LIÊN HOÀN KẾ

LIÊN HOÀN KẾ

Người dân Việt rất nhạy với những gì có yếu tố Trung Quốc. Cũng phải thôi, vì không có tinh thần như thế thì cha ông ta làm sao kháng Tàu thành công suốt ngàn năm qua? Dù có cực có cực đoan hay không thì điều đó cũng là rất cần thiết. Vì thực tế trong mỗi nước đi của Tàu luôn thủ con dao găm trong tay áo, đợi khi thời cơ cho phép nó sẽ lấy ra dùng, còn nếu thời cơ chưa cho phép thì nó vẫn cất giấu. Cho nên chúng ta chưa sập bẫy Tàu trong dự án nào đó thì đó là chưa đến thời cơ nó ra tay chứ không phải Tàu không có ý xấu. Có người hay phê phán tinh thần bài Tàu của dân Việt rằng, cái gì cũng sợ thì sao làm ăn với Tàu? Thực ra những người suy nghĩ như vậy rất non bớt, cái dân sợ là năng lực ĐCS chứ không phải dân sợ Tàu. ĐCS tuy gian ác điếm đàn với nhân dân, nhưng với Tàu Cộng, ĐCS chỉ là nai tơ. CSVN không bao giờ ngang tài ngang sức về trí tuệ với quan thầy.

Binh Pháp Tôn Tử là bài học kinh điển về cách lừa đối thủ của người Tàu. Trong đó, tác giả Tôn Vũ đã liệt kế 36 cho những người đời sau áp dụng. Trong 36 kế này, tất cả điều có chung cách làm, đó là lừa cho đối thủ hướng suy nghĩ đến điểm A nhằm để hở sườn tại điểm B, và thế là kẻ chủ mưu sẽ ra tay hạ đối thủ ở điểm B.

Trong quân sự, trước cuộc chiến sống còn, kẻ thù chết ta mới được sống thì áp dụng những mưu kế đó là đúng. Nhưng trong quan hệ hợp tác kinh tế, nó đưa đến những cú đánh gục đối tác như những trận chiến là không tốt. Thế giới văn minh đã đi đến hợp tác đôi bên cùng có lợi (win-win), họ dựa trên các thế mạnh riêng để bổ trợ cho nhau để đạt thắng lợi chung. Trong quan hệ ấy, lòng tin và tinh thần trách nhiệm phải được đề cao. Chính những thứ đó, lòng tin và trách nhiệm, mới tạo nên sự bền vững trong hợp tác. Nếu hợp tác kinh tế mà ẩn chứa mưu đồ chính trị thì thà nói không với việc hợp tác.

Nếu xem cận cảnh một cầu thủ biểu diễn kỹ thuật rê dắt bóng đẹp mắt người ta khen. Thế nhưng khi zoom toàn cảnh sân bóng, người ta phát hiện ra kỹ thuật rờm rà của cầu thủ này lại làm chậm nhịp tấn công của toàn đội. Xét trên toàn cục, đội bóng thua là bởi anh anh ta làm chuyện quá cá nhân. Cho nên muốn đánh giá đúng một điều gì đó, cần phải đặt hành động đó vào một cái nhìn toàn cảnh.

Để đoán được mưu đồ của Tàu Cộng, người dân phải sắp xếp lại những bước đi nho nhỏ để nó hiện ra một lộ trình lớn. Người Trung Quốc có một kế thiên biến vạn hoá mà họ gọi là Liên Hoàn Kế. Mỗi một kế trong Binh Pháp Tôn Tử chỉ là những kế nhỏ, thậm chí những thất bại cũng nằm trong tính toán. Kế A, kế B, kế C vv…rồi đến kế N xếp lại thành chuỗi liên hoàn. Đối thủ không tinh ý cứ ỉ i, đến lúc nhận ra mưu đồ của đối thủ thì đã quá muộn. Lộ trình nuốt Việt Nam của Trung Cộng cũng là một chuỗi vô số kế sách nhỏ như vậy. Đã nói đến người Trung Hoa là nói đến mưu kế, cho nên khi làm ăn với họ, thế giới luôn nhận ra rằng, người Tàu rất thâm.

Lộ trình trong đầu ông chủ Bắc Kinh rất nhiều, rất khó đoán. Chỉ một từ “đại cục” mà Tập Cận Bình nói ra, thì chính quyền Trung Cộng đã có liên hoàn kế cho lộ trình này. Thử xếp những nước đi gần đây của phía Trung Cộng, ta thấy nó hiện ra điều gì? Ngày 06/09/2018 chính quyền CSVN cho người Trung Quốc lái xe vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam không cần visa, trong khi dân Việt vào Trung Quốc phải xin visa. Tiếp theo ngày 12/10/2018 chính quyền CSVN lại cho phép giao dịch đồng Nhân Dân Tệ (Yuan) trên 7 tỉnh biên giới phía Bắc. Và hôm nay, ngân hàng Việt Nam lại hợp tác với ngân hàng Trung Quốc để mở chi nhánh giao dịch Nhân Dân Tệ. Như vậy, đất Việt Nam sẽ dần hình thành nên vùng đất mà người Trung Quốc tự do đi vào và xài đồng nội tệ của họ. Rất nguy hiểm cho toàn vẹn lãnh thổ. Đấy mới là ghép nối mấy nước đi gần đây mà họ đã triển khai thì chúng ta đã thấy không bình thường.

Sau những nước đi đó, chúng ta thử đoán điều gì sắp xảy ra? Như ta biết, xe hàng nông sản Trung Cộng đã đến Đà Lạt và nó cũng có mặt tại các chợ đầu mối TP. HCM. Khi đó, những thương lái Trung Quốc giao dịch với thương lái Việt Nam bằng Nhân Dân Tệ qua ngân hàng thường mại Việt Nam hoặc qua các chi nhánh ngân hàng thương mại Trung Quốc tại Việt Nam. Vậy thì sao? Lúc đồng Nhân Dân Tệ được giao dịch rộng rãi thì Hà Nội có muốn cấm Nhân Dân Tệ giao dịch ở Việt Nam thì đã quá muộn. Súng đạn thua Trung Cộng, kinh tế bị Trung Cộng nắm, bí mật đi đêm của ĐCSVN cũng bị Trung Cộng nắm, vậy dám ho với Bắc Kinh Không? Lúc đó ĐCS sẽ chẳng làm gì để bảo vệ đất nước cả.

Hà Sĩ Phu: ‘Bị Hán hóa là mất dân tộc’

Hà Sĩ Phu: ‘Bị Hán hóa là mất dân tộc’

15/09/2018

clip_image002

Hà Sĩ Phu, tác giả “Chia Tay Ý Thức Hệ,” tại tư gia ở Đà Lạt. (Hình: Hà Sĩ Phu gởi Đinh Quang Anh Thái)

Đinh Quang Anh Thái

Bài viết dưới đây được trích từ tác phẩm “Ký II” của nhà báo Đinh Quang Anh Thái, xuất bản vào trung tuần tháng Chín, 2018, qua hệ thống Amazon. Bài viết bao gồm nhiều tài liệu, quan điểm của Hà Sĩ Phu, được nhà báo Đinh Quang Anh Thái ghi lại qua nhiều hình thức trong một thời gian dài, khởi đi từ một sự kiện năm 1995 đến biến cố biểu tình chống Dự Luật Đặc Khu 2018. Hơn 20 năm trôi qua, các nhận định liên tục của Hà Sĩ Phu về tình hình chính trị trong nước, trên thế giới, và đặc biệt về mối quan hệ Việt – Trung, vẫn còn nguyên vẹn tính thời sự và tiên đoán chính xác. Bài viết được đăng tải với sự đồng ý của tác giả Đinh Quang Anh Thái.

VOA

Ngày 10 tháng Sáu, 2018, hàng chục ngàn đồng bào tại nhiều thành phố Việt Nam xuống đường biểu tình chống “Dự Luật Đặc Khu Kinh Tế”.

Dự luật dự trù sẽ được Quốc hội Cộng sản Hà Nội đưa ra biểu quyết ngày 15 Tháng Sáu, cho thuê mướn thời hạn 99 năm ba khu vực Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc.

Hầu hết các nơi biểu tình đều diễn ra ôn hòa, ngoại trừ Phan Rí. Lực lượng Cảnh sát Cơ động, được mệnh danh ‘Quả đấm thép’ của Bộ Công an Việt Nam, thúc thủ trước người biểu tình chống dự luật đặc khu và đã biến thành bạo động tại Phan Thiết, Phan Rí Cửa, Bình Thuận.

Hình ảnh trên các mạng xã hội cho thấy lực lượng Cảnh sát Cơ động bỏ áo giáp, nón sắt, leo tường chạy khỏi trụ sở Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận. Họ được những người biểu tình đối xử tử tế, thậm chí có người dân còn cúi xuống đưa lưng cho cảnh sát leo lên vượt tường ra ngoài.

Ngày 15 Tháng Sáu, từ Đà Lạt, Hà Sĩ Phu gửi email cho kẻ viết bài này:

“Đinh Quang Anh Thái thân mến,

“Trước hết cho mình xin lỗi vì đã hồi âm chậm trễ. Chắc Thái không thể hình dung tình trạng của mình sau khi chị Biên mất. Bà xã mình mất là sự kiện đau thương nhất đời mình. Chị Biên chịu đựng mấy chục năm để cho mình làm nghĩa vụ của một anh trí thức, chưa đền đáp được gì thì bà ấy đã ra đi! Ngày nào mình cũng khóc. Khổ thế, yêu thương càng nhiều thì sự mất mát càng đau. Mình trơ trọi một mình với bệnh tật, phải tự lo liệu đủ mọi thứ. Đồng thời đúng lúc xã hội đang xảy ra nhiều biến động, nên mình không thể tách rời khỏi tình hình chung ấy.

“Thái hỏi đất nước mình bây giờ ra sao, so với cách đây hơn 20 năm, khi mình trả lời phỏng vấn của Thái lần đầu tiên năm 1995, mình thấy, sau hơn 20 năm, tình hình xã hội đã có những biến chuyển đáng khích lệ (số người dân chủ tiên phong xuất hiện nhiều thêm, số người dân quan tâm đến vận mệnh đất nước cũng nhiều thêm, đặc biệt là trước họa Bắc thuộc; xã hội ngày càng phơi bày sự thối nát và không ổn định, thái độ mị dân ngày càng kém hiệu quả, chính sách độc tài ngày càng lộ diện… Những cuộc biểu tình tính tới con số trăm ngàn người tham dự hôm 10-6-2018 là minh chứng cho sự tiến triển đó. Nhưng đó mới là sự biến đổi về LƯỢNG, chưa đủ để thành biến đổi về CHẤT.

