Những điều luật trong Bộ Luật Hình Sự trái với Cương lĩnh ĐCSVN

Những điều luật trong Bộ Luật Hình Sự trái với Cương lĩnh ĐCSVN

Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) – Thông tin trên mạng xã hội gần đây có những bài viết đáng chú ý:

– “Trở lại trường hợp Trần Huỳnh Duy Thức” [1] của Luật sư Lê Công Định.


– “Về Tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức” [2] của Luật sư Ngô Ngọc Trai (gồm 3 phần và còn nữa).

Sau khi đọc xong những bài phân tích và viện dẫn một cách chuyên nghiệp của 2 vị Luật sư nói trên, tôi xin phép góp thêm một góc nhìn về triết lý xây dựng và thực thi pháp luật, tuân theo đặc thù của xã hội Việt Nam.

Mọi chủ trương và quyết sách phải tuân theo Cương lĩnh của ĐCSVN

Báo VNExpress ngày 28/9/2013 dẫn lời của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, khi sửa đổi Hiến Pháp, ông cho biết [3]: “Hiến pháp – văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng”. Vậy, phải khẳng định: Cương lĩnh là một văn kiện pháp lý cao nhất trong toàn bộ hệ thống “văn bản pháp lý” của Nhà nước CHXHCNVN. Cương lĩnh ĐCSVN xuyên suốt và chi phối toàn diện và căn bản cho quản trị điều hành của Chính phủ.

Với đặc thù của xã hội Việt Nam, chấp nhận tiền đề nói trên là một điều mà tất cả cơ quan Đảng và Nhà nước cũng như công dân Việt Nam cần phải tuân thủ. Theo đó, mọi kiến giải, yêu cầu, đề đạt đều phải lấy Cương lĩnh của ĐCSVN làm căn cứ cao nhất.

Cương lĩnh ĐCSVN đã được chỉnh sửa, bổ sung và khai triển theo đúng quy luật triết học “vận động là tuyệt đối”, nhằm mục tiêu cải tạo xã hội Việt Nam ngày càng văn minh, tiến bộ và thích ứng với thời buổi hội nhập quốc tế mà Đảng và Nhà nước đang kiên trì theo đuổi. 

Thật vậy, Cương lĩnh ĐCSVN đã có những thay đổi rất quan trọng. Tại Đại hội XII diễn ra từ ngày 20 đến 28 tháng 1 năm 2016, ĐCSVN đã thông qua Cương lĩnh về lĩnh vực tư tưởng, trong đó có một thay đổi rất tiến bộ và vô cùng quan trọng [4]: 

“…tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam…”

Hiến Pháp 2013

Song song với thay đổi về lĩnh vực tư tưởng – lĩnh vực quan trọng bậc nhất trong Cương lĩnh, Hiến Pháp 2013 đã dành hẳn một chương nhấn mạnh về Quyền Con Người, trong đó, điều 14 quy định:

  1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

Tính “Liên Tục & Kế Thừa” khi xây dựng và áp dụng luật

Đó là thuộc tính khoa học căn bản mà bất cứ một nhà soạn luật nào cũng đều hiểu và nắm chắc khi soạn thảo và áp dụng luật. Thật vậy, trong Lời Nói Đầu của Hiến Pháp 2013 đã viết:

“Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Lời Nói Đầu đã trình bày 2 tính chất căn bản nhất:

– Thể chế hóa Cương lĩnh của ĐCSVN.

– Kế thừa các Hiến pháp trước đây.

Như vậy, 2 tính chất nêu trên là tiền đề để ba cơ quan “Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp” tuân thủ, sao cho tất cả cả mọi chủ trương, quyết sách, hành động phải bảo đảm đúng với Cương lĩnh của ĐCSVN. Cụ thể, về mặt tư tưởng, người dân có quyền suy nghĩ, viết ra tất cả các ý tưởng, miễn sao “KHÔNG TRÁI VỚI LỢI ÍCH CHUNG CỦA QUỐC GIA – DÂN TỘC”.

Những điều luật trái với Cương lĩnh ĐCSVN

Đó là các điều luật trong Luật Hình Sự 1999 như: điều 79, điều 88, điều 258 và sau này được thay thế bằng những điều luật tương ứng trong Luật Hình Sự 2015 như: điều 109, điều 117, điều 331. 

Trước đây, những điều luật nói trên đã được nhiều tác giả phân tích và chứng minh thành công về “tính chất mơ hồ” mà thế giới và quốc nội đều biết. Nay, Luật sư Lê Công Định đã chỉ rất rõ và cụ thể về trường hợp của ông Trần Huỳnh Duy Thức bị kết án 16 năm tù giam và 5 năm quản chế về điều luật mơ hồ này. Góp thêm vào đó, Luật sư Ngô Ngọc Trai đang tiến hành các bước theo đúng trình tự pháp lý để đề nghị Nhà nước CHXHCNVN nghiên cứu xem xét, ngõ hầu “đặc xá” cho vị doanh nhân vô tội này.

Xoay quanh “trục cốt lõi” – Cương lĩnh ĐCSVN, chúng ta thấy, những vấn đề nêu trong cáo trạng quy tội cho doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức (như Luật sư Ngô Ngọc Trai phân tích) hoàn toàn là “NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT KHÔNG TRÁI VỚI LỢI ÍCH CHUNG CỦA QUỐC GIA – DÂN TỘC”.

Thêm vào đó, Luật sư Lê Công Định qua bài viết của mình, đã chứng minh thành công: “…trong BLHS 1999 không có bất cứ điều khoản nào quy định, dù cụ thể hay tổng quát, các yếu tố định danh và định tính về một “tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”…” mà có lẽ không có một học giả hay chuyên gia về luật có thể chứng minh rõ hơn được nữa.

Đặc xá là một điều đúng theo khoa học và tiến bộ

Với các phân tích nêu trên, việc đề xuất “đặc xá” cho ông Trần Huỳnh Duy Thức là một điều đúng theo khoa học và tiến bộ, bởi:

– Cương lĩnh trước đây vì chưa quy định rõ về mặt tư tưởng, nên khi người dân bày tỏ ý kiến, suy nghĩ hay phát ngôn v.v… trên mọi lĩnh vực dễ bị quy chụp “lật đổ chính quyền nhân dân” hay “tuyên truyền chống nhà nước” hoặc”lợi dụng tự do dân chủ”, nhưng nay nhờ có việc “…TÔN TRỌNG NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT KHÔNG TRÁI VỚI LỢI ÍCH CHUNG CỦA QUỐC GIA – DÂN TỘC” làm căn cứ, cho nên, những gì ông Trần Huỳnh Duy Thức bị quy tội trong cáo trạng đã không còn giá trị “bảo chứng”, nhờ sự thay đổi của Cương lĩnh. Nghĩa là tư duy và ý tưởng của ông Thức “KHÔNG TRÁI VỚI LỢI ÍCH CHUNG CỦA QUỐC GIA – DÂN TỘC”.

– Hiến pháp 2013 tại điều 2 khoản 2 quy định “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Theo đó, những ý tưởng của ông Thức không những đúng theo thay đổi tiến bộ của Cương lĩnh ĐCSVN mà còn không hề vi phạm vào khoản 2 điều 2 Hiến pháp 2013.

– Tất cả các luật đều phải xoay quanh Cương lĩnh và Hiến pháp. Khi Cương lĩnh và Hiến pháp chưa sửa đổi, ông Trần Huỳnh Duy Thức bị quy tội một cách “mơ hồ”, nên khiên cưỡng phải chấp nhận. Nay Cương lĩnh đã được sửa đổi và Hiến pháp đã đề cao Quyền Con Người.

Về đối ngoại và đối nội

Việc trả tự do cho ông Trần Huỳnh Duy Thức còn có ý nghĩa rất lớn cho ĐCSVN và Nhà nước CHXHCNVN trong tình hình hiện nay.

Không những thế…

– Tất cả những người bị kết án với tội danh theo điều: 79, 88, 258 đang thụ án cũng cần được “đặc xá” theo phân tích trên.

– Tất cả những người đang chịu án quản chế (như cá nhân người viết bài này) cũng được chấm dứt thi hành án quản chế.

– ĐCSVN và Nhà nước CHXHCNVN nên nghiên cứu và vận dụng đúng theo sửa đổi của Cương lĩnh và Hiến pháp để, hoặc là xóa bỏ những điều luật 109, 117, 331 hoặc là định nghĩa rất rõ các nội dung buộc tội, sao cho những ai bị kết án từ những “tội danh này”, họ phải thấy rõ tư tưởng, hành vi của mình là “trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc”.

Tù Nhân Nhân Quyền Nguyễn Đình Ngọc – Blogger Nguyễn Ngọc Già

_____________________________________________________________

[1] https://www.facebook.com/LSLeCongDinh/posts/2037462326527541 (Luật sư Lê Công Định)

[2] https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1136823149791479&set=a.334810426659426.1073741827.100003914154408&type=3 (Luật sư Ngô Ngọc Trai)

[3] https://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/tong-bi-thu-de-phong-the-luc-muon-xoa-bo-dieu-4-hien-phap-2886937.html (báo điện tử VNExpress)

[4] http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=44966&print=true. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 158 – 159 (Tạp Chí Cộng Sản).

Nguồn dẫn đều từ hai công dân với đầy đủ quyền hạn: Lê Công Định, Ngô Ngọc Trai và các trang báo hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Nhấn mạnh điều này để thưa rõ với dư luận, những phân tích trên hoàn toàn là học thuật, tác giả bài viết không có bất kỳ “ý đồ xấu” nào để bị ghép vào “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo điều 117 – Bộ Luật Hình Sự 2015 mà trước đây bản thân người viết đã buộc phải nhận lãnh án oan sai với 3 năm tù giam và 3 năm quản chế từ điều 88.

