Nhân Quyền Trong Chuyến Thăm Của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ

Nhân Quyền Trong Chuyến Thăm Của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ (RFA)

Ảnh của nguyenvandai

Nhân Quyền Trong Chuyến Thăm Của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ

Cộng sản Việt Nam mang tù nhân chính trị Phạm Văn Trội ra mặc cả, trao đổi với Hoa Kỳ trong chuyến thăm của Ngoại trưởng Mike Pompeo tới Hà Nội.

Ngoại trưởng Mike Pompeo dạo phố Hà Nội.

Đầu tuần vừa qua, Bộ công an Việt Nam đã cho phép đại diện Đại sứ quan Hoa Kỳ tại Hà Nội vào Trại tạm giam B14 để gặp tù nhân chính trị Phạm Văn Trội. Theo chị Trang, vợ của anh Trội cho biết, Sứ quán Hoa Kỳ gửi thư thông báo cho chị biết về chuyến thăm anh Trội tại B14 với nội dung thăm hỏi sức khỏe và nguyện vọng cá nhân.

Sau đó, sáng thứ Bảy ngày 7 tháng 7, chị Trang vào Trại B14 để gửi quà tiếp tế cho chồng thì được biết anh Trội đã được chuyển tới nhà tù Nam Hà, thuộc tỉnh Hà Nam, nơi anh Trội đã từng thụ án 4 năm.

Ngay chiều đó, chị Trang đã mang theo rất nhiều đồ ăn để tiếp tế cho chồng đến nhà tù Nam Hà. Tại đây, chị Trang chỉ được gặp chồng mình qua phone và bị ngăn bởi vách kính. Nhà tù Nam Hà cương quyết từ chối việc chị Trang gửi đồ ăn cho chồng. Họ chỉ chấp nhận việc gửi tiền, họ nói dùng tiền để mua đồ ăn do nhà tù bán. Anh Trội nói với vợ mình rằng đồ ăn trong nhà tù bán đắt gấp 2 đến 3 lần giá thị trường. Và chất lượng thì chắc chắn không đảm bảo vệ sinh và an toàn. Chị Trang cho biết chị rất lo lắng về thức ăn mà nhà tù Nam Hà bán cho chồng chị và các tù nhân khác.

Tù nhân chính trị Phạm Văn Trội bị giam cùng với 7 tù chính trị khác trong một căn phòng chật hẹp, mái lợp tôn nên trong những ngày hè nóng nực, cuộc sống của những tù nhân chính trị tại nhà tù Nam Hà hết sức cực khổ.

Chính quyền CSVN hết sức nhẫn tâm và độc ác khi họ bắt cầm tù người dân của mình chỉ vì họ bày tỏ các quan điểm chính trị khác biệt. Khi đã cầm tù họ rồi, chính quyền CSVN còn nhẫn tâm chia rẽ tìm cảm vợ chồng, người thân của các tù nhân chính trị khi không cho họ được thăm gặp trực tiếp gia đình. Không cho họ được nhận những món ăn do chính người vợ, người thân của gửi. Bán đồ ăn cho tù nhân với giá cắt cổ, kinh doanh trên thân xác của người tù. Đó là bản chất phản cách mạng, phản động của đảng CSVN, chính quyền CSVN.

Trong nói chuyện với vợ, anh Trội cho biết anh chưa trả lời đại diện ĐSQ Hoa Kỳ là có đồng ý đi định cư tại Hoa Kỳ hay không, bởi anh cần giải quyết công việc gia đình trước khi đưa ra quyết định chính thức.

Bản thân tôi đều đã trải nghiệm qua hai lần bị cầm tù. Không bao giờ chính quyền CSVN cho đại diện Cơ quan Ngoại giao nước ngoài vào thăm gặp tù chính trị lại không vì lí do chính trị và đối ngoại. Trong trường hợp của tù nhân chính trị Phạm Văn Trội, đại diện ĐSQ Hoa Kỳ vào trại B14 gặp anh Trội chỉ vài ngày trước chuyến thăm của Ngoại trưởng Hoa Kỳ tới Hà Nội. Và đây chuyến thăm của Ngoại trưởng Mike Compeo rất quan trọng với CSVN. Ngoại trưởng Hoa Kỳ đã có cuộc gặp với Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc và hội đàm với Phạm Bình Minh.

Việt Ngữ Và Bà Ngoại Mỹ

Bài số 5404-19-31245-v8060318

Định cư tại Mỹ từ 1994, Phương Hoa vừa làm nail vừa học. Năm 2012, bà tốt nghiệp ngành dạy trẻ tại Chapman University khi đã 62 tuổi và trở thành bà giáo tại Marrysville, thành phố cổ vùng Bắc Calif. Với loạt bài về Vietnam Museum, “Bảo Tàng Cho Những Người Lính Bị Bỏ Quên,” tác giả đã nhận giải chung kết 2014. và vẫn tiếp tục gắn bó với Viết Về Nước Mỹ. Sau đây, thêm một bài viết  mới của tác giả.

  ***
 Người Việt yêu tiếng Việt, là lẽ đương nhiên.  Nhưng phụ huynh người Mỹ yêu tiếng Việt mới là điều đặc biệt. 

Tuy dạy ngôn ngữ chính là tiếng Anh, tôi luôn khuyến khích phụ huynh người Việt và bạn bè thân hữu hãy cố gắng cho con em học tiếng Việt để bảo tồn văn hóa và ngôn ngữ chúng ta nơi hải ngoại. Tôi chưa bao giờ “dụ” một người Mỹ nào cho con cái họ đi học Việt Ngữ, vậy mà có duyên may tôi lại được một người Mỹ nhờ dạy tiếng Việt cho bà và cháu ngoại.

Thường ngày ngoài thời gian đi dạy và làm việc nhà, tôi lại còn bận thêm chuyện viết lách, phải chia thời gian thật kỹ để còn tập thể dục chút đỉnh, cho nên thời gian rảnh rất hiếm hoi. Một lần anh phó hiệu trưởng của trung tâm Việt Ngữ cách thành phố tôi ở khoảng ba chục dặm gọi nhờ tôi “take over” dùm lớp tiếng Việt vì cô giáo chính đã nghỉ dạy.  Tôi chỉ nhận lời dạy tạm một thời gian. Nhưng đến lớp, nhìn mười mấy cái miệng chim non mỗi ngày ê a tiếng Việt ngọng nghịu chen lẫn tiếng Anh, tôi yêu các em quá đỗi. Và tôi đành “hy sinh” các ngày thứ Bảy trong tuần để dạy luôn đến mấy mùa, cho tới khi gia đình dọn đi nơi khác.

Niên khóa mùa Thu năm đó bà con người Việt đưa con em đến ghi danh khá đông. Tôi mải mê đứng ngắm cái hàng dài phụ huynh chờ làm thủ tục, trong khi các em cặp trên vai chạy nhảy vui đùa xung quanh mà lòng bồi hồi nhớ lại những ngày tuổi thơ. Ngày tựu tường xưa tôi hớn hở trong quần áo mới, mang cặp đi nghêu ngao trên đường làng, hái hoa đuổi bướm bắt chuồn chuồn.  Những ngôi trường mái ngói rêu phong, có cây đa cổ thụ rợp bóng mát cạnh đình làng. Nhớ lại để mà quý mà thương các thầy cô, ban chấp hành, các vị cố vấn, và những thiện nguyện viên đã bỏ bao công sức để cho trường Việt Ngữ được tồn tại nơi hải ngoại.

Các lớp học xưa ở quê nhà có cả một hệ thống giáo dục của chính phủ Quốc Gia ủng hộ chở che. Nhưng những lớp Việt Ngữ nơi quê hương thứ hai này, ban điều hành và mọi người đã phải “tự biên tự diễn” tự lo liệu tất cả. Hầu hết giáo viên và nhân sự ở đây đều làm thiện nguyện, chỉ một số ít nhận chút lương tượng trưng.  Học phí thu vào một lần cho cả học kỳ chẳng được là bao, mà phải chi phí đủ thứ, từ dụng cụ giảng dạy đến thức ăn vặt cho bọn trẻ trong giờ chơi như bánh kẹo, nước, trái cây, rồi tốn kém cho các chương trình văn nghệ, lễ Tết này kia, làm cho ban điều hành đôi khi cũng phải chới với. May mắn là trường tiểu học thành phố cho mượn mấy phòng học trong những ngày cuối tuần nên khỏi phải trả tiền thuê địa điểm.

Ngày đầu tiên đến lớp tôi trao đổi với cô phụ giáo tên Linh về chương trình giảng dạy mà tôi soạn sẵn.  Vì trường không thể cung cấp sách và truyện Việt Ngữ để dạy, nên tôi tự soạn chương trình, vẽ những hình ảnh minh hoạ theo các mẫu tự giống như trong sách tiếng Anh để cho các em dễ nhớ. Tôi cũng mua các loại truyện nhi đồng Anh Ngữ về rồi dùng bút marker ghi chữ Việt thật lớn bên cạnh những hàng chữ tiếng Anh để đọc cho các em nghe và tập các em đọc. Chỉ là “ngộ biến tùng quyền”, nhưng về sau tôi thấy cách này dạy các em cũng rất hiệu quả.

Vì sách truyện các em học ở trường đều là tiếng Anh, nên dùng loại sách này dịch ra tiếng Việt đi kèm các em cảm thấy quen thuộc nên rất thích học và còn dễ nhớ nữa. Nhìn đám trẻ loi nhoi với độ tuổi từ 5 đến 6, có bé mới hơn 4 tuổi, tôi biết dạy lớp này không hề đơn giản chút nào. Là lớp vỡ lòng, phần lớn các em không biết nhiều tiếng Việt, chỉ nghe, nói, và hiểu tiếng Anh, vì ngày thường bọn trẻ đang học Mẫu Giáo hoặc lớp Một ở trường Mỹ.

Để các em cảm nhận được bầu không khí quen thuộc như ở trường Mỹ, khi phụ huynh đưa các em đến tôi và Linh ra tận cửa đón chào từng em và dắt vào chỗ ngồi. Thầy hiệu trưởng vô lớp, giới thiệu chúng tôi với đám trò nhỏ rồi đi qua các phòng khác.

Bắt đầu buổi dạy, tôi nói tiếng Việt, nhưng nhiều em ngồi ngớ ra tỏ vẻ không hiểu, nên tôi phải dùng cả hai ngôn ngữ Việt Anh để làm quen các em.  Sau đó chúng tôi bày bọn trẻ tự viết tên theo tiếng Việt vào mảnh giấy nhỏ rồi giúp chúng xếp thành hình tam giác để trước mặt cho các bạn chung bàn có thể đọc và nhớ tên nhau. Bất chợt tôi nhìn ra cửa sổ và thấy một phụ nữ Mỹ đứng dán mắt nhìn chăm chú vào lớp học. Tôi đưa tay vẩy chào bà rồi trở lại làm việc với đám học trò.

Không ngờ lát sau thì có tiếng gõ cửa. Tôi ra mở và thấy người đàn bà Mỹ khi nãy dắt một đứa bé gái xin được nói chuyện với tôi.  Tôi tự giới thiệu tên, bà cũng cho biết tên bà là Kathy và đứa cháu gái tên Daisy rồi bà nói bằng giọng rất tha thiết:

 – Cô giáo à! Nãy giờ từ ngoài kia tôi đã quan sát và rất thích cách dạy của cô, nói tiếng Việt bọn nhỏ không hiểu thì cô giải thích thêm bằng Anh Ngữ và tụi nó đã nghe lời, làm theo những gì cô dạy. Thật tốt quá. Vậy nên tôi đã mang đứa cháu này của tôi từ một lớp khác ở phòng bên kia sang đây nhờ cô giúp nó. Tôi chưa kịp trả lời bà đã nói tiếp giọng nài nỉ: – Làm ơn đi mà!

Tôi thấy hơi bất ngờ, hỏi bà làm như vậy có tiện không vì tôi là cô giáo mới của lớp này nên ngại quá. Bà trấn an tôi, nói không sao vì bà đã giải thích cho thầy giáo lớp bên kia hiểu rồi, vì đứa cháu của bà thuộc dạng “đặc biệt” nên bà cần phải chọn cô giáo cho nó.

Nghe nói học trò “đặc biệt” là tôi đã giật mình kêu khổ thầm. Trong thời gian đi thực tập và đi dạy tôi đã gặp nhiều em bé thuộc loại đặc biệt và vất vả không ít, như trường hợp đứa trẻ bị tổn thương chuyển sang bệnh tự kỷ tên Athan mà tôi đã từng kể trong một bài viết trước đây. 

Vì không muốn làm mất lòng người giáo viên lớp bên cạnh, nơi mà bà đã lấy đứa cháu ra khỏi lớp, ngại vị đó sẽ tự ái thì không hay, tôi định từ chối. Nhưng khi nhìn bé Daisy, trái tim tôi bỗng dưng thắt lại. Bé gái này xinh như một con búp bê, mà sao thần sắc lại vô cùng bạc nhược như không còn sức sống.  Dù có làn da trắng, mặt mũi bé tái xanh, đôi mắt như vô hồn nhìn tận đâu đâu, bé không đáp lại khi tôi chào bé. Tôi hỏi thêm vài câu thì được biết Kathy là bà ngoại của bé. Bà Kathy thấy tôi không phản đối biết tôi nhận lời nên ôm lấy bé vỗ vỗ vào bờ vai nó:

– Daisy, đây là cô giáo của con, hãy ở lại học nhé! Con bé nhìn trừng trừng vào bà, rồi nhìn qua tôi mà vẫn không đáp lại lời nào.  Bà xoay qua tôi: – Cô làm ơn để ý kỹ dùm cháu, dù tinh thần có chút bất ổn, bé rất ngoan chứ không quậy phá đâu. Trước đây nó là đứa trẻ bình thường, rất thông minh nhanh nhẹn và hoạt bát. Chỉ là sau khi mẹ mất tinh thần Daisy mới suy sụp trầm trọng như thế. Bé nghe thì hiểu hết, nhưng không chịu mở miệng nói chuyện, chúng tôi đã nhờ nhiều bác sĩ, chuyên gia tâm lý chạy chữa cho bé, nhưng vẫn không ăn thua.

Tôi thấy thương đứa bé đến xót xa, mới chừng này tuổi mà đã mồ côi mẹ thật là tội nghiệp. Bà Kathy cám ơn rối rít khi tôi trả lời sẽ nhận Daisy. Bà chào tôi ra về, nhưng suốt buổi học tôi thấy bà vẫn đứng ngoài cửa sổ dõi mắt nhìn vào lớp quan sát đứa cháu, làm tôi dù chăm chú dạy mà cũng có chút hơi…lúng túng, giống như ngày xưa khi dạy thực tập có các giáo sư đứng sau bức màn theo dõi chấm điểm vậy.

Điều đặc biệt làm tôi cảm động, là tấm lòng thiết tha mong muốn cháu mình học được tiếng Việt của bà ngoại Mỹ Trắng này. Mỗi thứ Bảy cuối tuần thay vì đưa cháu đi dã ngoại, đi chơi xa như phần đông những gia đình Mỹ, bà chịu khó đưa cháu đến trường Việt Ngữ, và chưa bao giờ bỏ một ngày nào.

Không phải chỉ ngày đầu, hầu như mỗi buổi học của Daisy bà Kathy đều đứng ngoài cửa kính nhìn vào, lúc lớp ra chơi thì bà lảng vảng gần đó quan sát, khi vô lớp lại thấy bà đứng bên ngoài. Mỗi khi tan lớp học, bà vào nhận cháu lúc nào cũng hỏi tôi hôm nay Daisy làm những gì, có viết, có nói được tiếng nào không, có nghe lời cô không. Cảm động vì tấm lòng của bà chúng tôi gom góp hết bài học, bài tập viết, tập vẽ của các em không bỏ sót một bài nào, cho Daisy và bọn nhỏ mang về khoe với gia đình. 

Đáng buồn là học mấy tuần rồi mà tình trạng bé Daisy vẫn như ngày đầu đến lớp chứ chẳng khá hơn chút nào. Tôi và Linh rất thương con bé, luôn luôn kèm cặp, vỗ về chăm sóc đặc biệt, mua cho bé những món đồ chơi nho nhỏ, và nói chuyện với bé thường xuyên. Bé nghe và hiểu hết những gì tôi nói, kêu làm thì làm, bảo viết thì viết, vẽ cũng đẹp, cắt giấy cũng okay, viết chữ cũng rất đúng. Nhưng bé chỉ đáp lại bằng gật đầu hay lắc đầu, chứ tuyệt không mở miệng. Lúc nào con bé nhìn cũng lẻ loi, cô đơn rất tội nghiệp.