“Theo mình, thực trạng đất nước chúng ta hiện nay, do thể chế có 3 tính chất là phi khoa học, độc tài và dối trá, nên xã hội không thể phát triển, tham nhũng, ách tắc, tha hóa toàn diện, bị dồn nén nên tiềm ẩn nguy cơ biến động. Mà đã xảy ra biến động rồi, điển hình là những cuộc biểu tình hôm 10 Tháng Sáu. Nhưng đấy mới là đối nội, chưa quan trọng bằng đối ngoại (nạn Bắc thuộc mới). Thoát Trung mới là nhu cầu cấp thiết hàng đầu, nhưng muốn Thoát Trung phải Thoát Cộng. Người giữ chế độ CSVN không chỉ là ĐCSVN mà chủ yếu là ĐCSTrung Quốc!”

Hà Sĩ Phu 1995

Năm 1989, lúc khối Cộng sản Đông Âu và “cái nôi của vô sản thế giới” là Liên Xô rã ra như “cơm nguội gặp mưa”, nhà thơ Lê Bi thuộc nhóm Nhân Chủ Học Xã rao khắp bạn bè: “Ai tìm được tác giả bài viết DẮT TAY NHAU ĐI DƯỚI TẤM BIỂN CHỈ ĐƯỜNG CỦA TRÍ TUỆ, tôi tặng 1,000 đô la.”

Không ai kiếm được.

“Nhân Chủ” là từ đã được nhà cách mạng Thái Dịch Lý Đông A dùng đầu tiên vào năm 1939, lúc ông khoảng 19 tuổi, khi ông sáng lập và là Bí thư trưởng Duy Dân Cách Mạng Đảng. Nhân Chủ Học Xã là cơ quan lưu trữ tài liệu, nghiên cứu và huấn luyện của Duy Dân.

Sau năm 1954, từ Bắc di cư vào Nam, nhà cách mạng Thái Lăng Nghiêm tiếp tục công việc của Nhân Chủ Học Xã.

Năm 1985, các anh Trịnh Đình Thắng, Thanh Hùng, Hoàng Khởi Phong, Nguyễn Văn Cường, Lưu Ngọc Thọ, Hoàng Chính Nghĩa (Lê Bi), Nguyễn Võ Thu Hương và kẻ viết bài này cùng nhau phục hoạt Nhân Chủ Học Xã tại Mỹ. Trong nhóm, ba anh Trịnh Đình Thắng, Thanh Hùng và Nguyễn Văn Cường là cán bộ Duy Dân; những anh em còn lại là những kẻ lưu vong cùng chí hướng tìm lại với nhau.

Trong nhóm, Lê Bi là người “miệng nói, tay làm”. Anh đánh máy, bỏ dấu tiếng Việt bằng tay và giao cho tôi in những cuốn “Đạo Trường Ngâm”, tập thơ của Lý Đông A; “Tự Phán” của Phan Bội Châu; “Thư Quốc Nội” tập bài nhận định về tình hình Việt Nam của tác giả ẩn danh được chuyển bí mật từ trong nước ra cho chúng tôi (sau này mới biết người chấp bút là anh Đoàn Viết Hoạt); và “Thơ Trích” của Lê Bi.

Cũng vào thời điểm anh em chúng tôi nỗ lực tìm xem ai là tác giả DẮT TAY NHAU ĐI DƯỚI TẤM BIỂN CHỈ ĐƯỜNG CỦA TRÍ TUỆ, báo Người Dân ra đời, với cùng nhân sự của Nhân Chủ Học Xã và thêm các anh Nhật Tiến, Hoàng Mạnh Hùng, Lê Thiện Tùng, Mai Văn Hiền, Phạm Gia Hòa, Nguyễn Văn Trung, Tống Nhiệm, Trần Thế Kiệt, Lã Hoàng Trung.

Nỗ lực, nhưng chúng tôi vẫn không tìm được tác giả DẮT TAY NHAU ĐI DƯỚI TẤM BIỂN CHỈ ĐƯỜNG CỦA TRÍ TUỆ.

Mãi sau này mới biết tác giả bài viết có bút hiệu là Hà Sĩ Phu.

Và ai cũng tưởng “Hà Sĩ Phu” là… sĩ phu Bắc Hà.

Nhưng không phải.

Lần đầu tiên tiếp xúc qua điện thoại và trả lời cuộc phỏng vấn ngày 04 tháng 12, 1995, phát thanh trên đài VNCR 106.3 FM tại California, Hoa Kỳ, Hà Sĩ Phu nói với tôi: “Bút hiệu của tôi đã từng bị đưa ra thảo luận. Ông Đào Duy Tùng khi đi nói chuyện mọi nơi đã cáo buộc rằng, ‘có người xưng là sĩ phu Bắc Hà đòi dạy chúng ta về Mác-Lê nin!’ Rồi khi tôi bị Bộ Nội vụ gọi để thẩm vấn, thì Thiếu tướng Quang Phòng có hỏi tôi ‘lấy cái tên như thế anh định có ý gì?’ Ý ông muốn nói tôi dùng cái tên đó để làm khởi động, kích động cái tinh thần sĩ phu kiên cường trong nước chăng? Tôi trả lời là lối hiểu đó là do đòi hỏi của thực tế. Người ta hiểu thế là vì trong thực tế nó đặt ra vấn đề rõ như vậy. Và nếu tên tôi có đáp ứng nhu cầu đó thì tôi không phản đối gì cả. Thực sự ra khi tôi đặt tên đó thì họ Hà, chữ Hà đó là bộ Nhân đứng chứ không phải là bộ Thủy. “Nhân đứng” và chữ “Khả” có ý nghĩa là ‘thế nào?’ ‘là ai?’ ‘làm sao?’ – thì tên Hà Sĩ Phu tôi đặt nghĩa là ‘thế nào là sĩ phu?’ ‘ai đáng là sĩ phu?’ ‘hay làm gì có sĩ phu?’ – tức là sau đó phải đánh một dấu hỏi. Tôi không có ý khẳng định mình xứng đáng là một người sĩ phu của Bắc Hà đâu.”

Ông giải thích thêm, khi đặt bút danh cho mình là Hà Sĩ Phu, ông muốn tỏ những thao thức, trăn trở về tình trạng tụt hậu mọi mặt của Việt Nam và muốn tự nhắc mình về bổn phận và ý thức của người sĩ phu đối với con người và đất nước Việt Nam.

***

Hà Sĩ Phu, tên thật là Nguyễn Xuân Tụ, sinh năm 1940 ở Bắc Ninh. Tốt nghiệp Phó Tiến sĩ Sinh học tại Viện Hàn lâm Khoa học Tiệp Khắc. Về nước, Hà Sĩ Phu công tác tại Viện Khoa học Việt Nam. Từ năm 1988, Hà Sĩ Phu đã công khai chống lại chủ nghĩa và sự cai trị độc tài của Cộng sản Việt Nam. Những bài Hà Sĩ Phu viết như “Thằng Bờm,” “Biện chứng và Ngụy biện trong công cuộc đổi mới”; đặc biệt là bài “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ” và “Chia tay ý thức hệ” tạo ra nhiều tiếng vang lớn, trong cũng như ngoài nước.

Trong bài “Chia tay ý thức hệ” ông viết: “Không phải như Cộng sản thường nói rằng chủ nghĩa luôn luôn đúng, chỉ có con người thi hành sai mà ý thức hệ Cộng sản sai từ căn bản. Phải từ bỏ ý thức hệ đó thì mới xây dựng được đất nước.”

***

Một số đoạn trong bài phỏng vấn năm 1995:

Đinh Quang Anh Thái: Trong một bài của ông, ông viết rằng, dẫu còn điều kiện này hay điều kiện khác, vai trò lịch sử của trào lưu Cộng sản vẫn được mãi mãi ghi nhận. Và một đoạn khác ông nói, cùng với người hiệp sĩ ấy (ý ông ám chỉ người Sộng Sản) nhân dân ta đã có những ngày sống đẹp thanh khiết như thần tiên. Chúng tôi xin hỏi, ông ghi nhận những chuyện đó ở thời điểm nào? Ông cho ví dụ được không? Bà Dương Thu Hương thì đã có một giai đoạn gọi đó là một thứ thiên đường, về sau bà chua chát nhìn nhận đó là một “thiên đường mù.” Còn về phần ông, khi viết như vậy, ông muốn dùng uyển ngữ để gửi tín hiệu cho người đọc hay thực tâm ông nghĩ như vậy?

Hà Sĩ Phu: Những quá trình chuyển hóa hết sức là phức tạp. Đầu tiên là có sự xâm nhập và ký sinh của một thứ lý thuyết giai cấp cực đoan ảo tưởng phi khoa học, tức là cái dở. Nhưng nó ký sinh vào trong phong trào dân tộc. Và nó biến thành cái của dân tộc, mang thông điệp giải phóng của dân tộc. Đây là sự chuyển hóa đầu tiên. Lúc kháng chiến chống Pháp xong, lúc ấy cuộc sống còn nghèo, và cả đói nữa, cuộc thanh trừng giai cấp đã ló ra ở chỗ này, chỗ khác. Nhưng nhìn chung thì phải nhìn nhận rằng trong giai đoạn ngắn ngủi ấy, xã hội còn thanh bình, tình người còn trung hậu và xét trong số đông, tâm lý hồ hởi tin tưởng là có thật.

Về sau, do tính chất ảo tưởng cực đoan và phi khoa học của các học thuyết đó, cho nên nó thoái hóa, làm mất yếu tố tốt ban đầu, và biến những cái của dân tộc thành cái phi dân tộc và cản trở dân tộc. Thế rồi lại đến giai đoạn khác như hiện nay. Nhưng phải nhận rằng ngay trong tâm trạng bị vùi mình trong cái xấu như thế, thì một số các hạt nhân tinh hoa của dân tộc vẫn tồn tại chứ không mất đi. Và trong điều kiện như ở nước ta là một đảng đã nắm độc quyền lãnh đạo thì những hạt nhân bị vùi trong cái khối không tốt, chính họ chứ không phải ai khác, có khả năng bất ngờ tách ra, châm ngòi cho những cuộc đổi đời dân tộc một lần nữa để thanh toán cái xấu một cách hòa bình.