Bài viết cũng được gởi tới: Tạp Chí Cộng Sản,Báo Nhân Dân, Báo Sài Gòn Giải Phóng, Báo Thanh Niên thông qua email: dinhngocnguyen1234@gmail.com

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể đang đùa với dân?

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể đang đùa với dân?

Bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thể – Tác giả “trạm thu giá BOT” đang “giỡn mặt bầu cua” với dân, với Quốc hội và đổ tội nhiệm kỳ trước!

Bộ trưởng Thể gốc nông dân miền Tây – vùng đất cư dân vốn sống chất phác, “có sao nói vậy”; không lắt léo câu chữ, ma mị ngôn từ. Cụ thể ông Thể là dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp nên chắc hiểu từ “giỡn mặt bầu cua” của dân miền Tây; nó na ná như “múa rìu qua mắt thợ” của bà con miền Bắc – tức làm cái trò mà ai cũng biết tẩy đó là trò con nít khi đổi tên các trạm thu phí BOT thành thu giá.

Giữa sóng gió dư luận đang đồng loạt lên án cái trò “giỡn mặt bầu cua” này thì trong buổi họp Quốc hội sáng 22-5-2018, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể, đại biểu Quốc hội đoàn Sóc Trăng sau khi thừa nhận: “Thời gian qua có vấn đề trạm thu giá BOT là việc hết sức nóng, có thể nói chưa lúc nào nóng như vừa qua” đã đổ tội: “Đây là sản phẩm của giai đoạn trước”.

Ông Thể quên hay cố tình không nhớ chính ông là người ký hơn 20 dự án BOT giao thông, trong đó có BOT Cai Lậy tai tiếng – khi ông là thứ trưởng GTVT? Rồi ông khẳng định trước các đại biểu của dân: “Đến thời điểm này có thể nói tương đối ổn định. Chúng tôi sẽ nghiên cứu, vận dụng để làm sao những trạm thu giá BOT sắp tới sẽ thực hiện nghiêm“.

Các trạm thu phí BOT hiện đồng loạt thay bằng trạm thu giá. Ảnh: Internet

Thu phí hay thu giá, thu gì cũng là thu tiền; không chỉ là một kiểu làm dơ bẩn, lập lờ tiếng Việt vốn trong sáng và đẹp đẽ mà còn vi phạm pháp luật; cụ thể là Luật Phí và lệ phí 2015 – được Quốc hội thông qua ngày 25-11-2015, có hiệu lực từ ngày 1-1-2017, không hề có một từ nào quy định về thu giá mà chỉ có thu phí.

Ở điều 3 – Giải thích từ ngữ – của luật này, các từ ngữ được hiểu:

1. Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật này.

2. Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật này.

Trả lời câu hỏi của phóng viên: “Tại sao Bộ GTVT lại chuyển tên gọi từ “thu phí” thành “thu giá” BOT?”, ông đã thú thật: “Phí mang tính chất quản lý Nhà nước liên quan đến HĐND, Quốc hội quyết định. Hình thức đầu tư BOT (Kinh doanh – Xây dựng – Chuyển giao) được xem là một sản phẩm của doanh nghiệp nên họ tự định giá. Do vậy, chúng ta cần điều chỉnh từ phí sang giá cho chính xác.

Bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thể – Ảnh: Việt Dũng/ báo Tuổi Trẻ

Việc chuyển đổi tên trạm “thu phí” thành trạm “thu giá” không có gì khác mà còn linh động hơn rất nhiều cho việc điều chỉnh mức thu. Bởi lẽ muốn điều chỉnh phí thì phải thông qua HĐND nên rất chậm”.

Ông buộc phải thú thật điều này cho thấy ông rất rành Luật Phí và lệ phí, trong đó quy định ai được quyết định việc thu phí (khoản 2 điều 4 Luật Phí và lệ phí quy định): “Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quy định các khoản phí, lệ phí trong Danh mục phí, lệ phí, được quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng các khoản phí, lệ phí”.

Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật! Bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thể đã am hiểu luật rất rõ mà vẫn cố tình lách luật để vi phạm Luật phí và lệ phí mà Quốc hội đã ký mới hơn 1 năm, liệu có thể khởi kiện được không?

Có cần một bộ qui tắc ứng xử cho mạng xã hội hay không?

Có cần một bộ qui tắc ứng xử cho mạng xã hội hay không?

Kính Hòa RFA
2018-05-22
 
Một quán cà phê tại trung tâm Hà Nội. Việt Nam có hơn 50 triệu người sử dụng mạng xã hội. Ảnh chụp tháng 11/2013.

Một quán cà phê tại trung tâm Hà Nội. Việt Nam có hơn 50 triệu người sử dụng mạng xã hội. Ảnh chụp tháng 11/2013.

 AFP
 

Ngày 18/5/2018 Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam tổ chức một buổi tọa đàm tại Hà Nội, đặt ra vấn đề là cần phải có một bộ qui tắc ứng xử cho mạng xã hội tại Việt Nam.

Ý kiến cho rằng cần phải có bộ qui tắc ứng xử

Tiến sĩ xã hội học Trịnh Hòa Bình cho rằng tình trạng phát triển của mạng xã hội tại Việt Nam hiện nay đặt ra yêu cầu cần phải có bộ qui tắc ứng xử:

Khi đặt ra vấn đề là cần có một bộ qui tắc ứng xử trên mạng có nghĩa là vấn đề giao thương giao tiếp, va chạm trên mạng đã cần phải có sự kiểm soát, điều tiết. Một thực tế chúng ta không thể chối cãi được là có những vấn đề rất là phức hợp, nhạy cảm, không rõ ràng, về quốc kế dân sinh, về sinh hoạt văn hóa tinh thần, đặc biệt là sự va chạm trong vấn đề con người và xã hội.”

Nhưng ông cho rằng bộ qui tắc ứng xử này không phải là những điều luật mà là những qui định dưới luật, và việc xử lý những điều xảy ra trên mạng xã hội là không đơn giản vì mạng xã hội là một bức tranh phức hợp, đa dạng.

Cũng đồng ý là cần phải có những qui tắc ứng xử, nhưng nhà báo Bút Lông Phan Lợi cho rằng nó nên được thực hiện theo những nhóm tự nguyện qui ước với nhau về những điều gì mà các thành viên nên làm và không nên làm. Ông Phan Lợi cho biết là ông đã thực hiện việc này với các nhóm mà ông thành lập trên Facebook.

Ông Phan Lợi nói cụ thể những chuyện cần phải tránh đối những thành viên của các nhóm mà ông tham gia, hay thành lập:

“Ví dụ họ có thể tấn công những người khác, hay là có những người bị đem ra bêu riếu về những vấn đề tôn giáo, giới tính, hay sự sử dụng hình ảnh, liên quan đến những nhóm yếu thế, những nhóm dễ bị tổn thương như là trẻ em, những người dân tộc thiểu số, v.v…”

Áp dụng như thế nào? Hay là không cần thiết?

Tiếp nối ý kiến của nhà báo Phan Lợi, ông Trương Duy Nhất, một nhà báo tự do và là một blogger nói rằng thực ra tất cả những cơ quan đều có ban hành qui định phải ứng xử như thế nào trên mạng xã hội, và những nhà báo có trong biên chế của báo chí nhà nước cũng đã bị ràng buộc bởi những qui định như vậy, nhưng điều đó không có nghĩa là rằng một bộ qui tắc như vậy có thể được áp dụng lên những nhà báo tự do như ông:

“Bây giờ Bộ Thông tin Truyền thông có ra những bộ qui tắc gì đó, thì nó cũng ngoài tầm, ngoài cuộc sống của chúng tôi. Nó chả có tác động gì với chúng tôi, chả có hiệu lực gì với chúng tôi cả, bởi chúng tôi có ràng buộc gì với họ đâu?”

Không ai đưa ra thông tư để hướng dẫn hay chế tài những nguyên tắc, qui tắc ứng xử của những người tự do cả.
-Nhà báo Phan Lợi.

Ông nói rằng tác động của những nhà báo tự do trên mạng xã hội là mạnh hơn rất nhiều so với những nhà báo làm cho báo chí chính thống của nhà nước.

Bà Nguyễn Thị Hậu, một chuyên gia ngành khảo cổ cho chúng tôi biết là bà cũng có chứng kiến những chuyện rắc rối liên quan đến ứng xử trên mạng xã hội, nhưng bà nghi ngờ về khả năng áp dụng một bộ qui tắc chung:

“Thực sự nếu xã hội không có những điều đó thì mạng xã hội nó sẽ không phản ánh. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai là bộ qui tắc ứng xử, đặt ra thì dễ, nhưng để kiểm soát, và xử lý tất cả theo bộ qui tắc đó như thế nào thì đó là cái mà tôi rất quan tâm.”

Nguyên nhân của việc mà Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu đưa ra cho câu hỏi của mình là mạng xã hội có một điều kiện kỹ thuật riêng, cho nên những sai phạm hay những hành vi ứng xử trên đó sẽ không được quan sát, xử trí theo như trong một không gian xã hội truyền thống được.

Luật sư Hà Huy Sơn ở Hà Nội thì nói rằng một bộ qui tắc ứng xử cho mạng xã hội là không cần thiết, ông giải thích lý do:

“Tôi cũng chưa biết người ta sẽ qui định cái gì, nó có hạn chế quyền của công dân theo hiến pháp qui định hay không? Nhưng theo chủ quan của tôi thì chắc là người ta muốn quản lý, siết chặt tự do tư tưởng. Còn nếu mà người ta có những mặt tích cực, hạn chế những chuyện như là đưa tin sai, vi phạm văn hóa, thì tôi nghĩ những cái đó luật dân sự, luật hình sự cũng đã qui định rồi, quan điểm của tôi là đưa những qui tắc này ra nó cũng không cần thiết.”

