng mong muốn. Phật giáo đồ sẽ đi đến thế giới Cực Lạc, những con chiên Thiên Chúa giáo sẽ lên Thiên Đàng. 

Tôi thường đặt câu hỏi với nhiều người như thế này: “Nếu như biết rằng cuộc sống của ta chỉ còn đúng 60 giây đồng hồ thì quý vị sẽ có một sự lựa chọn gì trước khi nhắm mắt?” Phần đông những người được tôi hỏi câu này đều đâm ra lúng túng không biết phải trả lời như thế nào. Hai phần ba trong số đó cho tôi câu trả lời sẽ chẳng chọn lựa hay suy nghĩ gì cả. Lý do là quá ngắn ngủi, không đủ cho họ chuẩn bị. Nhiều người chấp nhận sự việc đếm từng giây phút đi qua mà thôi. 

Riêng tôi thì có hai sự lựa chọn, một là mặt mày rầu rỉ để chờ đợi tử thần, hai là mỉm cười đón nhận phút cuối của cuộc đời. Thử nghĩ, nếu như quý vị mỉm cười, bình thản ra đi thì những người thân đưa tiễn quý vị chắc chắn sẽ nhẹ bớt phần nào nỗi đau buồn, ít ra họ cũng biết rằng quý vị đã ra đi một cách bình yên không lo sợ.  Ngay giây phút đó, biết đâu nhân sinh quan của quý vị sẽ thay đổi hẳn và sẽ cảm thấy một sự giải thoát nhẹ nhàng. 

Đời nhà Đường bên Trung Hoa, có nhà sư Nguyên Hiểu đã nói rằng: “Tận dụng hết mọi nỗ lực của con người cũng không thể nào chặn đứng sự héo úa của một cành hoa, vậy thì trong khi đóa hoa đang dần dần héo úa, ta hãy ung dung ngắm nhìn và thưởng thức giây phút cuối cùng của cành hoa đó đi.” 

Sự suy nghĩ và cảnh giới giác ngộ của nhà sư này quả thật đã lên đến một mức độ thượng thừa. Nếu như tận dụng hết mọi nỗ lực vẫn không thể nào chặn được sự thất tình, thì trong lúc thất tình ta hãy ung dung gặm nhấm mùi vị thất tình đó đi. 

Nếu như tận dụng hết mọi nỗ lực cũng vẫn không thể nào ngăn chặn cho cơ thể tránh được bệnh tật, vậy thì trong khi nằm trên giường bệnh, ta hãy bình lặng hưởng thụ giây phút êm đềm yên tịnh đó đi. Biết đâu trong thời gian yên lặng chịu đựng đó, chúng ta chẳng nghiền ngẫm ra được nhiều triết lý để gánh vác được những đau khổ của cuộc đời hay sao? (Tác Giả: Lâm Thanh Tuyền  Đài Loan)

Vui buồn cuộc đời, thật ra cũng do mình mà ra. Thế nên, đề-nghị bạn, đề-nghị tôi, ta sẽ ca vang bài hát ở trên mà rằng:

“Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui

Cùng với anh em tìm đến mọi người

Tôi chọn nơi này cùng nhau ca hát

Để thấy tiếng cười rộn rã bay.

Và như thế tôi sống vui từng ngày

Và như thế tôi đến trong cuộc đời

Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi)

Hát thế rồi, giờ đây bạn và tôi cứ hiên ngang sống vững chãi, như không có chuyện gì xảy ra, dù có xấu đi nữa.

Trần Ngọc Mười Hai

Nhiều khi vẫn nghĩ như thế

rất liên hồi,

một cuộc đời.  

Felix Dzerzhinsky còn sống ở Việt Nam

Felix Dzerzhinsky còn sống ở Việt Nam

Trần Trung Đạo

Tran Trung Dao

Nếu không đọc bài viết của tác giả Lê Dủ Chân trên Dân Làm Báo, thật khó tin rằng một bức tượng của Felix Dzerzhinsky vừa được khánh thành trước trụ sở Học viện Cảnh Sát Nhân Dân Việt Nam.  Bởi vì, dù khinh thường dư luận quốc tế bao nhiêu, đảng CSVN cũng không thể một cách lộ liễu dựng tượng một người đã từng tuyên bô’ “giết không cần hỏi cung mới làm cho người ta sợ.”

