“Làm sao tình vĩnh cửu, không tan?”

Tin Mừng (Mt 11: 25-30)

     Khi ấy, Đức Giêsu cất tiếng nói:

     “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

     “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.

     “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”

  •  *    *   *    *

“Làm sao tình vĩnh cửu, không tan?”

“yêu trọn đời này và kiếp tới.”

(dẫn từ thơ Niệm Nhiên)

Không vỡ tan, nên tình người vẫn vĩnh cửu. Yêu trọn kiếp, nên đời người còn lưu mãi. Yêu thương vĩnh cửu, là ý nghĩa của dụ ngôn truyện kể ở trình thuật, rất hôm nay.

Trình thuật thánh Mátthêu viết hôm nay, lại vẫn mang dáng dấp của dụ ngôn truyện kể, để nghĩ suy. Suy, là suy những gì gói ghém trong truyện. Nghĩ, là nghĩ làm sao về những gì dụ ngôn nói.

Dụ ngôn hôm nay, là một trong nhiều phong cách để kể về đời sống Đức Kitô, theo kiểu khác. Bằng vào cung cách thuật truyện lạ như thế, thánh Mátthêu còn kể ra một loạt các dụ ngôn, có ngôn từ và hình ảnh để người đọc nắm bắt được bí kíp của cuộc sống.

Trước đó, thánh Máccô cũng đã sử dụng đường lối này để thuật truyện. Bằng vào cách này, thánh Máccô viết: Đức Giêsu nói nhiều đến điều rất khó lòng, để bày tỏ. Chẳng hạn như khi nói: Ngài sẽ không đi nơi đâu ra khỏi nỗi chết. Nỗi chết trên thập tự. Và, Ngài cũng không có chổ để gối đầu.

Hãy đến ở lại với Ngài, rồi người người sẽ toả đi muôn nơi. Cả khi bị vùi dập và giết chết, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi một ai. Ngài vẫn giúp. Hãy tự mình tạo trống rỗng đến mức độ không để lại gì ở nơi mình. Nghe như thế, ít người hiểu được điều Ngài nói, nên mới chống đối giận dữ.

Bằng vào lối viết như thế, thánh Máccô cho thấy Chúa muốn đả kích thái độ của người Do thái đối với cuộc sống. Đả phá mọi ảo tưởng, mộng mơ và những tham vọng vẫn có, nơi họ. Ngài muốn đem họ về với thực tế, dưới đất. Với thánh Máccô, bí kíp để mọi người sống là giáp mặt nhìn thẳng vào khó khăn. Rất cứng cỏi. Bởi, cuộc sống con người đâu có nghĩa luôn thuận lợi, dễ dãi. Và, thoải mái!

Kể về dụ ngôn người gieo giống, thánh Máccô nhắm đến những người sống chệch đường lối Chúa đưa ra. Tức, chỉ phớt qua nơi mặt ngoài, chứ không đặt thẳng trọng tâm đích thực của vấn đề. Họ là những người chỉ muốn thoát khỏi chủ đề chính. Chỉ thích những chuyện khác, bên lề thôi.

Kể về hạt giống rơi bên vệ đường, bị chim chóc bay đến lấy đi, là ý nói đến những người lơ là, không hiểu biết. Kể về những hạt rơi vào nền đất đá, quá nông, không bám sâu vào lòng đất. Nên, đã bị nắng trời thiêu rụi, là ý nói về những người chỉ chú trọng mặt ngoài, không quyền uy sức mạnh để có thể ở lại. Thánh nhân còn nói về những hạt rơi vào bụi gai, dễ chết ngạt. Tức, về những người quá ưu tư về thế giới. Về những cám dỗ ở đời, không để ý gì đến cung cách Chúa dạy, để mà sống. Những gì thánh Máccô đề cập đến hạt giống, là nói về cung cách sống đạo, cho đúng cách.

Dụ ngôn thánh Mátthêu kể, được viết vào thời gian sau thánh Máccô, rất nhiều. Khi kể về cùng một truyện, thánh Mátthêu cũng hiểu những điều mà tiền nhiệm mình từng nói. Hiểu rõ dụng đích của dụ ngôn, theo cách rất khác thường.

Và, thánh nhân diễn tả theo phong cách cũng khác. Khác, ở cách nói về cuộc đời. Về tình tiết lẫn ảnh hình, của câu truyện. Dưới ngòi viết của thánh Mátthêu, cuộc đời con người có những cốt cách rất đẹp. Đẹp đến độ ta không thể dùng ngôn ngữ ngày thường để diễn tả. Mà, phải khôn ngoan nắm bắt. Và, thực hiện.

Chừng như thánh Mátthêu còn đưa âm nhạc vào trong đó, cùng với ngôn ngữ truyện kể, có hình ảnh. Không dùng lời lẽ thuyết phục người nghe, mà đưa ra luận cứ về luân lý. Nhưng dùng tất cả những thứ nêu trên cốt cho mọi người thấy sự việc tuy tầm thường và bé nhỏ trong cuộc sống vẫn đều có bí kíp, rất tốt đẹp.

Dụ ngôn hôm nay, thánh Mátthêu kể về các loại đất ở nông trại. Và tín thư mà thánh nhân đưa ra, là: hãy sử dụng tất cả để kiến tạo thế giới. Rồi thì, hạt giống tốt lành của Chúa sẽ đổ tràn lên tất cả. Rồi cứ thế, thánh sử viết thêm về cỏ lùng mọc chung quanh lúa tốt, để rồi thánh nhân còn đưa thêm một sứ điệp, là: hãy kiên nhẫn với cỏ lùng. Nhổ nó đi, sẽ gây hoạ cho lúa tốt. Cho mùa gặt. Thánh nhân viết thêm: những gì tuy nhỏ như hạt cải, vẫn có tầm quan trọng của nó, nếu ta biết dùng nó.

Với thánh Mátthêu, ta không tài nào phát hiện được ngọc trai trong vỏ sò, nếu đa vứt bỏ cả vỏ trai lẫn ruột ngọc. Hệt như thế, ta không thể loại bỏ lưới cào, khi bắt cá. Tất cả vật dụng đều hữu ích cho con người. Cả những đồ xưa cũ đáng vứt bỏ. Vẫn có ích. Nếu biết sử dụng truyện kể do thánh Mátthêu ghi, rồi ra người người cũng sẽ nhận thấy tấm lòng bao la, tử tế mà cuộc đời đem lại, cho mỗi người. Với thánh nhân, cuộc đời người vẫn như những điểm sáng rút ra từ dụ ngôn truyện kể theo phong cách người Do thái viết.

Thánh Mátthêu thu thập nhiều điều từ Tin Mừng theo thánh Máccô, và đã biến chúng thành truyện kể, theo phong cách tư riêng của mình đối với những “con người bé nhỏ” như ngôn từ mà thánh nhân vẫn đề cập.

Bởi, dù bé nhỏ mọn hèn không bằng ai, những người như thế vẫn nắm bắt được thông điệp thập giá, sự chết và việc Chúa ra đi về nơi vĩnh cửu mà mọi người không hề hay biết. Thánh nhân biết rõ Chúa làm thế để mặc khải cho người bé nhỏ mọn hèn, nên không đả động gì về các nhu cầu triệt để, mà mọi người cần đến. Và, thánh nhân nhìn Phục sinh như một chúc lành Chúa ban cho đường lối thông thường ta vẫn sống. Thánh nhân còn cho ta biết cách mà nhìn và hiểu thấu đáo sự việc để rồi sẽ cảm kích biết ơn Chúa.

Nói cho đúng, các truyện dụ ngôn do thánh Mátthêu ghi thực sự là những truyện kể, đều rất đẹp. Đều mở cho ta thấy bí kíp của cuộc sống bình thường luôn có Chúa cùng sống, rất đẹp.

Thánh Mátthêu tự thôi thúc mình tiến xa hơn, hầu quả quyết rằng: quà tặng Chúa ban cũng dồi dào như thế. Ngài nhấn mạnh đến đất lành trong dụ ngôn người gieo vãi. Đất lành, cho vụ mùa đạt gấp 30, 60 lần. Có khi còn gấp trăm lần mà mọi người hằng trông mong, hy vọng.

Về vụ mùa, thánh nhân không đả động gì đến lúa giống hoặc đất ruộng, cho bằng chỉ nói về đức hạnh đang nảy nở trong con người. Chí ít, là khi ta cảm kích biết ơn được am hiểu thấu đáo những gì tốt đẹp nằm sâu trong cuộc sống. Để rồi, vẫn thích nghe Lời Chúa nói và hiểu rõ những điều Ngài căn dặn. Đó là những Lời được ghi ở Tin Mừng. Đặc biệt, là: Tin Mừng theo thánh Luca. Và cả Tin Mừng do chính thánh nhân ghi lại nữa. Và, lời lẽ ở Tin Mừng còn là Lời về Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Lời, tỏ lộ cho Mẹ biết là Mẹ được chúc phúc vì đã nghe và giữ lại trong lòng. Và rồi, Mẹ thực thi Lời Ngài dạy bằng động thái thân yêu, tích cực.

Tham dự Tiệc thánh có dụ ngôn người gieo giống hôm nay, ta cũng nên yêu cầu Mẹ chỉ cho mình con đường để sống nhân từ. Độ lượng. Sống làm sao, chỉ thấy những gì tích cực, ở phía trước. Để rồi, sẽ mỉm cười chấp nhận. Thực hiện. Bao lâu mình còn làm được.

Trong tinh thần đó, hãy cứ ngâm vang lời thơ nhẹ của người nghệ sĩ còn viết thêm:

“Làm sao tình vĩnh cửu, không tan?

Yêu trọn đời này và kiếp tới

lời huyền thoại, chàng hứa với nàng

lửa thiêu thân xác thành tro than

tái sinh từ tro, tình vẫn nồng nàn.”

(Niệm Nhiên – Ngụ Ngôn Tình Yêu)

Tình yêu, với ngụ ngôn. Vẫn là tình không tan. Không thành tro bụi. Dù là huyền thoaị, hay vĩnh cửu. Vẫn nồng nàn, như tình Chúa với người đời. Suốt đời người.

 Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn

  Mai Tá lược dịch.

“Đêm mưa làm nhớ không gian”

Buồn Đêm Mưa

httpv://www.youtube.com/watch?v=eLo0JaHHFkk

 Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 15 thường niên năm A 16/7/2017

“Đêm mưa làm nhớ không gian”
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la.”

(Nhạc: Phạm Đình Chương/Thơ: Huy Cận – Buồn Đêm Mưa)

(Rôma 6: 8-11)

Với nghệ sĩ, cứ mỗi lần mưa rơi, đều thấy buồn. Có như thế, người người mới gọi đó là: “Buồn Đêm Mưa”. Với dân thường, thì “Đêm mưa, (vẫn cứ) làm nhớ không gian, lòng thêm run lạnh nỗi hàn bao la”. Nói thế, tức là: một khi đã nhớ cho lắm rồi thì người đời lại cũng thấy lạnh, thấy buồn. Một thứ buồn, rất bao-la/vời vợi, đến khôn nguôi…

Với bần đạo bầy tôi đây, thì: “Mưa đêm” cũng không làm cho “lũ chúng em” thấy nhớ không-gian hoặc thời gian chút nào hết, nhưng vẫn buồn. Buồn ở đây, có thể là buồn về những chuyện xảy ra ở nhà Đạo, suốt ngày đêm không dứt.

Thời buổi hôm nay, có những chuyện lạ xảy ra không dứt ở nhà Đạo, vẫn cứ làm người người cũng rất buồn như nỗi “Buồn đêm mưa”, lưa thưa không dứt, đến là buồn.

Nói dông nói dài, là có ý bảo rằng: với nhà Đạo, chuyện “Buồn Đêm Mưa” sẽ còn làm cho các vị mộ đạo suy tư rất nhiều và nhung nhớ cũng không thiếu về tin-tức cùng nhận-định của đấng bậc ở nhà Đạo mới đây, như sau:

Thư bên dưới, lại cũng là nhận-định của Đức Tổng ở Sydney là Đức Thày Anthony Fisher OP tiếp theo sau việc Hồng Y George Pell bị khởi tố, có viết rằng:

 “Nhiều người sẽ bị chấn động cũng như tôi qua bản tin cảnh sát Victoria đã truy tố Hồng Y George Pell về những cáo buộc lạm dụng tình dục.