Tính đạo đức và pháp luật của mạng xã hội

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, mạng xã hội chỉ khác đời thường ở chổ là có những quan hệ rất trực tiếp mặc dù người ta không biết nhau ngoài đời, và điều đó xóa đi làn ranh của sự vị nể, làm cho người tham gia mạng xã hội phải chấp nhận những chỉ trích đến với mình, cũng như phải có trách nhiệm cao hơn với những hành động của mình, do đó theo bà, những yêu cầu về đạo đức trên mạng xã hội cao hơn đời thường:

“Ở ngoài đời nếu có một tin đồn thì ngồi quán trà nói xong thì thôi, nhưng trên mạng xã hội, do đặc điểm kỹ thuật của nó thì do tính tương tác lan truyền của nó rất nhanh, mà lại trực diện nữa, cho nên con người mình phải có trách nhiệm hơn. Thế nên tôi thấy đạo đức trên mạng xã hội nó vẫn thuộc phạm trù đạo đức, nhưng rõ ràng nó đòi hỏi cao hơn môi trường xã hội bình thường, môi trường truyền thống.”

Nhưng đạo đức và pháp luật là hai lĩnh vực khác nhau.

Nhà báo Phan Lợi quan niệm rằng mạng xã hội cũng giống như là một xã hội dân sự, mà trong đó nhà nước nên là một thành viên tham gia chứ không thể là một tác nhân ngồi lên trên để quán xuyến tất cả những gì xảy ra trên mạng xã hội. Theo ông cơ quan pháp luật không thể căn cứ vào những qui chuẩn của một bộ qui tắc ứng xử nào đó mang tính đạo đức, để xử lý những cá nhân vi phạm. Ông nói về buổi tọa đàm vừa qua tại Hà Nội:

“Có đoạn cuối trong bài báo tường thuật buổi tọa đàm đó thì tôi thấy nói rằng việc đưa ra qui tắc cho người sử dụng mạng xã hội, rồi căn cứ vào đấy để ban hành các thông tư để dựa vào đấy mà xử lý thì tôi thấy là không chuẩn. bởi vì thông tư chỉ có thể hướng dẫn những vấn đề pháp luật thôi, chứ không ai đưa ra thông tư để hướng dẫn hay chế tài những nguyên tắc, qui tắc ứng xử của những người tự do cả.”

Mạng xã hội Facebook được lan truyền rộng rãi tại Việt Nam ngay từ khi nó mới ra đời tại Mỹ, và theo nhiều số liệu khác nhau thì hiện có đến hơn 50 triệu người Việt Nam tham gia mạng xã hội.

Đạo đức trên mạng xã hội nó vẫn thuộc phạm trù đạo đức, nhưng rõ ràng nó đòi hỏi cao hơn môi trường xã hội bình thường.
-Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu.

Nhiều nhà hoạt động dân sự, chính trị, bất đồng chính kiến đã sử dụng mạng xã hội để nêu lên chính kiến của mình, cũng như thúc đẩy các hoạt động xã hội như biểu tình vì môi trường, chống Trung Quốc,… Người ta cũng chứng kiến những tranh cãi rất dữ dội giữa những nhóm khác nhau trên mạng xã hội Việt Nam với những quan điểm chính trị đối lập nhau.

Nhiều người tham gia mạng xã hội với những phát biểu mang tính chính trị hay chỉ trích nhà cầm quyền đã bị bắt bỏ tù.

Ngày 19/5/2018, Báo Quân đội nhân dân có đăng bài viết nói rằng “cần xử lý hiện tượng loạn ngôn trên mạng xã hội,” trong đó có nêu trường hợp ông Nguyễn Văn Đực, một thành viên của Hiệp hội bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh. Báo Quân đội nhân dân cáo buộc rằng ông Nguyễn Văn Đực đã xúc phạm các cán bộ cấp cao và làm ảnh hưởng đến đường lối chính sách của nhà nước, và của Đảng Cộng sản.

Chúng tôi có liên lạc với ông Nguyễn Văn Đực, nhưng ông không có bình luận gì về cáo buộc đó.

Theo quan sát của chúng tôi trong thời gian gần đây, ông Nguyễn Văn Đực không phải là người duy nhất có những chỉ trích các viên chức cao cấp của Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam, mà có rất nhiều người, ẩn danh có mà dùng tên thật cũng có, và đối tượng bị chỉ trích bao gồm cả các quan chức cao cấp nhất như Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ…

CON RÁI CÁ BỊ LỘT DA KHIẾN THỢ SĂN XUẤT GIA ?

CON RÁI CÁ BỊ LỘT DA KHIẾN THỢ SĂN XUẤT GIA ?

 Đây là một câu chuyện có thật, do một vị hòa thượng đích thân kể lại. Ông nói rằng khi chưa xuất gia, ông từng là một người chuyên đi săn rái cá.
Một ngày nọ, ông vừa ra ngoài đã săn được một con rái cá cái. Sau khi đã lột bộ da quý của nó, ông đặt con rái cá còn thoi thóp lên một bãi cỏ. Sẩm tối, ông quay về chỗ cũ, nhưng không thấy con rái cá đâu cả. Ông quan sát kĩ, phát hiện trong đám cỏ có dính một chút máu, vết máu dẫn đến một cái hang nhỏ gần đó. 
Khi đến hang, nhìn vào trong, ông ngỡ ngàng giật mình: Thì ra con rái cá chịu nỗi đau đớn bị lột da, cố lết về hang của mình. Tại sao nó lại phải làm như thế?
Khi ông ta lôi con rái cá đã tắt thở ra, liền phát hiện có hai con rái cá con vẫn còn chưa mở mắt, chúng đang ngậm chặt đầu vú khô của rái cá mẹ đã chết.
Nhìn cảnh tượng ấy, ông bàng hoàng sửng sốt, ớn lạnh cả sống lưng. Từ xưa đến nay, ông chưa từng nghĩ đến việc động vật lại có tình cảm mẹ con thiêng liêng đến mức ngay cả con người cũng không thể làm được. Trước lúc chết vẫn còn nghĩ đến cho đứa con sơ sinh bú sữa, vì sợ con mình đói. Nghĩ tới đó, bất giác người thợ săn thấy cay cay cánh mũi, nước mắt tuôn rơi, cảm thấy tội lỗi, xấu hổ vô cùng vì hành động không thể dung thứ của mình. Thế là, ông gác bỏ đồ đao, giã từ nghề săn rái cá, xuất gia tu hành. 
Mỗi lần vị hòa thượng ấy nghĩ lại chuyện quá khứ của mình, trong mắt lại ngấn lệ, chỉ trực trào ra…
Mục đích thấp nhất của ăn uống là để chống đói bụng, nhằm đảm bảo sinh mệnh, mục đích cao nhất là vì khoái khẩu. Mà giữa chống đói và khoái khẩu, khoảng cách của chúng đâu chỉ có trăm ngàn dặm, nhưng vị giác của chúng ta từ miệng cho đến yết hầu chỉ có hơn 10 xen-ti-mét, nuốt qua họng là chẳng còn cảm nhận được gì nữa. Chúng ta vì sao không nhịn đi cảm giác kéo dài 10 xen-ti-mét mà lại đi tàn sát biết bao nhiêu sinh linh vô tội?

From Tu-Phung gởi

Du khách Tàu, áo “lưỡi bò” và sự hèn hạ quen thuộc!

Du khách Tàu, áo “lưỡi bò” và sự hèn hạ quen thuộc!

Song Chi
2018-05-19

RFA

Khách Trung Quốc mặc áo có in hình đường lưỡi bò tại sân bay Cam Ranh 13/5/2018.

Khách Trung Quốc mặc áo có in hình đường lưỡi bò tại sân bay Cam Ranh 13/5/2018.

Courtesy of Facebook
 

Sự việc 14 du khách Trung Quốc mặc áo “đường lưỡi bò” khi nhập cảnh sân bay Cam Ranh ngày 13.5 vừa qua và cách xử lý của phía VN, một lần nữa lại cho thấy cái tâm lý bạc nhược, sợ Tàu của đa số quan chức Việt.

Về phía đám du khách, đây không phải là một sự sơ xuất gì mà là cố tình vì cả nhóm ăn mặc rõ ràng theo kiểu đồng phục. Phải coi thường nước chủ nhà lắm thì họ mới dám đi cả đám, mặc cái áo ngang nhiên thách thức chủ quyền nước chủ nhà như vậy. Vậy mà cả đám quan chức từ trên xuống dưới lúng túng không biết làm sao xử lý! Nào cả Tổng cục Du lịch, cả Bộ Ngoại giao, Bộ Công an cùng phối hợp xử lý, «cơ quan điều tra thì làm việc với các đơn vị liên quan để làm rõ động cơ của nhóm khách này”, Phó Giám đốc Công an tỉnh Khánh Hòa thì cho rằng “Chúng tôi phải điều tra, khi đấy mới có đủ cơ sở kết luận để có hướng xử lý”, (“Khánh Hòa lúng túng xử lý vụ khách Trung Quốc mặc áo ‘đường lưỡi bò”, VNExpress).

Thật là cẩn trọng, chu đáo!

Càng lúng túng, càng cẩn trọng thì truyền thông báo chí Trung Quốc càng cười cho vào mũi (“Tờ Hoàn Cầu: ‘VN thiếu tự tin vụ áo lưỡi bò’, BBC), ra cái điều đường chín đoạn trên Biển Đông, hay còn gọi là đường lưỡi bò, đường chữ U, là phần lãnh thổ chính danh của Tàu, chả có gì phải bàn cãi nữa, VN làm như vậy chỉ “nhằm thổi lên tâm lý bài Trung” mà thôi.