Dzerzhinsky sinh năm 1877 trong một gia đình quý tộc Ba Lan sùng đạo Thiên Chúa nhưng trở thành một người CS dã man, khát máu. Y có năng khiếu về ngoại ngữ mặc dù học hành dang dở vì tham gia hoạt động CS. Dzerzhinsky bị tù nhiều lần trong đó có lần bị lưu đày tận vùng băng tuyết Siberia.

Sau khi vượt thoát khỏi Siberia, Dzerzhinsky hoạt động cho đảng CS Đức và là nhân vật nổi tiếng trong phong trào CS Đông Âu. Sau 1917, thay vì hồi cư về Ba Lan Felix Dzerzhinsky quyết định ở lại Nga và được bầu vào đảng ủy CS Moscow. Felix Dzerzhinsky chia sẻ quan điểm của Lenin về vai trò toàn trị của Sô Viết và là người đầu tiên nhận trọng trách chỉ huy cơ quan mật vụ Cheka, hay còn được viết là Che Ka, khủng khiếp nhất tại Nga.

Cheka viết tắt từ chữ Nga Vserossiyskaya chrezvychaynaya komissiya Chrezvychaĭnaya komissiya (Ủy ban Toàn Nga Chống Phản Cách Mạng và Phá hoại). Về sau cơ quan này được thêm vào câu “chống tung tin đồn.” Cơ quan khủng khiếp này được chính thức thành lập ngày 20 tháng 12, 1917. Nhân viên của cơ quan được gọi là chekist.

Theo lời kể của chính Dzerzhinsky: “Trong Cách mạng Tháng Mười, tôi là thành viên của Ủy ban Quân sự, và lúc đó được tin tưởng với trách nhiệm tổ chức và chủ tịch của Ủy ban Đặc biệt Đấu tranh chống Phản Cách Mạng và Phá Hoại, giữ chức vụ tương đương với Ủy viên Nội Vụ.”

Ngày 20 tháng 10, 1918

Sergei Melgunov, một sử gia Nga nổi tiếng, chủ bút của tạp chí Tiếng vọng từ Quá khứ (Voice of the Past) và tác giả của nghiên cứu Khủng Bố Đỏ tại Nga 1918-1923 (The Red Terror in Russia 1918-1923) được in lần đầu tại Đức năm 1924 cho biết danh từ “Red Terror” không phải là tiếng để báo chí hay dân chúng ám chỉ tội ác của Felix Dzerzhinsky hay kết án y mà danh từ do chính Dzerzhinsky thừa nhận và Cheka đã sử dụng trong các tài liệu chính thức của tổ chức. Trong tài liệu của Cheka, mục đích của tổ chức này là “tận diệt mọi kẻ thù của giai cấp vô sản.”

Khủng bố Đỏ tại Nga chính thức bắt đầu sau khi Moses Uritski, một cán bộ của Cheka bị ám sát ngày 17 tháng 8, 1918 tại St. Petersburg và nhất là sau ngày 18 tháng 8, khi bà Fanny Kaplan (1890-1918), đảng viên đảng xã hội ám sát hụt Lenin tại Moscow. Lenin thoát chết dù bị bắn hai phát. Dù sao, Lenin không bao giờ hoàn toàn hồi phục và viên đạn ghim vào lồng phổi của ông ta được xem như là một trong những nguyên nhân dẫn tới đột quỵ sau này. Fanny Kaplan bị xử bắn ngày 3 tháng 9, 1918.
Ngày 20 tháng 10, 1918, 500 tù nhân bị Cheka xử bắn không qua một phiên tòa nào. Một con số ước lượng khác cho biết số người bị giết chỉ trong vài đêm đầu lên đến 1300 người.

Không riêng đàn ông mà vợ con những người tình nghi là phản cách mạng cũng bị giết. Trong nhiều trường hợp, trẻ em bị xử bắn trước sự chứng kiến của cha mẹ nhưng cũng có khi cha mẹ bị xử bắn trước mắt con cái còn rất nhỏ của họ.

