TẢN MẠN VỀ CỜ VÀNG

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh.

Có lẽ vì bài viết này mà Huỳnh Thục Vy bị nhà cai trị cưỡng bách bắt về đồn công an thị xã Buôn Hồ vào sáng hôm nay 09.08.2018 !?

TẢN MẠN VỀ CỜ VÀNG

Huỳnh Thục Vy

Tôi may áo dài, áo khoác, cà vạt với hình ảnh cờ vàng ba sọc đỏ để làm gì? May để bán. Mục tiêu của buôn bán là lợi nhuận, tất nhiên, đó là điều không thể chối cãi. Nhưng, là một người bảo vệ Nhân quyền và hoạt động xã hội dân sự, lợi nhuận không phải mục tiêu duy nhất của tôi. Thông thường, mỗi công việc của chúng ta thường nhắm đến không chỉ một, mà hai, ba mục tiêu.

Trước nay, lá cờ vàng ba sọc đỏ cũng như mọi biểu tượng khác liên quan đến Việt Nam Cộng Hoà đều là những thứ nhạy cảm, bị đưa ra ngoài vòng pháp luật một cách bất thành văn. Nói đến nó là nói đến công an và nhà tù.

Chúng ta, những người con Việt Nam còn giữ lòng xót xa cho mệnh người và vận nước chưa thể nào quên được một triệu quân cán chính Việt Nam cộng hoà đã phải trình diện chính quyền cộng sản và bị đày đi lao động khổ sai dưới cách gọi trịch thượng của chính quyền cộng sản là “lao động cải tạo” và đã có hàng trăm ngàn người lính Việt Nam Cộng Hoà không chết vì bom đạn chiến tranh mà chết vì bị tra tấn, đói khát, bệnh tật trong nhà tù cộng sản.

Chúng ta chưa thể quên một miền Nam tan hoang sau 1975 và lòng người dân miền Nam còn rỉ máu cho đến hôm nay. Chúng ta chưa thể quên những vết cắt sâu hoắm trong lòng dù vẫn dùng thời gian để bôi xoá nó.

Chúng ta chưa quên, vì sao? Vì chính những người cộng sản cho đến hôm nay vẫn cai trị toàn bộ Việt Nam với bộ máy chính quyền công an trị chà đạp Nhân quyền. Họ một mặt ca ngợi “Thống nhất” nhưng mặt khác vẫn ăn mừng Ba mươi tháng Tư. Họ rao giảng “hoà hợp” nhưng vẫn bắn đại bác vào quá khứ (cái quá khứ từng là tuổi trẻ, từng là sức sống, từng là niềm tự hào của hàng triệu con người). Họ thèm khát ngoại tệ của “khúc ruột ngàn dặm” nhưng lại luôn miệng nói về lịch sử với những từ như: nguỵ quân, nguỵ quyền. Họ nói về hoà bình nhưng vẫn giữ cách hành xử với người dân bằng bạo lực tàn ác. Họ tra tấn, bắt giam, khủng bố tinh thần những ai nhắc đến Việt Nam Cộng hoà, trưng cờ vàng ba sọc đỏ…

Ở Việt Nam, không ai dám giữ bất cứ cái gì có màu vàng ba sọc đỏ một cách có chủ ý mà không chuẩn bị tinh thần để bị công an sách nhiễu. Sau ngày VNCH sụp đổ, dưới thời bao cấp, trưng cờ vàng thì hình phạt có thể là cái chết. Một Nguyễn Viết Dũng cầm cờ vàng, mang quân phục VNCH đi biểu tình đã bị bỏ tù.

Tôi bán cà vạt, may áo dài cờ vàng bị dư luận viên nhắn tin thoá mạ và đe doạ giết.

Một cô MC may áo dài cờ vàng dẫn chương trình đám cưới bị công an mời đi làm việc… Vì thế, lá cờ vàng không chỉ là biểu tượng của một quốc gia dân chủ non trẻ có tên Việt Nam Cộng Hoà, hay có thể là biểu tượng của đất nước và vương quyền của vài vị vua nào đó dưới triều Nguyễn; mà vô hình trung, nó trở nên thứ song hành với chính sách khủng bố của chính quyền CSVN; trở nên thứ gắn liền với sự chà đạp quyền tự do lương tâm (hay còn gọi là quyền tự do tư tưởng) của chính quyền độc tài.

Tôi biết hết thảy những sự thù địch với cờ vàng như thế của chính quyền CSVN và sự e sợ của người dân với hình ảnh lá cờ này. Tôi cũng lường được những hậu quả không sớm thì muộn xảy ra cho chính mình khi may, in các sản phẩm thời trang dựa trên hình ảnh lá hoàng kỳ này. Nhưng tôi vẫn làm.

Vì sao? Nếu chỉ vì mục tiêu lợi nhuận, không ai mang an toàn của mình và gia đình mình ra đánh đổi với vài triệu đồng. Trước giờ hầu như các sản phẩm cờ vàng, đặc biệt là áo khoác, đều được sản xuất ở bên ngoài Việt Nam, đưa vào trong nước với số lượng nhỏ. Bây giờ, tôi may các sản phẩm cờ vàng hàng loạt. Không phải chỉ để bán cho những người ở hải ngoại yêu thích màu cờ họ ấp ủ trong tim bao chục năm nay; mà còn để tặng, để bán cho người Việt quốc nội.

Điều quan trọng là các sản phẩm được sản xuất ở chính Việt Nam, được vận chuyển, quảng bá ở Việt Nam, được trữ trong kho hàng của một người đang ở Việt Nam, và được bán, tặng cho anh chị em ở tại Việt Nam và được nổi bật trên khắp thôn làng, đường phố Việt Nam.

Tôi muốn “bình thường hoá” hình ảnh đi liền với sự sợ hãi đó. Tôi muốn góp chút sức giải toả “lời nguyền” nhắm vào màu cờ này. Tôi muốn màu vải nền vàng với ba sọc đỏ nổi bật sẽ là đi vào tâm thức người dân, đặc biệt là giới trẻ, không chỉ như là một thứ gì đó bình thường, không mang tính đe doạ mà còn đẹp đẽ dưới bình diện thẩm mỹ.

Một tà áo dài vàng thướt tha, một chiếc cà vạt lụa vàng để mặc với áo sơ mi trắng, một áo khoác vàng có ba sọc thể thao trên cánh tay để mặc ra ngoài khi trời trở gió…

Vậy đó, cái gì hiếm hoi thì bất thường, nhưng những gì quen mắt thì dần dần trở nên bình thường. Khi cờ vàng được thiết kế thành áo thể thao, mũ nón, áo dài, áo đầm, logo công ty, biểu tượng của hội đoàn… một cách vô tình hoặc cố ý (nhưng công an làm sao biết chúng ta vô tình hay cố ý?) thì lâu dần tâm thức người dân không còn e dè với cờ vàng nữa, công an của nhà cầm quyền cũng không thể kiểm soát được việc sử dụng nó. Vậy đó, đừng quá nghiêm trọng hoá mọi thứ, hãy để nó diễn ra tự nhiên, nhẹ nhàng như nước chảy.

Bên cạnh mong muốn xoá bỏ “sự bất thường” của cờ vàng trên đất Việt Nam, tôi còn muốn thông qua việc mặc các sản phẩm thời trang cờ vàng để truyền đạt sự ủng hộ cho quyền tự do lương tâm của người Việt Nam đang bị dày xéo dưới gót giày độc tài.

Quyền tự do lương tâm là quyền tiên khởi của nhiều nhân quyền khác như quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo… Bởi chúng ta được sinh ra với quyền tự do nuôi dưỡng điều ta tin tưởng, tự do trân trọng và ôm ấp trong tim một thời kỳ lịch sử, một biểu tượng dù thể chế đó không còn, tự do tin tưởng rằng một điều gì đó là tốt đẹp mà không phải điều gì khác, tự do phát ngôn cho điều ta tin là đúng (miễn là tất cả những điều đó không phải là bạo lực và chống lại nhân phẩm), nên nhân loại mới cùng ngồi lại với nhau để đồng ý ký kết tôn trọng tự do tôn giáo, tự do biểu đạt, tự do ngôn luận…

Nhà cầm quyền Việt Nam, về mặt nguyên tắc, không được phép cấm cờ vàng và đàn áp những ai yêu quý nó, cũng giống như họ không được phép bịt miệng những người bất đồng chính kiến và đàn áp quyền tự do tôn giáo vậy. Thế nhưng, hầu như người ta dành nhiều sự ủng hộ cho một tôn giáo bị đàn áp, một người bất đồng chính kiến bị bỏ tù hơn là một người ủng hộ cờ vàng bị tra tấn. Có gì khác biệt giữa quyền tự do được trân trọng điều gì đó (ở đây là tình cảm yêu quý trân trọng cờ vàng và Việt Nam Cộng Hoà) với quyền tự do thờ phượng hay quyền tự do phát biểu chỉ trích chính quyền? Không khác biệt.

Vậy tự do lương tâm và tự do biểu đạt có phải là chúng ta được quyền trưng bày các biểu tượng chống lại con người, các biểu tượng khủng bố hay các biểu tượng khác làm tổn thương lương tâm nhân loại không? Dứt khoát Không.

VNCH là một chính thể dân chủ non trẻ, còn nhiều khiếm khuyết, cố gắng trưởng thành trong một thời kỳ chiến tranh khốc liệt và trong một giải đoạn lịch sử quốc tế phức tạp. Vì thế, tưởng nhớ VNCH chỉ làm chính quyền cộng sản lo sợ và thù ghét chứ không làm tổn thương lương tâm bất cứ ai, ngay cả những gia đình cựu bộ đội Bắc Việt, vì miền Bắc chủ động đánh chiếm miền Nam chứ không phải ngược lại. Bởi vậy, chúng ta có thể loại trừ khả năng đó.

Tự do lương tâm? Vậy vì sao cờ đỏ bị đả kích ở hải ngoại? Vâng, cờ đỏ là biểu tượng của chế độ độc tài đàn áp nhân quyền, ngăn chặn dân chủ. Chống cờ đỏ nghĩa là biểu tỏ sự bất đồng của những người bình thường với một chính quyền tham tàn. Đó cũng là cách thực thi quyền tự do biểu đạt. Nhưng đứng trên vị trí một nhà nước, với độc quyền bạo lực, không một chính quyền nào được phép cấm đoán tự do lương tâm, tự do gìn giữ màu cờ của người dân. Và vì thế suy ra, chừng nào Việt Nam có dân chủ thì một Hiến pháp tự do cần toàn thể người dân, đặc biệt là giới trí thức, cân nhắc xem có nên đưa đảng cộng sản và các biểu tượng của nó ra ngoài vòng pháp luật dựa trên những tội ác và các hành động khủng bố họ đã gây ra hay không.

Nếu không, thì trong một Việt Nam tự do dân chủ thực sự không cho phép đàn áp quyền tự do của những người vẫn yêu mến lá cờ nhuộm màu máu này.

Tóm lại, tôi vẫn tiếp tục dùng hình ảnh cờ vàng cho những sản phẩm thời trang của mình miễn là có người vẫn yêu mến nó; vì đó là quyền tự do lương tâm của những người yêu mến Việt Nam Cộng Hoà và của chính người viết bài này.