Tôi nghĩ nhận thức thực tiễn cũng như về phương pháp, tức là có cái phần gọi là sách lược, đều cần làm rõ điều này và thực tế ở thế giới, cũng như thực tế ở trong nước ta cũng dần dần xác định điều này. Thực tế, hiện nay những người bảo thủ ở nước ta sợ nhất khả năng chuyển hóa trong nội bộ của những nhân tố tốt đó. Cho nên họ cũng đề phòng kỹ lưỡng nhất cái khả năng này. Chỉ riêng điều ấy thôi, cũng cho thấy rằng nhận thức này, tức là nhận thức về yếu tố tích cực của phong trào Cộng Sản trong quá khứ không hề là một tư tưởng cải lương. Trái lại chính nó là một nhận thức mang xung lực mạnh mẽ nhất. Còn lối suy nghĩ có tính cách phân tuyến, đơn giản, một chiều, thì thoạt nghe có thể thấy là mạnh mẽ, có thể làm thỏa mãn một nhận thức chủ quan nào đấy, nhưng nó không phản ánh đúng cái bi kịch phức tạp của dân tộc, và do đó nó có ít khả năng tác động vào hiện thực.

Một nhà văn Cộng sản đã nói là “thế hệ chúng tôi ở tuổi 20 mà không theo Cộng sản thì không có tim, nhưng mà ở tuổi 50 mà còn theo Cộng sản thì lại không có óc.” Đấy, nhận thức nó lòng vòng như vậy, đâu có thể lấy hiện tại để làm chuẩn, để quy kết quá khứ hoặc là lấy quá khứ làm chuẩn để bênh vực hiện tại một cách suy diễn máy móc được.

Đinh Quang Anh Thái: Thưa ông, sau năm 1975, trong một lần nói chuyện với ông Vũ Sinh Hiên, một trí thức Công giáo và cũng là cây bút của Tạp chí Đứng Dậy, ông Hiên bảo tôi rằng, khi chọn thái độ ở lại để cộng tác với chế độ Cộng sản thì việc chọn đó là một “hành trình bắt buộc của trí thức.” Ông Hiên nói như thế sau khi đã tỉnh ngộ rồi. Câu tôi muốn được hỏi ông, là liệu người trí thức có phải chọn cái “hành trình bắt buộc” như ông Hiên nói hay không? Bởi vì theo chỗ tôi biết, có nhiều người ở lứa tuổi 20 đã sáng suốt để thấy rằng phong trào Cộng sản thực chất của nó không có gì tốt đẹp cả và nó chỉ đưa đất nước hoặc tập thể con người bị sự chọn lựa tới con đường đen tối thôi; như vậy không nhất thiết sự chọn lựa của lứa tuổi 20 theo con đường Cộng sản là phổ quát cho tất cả mọi người. Ông nghĩ sao?

Hà Sĩ Phu: Ý kiến của ông Thái có lý. Vì theo tôi nghĩ, sự chọn lựa đó là một sự chọn lựa của con tim, trong điều kiện là khối óc phát triển chưa tới. Cái đó, có thể nói là tình trạng DÂN TRÍ còn thấp. Và rất nhiều người trí thức mà ở trong một xã hội thông tin không đầy đủ, thì cái trí tuệ phát triển chưa tới. Tôi nghĩ là cùng trong giai đoạn đó rất nhiều nước văn minh va chạm với lý thuyết Cộng sản, nhưng họ không đi theo, họ có tin nhưng vì trí tuệ của họ đã phát triển cao hơn để họ không phải bước qua giai đoạn đó nữa.

Cho nên, thực ra, nếu nói đây là sự chọn lựa tất yếu, thì đó là sự chọn lựa tất yếu của những người trí thức nhưng mà trí tuệ phát triển chưa tới. Nếu đủ trí tuệ thì đã có thể tránh được [sự chọn lựa đó] rồi.

Đinh Quang Anh Thái: Trở lại một câu mà lúc nãy chúng tôi vừa mới trích dẫn trong bài viết của ông, là “cùng với người hiệp sĩ ấy nhân dân ta có những ngày sống đẹp như thần tiên,” thì khi viết như vậy, ông có nghĩ rằng ông đã xúc phạm đến vong linh hàng triệu nạn nhân đã lót đường cho chủ nghĩa mà bây giờ chính ông, ông cũng đang chống lại không?

Hà Sĩ Phu: Lúc nãy tôi có nói là dân tộc mình trải qua một quá trình vận động hết sức phức tạp của lịch sử. Cho nên cái lối tư duy phân tuyến đơn giản chia thành hai gói: một gói trắng, một gói đen, một gói phải, một gói trái, một gói chính, một gói tà; rồi trắng là trắng hết ngay từ đầu, đen là đen hết ngay từ đầu; thì thực sự ra nó không phản ánh đúng thực tiễn. Không phải vì tôi và anh đối địch, mà về sau là cứ khen bất cứ cái gì của tôi là xúc phạm tới anh; bởi vì trong tôi có cái đúng, cái sai. Và trong tôi, đâu phải là cá nhân tôi, còn cả tập đoàn của tôi có người thế này, thế kia. Bởi vậy khi mà khẳng định có những ngày sống đẹp, xin hiểu như thế này, cái đẹp đó là cái đẹp không trần tục, không phải là cái đẹp thực tế. Cái đẹp thần tiên làm sao tồn tại trên trần gian được? Cái đẹp đó được nẩy sinh trong điều kiện đơn giản, còn nghèo khó, còn ảo tưởng, chứ khi tiếp xúc với cuộc sống thực tiễn thì nó bị đẩy lui. Vì đó là cái đẹp mong manh của giai đoạn chưa phát triển. Thứ đến là có cái tốt lẫn cái ngộ nhận của dân tộc. Thế nhưng khi khẳng định mặt mà ta còn có thể coi là tích cực đó thì không hề có ý là phủ định những mầm mống sai lầm đã có ngay từ đầu.

Như tôi đã nói lúc đầu, trong lúc đa số có một sự hồ hởi như thế, thì một cuộc thanh trừng giai cấp có thể đã nổ ra ở một chỗ nào đó nhưng nó chưa chi phối tình hình tâm lý chung của cả nước. Vậy giữa cái sai và cái đúng, giữa mặt tích cực và tội lỗi, nó xen kẽ cùng một lúc, cho nên khẳng định vấn đề ở chỗ này, không có nghĩa là phủ định một vấn đề ở chỗ khác. Tôi nghĩ rằng, trong tình hình phức tạp đó, khi khẳng định mặt tốt trong đó có yếu tố dân tộc tham gia, tôi không hề có ý định phủ định các tội lỗi mà một bộ phận hay chính các thế lực ấy gây ra ở chỗ khác. Tôi nghĩ là hai cái đó không có gì mâu thuẫn nhau.

***

Hà Sĩ Phu là một trí thức sinh ra, lớn lên, chứng nghiệm Xã hội Chủ nghĩa Cộng sản bằng chính bản thân mình. Không thù hận, không báng bổ, ông từ tốn, lột trần bản chất của cái chủ nghĩa đang bị nhân loại vất vào thùng rác của lịch sử.

Trong nước, Hà Sĩ Phu trăn trở như thế. Ở hải ngoại, nhà thơ Lê Bi, một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hòa, cũng trăn trở khi đặt bút viết bài thơ BỨC TƯỜNG BÁ LINH CÓ THẬT vào năm 1999, trong bối cảnh người dân cả khối Đông Âu và Liên Xô đứng lên lật đổ các chế độ Cộng sản cai trị những đất nước này.

Bức tường Bá Linh có thật

Rất thật

Nhưng khi vỡ, nó vỡ như mơ

Rất mơ

28 năm lõa lồ trên mặt đất

Mất hôm qua hay tự bao giờ.

Đừng gởi về Việt Nam bất cứ viên gạch nào

của bức tường Bá Linh

Nó có thể làm tủi cả dòng sông Bến Hải

Đừng để lịch sử phải khóc

dù thời gian không thể quay đầu lại

Và mỗi người Việt Nam sẽ biết thêm

cái giá thống nhất nước mình.

Có những người đập phá bức tường

bằng tất cả niềm vui

Mà không kinh ngạc

Cũng chẳng ai thấy điều gì mất mát

Để chúng ta hiểu đó chỉ là chuyện bình thường

Khi con người bắt đầu đứng lên

đòi quyền sống thật

Ngay cả những giấc mơ cũng có thể bước ra đường

Mọc lên trăm ngàn ngọn nến

Những ngọn nến lung linh

Cả nước Đức phải thức

bước tới tương lai

Và trời sao cúi thấp

Chen lấn với người

Tôi cũng thức

Những cơn gió mùa thu 1989 làm rộn ràng nước Đức

Và tôi vội vàng giấu đi nước mắt

Những giọt nước mắt nuốt ngược ruột gan

Tôi ngoài Việt Nam ngoài nước Đức

Những cơn gió rộn ràng thổi ngoài Việt Nam

Gió ngoài Việt Nam

Rất ngoài Việt Nam.

Bức tường Bá Linh có thật

Quá thật

Bao nhiêu năm tôi mới có lần nhìn gần nước Đức

Nhìn từ cái búa cái đục

Trong tay những kẻ vô danh

Cũng cao hơn biết bao tầm nhìn trí tuệ

Khi thế giới chuyển mình nhìn nó đổ

Gạch đá cũng vui

Khi nhân loại tung lên những nụ cười

Một khoảng trời sao không thể ngủ

Khi những con người khám phá ra

quyền sống bình thường

Thở bình thường

Nói bình thường

Đi lại bình thường

Nước Đức không thể ngủ

Có những góc cạnh không thể ngủ

Những bản tin trên màn ảnh nhỏ

như những ngọn đèn không thể ngủ

Tôi không thể ngủ

Khi những ngọn đèn vẫn mọc ngoài Việt Nam

Chiếu sâu vào quá khứ

Tra tấn Việt Nam.

28 năm quá dài cho những kẻ đợi chờ

28 năm và 42 cây số quá ngắn

để che giấu cho một thời đại

Hãy giữ những phần còn lại

Giữ mãi

Như những bức tượng thời Trung cổ

Làm di tích

cho cả loài người.

Đừng, đừng nói với Việt Nam bất cứ một tin tức gì

về bức tường Bá Linh

Nó có thể làm Trường Sơn vùng lên tức tưởi

Những bà mẹ không thấy xác đàn con

Những oan hồn

không chiều dài chiều cao chứa nổi.

Hãy cứ để nó sần sùi

Ôi những tảng gạch vô tri vô giác

Đã thành não trạng của những niềm vui

Vừa tự vỡ.

28 năm cuộn tròn

28 năm không ngẩng mặt

Không dài hơn sông Bến Hải

Không cao hơn Trường Sơn

Hạnh phúc cho nước Đức

Đã dạy bao người bước qua ô nhục

Mà không phải hận thù

bạo lực

Và dạy tôi phải nuốt những giọt nước mắt

Giữa những niềm vui.