 Hồng y George Pell thường xuyên và cực lực bác bỏ những cáo buộc đó và tự khẳng định hoàn toàn vô tội. Nay ngài sẽ có cơ hội đưa trường hợp của mình ra trước tòa án để minh oan.

 Khi còn là Tổng giám mục Sydney và trong vai trò hiện nay, hồng y Pell đã hợp tác trong các cuộc điều tra của nghị viện, của ủy ban hoàng gia và của cảnh sát và ngài cũng bảo đảm là các giáo sĩ và nhân viên của giáo hội cũng hợp tác như vậy.

 Ngài sẽ tự nguyện về nước để đối diện với các truy tố này. Trong khi Tổng giáo phận sẽ yểm trợ trong việc ăn ở của hồng y và yểm trợ tinh thần cũng như cho bất cứ giám mục hay linh mục nào, tuy nhiên tổng giáo phận sẽ không chịu trách nhiệm về các án phí liên quan đến nội vụ.

 Qua việc cho phép Hồng y George Pell được nghỉ phép trong vai-trò bộ-trưởng kinh tế của Vatican, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã chứng tỏ sự tôn trọng đối với hệ thống công lý của nước Úc bao gồm quyền của mọi công dân được coi là vô tội trong khi thủ tục pháp lý đang tiến hành.

 Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng nhận xét là trong thời gian 3 năm làm việc chung, ngài luôn luôn ghi nhận sự liêm khiết của Hồng y George Pell. Riêng bản thân tôi được biết hồng y trong 3 thập niên qua, tôi chỉ có thể ủng hộ việc đánh giá: là con người George Pell mà tôi biết, là một con người chính trực khi tiếp cận với những người khác, một người có niềm tin với những lý tưởng cao cả, một con người hoàn toàn liêm chính.

 Khi nào có khiếu nại về lạm dụng tình dục, nạn nhân nên được lắng nghe với sự tôn trọng và tình thương xót. Khiếu nại của họ cần được điều tra và được đối xử đúng theo luật pháp. Không nên có định kiến với bất cứ ai vì phẩm trật cao, vì xác tín tôn giáo hay vì thế đứng trong xã hội. Tất cả chúng ta đều mong có công lý và tình thương cho các nạn nhân bị lạm dụng bao gồm tìm kiếm sự thật cho các cáo buộc đó. Nay chúng ta cần phải cho phép theo đuổi công lý một cách khách quan.

 Trong trường hợp này, tôi kêu gọi mọi người cầu nguyện cho sự thật và công lý, cầu nguyện cho Giáo Hội trong lúc khó khăn và tiếp tục lời cầu nguyện cho tất cả những ai bị xâm phạm tình dục”. (Xem. Tin Giáo Hội: Tổng Giám Mục Anthony Fisher OP Tổng giáo phận công giáo Sydney Nguồn: Catholic Weekly 03/7/2017, Vũ Nhuận ở Úc chuyển ngữ)

 Nói dông-dài về chuyện đời trong Đạo, là nói nhiều về những điều nghe rất quen, như đấng bậc còn nói dài, nói mãi trên sách vở. Nói như đấng bậc, là nói về “con-người-là-hình-ảnh-của- Thiên-Chúa”, ngang qua Đức Giêsu Kitô, mình từng gặp như sau:

“Với những ai lớn lên với nền văn-hoá Phương Tây, tất cả đều mang trong mình một vài cảm-nhận về hình-ảnh Đức Giêsu, dù vẫn còn mù-mờ hoặc rất rõ. Với nhiều người, thì ảnh-hình thời thơ-ấu của Đức Giêsu vẫn còn “y như đúc’ đem vào tuổi trưởng-thành.

 Với người khác, thì: ảnh-hình này được gìn-giữ bằng sự thuyết-phục đậm sâu, đôi lúc còn liên-kết với lòng sủng-mộ nồng-nàn, tư-riêng hoặc có khi còn cột chặt với các học-thuyết rất cứng ngắc. Với một số các đấng bậc này/khác, ở trong hoặc bên ngoài Giáo-hội, thì: ảnh-hình ấy lại trở-thành vấn-đề, rất cả thể. Vấn-đề là, sự việc ấy đưa dẫn đến trạng-thái bối rối và nghi-hoặc đến độ đương-sự cứ dửng-dưng với Đạo, hoặc chối-bỏ lòng đạo mà họ từng có vào thời ấu-thơ.

 Quả là, đối với rất nhiều tín-hữu Đạo Chúa, đặc-biệt là các đấng bậc nổi-cộm trong các Giáo-Hội, các ảnh-hình về Ngài thời thơ-ấu không còn trở-thành chuyện đáng kể, đầy ý-nghĩa nữa.

 Có thể nói mà không sợ sai lầm, rằng: Ảnh-hình về Đức Giê-su trong cuộc sống, là việc đáng để mọi người quan-tâm. Nói thế, là bởi: các ảnh-hình về Ngài luôn nối-kết với các hình-ảnh của cuộc sống người tín-hữu. Liên-kết, đến độ nó tạo ảnh-hưởng lên khuôn-mẫu cuộc sống Kitô-hữu, khiến mọi người có thể tin hoặc không tin vào Đạo Chúa. (X. Marcus J. Borg, Meeting Jesus Again for the First Time, Harper One 1994, tr. 1-2)

Nói những điều được “gói-ghém” gọn gàng như thế, tức bảo rằng: hành-trình đời đi Đạo, chỉ mong sao được gặp Ngài như lần đầu tiên đã gặp và đã thấy. Gặp và thấy rất nhiều, những điều còn tiếp-diễn dài dài ở đời người, như Ngài từng nói.

Nói như Ngài từng nói, còn là: bảo ban hết mọi kẻ tin hãy sống thực cuộc đời mình như Ngài từng muốn thế, với anh em. Nói như Ngài vẫn nói, còn là và sẽ là: nói và sống như Ngài từng làm và vẫn làm cho ta và cho mọi người ở đời này, có thật nhiều “đêm mưa” hồng ân bao-la, đến vô cùng/vô tận.

Nói, như các đấng bậc từng nói và từng làm, là nói và làm theo chiều-hướng nào đó, dù có đúng phép hay không vẫn không là điều quan-trọng.

Nói như đấng bậc thày dạy trên sách vở, là còn hát lên những lời nghịch-ngạo cũng rất buồn, như ca-từ nhẹ, ở bên dưới:

“Đêm mưa làm nhớ không gian,
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la.

Tai-nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn.
Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi
Rơi rơi … dìu dịu … rơi rơi
Rơi rơi … dìu dịu … rơi rơi
Trăm muôn, giọt nhẹ nối lời vu vơ. 

Trăm muôn, giọt nhẹ nối lời vu vơ.
Tương-tư hướng lạc phương mờ
Trở nghiêng gối mộng, hững hờ nằm nghe
Gió về lòng rộng không che
Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư..”

(Phạm Đình Chương/Huy Cận – bđd)

“Hơi may hiu hắt, bốn bề tâm tư” hôm nay, là những “tâm-tư hướng lạc phương mờ” rất đọng lắng ta nghe hoài và nghe mãi, trong đêm mưa.

“Hơi may hiu hắt, bốn bề tâm-tư”, còn là và sẽ là những tình-tự tràn lan trong chốn chợ đời, nhiều nỗi nhớ. Nhớ đến nỗi, tôi và bạn lại sẽ suy-tư về nhiều thứ, như đà thấy trong vườn hoa tư-tưởng rất đọng/lắng nơi tâm-can loài người. Tâm can ấy, hôm nay đây, lại đã thấy nhiều vấn-đề đặt ra mà lại không có giải-đáp thuần-thục nào, tốt đẹp hết.

Và, vấn-đề ấy, hôm nay, được lồng trong truyện kể rất âm-thầm/nhè nhẹ nhiều nỗi nhớ, như sau:

“Tô Đông Pha là một nhà thơ nhà văn nổi tiếng , làm quan thời Bắc Tống của đất nước Trung Hoa, nhưng ông là một người rất hiểu lễ nghĩa, nhân từ và dân dã, ông thường ăn mặc giản dị, đi ngao du sơn thủy và đàm đạo với các vị tăng nhân khắp nơi. Một ngày nọ, trên đường ngao du đến Hàng Châu, vừa khát vừa mệt nên thấy có một ngôi chùa, Đông Pha liền bước vào để xin chén nước uống và nghỉ ngơi.

 Phương trượng của ngôi chùa ra tiếp, thấy Đông Pha ăn mặc bộ đồ cũ, đầy bụi đường xa, không thấy có gia nhân ngựa xe đi cùng nên nghĩ đây là một người khách hành hương bình thường, nên tỏ ý không coi trọng, nhưng vì đã ra đến nơi nên vẫn phải tiếp mặc dù trong bụng không muốn. Vị phương trượng chỉ cái ghế ngay sân nói: “Ngồi”, rồi quay sang chú tiểu đứng cạnh bảo: “Trà”, chú tiểu bưng lên cho Đông Pha một chén trà pha từ bao giờ nguội ngắt.

Sau khi ngồi nói một vài câu chuyện, vị phương trượng mới thấy Đông Pha không phải người tầm thường như lúc đầu ông ta nghĩ vì thấy ăn nói hoạt bát, hiểu biết, càng nhìn lại càng thấy phong thái đĩnh đạc, phi phàm, liền mời vào trong một gian nhà gần đấy ngồi, bảo cho đỡ nắng. Vào phòng, ị phương trượng chỉ ghế nói: “Mời ngồi”, lại nói với chú tiểu: “Mời trà”.

Sau khi trò chuyện, vị phương trượng kinh ngạc khi biết vị khách này chính là đại thi nhân tiếng tăm lừng lẫy Đông Pha cư sĩ thì liền mời ông vào một căn phòng rộng lớn trong điện và không ngớt cúi đầu nói: “Kính mời ngồi” và nói với chú tiểu: “Kính trà thơm”, chú tiểu mang lên chén trà nóng thơm ngào ngạt. Ngồi nói chuyện thêm một hồi, Đông Pha xin cáo từ, vị phương trượng liền xin Đông Pha để lại bút tích bằng thơ để kỷ niệm ngày ông ghé thăm chùa.

Đông Pha mỉm cười, rồi viết 2 câu: “Tọa, Tỉnh tọa, Thỉnh thượng tọa; Trà, kính trà, kính hương trà”, dịch là: “Ngồi, mời ngồi, kính mời ngồi; Trà, mời trà, kính trà thơm”. Vị phương trượng xem xong xấu hổ đỏ bừng mặt không nói được lời nào, từ lúc ấy không dám phân biệt khách khi tiếp đón nữa.” (Trích truyện kể  trên mạng, do nhiều người kể, để ghi nhớ)

Truyện kể ở trên mạng, do nhiều người kể, có nghe thì cũng hiểu được nhiều điều khá thích-thú, chốn dân-gian. Rất nhiều điều tuy đã khá thích-thú, theo đủ kiểu, vẫn có thể được người kể diễn-giải theo ý khác. Những ý-nghĩa và ý-định có hơn khác với điều mình suy, nhưng vẫn là điều cần được bạn và tôi nghĩ tới như người kể diễn-nghĩa như sau:

“Đông Pha cư sĩ đã để lại cho hậu thế hai bài học lớn:

Thứ nhất là: Người thông minh, hiểu biết không nhìn vẻ bề ngoài mà đánh giá người khác.
Thứ hai là: Người có đạo đức, tu dưỡng thì không sợ người khác đánh giá sai mình, càng không tức giận khi bị coi thường và không quan tâm đến thái độ của người khác. Ngọc sáng thì tự nó sẽ luôn tỏa sáng.

Con người ta bình thường vẫn quen vội vàng đánh giá người khác qua dáng vẻ bề ngoài, rồi dựa theo thân phận mà đối nhân xử thế. Đối với người danh phận tầm thường thì tỏ vẻ coi thường ngạo nghễ, còn với ai có danh phận cao quý tiếng tăm, thì mới tỏ vẻ quý phục. Làm một người tu luyện như vị phương trượng kia cũng không tu bỏ được cái tâm phân biệt này.