Trong khi đó người dân Việt Nam chỉ cần mặc cái áo có hình No-U (“SAY NO TO U-LINE!) hoặc giăng biểu ngữ “Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam” là bị tóm về đồn ngay lập tức, chả cần điều tra gì cả cho mất thì giờ. Và chừng vài lần như vậy là bị tống vào tù, xử qua quít rồi kết án luôn, nhẹ thì năm ba năm, nặng hơn 10, 13 năm…

Chưa hết, chủ quyền quốc gia là điều tối quan trọng, người làm quan lại càng phải ý thức rõ điều này, vậy mà ông Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Văn Tuấn lại cho rằng: ‘Không để sự cố nhỏ ảnh hưởng đại cục’. (“Khách TQ mặc áo in lưỡi bò: ‘Không để sự cố nhỏ ảnh hưởng đại cục’, VietnamNet)

Đại cục là cái đại cục gì? Là mối quan hệ giữa VN-Trung Quốc? Hóa ra cái mối quan hệ bất bình đẳng, đầy rủi ro, thiệt thòi cho phía VN từ hồi nào tời giờ đó lại phải coi trọng hơn cả chủ quyền quốc gia? Hay đại cục là giữ cho được hòa khí với Trung Cộng để không bị Trung Cộng tấn công? Nhưng liệu giữ hòa khí, hòa bình bằng sự hèn hạ, nhục nhã thì có giữ được lâu dài, nhất là một khi kẻ cướp ngày càng mạnh, ngày càng hung hăng, nhiều tham vọng?

Mà đâu riêng gì một tay Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch này, cái lối suy nghĩ hèn hạ, bạc nhược, nhắm mắt làm ngơ tất cả mọi sự khiêu khích, mọi hình thức xâm lăng, xâm phạm chủ quyền VN của Trung Cộng từ bao lâu nay, miễn sao giữ được chế độ, là cái suy nghĩ của không it lãnh đạo, quan chức cộng sản VN từ trên xuống dưới.

Ý NGHĨA CUỘC SỐNG

Ý NGHĨA CUỘC SỐNG

Chúa Thánh Thần đem lại gì cho chúng ta.  Đó là câu hỏi chúng ta cùng nhau tìm hiểu.  Và ơn huệ đầu tiên Ngài đem lại đó là đức tin.  Chính đức tin sẽ tạo nên nơi chúng ta một cái nhìn mới.

Kể từ nay, chúng ta không còn cúi mặt nhìn xuống đất, mà còn có thể ngước mắt nhìn lên trời.  Và qua những thực tại trần gian, chúng ta sẽ tìm thấy những giá trị siêu nhiên.  Chúa Thánh Thần sẽ mở ra một chân trời mới, sẽ hướng dẫn chúng ta bước vào cõi sống đời đời.  Hẳn rằng đã hơn một lần chúng ta băn khoăn và tự hỏi: Hỡi người, người là ai?  Tại sao người lại sống trên mặt đất này.  Rồi người sẽ đi về đâu?  Mục đích cuộc sống của người là gì?  Ý nghĩa cuộc sống của người là gì?

Có một nhà hiền triết nọ cũng đã suy tư như thế.  Hôm đó, ông đi lang thang trong rừng, miệng không ngừng lặp lại câu hỏi: Đâu là ý nghĩa của cuộc sống?  Bỗng một con họa mi bay đến và nói: Ý nghĩa cuộc sống ư?  Chỉ là tiếng hót véo von.  Rồi nó bay đi nhưng vẫn còn vương lại những âm thanh dễ mến.  Nghe vậy, chú chuột chù phản đối: Đời là một cuộc chiến đấu không ngừng với bóng tối.

 

Thế nhưng chị bướm lại lắc đầu không chịu: Cuộc sống chỉ là hưởng thụ và vui thú.  Bấy giờ bác ong mật phát biểu: Cuộc sống không chỉ là vui thú, mà còn là lao động, lao động nhiều hơn vui chơi.  Cô phượng hoàng thì vỗ cánh và nói: Chẳng ai có lý hết, đời sống chính là tự do, được tung bay trên khắp khoảng trời xanh.  Cụ tùng bách thì lắc đầu và bảo: Đời sống là một cố gắng để vươn cao.  Nhưng cô hồng nhung lại quả quyết: Cuộc đời chỉ là những tháng ngày trau chuốt cho vẻ đẹp được thêm duyên dáng.  Còn chàng mây lang thang lại thở dài: Đời sống chỉ là những lần chia ly, khổ đau, cay đắng và nước mắt.  Còn bà sóng thần thì bảo: Đời là một sự đổi thay không ngừng.

 Nhà hiền triết hốt hoảng và chạy trốn khỏi khu rừng để không còn nghe tiếng nói của muôn loài trước một vấn nạn chưa được giải quyết.

Còn chúng ta thì sao?  Rất có thể chúng ta cũng đã băn khoăn như nhà hiền triết, để rồi cảm thấy như bế tắc, không tìm ra đáp số cho bài toán.

Thế nhưng với biến cố Hiện xuống, các môn đệ đã nhìn rõ vấn đề, đã thấu suốt được những chân lý mà Chúa Giêsu đã truyền dạy.  Với ơn Chúa Thánh Thần chúng ta cũng sẽ nếm thử được niềm an bình và nỗi mừng vui, bởi vì chúng ta xác tín rằng: quê hương chúng ta không phải ở mặt đất này, nhưng là ở chốn trời cao.  Cuộc sống tạm bợ phù du này sẽ kết thúc để rồi mở ra một chân trời hạnh phúc, kéo dài tới vĩnh cửu.  Nhờ đức tin lãnh nhận, chúng ta có được cái nhìn mới và biết đánh giá đúng mức những thực tại trần gian, biết xử dụng chúng để xây dựng cuộc sống siêu nhiên.

Thánh Cyrillo đã so sánh: Chúa Thánh Thần tác động trong chúng ta như ánh sáng mặt trời tác động trên con mắt.  Nếu đi từ bóng tối ra ánh sáng, chúng ta sẽ nhìn thấy nhiều vật trước kia chúng ta không nhìn thấy.  Cũng vậy, với Chúa Thánh Thần chúng ta sẽ nhìn xem tất cả bằng cặp mắt siêu nhiên, chúng ta sẽ khám phá ra những giá trị thiêng liêng cho cuộc sống tạm gửi này, để rồi chúng ta sẽ không dừng lại, sẽ không đầu tư cho những vui thú chóng qua, nhưng sẽ tìm kiếm và đầu tư cho hạnh phúc vĩnh cửu.

Ngày xưa Chúa Thánh Thần bay lượn trên nước và đã biến cái đám hỗn mang thành một vũ trụ có trật tự thế nào, thì bây giờ Ngài cũng bay lượn, cũng hiện diện trong tâm hồn để biến con người tội lỗi, vô trật tự của chúng ta thành một Kytô hữu đích thực, Ngài sẽ cởi bỏ con người cũ của chúng ta, biến chúng ta trở nên một tạo vật mới, một con người mới.  Vậy con người mới ấy là như thế nào?  Chắc hẳn bề ngoài chúng ta vẫn như trước vẫn giống với mọi người, có đầu, có mắt, có trái tim, nhưng cách thức chúng ta nhìn ngắm, cách thức chúng ta suy nghĩ, cách thức chúng ta yêu mến thì lại hoàn toàn thay đổi, như lời tiên tri Êgiêkiel đã diễn tả: Ta sẽ rảy nước tinh tuyền trên các ngươi và các ngươi sẽ được trong sạch.  Ta sẽ cất khỏi các ngươi trái tim bằng đá, nhưng sẽ ban cho các ngươi một trái tim bằng thịt.  Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới và một thần khí mới.

Với Chúa Thánh Thần ngự trong tâm hồn, chúng ta sẽ nhìn cuộc sống, nhìn những người anh em, nhìn thế giới, nhìn dòng lịch sử một cách khác.  Chúng ta sẽ nhìn những khổ đau, những thử thách và những đắng cay một cách khác.  Chúng ta sẽ tìm thấy được những giá trị siêu nhiên của chúng.

Bởi đó, hãy mở cửa đón nhận Chúa Thánh Thần, hãy lắng nghe tiếng nói của Ngài, hãy bước đi dưới sự soi dẫn của Ngài, hãy sống theo những gì Ngài chỉ bảo.  Đừng dập tắt ngọn lửa của Ngài, để nhờ đó, Ngài sẽ hun đúc đức tin, để nhờ đó chúng ta biết đánh giá đúng mức những thực tại trần gian.

Xin hãy đến!  Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài hãy đến, thay đổi đời sống tâm linh chúng con, xin giúp chúng con tìm ra ý nghĩa đích thực cuộc sống mình.  Xin hãy đến làm sức mạnh nâng đỡ để chúng con đủ can đảm đi theo Chúa mỗi ngày cho đến trọn đời.  Amen!

Sưu tầm

From Langthangchieutim gởi

Đất đai: vàng và máu!!!

Đất đai: vàng và máu!!! (nguồn : Dân Làm Báo)

Tự do Ngôn luận – Không ai có nỗi ám ảnh về đất đai như người Cộng sản, vì họ luôn có nỗi ám ảnh về quyền lực. Và một trong những phương thế để giữ quyền lực là sở hữu đất đai, kho vàng bất tận, nguồn phát sinh mọi của cải khác. Mà sở hữu đất đai theo quan niệm của họ là phải đoạt lấy bằng vũ khí, đồng thời làm cho những ai bị tước đoạt không có khả năng đòi lại. 

Chính vì thế, sau khi nhắm được chính quyền ở miền Bắc, họ đã tổ chức cái gọi là “Cải cách ruộng đất” mà thực ra là đoạt lấy đất của những người bị gán danh hiệu địa chủ, và đoạt bằng cách đấu tố giết chết ngay những kẻ xấu số này. Những địa chủ ấy từng là ân nhân của đảng cũng có thể đem bắn, điển hình là bà Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm. Những địa chủ ấy từng hiến nhiều cơ ngơi cho đảng cũng có thể bị lột sạch, như ông bà Trịnh Văn Bô. Kết quả của vụ Cải cách Ruộng đất đẫm máu đó không hề là chia đất cho bần cố nông, thực thi chính sách “người cày có ruộng”, nhưng là đoạt hết mọi đất đai (ở miền Bắc) vào trong tay đảng. 

