Là người Sài Gòn từ thuở bào thai rồi, cần gì xin nhập tịch!

Là người Sài Gòn từ thuở bào thai rồi, cần gì xin nhập tịch!

Vũ Thế Thành •Thứ Sáu, 17/08/2018 •

Sinh ra, lớn lên và sống gần hết đời ở cái đất Sài Gòn này mới thấy nó chán phèo. Hồi nhỏ thì chơi tạc lon, đánh đáo, giựt cô hồn… Thả diều không được vì ông già Mười, nhà có xe hơi xách baton rượt, sợ vướng dây điện. Tụi tui lấy kẹo cao su gắn dính vô chuông cổng nhà ổng rồi bỏ chạy. Lớn hơn chút nữa thì chơi bầu cua, cát tê, xập xám,…

Mỗi tối mẹ sai tôi xách thùng rác ra gốc me ngoài đường đổ. Tối cúp điện, tôi vừa xách thùng rác vừa nghêu ngao: “…Đường về hôm nay tối thui, gập ghềnh em không thấy tui, em đụng tui, em nói tui đui…” Tội nghiệp bản “Kiếp nghèo” của Lam Phương, tôi chỉ cám cảnh a dua hát theo chứ đâu biết sửa lời. Trời nóng, để tạm thùng rác ở gốc me, chạy ra phông-tên nước gần đó, năn nỉ mấy chị ma-ri-sến gánh nước thuê, cho em thò cái đầu vô vòi nước một chút. Mát đầu có sức quậy tiếp.

Xóm nhỏ đôi khi lầy lội. Thỉnh thoảng mấy bà trong xóm cũng cãi nhau ầm ĩ. Hôm sau hai ông chồng lại ngồi khề khà nhậu với nhau, còn mấy bả đon đả tiếp mồi. Cãi nhau là chuyện nhỏ, chuyện hôm qua cho nó qua luôn. Đời sống nghèo ở Sài Gòn là vậy, có gì thơ mộng đâu?

Mà nói thiệt, tôi là dân Bắc kỳ… chín nút. Nhưng đó là chuyện của ba má tôi, dù sau này có về thăm quê nội ngoại tôi vẫn thấy hụt hẫng và hờ hững thế nào ấy. Tôi lớn lên ở Sài Gòn, không khí Sài Gòn, cơm gạo Sài Gòn, đầu Sài Gòn, tim Sài Gòn,… bao nhiêu thứ buồn vui với nó. Trong tôi cứ bám riết cái Sài Gòn chán phèo này, dù đôi lúc mặc cảm mình không phải là dân Sài Gòn.

Hồi 54, cả trăm ngàn dân di cư mang theo đủ loại kiểu sống bó trong lũy tre làng đem nhét hết vô mảnh đất nhỏ xíu này, cũng gây xáo trộn cho người ta chứ. Phong tục, tập quán, ở đất người ta mà cứ như là ở đất mình. Nhưng người Sài Gòn chỉ hiếu kỳ một chút, khó chịu một chút, rồi cũng xuề xòa đón nhận.

Lúc đầu tụi bạn ghẹo tôi là “thằng Bắc kỳ rau muống”. Con nít đổi giọng nhanh mà, trong nhà giọng Bắc, ra ngoài giọng Nam. Thế là huề hết. Rủ nhau đi oánh lộn phe nhóm là chuyện thường. Khỏi cần biết đúng sai, mày đánh bạn tao, thì tao đánh lại, oánh lộn tưng bừng. Vài ngày sau lại rủ nhau đi xem xi nê cọp. Dễ giận dễ quên. “Tao về quê sẽ mang lên cho mày ổi xá lỵ, xoài tượng…”. Tôi ngóng cổ chờ bạn, chờ quà. Thực ra, tôi thèm có quê để về.

Tết đến, thầy cô, bạn bè về quê, nhiều người Sài Gòn xôn xao về quê. Tôi ở lại Sài Gòn mà thấy hình như mình vẫn không phải là dân Sài Gòn. Vậy ai là dân Sài Gòn chính hiệu đây? Chẳng lẽ phải tính từ thời mấy ông Pétrus Ký hay Paulus Của?

Sài Gòn trẻ măng, mới chừng hơn 300 tuổi tính từ thời Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền ở đây. Sài Gòn khi cắt ra khi nhập vào, to nhỏ tùy lúc. To nhất có lẽ khi nó là huyện Tân Bình, kéo dài đến tận vùng Biên Hòa. Nhỏ nhất là vào thời Pháp mang tên Sài Gòn. Ngay trước 1975, Sài Gòn rộng chừng 70km2, có 11 quận, từ số 1 đến 11. Hồi đó Phú Nhuận, Tân Bình, Thủ Đức,… còn được xem là nhà quê (tỉnh Gia Định). Bây giờ Sài Gòn rộng tới 2.000km2.

Sài Gòn đắc địa, có cảng nối biển, là đầu mối giao thương quốc tế, tiếp cận với văn minh Tây phương sớm. Đất lành chim đậu. Người miền Nam đổ về nhiều. Dân Sài Gòn không có địa giới rõ rệt. Nói tới họ có vẻ như là nói tới phong cách của dân miền Nam. Họ là những lưu dân, khai phá, hành trang không có bờ rào lũy tre nên tính tình phóng khoáng, trọng nghĩa khinh tài, nói năng bộc trực… Ai thành đại gia thì cứ là đại gia, ai bán hàng rong thì cứ bán. Sài Gòn không tự hào mình là người thanh lịch, không khách sáo, không mời lơi. Họ lấy bụng thiệt mà đãi nhau.

Sài Gòn có mua bán chém chặt? Có, đúng hơn là nói thách. Cứ vô chợ Bến Thành xem mấy bà bán mỹ phẩm, hột xoàn hét giá mát trời ông Địa luôn. Đối tượng nói thách của họ là khách hàng, chứ không cứ gặp khách tỉnh mới nói thách. Dân Sài Gòn lơ mơ cũng mua hớ như thường. Thuận mua vừa bán mà.

Ít nơi nào nhiều hội ái hữu, hội tương tế, hội đồng hương như ở Sài Gòn. Dân tứ xứ về đây lập nghiệp nhiều. Có máu lưu dân trong người, dân Sài Gòn thông cảm đón nhận hết, không ganh tị, không thắc mắc, không kỳ thị. Người ta kỳ thị Sài Gòn, chứ Sài Gòn chẳng kỳ thị ai. Nhiều gia đình người Bắc người Trung ngại dâu ngại rể Sài Gòn, chứ dân Sài Gòn chấp hết, miễn sao ăn ở biết phải quấy là được Dân Sài Gòn làm giàu bằng năng lực hơn là quyền lực.

Người ta nói “dân chơi Sài Gòn”. Trời đất! Sài Gòn mà “tay chơi” cái nỗi gì. Tay chơi dành cho những đại gia mới giàu lên đột xuất từ đâu đó đến. Đổi đời, Sài Gòn biết sợ. Sài Gòn a dua thì có, nhưng a dua biết chọn lọc. Coi vậy chứ dân Sài Gòn đâu đó còn chút máu “ kiến nghĩa bất vi vô dõng giả”. Cứ xem dân Sài Gòn làm công tác xã hội thì biết, cứu trợ lũ lụt thấy người ta lạnh quá, cởi áo len đang mặc trên người tặng luôn. Họ làm vì cái bụng nó thế, chứ không phải vì PR, đánh bóng bộ mặt.

Biết bao văn nghệ sĩ miền Bắc, miền Trung vào đất Sài Gòn này “quậy” tưng, tạo ra cái gọi là văn học miền Nam hậu 54 coi cũng được quá chứ? Nhạc sĩ Lam Phương, quê Rạch Giá, 10 tuổi đã lưu lạc lên Sài Gòn kiếm sống. Năm 17 tuổi nổi danh với bản “Kiếp nghèo” và khá giả từ đó.