Cho nên đừng đánh giá con người chỉ qua dáng vẻ bên ngoài mà hãy nhìn vào bên trong tâm hồn họ. Bạn cần có thời gian, không thể vội vàng. Một cái nhìn thật sâu sắc, thật khách quan giúp bạn không đánh giá sai và để mất đi những người bạn quý giá.

Nghe diễn-nghĩa từ truyện kể như thế, cũng nên qui về lời vàng do bậc thánh-hiền vẫn từng bảo:

“Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô,

chúng ta cũng sẽ cùng sống với Ngài:

đó là niềm tin của chúng ta.

Anh em cũng vậy,

hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi,

nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa,

trong Đức Kitô Giêsu.”

(Rôma 6: 8-11)

Thế mới biết, mọi truyện kể hay chuyện đời thường rất thật, cũng còn tuỳ niềm tin của ta và của người. Tin rằng: ta cũng như người, hãy coi mình như “đã chết cho tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên-Chúa”. Bởi vì, Thiên-Chúa là Đấng triền-miên nhân-hậu, tuyệt-vời với mọi người.

Nghĩ thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta cứ hiên ngang hát nhạc có điệu buồn đêm mưa, như sau:

“Đêm mưa làm nhớ không gian,
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la.

Tai-nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn.
Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi
Rơi rơi … dìu dịu … rơi rơi
Rơi rơi … dìu dịu … rơi rơi
Trăm muôn, giọt nhẹ nối lời vu vơ.
Trăm muôn, giọt nhẹ nối lời vu vơ.
Tương-tư hướng lạc phương mờ
Trở nghiêng gối mộng, hững hờ nằm nghe
Gió về lòng rộng không che
Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư..”

(Phạm Đình Chương/Huy Cận – bđd)

Nghe hát như thế rồi, hẳn bạn và tôi sẽ liên-tưởng đến cuộc sống ở đời và trong Đạo, luôn có sợi giây nối kết các tình-huống thắt chặt tình đời, để rồi ta và người đời sẽ dựa trên đó mà phê-phán. Phê và phán, xem đó có là chuyện “Buồn Đêm Mưa” hay không; hoặc vẫn cứ là chuyện bình thường, rất vô-cảm ở huyện nhà, chẳng có gì cần phải suy-tư hoặc nghĩ-ngơi, chi thêm mết. 

Thế đó, là câu chuyện để phiếm rộng, phiếm dài, phiếm lai rai hôm nay và mai ngày, rất tương-lai và mãi mãi.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn còn “Buồn đêm mưa”

như khi trước

Nhưng, nay đã vui trở lại

vì trời nắng

rất hanh-thông. 

Những kẻ chuyên nghề phá hoại đất nước

Những kẻ chuyên nghề phá hoại đất nước

Tháng Chín (Danlambao) – “Nếu để bán đảo Sơn Trà nguyên vẹn và chỉ để ngắm thôi thì uổng quá”. Đó là phát biểu của tên Phó chỉ huy Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng. Đây là phát biểu của một cán bộ đảng viên nhưng cũng phản ảnh “sâu sắc” chủ trương và đường lối của đảng: muốn phá đi cái nguyên vẹn, hùng vĩ của Sơn Trà để âm mưu “quy hoạch” nhằm kinh doanh rút tiền bỏ túi.

Trong phiên họp của các quan chức Đà Nẵng vào ngày 05/07/2017, đa số các quan đều một lòng tán thành mổ xẻ bán đảo Sơn Trà để quy hoạch thành khu du lịch chứ không giữ nguyên.

Hiện tại đang có 25 dự án đang xếp hàng để xẻ thịt một trong những danh lam thắng cảnh đẹp nhất Việt Nam với diện tích 4.439 ha, có một hệ sinh thái đa dạng và hiếm quý. Tuy nhiên, cho đến bây giờ và ít nhất trong nhiều năm nữa, các quan chức từ trung ương đến địa phương không có một nghiên cứu nghiêm chỉnh nào để đánh giá sự đa dạng sinh học cũng như có phương án bảo tồn thiên nhiên ở trên cạn lẫn dưới nước ở bán đảo Sơn Trà.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phía Tây bắc bán đảo Sơn Trà đã bị Công ty CP biển Tiên Sa “xẻ thịt”

Chỉ với một dự án xẻ thịt mới khởi công bởi Cty biển Tiên Sa (và đốn cây, cày nát khi chưa có giấy phép xẻ thịt) mà Sơn Trà đã như thế này:

 

Nếu tổng cộng 25 dự án “vào cuộc” thì bán đảo Sơn Trà sẽ có một tên mới là bán đảo Sơn Trọc.

Quy hoạch “xẻ thịt Sơn Trà” này đã bị dư luận lên án khiến cho các quan chức đã phải tổ chức nhiều phiên họp khẩn để tìm cách xoa dịu và tìm đường “xẻ thịt” êm thắm hơn. Bởi vì… chỉ để ngắm thôi thì uổng quá!

07.07.2017

Tháng Chín

danlambaovn.blogspot.com

“Lời hay thì không thật, lời thật thì không hay”

 “Lời hay thì không thật, lời thật thì không hay

Lão Tử.

Lão Tử được coi là bậc Thánh giả, là đức khai tổ của Đạo giáo, và là tác giả cuốn “Đạo đức kinh” – một trong những cuốn cổ thư giá trị nhất của văn hóa Trung Hoa. “Đạo đức kinh” của Lão Tử có nội hàm bác đại tinh thâm và hàm nghĩa vô cùng sâu sắc mà người đời vẫn lưu truyền đến tận ngày nay. 

Một trong những lời dạy nổi tiếng được Lão Tử đề cập đến là: “Lời hay thì không thật, lời thật thì không hay”, tương truyền rằng lời dạy này xuất phát từ câu chuyện sau đây:

Quê nhà của Lão Tử là nơi nổi tiếng với hoa mẫu đơn. Một ngày, có người vào làng bán cây mẫu đơn, nhưng thực chất đó là gốc cây củ gai trông giống hệt như gốc mẫu đơn, được bày trên tấm vải màu đỏ. Người bán hàng dùng những ngôn từ dễ nghe để chào mời khách mua:

“Một đóa mẫu đơn tỏa ánh hồng,
Màu sắc rọi người khắp nhà thơm;
Đóa hoa lớn cỡ cái thau chậu,
Diễm lệ vô cùng, vua loài hoa!”

Lão Tử nghe ông ta nói hay nói ngọt như vậy, vô cùng mừng rỡ bèn mua một cây. Sau khi về nhà, ông cẩn thận vun trồng ở trong sân. Không lâu sau, gốc cây đó đã nảy mầm, mọc ra những lá non. Nhưng đợi mãi đợi mãi mà chẳng thấy hoa đâu, thân cây dần dần lộ ra nguyên hình cây củ gai.

Mùa xuân năm sau, lại có một người bán gốc mẫu đơn vào làng. Vì đã mắc lừa lần trước, lần này Lão Tử cẩn thận hỏi người bán rằng: “Thứ ông bán, có phải là mẫu đơn không?”.Người đó không nói nhiều, trước tiên nhìn Lão Tử một cái, tiếp đó không đếm xỉa tới, nói năng thô lỗ rằng: “Chỉ có một đống này, ông muốn mua thì mua, không muốn mua thì thôi!”. Lão Tử cảm thấy người này thật kỳ lạ: “Sao ông ta lại không khen hàng của mình nhỉ?”.

Cuối cùng Lão Tử vẫn mua một cây, về nhà ươm trồng ở trong sân vườn. Mười ngày sau, trên mặt đất đã trồi lên mầm non, không lâu sau, cây mẫu đơn đó lại nở ra mười mấy bông hoa vừa to vừa đẹp, khiến hàng xóm láng giềng đều đến ngắm nhìn thưởng thức. Lão Tử mừng rỡ, bèn kể lại câu chuyện hai lần mua gốc mẫu đơn. Về sau khi viết cuốn “Đạo Đức Kinh”, ông đặc biệt đem “lời hay thì không thật, lời thật thì không hay” viết vào trong kinh sách, ý chính là: lời nói thật thì không hoa mỹ, lời hoa mỹ thì không chân thật.

Lời dạy của Lão Tử cho đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa. Trong cuộc sống, những gì chân thật thường không màu mè và đó là những lời bạn có thể tin tưởng được, cho dù đôi lúc bạn có thể cảm thấy mất lòng. Nếu như bạn lúc nào cũng muốn nghe những lời hoa mỹ, ngọt ngào, những lời khen nịnh, rồi sẽ đến lúc bạn nhận ra rằng những lời này sẽ khiến bạn không phân biệt được đâu là thật, đâu là giả, đâu là điều tốt, đâu là điều xấu, và có thể nhiều khó khăn sẽ đến từ đó.

Anh chị Thụ & Mai gởi

MANG LẤY ÁCH

MANG LẤY ÁCH

 

Báo Văn Học số 193 tháng 5 năm 2002, trong mục Tin Văn do Thế Quân phụ trách, đăng tin về em bé Mattie Stepanek 11 tuổi, hiện sống với mẹ ở Upper Marlboro, bang Maryland.  “Mới sinh ra, em đã mang một căn bệnh di truyền quái ác có tên là “dysautonomic mitochondrial myopathy”, một hình thức khá hiếm hoi của bệnh yếu cơ – muscular dystrophy.  Bệnh này đã giết chết ba anh chị em của Mattie, còn bản thân em thì đời sống bị dính liền vào chiếc xe lăn với một bình oxygen thường xuyên bên cạnh.  Nhỏ nhắn, yếu ớt, thiếu sức khỏe và mang một căn bệnh vô phương cứu chữa như thế, nhưng em luôn vui vẻ, lạc quan.  Em rất ham học và sáng tạo.  Em bắt đầu làm thơ và viết văn vào lúc 3 tuổi.  Em đọc và mẹ em đánh máy lại.  Lúc 5 tuổi, em đã có mấy trăm bài thơ và đến nay đã có hàng ngàn bài thơ.”

 

“Em có ba ước mơ: thứ nhất là xuất bản một tập thơ của riêng em, thứ hai là được diện kiến với “model” của em là cựu tổng thống Jimmy Carter, và cuối cùng là được xuất hiện trong chương trình truyền hình của Oprah.  Năm 2001, cả ba ước mơ của em không những đã thành đạt mà còn thành đạt ngoài ý muốn.  Tháng 7 năm 2001, hai nhà xuất bản “VPS Books” và “Hyperion Books” hợp tác nhau xuất bản thi tập đầu tiên của em, tựa đề là “Heartsongs.”  Ngay lập tức, nó trở thành “bestseller” trên toàn quốc.  Tháng 10 năm 2001, em được diện kiến cựu tổng thống Carter trong chương trình truyền hình “Good Morning America.”  Và ngày 19 tháng 10 năm 2001, em xuất hiện trong chương trình truyền hình Oprah.

 

Tối ngày 17 tháng 4 năm 2002, Mattie xuất hiện trong chương trình “Lary King Live” của hệ thống truyền hình CNN.  Trong cuộc trò chuyện này, bằng một giọng nói lưu loát, cử chỉ sống động, em trả lời nhiều câu hỏi về cuộc sống, việc học, việc làm thơ và những mơ ước của em một cách thông minh, chân thành và đôi khi còn pha chút dí dỏm.  Trả lời câu hỏi liên quan đến căn bệnh nan y của em, Mattie nói: “Các bác sĩ không tin rằng cháu sẽ sống nổi một ngày.  Nhưng cháu đã sống được.  Rồi họ lại bảo “OK, thằng nhỏ sống đến 6 tháng là cùng.”  Cháu đã sống… Khi cháu lên 2, họ nói “OK, 10 tuổi thôi.”  Bây giờ đây cháu đã được 11 tuổi.  Họ sẽ có thể nói “đến mười mấy thôi, quá lắm là đến hết tuổi thiếu niên, nhưng cháu dự tính sẽ sống đến 101 tuổi lận”.