Nước Đức ở quá xa

Mưa tháng 11 quá xa

Tôi không ở gần được ôm được khóc

Hạnh phúc cho nước Đức

Và trận chiến không tốn máu xương

Và tất cả được sống bình thường

Hạnh phúc cho những bông hoa

Có thể chuyền tay cho bất cứ ai xa lạ

Những bông hoa may mắn hơn chán vạn hoa

Trong chốc lát bỗng nhiên thành cột mốc

Đón sự thật ùa ra.

Bức tường Bá Linh có thật

Nó có thật tự bao giờ?

***

Ngày mùng 5 tháng 12, 1995, đúng hai ngày sau khi trả lời phỏng vấn của đài VNCR, ông Hà Sĩ Phu bị bắt tại Hà Nội.

Phóng viên thường trú Robert Tampler tại Hà Nội của hãng thông AFP gọi điện thoại hỏi tôi, có phải vì bài phỏng vấn mà Hà Sĩ Phu bị bắt không? Tôi nói, tôi không nghĩ đó là nguyên nhân khiến Hà Sĩ Phu bị bắt.

Sáu ngày sau, sáng ngày 12 tháng 12, một bản tin khá dài, đánh đi từ Hà Nội, của hãng thông tấn quốc tế AFP, tường thuật vụ Hà Sĩ Phu bị Cộng sản Hà Nội bắt.

Mở đầu, bản tin AFP viết: “Hà Sĩ Phu bị công an ở Hà Nội bắt giữ, trên đường trở về thành phố Hồ Chí Minh vào ngày mùng 5 tháng 12, một ngày sau khi một đài phát thanh ở hải ngoại phát đi cuộc phỏng vấn trong đó ông kêu gọi chính phủ Mỹ khoan hãy cho Hà Nội quy chế tối huệ quốc.”

Phóng viên Robert Tampler của AFP từ Hà Nội gọi điện thoại tới đài VNCR để kiểm chứng về bài phỏng vấn và hỏi về lý do của vụ bắt bớ này. Tôi trả lời, và AFP tường thuật trong bản tin là VNCR không nghĩ rằng việc phát thanh bài phỏng vấn đã đưa tới việc Hà Nội bắt giữ ông Hà Sĩ Phu. Tuy nhiên, bản tin AFP không tường thuật đầy đủ luận cứ của VNCR: VNCR đã phỏng vấn nhiểu người ở trong nước, chứ không chỉ có Hà Sĩ Phu. Trước ông, VNCR đã phỏng vấn ông Nguyễn Hộ, một đảng viên Cộng sản từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong đảng và nhà nước Việt Nam Cộng sản. Sau ông, VNCR phỏng vấn nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự, tác giả cuốn truyện “Nửa Đời Nhìn Lại”, trong đó ông tỏ ra hối hận đã tin theo Cộng sản.

Về phần phân tích, bản tin AFP đưa ra sự kiện gần đây Hà Nội tiến hành nhiểu cuộc xử án và bắt bớ những thành phần chống đối trong nước, cho thấy Cộng sản Hà Nội thực sự e ngại sự chống đối này có thể trở thành phong trào, từ đó gây nguy hại cho chế độ.

Sau khi bản tin của AFP đánh đi khắp nơi trên thế giới, hai cơ quan tranh đấu cho nhân quyền là Amnesty International, trụ sở tại London, Anh Quốc, và Human Rights Watch/Asia, trụ sở tại Washington DC, đã liên lạc với VNCR để hỏi thêm chi tiết nội vụ và xin kẻ viết bài này bản ký chú cuộc phỏng vấn Hà Sĩ Phu.

Human Rights Watch/Asia sau đó cho biết, Hà Sĩ Phu bị bắt vào hồi 2 giờ chiều ngày mùng 5 tháng 12 nhân khi ông thăm viếng thân nhân ở Hà Nội. Ngày mùng 6 và mùng 7 tháng 12, công an lục soát nhà ông ở Đà Lạt, tịch thu hơn ba ngàn trang bản thảo và tài liệu, trong đó có một bài viết của ông Võ Văn Kiệt gửi Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam bàn về chiến lược chuẩn bị cho Đại hội 8 của đảng này.

Nhà báo Huy Đức, trong cuốn Bên thắng cuộc, viết về vụ bắt Hà Sĩ Phu: “Ngày 5-12-1995, ông Hà Sĩ Phu, tác giả của nhiều bài chính luận sắc sảo được truyền đọc ở thời điểm ấy, đang đi xe đạp trên đường phố Hà Nội thì bị hai người đi xe máy chèn ngã. Ông Hà Sĩ Phu kêu to: ‘Ăn cướp! Ăn cướp!’ Lập tức công an xuất hiện. Thay vì bắt ‘cướp’, công an đã đưa Hà Sĩ Phu về đồn, khám túi xách, phát hiện bản sao chép thư gửi Bộ Chính trị ngày 9-8-1995 của ông Võ Văn Kiệt. Hà Sĩ Phu khai tài liệu này ông lấy từ ông Nguyễn Kiến Giang; ông Giang khai lấy từ ông Lê Hồng Hà, một cán bộ lão thành, từng là Chánh văn phòng Bộ Công an và trước đó, từng là giám đốc trường Đào tạo sĩ quan công an 500. Ba người có liên quan đến tài liệu này đã bị bắt ngày 6-12-1995.”

Ngày 22 tháng Tám, 1996, Tòa án Hà Nội xử ông Lê Hồng Hà hai năm tù, Hà Sĩ Phu một năm tù và Nguyễn Kiến Giang 15 tháng tù treo.

***

Hà Sĩ Phu được thả ra khỏi tù ngày 5 tháng 12, 1996, sau một năm bị giam giữ vì tội bị chế độ quy chụp là “có hành vi phát tán tài liệu bí mật của nhà nước.”

Thời gian ông Hà Sĩ Phu nằm tù, tôi thường xuyên điện thoại về Việt Nam hỏi thăm tình trạng sức khỏe của ông qua “Nhóm Đà Lạt” gồm nhà thơ Bùi Minh Quốc, nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và nhà văn Hoàng Tiến, nhà thơ Hoàng Cương, tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang ở Hà Nội.

Khoảng hai tuần trước khi ông được thả, nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến bảo tôi, có cách nào gợi ý với những anh em dân chủ trong nước tổ chức đến đón Hà Sĩ Phu ngay cổng trại giam không. Ông Tiến bảo, hành động này đã từng được những người đấu tranh tại các nước Cộng sản Đông Âu áp dụng. “Có tác dụng mạnh đối với quần chúng,” ông Tiến bảo tôi thế.

Như Phong Lê Văn Tiến là “nhà báo của các nhà báo,” theo cách gọi của nhà bình luận Ngô Nhân Dụng. Ông Tiến, tôi gọi bằng “cậu Tiến,” và cậu xem tôi như con của cậu. Lúc Hà Sĩ Phu bị bắt, hai cậu cháu chúng tôi ở cùng một mái nhà trong căn mobil home tại Quận Cam, California. Vì vậy, những lần tôi tiếp xúc bằng điện thoại với các nhân vật đấu tranh dân chủ tại Việt Nam, cậu luôn góp ý với tôi về nội dung các cuộc phỏng vấn. Vì cậu là chuyên gia hàng đầu trong lãnh vực “Cộng sản học” thời trước 1975 ở Sài Gòn, nên cậu biết khá tường tận người và việc của xã hội miền Bắc.

Phỏng vấn nhà văn Hoàng Tiến, ông bảo, Hà Sĩ Phu là người theo đuổi “nghĩa lớn” của dân tộc, mà đã làm vì “nghĩa lớn” thì phải chấp nhận hy sinh thôi. Ông nói thêm, chính bản thân cũng có một thời mê đắm chủ nghĩa Cộng sản, nhưng sau thấy “cái ác” của nó, ông dứt khoát từ bỏ, và bây giờ ông trở thành người tu đạo Phật tại gia. Và ông tin có nhân có quả, nên “Hà Sĩ Phu dấn thân vì nghĩa lớn, sẽ không có vấn đề gì đâu.”

Ý do cậu Tiến gợi, là “tổ chức đón Hà Sĩ Phu ở cổng trại giam,” tôi có trao đổi với ông Hoàng Tiến và nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự.

Ngày Hà Sĩ Phu ra tù, ngay trước cổng trại giam Thanh Xuân, đón Hà Sĩ Phu gồm: bà Thanh Biên (vợ Hà Sĩ Phu), ông đồ Nghệ An Tú Sót với một câu đối chữ Nho, người bạn Hữu Tiến từ Hải Phòng, và mấy người ruột thịt trong gia đình. “Phái đoàn” đón thẳng Hà Sĩ Phu về quê Thuận Thành-Bắc Ninh, nghỉ một ngày rồi đi máy bay vào Sài Gòn, rồi hôm sau đi máy bay lên Đà Lạt, tránh không dừng lại ở Hà Nội vì để giữ an toàn.

***

Ngày 11 tháng Bảy, 1995, Tổng Thống Bill Clinton tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Cộng Sản Việt Nam.

Trước tin hai kẻ cựu thù Washington và Hà Nội bắt tay nhau chấm dứt những năm tháng dài đối đầu thù nghịch, nhiều người cho rằng, thế là lại thêm một lần nữa, Mỹ hà hơi tiếp sức cho chế độ độc tài toàn trị để tập đoàn lãnh đạo củng cố quyền lực của nó; nhưng cũng nhiều người cho rằng đây là cơ hội tốt để có thể phát động rộng lớn tinh thần đấu tranh đòi dân chủ.

Hà Sĩ Phu nhận định ra sao về vấn đề này? Ông nói, trong cuộc phỏng vấn do tác giả thực hiện ngay sau khi có quan hệ bang giao Washington – Hà Nội:

a) Nếu đối với một đối tượng giáo điều cứng ngắc, phi lý, phi quy luật như trước đây thì cách hóa giải rất là dễ. Bởi vì nó phi thực tế, phi quy luật. Cho nên bây giờ cứ bình thường hóa mọi điều đưa nó trở về với xã hội thông thường, với quy luật là nó tự bộc lộ cái tính phi lý và tự tan rã.

b) Nhưng hiện nay đối tượng ấy đã thức tỉnh, biết triệt để lợi dụng các quy luật, lợi dụng thế thượng phong của người đã nắm quyền lực và tận dụng thực trạng tâm trí để thực hiện ý định của mình, thì việc hóa giải nó không dễ dàng chút nào. Vì thế cho nên việc bình thường hóa với thế giới, đặc biệt là bình thường hóa toàn diện với Hoa Kỳ không hẳn là đơn giản.