Để có thể chiếm đất thêm, VC tiến hành cuộc chiến xâm lăng miền Nam. Sau khi cướp được quyền lực trên khắp cả nước, đầu tiên họ tống cổ dân giàu các thành thị đi kinh tế mới, bắt giam quân cán chính VNCH vào các trại tù hẻo lánh xa xôi, thực hiện “cải tạo công thương nghiệp”… để cướp đất, cướp nhà, cướp cơ sở kinh doanh, sản xuất. VC còn gây đủ khó khăn khốn đốn cho cuộc sống dân miền Nam, khiến hàng triệu người phải tìm cách vượt biên, bỏ lại nhà cửa. Phần lớn ruộng đất và cơ sở của các tôn giáo cũng bị tước đoạt. Sau đó, VC hiến định quyền sở hữu đất đai của đảng, bằng cách đưa ra nguyên tắc mỵ dân mơ hồ: Đất đai, rừng núi, tài nguyên thiên nhiên…. đều thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý, tập thể và cá nhân chỉ được quyền sử dụng (Hiến pháp 1980 điều 19+20 và HP 1992 điều 17+18). HP 2013 điều 50 thì còn thêm: nhà nước đại diện chủ sở hữu, nhằm củng cố điều 5 Luật Đất đai 2003. 

Chỉ cần chừng đó là đã biến tất cả mọi ai cư trú trên mảnh đất hình chữ S trở nên người thuê đất của đảng và có thể bị tống cổ khỏi nơi cư trú bất cứ lúc nào, để nhà nước lấy đất làm việc riêng. Và cũng kể từ đó, xuất hiện tại CHXHCN Việt Nam một “giai cấp” còn thảm hại hơn cả giai cấp vô sản mà chế độ CS luôn đề cập, “giai cấp Dân Oan” với quân số hàng chục triệu người. Sẽ vang rền trong lịch sử những cái tên như Thủ Thiêm (Sài Gòn), Cồn Dầu (Đà Nẵng), Tiên Lãng (Hải Phòng), Tân Rai, Nhân Cơ (Tây Nguyên), Dương Nội, Đồng Tâm (Hà Nội), Văn Giang (Hưng Yên), Vụ Bản (Nam Định)… Ở những nơi đó, ngoài vàng chảy vào túi đảng, đảng viên, nhà nước, quan chức nhà nước, đại gia đỏ, công ty quốc doanh đỏ… còn là nước mắt và máu của dân oan, vì bị cán bộ, công an, côn đồ, bảo vệ, có khi cả bộ đội, dàn quân đánh như đánh địch, san bằng nhà cửa, tiêu diệt hoa màu, quật ủi mồ mả, và kết thúc kiểu trừ hậu hoạn là bắt bớ bỏ tù dài hạn (để “chúng” hết khả năng và ý chí để đòi lại tài sản). Có cần thì tử hình như anh Đặng Văn Hiến ở Đak Nông. 

Nhưng đâu chỉ nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả tư nhân. Đến cả rừng núi bao la, biển cả ngút ngàn, hang động kỳ ảo, lăng tẩm vua quan, duyên hải xinh đẹp, tài nguyên quốc gia phong phú như Fansipan, Hạ Long, Sầm Sơn, Vũng Áng, Phong Nha, Kẻ Bàng, Cửa Việt, Mỹ Thủy, Lăng Cô, Hải Vân, Mỹ Khê, Hòa Quý, Hòa Xuân, Bà Nà, Sơn Trà, Cửa Đại, Lý Sơn, Nha Trang, Tây Nguyên, Phú Quốc… cũng đã bị xẻ thịt, bị phá nát cảnh quan, bị biến thành resort cao cấp, sân golf quý tộc, cũng đã đuổi hết cư dân sinh sống hay bắt họ thành nô lệ phục dịch, cũng giao hết cho công ty nọ, tập đoàn kia, trong đó không ít là của người Tàu, cũng đã trở thành tài sản kinh doanh riêng cho những nhóm lợi ích cá mập. 

Nhiều bãi biển được cả thế giới công nhận thuộc loại đẹp nhất hành tinh như Mỹ Khê (Đà Nẵng), Cửa Đại (Hội An), Bãi Dài, Bãi Sao (Phú Quốc), nơi mà trước đây người dân có thể thoải mái bơi lội hay tự do đánh bắt hải sản thì giờ đây, phần lớn diện tích nói trên đã được dành cho các đại tập đoàn khai thác bỏ túi. Quần thể công trình du lịch văn hoá dịch vụ cáp treo, vui chơi giải trí, khách sạn Fansipan Sapa đã phá nát sinh cảnh vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn, chiếm nơi ăn chốn ở của không biết bao nhiêu cư dân bản địa. Dự án Công viên đại dương Hạ Long xâm phạm, san lấp hàng trăm hecta mặt biển thuộc vùng đệm của di sản thiên nhiên thế giới độc đáo và bậc nhất này. Nhiều cánh rừng phòng hộ ven biển Sầm Sơn đã bị xóa sổ để xây dựng sân golf, resort, người dân xunh quanh đó chẳng còn được cào ngao đánh cá, không biết bao nhiêu gia đình sống nhờ nghề bám biển từ nhiều thế hệ bị cướp kế sinh nhai. Hoà Quý, Hoà Xuân ở Đà Nẵng được gọi là khu du lịch sinh thái nhưng thực chất không phải. Người ta đã đuổi hết dân đi, quy hoạch thành khu đô thị rồi bán nền lại với giá từ 50 đến 100 triệu đồng mỗi mét vuông trong khi chỉ đền bù cho dân khoảng 15 ngàn đồng/m2, mức giá nông nghiệp rẻ mạt. 

Chưa bao giờ, đảng bộ và nhà cầm quyền VC nhiều nơi, nhiều cấp lại quyết liệt, hung hăng thu (cướp) đất của dân trao cho các tập đoàn địa ốc như Vingroup, Sungroup, Bimgroup, Đại Quang Minh, FLC một cách dễ dãi và dã man đến thế. Điều đó dễ hiểu, vì các cơ quan, quan chức liên can từ trung ương đến địa phương đều được ăn chia trong các dự án của những tập đoàn này, phần lớn là được tặng hay bán rẻ biệt thự. Chẳng hạn trong dự án Ecopark (Văn Giang, Hưng Yên) thu hồi của dân 500 ha, 7 cán bộ ở ban tổ chức trung ương đảng được “nhượng” 7 biệt thự diện tích từ 500-1.200 m2/biệt thự với giá “bèo” 2 triệu đ/m2 trong khi giá một m2 căn hộ cao tầng ở đây là từ 26-32 triệu/m2. Theo dân Văn Giang thì ở dự án Ecopark có ít nhất 150 biệt thự “ngoại giao”dành cho hệ thống quan chức từ trung ương tới địa phương trong đó đủ thành phần lãnh đạo đảng, chính quyền, công an, tài nguyên môi trường, địa chính… Ở dự án Vinhome của đại gia Phạm Nhật Vượng tại quận Long Biên (Hà Nội), bà con phường Phúc Đồng cũng kể vanh vách những biệt thự, căn hộ “ngoại giao”của ông nọ, bà kia ở thành phố, trung ương phường, quận,… Mới đây, dư luận đã rùm beng về chuyện đại tá giám đốc Công an Đà Nẵng Lê Văn Tam được Vũ “nhôm” tặng cho một biệt phủ 100 tỷ tại Làng Châu âu (Eurovillage) ở quận Sơn Trà, Đà Nẵng. 

Và cũng chưa bao giờ, những tập đoàn cá địa ốc như Vingroup, Sungroup, Bimgroup, Đại Quang Minh, FLC… lại giàu nhanh đến thế. Giàu một cách cực kỳ dễ dãi và tàn độc trên đất đai và thân xác đồng bào. Đây là những tên tư bản cá mập đúng nghĩa mà Karl Marx (vừa được nhắc nhớ 200 năm sinh nhật) đã mô tả trong Tư bản luận: “…Tư bản ghét cay, ghét đắng tình trạng không có lợi nhuận hay có quá ít lợi nhuận chẳng khác gì giới tự nhiên ghê sợ chân không. Lợi nhuận mà thích đáng thì tư bản trở thành can đảm; Lợi nhuận mà được đảm bảo 10% thì người ta có thể dùng được tư bản khắp nơi; Bảo đảm được 20% thì nó hăng máu lên; Bảo đảm được 50% thì nó không biết sợ là gì; Bảo đảm được 100% thì nó chà đạp lên mọi luật lệ loài người; Bảo đảm được lợi nhuận 300% thì nó chẳng từ mọi tội ác nào mà không dám phạm, thậm chí có bị treo cổ nó cũng không sợ…”. Trong thực tế, những tên tư bản cá mập này đã không hề có và không thể có trong thế giới tư bản giẫy chết, nhưng chỉ có và có nhiều trong thế giới thiên đường cộng sản, từ Trung Quốc cho tới Việt Nam. Hãy lấy Thủ Thiêm, một ví dụ đang nổi bật trong công luận. 