 

Đề cập đến sự kiên trì phấn đấu của mình để tồn tại và sáng tác, em phát biểu: “Đôi khi, cháu tự hỏi: Tại sao lại là cháu?  Tại sao cháu lại có một đời sống khó khăn như thế này?  Tại sao mấy anh chị em của cháu lại chết?  Tại sao bệnh không lành?  Nhưng rồi cháu nghĩ lại và tự hỏi: Tại sao không phải là cháu chứ?  Cháu có thể chịu đựng được tốt hơn một đứa trẻ khác đã phải chịu những khó khăn trong đời của nó.  Hoặc là cháu có thể chịu đựng tốt hơn một đứa nhỏ chẳng hiểu gì chuyện đó cả và có thể còn đau khổ hơn”.

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta mang lấy ách của Người trên đôi vai chúng ta.  Phải chấp nhận những nhọc nhằn vất vả, bệnh tật ốm yếu, khổ đau buồn sầu, và tất cả những ngang trái ngoài ý muốn như là cái ách phải mang lấy trong cuộc đời.

 

Người Do Thái dùng thành ngữ cái ách để chỉ sự vâng phục, phục tùng.  Họ nói về cái ách của lề luật, cái ách của các giới răn, cái ách của Vương Quốc, và cái ách của Thiên Chúa.  Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh cụ thể này để diễn tả lời mời gọi của Người.

 

Theo William Barclay, Chúa Giêsu nói, “Ách của Ta thì êm ái.”  Chữ “êm ái”, tiếng Hy Lạp là “chrestos” có nghĩa là vừa vặn.  Trong xứ Palestine những cái ách của con bò được làm bằng gỗ; con bò phải được dẫn đến tiệm thợ mộc để đo kích thước phù hợp với từng con.  Sau đó cái ách phải được thợ mộc đẽo gọt, điều chỉnh, sửa chữa cẩn thận cho thật vừa vặn để không làm trầy da hay tổn thương đến con vật.

 

Có một huyền thoại cổ kể lại rằng Chúa Giêsu là người thợ mộc sản xuất ra những cái ách vừa vặn vào loại hạng nhất ở xứ Galilêa, và trong khắp cả nước người ta ùn ùn kéo đến với Người để mua những cái ách hạng nhất do Người làm ra.  Thời ấy, các cửa tiệm cũng có những nhãn hiệu dán trên cửa, và cái nhãn hiệu của tiệm thợ mộc ở Nagiarét nổi tiếng với hàng chữ: “My yokes fit well” – “Ách Ta rất vừa vặn”.

 

Chúa Giêsu nói: “Ách của Ta thì êm ái”, có nghĩa là: “Cuộc sống Ta ban cho con không phải là gánh nặng làm tổn hại đến con; bổn phận của con đã được đo lường thích hợp với con rồi.”  Bất cứ điều gì Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta đã được làm để phù hợp chính xác với những nhu cầu và khả năng của chúng ta.

 

Chúa Giêsu nói: “Gánh của Ta thì nhẹ nhàng.”  Đúng như lời của một thầy Rabbi đã nói:“Gánh của tôi đã trở nên bài ca của tôi.”  Điều này không có nghĩa là gánh nặng thì dễ dàng mang vác; nhưng có nghĩa rằng nó được đặt trên vai chúng ta bằng tình yêu.  Nó sẽ được mang vác trong tình yêu.  Và tình yêu sẽ làm cho những gánh nặng nề nhất cũng trở nên nhẹ nhàng như thánh Augustinô đã nói: “Ở đâu có tình yêu, ở đó hết khó nhọc.”

 

Sưu tầm

Louis Pasteur – Nhà bác học thiên tài – Một tâm hồn khiêm tốn

Louis Pasteur – Nhà bác học thiên tài – Một tâm hồn khiêm tốn

Trên tuyến xe lửa đi về Paris, có một thanh niên trẻ ngồi cạnh một cụ già. Chỉ ít phút sau khi đoàn tàu chuyển bánh, cụ rút trong túi áo ra một cỗ tràng hạt và chìm đắm trong cầu nguyện. Người sinh viên quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội.

Sau một hồi lâu, xem chừng không thể chịu nổi, anh ta mạnh dạn lên tiếng:

“Thưa Ông, Ông vẫn còn tin vào những chuyện nhảm nhí thế à?”

Cụ già thản nhiên trả lời: “Đúng vậy, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu không tin sao?”

Người thanh niên xấc xược trả lời:

“Lúc nhỏ tôi có tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin vào những chuyện nhảm nhí ấy được, bởi vì khoa học đã mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi và hãy học hỏi những khám phá mới của khoa học, rồi Ông sẽ thấy rằng những gì Ông tin từ trước đến nay đều là những chuyện nhảm nhí hết.”

Cụ già nhỏ nhẹ hỏi người sinh viên:

“Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học, liệu cậu có thể giúp tôi hiểu được chúng không?”

Người sinh viên nhanh nhẩu trả lời:

“Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gởi sách vở đến cho ông, rồi ông sẽ say mê đi vào thế giới phong phú của khoa học cho mà xem.”

Cụ già từ từ rút ra trong túi ra một tấm danh thiếp và trao cho người sinh viên. Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng xấu hổ đến tái mặt và lặng lẽ rời sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy có ghi:

Louis Pasteur, viện nghiên cứu khoa học Paris.

Scientific Identity, Portrait of Louis Pasteur

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Louis Pasteur – Nhà bác học thiên tài – 

Một tâm hồn khiêm tốn và cầu nguyện

 Trên tuyến xe lửa đi Ba Lê

có sinh viên ngồi bên cụ già

cụ lấy ra, khi tàu chuyển bánh

cổ tràng hạt chìm đắm nguyện cầu

Sinh viên quan sát cụ già

cử chỉ bực bội, xoay qua, xoay về

Sau một hồi, im re không nổi

anh mạnh dạn gặn hỏi cụ già:

“-Thưa ông sao còn thiết tha

“tin chuyện nhảm nhí, nguyện cầu đọc kinh?

Cụ thản nhiên: -“tôi tin cầu nguyện”

“còn anh không tin chuyện tôi làm?”

Sinh viên xấc xược nói :- “vâng

“tôi tin lúc bé, nhưng sang trang rồi

“khoa học mở mắt tôi nhìn thấy

“chuyện nguyện cầu nhảm nhí ngày xưa

“Khám phá khoa học dẫn đưa

“cho thấy tôn giáo phỉnh lừa dân gian

“Ông sẽ thấy rõ ràng chứng cớ”

Cụ già liền nói nhỏ nhẹ rằng:

-“Khám phá khoa học mà anh

“vừa nói đến tôi rất cần biết qua

“để tôi hiểu đâu là sự thật”

Sinh viên liền thân mật trả lời:

-“Ông viết địa chỉ cho tôi

“ tôi sẽ gửi sách sáng soi vấn đề

“rồi ông sẽ say mê tìm được

“thế gìới của khoa học văn minh”

Cụ già rút danh thiếp mình

từ tốn trao cho anh sinh viên nầy

Đọc danh thiếp tía tai, anh lủi

Qua toa khác vì bởi thiệp danh

ghi: Louis Pasteur rành rành

Viện nghiên cứu khoa học thành Ba-Lê

BS Phùng Văn Hạnh cảm tác

Nhờ ánh sáng của bạo lực cắt mạng và “ơn bác, ơn đảng” chúng cháu chém rơi đầu nhau

 Nhờ ánh sáng của bạo lực cắt mạng và “ơn bác, ơn đảng” chúng cháu chém rơi đầu nhau

Dân Đen (Danlambao) – Tổ chức khủng bố hồi giáo tại các nước Ả Rập đã và đang là mối kinh hoàng của cả thế giới. Những kẻ khủng bố gieo rắc nỗi sợ bằng những đợt đánh bom cảm tử hoặc những cuộc tấn công man rợ nhắm vào nơi đông người. Nhưng có lẽ ghê rợn nhất trong cách mà tổ chức khủng bố áp dụng là việc hành hình nạn nhân bằng cách chặt đầu. Hành vi khủng khiếp ấy tưởng chừng chỉ xảy ra tại những nơi mà tổ chức khủng bố chiếm giữ để sát hại các con tin của chúng. Tuy nhiên hành vi khủng khiếp ấy lại được thực hiện ngay tại một đất nước luôn tự huyễn hoặc là thiên đường, là một quốc gia hạnh phúc, là một dân tộc ngàn năm văn hiến. Đó chính là Việt Nam đang bị làm cái đuôi cho cái “thiên đường” cộng hòa xã hội chủ nghĩa.

Chắc chắn không ít người cảm thấy rùng mình khi đọc bản tin “kinh hoàng nam thanh niên bị chém lìa đầu trong đêm” được đăng tải trên các trang báo trong nước. Việc này được nhận định là một cuộc ẩu đả sau những mâu thuẫn cá nhân của một số thanh niên trên địa bản tỉnh Vĩnh Phúc. Tình tiết của sự việc đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về tương quan hành xử giữa con người với nhau. Đây chắc chắn không phải là một vụ thanh toán được sắp đặt hay lên kế hoạch hành động, nó chỉ đơn giản là cách xử lý một vụ mâu thuẫn cá nhân. Tuy nhiên hành động chém lìa đầu một người không phải là việc làm dễ dàng ngay cả đối với những sát thủ chuyên nghiệp.

Điều đáng suy nghĩ ở đây là tại sao con người Việt Nam ngày càng trở nên tàn ác đối với đồng loại. Những thông tin về các vụ án cướp, giết, hiếp vẫn đầy dẫy trên các trang báo của nhà nước, nhưng các chuyên gia tâm lý cũng khó có thể lý giải nguyên nhân tại sao người Việt ngày nay lại có những hành động đáng ghê sợ như thế. Phải chăng người dân Việt Nam đang chọn cho mình một lối sống theo xu hướng bạo lực để tự vệ trước tất cả sự việc ảnh hưởng đến bản thân.

Một ông phó giáo sư tiến sĩ nọ thản nhiên cầm gạch đập vỡ kính xe ô tô của người lạ dám đậu xe trước sân nhà mình. Hai cán bộ đảng viên kia sẵn sàng choảng nhau đổ máu ngay chốn công sở cơ thi hành luật pháp. Ba, bốn học sinh ấy thay nhau đánh đập, lột đồ bạn học, quay clip tung lên mạng chỉ vì “mày dám thích bạn trai của tao”. Và các “đồng chí” lạnh lùng bắn vào đầu “đồng bọn” cùng đảng tại Yên Bái vì tranh giành quyền lực, ghen tức lẫn nhau.

Đã hơn 40 năm đất nước “thống nhất” dưới sự độc tôn cướp quyền lãnh đạo của đảng cộng sản, những hình ảnh con người ngày nay chém giết, hãm hại nhau lại trở nên phổ biến trong cuộc sống hằng ngày. Không ai khác, chính đảng cộng sản với chủ trương bạo lực cách mạng, với nền giáo dục nhồi sọ lòng căm thù, với bộ máy tuyên truyền sặc mùi giáo Mác và mủi Lê, những thế hệ Việt Nam đã sinh ra và lớn lên trong cái địa ngục cộng sản được tuyên truyền là thiên đàng, đã bị đảng làm mất hết nhân tính. “Nhìn tổng quan đất nước mình có bao giờ được như thế này”. Câu nói này của tổng bí thư cộng sản đảng Nguyễn Phú Trọng có lẽ là câu trả lời xác đáng nhất cho hiện trạng đất nước ngày nay mà người dân đang sống ngập ngụa trong dối trá và dã man là nhờ ở “ơn bác, ơn đảng” và “truyền thống bạo lực cắt mạng”.