Tôi nghĩ việc bình thường hóa là một cái sàn đấu mà mọi đấu thủ cuối cùng đều phải trở về đấy, đều phải chọn cái đó, không thể nào khác được. Các đấu thủ đều phải trở về đó để đấu, nhưng cái sàn đấu ấy không phải thuận lợi riêng cho ai. Tại sàn đấu ấy, mọi cuộc đấu ấy sẽ bắt đầu, còn việc thắng thua vẫn còn ở phía trước. Bởi tự cái sàn đấu ấy nó không quật ngã ai cả, mà cũng không phải là nó dành sẵn huy chương vàng cho ai. Cho nên, việc bình thường hóa tự nó chưa mang một ý nghĩa [thuận lợi] cho bên này, hay bên kia. Vấn đề là tạo nên thực lực, vận động cho phong trào dân chủ mà thôi.

Thứ nữa, riêng về phía người Mỹ, chúng tôi không có ảo tưởng về chuyện này nhiều lắm. Nếu ở trong nước có một phong trào đấu tranh giữa dân chủ và phi dân chủ mạnh mẽ, thì tôi nghĩ rằng cái thái độ của Mỹ rất rõ, tức là ủng hộ phía dân chủ. Nhưng nếu tình hình của ta quá bê bết chẳng hạn, thì tôi nghĩ các nhà tư bản nói chung và Mỹ nói riêng cũng không dại gì chuốc lấy việc đương đầu với nhà nước Cộng sản làm gì.

Có người lại còn bình như thế này: Một anh tư bản nước ngoài muốn vào khai thác tận dụng các điều kiện sinh lợi ở các nước khác thì nó cần một chính phủ để ủng hộ nó. Thế là có khi làm việc với một chính phủ Cộng sản độc tài lại hay hơn bởi vì, chính phủ Cộng sản đã chi phối toàn bộ quần chúng rồi, nắm được chính phủ đó tức là dân chúng chẳng còn gì có thể gây trở ngại cho họ nữa. Bởi vậy họ muốn đàn áp bóc lột, nếu dân có biểu tình [phản đối], thì lập tức chính phủ ấy đã đứng ra đàn áp rồi. Còn nếu mà phong trào trong nước chưa có gì, thì chưa hẳn Mỹ và Cộng sản đối địch với nhau đâu. Có khi họ lại hợp tác với nhau rất là ngon lành cũng nên. Vì thế, việc bình thường hóa tự nó chưa đem lại sức mạnh gì quyết định nhưng mà phải công nhận nó là cái sàn đấu rất là thuận lợi cho dân chủ.

***

Trong nhiều năm, một số các tổ chức người Việt tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại liên tục tranh đấu để chế độ Hà Nội phải bỏ điều 4 Hiến Pháp (quy định vai trò cai trị độc tôn của Đảng) và tiến tới một cuộc bầu cử có quốc tế giám sát để người dân dùng lá phiếu quyết định thể chế chính trị của Việt Nam.

Tôi nêu vấn đề này với Hà Sĩ Phu.

“Về vấn đề này tôi thấy không nên nhận định tình hình theo cảm tính, theo nguyện vọng [của mình], mà phải theo đúng cái thực tế đang có. Nếu ở tình trạng như hiện nay, dẫu có một cuộc bầu cử hoàn toàn tự do, ngay đến cả có quốc tế giám sát chăng nữa, thì đảng Cộng sản vẫn có nhiều khả năng thắng phiếu, vì bốn lý do như thế này:

1) Người dân chỉ đòi hỏi những thay đổi nếu thấy không thể nào sống như cũ được nữa. Ví dụ: một đứa trẻ khi nó thấy cái giường của nó chật hẹp quá, nó mới nhảy xuống đất nằm. Còn lúc đứa trẻ chỉ mới biết bò thôi, thì được nhảy từ cái nôi sang cái giường, không gian của cái giường đối với nó như thế đã là đủ rồi. Bởi vậy, trước đây có sự o ép rất là triệt để, bây giờ nới ra một tí tẹo, đối với dân trí thông thường người ta thấy như thế là tạm đủ rồi. Như vậy, nhu cầu gọi là phá cái giới hạn đó, để đến một không gian dân chủ tốt hơn, thì hiện nay mới có ở thành thị và một số trí thức tiên tiến thôi.

2) Đối với số đông dân cư ở các vùng nông thôn, ở miền núi, thì người dân ở đó chưa biết cái gì tồn tại ở trên đời, ngoài đảng Cộng sản Việt Nam. Cho nên, ở các thành phố lớn, tình hình mới có thể đảo ngược. Còn khi tự do bầu cử thì ở nông thôn họ chưa chắc biết cái mới là cái gì đâu.

3) Sống quá lâu trong điều kiện dân chủ giả, dân ta đã có thói quen coi thường lá phiếu, không biết phải thực hiện quyền dân chủ bằng lá phiếu của mình. Cho nên họ coi đây là một thủ tục rất là hình thức, đi làm cho qua chuyện. Bao nhiêu năm nay bầu cho ai mà chả thế? Cho nên bây giờ nếu không được chuẩn bị, cứ thế mà tổ chức bầu cử, thì chả có cái trách nhiệm cân nhắc kỹ trong chuyện lựa chọn lá phiếu.

4) Tôi thấy cái thực tế do đảng Cộng sản [tạo nên] trong những năm vừa rồi đã khiến cho không có một tổ chức nào, không một nhân tài xã hội nào được phép nẩy nở, bên ngoài vòng tay của đảng. Hiện nay cũng không có đối tượng nào được phơi bày ra trong nước để người ta kén chọn. Như vậy, nếu cứ giữ nguyên trạng như thế này để mà bầu cử thì dù có dân chủ cũng chưa có triển vọng gì là tốt đẹp.”

***

Tháng Bảy, 1995, Hà Sĩ Phu nhận định như thế về mối quan hệ Washington và Hà Nội.

Tháng Sáu 2018, trong email gửi cho tôi, Hà Sĩ Phu viết: “Nhận định của mình năm 1995 đến nay vẫn đúng: Nếu tiến hành trưng cầu dân ý hoặc tổ chức bầu cử tự do ngay bây giờ thì ĐCS vẫn có thể dùng những thủ đoạn để giành phần thắng vì số dân thờ ơ với vận mệnh đất nước vẫn chiếm số đông hơn, và nhiều người (kể cả cán bộ, đảng viên có chút tỉnh ngộ), vẫn bị tiêm nhiễm bởi những luận điệu lâu đời của CS, nhất là từ thần tượng ảo HCM! Nhưng điều này mới là quan trọng: nếu để cho xã hội có một quá trình chuẩn bị sinh hoạt dân chủ thì tình hình sẽ khác hẳn. Thí dụ: nếu để một năm [cho mọi người dân] có sinh hoạt dân chủ thật thì lúc ấy tình hình bầu cử hay trưng cầu dân ý có thể đảo ngược.

Năm 2009, trong cuộc phỏng vấn đăng trên báo Người Việt xuất bản tại California, kẻ viết bài này nêu câu hỏi với ông Hà Sĩ Phu: Đảng Cộng sản Việt Nam hiện sợ gì nhất, ông nói:

“Những nhà lãnh đạo Việt Nam lo sợ trước sự đồng thuận và liên kết của các tầng lớp trí thức và nhân dân, lo sợ trước sự xuất hiện của các tổ chức, thậm chí các đảng phái… nhưng gom lại vẫn chỉ nằm trong hai nỗi lo sợ lớn mà thôi: lo sợ làn sóng dân chủ và lo sợ làn sóng chống Trung Quốc.

“Hai mối lo ấy bắt nguồn từ hai vấn nạn căn bản nhất của xã hội Việt Nam hiện nay là không dân chủ và không độc lập. Muốn có dân chủ phải chống lề thói toàn trị. Muốn có độc lập phải chống nạn Bắc thuộc đang hiện hình.”

Đa số đồng bào mình có nhìn thấy “hai nỗi lo sợ” ấy của đảng Cộng sản không?

“Hai mặt trận đấu tranh hiện nay của nhân dân có hai kẻ thù đều là giặc: giặc NỘI XÂM và giặc NGOẠI XÂM. Hai giặc này đang liên kết với nhau và sử dụng nhân dân hai nước hòng củng cố quyền lực và làm giàu.

“Như tôi đã nói nhiều lần, Chủ nghĩa Cộng sản ngự trị được ở Việt Nam là do ký sinh vào Chủ nghĩa Yêu nước, hút sinh lực từ lòng yêu nước của nhân dân. Trước đây nhiều người đã nghĩ rằng đất nước sẽ dần dần thoát khỏi chủ nghĩa ảo tưởng phi khoa học ấy bằng con đường Dân chủ hoá và Đổi mới toàn diện. Nghĩ thế cũng đúng nhưng chưa thật trúng. Ngày càng rõ rằng chủ nghĩa ấy đã vào bằng đường nào sẽ phải ra bằng đường ấy: đã mượn đường giành độc lập để vào thì sẽ bị trào lưu giành độc lập bảo vệ dân tộc trục xuất, ‘tiễn đưa’ ra. Sự có mặt của chủ nghĩa Trung Hoa trên đất nước này phải chăng là do trời đất xui khiến đến như một nhân tố tiền định để hoàn thành cho xong công đoạn tống xuất có tính lịch sử ấy? Hoặc là dân Việt Nam sẽ có cả độc lập và dân chủ trong sáng hoặc là mất trắng cả hai. Những lời “canh bạc cuối”, “tỷ lệ năm ăn năm thua” thiêng như lời sấm vậy, báo hiệu mọi điều đều có thể xảy ra.”

Thưa ông, hai cuộc “rước” chủ nghĩa và “tiễn” chủ nghĩa ấy có gì khác nhau?