Dzerzhinsky công khai thừa nhận và ủng hộ phương pháp khủng bố “Chúng ta ủng hộ khủng bố có tổ chức. Khủng bố là một điều cần thiết trong thời kỳ cách mạng. Mục tiêu của chúng ta là chiến đấu chống kẻ thù của Chính quyền Xô Viết và trật tự sống mới. Chúng ta kết án nhanh chóng. Trong hầu hết trường hợp, chỉ cần một ngày, giữa bắt giữ kẻ phạm tôi và xử án.”

Trong bài báo trên tạp chí Krasnaya Gazeta Dzerzhinsky viết về Khủng Bố Đỏ: “Chúng ta sẽ biến trái tim thành gang thép, qua đó, chúng ta sẽ trui rèn trong ngọn lửa chịu đựng và máu của các chiến sĩ tự do. Chúng ta sẽ làm cho trái tim trở nên thô bạo, cứng rắn, không thể đổi dời, để không còn chỗ cho lòng thương xót xen vào, để chúng không còn dao động khi nhìn thấy biển máu của kẻ thù… Không có xót thương, không có thận trọng, chúng ta sẽ giết nhiều trăm kẻ thù. Nhiều ngàn cũng vậy. Hãy để chúng ngập chìm trong máu của chúng.”

Felix Dzerzhinsky khát máu và tuyệt đối trung thành với Lenin

Theo một chuyện được kể lại, trong một phiên họp do Lenin chủ tọa năm 1918 có sự hiện diện của Dzerzhinsky. Lenin chuyển đến Dzerzhinsky một tấm giấy nhỏ ghi câu hỏi bao nhiêu kẻ thù của cách mạng hiện đang bị cầm tù. Dzerzhinsky viết trả lại khoảng 1500 người. Lenin đọc xong và dùng bút gạch một dấu chữ thập bên cạnh con số và trả lại cho Dzerzhinsky. Đọc xong, Dzerzhinsky đứng dậy và bước ra khỏi phòng họp. Đêm đó, 1500 tù nhân bị đem ra xử bắn. Một quan điểm cho rằng Lenin có thói quen gạch dấu chữ thập vào góc tài liệu để xác nhận là đã đọc xong chứ không phải ra lịnh cho Dzerzhinsky đi giết 1500 người tức khắc. Dù Lenin có thật sự ra lịnh hay Dzerzhinsky hiểu sai cũng cho thấy dưới chế độ CS mạng sống của con người còn thấp hơn loài cầm thú. Dzerzhinsky không thắc mắc, không đặt vấn đề và không có một chút cân nhắc nào trước khi hành hình một số lượng đông đảo hàng ngàn người. Lenin cũng im lặng và dư luận dĩ nhiên không ai dám lên tiếng.

Con số chính xác nạn nhân của Cheka không thể nào ước lượng được. Số ước đoán của các sử gia rơi vào khoảng từ 100 ngàn đến 500 ngàn bao gồm những người bị giết và chết do nhiều lý do sau thời gian dài bị đày ải tại các “Trại Tập Trung.” Một ví dụ, Trại Arkhangelsk lúc đầu giữ 5000 tù nhân đến năm 1922 chỉ còn 1500 người sống sót. Nhiều ngàn người chết không qua một bản án hay xét xử nào.

Felix Dzerzhinsky qua đời vì đột quỵ tim ngày 20 tháng Bảy, 1926. Nếu y sống trong giai đoạn Đại Thanh Trừng (Great Purge) và là trợ thủ đắc lực của Stalin, không ai có thể tiên đoán thêm bao nhiêu người sẽ bị giết.

Giật sập tượng Felix Dzerzhinsky

Sau khi phong trào CS châu Âu sụp đổ, tượng đài Dzerzhinsky bị giật đổ tại nhiều nơi.  Những công viên, đường phố mang tên y được thay đổi.