04.07.2017

Dân Đen

danlambaovn.blogspot.com

NGUỒN GỐC CHỮ QUỐC NGỮ (VIỆT NAM)

 NGUỒN GỐC CHỮ QUỐC NGỮ (VIỆT NAM) 

CHỮ QUỐC NGỮ – Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách (tại Đức)

Sự ra đời của chữ quốc ngữ – CHỮ QUỐC NGỮ

Lisboa – Bồ Đào Nha

Bồ Đào Nha là dân tộc của những người đi biển. Hơn thế nữa, từ xưa, họ là những người chịu bỏ xứ đi tha hường. Lisboa là cảng biển thiên nhiên duy nhất của bán đảo Iberia, từ trước công nguyên đã là một trung tâm chính trị và kinh tế. Lisboa nằm ngay trên cửa biển, hòa nước ngọt của sông Tejo vào nước mặn của Đại Tây Dương, mênh mông một màu nước, khơi gợi lòng viễn du của một dân tộc sẵn sàng lên đường. Thực vậy, kể từ thế kỷ thứ 15, khi tài đi biển của người Bồ Đào Nha lên đến đỉnh cao, quốc gia này bành trướng thành cường quốc số một ở Châu Âu, chiếm lĩnh nhiều thuộc địa ở Brazil, Châu Phi, Ả-rập, Ấn Độ và Trung Quốc. . .

Năm 1511 thuyền nhân Bồ Đào Nha bắt đầu nhắm đến Trung Quốc và Nhật Bản. Họ vòng từ miền nam Ấn Độ, đi đường biển dọc theo miền Trung Việt Nam để lên đảo Macau.

Nhà truyền giáo đến với cộng đồng bằng thuyền ở Việt Nam xưa
 
Hẳn họ đã dừng chân tại Hội An để buôn bán và tiếp tế lương thực, nên năm 1524 họ dựng một tấm bia đá ở cù lao Chàm. Song song, các nhà truyền giáo lần lượt đến Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Trong những năm cuối của thế kỷ thứ 16 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha của hai dòng thánh Francisco và Agustino đến Việt Nam, nhưng cuối cùng bỏ cuộc.
 
Đầu thế kỷ thứ 17 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha lại đến Việt Nam một lần nữa và lần này họ thành công. Dòng Tên* chính thức được thành lập ở Đàng Trong năm 1615. Đàng Ngoài năm 1627. Trong giới giáo sĩ dòng Tên người Bồ có một nhân vật xuất sắc, đóng một vai trò lịch sử trong nền văn hóa Việt Nam, đó là Francisco de Pina. Pina sinh  năm 1585, đến Macau năm 1613, đặc biệt rất giỏi tiếng Nhật. Năm 1617 ông đến Đàng Trong truyền giáo và bắt đầu dịch một số văn bản của Ki Tô giáo ra tiếng Nôm, một thứ chữ Hán được bản địa hóa.. Thế nhưng Pina nhận thấy các nhà truyền giáo đồng nghiệp có một khó khăn trầm trọng , đó là họ không sao học được chữ Nôm. Chàng linh mục trẻ tuổi Pina thấy chữ Nôm không thể là phương tiện giao lưu với người bản xứ, ông nghĩ ra một cách đơn giản. Ông thử lắng nghe người Việt phát âm ra sao rồi dùng mẫu tự la tinh để diễn tả âm tiết theo cách mà tiếng Bồ Đào Nha thường làm. Đó là thời điểm khai sinh của chữ quốc ngữ chúng ta ngày nay. Theo lời xác nhận của chính Pina, kể từ năm 1622, ông đã xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự la tinh cho hợp với thanh điệu và lối phát âm của tiếng nói Viet Nam. Pina cũng soạn cả một tập văn phạm thô sơ cho loại chữ viết mới mẻ này. Có lẽ trên thế giới không có nơi nào có một thứ chữ viết được hình thành trong điều kiện như thế.
 
Năm 1624 Francisco de Pina mở trường dạy tiếng Việt cho các nhà truyền giáo khác. Trong số người đến học với ông có hai vị quan trọng, một người đã lớn tuổi là António de Fontes (1569 -?), sinh tại Lisboa. Vị kia chính là Alexandre de Rhodes (1591-1660), sinh tại Avignon, Pháp.Hai vị này lãnh hai trọng trách, de Fontes là trụ cột cho giáo xứ truyền giáo ở Đàng Trong, còn de Rhodes sẽ ra Đàng Ngoài vào năm 1626, lúc đó trong thời kỳ của Chúa Trịnh Tráng. Một ngày nọ trong thang12 năm 1625, một chiếc tàu của Bồ Đào Nha bỏ neo ở vịnh Đà Nẵng, Pina lên tàu để mang hàng hóa vào bờ. Khi đến bờ chẳng may thuyền chìm, Pina chết tại đó, ông chỉ sống được 40 tuổi.
 
Sau cái chết bi thảm của Pina, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục xây dựng chữ quốc ngữ mà hai nhân vật có công nhất chính là hai người Bồ, Gaspar de Amaral (1549-1646) và Antonio Barbosa (1594-1647). Còn Alexandre de Rhodes thì bị chúa Trịnh Tráng trục xuất năm 1630, phải đi Macau. Mười năm sau, năm 1640 de Rhodes trở lại Đàng Trong và đến năm 1645 bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. De Rhodes trở về La Mã và năm 1651 ông cho xuất bản tập tự điển Việt-Bồ Đào Nha-La Tinh (Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum).
 
Trong các đời sau, nhiều người tôn Alexandre de Rhodes là người sáng tạo chữ quốc ngữ nhưng thực ra đó là công của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, mà người đầu tiên phải là Francisco de Pina.
 
Một tình cờ của lịch sử đã đưa các vị giáo sĩ Bồ Đào Nha phát minh ra một loại chữ viết cho cả một dân tộc xa lạ, trong đó họ buộc phải dùng mẫu tự và âm tiết của ngôn ngữ mình để diễn tả một tiếng nói khác, vốn mang đầy thanh âm trầm bổng như tiếng chim. Mục đích ban đầu của chữ quốc ngữ là để cho các nhà truyền giáo nói được tiếng Việt và giao tiếp với cộng đồng tôn giáo của mình bằng chữ viết. Về sau, khi các nhà cai trị người Pháp đến Việt Nam, họ cũng không kham nổi chữ Hán lẫn chữ Nôm. Giải pháp thuận tiện của người Pháp là buộc mọi người Việt Nam phải sử dụng chữ quốc ngữ và có lẽ đó cũng là lý do tại sao vai trò của Alexandre de Rhodes được nêu bật.
 
Từ 1930 chữ quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức của người Việt.
 
Chú thích: * Bài viết trích từ chương Những Người Đi Biển, trong tập bút ký “Đường Xa Nắng Mới” của TS Nguyễn Tường Bách, tên bài viết do blog tự đặt.

43 năm và bao nhiêu năm nữa?

Hà Nội chặt cây xanh, Sài Gòn cũng trơ trụi cây xanh vì bị chặt, đất nước này có thành phố nào, tỉnh nào không bị chặt cây xanh? Chắc chắn là không có, ngay cả thành phố Đà Nẵng thời ông Nguyễn Bá Thanh còn làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, thời ‘vàng son’ của Đà Nẵng, vẫn có hàng xà cừ trăm tuổi (từ thời Đà Nẵng còn mang tên Tourance) trên đường Quang Trung cũng bị chặt không thương tiếc. Đó là chưa muốn nói đến những cây xanh trên dãy Trường Sơn!

Nếu như cây xanh được ví là lá phổi của thành phố thì cây xanh ở Trường Sơn được xem là lá phổi của quốc gia, cây xanh ở U Minh Thượng, U Minh Hạ hay Đất Mũi cũng được xem là lá phổi của quốc gia. Nhưng hiện tại, U Minh Thượng hay U Minh Hạ, rồi Đất Mũi, tất cả rừng đước, sú, vẹt cả mấy trăm năm tuổi, thậm chí ngàn năm tuổi đang bị khai thác một cách vô tội vạ. Mà đáng sợ nhất vẫn là sự tàn lụi của Trường Sơn.

Cha của một người bạn mà tôi chơi khá thân vốn là bộ đội Cộng sản, ông là người trong đoàn quân Nam tiến những năm trước 1975, ông cũng là một trong những người đi trên đường mòn Hồ Chí Minh sớm nhất, sau khi lực lượng thanh niên xung xong mở đường dọc Trường Sơn. Ông có lần nói với tôi rằng nếu không có Trường Sơn thì miền Bắc không bao giờ “giải phóng” được miền Nam cho dù lúc đó Mặt trận giải phóng Miền Nam có lớn mạnh cỡ nào. 

Với kinh nghiệm vào sinh ra tử trên đường Trường Sơn, ông nói chắc như đinh đóng cột rằng “Trường Sơn che chở mọi thứ, và bom thả xuống Trường Sơn chẳng khác nào muối bỏ biển!”. Điều ông nói hoàn toàn đúng, bởi cách đây chưa đầy mười năm, lúc đó đường mòn Hồ Chí Minh (tức đường Trường Sơn) chỉ mới cải tiến và khai thông, người qua lại rất thưa thớt, đi cả mấy chục cây số mới gặp một vài người gùi củi rừng, lá rừng… Tôi đã đi qua và tận mắt nhìn Trường Sơn lúc đó.
Rừng bạt ngàn, cây xanh ngút mắt, những cổ thụ hàng ngàn tuổi dòng lim, sến, gụ, kiền kiền… đứng cao chất ngất. Cảm giác lúc đó thật khó tả, nhất là khi đi một mình một xe máy bon bon trên con đường chỉ toàn cây xanh, rừng già và âm thanh đại ngàn, vừa rờn rợn vừa thú vị không gì tả xiết. Và lúc đó tôi thấy người cha của bạn tôi nói đúng, bao nhiêu bom thả vào Trường Sơn cho đủ!

Khi đó tôi cũng nghĩ rằng nếu khai thác gỗ Trường Sơn, chắc cũng ba trăm năm lẻ nữa vẫn chưa hết gỗ, đó là chưa nói cây này bị cắt đi một thời gian thì tự mọc chồi, đâm cây mới, cắt đến cuối rừng thì đầu rừng đã thành cổ thụ. Nhưng đó là ảo giác lớn nhất của tôi. Chưa đầy mười năm sau, đi lại trên đường mòn Hồ Chí Minh, mọi thứ trống hươ trống hoác, tôi không dám tin vào mắt mình.

Những cung đường vốn dĩ bạt ngàn cây xanh, toàn những cây có đường kính từ 1,5 mét đến 5 mét, thậm chí có cây lớn đường kính cả chục mét… Giờ chỉ còn là một bãi đất trống, thay vào đó là một dãy rừng mới trồng toàn những cây keo lá tràm, cây luồng hoặc không có cây gì cả, còn lại mấy vụn gỗ sau khi người ta đào tận gốc rễ để chế tác bàn ghế mỹ nghệ. Và đáng sợ hơn là các cánh rừng giờ đã có chủ, thành những lô đất vuông vức có hàng rào kẽm gai hoặc có những công ty, tập đoàn mọc trên đó hoặc các nông trường trồng rau, củ, quả. 

Cả một cung đường dài từ Nam chí Bắc trên dãy Trường Sơn chỉ còn đúng đoạn đi qua tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng là còn cây rừng, từ Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An hay lệch vào Nam, đoạn đi qua Tây Nguyên, đều là cây cối trơ trọi. Thay vào đó là hàng quán, chưa có nơi nào mà cả một cung đường dài mấy trăm cây số, đi chừng 300 mét đã có quán thịt rừng, đặc sản rừng, khu nhà trọ, quán nhậu… Suốt mấy trăm cây số, toàn bộ các loại dịch vụ đều có, đặc biệt là loại dịch vụ tươi mát, gọi đâu có đó. Cả một rừng cây ngàn năm tuổi đã bị thay thế bằng rừng quán nhậu, quán đặc sản rừng, nhà hàng, khách sạn và các loại dịch vụ mờ ám. 

Đáng sợ hơn là cuộc sống đồng bào Mường, Thái ở dọc cung đường Trường Sơn bị đảo lộn. Nạn xì kle, ma túy đã hoành hành trong các bản làng vốn hiền lành, nhút nhát và thật thà này. Đường mòn mở rộng, đồng bào thêm đói khổ vì mất đất, mất rừng và phải vay tiền nhà nước để xây nhà theo tiêu chuẩn nông thôn, bản làng mới. Rồi để có tiền xây một cái nhà cấp bốn tường gạch lợp tôn, mùa hè thì nóng chảy mỡ, mùa đông thì lạnh cắt da, đồng bào đã bán tháo mảnh đất rừng lâu đời với giá rẻ mạt, sau đó, lại tiếp tục vay tiền nhà nước để mua cái ti vi, chiếc xe máy. 
Chuyện học hành của con cái họ thì vẫn bị bỏ ngỏ như mọi khi. Thêm phần ăn chơi đua đòi vì nhà có xe máy, đã “lên đời”, những thanh niên, những đứa trẻ hiền lành chẳng mấy chốc thành con nghiện, lại rủ nhau ra đường mòn Hồ Chí Minh để trấn lột, cướp bóc khi đêm xuống.