Còn vài tháng nữa thì đến Tết Trung Thu, trường Việt Ngữ tổ chức đêm văn nghệ Trăng Rằm để nhắc nhở các em về cái Tết Trăng Tròn truyền thống của trẻ em Việt Nam. Các tiết mục được chuẩn bị dàn dựng kỹ lưỡng, mỗi thầy cô lớp lớn sẽ tập dợt cho các em lớp mình trình diễn một màn. Các cô phụ trách dạy những điệu múa cổ truyền Việt Nam rộn ràng bàn tính, gửi về Việt Nam mua những chiếc gùi tí hon, đặt may trang phục đầy sắc màu cho các điệu múa của người Dân Tộc.

Lớp tôi dạy các em còn khá nhỏ nên thầy hiệu trưởng cho tôi toàn quyền quyết định chọn bất cứ màn trình diễn nào tiện cho các em. Tôi chọn tiết mục đơn giản nhất, là sẽ mở lên bài hát “Rước Đèn Tháng Tám” của nhạc sĩ Đức Quỳnh, rồi cho các em xách lồng đèn vừa đi vòng sân khấu vừa hát theo băng đĩa. Tôi và Linh cắt dán cho mỗi em một chiếc mũ giống vương miện với đủ màu sắc. Trang phục thì em nào có gì mặc nấy, áo bà ba, áo dài truyền thống, đồng phục học sinh của trường các em đang theo học, đồ bình thường…

Bà Kathy nghe có văn nghệ Tết Trung Thu cho các em thì mừng lắm. Bà thấy có vài đứa bé mặc áo dài chữ thọ truyền thống Việt Nam thì thích thú nên nhờ tôi đến tiệm người Việt mua dùm một bộ màu hồng cho Daisy.  Những ngày Chúa Nhật chúng tôi tập dợt cho các bé bà đều đưa Daisy đến và ở lại xem từ đầu đến cuối. Các em nhỏ rất hào hứng, cùng nhau đi vòng quanh phòng học và hát theo “Tết Trung Thu rước đèn đi chơi, em rước đèn đi khắp phố phường…”

Ngày đầu tập dượt, cả lớp vui vẻ. Khổ nỗi, bé Daisy nhất quyết không tham gia tập dợt dù tôi và bà ngoại bé hết sức dỗ dành. Tội nghiệp bà Kathy, cố gắng mọi cách cho bé tham gia mà vẫn không thành công. Dầu vậy bà không chịu bỏ cuộc, dù đưa bé đến chỉ để bé nhìn các bạn bà vẫn làm.

Đến giờ giải lao của buổi tập thứ hai, tôi ra ngồi nơi băng ghế ngoài sân trường canh chừng bọn nhỏ chơi đùa sau khi nhận phần quà ăn vặt và nước trái cây. Daisy cũng nhận phần bánh của mình và đứng ăn một cách từ tốn chỗ bồn hoa. Bỗng bà Kathy bước lại và ngồi xuống cạnh tôi.

– Xin lỗi bà! Tôi nói, mắt nhìn Daisy. – Tôi đã cố gắng để giúp Daisy hoà nhập tham gia tập luyện văn nghệ cùng với các bạn, nhưng không thành công. Dù tôi từng gặp và giúp thay đổi được nhiều học sinh có tình trạng “đặc biệt”, nhưng với Daisy thì đành bó tay rồi!

– Không phải lỗi do cô đâu! Bà nói giọng thật buồn. – Bữa giờ tôi chưa có dịp tâm sự chi tiết cùng cô về nguyên nhân đã khiến bé bị như vậy.

– Có phải bé bị bệnh tự kỷ không? -Cuối cùng tôi cũng đã hỏi ra một câu không đáng hỏi mà tôi cố dằn lòng lâu nay. – Tôi cũng từng gặp nhiều em bị tình trạng như bé vậy. Chịu khó chăm sóc kỹ càng, đôi khi sau một thời gian thì bé sẽ khá trở lại.

Bà cười buồn:

– Cũng mong là vậy. Đã hơn sáu tháng rồi, không biết đến bao giờ đây.

– Tội nghiệp bé quá! Tôi nói. – Tuy vậy, Daisy vẫn còn diễm phúc có bà ngoại tốt như bà. Tôi thấy bà lo lắng chăm sóc bé đủ điều đâu thua gì mẹ ruột.

– Thật ra, tôi không phải là bà ngoại ruột của Daisy đâu, ngoại ruột bé là người Việt Nam.

– Ủa? Tôi kêu lên. – Sao bé không có vẻ gì giống người Việt hết? Vậy bà ngoại ruột bé đâu rồi? 

– Mẹ bé Daisy là trẻ lai, con riêng của chồng tôi. Bà ngoại bé mất trước, nửa năm sau là mẹ nó mất luôn. Cho nên nếu tôi không giúp thì chẳng còn ai trên đời này giúp cho bé cả!

– Trời! Sao mà con bé tội nghiệp đến thế! Tôi kêu lên lần nữa và nhìn bà chăm chú.

Thấy tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, bà Kathy do dự một chút, rồi bắt đầu kể tôi nghe về thảm họa của gia đình bé Daisy.  Giọng bà nghe thật buồn giữa tiếng nô đùa huyên náo của đám học trò.

Chồng bà, ông Robert từng là một cựu chiến binh Việt Nam. Bà trẻ hơn ông gần chục tuổi. Hai người kết hôn sau khi ông trở về từ Việt Nam, đi học tiếp tốt nghiệp luật sư và ra đi làm. 

Thời gian chiến đấu bên Việt Nam, Robert còn là chàng trai độc thân. Năm 1974, sau khi anh rời Việt Nam trở về Mỹ, Tha, cô bạn gái người Việt nơi anh đồn trú mới biết mình có thai. Sau đó Robert gửi thư qua Việt Nam, và cô ấy nhờ người viết dùm thư báo cho anh biết chuyện đứa con trong bụng. Robert đã hồi âm là sẽ tìm cách qua Việt Nam lần nữa để đem cô qua Mỹ. Tuy nhiên, ngay sau đó chiến tranh lan tới vùng cô ở nên sau cái thư thứ hai của Robert là họ bị mất liên lạc cho tới tháng Tư năm 1975. 

Kể tới đây bà Kathy thở dài:

– Tha sinh con gái đặt tên là My, và sau chiến tranh mẹ con cô ấy bị đuổi đi vùng rừng núi sống cuộc đời vất vả đói khát, thật là tội nghiệp.

– Đúng rồi! Tôi tiếp lời bà. – Sau 1975, những người có con lai bị chế độ mới đối xử rất tệ, cũng giống như gia đình tôi, chồng tôi là quân nhân Nam Việt Nam nên chúng tôi từ thành phố cũng bị đuổi đi vùng rừng sâu nước độc mà họ gọi là kinh tế mới để phát rừng trồng trọt mà sống!

Bà Kathy kể tiếp. 

– Trong những năm con lai được đưa qua Mỹ, chồng tôi Robert cố gắng tìm kiếm mẹ con bà ấy nhưng không được.  Bà Tha vì đau yếu triền miên, con gái lớn lên cơ cực không được học hành nên họ đã không còn nghĩ đến việc tìm lại ông ấy. Mãi đến sau này, hội thánh Tin Lành giúp tìm lại được bọn họ, nhờ vào lá thư sau cùng chồng tôi gửi bà Tha còn dấu được mang theo, tuy đã cũ nát và phai màu, chỉ còn nhận ra mỗi chữ ký của Robert mà thôi.  Khi chồng tôi gặp lại được họ, thì bé Daisy đã hai tuổi. Nhưng rồi vì sức yếu bà Tha đã ra đi, bỏ lại My đứa con gái còm cõi và đứa cháu ngoại tội nghiệp này.

– Chuyện quả thật ly kỳ! Tôi nói. – Và thật là tội nghiệp! Nhưng cũng còn may, Thượng Đế đã giúp họ tìm lại được ông ấy trước khi họ lìa đời. Cho nên bây giờ bé Daisy mới có chỗ nương thân mà không phải vào viện mồ côi. Còn cha của bé đâu hả bà?

Bà Kathy lắc đầu:

– Chúng tôi thật tình không biết! My bị chứng còi xương vì thuở nhỏ nuôi dưỡng trong tình trạng đói khổ nên lớn không nổi, gần bốn chục tuổi mà nhỏ xíu như đứa trẻ mười mấy, lại ốm yếu, dù mặt mũi nhìn cũng okay mà chẳng có ai thương. Nhưng rồi không biết cái đứa khốn kiếp nào đã dụ con nhỏ và làm cho nó mang bầu. Khi gặp lại chồng tôi rất giận, tra hỏi mãi muốn tìm thằng đó để trừng trị, nhưng My không chịu nói tên cha của đứa bé là ai. Gia đình họ sau đó dọn về sống cùng thành phố với chúng tôi. Tôi đã chứng kiến Daisy rất thương bà ngoại Tha và bà cũng cưng quý bé hơn bất cứ thứ gì. Bà nuôi bé kỹ càng, ngày lo cho ăn uống, tối hát ru bé ngủ. Bé ít khi ngủ với mẹ đến khi bà ngoại mất.

– Vậy mẹ bé bị tai nạn ra sao mà mất?

– Bị xe đụng, mới năm ngoái thôi. Hôm đó My đưa Daisy đi Walmart, đậu xe xong My dắt con bé đi vào thì một bà già lui xe đụng phải My. Thay vì đạp thắng, bà hoảng hốt đạp ga và cưỡi lên người My trước sự chứng kiến của Daisy.

– Trời đất ơi! Tôi thấy lạnh cả người, và tôi nói như muốn khóc.  – Thảo nào! Bé đã bị hai cú sốc quá lớn, mất bà rồi lại mất mẹ trong một thời gian ngắn làm sao trái tim bé bỏng chịu nổi chứ!

Giọng bà Kathy cũng trở nên nghẹn ngào:

– Robert nhà tôi đau lòng vô kể. – Ông ấy nằm liệt giường cả tháng trời. Rồi khi dậy được thì bắt đầu uống rượu để quên. Tôi phải giúp ông ấy, đưa Daisy về ở vói chúng tôi và lo cho nó, vì ngoài tôi ra không còn ai có thể giúp bé hết! May mà hai đứa con của chúng tôi đã lớn và dọn ra ngoài hết rồi.

Tôi thật cảm phục tấm lòng nhân hậu của bà Kathy. Không có bà, Daisy tội nghiệp biết làm sao. Người ta nói người Mỹ rất lạnh lùng và rạch ròi về tình cảm liên quan của gia đình, hay đúng hơn là “mạnh ai nấy mạnh.” Nhưng bà Kathy đã thương yêu đứa cháu ngoại của chồng mình bằng cả trái tim của người bà, người mẹ ruột. Thật là chuyện hiếm thấy. Tôi nói với bà suy nghĩ của tôi.

– Đó là chuyện tôi phải làm mà. Kathy nói với vẻ khiêm nhượng. – Chỉ có điều là từ khi vợ chồng tôi đem bé về nuôi, bé không có cơ hội nói tiếng Việt với ai hết. Đó là lý do Bác sĩ tâm lý kêu tôi cho bé đi học Việt Ngữ. Nhưng đến giờ bé cũng chưa nói được câu nào. Thật là buồn!

Nói đến đây bà Kathy chào tôi, nói bà cần đi toa lét. Tôi ngồi suy nghĩ lan man, chợt từ đâu hai đứa học sinh lớp lớn rượt đuổi nhau chạy ào qua sân trường. Một đứa bỗng đâm sầm vào Daisy làm con bé ngã xuống đất, và nó khóc thét lên. Tôi vội chạy tới đỡ bé dậy, vén áo đầm bé lên thì thấy nơi đầu gối bị một vết thâm tím. Đau đớn làm bé khóc không ngừng. Tôi dắt Daisy lại chỗ bàn cung cấp thức ăn, chộp vội chai nước trái cây còn lạnh rồi đưa bé trở lại chỗ ngồi. Đặt bé ngồi trên đùi, tôi lăn nhè nhẹ chai nước lên chỗ bầm để hơi lạnh làm cho tan sưng.

Con bé có lẽ bớt đau nên nín khóc ngồi im, đầu tựa vào ngực tôi. Ôm đứa trẻ vào lòng, tôi chợt nhớ lại những gì bà Kathy vừa kể, và một niềm thương cảm dâng lên làm tôi nghẹn ngào. Tai hoạ đã giáng xuống đầu đứa bé tội nghiệp này, còn nhỏ xíu mà đã chịu mồ côi, chứng kiến cảnh mẹ mất kinh hoàng bảo sao bé không bị chấn động tâm thần cho được. Tôi từng tuổi này mà khi mất mẹ còn đau đớn vô ngần, huống chi đứa bé còn đang cần sự vỗ về của mẹ. Suy nghĩ miên man trong vô thức, tự nhiên bàn tay tôi vỗ nhè nhẹ lên vai Daisy và buột miệng hát bâng quơ nho nhỏ vài câu ru em:

– Ầu ơ… Ví dầu cầu ván đóng đinh, cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi. Khó đi mẹ dắt con đi, con thi trường học… mẹ thi trường đời…

Đột nhiên tôi giật mình vì cảm giác có một bàn tay nhỏ mềm mại sờ lên mặt tôi. Rồi có tiếng gọi:

– Cô ơi!

Tôi sững sờ, không tin vào tai mình. Đó là tiếng của bé Daisy. Tôi nhìn xuống, thì ra là bé gọi tôi, bàn tay bé vẫn còn sờ lên mặt tôi, ánh mắt bé ngước nhìn thật là thân thiện và đầy vẻ tin cậy.

– Con mới gọi cô hả? Tôi lập cập hỏi, cảm thấy tim mình đập thật nhanh.

– Cô ơi! Daisy gọi lần nữa. – Con… lạnh…

Chai nước trái cây trên đầu gối Daisy rời khỏi tay tôi, rơi đánh bộp xuống đất. Tôi đưa bàn tay lạnh ngắt vì nãy giờ cầm chai nước, nắm lấy bàn tay nhỏ xíu đang sờ mặt tôi và hôn lên đó.  Nước mắt tôi rơi làm ướt tay con bé. Vậy là bé đã mở miệng. – Cám ơn con! Tôi thì thầm, siết chặt bé vào lòng.

– Oh my God!

Có tiếng kêu đầy ngạc nhiên bên cạnh. Tôi quay lại thì thấy bà Kathy đang đứng mồm há hốc, mắt trợn tròn nhìn chằm chằm vào Daisy.

– Bé vừa gọi tôi “Cô ơi” bằng tiếng Việt đấy bà ạ! Tôi la lên với bà bằng nỗi vui mừng khôn tả. Bà Kathy nghe thế thì kêu to hơn:

– God! Chúa ơi! Con bé đã nói được! Bà nói xong chạy lại ngồi xuống cạnh tôi rồi choàng tay qua ôm lấy Daisy, nói trong tiếng khóc: – Oh My God! Cháu tôi đã nói chuyện lại được rồi! Thật không uổng công tôi đưa bé đến đây!

Và bà lấy điện thoại ra gọi ông chồng, líu lo hớn hở khoe với ông Robert về chuyện bé Daisy đã nói được, mà còn nói tiếng Việt.

Tôi cũng cảm động đến nghẹn lời.  Hít sâu và thở vài hơi, tôi kể lại cho bà Kathy nghe về lời ru tiếng Việt tôi vừa hát ru để vỗ về cho bé nín khóc vì bị ngã sưng đầu gối. Lời ru mà bất cứ người mẹ, người bà Việt Nam nào cũng biết hát ru cho các bé thơ. Vậy là nhờ tiếng ru vô tình của tôi dỗ dành đã đánh thức được tâm trí của bé. Có lẽ là bà ngoại quá cố của bé hay mẹ bé cũng đã từng hát ru cho bé ngủ bằng bài hát ru này chăng?

Bà Kathy tỏ vẻ mừng rỡ vô cùng, luôn miệng lập đi lập lại hai chữ “Thần kỳ! Thần kỳ” (Miracle!).

Tôi cũng thấy quả đúng là thần kỳ! Lời ru con của người mẹ Việt Nam đã đánh thức được tâm trí bị đóng băng của đứa bé. Vô lại phòng tập, tôi đội cho Daisy chiếc vương miện và đưa bé cái lồng đèn. Lần này bé không đẩy ra nữa, mà nhập vào cũng các bạn rồi cầm lồng đèn đi vòng quanh, miệng bé cũng bập bẹ hát theo bài “Rước Đèn Tháng Tám.