Một sự kiện lịch sử xảy ra lúc nửa đêm ngày 23 tháng 8, 1991, khi bức tượng Dzerzhinsky 12 tấn trên lối vào trụ sở KGB  ở thủ đô Moscow bị giật sập.

blank
Đêm đó, khoảng 20 ngàn dân Nga tập trung tại quảng trường Lubyanka đồng thanh hô lớn “Đả đảo KGB” hay “Felix Đây Là Điểm Kết Thúc Của Ngươi.” Linh mục Chính Thống Giáo Gleb Yakunin tuyên bố “Điều này biểu tượng cho thấy rằng chúng ta đang giải tán hệ thống và chúng ta sẽ hủy bỏ bộ máy KGB toàn trị, nguy hiểm và to lớn.” Lãnh tụ công nhân hầm mỏ Anatoly Malykhin tuyên bố “Đây không phải là trả thù hay phần thưởng. Đó chỉ tái lập công lý. Chúng tôi đang quét dọn rác rưới từ cuộc đời của chúng tôi.”

Một người không thể đứng lâu bằng một chân mà phải đứng bằng hai chân. Hai chân đã giúp CS Châu Âu đứng được 74 năm và giúp cho CS Á Châu còn tồn tại cho đến hôm nay là khủng bố và tuyên truyền.  Khủng bố Đỏ tại Liên Xô là một vết nhơ trong lịch sử văn minh của loài người và những người có ý thức đều đồng ý việc duy trì các tượng Felix Dzerzhinsky là một cách thừa nhận bản chất phi nhân của chế độ.

Felix Dzerzhinsky dĩ nhiên đã chết, tượng đài của y bị giật sập nhưng tại một nơi bản chất vô cùng ác độc và ghê tởm của y vẫn còn được tôn thờ, nơi đó là Cộng Sản Việt Nam.

Trần Trung Đạo

Tri thiên Mệnh

Tri thiên Mệnh

Duc-dalai-lama

Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc. Sức mạnh của đàn bà là phẩn nộ. Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí. Sức mạnh của vua chúa là quyền uy. Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo. Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa. Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát. Sức mạnh của sa môn là nhẫn nhục.

“Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc. Sức mạnh của đàn bà là phẩn nộ. Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí. Sức mạnh của vua chúa là quyền uy. Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo. Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa. Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát. Sức mạnh của sa môn là nhẫn nhục.”

“Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới  xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ”

“Ra đời hai tay trắng. Lìa đời trắng hai tay. Sao mãi nhặt cho đầy. Túi đời như mây bay.”

“Thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình”.

“Sự khác biệt giữa con người là do mức tiến hóa khác nhau qua các kiếp sống. Có khi nào ta thù ghét một kẻ kém ta đâu? Suy luận rằng: “vạn vật đồng nhất”, ta sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác, vì họ không hiểu biết, không ý thức hành động của mình, vả lại họ và ta nào có khác nhau đâu. Khi ta hiểu rằng: “nhất bổn tám vạn thù”, ta nhìn vạn vật như chính mình, từ loài người qua loài thú, thảo mộc, kim thạch, và ý thức rằng mọi vật đều có sự sống, đều có Thượng đế ngự ở trong, ta sẽ cởi bỏ thành kiến, mở rộng lòng thương đến muôn loài”.

“Là con Phật, nếu không nói được những gì Phật nói, hãy im lặng như chánh pháp, đừng nói những lời ác, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, làm tổn hại kẻ khác, nếu không làm được những gì Phật làm, hãy im lặng và lắng nghe, quán sát, học hỏi những thiện tri thức, đừng vọng động làm những điều thương tổn đến tha nhân”.

“Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô, anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh”.

“Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác”.

“Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.”

Đức Đạt Lai Lạt Ma

Nhà báo “hô hào” việc vi phạm luật thì nhà báo đã phạm luật

Nhà báo “hô hào” việc vi phạm luật thì nhà báo đã phạm luật

FB Trương Nhân Tuấn

10-3-2017

Đảng CSVN cai trị người dân bằng “luật rừng” trong khi hệ thống pháp lý VN có cả “rừng luật”. Nguyên nhân là do VN không có “tam quyền phân lập”. Thậm chí quyền tư pháp ở VN không hiện hữu. Quyền này “hiện diện” trong một số trường hợp, nhưng lại đứng ở dưới, rất xa, các quyền thuộc về “hành pháp”.