Tiếp cận văn minh phương Tây sớm, nên dân Sài Gòn có thói quen ngả mũ chào khi gặp đám ma, xe hơi không ép xe máy, xe máy không ép người đi bộ, chạy xe lỡ va quẹt vào nhau, giơ tay chào ngỏ ý xin lỗi là huề. Những thói quen này giờ đây đang mất dần, nhưng dân Sài Gòn không đổ thừa cho dân nhập cư. Họ cố gắng duy trì (dù hơi tuyệt vọng) để người mới đến bắt chước vì lợi ích chung. Chợ hoa là một chút văn hóa của Sài Gòn, có cả nửa thế kỷ nay rồi, có dân nhập cư nào “yêu” hoa mà ra đó cướp giựt hoa đâu.

Sài Gòn nhỏ tuổi nhiều tên, nhưng dù thế nào Sài Gòn vẫn là Sài Gòn. Nhiều người thành danh từ mảnh đất Sài Gòn này. Sài Gòn nhớ không hết, nhưng mấy ai nhớ đến chút tình của Sài Gòn? May ra những người xa Sài Gòn còn chút gì nhức nhối. Tôi có người bạn Bắc kỳ chín nút, xa Việt Nam cũng gần 40 năm. Tên này một đi không trở lại, vừa rồi phone về nói chuyện lăn tăn, rồi chợt hỏi: “Sài Gòn còn mưa không?”. “Đang mưa”. Đầu phone bên kia thở dài: “Tao nhớ Sài Gòn chết…mẹ!”. Sài Gòn nay buồn mai quên, nhưng cũng có nỗi buồn chẳng dễ gì quên.

Mới đây đi trong con hẻm lầy lội ở Khánh Hội, chợt nghe bài hát “Kiếp nghèo” vọng ra từ quán cà phê cóc ven đường. Tôi ghé vào gọi ly cà phê. Giọng Thanh Thúy sao da diết quá: “Thương cho kiếp sống tha hương, thân gầy gò gởi theo gió sương…” Chủ quán, ngoài 60 cầm chồng báo cũ thẩy nhẹ lên bàn “Thầy hai đọc báo…”. Hai tiếng “thầy hai” nghe quen quen… Tự nhiên tôi thấy lòng ấm lại. Sài Gòn từ tâm, Sài Gòn bao dung. Tôi chợt hiểu ra, mình đã là người Sài Gòn từ thuở bào thai rồi, cần gì xin nhập tịch…..

Tác giả: Vũ Thế Thành.

Image may contain: 6 people, people smiling, people sitting
Image may contain: 2 people, people smiling, people sitting and people eating
Image may contain: one or more people, sky and outdoor

VÌ SAO NÓI CS CHỈ CÓ THỂ BỊ THAY THẾ, KHÔNG THỂ SỬA ĐỐI?

Đỗ Ngà

VÌ SAO NÓI CS CHỈ CÓ THỂ BỊ THAY THẾ, KHÔNG THỂ SỬA ĐỐI?

Có một tên giang hồ thừa gian ác nhưng thiếu trí tuệ. Một hôm đứa con học lớp 3 của hắn không hiểu bài nên gọi hắn đến hỗ trợ. Hắn đến bàn học thằng con, nhìn ngược nhìn xuôi bài toán lớp 3 và thấy sao khó quá. Chả nhẽ thú nhận với con trai là mình bí? Hắn bèn nghĩ ra cách để không phải làm việc quá tầm nữa. Sẵn máu giang hồ, hắn đập bàn đập ghế và bợp tai thằng con một phát trời giáng và bảo “Từ nay về sau mầy mà hỏi bài tao nữa là nhừ đòn nghe con!”. Thằng bé tái mặt, và từ đó chẳng bao giờ nó dám hỏi bố nó một câu nào về vấn đề chữ nghĩa nữa.

Vâng, đấy là hình thức dùng bạo lực để che đậy cho sự bất lực của trí tuệ. Tương tự vậy, chính quyền CS cũng dùng nó để phủ đầu nhân dân thay vì đồng hành với dân trong vấn đề giải quyết những vấn đề khó khăn cho đất nước.

Để đi đến giải pháp chính trị mang đến thịnh vượng đất nước và bình yên cho nhân dân, thì trước hết phải biết lắng nghe chỉ trích. Từ lắng nghe chỉ trích, nhà nước mới tập hợp lực lượng chất xám để đưa ra biện pháp tháo gỡ nhằm thúc đẩy cho đất nước phát triển. Trong doanh nghiệp cũng thế, trong quốc gia cũng vậy, phải moi ra tiêu cực trước thì mới tìm giải pháp ứng phó sau. Nơi nào cấm moi ra tiêu cực, nơi đó lụn bại. Vì sao? Vì đơn giản dung túng tiêu cực là dung túng sự tàn phá, với doanh nghiệp cũng vậy mà với đất nước cũng vậy thôi. Hiện nay, chính quyền CS đang dung túng cho tiêu cực. Thậm chí, có thể nói nhà nước CSVN là nhà nước tội phạm cũng không ngoa.

Tại nước Mỹ, nước Nhật hay nước Pháp gì vẫn thế. Vấn đề của đất nước liên tục được phản hồi vào nhà nước qua rất nhiều kênh như, biểu tình, kiến nghị dân biểu đưa vấn đề bức xúc của dân vào nghị trường, báo chí tự do hằng ngày nêu hết mọi ngóc ngách về kinh tế – chính trị – xã hội đất nước. Từ những tác động đó, nhà nước lắng nghe và họ mới đi đến việc sửa luật, thêm luật, ra chính sách ứng phó tốt những nan giải phát sinh. Khi ứng phó được thì xem như bài toán được giải và đất nước phát triển. Vậy, sự phát triển của đất nước là chuỗi giải quyết thành công những bài toán cho đất nước mà thôi. Tất nhiên để giải được, nhà nước phải là nơi hội tụ của những bộ óc hàng đầu.

Nhưng với chính quyền CSVN thì sao? Những bài toán về kinh tế – chính trị – xã hội phát sinh là quá tầm với họ. Tựa người cha võ biền kia, chính quyền CS đã chọn dùi cui, họng súng, nhà tù hết công suất để hoặc răn đe hoặc cấm những tiếng nói chỉ trích. Khi những vấn đề hóc búa được người dân phản hồi về anh, anh bất lực trong giải quyết thì tất nhiên nó đưa đến sự lụn bại của đất nước, sự đói nghèo cho dân là điều tất yếu. Và mọi người nhìn lại kinh tế – chính trị – xã hội Việt Nam xem? Đúng như thế.

Trí tuệ không đủ, bạo lực dùng bừa bãi để che đậy cái dốt, cái bất lực nó đã trở thành Đảng Tính của CSVN. Đã bất lực về trí tuệ thì không thể sửa đổi. Đừng bảo người cha dốt nát kia giải toán, và vì thế cũng đừng hy vọng CS giải được những vấn đề về kinh tế – chính trị – xã hội của đất nước. Đó là vì sao mà kẻ từng trong BCT của ĐCS Liên Xô Boris Yelsin đã phải tuyển bố “Cộng Sản chỉ có thể thay thế chứ không thể thay đổi”. Vâng! Bởi đơn giản, CS không đủ tầm để thay đổi.

TRẢ THÙ DÂN THAY VÌ CHẤP PHÁP, CHÍNH QUYỀN CS CỰC KỲ NGUY HIỂM

Đỗ Ngà

TRẢ THÙ DÂN THAY VÌ CHẤP PHÁP, CHÍNH QUYỀN CS CỰC KỲ NGUY HIỂM

Một buổi live show mini của ca sĩ Nguyễn Tín, với nội dung là những bản bolero thông dụng. Tất nhiên Nguyễn Tín cũng mời bạn bè thân hữu. Những live show như thế này là việc rất đỗi bình thường như bao live show khác. Nhưng thật bất ngờ, công an cả sắc phục lẫn thường phục ập vào như đám cướp khống chế sòng bạc hay bắt cuộc mua bán ma tuy vậy. Không lệnh tòa án, không một chứng cứ phạm tội của bất kỳ cá nhân nào. Buổi live show không hề vì phạm pháp luật nghiêm trọng như những cuộc mua bán ma tuý hay mua bán phụ nữ và trẻ em nên không thể ập vào để “bắt quả tang” được.

Câu hỏi đặt ra là, xét mọi khía cạnh đều không phạm pháp, vậy công an ập vào bắt để làm gì?