Lúc chào tôi ra về, bà Kathy bất chợt cầm lấy tay tôi và nói một cách thiết tha:

– Cô giáo à! Tôi muôn vàn cám ơn cô! (Millions thanks!) Nhờ cô, mà bé Daisy đã nói lại được. Tôi nghĩ mình cũng có lỗi, vì trong nhà mọi người đều nói tiếng Anh, đáng lý tôi phải cho bé đi học tiếng Việt sớm hơn, hoặc chí ít tôi cũng phải tìm bạn Việt Nam cho chơi với bé! Bà do dự một chút rồi nói tiếp: – Tôi vừa nghĩ ra chuyện này, không biết cô có thể giúp tôi chăng?

– Bà cứ nói, nếu làm được tôi sẽ không ngại đâu.

– Tôi muốn học tiếng Việt! Bà cười vẻ bẽn lẽn. – Chắc là khó lắm đây, tôi chẳng biết có học nổi không. Nhưng tôi rất muốn học để về nhà tôi có thể nói chuyện trao đổi chút đỉnh vừa tiếng Việt vừa tiếng Anh với Daisy. 

Nghĩ tới cái cảnh lâu nay bé không nói được lời nào tôi thương quá!

Tôi thật xúc động vì cái tình cảm bà Kathy dành cho Daisy. Tự nghĩ nếu mình ở vai trò “bà ngoại ghẻ” như bà không biết có đủ rộng lượng để làm như bà ấy hay không.

– Sure! Chắc chắn rồi! Tôi nói. – Bà là một bà ngoại tuyệt vời! Tôi rất vui được làm điều này cho bà. Tiếng Việt học thú vị lắm chứ không khó đâu! Bà sẽ học được!

Tôi kể bà nghe về cô ca sĩ Mỹ tóc vàng Dalena ban đầu không hể biết tiếng Việt, nhưng giờ thì hát tiếng Việt hay nổi tiếng khắp nơi, nhiều chương trình, băng đĩa, sân khấu tiếng Việt đã mời cô đến hát và cô có rất nhiều fan hâm mộ người Việt khắp nơi trên thế giới.

Bà Kathy mừng quính:

– Oh yeah! Thú vị thật! Robert chắc chắn sẽ vui lắm!

Từ đó mỗi buổi học bà Kathy đưa bé Daisy đến tôi kêu bà vô lớp ngồi học chung với  Daisy. Tan học ra ngoài tôi nán lại nửa giờ đưa bà và bé Daisy vô ngồi trong xe tôi để dạy thêm cho họ. Ông xã tôi nghe kể chọc là tôi mở “Lớp học trong xe”.

Tôi về soạn thêm nhiều câu đàm thoại ngắn hàng ngày và những câu chào hỏi thông thường bên trên viết tiếng Việt bên dưới tiếng Anh và đưa cho bà Kathy đem về nhà học. Bà ấy rất thông minh và ham học. Bà kể ngày xưa bà từng học tiếng Tây Ban Nha (Spanish), ngôn ngữ mà cách phát âm gần giống tiếng Việt nên bây giờ học tiếng Việt khá dễ dàng.  Bà đã nói đúng, tiếng Tây Ban Nha cách dùng chữ cũng tương tự Việt Ngữ của chúng ta, tính từ luôn đứng sau danh từ chứ không phải đứng trước như tiếng Anh. (Tiếng Anh: The red house, Việt: Cái nhà đỏ, Spanish: La casa roja).

Daisy từ đó cũng siêng hơn nên tiếng bộ rất nhiều. Bà cháu học bằng cách mỗi ngày về nhà sau khi Daisy học và làm bài tập ở trường xong, thì hai bà cháu thực tập tiếng Việt với nhau. Mỗi buổi đến học bà đều khoe với tôi hai bà cháu học được bao nhiêu chữ. Bà cho tôi biết từ khi Daisy nói chuyện bình thường ông Robert đã thấy khoẻ hẳn ra và không uống rượu nữa. Hai người còn tính chuyện khi Daisy lớn lên, thế nào họ cũng sẽ đưa Daisy đi du lịch Việt nam một chuyến về thăm lại quê ngoại bé, cũng là nơi ông Robert từng đóng quân ngày xưa.

Rồi ngày văn nghệ Trung Thu cũng đến. Tối đó, sau khi sắp xếp cho tiết mục lớp tôi xong thì tôi giao lại cho cô Linh trông chừng bọn trẻ, tôi ra bên ngoài tìm ông xã. Tôi còn đang nhìn dáo dác, bỗng đâu bà Kathy đưa ông Robert lại gặp tôi, trên tay ông cầm một bó hoa. Mặc áo khoác màu lính, đầu đội mũ dìm có chữ “Viet Vet” và hàm râu quai nón, trông ông rất oai phong. Thảo nào bà Kathy lại yêu ông đến thế, tôi mỉm cười thầm nghĩ. Trong lòng tôi rất cảm động, Robert là luật sư đã về hưu, mà vẫn thích trang phục kiểu nhà binh thuở còn đi chiến đấu, chứng tỏ ông mê đời binh nghiệp hơn là cái nghề làm thầy cãi kiếm nhiều tiền sau này. Ông nghiêng mình chào và trao bó hoa cho tôi:

– Cám ơn cô thật nhiều, đã giúp cho Daisy nhà tôi trở lại trạng thái bình thường. Không thể nào nói hết lòng cám ơn của gia đình tôi đối với cô đâu!

– Dạ tôi không có công gì lớn đâu ông! Tôi cười, quay sang bà Kathy: – Ông phải cám ơn bà nhà mới đúng! Kathy quả là người phụ nữ thật nhân hậu. Ông có phúc lắm, bà Kathy đã thương và lo lắng chăm sóc bé Daisy rất thật lòng, lại còn chịu khó đi học tiếng Việt để còn nói chuyện với Daisy nữa chứ.

Ông cười, nụ cười tràn đầy hạnh phúc:

– Ở nhà Bà ấy và Daisy còn dạy tôi vài chữ tiếng Việt nữa đó! Tôi ở Việt Nam hơn một năm nhưng chỉ biết được mấy chữ “Xin chao”, “Cam on” thôi. Bà ấy nói học tiếng Việt thật là thú vị.

Tới đây thì loa thông báo buổi lễ sắp bắt đầu, tôi phải chào từ giã ông bà để vào cùng cô phụ giáo chuẩn bị cho tiết mục của lớp tôi.

Buổi lễ Tết Trung Thu hôm ấy thật là vui nhộn, các bài hát Trung Thu, điệu múa, kịch nói. Nhờ sự tận tâm của quý thầy cô, các em trình diễn hết mình, nhìn rất chuyên nghiệp, và nhận được nhiều tràng pháo tay vang dội.

Đến tiết mục “Rước Đèn” của lớp tôi, tôi đứng chỗ góc khán đài quan sát các em trình diễn. Chúng tôi trang điểm cho tất cả các em, kể cả con trai, bé nào cũng đều má đỏ môi hồng xinh xắn. Daisy nhìn rất dễ thương trong áo dài chữ thọ màu hồng, tay cầm lồng đèn con cá, vừa đi cùng các bạn vừa hát theo bài “Rước Đèn” trong CD. Bé bước lắc lư theo điệu nhạc, miệng hát tay ve vẩy lồng đèn, mặt mày rạng rỡ dưới ánh đèn sân khấu:

“Tết Trung Thu rước đèn đi chơi
Em rước đèn đi khắp phố phường
Lòng vui sướng với đèn trong tay
Em múa ca trong ánh trăng rằm…”

Liếc mắt qua chỗ vợ chồng bà Kathy, tôi thấy ông Robert cầm tay bà đưa lên cao vung vẩy qua lại theo nhịp bài hát của các bé, miệng hai người cười đến như không thể khép lại…

Giáng Sinh năm đó, tôi nhận được một giỏ quà với đủ loại trái cây tươi, được cắt sẵn theo những hình ngôi sao, trái tim, chim, cá… rồi nhúng vào sô cô la, của hảng “Edible Fresh Fruit Arrangements” đem giao tận nhà, có kèm theo tấm thiệp ghi bằng tiếng Việt, “Chúc Mừng Giáng Sinh Cô Giáo Linda. Học trò cô: Kathy và Daisy.”

Phương Hoa

Bà Bill Gate : một Bồ Tát của nhân loại

NGẢ MŨ TRƯỚC TẤM LÒNG BỒ TÁT

CỦA PHU NHÂN BILL GATES

Bồ Tát Quán Thế Âm được coi như vị Bồ-tát đầy tình thương, luôn luôn sẵn sàng cứu độ, giúp đỡ, chăm sóc mọi người, mọi chúng sinh khi cần thiết.
Bồ-tát Quán Thế Âm đã được tượng trưng trong truyền thống Phật giáo bằng hình ảnh một người nữ có ngàn con mắt để thấu hiểu và ngàn cách tay để giúp đỡ chúng sinh.

Bồ-tát Quán Thế Âm trong chân nghĩa thực sự, không phải là “một vị” Bồ-tát, mà là một lực lượng (force) vĩ đại của tình thương, có mặt khắp nơi, vô sở bất tại (omnipresent). Bạn là một người bình thường, nhưng trước một tình huống thương tâm, bạn bỗng quên mình lao người ra giúp đỡ kẻ bị nạn. Ngay chính lúc đó, Bồ-tát Quán Thế Âm đã thị hiện trong bạn, hay nói cách khác bạn đã là sự thị hiên của Bồ-tát Quán Thế Âm trong thế giớinày. (Thư Viện Hoa Sen)

Bill & Melinda Gates

Thông qua quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates, 
vợ chồng tỷ phú này đã dành phần lớn 
tài sản của mình tài trợ cho giáo dục
y tế và người nghèo.

Là phu nhân của tỷ phú Bill Gates, bà Melinda Gates khôngquan tâm đến đồ trang sức, quần áo đắt tiền…, mà luôn hướng tới nâng cao sức khỏe cộng đồng ở quy mô quốc tế.

Sau khi cưới tỷ phú Bill Gates, Melinda bắt đầu làm từ thiệnmột cách khá thầm lặng.

Vợ chồng tỷ phú này kết hôn năm 1994 và hai người đã có 3 mặt con: 2 gái, 1 trai. Trước khi hẹn hò với chồng mình, bà Melinda Gates đã có 9 năm làm việc tại Microsoft và từng giữ chức vụ Giám đốc phụ trách các sản phẩm thông tin của tập đoàn này. 

Tháng 1/1994, Melinda rời khỏi Microsoft và sát cánh cùng chồng trong cương vị đồng chủ tịch quỹ tài trợ lớn nhất hànhtinh Bill & Melinda Gates. Quỹ này đã có tổng tài sản lên tới 29,1 tỷ USD và luôn đi đầu trong chiến dịch nâng cao sức khỏe cộng đồng ở quy mô quốc tế.

Có lần, vợ chồng Bill Gates đã tặng máy vi tính xách tay cho người dân ở các ngôi làng ở khu vực cận Sahara (châu Phi). Nhưng rồi vợ chồng bà nhận ra người dân lục địa đen cần thức ăn để no bụng và thuốc men đểchống lại bệnh tật chứ không phải là những sản phẩm công nghệ xa xỉ.

Chính vì vậy, họ bắt đầu mua và tìm đọc rất nhiều sách về các bệnh lây lan vì ký sinh trùng, về hệ miễn dịch, về cách phòng bệnh… 

“Bạn không thể nói về chuyện tài trợ cho thuốc chống sốt rét nếu như bạn không hiểu rõ chu trình sống của con muỗi. Làm từ thiện không chỉ đơn giản là ký séc chi tiền”, bà Melinda nói.

Quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates (BMGF) bắt đầu hoạt động với quy mô nhỏ vào năm 1997 rồi ra mắt chính thức vào năm 2000.

Vợ chồng Gates đã cam kết trao tặng hết 95% tài sản khổng lồ của mình (ước tính khoảng 46 tỷ USD) cho quỹ BMGF cho mục đích tiêm vắc-xin và tạo hệ miễn dịch cho trẻ em.

Hồi đầu năm 2011, BMGF đã tặng cho Liên minh Vắc-xin và miễn dịch toàn cầu (Gavi) 750 triệu USD – một trong những món quà cá nhân lớn nhất lịch sử.

Những lần tài trợ trước đó của vợ chồng Bill Gates đã giúp tiêm phòng viêm gan siêu vi B cho 43 triệu trẻ em, giúp giảm 39% tỷ lệ trẻ em bị sởi. Ngoài ra, BMGF còn chi mạnh cho các dự án khoa học nghiên cứu vắc-xin và thuốc men, trong đó phải kể đến chương trình trị giá 35 triệu USD để thử nghiệm vắc-xin chống sốt rét ở Zambia.

Cuộc sống hàng ngày của nữ tỷ phú có tấm lòng nhân ái

 

bill gates

Vợ chồng tỷ phú Bill Gates dành phần lớn 
thời gian cho từ thiện xã hội toàn cầu.

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, nữ tỷ phú Melinda Gates chia sẻ về kế hoạch hiện tại của mình là dự án cung cấp biện pháp tránh thai hiện đại cho 120 triệu phụ nữ trên toàn thế giới vào năm 2020.

Đảm nhiệm ghế đồng Chủ tịch Quỹ BMGF, công việc của bà Melinda liên quan đến các mục tiêu chính sách lớn từ cải cách giáo dục tới “thôn tính” bệnh bại liệt. 

Một ngày điển hình tại văn phòng của bà gồm đánh giá chiến lược và tham gia các cuộc họp.
Tuy nhiên, bà Melinda dành tới 1/3 thời gian của mình cho các chuyến đi thực tế ở các quốc gia. Bà chia sẻ rằng bà phảicố gắng hết sức để cân đối thời gian giữa công việc và gia đình, thậm chí đôi khi bà phải lên kế hoạch dẫn theo con cái tới nơi làm việc.

“Một số chuyến công tác của mình lại trùng với những kỷ nghỉ của các con và tôi buộc phải lên kế hoạch đưa 3 đứa trẻ cùng bố mẹ tới châu Phi”, bà Melinda chia sẻ.

Bà nói thêm: “Bill và tôi thường xuyên phải cân đối lịch làm việc để đảm bảo một trong hai người luôn có mặt ở nhà để bọn trẻ biết được rằng chúng thực sự rất quan trọng đối với cuộc sống chúng tôi”.

Cả hai vợ chồng tỷ phú này đều cố gắng lái xe đưa đón các con đi học hàng ngày, thúc giục chúng lên giường ngủ mỗi đêm. Đồng thời, họ luôn ở bên động viên con cái mọi lúc.

“Nếu Bill định trốn thời gian dành cho gia đình để giải quyết các vấn đề khác, tôi sẽ gọi điện để nhắc nhở”, Melinda tâm sự.

Melinda kể lại rằng: “Có một hội chợ khoa học diễn ra gần đây ở tại trường của bọn trẻ và Bill đã hứa sẽ đến đó.Tuy nhiên cùng lúc đó, anh ấy có một chuyến đi khá quan trọng. Và tôi đã phải lên tiếng: “Anh biết đấy, anh đã hứa sẽ làm việc đó”. Vì thế, điều chắc chắn là anh ấy sẽ giữ đúng lời hứa”.

blankBill Gates còn thực sự gây sốc khi ông công bố sẽ chỉ để lạimột phần nhỏ trong số tài sản cho con cái. Theo tờ Daily Mail của Anh, vợ chồng Bill Gates đã quyết định chỉ để lại cho mỗi người con chưa đến 10 triệu USD gọi là làm vốn sinh nhai. Phần lớn tài sản của họ sẽ chăm lo cho giáo dục, y tế và người nghèo thông qua quỹ từ thiện của gia đình.

Giải thích quyết định trên, Bill Gates chia sẻ: “Đúng, đó chỉ làmột phần nhỏ bé trong tài sản của tôi. Điều này có nghĩa là các con tôi phải tự tìm ra con đường tiến thân của riêngmình. Việc học của chúng sẽ được đảm bảo tốt nhất. Chúng tôi không bao giờ tiếc tiền đầu tư vào việc học và những vấn đề về chăm sóc sức khỏe. Riêng chuyện kiếm tiền thì chúng phải tự tìm việc mà chúng thực sự thích. Đến nay, con của chúng tôi hoàn toàn là những đứa trẻ bình thường chứ không giống như sống trong nhung lụa”.

Truyền thông Mỹ cho biết, hai con lớn của Bill Gates đều phải làm việc nhà mới được cho tiền tiêu vặt.

Ông từng nói hồi đầu năm nay: “Tôi chắc chắn rằng việc để lại khối tài sản lớn cho bọn trẻ sẽ không phải là mộtđặc ân đối với chúng”. Bà Melinda cũng đồng ý với quan điểm này của chồng.