Huỳnh Thục Vy
Buôn Hồ 8/6/2017

Image may contain: 1 person, sitting and closeup
Image may contain: one or more people and text
Image may contain: 1 person, smiling, tree and outdoor

“SƠ ÊLIDABET – SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN”

            MỘT CUỐN PHIM CÔNG GIÁO ĐOẠT NHIỀU GIẢI THƯỞNG 2017 và 2018,

                                    “SƠ ÊLIDABET – SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN”

Phan Sinh Trần       

               

Có thể nói đây là một phim tài liệu hay, mô tả về cuộc đời của sơ Êlidabet, một người sống trong thời đại của chúng ta. Với đức tin mạnh mẽ, Sơ đã trải qua, làm nên nhiều điều huyền diệu: nào là thoát chết trong vượt biên tỵ nạn, rồi đến việc mua nhà, tạo mãi mà trong túi không có tiền, tiếp theo xây dựng nên các cơ sở rất lớn lao từ hai bàn tay không nhằm phục vụ cho người già cả hưu dưỡng ở Canada và Hungary, cũng như các nơi khác trên thế giới. Đã có nhiều các sự kiện giống như trong mơ, các biến cố thoát hiểm cách nhiệm mầu như được một phép lạ. Cuộc đời thành công của Sơ làm chứng cho ta và cho thế giới rằng, “nếu có một đức tin mạnh mẽ thì không có gì là không thể”. Chúa sẽ làm cho công việc thánh hiến được hoàn thành và hoàn thành vượt mức giống như câu Kinh Thánh sau:

–          … Quả thật, Ta bảo các ngươi: nếu các ngươi có lòng tin bằng hạt cải, thì các ngươi có bảo núi này: Hãy bỏ đây qua đó! Nó cũng sẽ chuyển qua, và các ngươi sẽ không bất lực trước một điều gì.(Mat thêu 17:20)

Sinh ra ở làng Pilisvörösvár thuộc nước Hungary vào mùa thu năm 1918, trong một gia đình không khá giả lắm. Ngay từ khi còn là một thanh nữ mới 17 tuổi, cô Êlidabet đã tỏ lộ thiên tài về điều hành và tổ chức, khi thấy Cha mình bị bệnh liệt gường, cô xin phép Cha cho mình được bắt đầu việc điều hành, vực dậy cơ sở nhỏ bé, sản xuất nước sô đa đang đà xuống dốc của cả nhà, bằng cách đạp xe đi khắp các tiệm ăn trong làng và vừa khéo léo vừa bạo dạn, yêu cầu chủ nhân các tiệm chỉ mua nước sô đa của cơ sở mình. Với sáng kiến để vượt qua các khó khăn về đồng vốn, về chai đựng, nguyên liệu… Cô đã thành công.

Sau khi kiếm đủ tiền cho Cha mua miếng đất chỗ đang dùng làm mái gia đình, đến một ngày nọ tình cờ cô tham dự tĩnh tâm ở dòng nữ Thánh Tâm vì nể lời mời gọi của Cha xứ, không ngờ trong cuộc tĩnh tâm này, cô biết rõ Chúa đang gọi mình và cương quyết đi theo tiếng gọi của Tình Yêu Chúa. Cô xin vào dòng nữ tu, cho dù bị Cha của mình cấm cản. Sự thể dần xấu đi, vì chuyện đi tu của Elidabet, ông Bố bất mãn không muốn mất con tháo vát việc nhà, việc hãng và sa sút đức tin, trong khi đó, bà Mẹ lại ủng hộ cho con gái được đi tu. Quá đỗi tuyệt vọng, ông quyết định ly dị vợ, đoạn tuyệt với cả nhà nhất là để xa lánh cô con gái không nghe lời.

Ở vào hoàn cảnh khó xử, thiên tài Elidabet sẽ ứng xử như thế nào đây? Sau khi cầu nguyện hỏi ý Chúa, cô quyết định rời nhà Dòng Thánh Tâm về nhà phụng dưỡng Cha Mẹ. Làm cho Bố nguôi giận, cô bày tỏ lòng kính trọng và hiếu thảo, lo chăm sóc, ân cần với Cha trên gường bệnh, ông cảm động và nhận ra sự khôn ngoan, tài giỏi của con gái, nó sẽ giúp ích cho Giáo Hội. Ông được Chúa thay lòng đổi dạ và tự ý đề nghị cho con tiếp tục đường tu trì. Thế là Elidabet lại được toại nguyện thành công một lần nữa.

Trong cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai, Hungary tham chiến trong phe trục Đức Quốc Xã và bị tấn công dồn dập từ hai phía Liên xô và Đồng Minh, thành phố Pudapest tan hoang, đổ nát, đói khát. Trong khi xã hội vật vã vì thiếu lương thực để sống còn, với ơn Chúa, sơ Elidabet chậy vậy lo đủ thức ăn từ thị trường chợ đen, từ làng quê mang lên thành phố cho cả nhà Dòng với nhiều người. Chúa cho cô được hoàn thành nhiệm vụ lo ăn cho Dòng đông nữ tu trong thời chiến.

Sau đệ nhị thế chiến, Liên xô cai trị Hungary và thiết lập chính quyền chuyên chính Cộng Sản, các Dòng tu bị giải tán, tài sản bị tịch thu, bề trên Dòng chủ trương cho các sơ chạy trốn, cũng như các thuyền nhân Việt vượt biên lánh nạn Cộng Sản nhiều thập kỷ tiếp theo, Elidabet đã tổ chức vượt biên, cùng một sơ già khác, họ đi qua những bãi mìn, các trạm lính gác cộng sản Hungary, trốn lánh các xe tuần tra của bộ đội Sô Viết và sơ đã thành công. Sơ nói giống như một phép lạ kỳ diệu, sơ vượt thoát được khi sinh mạng như “sợi chỉ mành treo chuông” và chỉ còn nước hoàn toàn phó thác trong bàn tay quan phòng lo liệu của Chúa.

Đến được Áo rồi sau đó đi định cư ở xứ sở tự do, nước Canada, tỉnh bang Ontario, thành phố Hamilton năm 1951.  Sơ tu trong Dòng Thánh Tâm, Cảm thông với hoàn cành nghèo nàn của di dân Hungary, sơ Elidabet ước ao được thiết lập một nhà ở cho người già đau yếu, vô gia cư trong số di dân Hungary, thiết tha muốn cho họ có nơi cư ngụ cuối cùng trước khi qua đời. Cuộc đời tu trì vốn không có tiền, không tài sản, không sở hữu nhà làm sao tiến hành công trình. Sơ cầu nguyện ngày đêm xin Chúa hướng dẫn và can thiệp. Sau nhiều ngày cầu nguyện, Chúa làm cho một ông thợ nướng bánh mì của nhà Dòng động lòng trắc ẩn, ông đã hứa giúp.

 Có một căn nhà cũ nằm trên đường John đăng biển bán, đòi giá 30 ngàn đô, sơ trả 20 vì trong túi sơ chả có đồng nào, ai ngờ họ bán. Sơ báo cho ông thợ biết, không bao lâu sau đó, ông thợ bánh quyết định bán đi căn nhà bé nhỏ, khiêm tốn của mình đang ở, được vỏn vẹn 15 ngàn đô, cùng với một ngàn đồng tiền mặt tặng thêm; Thời gian cấp bách, đúng vào hạn chót, trong ngày cuối sơ phải giao nạp tiền mua căn nhà trên đường John, Sơ nhận được tin vui “đã có tiền rồi” từ ông thợ bánh, thế là Sơ lên xe đạp, hăng hái nhấn pê đan, chạy một mạch 80 cây số đường trường,  cả đi lẫn về,  đến Toronto, nơi cư ngụ của ông thợ làm bánh, nhận tiền mang về gộp lại các quyên góp khác thì đã được đúng 20 ngàn. Vào buổi chiều tối hôm đó, sơ giao ngay cho người bán. Thế là giống như mơ, với lòng nhiệt thành tín thác vào Chúa kính yêu, Sơ lại thành công một lần nữa, mua được nhà làm cơ sở đầu tiên cho người già neo đơn. Một điều thú vị là vị ân nhân của Sơ, về cuối đời đã đến ở nhà Hưu Dưỡng, được sự ưu ái đặc biệt của mọi người, ông sống trong một phòng chung cư đặc biệt dành riêng cho ông. Kể từ cơ sở đầu tiên đó, sơ tiếp tục phát triển công việc mục vụ Bác Ái cho người già một cách tài tình, sơ thành lập hội bác ái mang tên “Hội nhà Thánh Elizabeth” vào năm 1967. Trong ba mươi năm trường, sơ cùng với Hội tiếp tục xây dựng nên cả một làng hưu dưỡng dành cho người già cả đau yếu. Dân chúng và nông gia Canada tiếp tục hiến tặng thực phẩm và tài vật cho hội, thuở ban đầu, ở nhà hưu dưỡng đầu tiên, sơ còn trẻ, lái xe về nông thôn để nhận thịt bò do một nông dân cho, ai ngờ đến nơi, bò còn sống, bác nông dân đang chờ người xẻ thịt sẽ đến vào tuần sau, không thể để cho hưu dưỡng viên dùng bữa thiếu thịt bò, sơ mượn dao tự giết xẻ thịt con bò làm bác nông dân phải nể phục, sững sờ.

Làng hưu dưỡng St Elisabeth Mills, bao gồm 600 căn nhà đơn và dưỡng đường, thánh đường trải dài trên 200 mẫu Anh, làng có 16 hồ nước thiên nhiên rất nên thơ bao quanh.

 Công việc bác ái của hội bác ái “nhà thánh Elizabeth” phát triển qua nước Hungary, ở ngoại ô Budapest, tại thành phố Pilisvôrovar với nhà Szent Erzsébet Otthon

Nhà có 200 chỗ cho những người già tuổi nhất với các phương tiện tối tân nhất thời đó ở Hungary, ngoài ra sơ cũng tiếp tay xây dựng lại nhà Dòng Mẹ ở Hungary

Chưa dừng ở đó, sơ còn tiếp tục đi ra hải ngoại, xây nhà hợp tác với Mẹ Teresa ở Ấn Độ, xây nhà cho người già ở Pakistan. Mời Bạn đọc thăm trang nhà của Hội bác ái “Nhà Thánh Elizabeth” ở mạng https://www. stelizabethhomesociety.org/

Ai cũng biết rằng, cuộc đời dương thế càng nhiều thành công càng có lắm gian truân, sơ Êlidabet đã bị báo chí soi mói và bị nghiệp đoàn ganh ghét muốn dành quyền, tuy nhiên sơ đã thoát khỏi sự ganh ghét vu oan, sự tham lam muốn cưỡng đoạt các cơ sở nhà cửa to tát, sự trả thù và bôi nhọ của thế gian. Cho dù gặp đủ thứ gian truân vượt sức chịu đựng ở tuổi 75, thậm chí bị đe dọa phải quay về Hungary, mất hết danh dự, mất làng hưu dưỡng thân yêu, sơ vẫn dí dỏm khôi hài, vui tươi nhờ vào đức tin son sắt vào Chúa Giê Su kính yêu mà vượt qua và chiến thắng vang dội ở tòa án năm 2005, trong công luận và trong Giáo Hội. Sơ nhận được sự tưởng lệ cao quý từ Đức Thánh Cha, lời biết ơn sâu xa từ Đức Hồng Y Giáo Phận Toronto, Gerald Carter và phần thưởng, huy chương cao quý từ thủ tướng Trudeau Canada, từ tổng thống Hungary, Arpad Goncz, … về công việc bác ái nhà hưu dưỡng của mình. Cho đến hơi thở cuối cùng, yếu ốm, sơ vẫn khiêm nhường ngày ngày ân cần đến bên các cụ già trong nhà hưu dưỡng. Ngài về nhà Chúa vào ngày 4 tháng 10 năm 2010 ở tuổi 92.