Hỏi cũng là trả lời, chính công an Cộng Sản đã phạm pháp. Đấy là hành động của một băng cướp hoặc hành động của một nhóm giang hồ trả thù cá nhân nào đó mà thôi. Đã gọi là chấp pháp thì phải có tội thì lực lượng chức năng mới vào cuộc. Mà vô tội mà chức năng bắt bớ người ta như tội phạm thì công an phạm pháp.

Bọn tội phạm, chúng thấy hậm hực ai, thấy cay cú ai là ra tay với kẻ đó như là kẻ thù. Ví dụ, ông A thua ông B trong một lần đấu lí. Một hôm, ông A thủ dao găm, thấy ông B là A ra tay hạ sát. Đó là sự phạm pháp không thể chối cãi. Trong live show của ca sỹ Nguyễn Tín, có Phạm Đoan Trang đến dự. Phạm Đoan Trang đã làm cho chính quyền này hậm hực vì chúng thua lí của người phụ nữ này, điều này ai cũng biết. Thế là hôm nay trong buổi live show, chính quyền đã xông vào bắt bớ và ra tay trả thù Đoan Trang bằng trò đánh đập của các thằng đàn ông lực lưỡng có nghiệp vụ. Đoan Trang là hình ảnh ông B, chính quyền CS là hình ảnh ông A.

Câu hỏi là, chính quyền đã thực hiện những cuộc trả thù bẩn thỉu với dân thì làm sao nó chấp pháp? Cho nên nó phải bị loại bỏ khỏi vai trò lãnh đạo đất nước là điều vô cùng cấp thiết với nhân dân Việt Nam. Dù muốn hay không cũng phải có ngày đó. Một chính quyền mà trả thù thay cho chấp pháp thì nó rất nguy hiểm. Còn nó, sẽ đến lúc đất nước mất tất cả. Và tất nhiên, chúng ta cũng chẳng còn gì cả.

Góc suy ngẫm

No automatic alt text available.
Image may contain: sky, ocean, twilight, cloud and outdoor
Van H Pham

Muông thú trên trái đất đâu cần làm lụng, tích cóp của cải, thực phẩm, nước uống…. nhưng chúng vẫn vui sống và sống khỏe.

Bao tỷ phú giàu có trên trái đất khi ra đi cũng hai bàn tay trắng…. nhưng người đời thường chỉ nhắc nhở đến những tấm lòng vị tha, yêu thương đồng loại như Mẹ Têrêsa thành Calcutta….

Chúc ACE một ngày mới tràn ngập yêu thương cùng nhau vì Thượng đế lúc nào cũng ở bên bạn…

Chế độ CSVN đang tan rã từng mảng

Chế độ CSVN đang tan rã từng mảng

Kông Kông (Danlambao) – Trao đổi với người đang dấn thân tranh đấu cứu nước từ trí thức đến người trẻ có kiến thức thời đại và cả giới bình dân thường có chung một nhận xét. Đó là, chế độ thối rữa và phản động đến tận cùng nhưng nói đến sụp đổ thì “còn khó lắm”! “Còn khó lắm” vì “tụi nó vẫn kiểm soát được tình hình. Vẫn nắm vững công an và quân đội”. Người đang tranh đấu còn nghĩ như vậy huống gì đảng viên? Vì thế đảng viên bỏ đảng (chứ chưa nói đến dám chống đảng) cũng chỉ âm thầm. Con số phản tỉnh nầy chắc chắn không hề nhỏ. Vì họ vẫn còn ở trong đảng nên biết rõ thực trạng nội bộ hơn bên ngoài. Nhưng cũng chỉ vì nghĩ “còn khó lắm” nên chưa dám công khai. Phải đợi thời cơ khi “gió đổi chiều”.

Đó là sự thật. Là lý do đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng cảnh báo “bọn tự diễn biến”! Ông Trọng biết rõ là khi cách mạng bùng nổ thì thành phần đợi “gió đổi chiều” là một trong yếu tố chính làm đảng của ông vô phương chống đỡ. Cứ nhìn những ngày chao đảo của cộng sản Liên Sô thời điểm diễn biến cách mạng sẽ nhận ra không khó. 

Thực tế ý nghĩ “còn khó lắm” không phải chỉ có ở VN hiện tại mà đã từng là của giới truyền thông thế giới. Lúc Tổng Thống Mỹ Ronald Reagan thách thức Bí thư đảng cộng sản Liên Xô Mikhail Gorbachev, ngày 12/6/1987 tại Tây Berlin, “tear down this wall” (đập bỏ bức tường Bá Linh) cũng không mấy ai tin! 

Nhưng dấu ấn đó đã là lịch sử. Lịch sử tan rã của các chế độ cộng sản! 

Vì thế, CSVN cũng không thể khác. Do đó ý nghĩ “còn khó lắm” rất cần phải thay đổi. Nếu người đang dấn thân tin chắc chế độ hiện tại phải sụp đổ và nó sẽ đến bất ngờ (như đã xảy ra ở Liên Sô và Đông Âu) thì tinh thần lạc quan đó có tác động lớn trong xã hội, không chỉ riêng với những người còn phân vân mà với đảng viên phản tỉnh đang đợi “gió đổi chiều”! Thay đổi được tư duy “còn khó lắm” thì khí thế cách mạng tất yếu sẽ mạnh hơn hẳn. Người đang bị giam tù khỏi cần đắn đo nên chấp nhận án hay ra đi. Người sắp bị “nhập kho” sẽ coi đó chỉ là “chuyện nhỏ”. Người còn e dè sẽ can đảm và dấn thân mạnh mẽ hơn. 

Thể hiện sự tin tưởng được như vậy thì đương nhiên thành phần còn trung thành với đảng phải chao đảo. “Thanh kiếm và lá chắn” sẽ lo nghĩ đến tình cảnh gia đình vợ con họ hơn là thi hành lệnh đàn áp để gây thêm hận thù. Vì họ biết khi có biến động thì lãnh đạo sẽ bỏ rơi họ để tìm mọi cách cao bay xa chạy vì đã có sẵn cơ ngơi ở nước ngoài. 

Một ví dụ rất nhỏ, trước chính nghĩa giữ đất của người Đồng Tâm ở Hà Nội và trước sự bùng nổ biểu tình trên cả nước chống Luật An ninh mạng và Luật Đất đai ngày 10/6/2018 vừa rồi đã xảy ra hiện tượng cảnh sát cơ động miễn cưỡng thi hành lệnh và cuối cùng tự buông vũ khí để trở về với nhân dân. Riêng tại Phan Rí Cửa, Trung ương phải điều động lực lượng từ nơi khác đến đàn áp. 

Một ví dụ khác lớn hơn, đã xảy ra vào tháng Năm, 2014 thời ông Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng. Đó là vụ xuống đường bất ngờ nổ ra từ các hãng xưởng ở khu công nghiệp Sóng Thần Bình Dương, rồi đến Đồng Nai Biên Hoà và, rất nhanh, lan ra Hà Tĩnh, phía Bắc… lúc đó chế độ gần như bị tê liệt, không thấy bóng dáng công an! 

Hiện tại chế độ mục ruỗng hơn lúc đó rất nhiều. Nhiều chỉ dấu cho thấy sự hỗn loạn. Thể chế đang tan rã từng mảng. 

Mảng chính trị đang bất ổn tận gốc. Yếu tố nổi bật là phản quốc. Mảng an ninh thì có nhiều Tướng công an bị bắt giữ vì phạm pháp đặc biệt nghiêm trọng, liên quan đến an ninh tổ quốc… bất ổn đến nỗi phải cải tổ toàn bộ. Về quân đội thì Tướng chống Tướng (ví dụ như vụ sách Gạc Ma – Vòng Tròn Bất Tử). Mảng kinh tế thì lệ thuộc Tàu cộng mà Tàu cộng đang bị xính vính do Mỹ mở cuộc chiến tranh thương mại. Mảng tâm lý xã hội thì người dân căm thù Tàu cộng còn đảng quyết bám chặt để bảo vệ sự sống còn của đảng. 