“Một điều quan trọng mà tôi đang nỗ lực với cương vị là một người mẹ mẫu mực, đặc biệt đối với 2 con gái. Thông qua công việc hàng ngày của mình, tôi muốn hướng chúng thành một người phụ nữ sắc sảo, biết sắp xếp hài hòa giữa công việc và cuộc sống gia đình”, bà Melinda Gates chia sẻ.

Nguyên Thảo

BÀI ĐỌC THÊM

BÀ BILL GATES: MỘT BỒ TÁT CỦA NHÂN LOẠI

Bà là người có vai trò không thể thay thế trong cuộc đời Bill Gates
Là vợ của người đàn ông giàu nhất thế giới nhưng Melinda không mấy quan tâm đến những cửa hàng thời trang sang trọng, những loại mỹ phẩm đắt tiền hay những tác phẩm nghệ thuật danh giá. Thay vào đó, suốt ngày bà chúi mũi vào những chuyện đại loại như… chu trình sống của con muỗi.

Một người phụ nữ hơi bất thường chăng?

Ngay sau khi cưới nhau, vợ chồng Bill Gates bắt đầu làm từ thiện nhưng làm một cách dè dặt, trong đó có lần tặng máy vi tính xách tay cho các ngôi làng ở khu vực cận Sahara (Phi châu). Nhưng rồi hai người nhận ra người dân lục địa đen cần thức ăn để no bụng và thuốc men để chống lại cái chết hơn là phần mềm Windows xa xỉ.

Thế là họ tậu bao nhiêu là sách về các bệnh lây lan vì ký sinh trùng, về hệ miễn dịch, về cách phòng bệnh… “Bạn không thể nói về chuyện tài trợ cho thuốc chống sốt rét nếu như bạn không hiểu rõ chu trình sống của con muỗi. Làm từ thiện không chỉ đơn giản là ký séc chi tiền”, Melinda nói.

Tại sao lại phải nhọc công đến thế?

Melinda có thể tận hưởng một cuộc sống trong nhung lụa, dành thời gian chăm sóc con cái. “Khi cưới nhau, tôi và Bill định khi về già sẽ chia sẻ tiền bạc với người khác. Lần đầu tiên chúng tôi đến châu Phi là nhân một chuyến đi săn năm 1993.

Chúng tôi không thể nào tận hưởng thiên nhiên hoang dã vì cảnh tượng mọi người đi chân đấtphụ nữphải vừa bế con vừa xách nước đi hàng cây số và bởi lời mời từ một bộ lạc về việc dự buổi lễ cắt âm vật phụ nữ.

Sau đó về nhà, chúng tôi tìm đọc Báo cáo về phát triển thế giới năm 1993 và không khỏi giật mình. Trẻ con đang chết hàng loạt chỉ vì căn bệnh tiêu chảy và những loại bệnh cơ bản mà trẻ con ở nước chúng tôi đã được tiêm vắc-xin.

Chúng tôi tự thấy mình phải có trách nhiệm tìm hiểu sự thật và càng tìm hiểuchúng tôi càng thấy không thể chờ vì bệnh tật không đợi chúng tôi. Tôi đi vòng quanh thế giới để xem điều gì đang xảy ra.

Nỗi sợ hãi khi quay về quá khủng khiếp đến độ tôi không dám hy vọng. Nhưng rồi bạn thấy đó, kinh tế đang thay da đổi thịt ở các nước phát triển và tự nó cải thiện mọi chuyện. Điều đó đã vực Bill và tôi dậy”.

“Chúng ta có xem rẻ mạng sống của người Phi châu hơn mạng sống của chúng ta không? Bill và tôi cho rằng không có sinh linh nào mang giá trị hơn hay kém so với sinh linh khác. Chính sự công bằng này là lý do để quỹ từ thiện của chúng tôi hoạt động” / Melinda Gates

Quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates (BMGF) bắt đầu hoạt động với quy mô nhỏ vào năm 1997 rồi chính thức khai trương vào năm 2000.

Vợ chồng Gates đã cam kết sẽ trao tặng hết 95% tài sản khổng lồ của mình (hiện ước tính khoảng 46 tỉ USD). Vắc-xin và tạo hệ miễn dịch cho trẻ em là mục tiêu chính của quỹ. Đến nay BMGF đã chi tổng cộng 28,8 tỉ USD.

Hồi đầu năm, BMGF đã tặng cho Liên minh Vắc-xin và miễn dịch toàn cầu (Gavi) 750 triệu USD – một trong những món quà cá nhân lớn nhất lịch sử.

Những lần tài trợ trước đó của vợ chồng Bill Gates đã giúp tiêm phòng viêm gan siêu vi B cho 43 triệu trẻ em, giúp giảm 39% tỷ lệ trẻ em bị sởi… Ngoài ra, BMGF còn chi mạnh cho các dự án khoa học nghiên cứu vắc-xin và thuốc men, trong đó phải kể đến chương trình trị giá 35 triệu USD để thử nghiệm vắc-xin chống sốt rét ở Zambia .

Hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên vì ông bà Gates không dành phần lớn tài sản của mình để lại cho con cái. Hiện họ đang có 3 đứa con nhỏ nhưng Melinda không tỏ ra lo lắng:

“Bất cứ lúc nào gia đình tôi nói tới chuyện tài sảnchúng tôi đều nói đến trách nhiệm phải trao tặng nó cho thế giới. Các con của chúng tôi đã có tài khoản riêng của chúng. Không phải lúc nào chúng muốn mua gì cũng được nấy mà phải đợi đến những dịp như sinh nhật mới được tặng hay đợi cho đến khi chúng tự để dành đủ tiền”.

Hiệp hội Bill & Melinda Gates đã chi bao nhiêu cho ai?
Tính đến đầu năm 2005, tỷ phú này đã cam kết số tiền 28 tỷ USD cho nhiều dự án cứu tếtừ thiện, y tế và giáo dục. Tức ông đã đem cho không đến 38% tổng tài sản của mình. 9,3 tỷ USD là tổng số tiền mà tỷ phú giàu nhất thế giới Bill Gates đã chi cho các công cuộc từ thiện cứu tế và giáo dục thông qua hiệp hội mang họ tên mình thành lập vào năm 2000

Chúng được chia ra như sau:

Sức khoẻ: 5,5 tỷ USD (gồm chiến lược sức khoẻ toàn cầu, 2,3 tỷ USD; nghiên cứu trị HIV/AIDS, bệnh lao và y tế sinh sản, 1,5 tỷ USD; các bệnh lây lan khác, 1,1 tỷ USD; nghiên cứu phát triển công nghệ y tế toàn cầu, 0,4 tỷ USD; nghiên cứu y tế, chiến dịch y tế toàn cầu…, 0,1 tỷ USD)

Giáo dục: 2,4 tỷ USD
Chương trình xây dựng thư viện toàn cầu: 0,3 tỷ USD
Những dự án đặc biệt khác: 0,6 tỷ USD
Các chương trình từ thiện ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương: 0,6 tỷ USD 

Melinda Gates- quyền lực mà thầm lặng

Có một người phụ nữ giản dị, nhân hậu đã chinh phục được biết bao chính khách, doanh nghiệp. Xuất thân trong một gia đình bình dân Mỹ nhưng nhờ nỗ lực cá nhân và cả nét duyên thầm, người phụ nữnày đã trở thành biểu tượng của quyền lực mềm thế giới.

Năm nay 44 tuổi, Melinda Gates luôn sát cánh cùng người chồng tỷ phú, nhà sáng lập và điều hànhMicrosoft trong nhiều năm qua, và bản thân bà cũng là chủ tịch quỹ tài trợ lớn nhất thế giới.

Bà là người có vai trò không thể thay thế trong cuộc đời Bill Gates, là một trong những động lực to lớn để Bill Gates lập ra quỹ Bill & Melinda Gates.

Chung sống với Bill Gates đã 14 năm nhưng Melinda luôn có một cuộc sống trầm lặngít khi lộ diệntrước báo giới. Những cuộc phỏng vấn luôn bị từ chối, thay vào đó là những cuộc trò chuyện mỗi tuần với những người cộng sự. Người ta biết đến Melinda qua những người bạn của bà nhiều hơn.

Mối thâm tình với chiếc máy tính

Trước khi quen biết Bill Gates, nàng thiếu nữ Melinda đã mê tít máy tính. Chính tình yêu này đã thay đổi cuộc đời cô.

Khi Melinda 14 tuổi, cha cô tặng cho con gái yêu chiếc máy tính Apple II. “Tôi đã nịnh cha mẹ đặt vào phòng riêng của mình để tiện học tập nhưng thời gian đầu tôi khoái chơi game hơn”, Melinda nhớ lại.

Không lâu sau, Melinda đã nắm được ngôn ngữ lập trình cơ bản và thường xuyên trao đổi kiến thức với các cậu con trai quanh xóm. Chính việc ham thích trao đổi về máy tính đã khiến cô bé bớt đi những rụt rè tuổi dậy thì, tự tin và hòa đồng hơn hẳn. Chiếc máy tính Apple II năm sau đã được nâng cấp lên thành Apple III. Melinda thường dùng máy tính giúp cha quản lý sổ sách, kế toán.

Gia đình Melinda không giàu có. Bố cô là kỹ sư và mẹ cô là một người nội trợ điển hình. Mặc dù cha mẹcô có cho thuê một vài gian phòng để phụ thêm nhưng việc lo cho cả 4 chị em Melinda học lên đại họcquả thật không hề dễ dàng. Melinda cùng các anh chị em từ nhỏ đã phụ giúp mẹ lau bàn, dọn bếp và cắt cỏ.

Khi Melinda còn đi học, tuy không có quy định thành văn nhưng thành tích học tập luôn được cả gia đìnhcoi trọng. Melinda luôn đặt cho mình những mục tiêu để chinh phục một cách bền bỉ và quyết tâm. Cô giáo dạy môn đại số đã nhận xét “Melinda luôn tìm ra cách học tập hiệu quả nhất!”.

Khi đó, Melinda theo học tại một trường nữ sinh Thiên Chúa giáo, cô ao ước được vào trường Notre Dame. Trong suốt quá trình học, Melinda luôn cố gắng và đã trở thành đại diện phát biểu trong lễ bế giảng.

Nhưng cũng chính Melinda là người đưa ra quyết định từ bỏ trường đại học đặc biệt này vì nơi đây coi “máy tính là sở thích nhất thờiphụ nữ không phù hợp với nghiên cứu công nghệ”.

Sau đó Melinda được nhận vào trường đại học Bắc California .. Trong 5 năm học tại đây, Melinda đã được nhận bằng cử nhân khoa học máy tính và thạc sỹ quản trị kinh doanh.

Ngay trước hôm tiến hành lễ tốt nghiệp, Melinda đã tham gia phỏng vấn vào công ty IBM. Cô nhớ lại “Tôi đã nói với người phỏng vấn là mình sẽ tham gia thi tuyển vào một công ty phần mềm nữa. Bà ấy đã mỉm cười và nói nếu tôi được công ty phần mềm đó chọn, tôi càng có nhiều cơ hội hơn”. Và Melinda đã đến nơi có nhiều cơ hội hơn – Microsoft.

Tình yêu với sếp và khát vọng chung thay đổi thế giới

Năm 1987, Melinda bắt đầu làm việc chính thức tại Microsoft. Cô phụ trách quảng bá phần mềm văn bản.

Ngay từ những ngày đầu tiên, Melinda đã thích không khí làm việc cởi mở, năng động nơi đây. Cô chúi mũi vào công việc mà không thể ngờ rằng chỗ làm việc lý tưởng này lại đem đến cơ hội tình yêu cho mình.

Melinda là người trẻ nhất trong những người được nhận vào Microsoft làm việc đợt đó. Trong 10 người có bằng MBA, cô cũng là người nữ duy nhất. “Những người được tuyển đợt đó rất tài năng.

Tôi đã choáng ngợp khi tiếp xúc với họ và nghĩ họ có thể thay đổi thế giới. Tôi cũng hơi ngạc nhiên vì sao công ty phần mềm nho nhỏ hồi đó lại hấp dẫn họ đến thế!”

Khi đó hai sếp lớn Bill Gates và Steve Ballmer đang bất đồng trong khá nhiều vấn đề, họ thường căng thẳng và quát cả cấp dưới. Nếu như không có cảm tình đặc biệt khi nhìn thấy dáng vẻ thư sinh của Bill, Melinda đã bỏ việc từ lâu.

Sau khi vào công ty được 4 tháng, Melinda đến New York tham dự một triển lãm công nghệ và ngồi cạnh Bill Gates trong một buổi tiệc.

Melinda nhớ lại: “Anh ấy quả thật rất có phong cách, còn hơn trong tưởng tượng của tôi”. Khi Bill được hỏi tại sao để ý Melinda, ông trả lời: “Tôi nghĩ chắc là do vẻ đẹp của cô ấy”.

Mùa thu năm đó, Bill và Melinda gặp lại nhau tại nhà để xe của công ty. Melinda nhớ hôm đó là thứ 7 và mọi người trong công ty vẫn phải đi làm.

Họ nói chuyện một lúc, Bill nhìn đồng hồ và hỏi: “Em có đồng ý hẹn hò với tôi trong vòng hai tuần bắt đầu từ thứ 6 tuần sau không?”

Melinda trả lời: “Từ thứ 6 tuần sau bắt đầu hai tuần hẹn hò? Em thấy không được tự nhiên lắm! Không biết được, đến lúc đó hãy gọi cho em”.

Sau đó, Bill gọi lại báo cho Melinda lịch hoạt động ngày hôm đó, Melinda nhận lời hẹn gặp ông vào buổi tối thứ 6 định mệnh.

Trước khi hai người gặp nhau, Bill đã là một tỉ phú nhưng điều đó không có nghĩa là ông có thể “mua” được tình yêu. “Theo đuổi cô ấy thật vất vả”, Bill than thở. Số là mẹ của Melinda vốn cho rằng chuyện tình cảm của con gái mình với sếp không có gì hay ho cả.

Nhưng Melinda đã đặt ra những giới hạn cho mối quan hệ này, quyết không để ảnh hưởng đến công việc. “Tôi không muốn công khai tình cảm, không bao giờ nói chuyện công việc trong thời gian hẹn hò…”

Dù có công khai chuyện tình cảm với sếp lớn hay không thì bạn bè đồng nghiệp vẫn phải nể Melinda về năng lực làm việc.

Sau 9 năm làm việc bà đã lên chức giám đốc phụ trách các sản phẩm thông tin.

Cấp trên trực tiếp của Melinda lúc đó, bà Patty Stonesifer đã nhận xét: “Nếu tiếp tục ở lại làm việc, Melinda chắc chắn sẽ đứng trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp nhất của Microsoft”.

Tháng 1/1994, Melinda rời khỏi Microsoft, dành toàn bộ tâm huyết cho quỹ từ thiện. Tình cảm hai người dành cho nhau càng trở nên sâu sắc.

Trước đây Bill Gates chưa bao giờ nghĩ đến việc thành lập quỹ tài trợ, dù luật sư và kế toán của ông thường xuyên khuyên ông nên dành thời gian và tiền bạc để chính thức tham gia các hoạt động từ thiện.

Đó cũng là lý do mà báo chí những năm 1990 gọi Bill là “kẻ hà tiện”. Cha của Bill giải thích “Con tôi không muốn đứng ra thành lập quỹ từ thiện vì không muốn sở hữu thêm một công ty nữa”. Ngay từ ngày đầu lập quỹ, Melinda đã quán xuyến công việc quản lý.
Những ngày đầu, Melinda và Bill lập ra dự án tặng cho mỗi phòng học một laptop phục vụ việc giảng dạy nhưng công tác quảng bá đã bị giới truyền thông phê bình gay gắt vì… phô trương và thiếu thực tế.

Khi đi khảo sát các trường học, Melinda nhận ra rằng, chỉ trang bị cơ sở vật chất đơn thuần không giảiquyết được những vấn đề giảng dạy, vì thế sau này thúc đẩy phổ cập giáo dục mới là mục tiêu chính của quỹ.

Dưới ảnh hưởng của Melinda, quỹ Bill & Melinda Gates đã mở rộng phạm vi hoạt động của mình trong lĩnh vực phòng chống AIDS, bệnh sốt rét…

Melinda chia sẻ: “Chúng tôi muốn dần dần thiết lập một danh sách cần cứu trợ hợp lý. Tiền chỉ có ích khi mang lại những lợi ích thực sự cho những người cần cứu trợ nhất”.