Cuộc đời của Sơ được ứng nghiệm với câu kinh thánh,

–          Chúa phán: “Nếu các ngươi có lòng tin bằng hạt cải, thì dẫu các ngươi có bảo cây dâu này: “Hãy bứng rễ mày đi mà xuống mọc dưới biển”, nó cũng sẽ vâng lời các ngươi” (Luca 17:6).

Xin Chúa cho Hội Thánh có nhiều hạt cải đức tin trong thời đại văn hóa sự chết của chúng con.

Sau hết, xin mời các bạn thưởng thức phim sơ Êlidabet qua Amazon Prime miễn phí, hoặc xem phim  ở kết nối sau đây:

http://www.truli.com/video/ sister-elisabeth-the-strength- of-faith

Phan Sinh Tran        

GIẾT TÔI, RỒI HÃY BẮT TÔI IM LẶNG!

Đỗ Cao Cường is with Đỗ Cường.
GIẾT TÔI, RỒI HÃY BẮT TÔI IM LẶNG!

Hải Phòng, Hải Dương không chỉ nổi tiếng với Côn Sơn Kiếp Bạc, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, bánh gai, bánh đậu xanh, bánh đa cua… mà còn có cả bánh chưng đất gà cắm tăm, cùng rất nhiều băng đảng xã hội đen, những kẻ bỏ học từ sớm, thích thể hiện và ưa bạo lực.

Khi thực hiện các phóng sự ở đây, tổng thư ký tạp chí Thương trường đã cảnh báo tôi rằng mạng của tôi chỉ đáng giá vài chục triệu, nhà báo Nguyễn Đức thuộc báo Pháp luật Hồ Chí Minh cũng cho tôi biết chị Hải Đường chết trong khoảng thời gian chị đang thực hiện một phóng sự điều tra lớn tại Hải Phòng.
Khi tôi đến Kinh Môn, Hải Dương, nhiều bà con không dám cho ghi hình vì sợ côn đồ bảo kê cho các nhà máy trả thù, trên thực tế đã có những cuộc đụng độ, đổ máu giữa bà con Phú Thứ với công ty khoáng sản Việt Nam, cho tới Thủy Nguyên, Hải Phòng…

Khi tôi vừa rời khỏi khu vực nhà máy thép Hòa Phát thì các đồng nghiệp bên báo Giáo dục Việt Nam mới đến, và lập tức họ bị những kẻ lạ mặt tấn công. Một lần khác, tôi bất ngờ quay lại nhưng vẫn bị một kẻ lạ mặt nhận ra và tìm cách bắt giữ…

Rồi một ngày đẹp trời đi lang thang, tổng biên tập VTC có nhận tôi vào làm, anh ấy đồng ý sẽ ký hợp đồng dài hạn sau khi tôi thực hiện phóng sự xăng tặc ở Hải Phòng, nhưng vừa mới đưa một video lên mạng xã hội thì người của Tổng công ty xăng dầu bị đuổi việc, người nhà tôi dùng xe máy của mình đến nhà một người quen, ai ngờ hàng xóm họ nhận ra biển số xe và nói người ta đang tìm tôi để xử, họ yêu cầu tôi dừng lại và muốn biếu tôi một khoản tiền, nhưng tôi không gặp, và tôi cũng không nhận.

Gần đây, chắc nghĩ tôi quay lại Kinh Môn để làm chấn động dư luận thêm một lần nữa, vài kẻ lạ mặt đã tìm người thân của tôi đe dọa…

Thực ra, đây cũng chỉ là vài câu chuyện trong rất nhiều thứ nguy hiểm, bạc bẽo mà tôi đã nếm trải trong mấy năm vừa qua, ở trong nam nguy hiểm quá nên tôi mới ra bắc, khi mà miền bắc cũng nguy hiểm nhưng tôi chưa biết đi đâu.

Nói tóm lại, tôi đã từ chối tất cả hợp đồng truyền thông lớn nhỏ, lãnh đạo chính quyền, các tòa soạn, doanh nghiệp gọi điện, yêu cầu tôi dừng lại nhưng tôi không dừng, tôi đã tự động rời khỏi các tòa soạn trong cảnh tay trắng.
Có thể, sau khi cảm thấy tạm an toàn, tôi sẽ tiếp tục lên đường và thực hiện những phóng sự độc lập của mình, để tiếp tục đánh thức lương tri… cũng có thể, ngày hôm nay còn ngồi trò chuyện với nhau nhưng ngày mai sẽ là một câu chuyện khác.

Nhưng tôi chấp nhận hết, cuộc đời vốn dĩ vô thường, và cuối cùng, tôi xin cảm ơn các báo đài, các tổ chức quốc tế cho tới các cô chú, anh chị em đã hỏi thăm, lên tiếng ủng hộ, tôi cũng xin cảm ơn các đồng nghiệp trong nước đã im lặng để tôi hiểu rõ hơn về các bạn, về xã hội mà tôi đang sống, tôi xin cảm ơn các bạn đã cho chúng tôi biết thông tin tàu Trung Quốc mới tấn công ngư dân nước mình ngay trên đất nước mình, mà các bạn đã gọi đó là tàu lạ.

No automatic alt text available.
Image may contain: text
Image may contain: 1 person, text

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã giúp tập đoàn Vinaconex cướp hàng nghìn tỉ đồng như thế nào?

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã giúp tập đoàn Vinaconex cướp hàng nghìn tỉ đồng như thế nào?

Nếu tinh ý chúng ta sẽ thấy rằng những thanh củi mà bướm chúa Nguyễn Phú Trọng đưa vào lò đều có hai đặc điểm:. một là kẻ thù không đội trời chung với Trọng trong bước tiến quyền lực trở thành kẻ độc tài số một, hai là kim cương đối tượng mang đến nhà Tổng bí thư và con cháu chưa đủ lớn để thắp sáng nhân cách liêm khiết sáng ngời của ông. Cái gì không mua được bằng tiền sẽ mua được bằng rất nhiều tiền. Điều này rất đúng khi nói về giai đoạn Trọng còn là bí thư Thành Ủy Hà Nội, từ năm 2000 đến 2006.

Với cương vị là người đứng đầu thủ đô, Nguyễn Phú Trọng phải chịu trách nhiệm về những sai phạm không những của Ciputra mà của những tập đoàn như Vinaconex cùng hàng loạt dự án, quy hoạch tại Hà Nội gây lãng phí nghìn tỉ ngân sách Nhà nước, gây ra oan khuất ngút trời cho nhân dân, không những về đất đai mà còn hệ lụy về môi trường, chất lượng sống.

Vinaconex vốn là một công ty Nhà nước được cổ phần hóa để trở thành công ty cổ phần theo quyết định số 56/2005/QĐ-TTg và 1613 của Bộ Xây Dựng vào năm 2006. Từng là công ty Nhà nước, tháng 12/2003, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ra quyết định thu hồi 568 ha đất nông nghiệp ở Hà Nội và Hà Tây cũ tạm giao cho công ty Xây dựng Việt Nam (Vinaconex). Chưa bàn đến những sai phạm trong việc đền bù giải tỏa khu vực đất vàng phía Tây Hà Nội này, số đất công tuy được giao cho Vinaconex nhưng vẫn thuộc tài sản Nhà nước. Việc giao đất cho công ty xây dựng Việt Nam vào thời điểm ấy theo UBND TPHN là với mục đích đổi đất lấy cơ sở hạ tầng nhằm mở rộng dự án đường Láng- Hòa Lạc (nay là đại lộ Thăng Long).

Vậy mà, được sự bảo kê từ thời bí thư Thành ủy Nguyễn Phú Trọng, trong quá trình cổ phần hóa Vinaconex, hàng trăm ha đất công sản có trị giá gần 60.000 tỷ đồng ấy đã bị công ty xâu xé đem bán trong các dự án khu đô thị mới sau này. Như chưa đủ ăn chia trên máu và nước mắt của nông dân bị cướp đất, Vinaconex còn cắt xén vật tư trong quá trình thực hiện dự án đường Láng- Hòa Lạc. Đơn cử theo quyết định năm 2003 của bộ GTVT, chiều rộng của nền đường tối thiểu phải là 140m, tuy nhiên đến lúc khánh thành chiều rộng con đường chỉ còn 134m, Vinaconex bỏ túi 300 tỷ đồng. Chưa kể những hạng mục đội vốn, gian lận về khối lượng và chất lượng khác, dưới sự quản lý của bí thư Nguyễn Phú Trọng, Vinaconex nghiễm nhiên ăn cướp hàng nghìn tỉ mà không thế lực nào can thiệp được.

Chưa dừng lại ở Hà Nội, Tổng công ty xây dựng Vinaconex còn vươn vòi bạch tuột đến cả Thủ Thiêm Thành Hồ thông qua dự án xây dựng nhà cao tầng kết hợp với thương mại dịch vụ ở khu Thảo Điền q2. Dưới sự trợ giúp của Nguyễn Văn Đua tại đây, bằng các văn bản phù phép đất công sản thành tài sản mua bán đổi chác cá nhân như việc thành lập công ty con Thảo Điền (cũng trực thuộc Vinaconex), các thế lực đằng sau đã giúp Vinaconex bán thành công 80.000m2 đất dự án được Nhà nước cấp cho công ty Chí Thành, bỏ túi 750 tỷ đồng.

Là bí thư Thành ủy trong giai đoạn kinh tế đất nước phát triển nói chung và Thủ đô nói riêng trong giai đoạn hội nhập, Nguyễn Phú Trọng đã tận dụng triệt để cơ hội thăng tiến, kiếm chác qua hàng chục dự án, quy hoạch lớn nhỏ tại Hà Nội như khu đô thị Trung Hòa- Nhân Chính, Bắc An Khánh, Trung Văn, quy hoạch Hoàn Kiếm… Các dự án ấy đều phải thông qua người đứng đầu thủ đô lúc bấy giờ. Vậy mà, những sai phạm đặc biệt nghiêm trọng trong những siêu dự án, quy hoạch này chưa bao giờ được làm sáng tỏ. Các công ty sân sau của Trọng là những tập đoàn lũng đoạn nền kinh tế đất nước không những không được điều tra mà ngày càng lớn mạnh, nhận thêm những dự án bòn rút mới.

Năm 2004, Nguyễn Phú Trọng cho phép Vinaconex thực hiện dự án đường ống nước sạch sông Đà. Kết quả từ đó đến nay, hơn 20 lần đường ống nước bị vỡ ảnh hưởng đến 177.000 hộ dân. Lý do vì Vinaconex sử dụng chất liệu composite cốt sợi thủy tinh chất lượng kém chứ không phải ống gang dẻo như ban đầu (theo quyết định của Phí Thái Bình- chủ tịch Tổng công ty xây dựng VN lúc bấy giờ). Không những Phí Thái Bình không bị khỏi tố mà còn leo tới chức phó chủ tịch UBND TPHN sau đó, chỉ vài con tốt thí mạng hưởng án tù treo hoặc giam giữ 1, 2 năm là các thuộc cấp nhỏ hơn của y. Nói về đường ống nước sông Đà, đến năm 2018 vẫn vỡ mà chưa được giải quyết triệt để.