Riêng mảng đối ngoại thì chưa bao giờ CSVN nhục nhã thê thảm như hiện tại! Mặt thật của chế độ đã bị vạch trần qua vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Đức. Những tình tiết tổ chức bắt cóc mỗi ngày một sáng tỏ hơn và lan rộng ra công luận thế giới. Một số nước Âu châu cùng hợp tác với Đức tiếp tục điều tra. Chân tướng ê kíp gián điệp xuất phát từ các Tòa đại sứ VN ở Âu châu gần như đều bị lộ diện cùng với Bộ trưởng công an Tô Lâm! 

Khái quát thực trạng VN như thế thì liệu có chế độ nào có thể tồn tại lâu hơn nữa được không? 

Vì thế, sự sụp đổ là tất yếu và sẽ đến rất bất ngờ. Vấn đề chính hiện tại là chuẩn bị như thế nào thời hậu cộng sản để sớm đưa đất nước theo kịp đà tiến của văn minh nhân loại. 

16.08.2018 

Kông Kông

danlambaovn.blogspot.com

BẠO LỰC LÀ SỰ BẤT LỰC

Luân Lê

Điều nguy hiểm và khốn tệ nhất của một chế độ độc tài toàn trị là nó không chỉ khiến cho nhân viên công quyền coi việc sử dụng bạo lực trở nên như là một nghĩa vụ cao cả mà nó còn tạo ra sự khoái lạc tột độ cho những kẻ thừa hành. Nó sẵn sàng truy bức và tàn sát những người dân hoàn toàn vô tội trước pháp luật, nhưng với chúng thì những công dân này phải bị trừng trị vì là những kẻ thù địch, bọn phản loạn.

Đó là sự bất lực của luật pháp và là sự bế tắc của quyền lực chính trị trong việc điều quản quốc gia.

Nếu là một con người bình thường, chúng ta cũng sẽ đều hiểu được một lẽ hiển nhiên, bất cứ tên tội phạm nào cũng đều được bảo vệ bất khả xâm phạm về thân thể và tính mạng, sức khoẻ. Vậy thì đối với một công dân hoàn toàn tự do, hẳn nhiên rằng, họ được bảo hộ nghiêm ngặt bởi luật pháp trước bất kỳ một ai và trong bất kể một trường hợp nào, nếu họ thực hiện hành vi phạm tội thì luật pháp sẽ cáo buộc họ theo một chu trình đã được ấn định. Chứ không thể có bất cứ chính quyền nào nhân danh những giá trị tốt đẹp thông qua vấn đề an ninh quốc gia và trật tự xã hội, tự đặt mình lên trên luật pháp để coi những con người đang với vị thế một công dân tự do là những kẻ thù nghịch để tự tiện dùng bạo lực nhằm trấn áp, bức hại họ một cách man rợ và công nhiên đến thế.

Luật pháp phải luôn nằm trong tâm tưởng và phải là phương tiện đầu tiên mà bất cứ lực lượng chức trách nào cũng phải tuân thủ, thì nay, họ lại xem thường nó trước nhất và gạt bỏ nó khỏi những suy nghĩ của mình để thực thi bất cứ biện pháp nào mà chúng có thể mường tượng ra, nhưng chủ yếu là bạo lực và sự tấn công một cách trực diện. Chính quyền đó thực chẳng khác gì nơi chứa chấp những tên côn đồ và những kẻ cướp thực sự nguy hiểm trước nhân dân.

CÓ THỂ TIN VÀ SỐNG VỚI HAI TÔN GIÁO CÙNG MỘT LÚC?

CÓ THỂ TIN VÀ SỐNG VỚI HAI TÔN GIÁO CÙNG MỘT LÚC?

Trần Mỹ Duyệt

Tôn giáo và đức tin tự nó đã là một định nghĩa rất mông lung, rất trìu tượng mang nặng tính triết học, và thần thánh.

Ở một nghĩa nào đó, nó tiềm ẩn những hình thức mê tín, dị đoan và huyền bí.

Dưới con mắt của một người vô thần thì “Tôn giáo là một cái gì nhảm nhí, nhưng lại không ai có thể dẹp bỏ được điều nhảm nhí đó”. Và cái mà những người này cho là nhảm nhí của tôn giáo chính là đức tin, niềm tin tưởng vào Thượng Đế, vào sức mạnh vô hình, và vào cõi siêu nhiên.

Vì thế, nếu có người này, người khác biểu lộ nếp sống tôn giáo của họ qua những hình thức khác nhau, những thực hành khác nhau, điều này không có gì lạ.

Tuy nhiên, khi đã đề cập đến tôn giáo, đến niềm tin, đến thiêng liêng một cách nghiêm chỉnh, thì câu hỏi cốt lõi vẫn là:

  1. Tôi sinh ra để làm gì? Mục đích của đời sống con người ở cõi tạm này là gì? Tại sao tôi lại sinh vào thế gian này?

Để trả lời câu hỏi tại sao tôi có mặt trên cõi đời này, việc này tốt hay không tốt đối với tôi, Thánh Augustine (354-430) đã có câu nói hết sức thời danh, đó là, “Thiên Chúa không cần hỏi ý kiến bạn khi Ngài dựng nên bạn.” Theo thánh nhân, nguyên một việc được đưa ra từ hư vô vào cõi nhân sinh đối với ta đã là một ân huệ của Thượng Đế. Vì vậy, khi Thiên Chúa thưởng ban ơn huệ cho ta là Ngài thưởng ban do những nỗ lực của ta, chứ những việc làm của ta chẳng thêm bớt gì cho vinh quang Ngài cả.

Sách Giáo Lý Công Giáo dạy, “Thiên Chúa dựng nên ta vì sự thánh thiện của Ngài, và để chia sẻ với chúng ta hạnh phúc viên mãn của Ngài trên thiên đàng” (God made us to show forth His goodness and to share with us His everlasting happiness in heaven), 1 một hạnh phúc mà “mắt chưa hề xem, tai chưa hề nghe, lòng trí chưa hề tưởng tượng những gì mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những kẻ yêu mến Ngài” (I Cor 2:9).  

Ngay từ khi còn trên gối mẹ, mẹ tôi đã dạy tôi những lời kinh đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa này: “Tôi cám ơn Đức Chúa Trời là Chúa lòng lành vô cùng, chẳng bỏ tôi, chẳng để tôi không đời đời, mà lại sinh ra tôi, cho tôi được làm người, cùng hằng gìn giữ tôi, hằng che chở tôi…, và cho tôi được đạo thánh Đức Chúa Trời…”

Lời kinh đơn sơ ấy có thể được diễn nghĩa theo văn chương hiện nay là:

Con cảm ơn Thiên Chúa tốt lành vô cùng, Ngài đã nghĩ đến con. Đem con từ hư vô ra hiện hữu. Ngài luôn che chở và đồng hành bên con. Nhất là ban cho con ơn huệ được nhận biết Ngài, được sống trong Hội Thánh của Ngài. 

Đối với nhân loại kể cả các Kitô hữu, quan trọng nhất vẫn là được cứu độ, được phúc lộc trường sinh, “Vì chưng, nếu không được cứu chuộc, chúng ta sinh ra có ích gì?”2

 2.Con đường nào dẫn đến vĩnh hằng?

Để đạt tới hạnh phúc viên mãn, để lên được vĩnh hằng, Niết Bàn, hay Thiên Đàng, con người dựa vào những con đường – đạo. Đạo chính là đường. Phật Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo, Anh Giáo, Tin Lành, và Công Giáo… Mỗi đạo đều có những triết lý, những giáo lý, những cách thức biểu lộ niềm tin, thực hành đạo.

Như vậy, trên hành trình dẫn về vĩnh cửu, về Thiên Đàng, về miền cực lạc, về Niết Bàn… Trên con đường tìm gặp Thượng Đế, Đấng Toàn Năn, Thiên Chúa, mỗi người hoặc nhiều người sẽ đi trên những con đường đạo giáo phù hợp với môi trường, hoàn cảnh, kiến thức và tâm linh mà mình có.

Từ cái nhìn này, một số người vẫn thường quan niệm đạo nào cũng là đạo, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành, đạo nào cũng tốt. Và dẫn đến việc là trong thực hành, có những người không theo đạo nào, ngược lại, có những người không chỉ theo một đạo mà nhiều đạo.