Bà cũng cho biết, quỹ Bill & Melinda Gates không quyên gửi thẳng tiền cho viện nghiên cứu ung thư Hoa Kỳ mà tập trung cho những dự án và khu vực khẩn thiết hơn.

Bà Gates dùng phương pháp liên kết những nhà bán thuốc và bảo đảm trợ cấp tài chính cho việc nghiên cứu để đổi lấy sự hạ giá thuốc cho những nước nghèo, qua đó tạo đà mới cho ngành y học ngừa bệnh của các nước kém phát triển vốn đã bị chững lại từ những năm 1990.

Và rõ nét nhất là việc sáng lập Công ty Vaccine HIV – là công ty liên kết các nhà nghiên cứu với ngân sách 400 triệu USD.

Trải qua 7 năm hoạt động, dưới sự điều hành của Melinda, quỹ Bill & Melinda Gates đã góp phần cứu sống ít nhất 700.000 người tại các quốc gia nghèo thông qua các khoản đầu tư vào những chương trìnhvaccine.

Quỹ Bill & Melinda Gates hiện là quỹ từ thiện lớn nhất thế giới, với tài sản lên tới 29,1 tỉ USD và luôn đi đầu trong chiến dịch nâng cao sức khỏe cộng đồng trên quy mô quốc tế. Melinda, Bill Gates và cha của Bill là 3 thành viên điều hành quỹ.

Gần đây, Bill Gates đã chính thức rời khỏi Microsoft để hoàn toàn tập trung cho công việc từ thiện.

Mỗi năm quỹ này nhận được khoảng 6.000 thư xin được trợ giúp ở khắp nơi trên thế giới.

Bill và Melinda sẽ tự mình phê duyệt với tổng số tiền trên 40 triệu USD. Cách làm những công việc ở quỹ của đôi vợ chồng này uyển chuyển và có phần thử thách hơn cả khi điều hành Microsoft.

“Chúng tôi trò chuyện ngay cả lúc cùng chạy bộ với nhau”, Bill cười nói. Trong vòng hai năm trở lại đây Bill Gates đã chạy bộ khá đều đặn và cùng luyện tập trí nhớ một cách thú vị và ý nghĩa.

Hai người cùng thảo luận và nêu ra các phương án hành động cho các dự án tài trợ. Các thông tin này sẽ được cả hai nhẩm nhớ, không ghi lại bằng giấy gì cả và ghi nhớ cho đến khi thông báo lại cho các thành viên quản lý quỹ để thông qua chính thức.

Tháng 6/2006, Warren Buffet đã chuyển giao một phần tài sản trị giá khoảng trên 30 tỉ USD của mình vào việc làm từ thiện, trong đó 83% số tiền được đưa vào Quỹ Bill & Melinda Gates. Khoản hiến tặng này được xem là lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Vào thời điểm đó, số tiền được quyên này còn lớn hơn gấp đôi số tiền hiện có của quỹ. Đây là lời công nhận đầy thuyết phục đối với khả năng quản lý từ thiện, một lĩnh vực mới mẻ và nhiều thách thức của nhà đầu tư tài chính hàng đầu với hai vợ chồng Bill Gates.

Tin vui này cũng đến khi cả hai người đang chạy bộ. Melinda nhớ lại với một vẻ bồi hồi: “Tôi nhận được điện báo và không tin vào tai mình nữa. Tôi nói với Bill, và thực sự muốn khóc. Chúng tôi đã làm được, chúng tôi đã có niềm tin của mọi người, và chúng tôi có nhiều trách nhiệm hơn nữa”.

Hiện nay, Quỹ từ thiện của hai vợ chồng bà đã thu thập được 37,6 tỉ USD, trong đó, 3,5 tỉ USD là phần góp của nhà tỉ phú Warran Buffet, người đứng đầu công ty Berkshire Hathaway. Sắp tới đây, Warren Buffet dự định chuyển cho quỹ Bill & Melinda Gates thêm 9.000 cổ phiếu nữa với trị giá 41 tỉ USD.

Như vậy, cùng với các khoản lạc quyên và hàng tỉ USD của chính hai vợ chồng Bill Gates, tổng số vốn của quỹ trong vài năm tới sẽ đạt đến con số khổng lồ là 100 tỉ USD.

Cả hai vợ chồng đều sẵn sàng chi tiêu toàn bộ số tiền này vào việc giúp đỡ những người nghèo khổkhông chỉ ở nước Mỹ. Đến nay, quỹ đã chi gần 20 tỉ USD cho nhiều hoạt động từ thiện.

Bill Gates thừa nhận rằng vợ ông hiểu biết về con người hơn ông. Khi động chạm đến việc nên chi tiền trong quỹ vào những lĩnh vực gì, bà Melinda bao giờ cũng có những ý tưởng thông minh hơn chồng.

Melinda nói: “Hai vợ chồng chúng tôi đã cùng soạn lập danh mục những hiện tượng bất công nhất trên thế giới. Và chúng tôi lựa ra những hiện tượng mà chúng tôi có thể đấu tranh”.

Trong hoạt động nhân đạo chung của cả hai vợ chồng, vai trò của bà Melinda dường như nổi bật hơn.

Không phải vô cớ mà người bạn thân của họ – nhà tỉ phú Warren Buffet – đã có nhận xét rất đáng chú ý: “Bill Gates cực kỳ thông minh. Nhưng khi ta nhìn toàn bộ bức tranh chứ không phải một phần riêng biệt nào đó thì Melinda hiển nhiên là vượt xa chồng. Nếu như Melinda không làm việc trong quỹ từ thiện của hai vợ chồng họ thì liệu tôi có trao tiền cho Bill không? Có lẽ không”.

Như vậy, điều kiện chủ yếu thúc đẩy Buffet chuyển giao tài sản chính là người vợ nhanh nhẹn, hiểu biết, thấu tình đạt lý của Bill Gates. Buffet đã khiến Bill phải thốt lên: “Melinda đúng là vận may lớn nhất cuộc đời tôi”.

Yêu thích cuộc sống bình lặng

Là vợ người thường xuyên giữ vị trí giàu nhất thế giới, Melinda không tránh khỏi những phiền toái của cuộc sống.

Dù cố gắng thế nào đi nữa, Melinda cũng rất khó khăn để có được cuộc sống bình thường. Nhưng đến nay, sau nhiều nỗ lực, người phụ nữ dịu dàng này vẫn có cách để cuộc sống của mình đi theo những quỹ đạo mong muốn.

Trước khi kết hôn với Bill Gates, Melinda cũng chịu nhiều áp lực từ khối tài sản đồ sộ này. Melinda luôn băn khoăn con người mải mê công việc và cạnh tranh thương trường của Bill Gates có thích hợp với cuộc sống gia đình hay không.

Câu hỏi: “Cái người có thể phát điên lên vì công việc này nếu làm chồng mình sẽ ra sao?” luôn quẩn quanh trong đầu Melinda.

Cuối cùng bà cũng nói thẳng điều này ra với Bill, rằng: “Nếu muốn em dọn đến ở cùng anh, anh cần phảitạo nên một ngôi nhà thực sự ấm cúng của gia đình giống như em tưởng tượng”.

Sau 6 tháng thảo luận, bàn bạc với vị hôn phu, Melinda đã đích thân thuê kiến trúc sư cải tạo khu nhà ở 3.700m2. Đến nay, cứ cuối tuần Melinda đều cho đội ngũ làm thuê trong tư gia nghỉ, để gia đình có thể trải qua những giây phút quây quần bên nhau như những gia đình bình thường khác.

Có 3 con, điều đáng ngạc nhiên là chính Melinda đã tuân thủ các quy định nuôi con bằng sữa mẹ như các bác sĩ khuyến cáo.

Trong việc nuôi dạy bọn trẻ, Melinda cũng khuyến khích các con tự lập và làm việc chăm chỉ. Bà cũng tranh thủ đưa các con đi cùng trong các chuyến đi từ thiện để vừa rèn luyện sức khỏe, vừa mở rộng tầm nhìn về thế giới cho chúng.

Melinda và Bill cũng thống nhất trong việc để dành thừa kế cho các con. Sẽ không quá 5% tài sản của họ sẽ trở thành tiền thừa kế của 3 con, còn khối tài sản khổng lồ còn lại sẽ trở thành khoản đầu tư từ thiện với mong muốn sẽ đem lại lợi ích cho nhiều người hơn nữa.

Thực raban đầu Bill và Melinda thậm chí không muốn để lại tài sản gì cả nhưng người bạn thân Buffet đã khuyên :

“Một người có rất nhiều tiền nên để lại cho con cái họ đủ số tiền, để chúng thực hiện ước mơ của mình, nhưng cũng không được nhiều đến mức, chúng không muốn làm gì nữa”.

Không thích mua sắm, ghét những nhãn hàng xa xỉ và chỉ trang điểm nhẹ nhàng, Melinda vẫn giữ được vẻ đẹp trẻ trung suốt những năm qua.

Một trong những bí quyết của bà là luyện tập thể thao đều đặn. Melinda đã tập chạy marathon từ gần 15 năm qua, thậm chí còn tham dự cả giải Seattle Marathon.

Dù bận rộn đến mấy, mỗi tuần bà cũng có một cuộc chạy việt dã, trong 1 giờ vượt qua 11km. Việc Bill tham gia chạy trong 2 năm trở lại đây cũng là do Melinda khuyến khích và thôi thúc.

TỔ QUỐC ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU?

Thao Ngoc

Tổ quốc đích thực phải là sợi dây yêu thương liên kết người dân lại, cùng nhau xây dựng một tương lai chung, thịnh vượng và hạnh phúc. 
CS lẽ nào ngu dốt đến mức không biết rằng nó là một đảng cầm quyền tồi dở và phần lớn người dân đều chán ghét nó ? Việc đánh đồng chế độ cộng sản với tổ quốc cũng như dùng vũ lực để duy trì quyền lực cai trị trên dân tộc Việt Nam là hành vi sai trái, bệnh hoạn,đó là sự phản bội Tổ Quốc đáng nguyền rủa nhất.

Dưới đây là bài viết vô cùng sâu sắc và thấm thía của FB Đỗ Ngà

TỔ QUỐC ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU?

Một anh bạn đang tìm tài liệu nghiên cứu. Anh ta lục khắp nơi nhưng không có. Một lần vào hiệu sách, anh ta phát hiện ra cuốn sách cần thiết. Không do dự, anh lấy ngay mặc dù giá cuốn sách ấy đến 2 triệu. Thanh toán xong anh ta mừng, vì đã vớ được món hời.

Thế nhưng về nhà, cuốn sách quý ấy anh đọc dở dang và vứt góc bàn để hôm sau đọc tiếp. Khi dọn giâý vụn, người làm đã gom cuốn sách đó bán cùng với mớ giấy vụn đồng giá. 20 ngàn 1 kí, cuốn sách quý được nửa kí nên tính ra nó có giá 10 ngàn.

Vâng, đó là giá trị của một cuốn sách. Với một chuyên gia nó là vô giá vì đó là tri thức, với bà mua ve chai nó như là một mớ giấy lộn. Như vậy một cuốn sách giá bao nhiêu? Còn tùy thuộc vào giá trị của nó với người mua.

Vậy thì câu hỏi đặt ra là, đất nước của chúng ta giá báo nhiêu? Thì câu trả lời tương tự, tùy thuộc vào người đó là ai.

Với người yêu nước, nó là vô giá không thể nhượng, không thể bán dù một tấc đất. Với người yêu nước, đất nước là nơi sinh sống của 93 triệu sinh mạng, là nhà cho 100 triệu sinh mạng thế hệ con, là nhà cho 120 triệu sinh mạng thế hệ cháu, là nhà cho 150 triệu sinh mạng thế hệ chắt vv… Vì thế nó là vô giá, nó là nơi để chúng ta hy sinh chứ không phải để trục lợi, và nhiều giá trị thiêng liêng khác để cho người yêu nước dám hy sinh không vị lợi. Anh Trần Huỳnh Duy Thức vốn là một doanh nhân thành đạt. Nếu hèn anh đã có cuộc sống sung túc. Thế nhưng không! Anh chọn con đường đấu tranh và bị chính quyền kết án tù rất nặng nhưng anh vẫn chọn. Đấy là con người đã nhìn thấy giá trị thiêng liêng của tổ quốc, nó đáng để anh hy sinh tất cả quyền lợi bản thân.

Với người CS thì giá của tổ quốc là bao nhiêu? Chỉ cần có tiền lo cho con cái đến Mỹ du học, mua nhà ở Mỹ để chuẩn bị lót ổ, lo quốc tịch cho mình và cho con để có chỗ tá túc khi hết bòn rút được từ quê hương. Đất nước, dân tộc với người CS là có giá hết. Khi đưa thế hệ con đi định cư, họ đã minh định rằng, tổ quốc này chỉ là nơi để họ kiếm chác. Hoàn toàn vật chất chứ chẳng thiêng liêng gì hết. Thực sự người CS đã định giá đất nước này chẳng khác nào chị ve chai định giá cuốn sách quý.

Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã từng nói “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hãy xem những gì Cộng Sản làm”. Và xâu chuỗi hàng loạt hành động của người CS thì ai cũng phải công nhận, câu nói ấy chưa bao giờ sai. Nguyễn Đức Kiên phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội đã lo cho con định cư ở Đức, và Võ Kim Cự sau khi rước Formosa vào phá nát môi trường miền trung thì nay tìm đường sang Canada định cư. Miệng họ thì nói luật họ làm vì phát triển đất nước, quyết định kí là vì phát triển địa phương blah blah blah. Nhưng miệng họ nói một đường để lừa gạt dân, thì hành động họ làm một nẻo để tìm kiếm cuộc sống tự do và thịnh vượng cho gia đình, bỏ lại một Việt Nam ngày một nát tan và trôi dần vào tay Trung Cộng.

Đối với người CS, tổ quốc là gì? Là thứ dùng để bán kiếm tiền đưa con cái đến với bến bờ tự do. Giá của tương lai hàng trăm triệu dân được người CS xem như đống ve chai không hơn không kém. Khi tổ quốc và dân tộc chỉ đáng giá một đống ve chai thì mỗi người dân chúng ta trong mắt CS chỉ là rác. Thực tế là như vậy.

12/7

TÌNH CẢNH TRỚ TRÊU CỦA ĐẤT NƯỚC

Đỗ Ngà

Hằng năm khi đến dịp các ngày lễ, CS cho thả một số tù nhân mà họ gọi là “ân xá”. Cái gọi là “ân xá” của họ có 2 mục đích. Thứ nhất, thả bớt tù nhân để lấy chỗ nhốt tiếp lớp tù nhân mới vì nhà tù ở Việt Nam đã quá tải. Thứ nhì, đây là dịp họ làm tiền gia đình các tù nhân để làm giàu. Muốn chạy một suất giảm án đều phải chung chi để đám cai ngục giới thiệu lên chủ tịch nước kí ân xá.

Trong nhà tù, CS tống giam 2 loại người, thứ nhất loại gây hại xã hội, và thứ nhì đó là những người đóng góp cho tiến bộ đất nước. Tức trong nhà tù, CS ngoài bắt nhốt tội phạm thực sự thì họ còn bắt nhốt và bức hại chính tương lai nước Việt để phục vụ lợi ích cho tập thể ĐCS và vun vén cho quân chức tìm đường sống cho con cháu mình ở xứ khác – xứ tự do dân chủ.

Ở xã hội nào cũng thế, loại gây hại cho xã hội như tham ô, trộm cướp, buôn lậu, ma túy, giết người, hiếp dâm, mafia, xã hội đen vv… Loại đó, ở bất cứ nơi nào trên thế giới đều phải bị pháp luật trừng trị để giữ gìn sự bình yên cho người dân hiền lành.

Nhưng ở Việt Nam lại khác, chính quyền bỏ tù luôn nhân tố đấu tranh vì sự tiến bộ đất nước. Đứng trước sự tan nát của đất nước, họ đòi dân chủ trong ôn hòa, thế là bị bỏ tù. Họ chỉ ra cái sai của chính quyền nhưng chính quyền không biết ơn còn bỏ tù họ. Tại những nước dân chủ, những con người đó sẽ được dân chúng chọn lựa cho việc điều hành đất nước chứ không phải bị ngồi tù như ở Việt Nam. Kết quả của đất nước như hôm nay thì ai cũng biết, đang nghèo đói không có đường gỡ, đang mất nước từ từ mà chưa có cách cứu vãn.