Sai phạm ở Thủ Thiêm gây oan khuất ngút trời ảnh hưởng tới hàng ngàn hộ dân được báo chí chú ý nhắc đến. Vậy mà ngay trong lòng Thủ Đô, những sai phạm đất đai và những trò ảo thuật biến xương máu nhân dân thành nồi cháo danh lợi khổng lồ hòng mua quan bán tước tiến thân không được điều tra làm rõ. Liệu công bằng ở đâu trong cuộc đốt lò chống tham nhũng không vùng cấm của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng?

 Chế độ cộng sản, một chế độ vô vọng phải thay thế

 Chế độ cộng sản, một chế độ vô vọng phải thay thế

Nguyên Thạch (Danlambao)  Ai còn đặt niềm tin vào đảng cộng sản và guồng máy cai trị VN sẽ thay đổi, sẽ có sự hoà hợp hòa giải là mang một núm óc chưa phát triển vì chứa đầy thuốc mê ngủ. Ma lực của cái vòng sắt kim cô không bao giờ tự nó tan biến dù có rỉ sét theo dòng thời gian, mà phải bị thiêu hủy dưới sức nóng nung nấu cao độ của toàn dân. Chủ nghĩa cộng sản phải bị tiêu diệt và những chế độ của nó nặn ra phải dứt khoát thay thế.

   *    *     *

Trước khi đi sâu vào phân tích về chế độ cộng sản này, chúng ta hãy đồng ý với nhau một nguyên tắc dường như là chân lý của Russia President Boris Yeltsin rằng: “Communists are incurable, they must be eradicated.

Cộng Sản không thể nào sửa chửa, mà cần phải đào thải nó.”

Quả vậy, chủ nghĩa cộng sản là một thứ triết thuyết không tưởng, hoang đường nhưng chứa đầy tính cực đoan qua những sách lược của hệ thống an ninh do nhà nước Lê Nin. Hệ thống cầm quyền này tự nó đã gắn trên đầu một thứ vòng kim cô ác nghiệt mà không có bất cứ ai tự tháo gỡ nó được vì bất luận sự tháo gỡ nào cũng đều đồng nghĩa với sự chết. Bởi thế, những ai còn mong đợi sự thay đổi của bất cứ guồng máy cộng sản nào cũng đều bị xem là mộng ảo.

Bởi lý do ấy thì cho dẫu Kim Jong Un, Tập Cận Bình, Nguyễn Phú Trọng… hay bất cứ giới chóp bu cộng sản nào cũng đều không thể vượt ra khỏi ma lực vô hình của cái vòng kiềng oan nghiệt tuy vô hình nhưng vô cùng ác liệt.

Tập không thể nào làm khác đi những gì mà Tập đã và đang làm, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Thị Kim Ngân cũng không thể là ngoại lệ. Nghĩa là Trọng, Phúc, Ngân phải làm (must do) những gì mà có thể tận thâm tâm họ không hề ham muốn hoặc thích thú. Bộ chính trị trung ương đảng CSVN hoặc tuân lịnh, hoặc phải chết. 

Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng hay bất cứ ai của cả đảng cộng sản đều KHÔNG CAO CẢ như là cố Tổng thống Ngô Đình Diệm cùng bào đệ Ngô Đình Nhu, những người vì dân vì nước không tuân thủ ngoại bang và sẵn sàng chấp nhận cái chết.

Tư duy của Mao, Đặng, Tập là phải đưa Trung Hoa đến vị thế bá chủ toàn cầu và phải nhuộm đỏ thế giái dưới chiêu thức của Trung Cộng, cho dù phải nhận lãnh sự tan rã và diệt vong.

Bắt nguồn từ Hồ Chí Minh, nay Nguyễn Phú Trọng hay bất cứ ai sau Y lên giữ chức thủ lãnh thì đều cũng phải tuân thủ theo qui luật mà cơ chế Lê Nin đã đề ra. Nghĩa là Trọng phải làm những gì mà Trọng bị chỉ đạo phải làm, và Trọng không được quyền có bất cứ lựa chọn nào theo ý cá nhân.

Đây là những nguyên tắc cốt cán của cơ chế mà mỗi đảng viên, và nhất là đảng viên càng cao cấp thì lại càng phải tuân thủ. Còn nói về các tầng lớp, các cấp thấp hơn, mang tính địa phương hơn thì các thứ râu ria này phải hoàn toàn lệ thuộc vào quyền lực của chóp bu trung ương bởi chuyện đi hay ở, tồn tại hay bị di dời đá văng ra khỏi tổ chức hoặc ngay cả chuyện sống hay chết cũng đều do thứ ma lực quyết định.

Ngạn ngữ Việt Nam có câu “Buôn có bạn, bán có phường”, câu này nay áp chỉ ĐCSVN là đúng chính xác về cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, là một sự ví von thời thượng nhất. Hãy đơn cử một vài thí dụ: 

– Hiện nay ai muốn có việc làm thì người đó phải chung chi, chẳng hạn muốn có một việc làm ở một chi nhánh ngân hàng thì phải chi ra từ 100 đến 150 triệu VNĐ thì mới có việc.

– Muốn được làm Thần đường, tức CSGT thì phải bôi trơn cho sếp 1 đến 2 tỉ VNĐ. Số tiền tỉ đã chi này sẽ lấy lại vốn trong vòng 1 đến 2 năm làm hung thần đứng đường.

– Những chức tước ở trung ương như Thứ trưởng này, Bộ trưởng nọ, Cục lớn, Cục nhỏ, Cục thơm, Cục thối… đều có giá cả. Con số tiền USD để mua chức khủng quá khiến kẻ nghèo như người viết này không dám viết ra con số bởi sợ say xẩm tối cả mặt mày.

Tiền chung chi và bôi trơn thì các sếp phải có nhiệm vụ chia chác cho cấp cao hơn và cứ thế mà lên đến đỉnh cao nhất theo hệ thống hàng dọc, lẫn cả hàng ngang để nhỡ khi ai đó muốn vuốt mặt thì cũng phải nể mũi. Với một cơ cấu như vậy thì đừng ai lạc hậu một cách lạc quan mà nghĩ rằng quan chức cộng sản liêm khiết. Giả như có một vài ông Thánh nào đó hiện thân giữ chức quan cộng sản, không chịu ăn thì tất nhiên những ông Thánh ấy sẽ bị thỉnh đi khỏi phường ngay, chớ để chung phường thì làm sao mà buôn bán.

Chẳng phải khi khổng khi không khiến các “Bác sĩ” chẩn bệnh tham nhũng ở VN là căn bịnh ung thư bất trị, mà là đều có nguyên căn. Với một cơ chế độc tài chuyên quyền, kể cả quyền tham nhũng, quyền đội kim cô, quyền hèn nhát…Tất cả những thứ quyền này đã đưa đến nhiều hệ quả thảm khốc là tàn phá đất nước, quì lạy ngoại bang, phản quốc đẩy toàn dân tộc vào vong nô và kể cả bán nước.

Nếu luận sự việc một cách công tâm, không bảo thủ, không cực đoan thì người cộng sản cũng biết được cái xấu xa, những thứ tệ hại mà họ đã gây ra NHƯNG cái vòng kim cô ác nghiệt là cơ cấu đã không cho họ có bất cứ lựa chọn nào khác ngoài sự tuân thủ mà cơ chế đã định. Bên cạnh cái vòng sắt oan nghiệt, guồng máy còn cai trị người dân bằng bao tử, bằng sổ hưu, bằng sĩ diện đó là lý lịch và bằng khen nhằm củng cố cho lớp con cháu được ăn trên ngồi trốc nếu lớp cha anh không phản kháng vô số nghịch lý của xã hội, của cơ cấu cầm quyền do ĐCSVN gây ra. Đó là những lý do tại sao ĐCSVN vẫn còn tồn tại cho đến hôm nay và ngày càn lún sâu trong trì trệ, tụt hậu cùng thảm bại.

Ai còn đặt niềm tin vào đảng cộng sản và guồng máy cai trị VN sẽ thay đổi, sẽ có sự hoà hợp hòa giải là mang một núm óc chưa phát triển vì chứa đầy thuốc mê ngủ. Ma lực của cái vòng sắt kim cô không bao giờ tự nó tan biến dù có rỉ sét theo dòng thời gian, mà phải bị thiêu hủy dưới sức nóng nung nấu cao độ của toàn dân. Chủ nghĩa cộng sản phải bị tiêu diệt và những chế độ của nó nặn ra phải dứt khoát thay thế. 

Hẳn nhiên sẽ có nhiều người đặt câu hỏi ngay là “Thay thế bằng cách nào khi người dân trong tay không tấc sắt?” thì câu giải đáp là: Toàn dân hãy đồng một lòng ĐỨNG DẬY. Khi hàng chục triệu người đứng lên thì không một guồng máy cai trị nào có thể đứng vững.

06.08.2018

Nguyên Thạch

danlambaovn.blogspot.com

Hậu Quả Của Chiến Tranh Thương Mại Giữa Trung Quốc Và Hoa Kỳ Leo Thang

Hậu Quả Của Chiến Tranh Thương Mại Giữa Trung Quốc Và Hoa Kỳ Leo Thang

Wei Jingsheng

4-8-2018

Bản tiếng Việt © Nguyễn Quốc Khải

Hiện tại trong giới truyền thông có tiếng reo mừng hay la hét khi chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ một lần nữa lại leo thang. Thủ đoạn cũ kỹ của Trung Quốc là phá giá đồng tiền để chống lại những trận chiến thương mại, nhưng thủ đoạn này đã bị rạn nứt vì người Mỹ tăng thuế nhập cảng.  Đây là tin mừng cho dân tộc Trung Quốc vì nhờ vậy lạm phát tột cùng có thể không xẩy ra. Mặc dầu tiền Trung Quốc đã mất giá khá nhiều, dưới áp lực của Hoa Kỳ, chính phủ Trung Quốc có thể ngưng không tiếp tục in thêm tiền nữa, nhờ vậy người dân Trung Quốc bình thường có thể hít thở dễ dàng hơn một cách khuây khỏa.

Khi Trump cương quyết tăng thuế nhập cảng chống lại thủ đoạn của Xi Jinping, ông ta cũng đã ném ra một nhánh ôliu. Theo những bài tường thuật của báo chí, những cuộc thương lượng đàng sau hậu trường vẫn tiếp diễn. Ngoài ra Trump cũng đã chứng tỏ thiện chí bằng cách ngưng thi hành lệnh cấm mua bán (denial order) chống lại ZTE. Những dấu hiệu này của Trump cho thấy rằng mọi thứ có thể được thương lượng, nhưng đừng dùng thủ đoạn. Chính sách thủ đoạn ngay trong những lúc thương lượng không còn có hiệu quả nữa.