Giáo Hội Công Giáo trong quá khứ đã không dễ dàng chấp nhận, cũng như tôn trọng những giá trị tinh thần của nhiều tôn giáo.

Quan niệm và lối nhìn ấy có thể đến từ việc hiểu và cắt nghĩa một cách hẹp hòi lời của Thiên Chúa: “Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu rỗi. Còn ai không tin sẽ bị luận phạt” (Mc 16: 16).

Như thế, chỉ những ai may mắn được tiếp nhận giáo lý Công Giáo, nghe và học hỏi rồi được rửa tội theo nghi thức Công Giáo mới được cứu rỗi, mới được lên Thiên Đàng..

Nhưng con số những người được rửa tội theo nghi thức Công Giáo, tính đến nay vẫn chỉ là một con số ít ỏi so với toàn thể nhân loại. Sau hơn 2000 năm được thành lập, theo tài liệu của Wikipedia, the free encyclopedia, hiện nay trên toàn thế giới, Giáo Hội Công Giáo dưới sự cai trị của Đức Giáo Hoàng Phanxicô mới chỉ có:

640 Tổng Giáo Phận.

2.851 Giáo Phận.

221.700 Giáo Xứ.

1.299 tỷ tín đồ, 3 với:

5.304 Giám Mục.

415.656 Linh Mục.

42.255 Phó Tế.

Vậy thì so với con số thống kê toàn thế giới tính đến tháng 5 năm 2018 là 7.6 tỷ người, liệu đã được bao nhiêu người nghe tới Phúa Âm, biết về Thiên Chúa, và được rửa tội?

Những người này sẽ đi về đâu sau khi chết?!

Có lẽ vì nhận thấy mình quá khép kín, quá lạc lõng, quá bảo thủ giữa thế giới hiện đại nên Công Đồng Vaticano II mới được triệu tập, và sau Công Đồng này cái nhìn về các tôn giáo khác, về ơn cứu độ, và về con người của Giáo Hội Công Giáo đã có những đổi mới, cũng như đã có những canh tân về giáo lý, tín lý, và cơ cấu của Giáo Hội.

Cái nhìn thần học mới về ơn cứu độ sau Công Đồng, đó là mặc dù vẫn khẳng định ơn cứu độ có được do bởi Đức Kitô, bởi đức tin và bởi Bí tích Rửa tội, và thuộc về Giáo Hội, nhưng người ngoài Công Giáo cũng có thể được cứu độ, do họ có liên kết với Giáo Hội, thí dụ, thuộc hẳn về Giáo Hội như các tín hữu đã chịu phép Rửa Tội, hoặc hiệp thông với Giáo Hội nếu là những người ngoài Công Giáo.

Trong số những người thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, dưới cái nhìn của Vaticano II lúc này thì họ là những người thuộc về các tôn giáo ngoài Công Giáo. Họ là những người không do lỗi của họ chưa biết Thiên Chúa. Hoặc họ là những người vẫn sống một cuộc đời tốt lành theo lương tâm ngay thẳng, tuy không thuộc về bất cứ một tôn giáo nào, mà chỉ là những người thành tâm tìm kiếm chân lý.  

Công Đồng Vaticano II tuy không trả lời rõ ràng những người không Công Giáo có thể được cứu độ ngoài hay trong chính tôn giáo của họ, hoặc các tôn giáo này tự nó có những giá trị cứu độ hay không, nhưng thừa nhận rằng mặc dù Giáo Hội là Bí Tích phổ quát của ơn cứu độ 4, các tôn giáo khác cũng có những giá trị tích cực, vì mọi tôn giáo đều tìm kiếm câu trả lời cho những khắc khoải của kiếp người, vấn đề nhân sinh.

Tất cả mọi dân tộc làm nên một cộng đồng, chia sẻ một định mệnh chung, ở đó có những “hạt giống của Lời Chúa” 5 “những tia chân lý soi sáng con người” 6 và có hoa trái của Chúa Thánh Thần. Công Đồng cũng cho rằng nơi các tôn giáo này có chứa đựng những yếu tố siêu nhiên, ngay cả đức tin cứu độ. Bỏ qua những giới hạn, sai lầm và tội lỗi của con người, các tôn giáo này là một chuẩn bị cho Tin mừng.

  1. Các vị Giáo Hoàng của thế kỷ.

 Vấn đề đối thoại liên tôn, vấn nhìn nhận những giá trị Kitô Giáo, và sự hiệp nhất giữa các tôn giáo có cùng một niềm tin vào Thiên Chúa, cùng nguồn gốc như Công Giáo, Anh Giáo, Chính Thống Giáo, và Tin Lành được trình bày bàng bạc trong tài liệu Công Đồng Vaticano II. Ở đây xin dẫn chứng các vị Giáo Hoàng của Công Đồng và sau Công Đồng với những suy nghĩ và tầm nhìn liên quan đến những vấn đề trên:   

– Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1978), vị Giáo Hoàng của “đối thoại”. Ngài là người đã có những cái nhìn mới và thiện cảm với các tôn giáo bạn. Ngài sẽ được tuyên phong hiển thánh ngày 14 tháng Mười, 2018.

 Kế vị Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), đấng triệu tập và khai mạc Công Đồng, Đức Phaolô VI đã điều khiển và bế mạc Công Đồng Vaticano II, và ngài đã có một tầm nhìn phong phú, sâu sắc về các tôn giáo khác như sau:

 “Thiên Chúa đến cho nhân loại. Giáo Hội phải đối thoại với 1) toàn thế giới, 2) các phần tử của các tôn giáo khác, 3) các giáo hội Kitô khác, và 4) ngay chính trong lòng Giáo Hội.”

 “Cần phải tôn trọng các gía trị luân lý và tâm linh nơi các tôn giáo khác.” Ngài viết trong thông điệp của mình: “Giáo Hội kính trọng và đánh gía cao các tôn giáo Không-Kitô giáo, bởi vì các tôn giáo đó là cách diễn tả sống động tâm hồn của vô số các nhóm dân tộc. Chúng mang trong mình tiếng vang vọng cuộc tìm kiếm Thiên Chúa từ hàng ngàn năm nay, một cuộc tìm kiếm tuy bất toàn nhưng được thực hiện với thành tâm thiện ý…. Chúng có vô số “các hạt giống của Lời Chúa” và do đó, hình thành một “chuẩn bị đích thực cho Tin Mừng” 7 .

 – Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1978-2005), bằng một tầm nhìn của một triết gia, ngài đã khẳng định tư tưởng của mình trong thông điệp Redemptoris Missio (Sứ Vụ Đấng Cứu Chuộc): “Giáo Hội cần cho ơn cứu độ vì Giáo Hội được thiết lập do ý muốn của Thiên Chúa và Giáo Hội tham dự vào kế hoạch cứu độ của Người. Ơn cứu độ không chỉ ban cho những ai là thành viên của Hội Thánh, minh nhiên tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu Kitô, nhưng cũng được ban cho những ai sống ngoài ranh giới của Giáo Hội” 8  

 Vẫn theo ngài, cần phải có sự kính trọng đối với mọi điều đã được Thánh Thần thổi bất cứ nơi đâu Người muốn.

Qua đối thoại, Giáo Hội muốn khám phá “hạt giống Lời Chúa” nơi các tôn giáo khác. Tuy nhiên, đối thoại không thể thay thế cho sứ vụ rao giảng Tin mừng của Giáo Hội, vì đối thoại liên tôn là một phần của sứ vụ Giáo Hội. Đối thoại là con đường hiểu biết lẫn nhau và làm phong phú lẫn nhau. Đối thoại và sứ vụ rao giảng Tin mừng liên hệ mật thiết với nhau nhưng không hoán vị nhau. 