“Hành pháp”, đại diện là công an, sau đó là UBND các nơi… có quyền làm đủ thứ, kể cả những thứ bị pháp luật cấm.

Còn “đệ tứ quyền”, cách nói khác của báo chí, cũng là một “quyền” phụ thuộc “hành pháp”. Họ ăn lương nhà nước, lãnh lương hưu trí của nhà nước… thì làm sao họ nói khác, hay nói ngược các chính sách của nhà nước?

Nhà nước làm sai (luật), hành pháp làm sai (luật), cũng được báo chí bênh vực.

Người dân, trên danh nghĩa thì được luật pháp bảo vệ. Các quyền tư hữu, các quyền tự do cá nhân (như buôn bán, làm ăn sinh sống… nói chung là quyền cơ bản: quyền được sống)… trên danh nghĩa thì được pháp luật bảo vệ. Nhưng họ luôn là nạn nhân của luật (rừng).

Các thí dụ: bà bán vé số lẻ bị kết vào tội “kinh doanh sổ số”. Vụ bồi thường Formosa. Hay vụ “giải phóng vỉa hè” đang xảy ra tại Sài gòn.

Ta thấy luật pháp đã bị bóp méo, giải thích, áp dụng một cách tự tiện. Bên “có lợi” là bên nắm quyền lực.

Ở các nước “bình thường”, ngành “tư pháp” có vị trí trung tâm trong các sinh hoạt điều hòa và quản lý xã hội.

Vụ Formosa làm ô nhiễm biển. Ở một xứ sở “bình thường”, việc truy tìm nguyên nhân, xử lý đúng sai, tuyên bố mức độ bồi thường cho các nạn nhân… là trách nhiệm của “tư pháp”. Formosa có quyền khiếu nại lên tòa án, nếu thấy bị xử oan. Người dân cũng có quyền khiếu nại (lên tòa án), nếu thấy việc bồi thường không tương xứng.

Vụ “giải phóng vỉa hè” ở Sài gòn, theo “luật”, tất cả các vụ xử lý vi phạm hành chánh đều thuộc trách nhiệm của “tư pháp”. UBND đại diện hành pháp, nhưng thẩm quyền của cơ quan này là “làm theo lệnh của tư pháp”.

Ở hai thí dụ này ta thấy “tư pháp” không hề hiện hữu.

Tư pháp là gì? đó là “justice”, tức là “công lý”. “Cour internationale de Justice (CIJ)” được dịch là “Tòa án Công lý quốc tế”.

Các thí dụ trên, vụ Formosa hay vụ “giải phóng vỉa hè”, “công lý” không hiện hữu.

Khi không có công lý, người dân không phục. Để thiết lập công lý, người dân có quyền biểu tình. Việc này được hiến pháp và luật pháp bảo vệ.

Hôm trước báo chí đăng tải, dân Hà nội tụ tập trương biểu ngữ biểu tình phản đối chủ đầu tư “ngăn chặn lối ra vào” của họ. Ở đây “quyền lợi” của số đông dân chúng bị “chủ đầu tư” vi phạm. Nhà nước “ngó lơ”. Dân biểu tình là đúng.

Còn dân Sài gòn, có lẽ đã quen “học gồng”, nên họ gồng mình chịu đựng. Còn dân Nghệ An, cái nôi của cách mạng, vụ Formosa hứa hẹn như phim “nhiều tập”.

Riêng “nhà báo”, nếu không hô hào được việc “trọng luật” thì cũng đừng a dua với kẻ mạnh để bức hiếp người dân.

Nhà báo hô hào vi phạm luật thì nhà báo cũng phạm luật.

Tin bịa đặt

Tin bịa đặt

Ngô Nhân Dụng

“Giáo Sư Kim Andre Gosling Jr., đại học Harvard, tuyên bố trên báo The Boston Daily Inquirer rằng: Sinh viên Việt Nam thông minh nhất thế giới.”