ZTE là một mô hình rõ ràng: nếu không có những biện pháp thực tiễn để bảo đảm việc thi hành những cam kết, Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận lối nói mà không thực hiện. Ở Trung Quốc hiện nay, khi cả xã hội thiếu đạo đức và việc thi hành luật tùy tiện, bất cứ một cam kết hay một thỏa thuận nào cũng đều không được bảo đảm.

Dĩ nhiên mục tiêu của Hoa Kỳ là giải quyết cán cân thương mại thiếu hụt lớn lao. Nhưng ngày nay phần đông những người Mỹ sau cùng đã nhận biết ra sự thật: Trung Quốc là một xã hội không có hệ thống luật pháp và không có đạo đức. Không có một lý do gì để giải quyết cán cân thương mại thiếu hụt chỉ bằng lời hứa, bởi vì ngay sau khi đưa ra một hứa hẹn hôm nay, ngày mai có thể làm lại, như là đã xẩy ra trong nhiều năm qua.  

Khi Hoa Kỳ nghi ngờ lối hành sử này sau những thủ tục rườm rà, chính phủ Trung Quốc có thể lại hứa hẹn và sẽ tiếp tục hoang phí thời giờ. Đây là một thủ đoạn mà Trung Quốc đã dùng trong nhiều thập niên. Đối với tiền bạc, không có đạo đức. Khi nào bạn còn kiếm ra tiền, bạn còn là một người thành công. Deng Xiaoping đã lâu rồi nói rằng miễn là con mèo bắt được chuột, nó là một con mèo tốt, bất kể phương tiện nào đã sử dụng.. Vì vậy, những cam kết của chính phủ Trung Quốc không bao giờ đáng tin cậy.

Lần này, người Mỹ sau cùng đã hiểu rằng những biện pháp trừng phạt phải đi đôi với việc chấp nhận những cam kết của chính phủ Trung Quốc, nếu không nó vô nghĩa. Do đó, chủ đích của cuộc chiến tranh thương mại này là cải tổ hệ thống tư pháp ở Trung Quốc để bảo đảm rằng nền kinh tế được pháp luật bảo vệ. Chỉ như thế mới có một nền kinh tế thị trường và có thể có thương mại công bằng.  Thương mại không có bảo đảm pháp lý không phải là thương mại công bằng, mà chỉ là một sự cưỡng đoạt. Quả thật là quá lịch sự khi nói rằng họ theo chủ thuyết trọng thương (mercantilist), nhưng điều nay không đúng.

Tuy nhiên, Xi Jinping và những nhà tư bản quan lại của ông ta không sẵn lòng chấp nhận sự thật này. Họ không sẵn lòng tin rằng mục tiêu của Hoa Kỳ là thương mại công bằng. Bởi vì nếu như vậy, họ sẽ mất cơ hội làm giàu, họ không quen hoặc không muốn tin vào sự thật. Những nhà tư bản Hoa Kỳ cũng có trạng thái tâm lý như vậy. Họ quen sử dụng hệ thống pháp lý bất công ở Trung Quốc để lợi dụng nhân công rẻ và chất lượng cao ở Trung Quốc. Lợi ích chung là động cơ thúc đẩy những nhà tư bản Hoa Kỳ giúp đảng CSTQ áp lực Hoa Kỳ.

Vì sự khiếm khuyết của hệ thống dân chủ Hoa Kỳ, khả năng của những nhà đại tư bản ở Mỹ không nên bị đánh giá thấp. Trong thời gian hiện nay, áp lực của nhóm đại tư bản đặt lên Quốc Hội Hoa Kỳ ngày càng gia tăng và Quốc Hội Hoa Kỳ đang soạn thảo một dự luật để bù trừ vào thuế nhập cảng của Trump. Đây là nguồn tin tưởng của Xi Jinping. Mặc dù có những viên chức sáng suốt ở Trung Quốc và mặc dù phần đông những người Trung Quốc thấy rằng chiến tranh thương mại với Hoa Kỳ không có hi vọng để thắng, chế độ Cộng Sản đại diện những nhà tư bản quan lại Trung Quốc không muốn chấp nhận sự thật và chiến tranh thương mại có thể tiếp diễn một thời gian.

Ô. Wei Jingsheng.

Khi nào những quan chức bướng bỉnh này sẽ chấp nhận thực tế? Đó là lúc kinh tế Trung Quốc không những bị trì trệ mà còn sụp đổ. Khi những nhà tư bản quan lại Trung Quốc không còn tiền để kiếm và ngay cả ở bên bờ phá sản, họ sẽ từ tử tỉnh ngộ.

Nhưng hiện nay, nhân dân Trung Quốc đã chịu những mất mát do chiến tranh thương mại: những nhà tư bản hạng thấp rớt xuống giai cấp trung lưu, giai cấp trung lưu rơi xuống giai cấp nghèo, và những người nghèo khó có thể sống còn. Nếu tình trạng kinh tế trì trệ tiếp tục, có bao nhiêu người có kiên nhẫn để đợi những nhà đại tư bản tỉnh dậy và Xi Jinping thay đổi đường lối?

Do đó, vì không có quyền lực ngay trong chính quyền Trung Quốc để thay đổi chính sách và hệ thống luật pháp hiện nay, cách duy nhất để thay đổi Trung Quốc là cách mạng bạo lực. Sẽ rất khó khăn để tránh xáo trộn lớn lao trong xã hội Trung Quốc. Một số người, đặc biệt là những viên chức ở nhiều cấp bậc khác nhau, tay có dính máu, sẽ không tránh khỏi cuộc đời chấm dứt mà không được chôn cất đàng hoàng. 

oo0oo

“The only thing necessary for the triumph of evil is for good men to do nothing” Edmund Burke.

“When Journalists are silenced, people are silenced” Anonymous.

Bức tranh vẽ Tổng thống Trump “Vượt qua đầm lầy” trở nên nổi tiếng

Bức tranh vẽ Tổng thống Trump “Vượt qua đầm lầy” trở nên nổi tiếng

Nghệ sĩ Jon McNaughton ở Utah, Hoa Kỳ đã vẽ Tổng thống Donald Trump và các thành viên trong chính quyền của ông “Vượt qua đầm lầy”, mô phỏng theo bức tranh biểu tượng “Washington vượt qua sông Delaware”. Bức tranh này đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội.

Bức tranh “Vượt qua đầm lầy” (Crossing the Swamp) liên quan đến một trong những khẩu hiệu của Tổng thống Trump trong một chiến dịch năm 2016 đó là “hút cạn đầm lầy”, đề cập đến việc giải quyết các vấn đề bê bối như tham nhũng và lợi ích nhóm ở thủ đô Washington. Trong tranh, Tổng thống Donald Trump là người cầm ngọn đèn soi đường.

“Đừng bao giờ bỏ cuộc. Đừng bao giờ buông ngọn đèn của bạn”, ông Trump viết trên Twitter, “Đừng bao giờ dừng lại cho đến khi đầm lầy khô cạn”.

Danh sách các nhân vật từ trái qua phải: Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Nikki Haley, Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis, Chủ tịch Phát triển Nhà và Đô thị Ben Carson, Tổng thống Mỹ Trump, Tổng chưởng lý Jeff Sessions, Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence, Đệ nhất phu nhân Melania Trump, Bộ trưởng Ngoại giao Mike Pompeo, Thư ký Báo chí Nhà Trắng Sarah Sanders, con gái Tổng thống Trump Ivanka Trump, Cố vấn An ninh Quốc gia John Bolton, Tham tán cho Tổng thống Kellyanne Conway, Chánh văn phòng Nhà Trắng John Kelly. (Ảnh: Jon McNaughton)

Nghệ sĩ John McNaughton viết trên trang cá nhân:

“Hơn 240 năm trước, George Washington đã vượt qua thung lũng Forge và sông Delaware để mang lại một chiến thắng đáng kinh ngạc cho Lục quân Lục địa. Đây là điều mà nhiều người nghĩ là không thể – đánh bại một tên bạo chúa và đội quân hùng mạnh của ông ta. 

Hôm nay, ông Trump đã nỗ lực vượt qua “đầm lầy” của Washington DC khi ông mang đến ánh sáng của sự thật, hy vọng và sự thịnh vượng. Dòng nước đục ngầu của nhà nước ngầm bị bao phủ đầy sâu bọ nguy hiểm, hoàn toàn sẵn sàng để tiêu diệt sự thịnh vượng của Mỹ cho ý thức hệ cá nhân của họ và lợi ích tài chính. Các thành viên cốt cán của Đảng Dân chủ, những người theo phong trào “Không bao giờ Trump” trong Đảng Cộng hòa, Nhà nước ngầm và Fake News (Tin giả) sẽ làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn phần lớn người Mỹ thành công.

Là một người nghệ sĩ, tôi vẽ những gì tôi cảm thấy cần phải nói về tình trạng hiện tại của đất nước chúng ta. Tôi hy vọng ông Trump sẽ được nhớ đến như vị Tổng thống đã phục hồi sự vĩ đại của nước Mỹ. Tôi cũng muốn lên trên chiếc thuyền đó để được tự do!”

Nghệ sĩ John McNaughton nói thêm rằng ông hy vọng mọi người sẽ “nghiên cứu bức tranh và cố gắng hiểu được ý nghĩa sâu sắc hơn”.

Thường Xuân

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Lực Lượng Công An (Phường) & Điệp Vụ 004

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Lực Lượng Công An (Phường) & Điệp Vụ 004

RFA

Ảnh của tuongnangtien

 tuongnangtien

Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa.

Thành ngữ VN

Nhà báo Phạm Đoan Trang vừa viết một stt ngắn khiến rất nhiều người hoá … tâm tư:

Ngày hôm qua, 25/7/2018, Toà thượng thẩm Berlin ra phán quyết, chính thức khẳng định Trịnh Xuân Thanh bị Bộ Công an Việt Nam tổ chức bắt cóc, trong đó họ đưa ra một số cáo buộc, nôm na là: Ý tưởng và mệnh lệnh đưa ra là của Nguyễn Phú Trọng, Tô Lâm là người triển khai ý tưởng, Đường Minh Hưng trực tiếp điều phối.

Như vậy, nếu cảnh sát Đức chỉ phát lệnh truy nã quốc tế đối với người trực tiếp chỉ huy chiến dịch mà lại không truy nã người có ý tưởng và người trợ giúp triển khai ý tưởng thì thật không công bằng. Truy nã tướng Hưng mà lại không truy nã tướng Lâm và Tiến sĩ Trọng, anh em tâm tư.

Ngay bên dưới stt thượng dẫn là ý kiến của nhà văn Nguyễn Tường Thụy: “Thật là mình cũng rất ‘tâm tư’. Nó chả công bằng tẹo nào.” Tôi đang rảnh, rất rảnh, nên cũng đâm ra hơi băn khoăn (chút xíu) nhưng không phải vì lẽ “công bằng” mà vì đôi ba chuyện bèo nhèo, và eo sèo khác.

Thoibao.de (13/04/2018) trích dẫn nguồn tin từ Cộng Hòa Séc cho biết “đã có từ 10 đến 20 triệu Euro được phía Việt Nam chuyển sang thông qua văn phòng MoneyGram của ông Nguyễn Hải Long trong khu chợ Sapa của người Việt tại Séc … có lẽ phía Việt Nam đã chuyển từ 10 đến 20 triệu Euro để chi cho trả cho toàn bộ chiến dịch bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh cũng như các khoản phí khác.”