– Là nhà thần học lỗi lạc của thế kỷ và cũng là Giáo Hoàng của Giáo Hội Công Giáo, Đức Bênêđíctô XVI (2005-2013) “không tin rằng hằng triệu triệu sinh linh bị luận phạt đời đời do một Thiên Chúa tình yêu chỉ vì cũng một Thiên Chúa tình yêu và toàn năng đã an bài cho họ được sinh ra tại những quốc gia mà ở đó không phải là Kitô Giáo.” (He can’t believe that untold millions are being tormented forever by a loving God just because the same loving and omnipotent God arranged for them to be born in countries that are not Christian). 9

Trong buổi triều yết chung, ngày 30 tháng 11, 2005, nhận định về bài suy niệm của Thánh Augustine (354-430), ngài đã nói: “Bất cứ những ai tìm kiếm sự bình an và thiện hảo của tôn giáo với một lương tâm tinh tuyền, và tuân giữ sống động ước muốn về sự hoàn thiện, sẽ được cứu độ mặc dù họ thiếu hiểu biết về niềm tin của Thánh Kinh.” Whoever seeks peace and the good of the community with a pure conscience, and keeps alive the desire for the transcendent, will be saved even if he lacks biblical faith, says Benedict XVI. 10     

– Sau cùng là Đức Giáo Hoàng Phanxicô (2013 – ) đang điều khiển Giáo Hội. Ngài không ngừng hô hào, cổ võ đối thoại, hiệp thông với các tôn giáo, kể cả Hồi Giáo.

Hiện ngài còn hướng đến việc đối thoại và hiệp thông với cả những giám mục quốc doanh, với giáo hội quốc doanh Trung Hoa nữa. Điều này đang nổi lên những phê bình, những quan tâm từ phía các giáo phẩm, những nhà chuyên môn, những chính khách lỗi lạc, cũng như những trí thức Công Giáo.   

Tóm lại, có thể kết luận: “Giáo Hội là phương tiện mang lại ơn cứu độ cho nhân loại theo như dự án của Thiên Chúa. Chỉ có một lịch sử là lịch sử cứu độ, qua lịch sử này, Thiên Chúa mạc khải dần dần chương trình cứu độ của Người. Đỉnh cao của lịch sử, ơn cứu độ tuyệt đối và mạc khải là chính Đức Giêsu Kitô.” 11

Tuy nhiên, bên cạnh đạo Công Giáo, vẫn có những con đường khác mở ra cho những ai đang nỗ lực tìm kiếm cho mình một lối đi an toàn dẫn đến gặp gỡ Thiên Chúa.    

4. “Ta là đường, là sự thật, và là sự sống” (Gioan 14:6). 

Giải thích cho thiếu phụ Samarita bên bờ giếng Giacob về tôn giáo, và cách thức thể hiện niềm tin, Chúa Giêsu đã nói với chị: “Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Gioan 4:23-24).  

Chúng ta chỉ có thể tìm được thần khí ấy, sự thật ấy nơi Đấng đã tự xưng: “Ta là đường, là sự thật, và là sự sống” (Gioan 14:6).

Do đó, cũng trong niềm tin vào Thiên Chúa, dưới ánh sáng thần linh của Ngài khởi dẫn, nếu như ai đó phát hiện, nhận ra niềm xác tín của mình qua đức tin Công Giáo, đòi hỏi họ phải suy niệm, phải sống, và thực hành theo đúng ý nghĩa là một tôn giáo.

Tóm lại, khi chưa biết Thiên Chúa, chưa nghe về Ngài, và chưa được học hỏi về Ngài, người ta có thể tìm kiếm, thay đổi, hoặc tin theo đạo này, đạo khác.

Nhưng khi lời mặc khải đã đến, và khi đã tìm được Ngài, thì không có lý do gì để cho phép chúng ta chọn lựa và hành động như người không có niềm tin.  

Mátthêu đã ghi lại sự chọn lựa cuối cùng của chúng ta trên con đường đi tìm chân lý.  Thánh sử viết: “Nước Trời cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quí, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy”. (Mat 13: 45-46)

________

Tài liệu tra cứu:

1.Lesson 1 from the Baltimore Cathechism

2.Công bố Nến Phục Sinh

3.“Presentazione dell’Annuario Pontificio 2018 e dell’ “Annuarium Statisticum Ecclesiae” 2016″ (in Italian). Sala Stampa della Santa Sede. 13 June 2018. Retrieved 13 June 2018.

4.Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng số 45

5.Nostra Aetate số 11

6.Lumen Gentium số 17

7.Evangelii Nuntiandi 53  

8.Redemptoris Missio số 10

9.Andrew Brown, “If a former pope says non-Catholics can go to heaven, why be Catholic?”, THE GUARDIAN. Tue 22 Mar 2016 09.46 EDT Last modified on Wed 23 Mar 2016 04.09 EDT

  1. VATICAN CITY , NOV. 30, 2005 (Zenit.org)

11.Nguồn tin: Học Viện Đaminh

 Lễ Mẹ Hồn Xác Lên Trời

15 tháng 8 năm 2018

From: Tamlinhvaodoi

Liệu Việt Nam có rơi vào vết xe đổ của Thổ Nhĩ Kỳ?

Liệu Việt Nam có rơi vào vết xe đổ của Thổ Nhĩ Kỳ?


Người dân Thổ Nhĩ Kỳ xếp hàng đổi ngoại tệ tại Istanbul hôm 14/8
Người dân Thổ Nhĩ Kỳ xếp hàng đổi ngoại tệ tại Istanbul hôm 14/8

Việt Nam cũng đang đứng trước áp lực đồng nội tệ mất giá trước đồng đô la Mỹ giống như tình trạng của Thổ Nhĩ Kỳ vốn đang trải qua cuộc khủng hoảng tiền tệ lớn nhất trong nhiều năm qua, và mức độ tổn thương của Việt Nam bây giờ cao hơn nhiều so với cuộc khủng hoảng tài chính châu Á hồi năm 1997, một chuyên gia kinh tế từ Mỹ nhận định.

Kể từ tháng Giêng năm nay, đồng lira của Thổ Nhĩ Kỳ đã mất giá 40% trong khi thị trường chứng khoán đã mất đi phân nửa giá trị khiến quốc gia này chìm sâu trong khủng hoảng.

Đồng thời, trong những ngày qua, đồng rúp của Nga, đồng rupee của Ấn Độ và đồng rand của Nam Phi cũng đột ngột giảm sâu. Điều này dẫn đến quan ngại về phản ứng dây chuyền ở các nước đang phát triển và mới nổi giống như những gì đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng năm 1997 vốn bắt nguồn từ việc đồng baht Thái Lan sụp đổ rồi sau đó lan rộng ra khắp châu Á.

Theo phân tích của CNN, một nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng ở Thổ Nhĩ Kỳ là việc Cục Dự trữ Liên bang của Mỹ vừa mới tăng lãi suất sau nhiều năm giữ lãi suất đồng đô la ở mức thấp để thúc đẩy kinh tế Mỹ phục hồi và tăng trưởng cũng như để kiềm chế lạm phát đang manh nha.

Mỹ tăng lãi suất đã khiến đồng đô la Mỹ mạnh hơn, dẫn đến các nhà đầu tư tháo chạy ra các thị trường nhiều rủi ro để chuyển sang đầu tư vào Mỹ cho an toàn hơn, trong đó Thổ Nhĩ Kỳ là một nạn nhân.

Hơn nữa, đồng đô la tăng giá phi mã so với đồng lira đã khiến gánh nặng nợ nước ngoài chủ yếu vay bằng đồng đô la Mỹ trở nên hết sức nặng nề đối với Thổ Nhĩ Kỳ.

Một số nhà phân tích cho rằng Thổ Nhĩ Kỳ đang đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng trước mắt do tỷ lệ vay nợ cao, đồng nội tệ sụp đổ và lạm phát không tránh khỏi.

Trao đổi với VOA, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa từ California so sánh trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ với Việt Nam và nhận định rằng Việt Nam cũng trong tình trạng ‘dễ tổn thương’ như quốc gia Trung Đông này.

Trước hết, ông chỉ ra cuộc khủng hoảng hiện nay không chỉ xảy ra ở Thổ Nhĩ Kỳ mà còn ở một số quốc gia đang phát triển khác.

“Có đến sáu nước trên thế giới cũng đang gặp hoàn cảnh như vậy,” ông Nghĩa cho biết. “Trong suốt hai tuần vừa rồi, đồng bạc của các nước đó đều sập hết.”