Ông bạn tôi ở Pháp gửi cho mẩu tin trên qua email. Ông đoán rằng nếu đưa tin này công khai trên báo thì chỉ 5 phút sau sẽ được chuyển đi cùng khắp các mạng Internet.

Nhưng đó là một tin bịa đặt (fake news, một chữ bây giờ nghe rất quen thuộc). Thứ nhất, Giáo Sư Gosling Jr. không hề tuyên bố như vậy! Thứ Hai, thành phố Boston không có báo nào mang tên Daily Inquirer. Hơn nữa, không có giáo sư nào tên Kim Andre Gosling Jr. ở đại học Havard!

Tại sao bản tin bịa đặt này có thể sẽ lan truyền nhanh chóng trên mạng? Vì người Việt Nam đọc thấy thích, nó đáp ứng rất nhiều nhu cầu tâm lý của mình. Cũng giống như nhiều tin bịa khác đã được truyền đi rất nhanh trên mạng, khi người đọc thấy những tình tự yêu hay ghét của mình được thỏa mãn.

Tin bịa không phải một hiện tượng mới mẻ. Tháng Tư, 1975, dân Sài Gòn kháo nhau những tin đồn rất nhanh, vì ai cũng muốn bám lấy một niềm hy vọng trong cơn hoảng hốt. Nhiều khi người ta chuyển tin cho người khác chỉ để chứng tỏ mình “thạo tin.”

Các cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ vẫn là cơ hội cho nhiều tin bịa đặt ra đời. Năm 1800, Tổng Thống Adams tranh cử với Phó Tổng Thống Jefferson. Phe ông Adams loan truyền tin nói rằng ông Jefferson là con lai, của một cô da đỏ với một ông lai da đen ở Virginia, và theo chủ nghĩa vô thần. Tin bịa này đi xa và đi nhanh, đến nỗi bà Martha Washington, vợ cựu tổng thống đầu tiên của nước Mỹ, cũng tin là thật. Đáp lại, phe Jefferson đồn rằng Adams có ý định sẽ đánh nhau với nước Pháp, nhiều người cũng tin.

Nhưng hiện tượng tin bịa nổ bùng trong năm 2016, không phải chỉ vì bầu cử, mà vì những kỹ thuật thông tin mới. Những người không dính dáng đến các ứng cử viên cũng có thể tham gia vào phong trào tung tin bịa! Những tin bịa đặt đưa lên mạng được truyền đi nhanh hơn, rộng hơn, và có thể “sinh lợi” cho người bịa tin, bằng tiền mặt!

Những kỹ thuật của Facebook, Google, Twitter được giới bịa tin tận dụng vì họ vô tình vừa giúp “kẻ gian” tạo ra dư luận vừa cung cấp cơ hội cho người ta kiếm tiền. Thí dụ, Google theo dõi hàng ngày các mạng tin tức. Nếu thấy số người mở, rồi “click” và đọc những bài và tin trên mạng nào đó tăng lên, Google sẽ đưa các quảng cáo thương mại vào, hay kèm vô bài của tác giả nào “ăn khách.” Hai bên sẽ chia nhau tiền quảng cáo.

Vì thế, năm ngoái một nhóm bạn trẻ ở nước Macedonia đã có sáng hiến lập một mạng thông tin với những tin bịa đặt nóng hổi về cuộc bầu cử ở Mỹ. Nhiều người Mỹ thích quá, kêu nhau vào coi và đóng góp thêm ý kiến và tin tức cho mạng này. Với số lượng “lưu thông” tăng vọt, tự nhiên những công ty như Google đem quảng cáo tới! Thế là mấy thanh niên chưa đầy 20 tuổi ở tận bên Đông Âu đã kiếm tiền nhờ dân Mỹ hăng say tranh cử!