Sao mà tốn kém dữ vậy cà? Điệp vụ Berlin chỉ được thực hiện bởi vài cái xe thuê,  một cái máy bay mượn, và nhân sự đều là người ăn lương của nhà nước hết trơn mà – theo như lời khai của phu nhân ông Trịnh Xuân Thanh, bà Trần Dương Nga (“Nhiều Cán Bộ Cao Cấp Bộ Công An Việt Nam Liên Quan Bắt Cóc Ông Trịnh Xuân Thanh”) trước toà án Đức:

1.Thượng tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an;  2.Trung tướng Đường Minh Hưng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công an;  3.Trung tướng Lê Mạnh Cường hiện giữ chức vụ Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo (Tổng cục V);  4.Phạm Văn Hiếu;  5.Lưu Trung Việt; 6.Vũ Quang Dũng;  7.Vũ Hồng Minh;  8.Phạm Minh Tiến; 9.Đào Công Duy; 10.Vũ Trung Kiên; 11.Đặng Tuấn Anh; 12.Nguyễn Thế Đôn.

Thôi cứ tính cho nó gọn là 15 triệu Euro, hay khoảng 17 hay 18 triệu USD, đi. Chi phí mọi thứ, dù cho vứt tiền qua cửa sổ chăng nữa, e cũng khó đến 5 hay 6 triệu MK. Phần còn lại, nếu chia đều, mười hai vị có tên tuổi thượng dẫn mỗi người được lãnh “thêm” cỡ một triệu đô la. Lợi tức trung bình hằng năm của một người dân Việt chưa đến ba ngàn (chính xác và cập nhật là USD 2.546) mà cán bộ đi công tác vài ngày, hay vài tháng, lại  “ẵm” cả triệu thì e hơi quá lố.

Đây là tiền thưởng chăng?

Hãy xem qua cách thực hiện “Điệp Vụ Bá Linh” coi họ xứng đáng được “tưởng thưởng” cắc bạc nào không?

Tờ Der Spiegel (Tấm Gương) – tuần báo lớn nhất, có uy tín đứng nhất nước Đức và phát hành khắp thế giới – có một bài tường thuật dài 3 trang với nhiều chi tiết mới mà trước đây chưa hề được các nhân viên điều tra của Đức tiết lộ. Xin được ghi lại đôi ba đoạn:

“Sáng chủ nhật, ngày 23 tháng 7, bầu trời u ám. Đúng 10 giờ 39 phút cặp nhân tình rời khỏi khách sạn và đi bộ trong công viên Tiergarten (Vườn thú).

Vụ bắt cóc diễn ra không đầy một phút. Những người đàn ông tóm lấy cô gái, cô ta đã chống cự kịch liệt đến nỗi các nhân chứng tưởng rằng cô ấy đang bị động kinh. Trịnh Xuân Thanh cũng đấm đá dữ dội, ngay cả khi ông ta bị đẩy xuống sàn xe bắt cóc VW Multivan màu ánh bạc mang biển số 2AB-3140. Kính râm và điện thoại Iphone 7 của ông bị rơi trên vỉa hè. Khi người qua đường nhặt nó lên, thì hình ảnh của một bông hoa hiện ra trên màn hình…

Buổi sáng hôm đó cảnh sát đã nhận được nhiều cuộc điện thoại báo động của các nhân chứng. Một nhân chứng đã bám theo chiếc xe bắt cóc đến Cổng Brandenburg. Khi xe dừng ở đèn đỏ anh ta nhảy ra khỏi xe và chạy đến những nhân viên cảnh sát để báo động, nhưng chiếc xe VW bắt cóc đãphóng chạy mất. Đúng 11 giờ 13 phút, chiếc xe bắt cóc đến Đại Sứ quán Việt Nam tại Berlin-Treptow. Chiếc xe đã đỗ tại đây suốt 5 tiếng đồng hồ…

Trong vụ này, hầu như không có bất kỳ người tham gia nào cung khai, kể cả 2 nạn nhân bị bắt cóc dẫu rằng họ có thể nói. Mặc dù thế, các nhà điều tra Đức đã tái dựng được từng phút của vụ bắt cóc.

Công nghệ giám sát đã giúp họ: những chiếc xe do nghi phạm Nguyễn Hải Long thuê mướn đều có trang bị hệ thống định vị GPS. Nhờ đó mà họ biết được chính xác lộ trình của xe và xác định chính xác hành trình di chuyển đúng từng giây.

Các đoạn băng video thu từ các trạm xăng đã tiết lộ ai đã lái xe, chiếc xe nào và khi nào. Một hệ thống kiểm tra tự động biển số xe, gọi là hệ thống Kesy, được sử dụng trong bang Brandenburg nhằm chống trộm xe, đã cung cấp thêm thông tin. Từ đó, các nhà điều tra đã phát họa được một họa đồ di chuyển của các thủ phạm và những chiếc xe của họ…

Những kẻ bắt cóc cố gắng che giấu danh tính của họ, nhưng vô ích. Mặc dù họ đột ngột thay đổi khách sạn, trong thời gian ngắn họ hủy bỏ phòng đã được đặt trước và thanh toán bằng tiền mặt, nhưng khi đặt trước phòng ở khách sạn, họ lại lấy tên thật.” [Hiếu Bá Linh – Thoibao.de (Biên dịch) Bản điện tử tóm tắt trên Der Spiegel onlinehttp://www.spiegel.de/politik/deutschland/entfuehrung-in-berlin-vietnamesischer-geheimdienst-plante-ueber-monate-a-1203919.html]

Ngoài những sai lầm rất sơ đẳng và ấu trĩ vừa kể, những Điệp Viên 004 của Việt Nam còn phơi bầy cho mọi người nhìn thấy cái phương thức làm việc rất cẩu thả (và vô cùng tắc trách) theo đúng với “truyền thống của đám công an phường” ở xứ sở này.

Ông Voges, trưởng nhóm điều tra chuyên án Trịnh Xuân Thanh, đã khai trước tòa án Đức hôm 19.6 chi tiết sự việc như sau:

“Các hình ảnh Video ghi lại tại khách sạn Sheraton Berlin cho thấy, ông Trịnh Xuân Thanh và bà Đỗ Thị Minh Phương cùng nhau rời khỏi đây vào sáng Chủ nhật 23.7, sau 15 phút đã xẩy ra vụ bắt cóc ngay gần đó, tại công viên Tiergarten Berlin.

Tại phòng của bà Phương đã thuê ở khách sạn Sheraton qua hệ thống Booking.com, cảnh sát đã tìm thấy 2 chiếc bàn chải chải đánh răng, qua xác định bằng AND phát hiện một chiếc của bà Phương, chiếc còn lại của ông Thanh. Trong tủ quần áo cũng tìm được các bằng chứng ADN tương tự của 2 người. Dấu vết ADN của ông Thanh cũng được lấy từ căn hộ nơi ông và Vợ đang sống ở Berlin.

Đặc biệt trên chiếc xe VW T5 biển số Séc đã tìm thấy nhiều vết máu lớn, theo tường thuật của một cảnh sát điều tra ‘những vết máu này to như đồng 2 Euro và đều của ông Thanh, tại đây cũng tìm thấy nhiều sợi tóc và dấu vết ADN của bà Phương trên tựa ghế của xe.’ Ngay phía dưới ghế phụ đã phát hiện thêm 2 sợi dây siết bằng nhựa có dính vết máu của ông Thanh cùng 1 hộp xịt hơi cay.” (“Tường Thuật Từ Tòa Thượng Thẩm Tại Berlin Hôm 19.6.2018,” Trung Khoa – Thoibao.de)

Tuy để lại đủ thứ tang vật (bầy hầy) khắp mọi nơi như thế nhưng ngay tối hôm đó, nhóm Điệp Viên 004 vẫn thản nhiên đi “uống rất nhiều bia” để ăn mừng – như lời khai của ông Nguyễn Hải Long.

Theo Wikipedia tiếng Việt thì Thượng Tướng Tô Lâm có học hàm giáo sư Ngành Khoa Học An ninh và học vị tiến sĩ Ngành Luật Học. Còn Trung Tướng Đường Minh Hưng cũng có học hàm phó giáo sư và học vị tiến sĩ … gì đó. Gì thì gì cả hai ông, rõ ràng, đều văn võ song toàn cả.

Tuy chưa bao giờ có hân hạnh được ngồi nghe hai vị “giáo sư” này giảng dậy lần nào nhưng cứ nhìn vào con số 20 triệu Euro chi phí cho Điệp Vụ Berlin thì tôi vẫn có thể (tạm) kết luận về họ như sau: “Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa!”

Chủ trương phòng thủ Nam Việt Nam của Hoa Kỳ

Chủ trương phòng thủ Nam Việt Nam của Hoa Kỳ

Trần Gia Phụng

5-8-2018

Trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975, chính sách của Hoa Kỳ về Việt Nam thay đổi tùy hoàn cảnh, tùy quyền lợi và tùy sự chọn lựa của dân chúng Hoa Kỳ qua các đời tổng thống khác nhau, nhưng suốt trong cuộc chiến, quân đội Hoa Kỳ theo một chủ trương không thay đổi, là chỉ phòng thủ Nam Việt Nam (NVN), không đưa bộ binh tiến đánh Bắc Việt Nam (BVN), ngoại trừ việc gởi phi cơ tấn công các căn cứ quân sự BVN.

CHỦ TRƯƠNG PHÒNG THỦ NAM VIỆT NAM

Trong chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), Hoa Kỳ áp dụng chiến lược tấn công Bắc Triều Tiên để phòng thủ Nam Triều Tiên, tức lấy công làm thủ.  Khi can thiệp vào Việt Nam, các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ bị ám ảnh bởi chiến tranh Triều Tiên. (Mark Moyar, Triumph Forsaken, The Vietnam War, 1954-1965, Cambridge University Press, 2006, tr. 306.)  Vì vậy, lần nầy Hoa Kỳ chủ trương giúp Nam Việt Nam (NVN) phòng thủ tại chỗ, chứ Hoa Kỳ không dùng bộ binh tấn công BVN, tránh khiêu khích Trung Cộng, nghĩa là Hoa Kỳ không đánh bắc thủ nam như ở Triều Tiên.

Phòng thủ một vùng đất rộng lớn nhiều rừng núi như NVN rất khó khăn, nhứt là để đối phó với chiến tranh du kích.  Du kích là lối đánh quy mô nhỏ, không sắp thành trận tuyến, di động nhanh chóng, bất ngờ đánh nơi nầy, phá nơi khác , không theo quy ước nhất định, trà trộn trong quần chúng và dựa vào quần chúng để được che chở.  Du kích cộng sản (CS) hoạt động khắp nước, núp trong bóng tối, khi ẩn khi hiện, nên khó có đối sách hữu hiệu tiêu diệt du kích.  Muốn chống du kích là phải chận đứng nguồn tiếp tế cho du kích.  Cần chú ý thêm, một dân quân du kích CS không cần huấn luyện chính quy dài ngày, không cần quân trang, quân dụng, quân phục, võ khí đầy đủ theo kiểu hiện đại.