“Đã bị nạn ngoại xâm (dù kiểu cũ hay kiểu hiện đại) thì nhân dân đều mất quyền làm chủ đất nước và đều gọi tắt là mất nước. Nhưng thời thuộc Pháp ta chỉ mất nước nhưng không mất dân tộc, vì Pháp không có khả năng đồng hoá dân tộc Việt Nam. Một khi dân tộc còn thì lòng yêu nước vẫn còn, và còn khả năng kháng chiến để giành lại nước. Nhưng ngày nay, nếu mất nước thì e sẽ mất luôn cả dân tộc tính! Chưa cần chứng minh bằng cách đi sâu vào lý luận, vào giáo lý Khổng Mạnh và văn hóa Trung Hoa. Chỉ cần tưởng tượng hàng vạn (biết đâu sẽ không hàng triệu) người Tàu tràn vào, lúc đầu là chiếm chỗ lao động rồi ở lại, mỗi chàng lấy một, hai hoặc ba người vợ Việt Nam bất cứ già trẻ miễn có thể sinh đẻ (hiện tượng này đã xảy ra rồi). Rất nhiều phụ nữ Việt Nam đang nghèo đói, lấy Tàu tại chỗ chẳng hơn phải sang làm nô lệ tình dục ở tận Đài Loan, Nam Hàn, Campuchia… ư? Những đứa trẻ sinh ra sẽ là Tàu hay là Việt, có lòng yêu nước nữa không, yêu nước Tàu hay yêu nước Việt?

“Bị Hán hoá là mất dân tộc. Mất dân tộc thì đau đớn hơn mất nước vì không bao giờ tìm lại được đất nước nữa mà vĩnh viễn trở thành quận huyện! Suốt bốn nghìn năm lịch sử Việt Nam, người Tàu không thực hiện được điều này, vì khi xưa còn thiếu một chủ nghĩa “Quốc tế Vô sản Đại đồng” để tiếp tay cho những kẻ thống trị (mà Mác vẫn tưởng là mình tiếp tay cho dân nghèo), cái chủ nghĩa giúp người nọ chiếm của người kia, nước nọ chiếm của nước kia cứ ngọt sớt, nó có tài biến sự chiếm đoạt thành sự tự nguyện hiến dâng, nó cứ nhân danh một người nào đó là y như rằng sẽ chiếm lĩnh được người ấy, thôn tính được người ấy. Không có chủ nghĩa Mác thì người Trung Hoa làm sao ký được 16 chữ vàng để ùa một cái tiến vào tận gan ruột Tây Nguyên giữa nước Việt Nam?”

Theo nhận định của ông, não trạng của giới lãnh đạo hiện nay tại Hà Nội ra sao mà họ lại để Trung Quốc hành xử ngày càng ngang ngược với Việt Nam, im lặng để “tàu lạ” bắt giữ, ngăn chặn ngư dân Việt Nam đánh cá trong vùng biển thuộc chủ quyền của tổ quốc chúng ta?

“Mặc dù biết sự tha hoá của quái ác quyền lực (nghĩa là khi có quyền lực người ta có thể biến chất thành một cái gì hoàn toàn khác, Lênin cũng nói vậy), nhưng tôi không tin rằng tất cả những người cầm quyền có thể đồng thuận một cách sai trái trước một nguy cơ quá lớn mà lại quá sơ đẳng như vậy. Nhất định trong thâm tâm một số người có sự giằng xé, nhất định trong nội bộ phải có sự phân liệt ý kiến. Nhưng tại sao cuối cùng ‘con tàu’ vẫn cứ một chiều lao tới không thể dừng?

“Chỉ có thể giải thích rằng yếu tố ngoại lai quá mạnh. Kẻ đã yếu bao giờ cũng phải lo xa, nhưng nhà nước Việt Nam toàn đi nước cờ muộn màng, luôn ấu trĩ ảo tưởng nên bị lừa rất sớm. “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn” huống chi một chú nai vàng ngơ ngác đã bị con báo nhảy lên lưng?

“Điều nguy hiểm là tình thế đã muộn, khó gỡ lại đang bị đẩy cho tăng tốc, dồn dập, cấp tập, cốt tạo ra sự đã rồi, để tình thế không thể đảo ngược! Đã tàn ác thì phải tàn ác cấp tập ngay từ đầu, để sau đó sẽ nới ra một chút để tỏ lòng nhân ái, ấy là mẹo Machiavel. Thế nước như vậy chỉ có nhân dân mới làm thay đổi được. Nhân dân như vị tướng tài, như người khổng lồ vẫn bị giam lỏng, có thả vị tướng ‘vạn địch nhân’ này ra mới cứu được nước.”

Trước tình hình Trung Quốc ngày càng tỏ dấu hiệu bá quyền với Việt Nam, đồng bào mình trong và ngoài nước có thể làm được gì?

“Theo thiển ý, chúng ta cần làm cho mọi người Việt Nam tỉnh giấc để nhận ra tình huống rất bất thường của dân tộc mình trước nạn nội xâm và ngoại xâm đang ráo riết câu kết, đang có nguy cơ trở thành “sự đã rồi”. Lịch sử không cho thoát một ai, không châm chước cho ai ngủ gật hay giả vờ ngủ gật, hoặc thế này, hoặc thế kia đều phải trả giá trước lương tâm và trước lịch sử.

“Chỉ có nhân dân mới cứu được nước. Cần phát triển một xã hội dân sự cường tráng mới phát huy được sinh lực của dân.

“Cần dẹp mọi tị hiềm, mọi thù oán cũ để hướng vào vận mệnh đất nước, không hy sinh được một chút niềm riêng thì đừng nói chi điều đại nghĩa?”

***

Có lần trong cuộc trò chuyện điện thoại, Hà Sĩ Phu nói rằng “Chủ nghĩa Cộng sản đã vào Việt Nam bằng con đường lén lút; nó lẩn vào công cuộc chống Pháp của toàn dân chứ không qua sự nhận thức của trí tuệ. Bây giờ, giới lãnh đạo Hà Nội nếu khôn ngoan thì nên chính thức làm lễ tiễn cái chủ nghĩa này ra khỏi đất nước. Nếu không, đến một lúc nào dân tộc không còn chịu đựng được nữa thì cuộc nổi dậy sẽ đánh đuổi nó (Chủ nghĩa Cộng sản) như một tên ăn cắp.”

Đ.Q.A.T.

Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/ha-si-phu-dat-tay-nhau-duoi-bien-chi-duong-tri-tue/4572093.html

MỘT ĐỊNH NGHĨA QUÁ KINH KHỦNG

Phan Thị Hồng and Kevin Nguyen shared a post.
Image may contain: 1 person

Lê Ngọc Thanh is with Ngô Nhật Đăng.

MỘT ĐỊNH NGHĨA QUÁ KINH KHỦNG

Vừa đọc một stt về các bài viết của nhà văn hóa Phạm Quỳnh trên trang của anh Ngô Nhật Đăng, thấy có một định nghĩa gọi là “khoa học” về “chuyên chính” quá ghê, nên copy lại để mọi người đọc và gẫm thêm:

“Định nghĩa khoa học về chuyên chính là: Một quyền lực không bị hạn chế bởi bất cứ pháp luật nào, không bị ràng buộc bởi bất cứ quy tắc nào và trực tiếp dựa vào sức mạnh – Lenin, Nhà nước và cách mạng”.

Sẽ dạy tiếng Hoa từ lớp 1

Vũ Đình Hưng

Thay đổi chữ viết, rồi thay đổi cách phát âm, giờ là cho học sinh lớp1 học tiếng Hoa trong khi nó lại không phải là ngôn ngữ được quốc tế sử dụng làm ngôn ngữ giao tiếp chung, lại thêm cả việc cho sử dụng tiền nhân dân tệ ở 7  tỉnh biên giới và mới đây 1  công ty bảo hiểm VN hợp tác với 1  công ty bảo hiểm của tàu. Từ những sự việc trên thì đơn giản và dễ hiểu là tàu+ đang từng ngày từng tháng từng năm đồng hoá dân tộc VN và được tiếp tay bởi đảng cs
NEWS.ZING.VN
Theo dự thảo mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tiếng Hoa sẽ được dạy từ bậc Tiểu học, Trung học cơ sở. Ngay từ lớp 1, học sinh đã tiếp cận với môn học này.

VNCH vs. VC: Chính sách Người Cày Có Ruộng cho Dân và cuộc Cải Cách Ruộng Đất để tàn sát Dân

VNCH vs. VC: Chính sách Người Cày Có Ruộng cho Dân và cuộc Cải Cách Ruộng Đất để tàn sát Dân

Mai Thanh Truyết (Danlambao) 

Nguyên nhân tiềm ẩn cho sự cáo chung của chế độ CSVN 

Vì sao? 

Xin trả lời ngay là: 

Kể từ sau 1954, ngoài Bắc, ngay sau khi chia đôi đất nước, Hồ Chí Minh và CSBV áp dụng chính sách đấu tố tàn bạo với danh nghĩa “lấy của người giàu chia cho người nghèo” và hiện tại CSVN vẫn tiếp tục dùng chính sách trên, cướp đất, cướp ruộng công khai để “vỗ béo” cho tầng lớp lãnh đạo cộng sản đang cầm quyền.

Ở Miền Nam, không nói Cải Cách Ruộng Đất mà nói Cải Cách Điền Địa và sau đó Người Cày Có Ruộng. Trong 20 năm, từ 1955-1975, Miền Nam tiến hành hai cuộc Cải Cách Điền Địa ở thời Đệ I và Đệ II Cộng hòa. Không kể một cuộc Cải Cách Điền Địa do Cựu Hoàng Bảo Đại ban hành năm 1949, nhưng không thành công vì, ruộng đất vừa được phân phối xong thì liền bị Việt Minh tịch thâu, hoặc Việt Minh ngăn cấm nông dân nhận ruộng hoặc làm ruộng. Mặt khác, chiến tranh không cho phép nông dân sinh sống trên phần đất canh tác của mình, phải tản cư. 

Vì vậy, người viết phân tích hai chính sách ở miền Bắc và miền Nam để từ đó, mỗi người trong chúng ta tự đề ra kết luận cho chính mình. 

  1. Chính sách Người Cày Có Ruộng (Promulgation date of Land to the Tiller Law)

Cải Cách Điền Địa ở Miền Nam thực hiện từ khi Tổng thống Ngô Đình Diệm nắm quyền bằng Dụ số 57 ngày 22 tháng 10 năm 1956. Chính sách điền địa thêm một lần nữa được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tiếp nối một cách chu toàn hơn bằng Đạo luật số 003/70 ngày 26 tháng 03 năm 1970, dưới tên gọi mới là Luật Người Cày Có Ruộng

Luật Người Cày Có Ruộng này nhằm hữu sản hóa nông dân, ngõ hầu thâu ngắn cách biệt giữa người giàu và nghèo. Đây là một gia tài quý đã được người đi trước mang lại thành công trong việc thu ngắn khoảng cách giàu nghèo trong dân chúng, và nhất là tạo điều kiện cho người dân thẩm thấu được tinh thần dân chủ pháp trị, một nền móng căn bản cho dân chủ, tự do, và nhân quyền

  1. Chính sách Cải Cách Điền Địa của Đệ Nhất Cộng hòa

Ông Ngô Đình Diệm, vào ngày 7 tháng 7 năm 1955, được bổ nhiệm làm Thủ Tướng Chính Phủ. Ở chức vụ Thủ Tướng Chính Phủ, ông ban hành 2 Dụ, số 2 và số 7 năm 1955, liên quan đến vấn đề thuê ruộng, vì từ trước ở Việt nam, việc thuê ruộng không có giấy tờ hợp đồng giữa người thuê mướn và chủ ruộng nên thường chủ ruộng lấn ép làm thiệt hại quyền lợi của người thuê. 