Tại sao đám thanh niên này thành công được? Vì các mạng xã hội tạo ra những “không gian kín” cho những người cùng khuynh hướng chính trị tụ họp với nhau. Người ta chỉ thích đọc những ý kiến giống mình và các tin tức thỏa mãn sở thích của mình. Một người chú ý đến tin chính trị nước Pháp chẳng hạn, ngày nào cũng mở các tin đó coi. Đến một ngày, khi họ mở trang “tin tức” của các công ty Yahoo, hay Google ra, sẽ thấy rất nhiều tin về chính trị Pháp. Nếu đi tìm tin điện ảnh Hàn Quốc nhiều lần, mở ra sẽ được đọc rất nhiều tin sao Hàn! Nếu bạn thích đọc tin xấu về nước Tàu hay nước Anh, các công ty “gom tin” sẽ chiều ý, có cái gì xấu về hai nước đó sẽ đem gửi hết cho bạn đọc!

Vì vậy, trên Facebook, bạn sẽ gặp toàn những người bạn cùng sở thích, cùng yêu và cùng ghét những thứ như nhau! Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu; nghĩa là những con chim hót giống nhau sẽ đối đáp nhau, những con thú có mùi giống nhau sẽ tìm đến gặp nhau. Loài người cũng vậy! Rốt cục bạn sẽ chỉ được cung cấp những thông tin một chiều, được đọc những lời vừa ý, lâu dần sẽ hoàn toàn không hiểu được các quan điểm khác mình.

Trong khung cảnh như vậy các tin bịa, fake news, lan ra nhanh chóng như vi trùng bệnh truyền nhiễm. Một khi bản tin được đưa lên Facebook rồi, ai thích nó sẽ dùng Twitter chuyển cho người khác coi. Người ta đã coi trên Twitter, lấy 20 tin bịa được nhiều người bấm (click) nhất so sánh với 20 tin thật được đọc nhiều nhất, và thấy rằng tin bịa ăn khách hơn tin thật rất nhiều! Trước khi một tin bịa có thể bị phanh phui và tố giác thì nó đã được hàng trăm ngàn người đọc. Và những “tín đồ” đã tin vào một tin bịa rồi thì có khi họ không bao giờ chấp nhận rằng mình sai lầm! Có ai vui vẻ thú thật rằng mình bị đánh lừa hay không?

Hiện tượng trên nổi bật ở nước Mỹ vì 62% dân Mỹ đọc tin trên mạng, theo nghiên cứu của Pew Research, và 44% qua Facebook. Đọc tin trên mạng khác đọc báo, nghe đài. Những người đọc báo có thể lật trang, nhìn thấy những tin tức hay bài vở khác nhau. Có tin tốt, tin xấu, có mặt trái và mặt phải của cùng một vấn đề. Người ta có cơ hội đọc những ý kiến với lập trường đối nghịch. Nhưng khi chỉ đọc tin trong “không gian kín” trên mạng, người ta sẽ không có cơ hội đó. Người ta gọi đó là những “phòng dội âm” (echo chamber).

Dùng mạng xã hội để đọc tin càng nhiều thì người ta càng dễ trở thành thiên lệch, quá khích. Họ không tin vào những tin tức hay ý kiến trái với sở thích và niềm tin của mình. Sau khi đã ghiền mạng, đọc báo, nghe đài thấy những gì trái với ý mình là người ta không tin. Trong năm 2016 có 15% người Mỹ vào Twitter ít nhất một lần mỗi tháng. Cùng năm đó, số người tin tưởng vào báo chí giảm xuống chỉ còn 33%.

Ở Châu Âu, số người đọc tin từ các mạng xã hội thấp hơn. Chỉ có 6% người Ý, 5% người Pháp và 4% người Đức vào Twitter mỗi tháng một lần. Ngược lại, có 52% người Đức vẫn tin tưởng vào tin tức trên báo chí, 70% tin tưởng vào các đài radio và ti-vi; chỉ có 8% tin vào những gì họ đọc trên Facebook hay Twitter. Ở Pháp và Ý, lòng tin vào báo chí thấp hơn, chỉ có 32% và 42%.

Một mối nguy hiểm cho xã hội là những tin bịa trên các mạng xã hội nuôi dưỡng những tâm địa thấp trong lòng người; yêu thích mù quáng, thù hận và kỳ thị chủng tộc, thành kiến tôn giáo. Các phong trào cực đoan quá khích dùng Facebook để khích động người theo họ qua những “không gian kín,” trong đó hoàn toàn không có một ý kiến hay thông tin trái ngược nào.