Nguồn tiếp tế võ khí cho du kích CS ở NVN đến từ hậu cứ của CS là BVN.  Nếu không đánh BVN, thì nguồn võ khí từ BVN cứ liên tục chuyển mãi vào NVN cho du kích CS ở khắp NVN qua nhiều đường như đường Trường Sơn, đường Lào, đường Cambodia, đường biển.  Vì vậy không thể nào tiêu diệt được du kích CS trên toàn cõi NVN nếu không chận đường tiếp tế võ khí từ BVN.

Đô đốc Ulysses Simpson Grant Sharp, tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương (từ 1964 đến1968) đã tiết lộ: “Chính phủ chúng ta [Hoa Kỳ] lập lại rõ ràng nhiều lần rằng các mục tiêu tranh chấp ở Việt Nam rất giới hạn.  Chúng ta không được tiêu diệt chế độ Hà Nội, không cưỡng ép dân chúng Bắc Việt Nam phải thay đổi nhà cầm quyền, và không tàn phá Bắc Việt Nam.  Chúng ta chỉ đơn giản muốn Bắc Việt Nam ngừng điều khiển và yểm trợ Việt cộng nổi dậy ở trong Nam và đưa lực lượng Bắc Việt Nam trở ra Bắc.  Chiến lược điều khiển chiến tranh của chúng ta phản ảnh những mục tiêu giới hạn trên đây.”  Nguyên văn: “Our Government has repeatedly made it clear that our objectives in the Vietnam conflict are limited. We are not out to destroy the Hanoi regime, or to compel the people of North Vietnam to adopt another form of government, nor are we out to devastate North Vietnam. We simply want North Vietnam to cease its direction and support of the Vietcong insurgency in the South and take its forces home. Our strategy for the conduct of the war reflects these limited objectives.” (William D. Pawley & Richard R. Tryon, Jr., Why the Communists are Winning as of 1976 and How They Lost in 1990http://www.gratisbooks.com/.)

Đáng chú ý là ngày 30-4-1964, ngoại trưởng Hoa Kỳ Dean Rusk nhờ J. Blair Seaborn, trưởng đoàn đại diện Canada trong Ủy ban Kiểm soát Quốc tế (International Control Commission), báo cho Hà Nội biết chủ trương trên đây của Hoa Kỳ và đề nghị Hà Nội ngưng ủng hộ CS miền Nam để đổi lấy viện trợ kinh tế.  Seaborn trình bày lại cho Phạm Văn Đồng, thủ tướng BVN ngày 18-6-1964, nhưng BVN không chấp nhận. (John S. Bowman (tổng biên tập), The Vietnam War, Day by Day, New York: Maillard Press, 1989, tr. 37.  Mark Moyar, sđd. tr. 307.)

QUY TẮC THAM CHIẾN

Do chiến lược phòng thủ NVN, Hoa Kỳ chủ trương chiến tranh giới hạn (limited war), không dùng bộ binh tấn công BVN, tránh sự can thiệp của Trung Cộng như vụ Triều Tiên.  Chính phủ Hoa Kỳ còn buộc quân đội của mình phải tuân thủ những quy tắc tham chiến (rules of engagement) tức những quy tắc ứng xử khi lâm chiến, như một thứ cẩm nang chiến tranh.  Những quy tắc tham chiến nhắm hai mục đích chính: 1) Giới hạn sự hủy hoại tài sản và thương vong của những người không ở vị trí chiến đấu. 2) Đặc biệt trong những cuộc chiến không có giới tuyến rõ ràng như ở Việt Nam, tránh bắn hay tấn công lầm vào các đơn vị bạn. (Spencer C. Tucker, Editor, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political,  Social, and Military History, Volume two, Santa Barbara, California: ABC-CLIO, 1998, tt. 625-626.)

Riêng tại Việt Nam, những quy tắc tham chiến còn nhằm ngăn ngừa và giới hạn những ngẫu biến có thể làm bùng nổ những tranh chấp bất ngờ ở vùng biên giới Hoa Việt hay vùng phi quân sự (vĩ tuyến 17), nhất là do những hoạt động của Không quân. (Spencer C. Tucker, sđd, tt. 625-626.)

Những quy tắc nầy do bộ Quốc phòng soạn thảo, thêm bớt tùy hoàn cảnh và giai đoạn, quy định những hạn chế phức tạp mà quân đội Hoa Kỳ phải tuân hành ở các nước Đông Dương.(J. Terry Emerson, How Rules of Engagemnet Lost Vietnam War, Human Events, Vol. 45, No. 20, May 18, 1985.)

Những quy tắc tham chiến được đề cập trong hồ sơ của quốc hội Hoa Kỳ, ghi lại những phát biểu của thượng nghị sĩ Barry Goldwater, đảng Cộng Hòa, tiểu bang Arizona, nhiệm kỳ 1953-1965 và 1969-1987, ứng cử viên tổng thống, đại diện đảng Cộng Hòa năm 1964, đặc biệt những phát biểu của Goldwater năm 1985, trong Congressional Record-Senate, nhiều số liên tiếp. (Heinonline, Citation: 131 Cong.Res;  http://heinonline.org)

Lúc đầu (thời tổng thống Kennedy), trước năm 1965, những Quy tắc tham chiến giới hạn các cuộc tấn công của máy bay Hoa Kỳ như phi công Hoa Kỳ không được phép dội bom các dàn hỏa tiễn Sam do Liên Xô chế tạo đang được xây dựng, và chỉ có thể tấn công khi các dàn hỏa tiễn nầy hoạt động.  Phi công và lực lượng trên bộ không được phép phá hủy các phi cơ CS đang đậu trên mặt đất mà chỉ được phép tấn công các phi cơ có võ trang và nguy hiểm trên không.

Quân đội Hoa Kỳ chỉ được tấn công những xe vận tải CS khi đang di chuyển trên đường lộ, nhưng không được tấn công những bãi đậu xe ở cách xa lộ 200 yards (khoảng 182 mét).  Phi công Hoa Kỳ phải lơ qua đối với tàu bè đang trên đường tới cảng Hải Phòng dầu những chiếc tàu nầy chuyên chở võ khí có thể được dùng để giết quân đội Hoa Kỳ. (http://centerformoralliberalism.wordpress.com/2009/11/11/why-we-lost-in-vietnam-the-untold-story/ <http://centerformoralliberalism.wordpress.com/%202009/11/11/why-we-lost-in-vietnam-the-untold-story/> Steve Farrell, “Why we lost in Vietnam – The Untold Story”, The Moral Liberal, November 11, 1989.)

Về sau, qua thời tổng thống Lyndon B. Johnson, khi chiến dịch Rolling Thunder bắt đầu oanh tạc BVN, phi công Hoa Kỳ được nới rộng phần nào từ ngày 21-8-1965.  Khác với trước đây, từ ngày nầy, phi công Hoa Kỳ được phá hủy những dàn hỏa tiễn Liên Xô mà phi công thấy được trong các chuyến bay không kích BVN.  Điều nầy có thể gây thương vong cho quân nhân Liên Xô. (John S. Bowman, sđd. tr. 93.

Ai vi phạm quy tắc tham chiến sẽ bị trừng phạt tùy theo mức độ.  Ví dụ đại tướng John Daniel Lavelle, chỉ huy Không lực Hoa Kỳ tại Việt Nam, bị cất chức tháng 3-1972, hạ hai cấp và về hưu vì ông đã ra lệnh oanh kích những mục tiêu giới hạn, không được quyền oanh kích. (John S. Bowman, sđd. tr.198.)  Những quy tắc tham chiến hạn chế các mục tiêu tấn công và hạn chế nhiều nhất các hoạt động của không lực Hoa Kỳ, giới hạn việc oanh kích, tránh xa vùng biên giới Hoa Việt.

Trong chiến tranh hiện đại, quan trọng nhất ở chiến trường là hỏa lực yểm trợ.  Quân đội CS dựa trên hỏa lực yểm trợ của xe tăng, thiết giáp.  Quân đội Hoa Kỳ dựa trên hỏa lực yểm trợ của không quân.  Các quân chủng Hoa Kỳ đều có riêng những phi đội chiến đấu hay oanh tạc. (Ngoài Không quân, Bộ Binh và Hải quân đều có phi cơ.)

Quy tắc tham chiến giới hạn hoạt động của phi cơ, sẽ giới hạn toàn bộ hỏa lực yểm trợ, làm giảm sức mạnh của quân đội Hoa Kỳ. Tác giả Steve Farrell, trong sách Why We Lost in Vietnam – The Untold Story, cho rằng “These rules insured that we could not win and that the communists could not lose.” (Tạm dịch: “Những quy tắc nầy bảo đảm rằng quân đội chúng ta [Hoa Kỳ] không thể thắng mà cộng sản không thể thua.” (Steve Farrell, Why We Lost in Vietnam – The Untold Story, University of Toronto, School of Continuimg Studies, The Moral Liberal.)

Barry Goldwater, thượng nghị sĩ đảng Cộng Hòa bang Arizona, gọi đây là “no win policy” (chính sách không thắng). (The Bryan Times, Thursday April 17, 1975, tr. 6. http://news.google.com/newspapers.)

HOA KỲ NGĂN CHẬN CHỦ TRƯƠNG BẮC TIẾN

Đánh rắn phải đánh đầu.  Bứng cây phải đào tận gốc.  Muốn dẹp du kích CS tại NVN, thì phải tấn công sào huyệt của du kích ở BVN, chận đứng hậu phương của CS, chận đứng nguồn tiếp tế võ khí liên tục của CS, và buộc BVN từ bỏ cuộc tấn công NVN.  Nếu không đánh BVN, CS ở NVN liên tục được tiếp liệu về võ khí, kinh tế và cả cán bộ, bộ đội, và nhờ thế CS cứ tiếp tục chiến tranh du kích không ngừng nghỉ, hết chỗ nầy đến chỗ khác.

Các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) thấy rõ điều nầy và nhiều lần đề nghị Bắc tiến, đánh ra phía bắc vĩ tuyến 17, lấy thế công làm thế thủ, buộc CSVN phải lui về phòng ngự đất Bắc, ngưng hoặc giảm tiếp liệu cho du kích miền Nam, hoặc dựa vào đó để thương thuyết với CS, buộc CSBVN chấm dứt tiếp tế du kích miền Nam, như liên quân LHQ đã làm ở Triều Tiên.

Tuy nhiên Hoa Kỳ chủ trương chiến tranh giới hạn, không chấp nhận kế hoạch Bắc tiến, không viện trợ phương tiện cho các kế hoạch Bắc tiến và chận đứng ngay các kế hoạch Bắc tiến của quân đội VNCH.  Sau đây có thể kể vài ví dụ:

Ngày 4-5-1964, trung tướng Nguyễn Khánh đề nghị với đại sứ Cabot Lodge mở rộng chiến tranh ra Bắc. (Vietnam Task Force – Office of the Secretary of Defence, United States –Vietnam Relations 1945-1967, Washington D.C.: 2011.  Part IV. C. 1., p. a-7.)  Trong cuộc mít-tinh ngày 19-7-1964, thủ tướng Nguyễn Khánh công khai hô hào Bắc tiến.  (John S. Bowman, The Vietnam War: Day by Day, New York: Mallard Press, 1989, tt.  42.)  Kết quả, Nguyễn Khánh bị các tướng trẻ đẩy ra nước ngoài làm đại sứ.  Không biết Hoa Kỳ có nhúng tay vào vụ nầy hay không?