Đất nước đến thời mạt vận nên mới xảy ra chuyện trớ trêu. Kẻ gây hại cho xã hội thì được ân xá, còn những nhân tố thúc đẩy sự tiến bộ đất nước thì không bao giờ được ân xá dù chỉ 1 ngày. Đã vậy, họ – tù nhân bất đồng chính kiến còn bị cai ngục bức hại, dẫn đến việc họ thà tuyệt thực để đòi được đối xử như con người. Không ai đem cái chết ra đùa, trừ khi sự hà khắc của trại giam còn kinh khủng hơn cái chết. Trước đây anh Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải và Cù Huy Hà Vũ bị bức hại phải tuyệt thực thì nay đến lược Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh.

Một đất nước, không dễ gì mất, nó chỉ mất khi có một triều đại chính trị đưa đất nước đến yếu kém toàn diện. Trong ngàn năm thoát khỏi Bắc Thuộc thì thời CS là thời kì yếu nhất của lịch sử. CS độc chiếm quyền lực để phá hủy nội lực đất nước nhằm tư lợi rồi trốn sang xứ tự do xây dựng thế hệ hậu sinh cho riêng dòng họ. Điều này chả lẽ Trung Cộng không thấy? Trung Cộng thấy rất rõ và họ đang rất hài lòng.

Số phận Việt Nam rồi sẽ ra sao? Chắc chắn Việt Nam sẽ bị vứt bỏ không thương tiếc khi đất nước đối diện với nguy cơ mất hoàn toàn vào tay ngoại bang. Lúc đó, số phận gần 100 triệu dân sao đây? Với người CS thì cứ “kệ mẹ chúng nó” thế là xong. Điều đáng bàn là thái độ của người dân, đến đây mà còn tư tưởng “để đảng và nhà nước lo” thì làm kiếp con vật còn không xứng chứ đừng nói làm người.

MƯA VỚI LŨ.

Kimtrong Lam
MƯA VỚI LŨ.

Mỗi lúc mưa về ngập khắp nơi
Trẻ nhỏ bây giờ đổi trò chơi
Không còn chạy nhảy tung tăng nữa
Chúng lại hè nhau để học bơi…

Phố xá bây giờ cũng ít xe
Cũng cố đời nhau cứ sắm ghe
Không tiền mua máy… chèo cũng đã
Ít nợ thông thương rộn rả bè…

Cất cánh bay cao thủy động cơ
Thích thú làm sao ước với mơ
Không cần phi đạo cho tốn kém
Đáp xuống dòng sâu nước dạt bờ…

Nắng gắt mưa dầm nước dâng mau
Xả lũ kèm theo chúng dân đau
Nhà trôi ruộng ngập mùi xú uế
Tứ tán gia đình khóc mất nhau…

Liverpool.14-7-2018
Song Như.

Image may contain: outdoor
Image may contain: 3 people, outdoor
Image may contain: 4 people, people sitting and child
Image may contain: 2 people, people sitting
Image may contain: one or more people and outdoor

OAN QUỐC

FB Huynh Ngoc Chenh

OAN QUỐC 

Người dân bị cường quyền cướp đất, cướp quyền lợi, bị o ép, bị vùi dập thì đi kiện. Kiện không được hoặc kiện thua thì thành dân oan, nói theo từ Hán Việt cho oai gọi là oan dân.

Quốc gia nầy bị quốc gia khác o ép, bị vùi dập, chống trả không lại thì đành đi kiện ra quốc tế, quốc tế không xử hoặc xử thua thì sẽ trở thành oan quốc.

Có một oan quốc vĩ đại sắp ra đời, đó là China Oan Quốc.

Từ mấy chục năm qua, làm ăn buôn bán với Mỹ ngon lành, mỗi năm suất siêu qua Mỹ trên 300 tỉ đô la, túi rủng rỉnh đầy tiền, tự thấy mình vĩ đại, vung tiền ra mua “đặc khu” khắp thế giới để mở ra “một vành đai một con đường” hòng tính chuyện bá quyền, ngạo mạn tuyên bố sẽ trở thành siêu cường số 1 vào năm 2050, thì bổng dưng bị Mỹ ra đòn tố cáo làm ăn gian lận và tuyên bố mở ra chiến tranh thương mại để trừng trị.

Ban đầu, Tập ta cũng hung hăng lắm, tuyên bố sẵn sàng thương chiến, Mỹ đánh thì đáp trả tới cùng.

Thế là trade war nổ ra. Mỹ bắn loạt đạn đầu 35 tỉ, Tập phản pháo ngay. Mỹ trúng đạn chưa thấy thương vong gì thì Tập đã thọ thương, 2000 tỉ đô la trong số 3000 tỉ gom gop được trong mấy chục năm qua cháy vèo thành tro khói. Không làm được gì hơn, Tập bèn giở món khẩu công, chửi Mỹ là côn đồ thương mại.

Mỹ tuyên bố sẽ bắn tiếp phát đại pháo 200 tỉ. Tập hốt hoảng, biết sẽ hết đạn để chống đỡ bằng tuyên bố sẽ kiện Mỹ ra tòa quốc tế.

Và từ đây, China sẽ bước vào con đường… quốc oan.

Cứ cho rằng, tòa WTO sẽ nghiêm túc thụ lý đơn thưa của Tàu thì vụ việc cũng phải qua ba năm mới hoàn tất hồ sơ, mới kết thúc vòng điều tra và mới đưa ra xét xử. Lúc đó liệu Tàu có còn khỏe mạnh để lết xác ra đến tòa sau những đòn tấn công càng lúc càng sấm sét của Trump.

Chưa nói là Trump đã đi trước quá nhiều nước cờ, đã hù dọa sẽ rút ra khỏi WTO và quan trọng là đã dùng dằng từ 2 năm qua vẫn chưa bổ nhiệm thẩm phán cho tòa trọng tài WTO, mà tòa nầy chưa có thẩm phán của Mỹ thì chẳng xét xử được ai.

Rồi khi đưa ra xét xử, một quốc gia như Tàu với tiền sử quá nhiều vi phạm, chẳng bao giờ xem luật lệ quốc tế và các phán quyết quốc tế ra gì liệu có được xử thắng. 

Sau khi nịnh nọt Mỹ và cam kết mọi điều với quốc để vào được WTO từ năm 2001 đến bây giờ, Tàu cộng gian manh chưa bao giờ thực hiện những gì đã cam kết. Không nhân quyền, không công đoàn độc lập, không bảo vệ người lao động. Vẫn tiếp tục quốc doanh là chủ đạo, vẫn định hướng XHCN, vẫn đàn áp khốc liệt nhân dân Tây Tạng, Tân Cương, vẫn đàn áp biểu tình ở Hồng Công. Sau 17 năm vào WTO vẫn chưa được công nhận kinh tế thị trường.

Tàu cộng cũng chưa bao giờ xem phán quyết của tòa quốc tế ra kí lô gì. Khi bị Philippin kiện ra tòa vì cưỡng chiếm biển Đông, không thèm dự. Khi tòa phán thua kiện không thèm chấp hành.

Bỏ qua mọi luật lệ quốc tế, tuyên bố cưỡng đoạt toàn bộ biển Đông, cơi nới và xây dựng sai trái các đảo chiếm trái phép của VN ở Trường Sa, ngang nhiên quân sự hóa các đảo nầy.

Một quốc gia như vậy mà bây giờ phải đành muối mặt lên tiếng kêu gọi công lý bảo vệ mình. lên tiếng kêu gọi các quốc gia trên thế giới ủng hộ mình, đòi hỏi tổ chức quốc tế WTO bảo vệ mình.

Quốc gia nào ủng hộ Tàu? Đồng chí bốn tốt Việt Nam ư? 

Cùng đường rồi nên trở thành China Oan Quốc là cái chắc.

Nói cho vui thôi, cũng chẳng oan gì, xứng đáng bị như vậy.

Đây là bài học mà những quốc gia gian manh khác cần rút ra để sống đàng hoàng với thế giới, trước mắt là phải thành thật thực hiện những gì đã cam kết.

LET’S SMILE!

Diep Nong is feeling happy.
LET’S SMILE!

Mỗi buổi tối trước khi đi ngũ, bạn có được một nụ hôn nhẹ lên má, hay một vòng tay âu yếm quàng qua bờ vai: hạnh phúc ấy thật ấm áp vô cùng.

Nhưng, nếu không có, không sao cả nhé bạn! Bạn hãy mở TV ra xem tin tức, xem một phát minh mới toanh đến dị thuờng, một chiếc áo fashion đẹp tuyệt trần, nghe nàng ca sỹ có nét quyến rũ ma mị cất giọng liêu trai hát những bài hát làm hồn ta say đắm, rồi mới vào cái giường thơm tho, kéo chăn ấm áp lên để có một giắc ngũ say nồng…. Đấy cũng là hạnh phúc đó bạn ạ…

Buổi sớm mai, tiếng chim ríu rít ồn ơi là ồn ở ngoài góc vườn, rồi người hàng xóm nổ máy chiếc xe thật lớn để đi làm việc, có thêm tiếng cửa garage chạy nghe ken két, con chó kêu đói ư ử làm bạn tỉnh hẳn giấc… Đừng cáu gắt bạn tôi ơi! Đó cũng là hạnh phúc lắm mới nghe được những âm thanh ấy đấy…

Bạn hãy cười thật tươi với những người yêu thương quanh bạn. Những người bạn nước da đen đủi vì dầm mưa dải nắng mà đầy chân tình, những người bạn từ thuở niên thiếu, những người bạn mới quen, ngay cả những người rất ganh ghét với bạn, hãy cười vui như chưa bao giờ vui được như thế! Bạn có biết ngày mai rồi sẽ ra sao? Phát hiện mình bị bệnh nan y thời kỳ cuối? Một khối u trong não? Một cơn đau tim bất chợt? Một cơn giông bão ghê gớm tràn về?….

Hôm nay, bạn đang sở hữu một sự sống, một sức khỏe mà có biết bao nhiêu người không có, hay đang chiến đấu từng ngày, từng giờ để giữ được nó. Vậy là bạn đã có hạnh phúc hơn nhiều người lắm rồi đấy!

Hãy cười vui lên, hãy nói những lời nói yêu thương với người mình thương ngay hôm nay, đừng chần chờ, bạn nhé.

DN

CỔ ĐỘNG VIÊN TUYỆT VỜI!

Thuong Phan and 2 others shared a post.
Image may contain: 1 person, sitting
Image may contain: 1 person, smiling, standing, child and outdoor
Image may contain: 13 people, people smiling, crowd
Image may contain: crowd and outdoor
Image may contain: 3 people, people smiling

Đạt Tiến Nguyễn

CỔ ĐỘNG VIÊN TUYỆT VỜI!

Đất nước Croatia có khoảng hơn 4 triệu dân và đã từng bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cộng sản, nhưng may mắn là Croatia đã sớm thoát khỏi chế độ cộng sản và chuyển sang chế độ dân chủ để khôi phục lại các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Cho đến thời điểm hiện tại thì đội bóng đá của Croatia đã vào tới trận chung kết của World Cup 2018, nhưng không thấy có tình trạng các cổ động viên cởi quần, cởi áo và khỏa thân chạy trên đường phố như ở Việt Nam mà chỉ thấy các cổ động viên Croatia ca hát và cầu nguyện.

Theo quan sát thì thấy huấn luyện viên, các cầu thủ và cổ động viên của Croatia đã không ngừng câu nguyện trong suốt kỳ World Cup. Thậm chí là huấn luyện viên đội bóng Croatia đã không ngần ngại tiết lộ là ông đã lần chuỗi mân côi hàng ngày cho đội tuyển bóng đá Croatia.

Phải chăng Việt Nam cần phải nhanh chóng thoát khỏi chế độ cộng sản và chuyển sang chế độ dân chủ để khôi phục lại các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc như Croatia?

“Xưa anh là kẻ nghiện sông hồ,”

Suy Tư Chúa nhật thứ 15 thường niên năm B 15/7/2018

(Mc 6: 7-13)

Người gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trừ quỷ.  Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. Người bảo các ông: “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.” Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.

 & & &

“Xưa anh là kẻ nghiện sông hồ,”

“Đây đó lan dài gót lãng du”

(dẫn từ thơ Nguyễn Bính)

Gót lãng du, có là gót giày nện của nhà thơ đi đây đó? Nghiện sông hồ, có là nỗi niềm của người anh, lâu rày đó đây, xuất hiện ở bầu trời nhiều dấn bước theo chân Chúa, rất lâu ngày chăng?

Trình thuật thánh Máccô, nay kể về sinh hoạt của các vị thánh bước theo chân Thày, hăng say mục vụ tiếp nối công trình của Chúa ở Nam Galilê. Các ngài là nhóm tông đồ đa năng, đa dạng. Có người có gốc nguồn từ xứ miền Hy Lạp như thánh Philipphê, Anrê, còn lại là người Do thái như thánh Giacôbê, Batôlômêô, Tađêô, Simôn, vv. Các đấng bậc thuộc nhóm tuyển không giỏi về học thức, cũng chẳng đạo đức như đấng bậc khắc kỷ/khổ tu, nhưng lại hân hạnh được đi theo Đấng Ngôn Sứ luôn di chuyển. Các thánh được chuẩn bị dứt đoạn với gia đình, giòng họ, xã hội cùng chòm xóm và quyết tận hiến cho Ngài.

Một số vị như thánh Tađêo, ta được biết chỉ danh tánh, mà thôi. Còn thánh Phêrô, Giacôbê vẫn nổi danh là lãnh tụ nhà Đạo ở thế kỷ đầu. Cũng tựa như Đức Giêsu, thánh Phêrô không để lại bút tích nào để thế hệ sau này theo đó mà biết rõ. Riêng thánh Phêrô lại đã trao quyền quản cai hội thánh ở Giêrusalem cho thánh Giacôbê để đích thân khơi mào sứ vụ đặc biệt cho dân ngoại ở Syria. Các đấng bậc trổi trang về thừa sai/mục vụ phải kể đến là thánh Phaolô từng sống cùng thời với Chúa, nhưng chưa một lần giáp mặt Ngài. Thánh Phalolô cũng là tông đồ đắc lực của Chúa nhưng thánh nhân lại không ở trong cùng nhóm Mười Hai. Trái lại, thánh nhân từng bách hại người của Chúa và cuối cùng lại đã trở thành tông đồ đắc lực hơn cả. Các tông đồ của Chúa đều có chung một đặc điểm là hết lòng tin tưởng vào Thày Chí Thánh đáp lại lời kêu gọi mọi người cùng hợp tác trong rao giảng Tin Mừng.

Thật ra, có ba nhóm tông đồ gần cận Chúa hoạt động theo kiểu vòng tròn khép kín gồm các bậc vị vọng sinh hoạt rất đắc lực. Nhóm đầu là nhóm 12. Nhóm thứ hai gồm các nữ phụ, trong đó có Maria Mađalêna, chị em nhà Lazarô ở Bêthania, cùng Joanna vợ của Chuza (thượng thư của Hêrôđê), cả Maria mẹ của thánh Giacôbê nữa. Viết Tin Mừng, các thánh sử chăm chút ghi tên các nữ phụ này và coi các bà là người theo Chúa hầu để được sẻ san lời Ngài dạy và giúp chất liệu cho thế hệ nối tiếp phục vụ Hội thánh.

Các bà là những người vẫn quẩn-quanh bên Chúa khi Ngài dấn bước vào chốn khổ hình của thập tự. Và, các bà còn là chứng-nhân đầu hiện diện ở mộ phần ngay vào lúc Chúa sống lại. Trong lúc ấy, nhóm 12 lại cứ lánh mặt vì hãi sợ, chủ bại. Với người cùng thời với Chúa, sự cộng tác của bậc nữ lưu dám để chồng ở lại nhà mà theo Chúa, đã gây tai tiếng không ít cho người ngoài cuộc. Nhưng Chúa đi ngược lại qui ước vẫn có ở xã hội thời Ngài sống.

Nhóm thứ ba, là các vị có cảm tình với công trình của Chúa thi thoảng mới tham gia sinh hoạt để giúp Chúa, thôi. Các vị nổi danh như: Ladarô, Nicôđêmô, Zakê, Giuse thành Arimathêa, đều là đấng bậc không rời bỏ gia đình và xã hội mà các vị đang sống, mà chỉ phụ giúp Chúa một đôi lúc, thôi.     