Những hậu duệ vốn học tập chủ thuyết Mác-xít để xây dựng một mô hình xã hội “có nhân dân làm chủ”, “của dân, do dân và vì dân”, lại “tài giỏi” gấp trăm ngàn lần về khả năng bóc lột các “ông chủ đất nước” và có khả năng tạo ra các mức “lợi nhuận đảm bảo” lên tới 20000 % như FLC, Đại Quang Minh, Vingroup, Sungroup, Bimgroup, Vạn Thịnh Phát, Tân Thuận… ở Thủ Thiêm. Mức “lợi nhuận tư bản” từ việc ăn cướp, khi chỉ bỏ ra 1 đồng đền bù rẻ mạt, bán lại với giá gấp hàng ngàn, hàng vạn lần, chắc chắn chỉ có trong chế độ tư bản nhà nước mà thực chất là chế độ tư bản thân tộc cho đảng viên và tay chân của đảng. Tại buổi tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội thành Hồ sáng ngày 09 tháng 05 mới đây, bà Lê Thị Bạch Tuyết cho biết vừa liên hệ với công ty Đại Quang Minh, phòng kinh doanh dự án Khu đô thị Sala, tại khu vực nhà cũ của mình, để hỏi giá. Họ nói 350 triệu đồng/m2 và đã hết hàng, đến năm sau mới có một số căn hộ bán giá 23 tỷ, đang khi nhà cầm quyền thời ba tên cướp Lê Thanh Hải, Nguyễn Văn Đua và Tất Thành Cang đã chỉ đền bù cho bà (sở hữu 3000m2) 18 triệu đồng/m2. Bà Nguyễn Ngọc Thanh có căn nhà 59m2 trên đường Lương Định Của, dành dụm gần 50 lượng vàng mới mua nổi, nhưng khi giải tỏa chỉ được đền bù 94 triệu đồng, phải đóng thêm hơn 800 triệu mới mua được một căn tái định cư…

Đó là chưa kể tập đoàn mafia liên minh này (từ trung ương tới địa phương) đã cùng nhau đồng loạt tiêu hủy bản đồ nguyên thủy được thủ tướng Võ Văn Kiệt phê chuẩn năm 1996, làm lại một bản đồ mới, thu lố thêm đất ngoài quy hoạch (vốn được quyết định là 500 ha) và biến 150 ha đất tái định cư thành đất dự án xây dựng đô thị, đẩy gần 15 ngàn hộ dân Thủ Thiêm (đa phần nghèo khổ) ra khỏi nơi sinh cơ lập nghiệp từ bao đời. Không ít người đã bị đánh đập, bỏ tù vì chống việc cưỡng chế, vì phản đối lối đền bù bố thí, kiểu giết dần mòn. Không ít gia đình đã tan đàn xẻ nghé vì miệt mài khiếu kiện trong tuyệt vọng mấy chục năm trời. Hàng tấn đơn khiếu kiện đã bị vứt vào sọt rác. Hầu hết mọi cơ sở văn hóa tôn giáo đều bị san bằng, trong đó đặc biệt có nhà thờ của Hội thánh Tin lành Mennonite, chùa Liên Trì của Giáo hội Phật giáo Thống nhất. Giáo xứ Thủ Thiêm với dân số 2000 người bị đuổi chỉ còn 500 mạng. Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm với tu viện và 3 cơ sở giáo dục thì cũng sống với thanh gươm Damocles do Nguyễn Thiện Nhân (bí thư) và Nguyễn Thành Phong (chủ tịch thành Hồ) treo trên đầu, chẳng biết bị đánh úp và san bằng lúc nào đây. 

88 năm kể từ ngày thành lập đảng CSVN, những tưởng, “thành tựu cướp bóc vĩ đại” đã biến những ông bà thiến heo, cai đồn điền, bần cùng, vô sản, sát nhân và lừa đảo năm xưa trở thành những nhà tư bản đỏ giàu có ức vạn, quyền lực che kín “càn khôn” hôm nay sẽ bớt thói tham lam đôi chút để cho dân tình được làm ăn yên ổn. Nhưng đó là một nhận định sai lầm. Những cuộc tước đoạt tài sản người dân, vơ vét tài nguyên đất nước, phá hủy di sản văn hóa, đàn áp tôn giáo tín ngưỡng trên qui mô toàn quốc với mức độ khốc liệt như hiện nay ở xã hội Việt Nam thực ra là sự tiếp nối các cuộc “cải cách ruộng đất” chưa bao giờ kết thúc của VC. Bởi lẽ ám ảnh về quyền lực và về đất đai chưa bao giờ mất đi trong lòng họ. 

Ban Biên Tập –  Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 291 (15-05-2018)

ĐẤNG QUI TỤ MUÔN LOÀI 

ĐẤNG QUI TỤ MUÔN LOÀI 

 Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Trong Cựu ước, tác giả sách Sáng thể đã kể lại một trang sử buồn của lịch sử nhân loại, đó là câu chuyện tháp Baben.  Vì con người kiêu ngạo, muốn xây tháp chọc trời.  Chúa đã làm cho ngôn ngữ của họ trở thành hỗn loạn.  Kết quả là họ không hiểu nhau.  Cây tháp Baben được gọi là cây tháp gây phân tán (x. St 11,1-9). 

Thế rồi, kể từ trang sử buồn ấy, con người ngày càng xa Chúa và xa nhau.  Nhân loại bị trượt dài trong đường dốc sa đọa.  Người Do Thái nhắc tới tháp Baben như một kinh nghiệm đau thương.

 Trong Tân ước, tác giả Công vụ kể với chúng ta một biến cố trọng đại, đó là câu chuyện lễ Ngũ Tuần tại Giêrusalem (Bài đọc I).  Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, đã ngự xuống liên kết muôn người nên một.  Họ đã hiểu nhau mặc dù khác biệt về nguồn gốc.  Người Kitô giáo gọi Lễ Ngũ Tuần là lễ Hiện Xuống, ghi nhớ sự kiện Chúa Thánh Thần từ trời đến ở với cộng đoàn tín hữu, đến với Giáo Hội.  Nếu tháp Baben trong Cựu ước là biểu tượng của sự phân tán, thì Lễ Ngũ Tuần của Tân ước là điểm quy tụ.

 Kể từ ngày lễ Ngũ Tuần năm xưa, Chúa Thánh Thần không ngừng hoạt động để quy tụ muôn dân về một mối.  Chúa Thánh Thần chính là ngôn ngữ chung cho toàn thể nhân loại.  Ngôn ngữ đó là Tình Yêu, vì Ngài là Tình Yêu của Thiên Chúa.  Tình yêu lấp đầy mọi ngăn cách, san bằng mọi núi đồi, phá tung mọi ranh giới.  Nhờ Chúa Thánh Thần, Tin Mừng của Đấng Phục Sinh được loan báo cho mọi tạo vật, mọi nền văn hóa.  Chúa Thánh Thần đã liên kết mọi người trong một Đức tin và làm thành Giáo Hội của Chúa Kitô. 

Thánh Phaolô đã dùng hình ảnh một thân thể gồm nhiều chi thể để nói về Giáo Hội (Bài đọc II).  Nhờ sự liên kết của Chúa Thánh Thần, mọi tín hữu được quy tụ nên một thân thể.  Mặc dù khác biệt về chức năng, mọi chi thể đều phải liên kết với nhau và làm cho thân thể được khỏe mạnh.  Năng lực sống để điều khiển thân thể hoạt động, chính là Chúa Thánh Thần.  Ngài nối kết và làm cho những khác biệt trở nên hài hòa với nhau.  Lịch sử Giáo Hội hai ngàn năm nay đã chứng minh hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội. 

Thánh Gioan kể lại việc Chúa ban Thánh Thần cho các môn đệ qua cử chỉ “thổi hơi” trên các ông, qua biểu tượng này, Chúa Thánh Thần được diễn tả như hơi thở, như làn gió mát và như sự sống.  Bài đáp ca trong thánh lễ hôm nay cũng khẳng định vai trò quan trọng của Chúa Thánh Thần đối với mọi loài tạo vật: “Ngài rút hơi thở chúng đi, chúng chết ngay, và chúng trở về chỗ tro bụi của mình.  Nếu Ngài gửi hơi thở tới, chúng được tạo thành, và Ngài canh tân bộ mặt trái đất” (Tv 103,29).  Bởi vậy, đời sống Đức tin của chúng ta cần có Chúa Thánh Thần nâng đỡ và hướng dẫn.  Nhờ Ngài mà chúng ta không sợ lạc đường.  Nhờ Ngài mà chúng ta có thể trung tín với Chúa cho đến hơi thở cuối cùng.  Cũng nhờ Ngài mà chúng ta mới biết cách cầu nguyện thế nào cho có hiệu quả. 

Nếu Chúa Thánh Thần là Đấng quy tụ muôn loài, thì những ý đồ gây chia rẽ thù oán là đi ngược lại với hoạt động của Ngài.  Sống ở đời, chúng ta luôn bị giằng co giữa một bên là giáo huấn của Chúa, một bên là cám dỗ của thế gian.  Thánh Phaolô khuyên nhủ giáo dân Thêxalônica: “Anh em đừng dập tắt Thần Khí… Hãy cân nhắc mọi sự: điều gì tốt thì giữ; còn điều gì xấu thì bất cứ hình thức nào cũng phải lánh cho xa” (1Tx 5,19). 

Lễ Hiện Xuống được cử hành trong tháng Năm, là tháng dâng hoa kính Đức Mẹ.  Đức Maria đã hiện diện với Giáo Hội trong ngày lễ Ngũ Tuần.  Chúa Thánh Thần ngự đến trong khi các tông đồ quây quần xung quanh Đức Mẹ để cầu nguyện.  Trong suốt chặng đường dài của lịch sử Giáo Hội, Đức Mẹ vẫn hiện diện để che chở Giáo Hội và nâng đỡ các tín hữu.  Đức Phaolô VI đã tôn vinh Trinh nữ Maria với tước hiệu “Mẹ Giáo Hội.”  Chúng ta hãy cầu xin Mẹ chúc lành cho Giáo Hội hoàn vũ, cách riêng Giáo Hội Việt Nam chúng ta.  Mỗi người hãy dâng lên Đức Mẹ đóa hoa lòng, thể hiện qua tâm tình yêu mến, siêng năng lần hạt Mân Côi và thực thi bác ái đối với tha nhân.  Đó là những đóa hoa không tàn úa với thời gian, nhưng luôn tươi đẹp và tỏa ngàn sắc hương trước dung nhan Mẹ. 

“Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”, cùng với việc trao ban bình an, Chúa Giêsu phục sinh còn trao ban cho chúng ta sức mạnh của Người.  Nhờ được trang bị bằng sức mạnh là Chúa Thánh Thần, đến lượt mình, chúng ta có thể làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hôm nay.