Trường Sơn ngàn năm còn bị đánh đổi trong chưa đầy mười năm, từ bạt ngàn cây xanh và đời sống hiền hòa, thanh tịnh bỗng trở nên trơ trọi và đời sống khốc liệt đến độ tàn khốc. Giờ có vẻ như Trường Sơn cũng chẳng còn bao nhiêu cây để chặt, người ta lại kéo về thành phố để chặt, mà đáng sợ nhất vẫn là chặt cây theo dự án!
Có không biết bao nhiêu ngàn hecta rừng Trường Sơn bị chặt phá theo dự án thủy điện mà sự thật đằng sau cái dự án đó là bóng ma nhà buôn Trung Quốc, họ sẵn sàng bỏ tiền cho người Việt bôi trơn ‘dự án’ bằng cách hối lộ các quan chức để được duyệt dự án mà khai thác gỗ lòng hồ, sau đó bán gỗ để có tiền đầu tư thủy điện hoặc không đầu tư gì cả, cho treo dự án từ năm này qua năm nọ. Bây giờ, các dự án đường sắt, đường vượt do nhà thầu Trung Quốc làm chủ đầu tư và thi công lại nhắm đến những hàng cây trăm tuổi còn sót lại trong thành phố. 

Điều đáng bàn ở đây không chỉ dừng lại ở thái độ con người đối với tài nguyên quốc gia, đối với thiên nhiên mà là tâm lý con người Việt Nam, đặc biệt là giới quan chức có được bình thường hay không? Câu trả lời là không. Vì lẽ, nếu bình thường thì đất nước đã không đến nỗi tan hoang như hiện tại. Bệnh vô cảm và ích kỉ đã tràn lan đất nước, nơi nào quyền lực càng cao thì bệnh ích kỉ và vô cảm càng nhiều. 

Quyền lực tập trung thì bệnh hoạn cũng tập trung, và khi nó tập trung đủ, nó tự biến hóa theo cách của nó. Chặt cây, cướp đất của người cô thế hay cát cứ địa phương, bán đứng lãnh thổ quốc gia, bán đứng tài nguyên dân tộc… Tất cả những biểu hiện bệnh hoạn và tội lỗi ấy đều do tập trung quyền lực và tập trung bệnh hoạn mà ra! Chỉ mới 43 năm tôi mà đất nước tan hoang như thế này thì liệu dân tộc này tồn tại được bao nhiêu năm nữa?!

Nước Mỹ hoang đường

   Nước Mỹ hoang đường

Thẩm Quần,

“Trong xã hội này, bất kể có xảy ra chuyện gì, bạn cũng rất khó cảm nhận được hoàn cảnh bế tắc không lối thoát. Bạn không bị buộc phải đi kiện cáo khiếu nại khắp nơi, (người Mỹ không hiểu “khiếu nại” là gì), không bị buộc phải phạm tội, mà luôn luôn có con đường đang chờ đợi bạn”. 

Chẳng phải đó chính là mẫu hình của một xã hội lý tưởng sao? Khi người dân quả thực không còn mối lo sợ sinh tồn nữa thì họ mới có khả năng truy cầu hạnh phúc chân chính.  
Tại sao nước Mỹ có thể xây dựng được một xã hội kiểu như thế này? Người Mỹ thực sự không có áp lực sinh tồn, không có mối lo đằng sau sao? Họ có thể thực sự truy cầu hạnh phúc chân chính sao? Hãy cùng xem qua những điểm dưới
đây:

  1. Tiêu dùng 

  Nếu mua 1 đôi giày, đi được 2 tuần và cảm thấy không hợp với chân, bạn có thể đến của hàng trả lại. Nhân viên bán hàng sẽ đưa ra cho bạn 3 sự lựa chọn: Một là đổi đôi mới, hai là dùng số tiền đó mua một sản phẩm khác, ba là trả hàng, nhận lại tiền. Cơ chế này rõ ràng phải được xây dựng trên một nền tảng văn minh nhất định.

Khi trình độ ứng xử văn minh và ý thức của người ta không đạt tới được một mức độ nhất định thì không xứng đáng được hưởng cơ chế đó. Để duy trì bất kỳ chế độ xã hội tốt đẹp nào thì điều cốt yếu chính là dựa vào tự giác chứ không phải pháp luật.

(Ở Mỹ ít khi người ta lợi dụng chuyện được trả lại tự do nầy. Ở nhiều xứ khác có khi không thể áp dụng được, bị trả hoài sập tiệm.Tôi cũng biết có người mua cái máy ảnh đi du lịch vài tuần xong mang trả lại tiệm (có tiệm cho trả trong vòng 90 ngày, có tiệm cho trả sau một năm…thường là 15 ngày). )

2. Quyền lực và trách nhiệm  
 

Nếu bị đánh ở nơi công cộng, hung thủ lại trốn thoát biệt tăm, bạn có thể yêu cầu chính phủ bồi thường. Sao có thể xảy ra chuyện đó? Rõ ràng chuyện xảy ra chẳng liên quan gì đến chính phủ cả. Nhưng các luật sư Mỹ sẽ giải thích cho chúng ta rằng: “Chính phủ phải chịu trách nhiệm bởi vì có tội phạm làm hại bạn. Bạn bị thương phải đi khám bệnh, bị tổn thất về tinh thần và thể chất không đi làm được. Tất cả những điều này chính phủ phải chịu trách nhiệm”.

Nhiều người nước ngoài có thể thấy rằng đó là một suy nghĩ ngược đời. Lỗi chẳng phải ở chính phủ. Chẳng phải chính phủ vẫn luôn trấn áp, bài trừ tội phạm đó sao? Như vậy chẳng phải đã là quá đủ hay sao? Nhưng người Mỹ nghĩ khác. Họ truy cứu trách nhiệm của chính phủ ở một tầng sâu hơn. Công dân không được bảo vệ tốt, kẻ phạm tội lại trốn thoát, đó là lỗi ở chính phủ.

Có một nhà văn Trung Quốc ở Mỹ vì xích mích mà ra tay đánh người ta, tự cho là mình có lý. Anh ta sẵn sàng chấp nhận chịu phạt để đánh người nhưng không thể ngờ rằng một cú đấm của mình lại nghiêm trọng đến vậy. Anh phải mất một số tiền rất lớn thuê luật sư mới có thể đạt được thỏa thuận bồi thường với người bị hại, còn bị phạt tù 1 ngày, 100 giờ lao động công ích tại địa phương và 2000 đô la.

Anh ta bao biện rằng: “Việc đánh người tôi thừa nhận nhưng tôi muốn xác nhận là tôi đánh người ta là việc quang minh chính đại, là có lý, nói cách khác là người ta đáng bị đánh”.

Luật sư cho anh biết: “Anh hoàn toàn không hiểu pháp luật Mỹ. Người ta có đáng bị đánh hay không thì lại là chuyện khác, không liên quan đến vụ án này. Quan tòa vụ kiện này chỉ muốn biết anh có đánh người hay không thôi. Nếu người ta nợ tiền anh hoặc lừa đảo anh, làm cho anh bị tổn thương về thân thể, tinh thần, thì anh có thể khởi kiện người ta. Đó lại là vụ một kiện khác”.

3. Quyền lợi của trẻ em và người già  

Một bà mẹ bận rộn việc nhà, nhất thời sơ suất chẳng may làm con ngã xuống bể bơi và đứa bé qua đời. Đúng lúc đang đau đớn khôn nguôi thì bà mẹ nọ nhận được trát từ toà án vì tội “lơ là chức trách”, không làm hết trách nhiệm của người giám hộ. Bà sẽ phải đối mặt với một bản án hình sự.

Nhiều người có thể cho rằng việc này rõ ràng là không thấu tình đạt lý. Vừa mới chịu nỗi đau mất con, bà mẹ lại còn vì thế mà phải ngồi tù. Trên đời làm gì có chuyện hoang đường như vậy?

Lý do của quan tòa rất đơn giản. Bà mẹ không làm hết chức trách nên một sinh mạng bị mất đi ngoài ý muốn. Đây là điều pháp luật không cho phép. Một khi bà mẹ này bị xử tù, tác dụng răn đe của pháp luật sẽ khiến hàng ngàn hàng vạn bà mẹ khác phải tận tâm làm hết trách nhiệm trong việc bảo vệ con cái.

Người Mỹ quan niệm, “Khi bạn sinh ra một đứa con, trước tiên, đứa bé đó thuộc về chính nó. Nó có vô số quyền lợi ngay từ khi sinh ra, sống trong xã hội này. Bất kể nó có ý thức hay không, bất kể có lớn lên thành người hay không, thì xã hội này vẫn có tầng tầng lớp lớp luật pháp để bảo vệ nó”.

Bảo vệ quyền lợi trẻ em, đảm bảo sức khỏe người già, quyền lợi của người yếu thế thực sự là công việc chủ yếu, là nhiệm vụ quan trọng của chính phủ Mỹ. Cha mẹ một người bạn của tôi sau khi làm thủ tục định cư vĩnh viễn ở Mỹ giờ đây được nhà nước thanh toán toàn bộ chi phí khám chữa bệnh, ngay cả thuốc men cũng được gửi tận nhà. Thậm chí lắp cặp kính lão, máy trợ thính cũng được chính phủ bỏ tiền ra mua cho họ. Hơn nữa họ còn có thể đến các trung tâm hoạt động người cao tuổi, được hưởng chế độ đãi ngộ và bảo vệ đặc biệt dành cho người già.

Một hôm, sau khi kiểm tra chỗ ở của ông bà, người phụ trách trung tâm người cao tuổi đã yêu cầu bạn tôi cần phải cải tiến 3 chỗ. Bên giường các cụ phải lắp điện thoại có thể với tay đến được. Phòng ngủ phải có đèn ngủ thấp và bên bồn tắm phải có tay vịn an toàn bằng kim loại.

Khi bạn tôi trả lời đã biết rồi, người phụ trách trung tâm nói: “Chỉ biết thôi không được, anh phải nói cho chúng tôi biết khi nào anh sửa lỗi xong. Tôi phải đến kiểm tra lại”. Có người cho đây là việc nhỏ nhưng trên đời thực không có việc nào lớn hơn so với việc nhỏ này. Đó chính là “coi công việc thực sự là công việc, coi con người thực sự là con người”.

4. Phục vụ nhân dân 

 Nhà báo là vua không ngôi. Ý nói nếu không có bài báo của các hãng truyền thông vạch trần cái xấu thì chính quyền lợi dụng chức quyền làm điều ám muội sẽ chuyên chế, tham nhũng. Nhưng nhiều chính quyền thường lấy việc chống tội phạm để yêu cầu bảo mật nên tha hồ lợi dụng chức quyền làm điều ám muội.

Ở Mỹ, chỉ cần bỏ ra 10 đô la mua bộ thu radio vô tuyến, bạn có thể nhận được tất cả thông tin của cảnh sát.

“Hả? Vậy thì cảnh sát chẳng còn bí mật gì nữa à?”, một người bạn mới đến Mỹ không tài nào hiểu được.

“Họ cần bí mật gì cơ chứ? Họ phục vụ chúng ta”, có người trả lời.

“Thế thì chẳng phải loạn sao?”.

“Có gì mà loạn? Nếu công việc của cảnh sát chỉ riêng cảnh sát biết, người cũng đã bắt rồi, việc cũng đã xử lý xong rồi, lúc đó mới thông báo cho các nhà báo chúng ta thì thế mới là loạn. Lúc đó, ai biết việc đó là thật hay giả?”.

Chỉ một câu đơn giản rõ ràng: “Họ phục vụ chúng ta” đã đánh tan tất cả những cái cớ lợi dụng chức quyền làm điều mờ ám của những người thực thi quyền lực. Trấn áp tội phạm, bảo vệ xã hội là trách nhiệm của chính quyền. 