Tuy các bậc nữ lưu trên, tuy đã thực hiện công việc thừa-tác cho Chúa là thế, nhưng vẫn không được Hội thánh gọi là “tông đồ” bao giờ hết. Lý do là bởi, cụm từ “tông đồ” bên tiếng Do thái có nghĩa “tamid” hoặc “tamilda” tiếng Aram, không phải là giống cái. Tự vựng Aram không có từ “tông đồ nữ” và cũng chẳng có danh từ “nữ phụ làm tông đồ” để đối chọi với từ nam tông-đồ được sử dụng rộng rãi trong văn chương chữ viết của Do thái. Tuy nhiên, với cộng đoàn Phaolô, nữ giới vẫn đồng quyền về mọi mặt với nam nhân, từ việc nguyện cầu cho đến nghi tiết phụng vụ hoặc mọi công tác được ngôn sứ thi hành.

Thời thánh Phaolô đến mãi về sau, nhóm 12 lại đã trở nên thành-phần quan trọng không thể thiếu trong Đạo. Tuy nhiên, vai trò của các ngài chỉ mang tính tượng trưng rất tri thức chứ không có thực lực ở xã hội ngoài đời. Cộng đồng người Do thái gồm tất cả 12 chi tộc phân tán rộng, trong khi đó nhóm 12 lại vỏn vẹn chỉ gồm 12 vị chuyên chăm hỗ trợ cho thánh hội ngõ hầu giúp duy trì quyền thừa kế Chúa hứa ban cho dân Ngài. Xem thế thì, nhóm 12 lại đã tượng trưng cho cộng đồng dân tộc theo cung cách thu nhỏ kiểu “bỏ túi”, khá vi mô.

Ý Chúa chỉ muốn thế. Ngài chủ trương tái tạo Israel gồm chỉ 12 chi tộc gọn nhẹ. Và, Ngài những muốn cải tổ niềm tin ở dân con mọi người, khởi từ nhóm 12 được tuyển chọn, giống hệt đất nước Israel nhờ vào ân huệ trinh trong, cô đọng. Chúa đã sai nhóm 12 của Ngài đi khắp chốn để truyền rao Tin Mừng Ngài đem đến; nhưng, các thánh cũng chẳng đi đâu thật xa, mà vẫn chỉ khu vực gần cận thôn làng bé nhỏ quê miền đồng nội có người địa phương thân thương sống quẩn-quanh đây đó qua nếp sống cơ bản theo khuôn thước xã hội vùng Địa Trung Hải thời cổ xưa.

Nói chung thì, các thôn làng nơi đó chỉ là khu chung sống rất bé nhỏ thật vắng lặng, chứ không là chốn thị thành phồn hoa phức tạp, đầy kích bốc. Các thôn làng nơi đó, chẳng có cao ốc với hội đường gì trổi bật nhưng các ngài vẫn đến tụ tập đều đặn, ít là vào ngày Sabát. Quây quần nơi phố chợ hoặc khu vực râm mát có cơ ngơi chỉ gồm những người gần gũi/thân quen thôi. Ai nấy quây quần quyết xây dựng một cộng đoàn mang tinh thần giao hoà mộng ước, rất phải lẽ.

Đức Giêsu chẳng hề khuyên bảo đồ đệ Ngài phải dựng xây tinh thần một Israel mới -mẻ như những hội thiện nguyện khác hẳn cộng đoàn. Bởi nơi đó, đã có sẵn cộng đoàn từng hoạt động hệt như thế. Ngài không thôi thúc dân con mọi người hãy rời bỏ gia đình mà đến với làng mạc rày đây mai đó thành đám du mục chẳng định hướng. Ngài không đòi họ tập trung sinh sống theo cung cách riêng tư cá thể. Nhưng, theo từng nhóm nhỏ cộng đoàn như ta thấy. Ngài không muốn mọi người sống chuyên chăm nhiệm nhặt, tức chẳng để tâm gì về thể chất, xác phàm. Điều Ngài bận tâm là dạy họ biết lắng tai nghe sứ điệp cần thiết để được chữa lành, thứ tha và về với quyết tâm đổi mới cuộc đời. Ngài muốn dân con của Ngài kiến tạo một Israel thực sự đổi mới con người mình.

Quê nhà, họ trở về cũng sẽ là các khu vực gần cận bên nhau. Chính vì gần cận, nên phần đông trong họ sẽ đi vào quan hệ mật thiết như người gần gũi rất thân quen. Mỗi làng/xã sẽ sinh hoạt theo kiểu riêng tư dễ phân biệt, ngoại trừ những khủng hoảng liên quan đến tình trạng của đất nước họ. Thật khó cho người ở ngoài chịu trở về sống ở thôn làng nơi mà người cùng làng lại xử sự cách khác nhưng đôn hậu, mật thiết. Muốn được thế, người người phải tham gia nhập cư theo cung cách hiền hoà, phải lẽ. Chính đó là ý Chúa muốn sai phái đồ đệ ra đi từng nhóm đến với thôn làng để các ngài không bị ai ám hại, hoặc gây khó. Đằng khác, đi từng cặp, cũng để thực hiện sứ vụ thừa sai cho dễ hơn là chỉ một mình đơn độc, không người giúp.

Ra đi về với thôn làng hiền lành, các thánh được dặn không mang theo cơm áo, gạo tiền. Cũng chẳng bận tâm chuyện sửa soạn giày dép, áo mão hoặc gậy gộc dù đi xa. Nhưng vẫn gọn nhẹ. Giản đơn. Đi như thế, mới giống cung cách của người túng thiếu/nghèo hèn, ở trong huyện. Chẳng khó dễ, cũng chẳng gây trở ngại cho ai, dù người ấy có là giới cầm quyền hoặc những vị chỉ tính chuyện tranh giành, chấp nhất. Lệ làng về tính hiếu khách sẽ là kim chỉ nam giúp các thánh thực hiện tính giản đơn, hèn mọn, không câu nệ. Nhất nhất nơi nào các thánh đến, cũng không dừng lại lâu. Không đi quanh quất/khất thực, mất thể diện. Và, chỉ chấp nhận những gì người nhà bố thí cho ăn mặc mà thôi. Nói chung, các thánh vẫn phải ăn ở hiền lành, cư xử cho phải phép cả với người hiếu khách, lẫn kẻ ngược ngạo, bạo hành.

Đến đâu, các ngài cũng nên chuyện trò thân mật. Kể cho nhau nghe những việc được Chúa quan tâm dạy bảo; nếu cần, phải chữa lành và tha thứ theo cách thế hiền từ Thày từng làm mẫu. Và, việc chữa lành Chúa dặn, cần được tiếp tục và hành xử đầy lòng tha thứ, để người người có cơ hội gần cận Chúa. Làm như thế, mới chứng tỏ được rằng: Nước Trời đã đến với thôn làng bé nhỏ để người người hoàn thiện cuộc sống, như Chúa muốn.

Trình thuật thánh Máccô kể hôm nay, được đặt chung với trình thuật về cuộc đời hoạt động công khai của Chúa quyết đổi mới Israel như Hội thánh Nước Trời, theo ý Chúa. Áp dụng vào với thánh hội thời hiện tại, thật cũng khó. Khó, là bởi các đấng bậc chủ quản hôm nay, vẫn tự hào mình là các đấng bậc kế vị nhóm 12, nhưng lại không dám rời bỏ của cải, bạc tiền cùng những thứ xa hoa, lộng lẫy để về sống đời chân chất, mọn hèn. Vấn đề đặt ra cho các đấng bậc đang chủ trì Hội thánh hôm nay, là: làm sao sống giản dị như Thày mình đòi hỏi. Có thế, mới yêu cầu mọi người sống như mình.

Tuy là khó, nhưng không có nghĩa là thánh hội mình không có lối thoát để bắt chước Chúa và nhóm 12 chấp nhận sống bình dị như người thường ở huyện. Tức, không giàu và cũng chẳng sang, chỉ làng nhàng đủ sống. Tức, sống dễ dàng, không áp đặt cấu trúc/luật lệ nào cầu kỳ, bắt buộc phải phấn đấu. Nhưng, quyết áp dụng nguyên tắc nhập thế và nhập thể, hầu chịu hạ mình xuống để sống hoà đồng cùng các người em mọn hèn, ở trần thế. Để được thế, Hội thánh hôm nay còn phải ngang qua nhiều hành trình xuyên suốt, rất quyết tâm.

Trình thuật theo thánh Máccô hôm nay sẽ là khởi điểm với đầy quyết tâm như thế. Quyết tâm dấn bước. Vui vẻ chấp nhận đời bình dị của người bình thường ở huyện, chốn thấp hèn. Để rồi, thánh hội mình dám xác chứng với người bình thường ở mọi nơi rằng: họ mới là dân con thực thụ, của Đức Chúa.

Trong tâm tình đó, có lẽ cũng nên ngâm tiếp lời thơ vừa khởi xướng rất như trên, rằng:

“Xưa anh là kẻ nghiện sông hồ.

Đây, đó, lan dài gót lãng du.

Về, chẳng có kỳ, đi chẳng hẹn.

Như, mây mùa thu, lá mùa thu.”

(Nguyễn Bính – Chú Rể Là Anh)

Là anh hay em, cũng một chú rể bình dị ở huyện nhà. Là, kẻ những “nghiện sông hồ”, “đây, đó, lan dài gót lãng du” rất mùa thu. Mùa, của những đi mà không hẹn. Về, cũng chẳng kỳ hạn. Vẫn ra đi dựng xây thánh Hội giản đơn. Bình dị, lành thánh. Tuy rất nghèo hèn, nhưng hạnh ngộ.          

                         Lm Kevin O’Shea DCCT biên soạn – 

 Mai Tá lược dịch

“Ðã có những lúc chán chường “

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 15 Thường niên năm B 15-7-2018

“Ðã có những lúc chán chường “
Chán cho đời sao buồn quá.
Mắt có những lúc đã hoen mờ,
Vì sầu không đâu, không tên.”

(Văn Phụng – Chán nản)

 (Thư Philípphê 1: 7-10)

 Chán nản lắm ư? Chán hết mọi chuyện trên đời, hay chỉ “chán cho đời sao buồn quá” hoặc chán chết, hết mọi chuyện? Thế, bạn và tôi có chán cả câu truyện kể rất đáng chán như bên dưới:

“Có lần, hai nhân viên thuộc công-ty khí đốt nọ, một người đã lớn tuổi, người kia hãy còn trẻ đang đi kiểm tra tình hình thời sự ở vùng ngoại ô nọ. Hai vị đỗ xe ở cuối đường rồi đi bộ đến xem từng nhà một. Sau khi kiểm tra khí đốt ở căn nhà cuối đường xong, nhân viên lớn tuổi đề-nghị chạy đua về chỗ đỗ xe với người trẻ tuổi để chứng-tỏ là ai khoẻ hơn ai.

 Trong khi chạy hết tốc-lực đễn chỗ đỗ xe họ bỗng thấy người đàn bà ở căn nhà mà họ mới vừa ra khỏi cũng đang hộc tốc chạy theo sau, vừa thở vừa la ơi ới. Hai người bèn dừng lại xem chuyện gì xảy ra mà bà la to thế:

-Có chuyện gì thế, thưa bà?

-Chúa, Phật ơi! Tôi cũng đang tự hỏi xem có chuyện gì xảy ra mà hai ông chạy bán sống bán chết đến như thế. Khi thấy hai ông tự dung chạy trối chết như thế, tôi bèn nghĩ: hay hơn hết, tôi cũng nên chạy theo xem có chuyện gì xấu không? Thì ra, chả có chuyện gì cả. Thật rõ chán.” (Truyện do St kể)

À thì ra, “chả có chuyện gì cả, thật rõ chán!” đúng là câu nói cửa miệng của nhiều người, suốt một đời.  Thế nhưng, đời người còn chán hơn nhiều giả như ta gặp đủ thứ người hoặc đủ thứ chuyện, mà người nào, chuyện gì cũng đều “chán như cơm nếp nát”, hết mọi sự. Bạn không tin như thế ư? Thì đây, mời bạn và tôi, ta nghe thêm một truyện kể khác, cũng rất ư là “chán mớ đời”, sau đây:

“Truyện rằng,

Trong khách sạn lớn thuộc hạng sang ở thành-phố, có bà khách đi thang máy thấy anh gác thang suốt ngày cứ đứng lên ngồi xuống mở cửa đóng cửa cho khách trú ngụ, rất ư là đáng chán, bèn buông lửng một câu hỏi nhỏ, rằng:

-Lên lên xuống xuống mãi thế này, anh có thấy chán hoặc nản lắm không?

-Dạ thưa không. Nghề của con mà, thím.

-Lên nhiều mới chán vì mệt chứ đi xuống thì có gì đâu mà phải phàn nàn, đúng thế phải không?

-Dạ thưa không phải thế.

-Thế thì, xuống nhiều mới chán chứ gì?

-Dạ cũng không phải thế.

-Thế thì khi nào anh thấy chán chường nhất?

-Dạ, khi gặp phải các cụ, cứ là hỏi mãi có một chuyện không biết chán, ạ!”(Truyện kể nghe đến chán nhưng vẫn kể)

Quả có thế. Việc gì, cứ lặp đi lặp lại nhiều lần cũng đều đáng chán hết. Chí ít, là viết phiếm, viết bài hoài hoài đến …chán chết. Vâng. Nội mỗi tự vựng “Chán chết” thôi, cũng hàm ngụ đủ thứ chuyện ở trong đó. Có khi là, “chán đến chết”. Có lúc, là: “chán muốn chết”. Ấy chết, lại nói gì thế? Chán đến độ muốn chết sao? Thế, bạn có cam đoan rằng: chết rồi hết chán không? Cái đó, xin hạ hồi phân giải. Nay, ta bàn chuyện rất “đáng chán”, nhưng không thể làm khác được. Đó là, phiếm luận hay phiếm loạn, cho giải cơn sầu/buồn đến chán ngán, hôm nay hoặc mai rày.

Vâng. Không gì đáng chán và phát chán, như việc bàn mãi chuyện thần-học, hoặc học về thần riết rồi cũng nản, hết muốn viết tiếp. Như, tâm trạng của bần đạo ở đây bây giờ. Thôi thì, chỉ xin nói thêm một sự với bạn, rằng thì là: không bàn chuyện thần-học thì mấy cha, mấy nội bàn chuyện gì bây giờ? Luân lý, đạo đức hoặc tu-đức, tu tỉnh với tỉnh tu đâu cơ chứ?

Vậy thì, mời bạn, và mời tôi ta nhập cuộc. Thế nhưng, trước khi đi vào cuộc, hãy để lòng mình trùng xuống với tâm tư, tình-tự của bài hát “chán chường” mà nghe tiếp những lời như:

    Tay đôi tay yếu đuối, dâng lên chới với giữa trời.
Than van cho thân kiếp đoạ đày.
Đời bao xót xa. Nhìn lá rơi, mùa Thu chết rồi!
Gió gió cứ rít lên. Xuyên qua tim tôi. Xuyên qua làn môi.
Gió gió đã cuốn đi Bao nhiêu ước mơ – Ôi, xa vời!
Sóng sóng đã cuốn đi. Cuộc đời tốt tươi.
Buồn ơi, chán ơi!

Ðã có những lúc chán chường. Chán cho đời sao buồn quá.
Mắt có những lúc đã hoen mờ. Vì sầu không đâu, không tên.
Tay đôi tay yếu đuối. Dâng lên chới với giữa trời.

Than van cho thân kiếp đoạ đày.
Đời bao xót xa.
Nhìn lá rơi, mùa Thu chết rồi!
Gió gió cứ rít lên. Xuyên qua tim tôi.
Xuyên qua làn môi. Gió gió đã cuốn đi
Bao nhiêu ước mơ – Ôi, xa vời!
Sóng sóng đã cuốn đi Cuộc đời tốt tươi
Buồn ơi, chán ơi!

(Văn Phụng – bđd)

Như đã kể, còn gì chán ngán cho bằng, ở nhà Đạo, lại cũng thấy những giây phút chán ngán, chán nản khi có người viết thư về hỏi đấng bậc, nhưng câu như:

“Thưa Cha,

Con vẫn hiểu là Đức Giáo Hoàng Phanxicô có lần bảo rằng: Hỏa ngục không có thật và linh-hồn của những người từng chối bỏ Chúa, cuối cùng rồi cũng biến mất. Thưa, có thật là Đức Giáo Hoàng từng nói thế không?”

 Đúng ra, bổn đạo nói trên phải hỏi là Đức Giáo Hoàng có ý gì khi nói thế, mới ra nhẽ. Thôi thì, hỏi thế nào thì hỏi. Đấng bậc vị vọng nhà Đạo cũng xung phong giải đáp thắc mắc, cho ngọn ngành để bá quan văn võ trong Đạo hiểu được ý của Đấng bậc rất trên cao. Và câu trả lời, được ghi như thế này:

“Có điều khá chắc chắn là: Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã không nói điều đó. Giống như mọi Kitô-hữu, ngài cũng tin vào hỏa-ngục và lâu nay ngài nói về chuyện ấy một vài lần trong thời gian năm năm trên cương-vị một Giáo-chủ.