 Lạy Chúa Thánh Thần, xin quy tụ chúng con trong tình hiệp nhất yêu thương.  Amen!

 Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

From Langthangchieutim gởi

TRĂM NĂM NGÓ XUỐNG ĐỜI HƯ ẢO – PHÚT CHỐC NHÌN LÊN NGỘ LẼ TRỜI. 

TRĂM NĂM NGÓ XUỐNG ĐỜI HƯ ẢO – PHÚT CHỐC NHÌN LÊN NGỘ LẼ TRỜI.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Only friends and family will be present in sickness. Stay in touch.

(Chỉ có gia đình và bạn bè bên cạnh khi đau ốm. Nhớ gần gũi họ.)

Life is too short. Don’t waste time hating anyone.

(Cuộc đời quá ngắn ngủi. Đừng phí thì giờ ghét bỏ ai làm gì.)

Make peace with your past so it won’t screw up the present.

(Hãy chôn quá khứ để hiện tại không bị xáo trộn.)

 Don’t compare your life to others. They have different journeys.

(Đừng đem đời mình so với ai đó; đời mỗi người mỗi khác)

Everything can change in the blink of an eye.

(Mọi chuyện ở đời có thể thay đổi trong chớp mắt)

You don’t need to win every argument. Agree to disagree.

(Không cần thắng trong mọi cuộc tranh luận. Hãy chấp nhận bất đồng.)

Crying is good, but it’s more healing crying with friends.

(Khóc cũng tốt, nhất là khi khóc với bạn bè.)

Take a deep breath. It calms the mind.

(Hít thở sâu giúp tinh thần ổn định)

Get rid of anything that is neither useful, beautiful, nor joyful.

(Hãy gạt bỏ những gì vô ích, xấu xa, buồn bã)

What doesn’t kill you really makes you stronger.

(Điều gì không giết ta được sẽ giúp ta mạnh hơn)

Today is special. Enjoy it.

(Ngày hôm nay là ngày đặc biệt. Phải tận hưởng nó)

Your belief of your being right doesn’t count. Keep an open mind.

(Đừng tin rằng mình luôn luôn đúng. Phải có đầu óc cởi mỏ̉)

Forgive everyone everything.

(Hãy tha thứ tất cả cho mọi người)

What other people think of you is none of your business.

(Đừng bận tâm về nhận xét của ai đó về mình)

It’s OK to yield.

(Nhường nhịn một chút cũng không sao) 

However good or bad a situation is, it will change.

(Tình thế dù tốt hay xấu, rồi cũng thay đổi)

Don’t take yourself so seriously. No one else does.

(Đừng quá nghiêm khắc với bản thân. Không ai làm như vậy)

Release your children when they become adults, its their life now.

(Hãy buông con cái ra khi chúng trưởng thành. Chúng đã có cuộc sống riêng.)

Time heals almost everything. Give time time.

(Thời gian hàn gắn gần như mọi sự. Hãy để cho thời gian có thì giờ)

  From: Kristie Phan & KimBang Nguyen gởi

Cuộc đời là thiện ác, chính tà lẫn lộn nhưng vẫn phân biệt rõ được bằng cách này

Đừng vội tin những gì họ nói mà hãy xem những gì họ làm …

Chính và tà là cặp nhân tố đối lập, có chính ắt có tà, có thật thì có giả, có người vì đại nghĩa thì …
DKN.TV

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thế Hệ Trần Vàng Sao

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thế Hệ Trần Vàng Sao

Ảnh của tuongnangtien

(12/12/1942 – 9/5/2018)

Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.

Huỳnh Nhật Tấn

Cách đây chưa lâu, hai nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật đã cho xuất bản cuốn Phác Hoạ Chân Dung Một Thế Hệ. Theo báo chí nhà nước đây là “một hồi ký đậm chất  văn chương của hai con người đã từng sống, từng viết và từng tranh đấu trong các đô thị miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ” và tác phẩm đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’ của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối.”

“Giấc mơ đẹp” này của hai nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật, chả may, lại là ác mộng của một người làm thơ khác – cùng thời:

“tôi sống yên ổn với những việc làm hàng ngày của mình
không định được ngày mai
có một đồng để mua cho con nửa cái bánh tráng hay hai
cái kẹo gừng
có hai đồng cất dưới chân đèn trên bàn thờ
           lỡ khi hết dầu thắp tới bữa thiếu ruốc hết bột ngọt
mả cha cuộc đời quá vô hậu
cơm không có mà ăn
ngó lui ngó tới không biết thù ai
những thằng có thịt ăn thì chẳng bao giờ ỉa vất”

lâu ngày tôi thấy quen đi
như quen thân thể của mình
tiếng ho gà nửa đêm của những đứa bé chưa đầy hai tuổi
buổi chiều không có cơm ăn
những con ruồi ăn nước mũi khô trên má
           những đứa đau quan sát những con chuột
                                  chết lòi ruột ở bến xe đò
những tiếng cha mẹ vợ chồng anh em
          con cái chưởi bới la hét trong bữa ăn
người điên ở trần đứng làm thinh
          giữa trời mưa ngoài chợ
những ngày hết gạo hết tiền hết củi
          muối sống không còn một hột của tôi
những trách canh rau khoai tháng năm không có bột ngọt
hai mắt tôi mở to
đầu tôi cúi thấp
miệng tôi há ra
những lá khoai nhám và rít mắc vài hột cơm
                               dồn cứng chật cuống họng

(Trần Vàng Sao – Người Đàn Ông 43 Tuổi Nói Về Mình)

Toàn bản bài thơ thượng dẫn đã được đăng lại trên trang Quà Tặng Xứ Mưa, với đôi lời giới thiệu (rất buồn) về tác giả:

“Nhà thơ Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính) ở Đường Tuy Lý Vương, Phường Vỹ Dạ, Huế là nhà thơ nổi tiếng với bài thơ ‘Bài thơ người yêu nước mình’. Giữa lúc phong trào ‘xuống đường’ ở Huế những năm 1965-1968 đang rầm rộ mà dám lấy bút danh ‘Trần Vàng Sao’ là rất ghê gớm. Thế mà ,năm 1988, ông có bài thơ ‘ Người đàn ông 43 tuổi nói về mình’ in ở Tạp chí Sông Hương đã gây nên cuộc cãi vã náo loạn ở Huế. Cán bộ chính trị, các ‘nhà văn đỏ’ đua nhau suy diễn chính trị , phán xét. Đài phát thanh, báo đảng địa phương đăng nhiều bài viết chửi rửa nhà thơ, họ ‘phỏng vấn’ cả các bà tiểu thương chợ Đông Ba để tố cáo nhà thơ . Trên diễn đàn họ gọi Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ ( Tổng biên tập TC Sông Hương) là ‘bọn tay sai của địch…”

Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia cho biết chi tiết hơn:

 “Trần Vàng Sao sinh ở Thừa Thiên – Huế, năm 1961 ông thi đỗ tú tài rồi vào Đại học Huế, tham gia các phong trào đấu tranh của sinh viên cùng thế hệ với Hoàng Phủ Ngọc TườngTrần Quang LongNgô Kha. Từ 1965 đến 1970, ông lên chiến khu và công tác tại Ban Tuyên huấn Thành uỷ Huế, viết báo với các bút danh Nguyễn Thiết, Lê Văn Sắc, Trần Sao. Năm 1970 ông được đưa ra miền Bắc an dưỡng, chữa bệnh. Ở nơi đây, ông có viết nhật ký gồm những suy nghĩ của ông về về cái gọi là ‘hậu phương xã hội chủ nghĩa’ đó và sau đó bị tố cáo, đấu tố và cô lập đến nỗi ông có cảm giác ông không còn được coi là con người mà đã thành ‘một con vật, một con chó, theo như Hồi ký ‘Tôi bị bắt (Nhớ lại những năm tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và sống như tù)’ sau này của ông.”

Tập hồi ký này có thể đọc được ở diễn đàn talawas. Xin trích dẫn lại vài đoạn ngắn:

Thứ Ba, ngày 31.10.1978
Mong có một bữa cơm không, ăn với cá, cá vụn, với muối và một chút ớt.

Thứ Hai, 22.07.1979
Nhà cứ không có gạo hoài. Có nửa lon, một lon dành cho Bồ Câu. Phải bới sắn non, nhưng chỉ vài ba bữa, còn thì quá non. Hay chưa có được gạo. Giấy trả về làm việc từ 1.6. Chúng mày không có gạo thì chúng mày đói chứ tao có đói đâu.
Gạo.
Bây giờ ai cũng chỉ mong, không phải bữa nào cũng cơm mà sắn cũng được, mỳ hột cũng được. Miễn là dộng vào cho đầy cái dạ dày. Ước mơ của thiên hạ thì cũng đơn giản thôi: làm sao bữa nào nồi cũng đầy cơm, đầy tràn ra, đến nỗi hôi khói. Có cơm ăn với chi cũng được, với muối, nước mắm thì tuyệt rồi. Người ta không ao ước gì hơn nữa. Không có mơ ước, không có hy vọng.
Và không ai dám nói ra những suy nghĩ của mình về chế độ, thậm chí những suy nghĩ của mình về một người thứ ba cho một người thứ hai nghe. Người ta phải nói láo hoặc nói nhỏ. Kinh khủng thật. Thành ra có một không khí chính trị giả dối trong dân chúng. Nhưng mà chưa ai chết ngay cho. Có người nói: không chết tươi ngay mà chỉ chết mòn, chết dần

Phần đời (“vô hậu”) này của Nguyễn Đính gần giống như hoàn cảnh sống cơ cực của Nguyễn Hữu Đang, sau 15 năm tù, qua cảm nhận của Phùng Cung:

Gót nhọc men về thung cũ

Qùi dưới chân quê

Trăm sự cúi đầu

Xin quê rộng lượng

Chút thổ phần bò xéo cuối thôn

Cớ sao mà “cách mạng” lại “chiếu cố” Nguyễn Hữu Đang tận tình (và tuyệt tình) như thế? Một trong những nguyên do – có thể nhìn thấy được – là vì ông đã không chịu chấp nhận sự “xộc xệch” trong hiến pháp của nước VNDCCH:

“Do pháp trị thiếu sót mà Cải cách Ruộng đất hỏng to đến thế. Do pháp trị thiếu sót mà quân đội chưa có chế độ binh dịch hợp lý, công an hỏi giấy giá thú đôi vợ chồng ngồi ngắm cảnh trăng lên ở bờ hồ, hộ khẩu rình bên cửa sổ khiến người ta mất ăn, mất ngủ, cán bộ thuế tự tiện vào khám nhà người kinh doanh, ở khu phố có chuyện đuổi nhà lung tung hoặc ép buộc người ở rộng phải nhường lại một phần nhà cho cán bộ hay cơ quan ở. Do pháp trị thiếu sót mà nhiều cơ quan bóc xem thư của nhân viên và một ngành rất quan trọng nọ đòi thông qua những bài báo nói đến mình, làm như một bộ phận của Nhà nước lại có quyền phục hồi chế độ kiểm duyệt mà chính Nhà nước đã bãi bỏ. Do pháp trị thiếu sót, người ta đã làm những việc vu cáo và đe doạ chính trị trắng trợn…” (Nhân văn số 4, phát hành ngày 5.11.1956).