Ông Nghĩa nhận định rằng ‘tất cả những nền kinh tế mới nổi và phát triển đều sẽ bị tổn thất’ do những nước này đều đi vay nhiều và vay bằng đô la trong khi dự trữ ngoại tệ trong nước quá mỏng không đủ sức chống đỡ mà Indonesia và Chile là những ví dụ.

Ông chỉ ra một hiện tượng ở các nước đang phát triển là từ năm 2008, tức sau cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ, một số nhà đầu tư thấy lãi suất đô la Mỹ rẻ nên đã đi vay tiền bên Mỹ với lãi suất chỉ vào khoảng 2-3% rồi lấy số tiền đó đầu tư ngược lại vào nước mình để hưởng chênh lệch lãi suất cao hơn (đến 18% như ở Việt Nam trong cùng thời điểm”).

“Đến khi đồng đô la lên giá mà kinh tế sa sút thì nhiều người chết,” ông phân tích. “Chúng ta thấy thị trường chứng khoán Trung Quốc, Việt Nam vừa rồi bị rớt giá chính là do nỗi hốt hoảng này.”

Hơn nữa, kinh tế Việt Nam hiện nay quá dựa vào xuất khẩu mà trong bối cảnh có chiến tranh mậu dịch giữa Mỹ với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam sẽ khó xuất cảng vào Mỹ hơn trước. Sản lượng xuất khẩu sụt giảm ảnh hưởng đến tiền thuế mà Chính phủ Việt Nam thu được để trang trải nợ nần.

“Thời năm 1997, Việt Nam vẫn còn chưa hội nhập với thế giới thành ra chỉ bị ảnh hưởng gián tiếp chứ không trực tiếp,” ông Nghĩa phân tích. “Lần này Việt Nam đã mở cửa ra thế giới bên ngoài ra (Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007) nên dễ bị các thị trường trên thế giới dao động.”

Ông Nghĩa cũng có nhìn nhận về mức độ tổn thương của Việt Nam khi cho rằng tiền đồng Việt Nam ‘sẽ không giảm giá đến mức như đồng lira’.

Hiện nay, đồng nội tệ Việt Nam cũng đang giảm giá so với đô la Mỹ, nhưng ông Nghĩa cho rằng đừng nên nhìn vào tỷ giá chính thức ở các ngân hàng Việt Nam mà ‘phải xem tỷ giá thật sự ngoài thị trường chơ đen như thế nào’.

Nhưng về các khoản nợ nước ngoài của Việt Nam bằng đô la Mỹ, ông Nghĩa nói ông không hình dung được gánh nặng nợ nần của Việt Nam như thế nào vì ông không tin vào thống kê chính thức của Việt Nam trong đó có tỷ lệ nợ xấu mất khả năng thanh toán.

Mặt khác, theo ông Nghĩa, dự trữ ngoại tệ Việt Nam hiện ‘quá mỏng’ để có thể chống đỡ lâu dài nếu khủng hoảng xảy ra. Hơn nữa, so với các nước khác, Việt Nam không có nhiều tài nguyên như họ để có thể chịu đựng được một thời gian, ông Nghĩa phân tích.

“Việt Nam có thể chịu hai rủi ro cùng một lúc: rủi ro về tín dụng và rủi ro về hối đoái,” ông giải thích. “Về tín dụng, doanh nghiệp Việt Nam khó mà thanh toán các khoản vay đúng hạn cũng như khó tìm các khoản vay khác. Về hối đoái, đồng đô la sẽ còn lên giá nữa.”

Ông Nghĩa nói một nền kinh tế như Indonesia vốn lớn hơn Việt Nam mà cũng bị chấn động thì “Việt Nam cũng sẽ bị chấn động”.

MỘT NỀN GIÁO DỤC THẤT BẠI: VAI TRÒ BỘ GIÁO DỤC VÀ CHÍNH SÁCH!

Image may contain: text
Image may contain: 2 people, people smiling
Image may contain: one or more people
Van H Pham

MỘT NỀN GIÁO DỤC THẤT BẠI: VAI TRÒ BỘ GIÁO DỤC VÀ CHÍNH SÁCH!

1. Không có quốc gia nào mà thí sinh thi 30 điểm/3 môn lại rớt đại học cả. Trên đời này rất rất khó có sự hoàn thiện đến mức đó cả. Thậm chí đạt đến sự hoàn thiện tuyệt đối 30 điểm/ 3 môn vẫn rớt. Chỉ tuyển những thí sinh trên 30 điểm nghĩa là những thí sinh đó trên sự hoàn thiện tuyệt đối à.

2. Không có quốc gia nào mà nghề cốt lõi nhất cho một đất nước, gốc rễ nền tảng nhất là giáo dục thì ngành sư phạm lấy đầu vào thấp nhất 12,5 điểm để sau này thành giáo viên.

3. Không có quốc gia nào phát triển mà các ngành nền tảng, tạo ra sản phẩm, tạo giá trị vững chắc như nông nghiệp, kỹ thuật…. bị coi rẻ đến mức chỉ dành thí sinh điểm thấp. Thậm chí thí sinh không thèm quan tâm nữa.

4. Không quốc gia nào mà những ngành Khổ cực nhất, Phục vụ nhân dân như công an lại lấy trên sự tuyệt đối. Thí sinh thi 30 môn đạt tuyệt đối 30 điểm là rớt. ???? Chả hiểu sao bọn trẻ lại bon chen vào ngành này!!!

5. Không quốc gia nào mà ngành chăm sóc sức khoẻ, liên quan tính mạng con người nơi lấy 29,5 điểm, có nơi chỉ cần xét học bạ hay đủ điểm sàng là sau 5,6 năm thành Bác sĩ, dược sĩ hết.

6. Không quốc gia nào, nông nghiệp là thế mạnh đất nước mà chả học sinh nào muốn vào học, nếu có là những thí sinh điểm thấp hết đường mới vào ngành đó học.

7. Nếu chỉ tính riêng ngành Bs đa khoa, trường đại học y dược tphcm, có 404 em đỗ mức 29,25 điểm thì chỉ có 26 thí sinh trúng tuyển mà không có điểm cộng và ưu tiên còn lại 378 thí sinh trúng tuyển là nhờ đối tượng ưu tiên, vùng ưu tiên. Vậy các em giỏi thật mà không thuộc đối tượng ưu tiên thì phải gác lại giấc mơ đại học nhé! Không quốc gia nào có được điều này!!!

ÔI GIÁO DỤC!!!

GÓC SUY GẪM…

Image may contain: one or more people and outdoor

Van H Pham

GÓC SUY GẪM…

Trong Cuộc Đời, Không Phải Cứ Toan Tính Là Có Được

Tôi đã đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần những câu chuyện này và mỗi một lần đọc đều cảm thấy dường như học hỏi thêm được một điều gì đó mới mẻ…

1. Chó và sói

Có một hôm, chó hỏi sói: “Anh có nhà để ở không?”
“Không có”, sói trả lời.
Chó hỏi tiếp: “Anh có được một ngày ba bữa ăn và trái cây không?”
“Không có”.
“Vậy anh có người dỗ anh, đưa anh đi dạo phố không?”, Chó lại hỏi.
“Không có“, sói trả lời.
Nghe vậy, chó liền bĩu môi: “Cuộc sống của anh thật tẻ nhạt. Sao cái gì anh cũng không có vậy hả?”
Sói cười: “Cuộc sống của tôi chính là như vậy. Tôi có theo đuổi riêng của mình. Tôi là một con sói cô độc nhưng tự do, còn anh là một con chó tự cho rằng mình hạnh phúc”.

Hạnh phúc là một trải nghiệm hoàn toàn cá nhân. Đừng lấy tiêu chuẩn của mình để đo lường hạnh phúc của người khác. Đừng vì thấy họ nghèo hay kém chức vị hơn mà cho rằng mình hạnh phúc hơn người. Giàu có mà tranh đấu ngược xuôi, nghèo mà thanh thản bình yên mới hiểu rằng, hạnh phúc không phải ở chỗ bạn có được bao nhiêu mà là bạn biết bằng lòng bao nhiêu.
*********

2. Bao dung và khiêm tốn

Giọt mực rơi vào một ly nước trong, ly nước này lập tức thành màu đen, không uống được nữa. Nhưng nếu giọt mực rơi vào trong biển lớn, biển vẫn là biển cả nhuộm màu xanh lam. Tại sao vậy? Vì sự bao dung, sức chứa đựng của 2 thứ này là khác nhau.