Ngày 1-12-1965, trung tướng Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh Vùng I Chiến thuật kiêm tư lệnh Quân đoàn I (giáp ranh với BVN) viết thư cho chính phủ, đưa ra đề nghị Bắc tiến.  Tướng Thi cũng công khai đề nghị với người Mỹ. (Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam, một trời tâm sự,California: Nxb. Anh Thư, 1987, tt. 319-334.)  Tướng Thi sau đó bị cách chức vào tháng 3-1966, đưa đến vụ Biến động miền Trung, và cũng được đưa qua Hoa Kỳ chữa bệnh “thối mũi”.

Theo hồi ký của cựu đại tướng Cao Văn Viên, nguyên là tổng tham mưu trưởng quân lực VNCH, thì vào năm 1966, ông đưa ra một chiến lược 7 điểm, trong đó điểm thứ 6 là đổ bộ lên Vinh (tỉnh Nghệ An) hay Hà Tĩnh (tỉnh Quảng Bình).  Tuy nhiên kế hoạch nầy không được thi hành. (Cao Văn Viên, Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa, Washington D.C.: Vietnambibliography, 2003, tr. 288.)

Cũng trong năm 1966, nhận thấy quân BVN tiến qua vùng phi quân sự, xâm nhập tỉnh Quảng Trị, tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam, tướng William Westmoreland đề nghị với bộ Quốc phòng Hoa Kỳ dùng lực lượng quốc tế lập phòng tuyến KANZUS, chận ngang qua khu phi quân sự, chống sự xâm nhập và bảo vệ miền Nam Việt Nam.  KANZUS viết tắt của các chữ Korea, Australia, New Zealand và United States.  Đại sứ các nước nầy tại Sài Gòn đều chấp thuận kế hoạch KANZUS, nhưng kế hoạch KANZUS bị Washington DC bác bỏ. (William C. Westmoreland, A Soldier Reports, New York: Da Capo Press, 1989, tr. 197.)  Westmoreland không giải thích vì sao chính phủ Hoa Kỳ từ chối.  Phải chăng Hoa Kỳ không muốn gây sự hiểu lầm về sự hiện diện của một lực lượng đa quốc tại vùng phi quân sự?

Khi mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, tấn công qua Hạ Lào tháng 1-1971, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đề nghị với Hoa Kỳ là VNCH đưa một sư đoàn tiến qua phía bắc vĩ tuyến 17 như một chiến thuật đánh lạc hướng CSVN, nhưng Hoa Kỳ không chấp thuận. (Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter , Hồ sơ mật dinh Độc Lập, Los Angeles: C & K Promotions, Inc., không đề năm xuất bản, tr. 75 và tr. 116.)

Trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, BVN tràn quân qua vĩ tuyến 17, tấn công VNCH.  Viện dẫn lý do nầy, Quân đoàn I đưa ra đề nghị đánh thẳng qua sông Bến Hải, nhằm đe dọa hậu cứ địch, nhưng cố vấn Mỹ không đồng ý.  Lo ngại Quân đoàn I có thể tự ý tiến quân ra BVN, các cố vấn Mỹ giới hạn việc cấp bổng tiếp vận cho Lữ đoàn 1 Kỵ binh 20 gallons xăng mỗi ngày cho một xe, đạn pháo binh chỉ được bắn 5 quả mỗi ngày cho một khẩu và ngưng tiếp tế lương khô cho Lữ đoàn. (Hà Mai Việt, Thép và Máu, Thiết giáp trong chiến tranh, Texas: 2005, tr. 103.)  Cuối năm 1972, Hoa Kỳ rút hết quân khỏi Việt Nam.

Về Không quân, ban đầu Hoa Kỳ chỉ cung cấp các chiến đấu cơ loại cánh quạt cho Không quân VNCH.  Trong năm 1965, khi mở màn tấn công BVN, các phi công VNCH lái các loại máy bay AD5 (2 chỗ ngồi) và AD6 (một chỗ ngồi) tức khu trục cơ cánh quạt Skyraider (Thiên kích), bay xa nhất đến Hà Tĩnh, rồi lại phải quay về liền.  Sau năm 1965, Không quân VNCH không còn bay ra BVN nữa. Khi cung cấp phản lực cơ chiến đấu cho Không quân VNCH, Hoa Kỳ chỉ cung cấp loại phản lực F-5 và A-37, chứa nhiên liệu ít, nên không ở lâu trên không trung và không bay xa được, để khỏi tấn công đất Bắc.

Rõ ràng vì chủ trương “chiến tranh giới hạn”, Hoa Kỳ không chấp nhận tất cả những kế hoạch tấn công BVN bằng bộ binh như ở Triều Tiên.  Nếu không tấn công hậu cứ CSVN ở BVN để CSVN lui về thế thủ, chấm dứt tiếp liệu cho CS miền Nam, thì không có cách gì có thể chận đứng nạn du kích ở miền Nam và cũng không thể chận đứng nguồn tiếp liệu của CSVN, để CSVN phải chấm dứt những trận đánh lớn trên khắp NVN.  Các tướng lãnh cầm quân Hoa Kỳ, dù thay đổi chiến thuật, chiến lược, dù được tăng cường tối đa và được trang bị tối tân, có thể thắng chiến tranh quy ước, nhưng cũng không thể chận đứng chiến tranh du kích của CSVN.

HOA KỲ LUI QUÂN

Trong khi chiến tranh đang diễn ra, hai yếu tố mới xuất hiện: 1) Phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ càng ngày càng hoạt động mạnh mẽ, đòi chấm dứt chiến tranh, rút thân nhân về nước.  Phong trào phản chiến gây xáo trộn xã hội Hoa Kỳ không ít trong một thời gian dài 2) Sự rạn nứt giữa hai cường quốc CS là Liên Xô và Trung Cộng càng ngày càng trầm trọng; cao điểm là chiến tranh biên giới Nga-Hoa ngắn ngày tại vùng đông bắc Trung Hoa trên sông Ussuri (Ô Tô Lý Giang), bùng nổ ngày 2-3-1969.

Sau khi Richard Nixon cầm quyền ngày 20-1-1969, trong niên khóa 1969-1970, xảy ra 1,800 cuộc biểu tình, 7,500 người bị bắt giữ, 247 vụ đốt phá, 462 người bị thương mà hai phần ba (2/3) là cảnh sát và 8 người chết.  Nạn bạo động  trở thành một bệnh dịch trên toàn quốc HK.  Từ tháng 1-1969 đến tháng 2-1970 có 40,000 vụ ném bom, hay âm mưu ném bom, hay đe dọa ném bom liên hệ đến chiến tranh, gây thiệt hại 21 triệu Mỹ kim, hàng trăm người bị thương và 43 người chết. (Richard Nixon, No more Vietnams, London: W. H. Allen, 1986, tr. 126.)

Nixon đưa ra kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”, chuyển giao công việc chiến đấu chống CS cho quân đội NVN và Hoa Kỳ rút quân Hoa Kỳ về nước.  Hoa Kỳ cũng giảm thiểu gần như chấm dứt viện trợ cho NVN.  Phong trào phản chiến từ từ giảm dần cho đến khi Hoa Kỳ ký kết hiệp định Paris với CSVN ngày 27-1-1973.

Trong khi đó, nhận ra được sự mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Cộng, Hoa Kỳ bỏ rơi Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa (NVN), bắt tay với Trung Cộng năm 1971, và nhờ Trung Cộng áp lực BVN ký hiệp định Paris, để Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam, mà BVN vẫn lưu quân tiếp tục ở lại NVN và tiếp tục tấn công VNCH.

Vì tham vọng quyền lực, bành trướng chủ nghĩa, cộng sản BVN được sự viện trợ to lớn của Trung Cộng, Liên Xô và khối CS, động binh quyết đánh chiếm NVN.  Nam Việt Nam không đủ sức chống đỡ cả khối CS, phải nhờ đến sự giúp đỡ của Hoa Kỳ và đồng minh.  Tuy nhiên, khi cần thì Hoa Kỳ đến, tung hô NVN là “tiền đồn thế giới tự do”.  Khi không cần thì Hoa Kỳ bỏ cuộc ra đi.

Sau hiệp định Paris (27-01-1973), NVN một mình can đảm tiếp tục chiến đấu chống lại cả khối CS đang dồn sức cho BVN tấn công NVN, thì bộ trưởng Ngoại giao của Hoa Kỳ là Henry Kissinger lại còn trù ẻo NVN: “Tại sao họ không chết lẹ đi cho rồi?  Điều tệ nhất có thể xảy ra là họ cứ sống dai dẳng hoài.” (Lời của Henry Kissinger nói với Ron Nessen.  Ron Nessen thuật lại trong sách It Sure Looks Different from the Inside, Chicago: Playboy Press, 1978, tr. 98.  Nguyễn Tiến Hưng trích dẫn, Hồ sơ mật dinh Độc Lập, Los Angeles: C & K Promotions, INC., 1987, tr. 512.).

Cuối cùng, vì thiếu võ khí, đạn dược, nhiên liệu, NVN sụp đổ ngày 30-4-1975.

KẾT LUẬN

Nói chung, chính sách của Hoa Kỳ dưới thời bất cứ tổng thống nào cũng chỉ phục vụ quyền lợi của Hoa Kỳ.  Hoa Kỳ can thiêp vào NVN để giúp NVN chống lại BVN, nhằm ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa CS, nhứt là sự bành trướng của Trung Cộng xuống Đông Nam Á.  Đây là cách Hoa Kỳ phòng thủ từ xa để CS không lây lan rộng lớn và lây lan sang tận Mỹ Châu.

Do kinh nghiệm chiến tranh Triều Tiên, Hoa Kỳ quan ngại sự can thiệp của Trung Cộng nên Hoa Kỳ chỉ giúp NVN phòng thủ ở NVN, không đưa bộ binh tiến ra BVN.  Chỉ khi cần, Hoa Kỳ gởi phi cơ oanh tạc các mục tiêu quân sự ở BVN.  Chẳng những thế, Hoa Kỳ còn ngăn cản sáng kiến của các tướng lãnh VNCH bắc tiến để chận đứng CS miền Bắc tiếp tế cho du kích CS miền Nam.  Không đánh BVN để chận đường tiếp tế cho du kích CS, mà chỉ phòng thủ NVN thì không thể diệt hết du kích được.

Chủ trương phòng thủ ở NVN, quân đội Hoa Kỳ có thể chiến thắng từng trận một, từng nhóm du kích địa phương, mà không tiêu diệt được du kích trên toàn quốc, không ngăn chận được làn sóng CS đúng như mục đích ban đầu.  Trong khi đó, số tử vong mỗi ngày một ít, nhưng “tích tiểu thành đa”, lâu ngày cộng lại thành nhiều, khiến dân chúng Hoa Kỳ ở hậu phương xa xăm lo ngại.  Phong trào phản chiến lên cao, làm cho xã hội Hoa Kỳ xáo trộn, nhứt là ở các đại học, nơi sinh viên ở độ tuổi quân dịch.

Cuối cùng, không thua trận nào trên chiến trường, nhưng quân đội Hoa Kỳ phải rút lui, xem như Hoa Kỳ thất bại trong chủ trương phòng thủ Nam Việt Nam.