Làm thế nào bắt tội phạm trước con mắt theo dõi của mọi người, làm thế nào ngăn chặn mở rộng quyền lực, phòng chống lợi dụng chức quyền làm điều ám muội là vấn đề kỹ thuật mà các cơ quan quyền lực chính phủ phải tự giải
quyết. Chính phủ phục vụ nhân dân là vấn đề nguyên tắc.

5. Sự quyết định của các tầng lớp dưới  

Nước Mỹ là xã hội được xây dựng theo hướng từ trên xuống. “Có sự ủng hộ của nhân dân thành thị, anh có thể làm lãnh đạo thành phố. Có sự ủng hộ của cử tri bang, anh mới được làm thống đốc bang hoặc nghị sỹ. Có sự ủng hộ của cử tri toàn quốc, anh mới có thể làm Tổng thống”. Đây là khác biệt lớn nhất giữa xã hội Mỹ và xã hội Trung Quốc. Cơ chế này của Mỹ làm cho người dân sống thẳng thắn mạnh mẽ. Thái độ của quan chức vì dân phục vụ cũng không cần phải học tập, giáo dục, bởi vì bản thân cử tri đã là sợi dây sinh mạng của quan chức.

Điều đó có lúc làm người ta không thể tưởng tượng nổi. Thành phố Hillsborough, San Francisco không làm đèn đường, không mở cửa hàng, cửa hiệu. Việc này ngay cả thống đốc và Tổng thống cũng không thể can thiệp gì được. Cư dân ở thành phố này căn cứ vào đặc điểm địa lý đặc thù, nhu cầu cuộc sống của mình mà đã tự thông qua những điều ấy.

Năm 2006, Schwarzenegger, thống đốc bang California không đồng ý đặc xá miễn tội tử hình cho người da đen Williams bất chấp sự thỉnh nguyện của các đoàn thể quần chúng, thậm chí là can thiệp của Tổng thống. Cuối cùng bản án vẫn được thực thi. Do đó, ở Mỹ, các cấp chính quyền chỉ chịu trách nhiệm với cử tri theo khung của hiến pháp. Thống đốc không có quyền miễn nhiệm thị trưởng. Ngay cả Tổng thống cũng không có quyền miễn nhiệm thống đốc.

6. Tam quyền phân lập 

 Mỹ là quốc gia có ba cấp lập pháp: quốc gia, bang, thành phố (địa hạt), mỗi cấp ban hành luật pháp, quyền và trách nhiệm riêng của mình. Pháp luật quốc gia lấy nhân quyền làm nguyên tắc, quản lý các phương châm đối nội đối ngoại, các chính sách lớn. Luật pháp bang lấy nhân tính làm cơ sở, xử lý các tranh chấp dân sự, hình sự. Luật pháp thành phố (địa hạt) tôn trọng tình hình thực tế dân tình, giữ gìn bản sắc truyền thống. 

Ba cấp lập pháp không phải quan hệ trên dưới trực thuộc, mà mỗi cấp phụ trách chức trách riêng của mình, cũng như cá dưới nước phân tầng rõ ràng, tầng trên, giữa, dưới, cũng có ba loại thức ăn khác nhau, không can thiệp lẫn nhau. Nếu bất chợt có tranh chấp xung đột, thì trái lại pháp luật cấp thấp hơn sẽ có tác dụng quyết định.

Đạo lý này cũng không khó giải thích, càng là luật pháp thấp hơn một cấp thì càng gần với người dân, hợp với tình người. Mà pháp luật cấp cao do tính trừu tượng của nó đã mất đi tính khả thi. Theo chiều dọc thì ba cấp lập pháp, mỗi cấp nắm giữ chức phận của mình. Theo chiều ngang thì pháp luật bang, pháp luật thành phố (địa hạt) cũng có khác nhau.

Đó là nguyên nhân vì sao nước Mỹ không có bộ giáo dục. Các luật hôn nhân, giao thông, thuế, dân sự, hình sự của các bang ít nhiều đều có sự khác nhau.

Hệ thống ấy nếu vận hành ở một quốc gia khác có lẽ sẽ gây loạn không chừng. Nhưng người Mỹ ở tầm lớn thì khẳng định nhân quyền, ở tầm trung thì thừa nhận nhân tính, ở tầm thấp hơn thì tôn trọng nguyên tắc địa phương, đã đáp ứng được mối quan hệ trên mọi lĩnh vực, đã vận hành chế độ ba cấp lập pháp thành thục điêu luyện.

Một nhà văn Trung Quốc sau khi đến Mỹ đã cảm khái nói: “Suốt 20 năm nay, càng đi sâu vào xã hội Mỹ, tôi không ngừng phát hiện thấy một sự thực rằng: thiết kế chế độ xã hội ở đây hoàn toàn là để giải quyết các loại vấn đề có thể xảy ra của nhân dân. Cũng có thể nói rằng, trong xã hội này, bất kể anh có xảy ra chuyện gì, rất khó mà cảm thấy mình lâm vào bước đường cùng, luôn luôn có con đường đang chờ đợi bạn”.

Có lẽ điều đó chính là lý do giải thích vì sao bất kể là nhân tài hay kẻ bất tài, người khôn hay kẻ dại cũng đều muốn di cư sang Mỹ. Đây chính là quốc gia mà bạn không bao giờ bị cảm thấy rơi vào bước đường cùng.

Hải Sơn biên dịch 

TỶ PHÚ CHUCK FEENEY – “JAMES BOND” CỦA GIỚI TỪ THIỆN

TỶ PHÚ CHUCK FEENEY – “JAMES BOND” CỦA GIỚI TỪ THIỆN

Tỷ phú Chuck Feeney – Làm từ thiện cả gia tài trong thầm lặng

Tỷ phú Chuck Feeney là người đầu tiên ở Mỹ bỏ ra số tiền lớn là tài sản của mình để làm từ thiện. Ông chính thức rỗng túi, đi ở thuê vào tuổi ngoài 80, nhưng đã hoàn thành khát vọng “cho đi khi còn đang sống”.

“James Bond” của giới từ thiện

Tỷ phú Charles F. Feeney (1931) là một người Mỹ gốc Ireland. Ông thường được gọi với cái tên thân mật Chuck Feeney, thời gian gần đây ông được giới truyền thông Mỹ đặt cho biệt danh “James Bond của giới từ thiện”.

Vị tỷ phú Mỹ này nói thông thạo 2 tiếng Pháp và Nhật, là người xây lên đế chế các cửa hàng miễn thuế. Từ nhỏ, ông đã nghỉ ra đủ mọi cách để kiếm tiền như: gõ cửa từng nhà để bán thiệp Giáng sinh, dọn tuyết trên đường hay nhặt bóng trên sân golf,…

Tỷ phú Chuck Feeney trong ngôi nhà của mình

Charles F. Feeney bắt đầu sự nghiệp kinh doanh cùng với bạn học cùng đại học từ đầu thập niên 1950: bán rượu không thuế cho thủy thủ Mỹ. Sau đó, ông bán xe hơi cho cho lính Mỹ và lập nên chuỗi cửa hàng miến thuế (DFS) ở các cửa khẩu, với doanh thu đạt 3 tỷ USD/năm.

Vào những năm 60, khi Nhật Bản tổ chức thế vận hội và dỡ bỏ hạn chế du lịch nước ngoài, Chuck Feeney đã chộp cơ hội này để thu tiền của khách du lịch Nhật. Đó là những khoản tiết kiệm khổng lồ người Nhật bỏ ra mua sắm rượu, nước hoa, đồ trang sức miễn thuế,… tại các địa điểm nổi tiếng như Hawaii, Hong Kong, San Francisco, Saipan và Guam…

Mặc dù kiếm được rất nhiều tiền từ rất sớm, với tổng tài sản theo New York Times lên tới 8 tỷ USD, nhưng Chuck Feeney có cuộc sống riêng tư rất bình lặng và đơn giản, không xa hoa, không bao giờ thắt cà-vạt Hermes hay mang giày Gucci.

New York Times tiết lộ, trong nhiều năm ở New York, bữa trưa của ông không phải ở các nhà hàng sang trọng mà là ở khu nhà Irish Pavillion Tommy Makem trên phố East 57th – nơi ông ăn bánh mì kẹp thịt.

Feeney kín tiếng tới mức, mãi tới 1988, thế giới mới biết đến sự giàu có của ông. Khi đó, lần đầu tiên Forbes ước tính Feeney có khoảng 1,3 tỷ và xếp thứ 31 tại Mỹ. Tuy nhiên, tài sản thực của ông vẫn là một ẩn số, chỉ sau những lần làm từ thiện, thế giới mới biết được.

Công chúng còn kinh ngạc về cuộc sống giản dị và tiết kiệm tới mức tối đa. Ông keo kiệt với bản thân, gia đình nhưng hào phóng với người dưng. Ông ghét sự phung phí, không muốn con cái trở thành con nhà giàu hư hỏng và bắt chúng làm hầu bàn, bồi phòng khách sạn, thu ngân trong các kỳ nghỉ hè ngay từ khi còn nhỏ.

Các nơi tỷ phú Chuck Feeney đã làm từ thiện

Sự hà khắc của Feeney không làm cho con cái khó chịu, thậm chí con gái đầu của Feeney còn cho rằng, cách làm của người cha đã giúp họ sống như những người bình thường khác, làm được việc đáng làm và vẫn có đủ tiền để chi tiêu cho cuộc sống.

Theo quan điểm của vị tỷ phú này, “bạn chỉ có thể mặc một chiếc quần vào cùng một thời điểm”. Ông thích kiếm tiền nhưng không muốn sở hữu chúng, tiền quá nhiều cũng không thể đem ra tiêu xài hết. Một thời gian dài, ông sống trong căn hộ đi thuê và toàn bộ tài sản được dần hiến tặng cho các tổ chức từ thiện. Các con ông cũng phải tự lăn lộn kiếm sống khi đến tuổi trưởng thành. Feeney cho biết, đây chính là cách để ông giáo dục các con biết quý trọng giá trị của đồng tiền.

“Sinh ra tay trắng thì khi trở về cũng phải trắng tay”

Suốt hơn 30 năm qua, Chuck Feeney đã đi khắp thế giới để làm từ thiện từ tài sản 8 tỷ USD của mình, tập trung và giáo dục, khoa học, chăm sóc y tế,… tại Mỹ, Úc, Việt Nam , Nam Phi và Ireland.

Quỹ từ thiện Atlantic Philanthropies do ông sáng lập đã rót khoản tiền cuối cùng trị giá 7 triệu USD vào cuối 2016 cho Đại học Cornell nhằm hỗ trợ sinh viên làm công tác dịch vụ cộng đồng. Chuck Feeney đã hoàn thành khát vọng “cho đi khi còn đang sống” và chính thức rỗng túi.

Trả lời trên tờ New York Times, ông Feeney cho biết: “Bạn luôn lo lắng khi phải quản lý quá nhiều tiền như thế, nhưng chúng tôi dường như đã làm việc đó khá tốt”.

Tới đầu 2017, tổng giá trị tài sản còn lại của Feeney là hơn 2 triệu USD. Hiện ông và vợ (Helga) đang sống trong một căn hộ thuê ở San Francisco.

Tại Việt Nam, quỹ Atlantic bắt đầu rót tiền vào chỉ vài năm sau khi chiến tranh kết thúc, tài trợ bắt đầu từ miền Trung như xây dựng trường Đại học Đà Nẵng.

Cho đến nay, 2 người còn gái của ông là: Diane Feeney và Juliette Feeney cũng tiếp tục theo gót cha làm từ thiện. Họ làm chủ tịch của một số tổ chức từ thiện của gia đình và cộng đồng.

Quỹ Atlantic Philanthropies của Feeney bắt đầu sứ mệnh “làm rỗng túi” từ năm 1982 với ước mơ muốn tạo ra sự thay đổi lớn cho cuộc sống của những người gặp khó khăn. Ông ước mơ mang lại hòa bình cho Bắc Ireland, hiện đại hóa hệ thống chăm sóc y tế của Việt Nam hay biến Roosevelt Island của New York trở thành một trung tâm công nghệ.