– Giá thuê ruộng từ 40% đến 60%, tùy theo ruộng tốt xấu, trên số lúa thu hoạch. Luật về thuê ruộng qui định lại rõ qui chế tá điền. Từ nay: 

– Giá thuê ruộng từ 10 đến 15% trên số lúa thu hoạch cho ruộng làm 1 mùa/năm; 

– Giá thuê từ 15 đến 25% cho mùa gặt chính của ruộng 2 mùa/năm. 

– Thời hạn hợp đồng là 5 năm, có tái ký. Tá điền có quyền trả ruộng và phải báo trước chủ ruộng 6 tháng. Chủ ruộng muốn lấy ruộng lại phải báo trước tá điền 3 năm. 

Vì chiến tranh nhiều người bỏ ra thành thị sinh sống nên số ruộng bỏ hoang tính ra lên đến 500.000 mẫu tây. Trong thời gian chính phủ cho kiểm kê, nếu chủ ruộng vắng mặt, số ruộng này sẽ bị trưng thu để cấp phát cho tá điền

Sau khi chấp chính, Tổng Thống Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 57 ngày 22 tháng 10 năm 1956 qui định Chính sách Cải Cách Điền Địa theo đó, điền chủ có quyền giữ cho mỗi người 100 mẫu đất, phải canh tác 30%, số còn lại cho mướntheo điều kiện luật hợp đồng đã ban hành. 

Ruộng truất hữu, chủ ruộng được bồi thường theo giá ruộng, 10% bằng tiền mặt, 90% trả bằng trái phiếu với lãi xuất 3%/năm. Người giữ trái phiếu có quyền sử dụng trong các dịch vụ như trao đổi, kinh doanh, mua bán. Ruộng truất hữu bán lại cho tá điền trả góp trong 12 năm vốn và lãi xuất 3% như đối với điền chủ cũ. 

Có khoảng 1035 điền chủ bị truất hữu vì mỗi người có trên 100 mẫu. Diện tích ruộng truất hữu là 430.319 mẫu, tính thêm 220.813 mẫu của Pháp kiều. Năm 1958, tổng số ruộng truất hữu là 651.132 mẫu. 

Số tá điền trở thành điền chủ từ năm 1957-1963 là 123.193 người. Ngoài ra còn 2857 người mua trực tiếp từ chủ ruộng, nâng con số điền chủ – mỗi người có tối thiểu 5 mẫu – lên 126.050 người. Và số ruộng mua riêng này là 252.213 mẫu. 

Chính sách Cải Cách Điền Địa ở trong Nam làm cho chủ ruộng và tá điền đều hài lòng. Số ruộng đất bị Việt Minh trước đây tịch thu phát cho tá điền vì chủ ruộng vắng mặt, nay chính quyền đem trả lại cho chủ và bồi hoàn tiền nếu bị truất hữu. 

  1. Chính sách Người Cày Có Ruộng của Đệ Nhị Cộng hòa

Cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bổ túc thêm Dụ số 57 và thiết lập Luật Người Cày Có Ruộng ban hành ngày 26/3/1970 đặt trên căn bản đồng thuận và bồi thường dựa trên nguyên tắc tương đối công bằng. Đó là, người có ruộng trên 15 mẫu hay có ruộng mà không canh tác sẽ bị truất hữu và được bồi thường theo thời giá hiện hành, 20% bằng hiện kim, và 90% bằng công khố phiếu và sẽ được truy lãnh 8 năm sau đó do Ngân hàng Quốc gia (Miền Nam) bảo đảm với mức lời 10% mỗi năm. 

Kết quả của luật nầy, tính từ năm 1970 đến 1973, có tất cả 770.145 mẫu đã được truất hữu từ 51.695 điền chủ. 

  1. Chính sách Cải Cách Ruộng Đất của Hồ Chí Minh và CSVN

Dưới thời CCRĐ của CS Bắc Việt, về thuế nông nghiệp, chúng ta thử nhìn lại sơ lược để có ý niệm cụ thể nông dân bị phá sản. 

Thuế sẽ đánh 5% trên 100 kg lúa, 45% cho 1000 kg lúa trở lên, tối đa là 64%. Thêm vào đó, nông dân trả phụ thu cho đảng 15%. Cả 2 thứ thuế phải nộp một lần, cho đảng và Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và một phần gửi cho Kominforme làm nghĩa vụ quốc tế. 

Thử làm bài toán để biết nông dân đã nộp bao nhiêu mồ hôi nước mắt cho thuế nông nghiệp. Chúng ta lấy 1000 kg lúa. Thuế lấy 45% là 450 kg. Trên số này, nông dân bị trừ 15% thuế phụ thu là 67,5 kg. Nông dân phải nộp thuế nông nghiệp cho 1000 kg lúa thu hoạch được là 517,30 kg (51,7%). Nếu chủ ruộng không trực tiếp canh tác phải nộp thêm 25% phụ thu nữa. 

Diện tích ruộng canh tác và số lúa thu hoạch phải do nông dân bình (nghĩa là do cái gọi là” nông dân” quyết định chứ không do người chủ đất chia ra).

“Chính sách người cày mất ruộng” (Cải cách ruộng đất) đã được đảng ưu ái bằng dùi cui, đôi khi người dân phải lấy mạng làm mộc để bảo vệ nguồn sống cuối cùng của bản thân và gia đình. 

Bồi thường được quy định là khoảng 1 Mỹ kim cho một thước vuông, trong lúc đó thời giá là từ 1000 đến 2000 Mỹ kim/m2 (vụ đàn áp mới nhất của dự án Ecopark tại Văn Giang, Hà Nội là một thí dụ điển hình năm 2013). 

Đó là trước năm 1975. Sau khi chiếm toàn cõi Việt Nam, CSVN áp dụng một chính sách CHIẾM ĐẤT quyết liệt hơn, tàn nhẫn hơn, sắt máu hơn, không những là đất nông nghiệp mà là đất tư nhân ở trong thành phố hay bất cứ nơi nào từ Bắc chí Nam với chính sách gọi là QUY HOẠCH đất đai. Chúng sử dụng cả sức mạnh gọi là chuyên chính vô sản qua bộ máy công an để ép buộc người dân phải “nhả đất” cho chúng, nếu không thì là tù tội và mạng sống nữa! 

Một “công dân” tên Tám Khỏe trên mạng lưới toàn cầu ngày 13/1/2010 nhận định chính sách Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ) như sau: “Chủ yếu CCRĐ là chuẩn bị con đường đưa dân tộc Việt trở thành nô lệ cho một “giai cấp” mới, là đảng viên đảng CSVN”. 

Chính sách CCRĐ/CSVN này không phải là một sai lầm mà là một tội ác có tính toán của HCM: Biến người dân trong vùng kiểm soát của CS thành những “con vật” mất hết ý chí phản kháng, chỉ biết cúi đầu vâng phục Bác và Đảng. Tất cả “con vật” trên mang cùng một họ; đó là họ “SỢ” (tất cả chúng ta đều mang chung một họ Sợ, lời của Nguyễn Tuân).

 

Cải cách Ruộng đất trong hai năm từ 1954 đến 1956 diễn tiến long trời lở đất này đã được nói nhiều với đầy đủ chi tiết nên thiết tưởng không cần lập lại thêm nữa. Duy có con số tử vong chính xác của nạn nhân chưa được xác nhân chính xác: 

– Theo tuần báo Time ngày 1 tháng 7 năm 1957 thì khoảng 15.000 người bị xử bắn. 

– Theo Gareth Porter: từ 800 đến 2.500; 

– Theo Edwin E. Moise (sau một công cuộc nghiên cứu sâu rộng hơn): vào khoảng 5.000; 

– Theo giáo sư sử học James P. Harrison: vào khoảng 1.500 cộng với 1.500 bị cầm tù. 

– Theo soạn giả Arthur Dommen thì cho rằng tính đến năm 1956 có khoảng 32.000 người bị hành hình trong vụ cải cách ruộng đất 

Ngày nay, theo báo cáo chính thức của Viện thống kê Hà Nội, số tử vong là 172.008 người trong đó có 70% bị chết oan ức bao gồm những tiểu địa chủ bị nâng lên cho đủ 5% theo tiêu chuẩn của Trung Cộng qui định, và những cán bộ đảng viên đi theo kháng chiến chống thực dân vì lòng yêu nước tinh ròng không cộng sản. Nhưng con số tử vong thật sự có thể cao hơn nhiều do nhu cầu bưng bít của chế độ. 

Cũng trong thời gian đó, nhiều sĩ phu Bắc hà, trong đó đại diện là Nguyễn Mạnh Tường đã đưa ra phương hướng sửa đổi những sai lầm của chế độ bằng “một chế độ pháp trị chân chính” mà ông đã mô tả trong quyển sách “Tiếng nói trong đêm khuya” (Une voix dans la nuit), nhưng không được lắng nghe mà ông còn bị trù dập cho đến chết. 

Thay lời kết 

Tóm lại, những sự việc như: Phê chuẩn dự luật An ninh mạng ngày 12/6 – Luật Đặt khu kinh tế – Việc sáp nhập tiền tệ chung cho 6 tỉnh biên giới – Việc cho xe hơi chạy vào “tự do” trong nội địa Việt Nam – Và gần đây nhất, việc ra mắt cuốn tự điển tiếng Việt mới (âm điệu Tàu) của Bùi Hiền và sách lớp I về cách phát âm và đánh vần của Hồ Ngọc Đại… tất cả chỉ là một cách “hợp thức hóa” và thăm dò của CSVN, cũng như “làm loãng đi” mục tiêu Chống Tàu Diệt Việt Cộng của người con Việt mà thôi. 

Vì sao? 

Vì những việc trên, chúng đã chuẩn bị và áp dụng từ… “nẫm” rồi! 