Những tổ chức khủng bố như ISIS, al Qaeda đều dùng mạng xã hội để chiêu mộ và củng cố lòng tin của các thanh niên bất mãn với đời Những đảng chính trị cực đoan ở các nước Tây phương cũng biết tận dụng các mạng xã hội. Lãnh Tụ Heinz Christian Strache của đảng “Tự Do” ở nước Áo làm một video với bản nhạc “Osterreich Zuerst” (Nước Áo Số Một) không được đài nào cho lên. Strache bèn đưa lên Facebook. Thế là ai cũng biết đến. Lãnh tụ dân tộc cực đoan Geert Wilders ở Hòa Lan, Marine Le Pen ở Pháp đều dùng mạng xã hội để thổi lửa cho các “tín đồ” của họ. Phong trào chống Hồi Giáo PEGIDA ở Đức khởi lên khi dùng Facebook quy tụ đồng đảng.

Từ khi hai chữ fake news, tin bịa, được nhắc đi nhắc lại hàng ngày, ai cũng có thể tự biện hộ bằng cách gán cho những người nói ngược với mình là “fake news!” Ứng cử viên tổng thống Pháp Emmanuel Macron mới tố cáo chính quyền Nga đang tung ra những “fausse nouvelle” để gây ảnh hưởng trên cuộc bỏ phiếu vào Tháng Tư này. Khi tổ chức Ân Xá Quốc Tế báo cáo chính quyền Bashar al-Assad ở Syria đã treo cổ 13,000 tù nhân dù không xét xử, nhà độc tài này đã nói nay rằng đó chỉ là tin bịa! Một nhà chính trị phải đối diện với những thông tin bất lợi, sau khi bôi nhọ đó là tin bịa, còn một cách trốn tránh là tung ra những tin bịa lớn hơn để lái đám đông sang chiều hướng khác!

Sau khi nạn tin bịa tràn lan có vẻ nguy hiểm cho nền tảng đạo lý và chính trị của xã hội, các công ty Google và Facebook đã quyết định không cộng tác về quảng cáo với những trang mạng chuyên loan tin bịa đặt nữa. Sẽ ít người kiếm được tiền bằng tin bịa như những thanh niên ở Macedonia. Nhưng không phải ai bịa tin và tung tin bịa đặt cũng nhằm mục đích kiếm tiền! Facebook còn đi xa hơn một bước, khi thấy một thông tin nào bị người khác tỏ ý nghi ngờ thì học đánh dấu báo động cho các độc giả khác biết!

Những chữ fake news, tin bịa, được nhắc đi nhắc lại quá nhiều lần, theo quy luật ngôn ngữ thì chúng sẽ mất hết ý nghĩa. Đối với nhiều người, hai chữ fake news, trở thành một tiếng chửi thề, không hơn không kém. Nhiều người nghe vẫn thích nhưng chẳng cần biết lời tố giác đúng hay sai. Nó cũng trở thành một tiếng hài hước cho những người tỉnh táo. Nghe xong rồi thì cười, nhưng không ai quan tâm đến ý nghĩa nữa. Hy vọng trong một thời gian, cơn bệnh dịch tin bịa sẽ tàn dần, như một trận dịch cúm đã qua chu kỳ của nó!

Nhưng tin bịa đã gây nên một hậu quả tai hại; một niềm tin tưởng chung đang đi xuống! Khi nghe đâu cũng chỉ thấy toàn tin bịa thì biết tin gì bây giờ? Chế độ tự do dân chủ đặt trên căn bản là người dân thu thập thông tin trước khi bỏ phiếu. Và khi báo chí được tự do, các nguồn tin tức nói chung có thể được độc giả khán giả gạn lọc, để biết sự thật. Nhờ đa số người dân tỉnh táo, những báo, đài nói dối, bịa đặt sẽ thua, các báo đài nói thật sẽ sống mạnh. Nếu mất niềm tin này, loài người có thể sống dân chủ hay không?