Sáu năm sau, vào năm 1961, “người ta đã trắng trợn vu cáo” Nguyễn Hữu Đang là gián điệp. Mười hai năm sau nữa thì đến lượt Nguyễn Đính bị vu cáo là CIA:

 “Khi ra Bắc, ai giao nhiệm vụ cho anh? Nhiệm vụ đó là nhiệm vụ gì? Anh đã gặp ai, ở đâu, bao giờ? Anh đã tổ chức họ như thế nào? Công việc của anh hiện nay đã tiến hành đến đâu? Anh phải nói thật, nói hết, không được giấu giếm. Sinh mạng của anh là do nơi sự thành khẩn của anh quyết định đó…”
“Chúng tôi biết hết những việc anh làm, nhưng chúng tôi muốn tự anh nói ra hết. Vì chỉ có như thế, anh mới hưởng được lượng khoan hồng của Đảng…”

“CIA giỏi thật, cài anh ta vào sâu đến như thế”.

Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đính đều đã trải qua nhiều năm tháng não nề, ê chề, và cay đắng. Họ bị chôn sống nhưng nhất định không chịu chết. Hai ông, nói nào ngay, chỉ là hai nạn nhân tiêu biểu – của hai thế hệ kế tiếp nhau – đã dấn thân vào cuộc cách mạng vô sản (và vô hậu) ở Việt Nam.

Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Đào Duy Anh, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Trần Dần, Trần Duy, Phan Khôi, Dương Bích Liên, Hữu Loan, Phùng Quán, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu… đều không còn nữa nhưng tâm cảm trân trọng  và qúi mến của mọi người dành cho họ chắc chắn sẽ còn lâu. Thế hệ của Nguyễn Đính (e) khó có nhận được tình cảm tương tự.

Sự nông nổi, ồn ào và lố bịch của nhiều người trong bọn họ khiến cho thiên hạ cảm thấy khó gần! Dù vở kịch cách mạng đã hạ màn từ lâu, họ vẫn làm bộ như không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra, vẫn cứ xưng xưng coi đó như Một Thời Để Nhớ, vẫn kịch cỡm viết sách tự phác hoạ Chân Dung của thế hệ mình và xem là tác phẩm đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’ của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối.”

Họ cố tình quên rằng chính hiến pháp của hai chế độ đệ I và đệ II Cộng Hoà của miền Nam Việt Nam, tuy non trẻ và yếu ớt, vẫn là đồ thật (chớ) không phải đồ sơn. Nó đã bảo vệ cho họ được sống như những con người, với những quyền tự do tối thiểu, để có được “những hình ảnh khí phách” và “những tháng ngày sục sôi” – thay vì bị đạp vào mặt chỉ vì đi tuần hành biểu lộ lòng yêu nước. Họ đã được chế độ hiện hành choàng vào người những vòng hoa (giả) nhưng cứ thế mà đeo mãi cho đến cuốn đời.

Tội!

Ố kìa, “hiệp sĩ”!

Ố kìa, “hiệp sĩ”!

17-5-2018

Ở Việt Nam, chuyện hiệp sĩ bắt cướp trên đường phố đang được bàn tán khắp nơi, nhất là trong cái xứ bạo lực đang lên ngôi, mà những người có trách nhiệm thi hành pháp luật thì như đang nhượng quyền không cần ký giấy.

Nhưng đến hôm nay, lại có thêm chuyện mới phát sinh đáng bàn hơn nữa. Chị Dương Thị Tân, một người hoạt động xã hội quen mặt ở Sài Gòn bất ngờ nhận ra đúng mặt của “hiệp sĩ” Sin Nguyễn, là một trong những thành phần tích cực tham gia bắt và đánh đập người biểu tình vì nạn cá chết.

Trong sự kiện mới đây có người dân đã thiệt mạng vì bắt cướp giúp người, người ta nhìn thấy Sin xuất hiện ngay ở đầu các trang truyền thông. Anh tự xưng trên facebook của mình là Hiệp sĩ đường phố, tức loại người hùng trừ gian diệt ác, là batman hay spiderman trong trí tưởng huy hoàng của con người.

Nhưng từ chuyện kể của chị Dương Thị Tân, anh Sin (tên của “hiệp sĩ”) chính là người tham gia hăng hái vai trò tay sai, bắt và đánh đập những người biểu tình chống Formosa gây ô nhiễm vào những ngày tháng 5-2016 tại Sài Gòn.

Sin chính là người đã đấm liên tiếp vào mặt chị Dương Thị Tân, một người phụ nữ đáng tuổi mẹ của Sin. Lúc đó, khi chị Tân đang trên xe bus, bị đưa về sân Hoa Lư, Sin “hiệp sĩ” đã đánh chị để thị uy và lập công với một loạt công an trên xe.

Bà Dương Thị Tân cho biết, bà đã bị “hiệp sĩ” Nguyễn Sin đánh khi biểu tình phản đối Formosa

Chuyện không chỉ vậy. Có những chi tiết chị Tân nhớ rất rõ.

Ngay khi bị đánh đập và nói qua lại với những người trên chiếc xe bus ấy, chị Tân nhớ rằng mình đã bấm máy thu trọn âm thanh vào chiếc iphone 4 của mình. Khi bị đạp ra khỏi xe, dẫn vào sân Hoa Lư, chị đã chuyển chiếc iphone 4 đó cho một người sẽ được thả ra trước.

Sau vài ngày kinh hoàng ấy, tôi còn nhớ chị Tân kể lại với giọng uất ức, run rẩy vì tức giận khi nhắc đến người thanh niên to con khỏe mạnh ấy xông vào đánh chị vô cớ, không cần nói năng gì cả. Đầu chị bị đánh mạnh đến mức bật ra, đập vào thanh sắt dựng đứng tay vịn trên xe bus, khiến chị hoa cả mắt. Cú đánh mạnh đến mức tay an ninh đứng gần đó còn giật mình và ngăn những đòn dự định tiếp theo của Sin.

Chị nhớ rõ gương mặt của nó, nó chỉ đáng tuổi con chị. Không thể nào chị quên được”, chị nói như vậy với tôi, bằng một giọng yếu ớt, chưa thể hồi phục.

Chị là một người tôi kính trọng vì luôn sống cho người khác.

Nhưng ngay cả không biết gì về chị, tôi cũng không thể nào chịu nổi chuyện một người phụ nữ lớn tuổi, yếu đuối lại bị sức thanh niên vai u thịt bắp đánh đập và dọa giết, chỉ vì nghĩ cho môi trường sống. Ngày chị kể lại câu chuyện này, tim tôi muốn đứng lại vì không kiểm soát được cảm giác của mình.

Ngay sau khi chị Tân lên tiếng nhận diện Sin là kẻ hành hung, trên facebook của anh này xuất hiện phản ứng đơn giản là “bọn ba que” muốn triệt hạ anh. Thật ra, chuyện rất đơn giản, nếu Sin bị nhận lầm thì anh ta có thể tự tìm đến gặp chị Tân để buộc chị nói lại.

Và vì sao anh ta phải làm như vậy: Bởi đó chính là phong cách đúng của một hiệp sĩ. Chắc chắn nếu Sin dám làm điều đó, và giả như chị Dương Thị Tân nhận lầm, chắc chắn lời xin lỗi sẽ làm danh hiệu hiệp sĩ còn rực sáng hơn nữa.

Nhưng tiếc là Sin không làm vậy. Khi nhà văn Đoàn Bảo Châu phỏng vấn trực tuyến chị Dương Thị Tân về sự kiện này, Sin và bạn Sin trên facebook chỉ đòi hành hung người hỏi và người trả lời.

Nói cho cùng, phần blog này không muốn nói riêng gì về Sin, mà chỉ muốn nhắc đến rất nhiều người đang hành động xấu xa và nghĩ rằng sẽ không ai nhận ra cái bóng đồi bại của mình trên mặt đất, cũng như sẽ không bao giờ phải chịu búa rìu dư luận.

Đất nước 90 triệu dân thật rộng lớn, nhưng lại thật nhỏ để nhìn thấy nhau rất nhanh ở các chiều xấu tích cực hay tốt tích cực.

Đoạn blog này cũng muốn gửi một lời xin lỗi đến những người trượng nghĩa, luôn giúp người cô thế mà không cần danh lợi hay thủ đắc chính trị, nhưng giờ đang bị phiền toái lây bởi hai chữ “hiệp sĩ” lúc này. Thật lòng xin lỗi.