Cho đến nay, Feeney đã xây cả ngàn tòa nhà khắp châu lục, nhưng tên của ông không hề xuất hiện trong bất cứ công trình nào, từ trên các viên đá ốp tòa nhà hay trong các văn bản. Trong nhiều năm, quỹ Atlantic Philanthropies của Feeney yêu cầu những người được hưởng lợi không được công khai sự tham gia giúp đỡ của họ.

“James Bond” của giới từ thiện cho biết, ông làm từ thiện và quyên tặng hết tài sản rất đơn giản là bởi vì, “vải liệm không có túi”, người chết ra đi không mang được gì. Con người “sinh ra tay trắng thì khi trở về cũng phải trắng tay”.

Khối tài sản lớn cuối cùng được Chuck Feeney quyên tặng vào cuối năm ngoái. Ông Feeney giờ 86 tuổi và quỹ Atlantic Philanthropies theo kế hoạch sẽ đóng cửa vào năm 2020.

Giàu có không lộ diện, nhiều tiền không tiêu xài sang, làm từ thiện không cần ghi danh nhưng những việc làm của ông được cả thế giới biết đến.

Hai tỷ phú hàng đầu thế giới – Bill Gates và Warren Buffett, đã gọi ông là nguồn cảm hứng cho cả Quỹ Bill & Melinda Gates Foundation lẫn Quỹ Giving Pledge, nơi có tới hơn 90 người giàu nhất thế giới cam kết tặng 50% tài sản của mình để làm từ thiện.
Thật là một tấm gương đáng để học hỏi phải không nào. Hãy cùng kiếm thật nhiều tiền và làm từ thiện như Tỷ phú Chuck Feeney nha. Chúc bạn thành công!

 

LỢI ÍCH CỦA MỘT LỜI XIN LỖI

LỢI ÍCH CỦA MỘT LỜI XIN LỖI

Việc nói lời xin lỗi có thể khó khăn, nhưng nó giúp ích cho tâm trí, thân xác và linh hồn bạn.

Tôi sẽ không thể nào quên việc ông chủ đã la mắng khi tôi mắc một sai lỗi.  Tôi đánh giá cao công việc của mình nên tôi đã nhanh chóng xin lỗi và hứa sẽ sửa chữa, nhưng trong thâm tâm tôi giận sôi lên.  Tôi nghĩ rằng, mình đã không làm gì sai.  Trong đầu tôi, ông ấy mới là người sai và tôi xin lỗi vì đó là cách nhanh nhất để chuồn ra khỏi phòng của ông.  Tuy nhiên, buổi tối hôm đó tôi không thể ngủ được, và tôi bắt đầu ngẫm nghĩ về giá trị mà một lời xin lỗi thực sự có thể đem lại.

Thường thì cái giá của một lời xin lỗi dường như quá cao.  Có một sự lưỡng lự muốn tháo lui, bởi vì bạn cảm giác giống như bị mất một phần nào đó của chính mình khi phải thú nhận là mình sai phạm.  Một khi tôi nhận ra mình đã hành xử sai với một ai đó, tôi trải qua một tiến trình kỳ lạ: cố gắng tự thuyết phục rằng mình là người tốt, mặc kệ lương tâm mình nói gì, kế đến là bào chữa cho hành động của mình và giảm thiểu tối đa những sai quấy mà mình đã làm.  Cuối cùng, vui mừng vì phải ngu muội mà tin rằng chính mình là người sai và mọi người khác đều muốn giúp mình.

Dĩ nhiên, trò lươn lẹo phức tạp này không kéo dài.  Tôi không bao giờ đánh mất cảm giác trăn trở về ý tưởng, cuộc sống sẽ không bình an cho tới khi tôi làm những việc đúng.  Khi sự việc quá tệ, tôi nằm trong bóng đêm ngẫm nghĩ, hoặc là tôi sẽ có một phản ứng căng thẳng đến nổi huyết áp nhảy vọt.  Tôi cố làm việc chăm chỉ để tránh nói lời xin lỗi – hoặc xin lỗi một cách không chân thành – nhưng cuối cùng nó cũng không thành công.

Lợi ích thể xác và tinh thần của việc xin lỗi

Khi chúng ta tức giận và từ chối nói ra hoặc đón nhận một lời xin lỗi, nó ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất của mình.  “Không thể ở yên được – bạn sẽ lăn qua, trở lại trên giường, bạn sẽ thấy tức thở vì những suy nghĩ đầy ắp trong lồng ngực, bạn ăn, uống không kiểm soát, bạn thấy cái đầu muốn nổ tung”.  Đó là lời của Chaline Laino, tác giả của một bài báo nói về lời xin lỗi đem lại lợi ích gì cho sức khỏe trên trang Web MD.

Một lời xin lỗi đàng hoàng càng ảnh hưởng tốt đẹp trên những người đón nhận nó.  Laino cũng đề cập đến một nghiên cứu năm 2002 do Đại học Hope và Virginia Commonwealth cho thấy: nhịp tim, huyết áp, lượng đường và nét căng thẳng trên gương mặt cũng giảm khi nạn nhân chỉ mới nghĩ đến việc mình được xin lỗi.

Việc xin lỗi cũng có ích khi một người thật sự biết nhận lỗi.  Những lời xin lỗi không chân thành thường chỉ để chữa lỗi – và chúng ta thấy rất nhiều kiểu như vậy trên truyền thông xã hội với những hình ảnh, người nổi tiếng chỉ muốn rút lui sau một cuộc tranh cãi.  Thí dụ, diễn viên Jason Biggs đã một lần viết những lời vô tình trên Tweet sau một tai nạn máy bay.  Anh ta làm nhiều người bất bình và cuối cùng viết như thế này: “Mọi người bị khó chịu, và đó không phải là ý định của tôi.  Xin lỗi những ai đã bị xúc phạm… những lời không cố tình của tôi có lẽ đã nói ra không đúng lúc.  Vì thế, tôi xin lỗi.”

Tôi hiểu là anh ta cố trốn tránh trách nhiệm một cách không thỏa đáng; chỉ xin lỗi một nửa, thật ra là không nhận cái sai của mình.  Nếu là tôi, tôi sẽ cảm thấy tiếp tục ân hận vì điều đó.

Việc xin lỗi ảnh hưởng đến chúng ta, không chỉ ở thể lý nhưng cả trong tinh thần nữa.  Nó có thể giảm bớt những áp lực, lo lắng liên quan, và giúp làm mới lại tương quan trước đây.  Trong một bài viết mạnh mẽ của mình trong Tâm lý học Ngày nay, nhà văn Beverly Engel mô tả một câu nói đơn giản “Mẹ xin lỗi” từ mẹ cô ta, sau ba năm coi nhau như người xa lạ, đã chữa lành tình cảm của cô ấy.

Những oán ghét xưa cũ sẽ tạo thành gánh nặng và tiếp tục ảnh hưởng tới những mối tương giao sau này.  Đôi khi tôi bị cám dỗ không xin lỗi, bởi vì tôi nghĩ là mình sẽ không bao giờ gặp lại người đó nữa và vấn đề đó sẽ qua đi.  Nhưng thực ra, nó không bao giờ là vậy.  Sự tổn thương kéo dài dai dẳng, cuối cùng sẽ tác động đến chúng ta.

Tôi cảm nhận điều này quen thuộc và riêng tư như một mục tử, khi thỉnh thoảng tham gia một nhóm “Rượu không tên” tại nhà thờ để ủng hộ nhóm.  Tại những buổi họp này, tôi nghe vài chia sẻ không sợ hãi, chân thành tự xét những sai sót trong quá khứ, mà tôi chưa gặp bao giờ.  Mười hai bước của AA tập trung vào việc làm bản báo cáo đạo đức, và chỉnh sửa những sai lầm trong quá khứ, và bước thứ 9 là về việc sửa sai.  Ngay cả khi vì không sai lỗi trong quá khứ nên khỏi tiến hành việc này – đây vẫn là thực đối với tất cả chúng ta.

Xin lỗi giúp ích tâm hồn

Trong tác phẩm Mỗi người cần tha thứ cho một ai đó, Allen Hunt viết về một người phụ nữ tên Amy, mà tác giả tranh luận nhiều năm trong những buổi họp ở nhà thờ.  Sự việc tiến triển xấu đến độ, chị ta bỏ nhà thờ này đi lễ ở một nhà thờ khác, và ông nghĩ rằng vấn đề của ông coi như đã xong.

Sau đó nhiều năm, Allen vô tình gặp lại Amy trong một trận đấu tennis.  Tim anh như thắt lại khi cô ta nhận ra anh và bước tới – cô ta đi bước trước và nói lời xin lỗi.  “Cô ta đã thoát ra và đưa cho tôi chìa khóa để mở ra một con đường mới, một con đường không còn chua chát, độc hại đã nằm sâu trong tâm khảm tôi bấy lâu nay”, Hunt đã viết như vậy.  Lời xin lỗi là thuốc giải độc cho một căn bệnh tâm hồn mà đôi khi ta không biết là ta cần nó.

Tôi không chắc là tôi có đủ can đảm như Amy.  Khi tôi sợ nói một lời xin lỗi, là vì tôi không cho phép mình thoát ra khỏi sai lầm của quá khứ, mà khẳng định mình.  Tôi bắt đầu nghĩ rằng những tật xấu của mình không nặng nề lắm, và thú nhận lỗi lầm là gắn mình vào nó.  Mặc dù việc đó không đúng – không ai trong chúng ta được nhận dạng bằng tội lỗi của mình.  Sự nhận lỗi cho phép ta vượt lên trên quá khứ, và bước những bước tiến về phía con người tốt lành, mà ta muốn trở thành.

Ba bước của việc xin lỗi

 Rõ ràng là những lời xin lỗi xứng đáng với thời gian và sự nỗ lực, nhưng một lời xin lỗi tốt đẹp là như thế nào?

Một thí dụ dễ hiểu nhất, là lời xin lỗi của nữ diễn viên Reese Witherspoon, sau khi nổi tiếng trong phim ‘Good morning America’, về tội cư xử thô lỗ với cảnh sát vì bị nghi ngờ cô và chồng cô lái xe khi uống rượu.  Trên truyền hình quốc gia cô nói, “Chúng tôi đi ăn tối ở Atlanta, và có uống hơn một ly rượu, chúng tôi nghĩ rằng mình có thể lái xe tốt, nhưng thực ra không nên như vậy.  Điều đó không thể chấp nhận được, chúng tôi rất tiếc và xấu hổ.  Tốt hơn, chúng tôi không nên làm như vậy”.

Lời xin lỗi của Reese Witherspoon gồm ba bước: Trước tiên, cô ta thành thật nhận mình đã sai.  Cô nhận hoàn toàn trách nhiệm mà không cố giải thích hay biện minh.  Cô không cố tình làm việc đó, nhưng thừa nhận mình hoàn toàn làm chủ hành động của mình, và tốt hơn không nên làm như vậy.  Điều này có nghĩa là, lần sau cô sẽ tránh sai phạm lỗi lầm tương tự.  Thứ đến, cô không cho rằng cảnh sát đã làm sai, cô không đổ lỗi cho nhân viên giao thông về sự việc đã diễn ra.  Cuối cùng, Witherspoon đã không chần chừ, mà nhanh chóng nói lời xin lỗi, cho dù sự việc sẽ gây ra xấu hổ cho cô.

Chỉ cần vài câu ngắn ta có thể nói lên một lời xin lỗi đàng hoàng – không cần phải suy đi nghĩ lại.  Có thể nó không dễ dàng nhưng nó đem lại cho ta sự thanh thản, bình an.

(The life-changing benefits of a good apology/Michael Rennier)

Cành Dương chuyển ngữ

 ************************************

Lạy Thánh Thần Chúa, xin giúp con biết dẹp bỏ tự ái, mặc cảm, xin ban thêm ơn can đảm để con có thể mạnh dạn mở miệng nói lời xin lỗi chân thành với những ai mà con đã lỡ xúc phạm, làm tổn thương đến họ, đặc biệt là với những người thân thương trong gia đình.  Và cũng xin cho con biết mở rộng tấm lòng để đón nhận lời xin lỗi từ anh em con.  Amen!

From :  KimBằngNguyễn