Lúa chưa chín thì đâm thẳng lên trên trời, lúa đã chín thì ngả đầu cúi xuống. Làm người, càng thành công càng hiểu phẩm giá của sự khiêm nhường.
*********

3. Đánh mất

Nếu đi chơi, không may làm rớt 100 đồng, đoán là nó có khả năng sẽ nằm ở một chỗ nào đó, nếu phải bỏ ra 200 đồng tiền xe để quay lại đó tìm, liệu bạn có quay lại không?

Rõ là một câu hỏi ngốc ngếch, nhưng điều buồn cười là chuyện tương tự lại không ngừng xảy ra trong cuộc đời:
– Bị người ta chửi một câu, nhưng lại bỏ ra vô số thời gian để đau buồn; vì một việc mà nổi giận, không ngừng làm tổn hại đến thân tâm của mình, không tiếc mất mát, chỉ để báo thù; mất đi tình cảm của một người, biết rõ mọi chuyện đã không thể cứu vãn, nhưng vẫn đau lòng rất lâu…
************

4. Điều kỳ lạ của con người

Đệ tử hỏi sư phụ:
– “Thầy có thể nói cho con biết về chỗ kỳ lạ của con người không?”
Sư phụ:
– “Họ vội vàng trưởng thành, sau đó lại than thở là mất đi tuổi thơ. Họ dùng sức khỏe để đổi lấy tiền bạc, không lâu sau lại muốn dùng tiền bạc để khôi phục sức khỏe. Họ đối với tương lai thì lo lắng không nguôi, nhưng lại không trân trọng hiện tại. Vì vậy, họ vừa không sống trong hiện tại, vừa không sống trong tương lai.

Họ sống như thể là sẽ không bao giờ chết, và sẽ chết như thể chưa bao giờ từng được sống.”
***********

5. Nụ cười và nước mắt

Vị Lạt Ma già nói với vị Lạt Ma trẻ: “Khi đến với thế giới này, anh khóc, nhưng người khác đều rất vui mừng. Khi anh rời khỏi thế giới này, người khác đều đang khóc, nhưng bản thân anh lại thường cảm thấy rất vui.

Vì thế, chết không hẳn là điều tồi tệ, còn sự sống cũng chưa chắc là điều đáng mừng”.
************

Lời bàn:
Mọi thứ của cuộc đời không phải do toan tính có được mà do hành thiện có được; không phải do cầu được, mà là do tu được. Có nhiều lúc, thà rằng bị hiểu lầm, cũng không muốn giải thích. Tin hay không tin, chỉ ở trong một suy nghĩ của bạn.
Chỉ hối hận vì những chuyện mà mình chưa từng làm, không hối hận vì những chuyện mình đã làm. Mỗi một bước đi của cuộc đời, đều cần phải trả giá. Con người ta sống ở đời cần phải trầm tĩnh, cần có đủ thời gian để suy ngẫm.
Sưu tầm.

ÍCH LỢI THA THỨ

Image may contain: 5 people
Cuong Nguyen to LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT – MẸ MARIA

ÍCH LỢI THA THỨ
(Thứ Năm – CN19 TN)

“Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu. (Mt 18,21 – 19,1)
— Khi ấy, Phêrô đến thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần không?” Chúa Giêsu đáp: “Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy.
— “Về vấn đề này, thì Nước Trời cũng giống như ông vua kia muốn tính sổ với các đầy tớ. Trước hết người ta dẫn đến vua một người mắc nợ mười ngàn nén bạc. Người này không có gì trả, nên chủ ra lệnh bán y, vợ con và tất cả tài sản của y để trả hết nợ. Người đầy tớ liền sấp mình dưới chân chủ và van lơn rằng: ‘Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn, và tôi sẽ trả lại cho ngài tất cả’. Người chủ động lòng thương, trả tự do và tha nợ cho y.
— “Khi ra về, tên đầy tớ gặp một người bạn mắc nợ y một trăm bạc: Y tóm lấy, bóp cổ mà nói rằng: ‘Hãy trả nợ cho ta’. Bấy giờ người bạn sấp mình dưới chân và van lơn rằng: ‘Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn, tôi sẽ trả hết nợ cho anh’. Y không nghe, bắt người bạn tống giam vào ngục, cho đến khi trả nợ xong. Các bạn y chứng kiến cảnh tượng đó, rất khổ tâm, họ liền đi thuật với chủ tất cả câu truyện. Bấy giờ chủ đòi y đến và bảo rằng: ‘Tên đầy tớ ác độc kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta; còn ngươi, sao ngươi không chịu thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi?’ Chủ nổi giận, trao y cho lý hình hành hạ, cho đến khi trả hết nợ.
— “Vậy, Cha Thầy trên trời cũng xử với các con đúng như thế, nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình”.
— Khi Chúa Giêsu nói những lời đó xong, thì Người bỏ xứ Galilêa mà đến Giuđêa, bên kia sông Giođan. Đó là lời Chúa.

………..

✠ SUY NIỆM

 Số 7 chỉ sự hoàn hảo trong đức ái: 7 ân sủng Bí Tích của Thiên Chúa, 7 đặc ân của Chúa Thánh Thần.

Hôm nay, Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ phải trọn vẹn trong đức ái là phải THA THỨ đến 70 lần 7, tha vô điều kiện, tha mãi mãi, tha như Cha đã tha cho chúng ta… THA THỨ là nền tảng căn bản của LÒNG THƯƠNG XÓT,

Yêu nhau trăm sự chẳng nề, 
dù ngàn chỗ lệch cũng kê cho bằng.

Mỗi lần tha thứ là mỗi lần chúng ta tới gần Chúa dễ dàng hơn, trở nên giống Chứa hơn. NHƯ VẬY, THA THỨ là PHƯƠNG TIỆN và là ÂN SỦNG CHO TA SỐNG THÁNH và NÊN THÁNH.

Ngoài việc giúp nên thánh, THA THỨ còn giúp ích cho chúng ta có sức khỏe và sống vui nhiều lắm:

-1.- Đối với bản thân: THA THỨ giúp chúng ta trị được rất nhiều chứng bệnh như: Bệnh gan, bệnh tim, bệnh cao máu, bệnh mất ngủ, bệnh suy nhược, v.v… THA THỨ đem lại cho chúng ta an bình, hài hòa, bao dung, và vui sống. Như vậy, THA THỨ là HỒNG ÂN, là THUỐC TIÊN trị bá bệnh xác hồn.

-2.- Đối với gia đình: THA THỨ là liều thuốc HẠNH PHÚC trong gia đình từ dưới lên trên, là NIỀM VUI và THUẬN HÒA từ trên xuống dưới…

Vợ chồng là nghĩa tào khang,
chồng hòa vợ thuận nhà cười yên vui.
Sinh con mới khỏe đẹp người,
làm ăn thịnh vượng cả nhà ấm êm.

-3.- Đối với xã hội: Người sống với tinh thần THA THỨ là người có duyên, đi tới đâu ai cũng thích và dễ hội nhập, là người có Chúa ở trong lòng (Kitô Hữu), là người có từ trường bình an và năng lượng yêu thương cho mọi người. Họ đi tới đâu thì niềm vui và thịnh vượng tới đó. Vì thế họ được mọi người kính yêu và tôn trọng dù công việc của họ rất tầm thường.

Hãy yêu như Chúa yêu,
Hãy tha như Chúa tha,

Vì mỗi lần chúng ta có dịp yêu và tha thứ, là mỗi lần có thêm từ trường an bình và năng lượng yêu thương của Thiên Chúa tích trữ trong tâm hồn chúng ta.

Đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến (Cr1 13: 13) HẪY THA THỨ VÌ YÊU.

Lạy Chúa Giêsu và Mẹ Maria, xin giúp chúng con sống yêu thương và sống tha thứ để chúng con nên giống Chúa và Mẹ Maria nhiều hơn. Amen.

Con, Lawrence Nguyễn H Cường