 Sự thể về câu nói vốn dĩ làm nhiều người hiểu lầm, là do vị ký-giả hồi hưu nay đã 93 tuổi đời, trước đây ông từng là tổng-biên-tập tờ La Republica và tuyên-bố mình vô thần vốn dĩ là bạn thân của Đức Giáo Hoàng.

 Trong buổi bàn luận với Đức Thánh Cha Phanxicô xảy ra hồi gần đây, cụ ông Scalofari có viết trên báo vào ngày 28/3/2018 rằng: Đức Giáo Hoàng có nói với cụ là: “Hỏa ngục không có thật”, thế nên linh-hồn của những ai chối bỏ Chúa vào cuối đời mình thì cũng chỉ chấm-dứt hiện-hữu, thôi.        

 Theo ông Greg Burke là phát-ngôn-viên tòa thánh Vaticăng thì Đức Giáo Hoàng Phanxicô “có mời ông đến bàn chuyện nhân mùa Phục Sinh”, nhưng buổi này nhất quyết không phải là buổi phỏng-vấn chính-thức như các lần trước. 

Các lần phỏng vấn Đức Giáo Hoàng trước đây, vào năm 2013 và 2015, cụ Scalfari đã không ghi chú và cũng chẳng thu băng điều gì, nên về sau buộc phải viết lại những lời đối-đáp dựa nhiều vào trí nhớ, và lần này cũng thế.

 Thực tế cho thấy, Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng đã nhiều lần đề-cập đến Hỏa ngục. Có lần, vào năm 2014, để cảnh-giác nhóm Mafia băng-đảng, Đức Giáo-Hoàng có nói: “Hãy hồi hướng trở về! Nay, vẫn còn nhiều thời-gian để rồi không ai phải rơi xuống chốn lửa ngục. Đó là những gì đang chờ đón quí vị nếu quí vị cứ tiếp tục theo con đường này. Bà con, ai cũng có cha có mẹ: hãy nghĩ đến các ngài, Hãy khóc lên một tiếng rồi hồi hướng trở về.”

 Và rồi, trong tông-thư ngài viết vào Mùa Chay năm 2016, ngài có viết: “mối hiểm-nguy vẫn còn đó, chỉ cần liên-tục chối bỏ không mở rộng cửa tâm-hồn cho Đức Kitô đang gõ vào cửa ngõ của người nghèo, thì người tự-hào, giàu sang và quyền-thế rồi kết cục cũng sẽ tự lên án chính mình và sẽ đầm mình trong vực thẳm đầy cô-đơn tức Hỏa-ngục.”

 Giáo-huấn Hội thánh về Hỏa ngục vẫn còn đó, nói rất rõ. Trong Sách Giáo lý Hội thánh Công-giáo, ta đọc được những giòng chữ như: “Ai chết với tội trọng mà không chịu hối-cải cùng chấp-nhận tình thương nhân-lành của Chúa có nghĩa là cứ ở lại mãi trong sự chia cách tách rời họ mãi do mình tự-do chọn lựa. Tình-trạng tự tách rời khỏi sự kết-hợp mật-thiết với Chúa và những vị lành thánh gọi là ‘Hỏa ngục’. (Sách Giáo Lý Hội thánh Công giáo đoạn 1033). Sách Giáo lý còn tiếp tục dạy: “Giáo-huấn Hội-thánh khẳng-định sự hiện-hữu vô cùng vô tận của Hỏa ngục.” (GLHTCG đoạn 1035)

 Thành ra, Hỏa ngục là có thật. Và chắc chắn một điều, là: không phải Chúa tống khứ con người xuống Hỏa ngục nhưng đúng hơn, chính những ai từ chối không nhận-lãnh tình thương của Chúa a vì thế mới chối bỏ Chúa và ở lại mãi trong tình-cảnh rời xa Ngài mãi mãi do chính những người ấy tự chọn.

 Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô thứ 16 cũng bình-luận, bảo rằng: “Trong trường hợp nào đi nữa, Thiên-Chúa không bao giờ thúc ép một ai vào con đường cứu-độ. Chúa chấp-nhận tự do của con người. Ngài không là phù-thủy chỉ biết mỗi việc cuối cùng rồi ra cũng xóa bỏ mọi sự vẫn xảy ra lâu nay rồi cuối cùng cũng đem đến cho mọi người mối phúc-hạnh họ trông chờ.

 “Thiên-Chúa đích-thực là người Cha, là Đấng Tạo Hóa ban phát tự do cho mọi người, cả khi họ sử-dụng nó để chống lại Ngài. Vì lý do đó, mà lòng Ngài luôn muốn cứu rỗi con người, nhưng điều này không có nghĩa là Ngài can-dự vào việc cứu hết mọi người. Ngài ban cho ta quyền chối-bỏ lòng tốt của Ngài. Thiên-Chúa thương yêu ta; nên ta chỉ cần tỏ ra khiêm hạ để cho phéo Ngài yêu thương mình, là đủ.” (X. God is Near Us, Ignatius 2003, tr. 36-37)…

Thành thử, ta hãy lợi-dụng những lúc người đời tung ra những “tin thất thiệt” sai sự thật, để nói chuyện với người khác về Hỏa ngục. Càng nói nhiều càng tốt. Với ta, chưa bao giờ là cơ hội thuận-tiện để bàn bạc về Thiên-đàng và Hỏa ngục, bằng lúc này đây.” (X. Lm John Flader, “Francis takes Hell deadly seriously: bank on it”, The Catholic Weekly 15/4/2018 tr. 21)

Có tranh-luận về nỗi chán chường, hoặc như đấng bậc nhà Đạo gọi là “Hỏa ngục” nơi con người, rồi ra cũng chẳng thuyết phục được mấy ai. Bởi, mỗi người trong cương-vị của mình, ít nhiều đều đã có kinh-nghiệm bản thân về những điều như thế. Thế nên, thay vì cãi/tranh dài dòng đến vô tận, thì bạn và tôi cũng nên quay về với lời ca ở trên để cùng cảm-tức những tình-tự của người viết mà thấm-thía.

Hôm nay hoặc mai rày trong cõi đời trải dài nhiều lữ-thứ, cũng không nên để tâm nhiều đến những biện-luận chỉ khiến người viết và/hoặc người đọc ngày thêm xa lánh, tránh mặt nhau. Chi bằng, ta cứ hát lên lời ca trên, để rồi hòa cùng một nhịp với tác-giả bài rất lao xao, rộn rạo như sau:

“Đời bao xót xa.
Nhìn lá rơi, mùa Thu chết rồi!
Gió gió cứ rít lên. Xuyên qua tim tôi.
Xuyên qua làn môi. Gió gió đã cuốn đi
Bao nhiêu ước mơ – Ôi, xa vời!
Sóng sóng đã cuốn đi. Cuộc đời tốt tươi
Buồn ơi, chán ơi!

(Văn Phụng – bđd)

Bạn và tôi, chắc cũng như mọi người đều biết: nhạc-sĩ Văn Phụng là tác-giả chuyên viết nhạc vui để mọi người quên nỗi chán chường của cuộc đời. Hôm nay đây, sở dĩ ông viết những giòng thơ đầy ý nhạc lã chã buồn như thế, cũng chỉ để an ủi bạn và tôi, trong chuỗi ngày dài nhiều nghĩ suy về cuộc đời, mà thôi.          

Nhận định thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta quay về vườn thượng-uyển với lời vàng của bậc thánh-hiền chứa đựng nhiều niềm vui hơn, như sau:

“Tôi có những tâm tình như thế đối với tất cả anh em,

đó là điều hợp lý,

bởi vì tôi mang anh em trong lòng tôi.

Khi tôi bị xiềng xích,

cũng như lúc tôi bênh vực và củng cố Tin Mừng,

anh em đều thông phần vào ân sủng tôi đã nhận được.

Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi:

tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả,

với tình thương của Đức Kitô Giêsu.

Điều tôi khẩn khoản nài xin,

là cho lòng mến của anh em ngày thêm dồi dào,

khiến anh em được ơn hiểu biết và tài trực giác siêu nhiên,

để nhận ra cái gì là tốt hơn.

Tôi cũng xin cho anh em được nên tinh tuyền

và không làm gì đáng trách,

trong khi chờ đợi ngày Đức Kitô quang lâm.

(Thư Phillíphê 1: 7-10)      

 Trần Ngọc Mười Hai

Nay nhất quyết

không hát nhạc buồn nhiều chán ngán

của bất cứ ai đang buồn chán

chốn nợ đời

mà thôi.

LOAN BÁO TIN MỪNG

LOAN BÁO TIN MỪNG

Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam ghi lại tên tuổi hai vị giáo sĩ truyền giáo nổi tiếng: Đức Cha Lambert de la Motte và Đức Cha Francois Pallu.  Vào thế kỷ 17, Toà Thánh đã đặt hai giám mục này làm Giám Quản Tông Toà đầu tiên ở Việt Nam: Đức Cha Lambert de la Motte phụ trách Đàng Trong (từ sông Gianh trở vào Nam) kiêm Camquchia, Lào, Thái Lan. Đức Cha Francois Pallu phụ trách Đàng Ngoài (từ sông Gianh trở ra Bắc) kiêm Trung Quốc.

 Đức Cha Francois Pallu là người pháp, từ bỏ gia đình và quê hương vào ngày 3.1.1662, ngài dùng tàu buồm vượt qua Địa Trung Hải rồi men theo đường bộ một thời gian lâu dài, qua hết các nước Trung Đông, Vịnh Ba Tư, Ấn Độ mới đến Thái Lan.  Năm 1670, trên đường đến miền Bắc Việt Nam, lúc đi ngang qua Huế, thuyền của ngài bị một cơn bão đánh giạt vào Philippin.  Ngài bị người Tây Ban Nha bắt bỏ tù rồi đem giải về Tây Ban Nha.  Với sự can thiệp của Toà Thánh, Tây Ban Nha trả tự do cho Đức Cha.  Tuy phải trải qua nhiều gian khổ, nhưng tim ngài vẫn luôn sáng chói một niềm hy vọng.  Ngài nói: “Tôi phải đem Tin Mừng đến tận Trung Quốc.”  Vừa được trả tự do, ngài tìm mọi cách đến Bắc Kinh, và cuối cùng thân xác ngài được chôn vùi tại đây theo như ngài mơ ước.  Một câu nói của ngài đáng cho chúng ta ghi nhớ: “Tôi tự cho mình hạnh phúc nếu có thể đem xương cốt mình bắc một nhịp cầu tới Bắc Việt và tới Trung Quốc!”

 *********************************

 Thưa anh chị em, cuộc đời truyền giáo của Đức Cha Francois Pallu tại đất nước ta cũng như biết bao nhà truyền giáo khác trên thế giới gắn liền với đời tông đồ và cái chết tử đạo của mười hai Tông Đồ.  Chính Chúa Giêsu tuyển chọn Nhóm Mười Hai để nhóm này ở lại bên Ngài và để được huấn luyện.  Mục tiêu của huấn luyện là để các ông trở nên những người được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa.  Ngay từ khi còn ở trần gian, Chúa Giêsu đã thấy mình đứng trước một cánh đồng mênh mông, có biết bao nhiêu người cần được nghe Tin Mừng cứu độ.  Ngài thấy mình cần những cộng tác viên nhiệt thành cho công cuộc truyền bá Tin Mừng.  Chúa Giêsu đã trao tất cả những gì mình có cho Nhóm Mười Hai: quyền rao giảng, chữa bệnh, trừ quỷ.  Hoạt động của các ông là một sự nối dài và mở rộng sứ vụ của mình Chúa Giêsu.

Chia tay Thầy Giêsu, Nhóm Mười Hai lên đường.  Đâu là hành trang của người tông đồ?  Chúa Giêsu trả lời: “Không được mang gì khi đi đường.”   Không bánh trái, không bao bì, không tiền bạc, không mặc hai áo.  Như thế, các ông lên đường với tất cả sự nhẹ nhàng.  Càng nhẹ nhàng thì càng dễ thi hành sứ mạng và càng được tự do hơn.  Tuy nhiên sự nhẹ nhàng này thật là một thách đố.  Khi người tông đồ phải lên đường với hai bàn tay trắng, không có lộ phí, không có lương thực dự trữ, lúc đó họ phải hoàn toàn lệ thuộc vào lòng nhân hậu của Thiên Chúa và lòng tốt của tha nhân.  Ra đi tay trắng như thế là chấp nhận mọi bất trắc có thể xẩy ra dọc đường, nhưng cũng là đặt mình thường xuyên dưới sự quan phòng của Chúa.  Chính Chúa lo mọi sự cho tôi, để tôi chuyên tâm lo việc của Chúa.  Sự an toàn của tôi không dựa vào những phương tiện trần thế, nhưng vào chính Thiên Chúa.

Chúa Giêsu cũng dạy cho các ông biết thái độ phải có khi đến với dân chúng.  Nếu được đón tiếp thì hãy ở lại, không tìm một nhà khác tiện nghi hơn.  Người tông đồ cần có đời sống nghèo, đón nhận những gì được trao cho mình với lòng biết ơn.  Nếu không được đón tiếp thì cũng không nên nản lòng.  Cử chỉ giũ chân ra đi cho thấy người tông đồ chẳng hề muốn lấy đi điều gì ở nơi đã từ chối đón tiếp mình.

Anh chị em thân mến, hôm nay, Chúa Giêsu Phục Sinh cũng sai chúng ta đến với thế giới.  Thế giới không phải là chuyện xa xôi.  Thế giới là nơi chúng ta đang sống, đang làm việc.  Thế giới là gia đình, bạn bè, là trường học, cơ quan, xí nghiệp.  Thế giới là nơi giải trí, nơi du lịch, bãi biển.  Thế giới là sách báo, phim ảnh, video, quảng cáo.  Thế giới là mọi ngành khoa học, nghệ thuật, văn chương.  Chúng ta ở trong thế giới và Chúa muốn sai chúng ta đi vào thế giới của mình trong tư cách là người Kitô hữu.  Kitô hữu là người có khả năng biến đổi thế giới mình đang sống để nó biến thành thế giới của Thiên Chúa.  Các Tông Đồ đã rao giảng, đã mời gọi con người hoán cải để đón nhận Nước Thiên Chúa gần bên.  Tất cả những gì phá huỷ phẩm giá con người, loại trừ sự sống của Thiên Chúa, đều phải bị loại trừ.  Kitô hữu là người phải hoán cải trước khi mời gọi người khác hoán cải, phải tỉnh thức trước khi đánh thức người khác, phải thuộc về Chúa trước khi trừ quỷ.

Thế giới hôm nay cũng là một thế giới bị thương tích, cần được chữa lành.  Bệnh tật của thân xác và bệnh tật của tinh thần vẫn hoành hành trên thế giới.  Con người đau khổ vì mất lòng tin, lo âu, tuyệt vọng.  Con người nô lệ cho chính những sản phẩm của mình.  Tiến bộ khoa học kỹ thuật lại đặt ra những vấn đề mới mà tự sức con người không giải quyết được.  Kitô hữu là người tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu, băng bó vết thương của thế giới bằng sự hiện diện đầy yêu thương.

Chúng ta không rõ nếu hôm nay Chúa Phục Sinh chỉ thị cho chúng ta, thì Ngài sẽ nói gì trước khi ngài sai chúng ta ra đi.  Chắc Ngài sẽ nói khác với đoạn Tin Mừng hôm nay, những ý chính vẫn không thay đổi.  Ngài dạy chúng ta tin cậy vào quyền năng của Thánh Linh hơn là vào khả năng và phương tiện tự nhiên của mình.  Ngài nhắc nhở chúng ta tín thác vào Cha trên trời, và chuyên cầu cầu nguyện, vì chẳng ai có thể rao giảng Tin Mừng nếu không có tình bạn thân thết với Chúa.

Mỗi Thánh Lễ Chúa Giêsu tập họp chúng ta lại thành một cộng đoàn môn đệ của Ngài, để rồi sai chúng ta ra đi loan truyền Tin Mừng Phục Sinh của Ngài cho mọi người ở mọi nơi.  Tin Mừng này chỉ có thể được công bố bằng cuộc sống làm chứng của mỗi người chúng ta và của Giáo Hội, một cuộc sống trung thành với Chúa Giêsu nghèo khó và chịu đóng đinh thập giá.  Đó là bằng chứng đáng tin của tình thương cứu độ mọi người.

Trích trong “Niềm Vui Chia Sẻ”