Thí dụ như: 

Luật An ninh mạng, chúng đã áp dụng từ ngày… thành lập đảng cs Việt Nam 1930 vì chúng đã bắt đầu khủng bố và đàn áp người dân không cần thông qua luật nào cả (luật rừng!); 

Luật Đặc khu kinh tế đã được xây dựng (với nguồn vốn TC) ở cả 3 nơi từ năm… 2011 lận: 

– Vân Đồn với phi trường (với đường bay 3000m cho máy bay vận tải hạng nặng) và phi cảng đã hoàn tất cùng hạ từng cơ sở cũng như hai xa lộ Vân Đồn – Hải Phòng – Hà Nội đã rút ngắn được 2 giờ lái xe; 

– Bắc Vân Phong với đèn pha (hải đăng) cho tàu chạy ở đỉnh Đèo Cả, bến cảng có độ sâu 22m cho tàu chuyên chở lớn tại Vũng Rô. Hiện nơi nầy đang là trạm trung chuyển của các tàu chuyên chở dầu hướng về TC. 

– Phú Quốc đã xây dựng nhiều resort và khu giải trí trong đó nhiều casino quốc tế đã xây xong… 

Việc thử nghiệm tiếng Việt mới đã được áp dụng thử nghiệm ở 50 tỉnh trong 63 tỉnh thành toàn quốc từ 4 năm nay! 

Và còn nhiều nhiều nữa… Bà Con ơi. 

Cách đây 58 năm, cố Cố vấn Ngô Đình Nhu trong quyển sách Chính Đề Việt Nam(nhà xuất bản Đồng Nai, Sài Gòn, in lại do Kim Lai ấn quán (Los Angeles) năm 1988) khẳng quyết là:

“Trung Cộng giải quyết không được công cuộc phát triển của dân tộc Trung Hoa. Nhưng số người 800 triệu (thời điểm 1960) dân cần phải nuôi, là một thực tế không thể phủ nhận được. Sự bành trướng mà TC bắt buộc phải thực hiện, dưới áp lực nhân khẩu kinh khủng đó đã mở màn. Nếu chúng ta không thức tỉnh thì một trong những nạn nhân đầu tiên của sự bành trướng nói trên sẽ là chúng ta”. (Dân số TC năm 2016 là 1 tỷ 400 triệu). 

Quả thật đây chính là một lời tiên tri cách đây 58 năm, và ngày hôm nay, TC không cần phải thôn tính nước ta bằng võ lực, vì chính những người cộng sản VN đã tự hiến dâng đất nước thân yêu và 96 triệu con dân Việt cho TC nhằm mục đích bảo vệ quyền lực và quyền lợi của họ

Vì vậy, chính sách đuổi dân chiếm đất, đặt biệt là đất nông nghiệp để làm Khu chế xuất, Khu công nghiệp, Đặc khu kinh tế cho TC của VC đã phát động từ 43 năm qua phải là một “kích hoạt” để toàn dân Việt đứng lên làm cách mạng bất tuân dân sự nhằm tẩy xóa chế độ CSVN ngày hôm nay. 

Mong Bà Con Việt hãy Nhớ Nằm Lòng và Lấy Quyết Tâm! 

Giờ lịch sử đã điểm! 

Lịch sử dân tộc sẽ không bao giờ quên khắc ghi tội ác bán nước tày Trời nầy của CSVN. 

– Trích sách Lối Thoát Cho Việt Nam

Mai Thanh Truyết 

danlambaovn.blogspot.com

Chọn đi, ‘Công viên Fidel’ hay miễn học phí cho trẻ con?

Chọn đi, ‘Công viên Fidel’ hay miễn học phí cho trẻ con?


Chân dung Fidel Castro.
Chân dung Fidel Castro.

Ở Việt Nam, nuôi, dạy, chăm sóc mầm non luôn luôn có vấn đề. Tính chất, tầm vóc của những vấn đề liên quan tới mầm non luôn luôn nghiêm trọng và đủ lớn để trở thành vấn nạn. Những vấn nạn về nuôi, dạy, chăm sóc mầm non luôn luôn thuộc loại nan giải và mức độ nan giải tăng dần theo thời gian…

***

Cách nay vài ngày, Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam tổ chức thẩm tra Dự luật sửa Luật Giáo dục – lĩnh vực có đủ loại vấn nạn và trong mắt dân chúng đã trở thành thảm họa cho cả mầm non, gia đình, xã hội cả ở hiện tại lẫn tương lai. Dự luật sửa Luật Giáo dục được xem như một nỗ lực để giải quyết những vấn nạn trong giáo dục, khiến giáo dục trở thành thảm họa.

Một trong những điểm mới của Dự luật sửa Luật Giáo dục là ý tưởng miễn học phí cho trẻ con theo học các bậc mầm non, trung học cơ sở của hệ thống công lập và hỗ trợ học phí cho trẻ con phải học phổ cập (hình thức giáo dục dành cho những đứa trẻ không đủ điều kiện về tuổi tác, học lực, tài chính để đi học một cách bình thường như những đứa trẻ khác).

Cho dù luôn khẳng định Nhà nước Xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam “ưu việt” hơn thiên hạ nhưng trước giờ, tại Việt Nam, chỉ có trẻ con theo học bậc tiểu học được miễn học phí. Các bậc học trước đó, cũng như sau đó phải trả đúng, trả đủ học phí, chưa kể bậc học nào cũng phải trả thêm đủ loại… phụ phí và đó là lý do, nghèo đồng nghĩa với thất học bởi chi phí cho giáo dục vượt quá khả năng của nhiều gia đình. Trong bối cảnh như thế, tất nhiên ý tưởng đã kể được nhiều giới, đặc biệt là người nghèo xem như một yếu tố tích cực.

Sáng 12 tháng 9, khi trình bày Dự luật sửa Luật Giáo dục trước Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam, ông Phùng Xuân Nhạ, Bộ trưởng Giáo dục – Đào tạo, nhấn mạnh, chủ trương chỉ miễn học phí cho những đứa trẻ theo học bậc tiểu học “đang gây khó khăn cho việc huy động trẻ đến trường, nhất là ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn”, thành ra cần mở rộng việc miễn học phí cho cả trẻ con theo học các bậc mầm non, bậc trung học cơ sở của hệ thống công lập, hỗ trợ học phí cho trẻ con phải học phổ cập tại những cơ sở giáo dục ngoài công lập. Ông Nhạ nói thêm là theo tính toán của Ban Soạn thảo Dự luật sửa Luật Giáo dục thì nếu chấp nhận chuyện miễn học phí cho trẻ con theo học các bậc mầm non, trung học cơ sở của hệ thống công lập và hỗ trợ học phí cho trẻ con phải học phổ cập, mỗi năm, sẽ phải chi 4.370 tỉ đồng. Tuy nhiên Bộ Giáo dục – Đào tạo không xin thêm tiền từ công quỹ mà sẽ tự cân đối trong khoản 20% ngân sách được chi cho giáo dục – đào tạo.

Để thuyết phục Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam đồng tình với điểm mới – được xem là tích cực của Dự luật sửa Luật Giáo dục, ông Vũ Đức Đam, Phó Thủ tướng , lưu ý, các quốc gia khác phổ cập giáo dục đến cấp nào thì miễn học phí cho cấp đó. Việt Nam đang phổ cập giáo dục cấp trung học cơ sở và chuẩn bị phổ cập cấp trung học phổ thông nhưng chỉ miễn học phí cấp tiểu học là không ổn. Ông Đam nhắc, miễn học phí, hỗ trợ học phí là chuyện đã bàn nhiều năm nhưng chưa làm. Lần này, Bộ Giáo dục – Đào tạo và Bộ Tài chính đã tính toán kỹ và nhận thấy có thể làm được. Nếu Quốc hội gật đầu, hệ thống hành pháp sẽ tính toán lộ trình và sẽ không lấy của công khố quá mức 20% ngân sách dành cho giáo dục – đào tạo…

Đáng ngạc nhiên là Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam – bộ phận điều hành Quốc hội, nơi đại diện cho nguyện vọng, ý chí của toàn dân lại không ưng với ý tưởng miễn học phí cho cả trẻ con theo học các bậc mầm non, bậc trung học cơ sở của hệ thống công lập, hỗ trợ học phí cho trẻ con phải học phổ cập tại những cơ sở giáo dục ngoài công lập.

Ông Phùng Quốc Hiển, Phó Chủ tịch của Quốc hội Việt Nam, thừa nhận, cần hỗ trợ chuyện học hành nhưng Quốc hội đã ban hành nghị quyết là trước mắt, không ban hành chính sách mới, nếu ban hành phải cân đối nguồn lực và chất vấn: Ban Soạn thảo Dự luật sửa Luật Giáo dục đã “quán triệt tinh thần nghị quyết của Quốc hội chưa?” Trong tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về ngân sách như hiện nay, nếu thực hiện thì ngân sách có thể bảo đảm được không?

Ông Hiển dẫn chuyện một số trường ở một số thành phố, nơi học phí bảy, tám triệu đồng/tháng nhưng một số phụ huynh vẫn tranh với nhau để giành chỗ cho con mình nhằm bác bỏ ý tưởng miễn học phí, hỗ trợ học phí vì Dự luật sửa Luật Giáo dục chưa chặt chẽ, chưa hợp lý, thậm chí “vi phạm nguyên tắc thị trường”. Theo ông Hiển, phải “giới hạn việc miễn học phí đối với học sinh vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế khó khăn”.

Theo tường thuật của tờ Thanh Niên thì bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội cũng “quan tâm tới tác động của chính sách mới đối với ngân sách nhà nước”. Cho dù Dự luật sửa Luật Giáo dục khẳng định không làm cho tổng chi ngân sách dành cho giáo dục – đào tạo vượt quá tỉ lệ 20% tổng chi ngân sách nhà nước song bà Ngân vẫn băn khoăn trước chuyện “ban hành nhiều chính sách mới thực hiện thế nào” (1).

Ngoài ông Hiển, bà Ngân, những thành viên khác trong Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam như ông Nguyễn Khắc Định, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật cũng không tán thành ý tưởng miễn học phí, hỗ trợ học phí nêu trong Dự luật sửa Luật Giáo dục. Ông Định bảo rằng, cho dù chính phủ cam kết sẽ không để việc áp dụng miễn học phí, hỗ trợ học phí khiến chi tiêu của ngành giáo dục – đào tạo vượt quá tỉ lệ 20% tổng chi ngân sách nhưng ông không tán thành vì điều đó “sẽ ảnh hưởng tới các hoạt động khác của ngành” (2)…

Nhìn một cách tổng quát, đa số thành viên trong Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam không tán thành ý tưởng miễn học phí cho trẻ con theo học các bậc mầm non, trung học cơ sở của hệ thống công lập và hỗ trợ học phí cho trẻ con phải học phổ cập vì sợ thiếu tiền. Nỗi sợ ấy lớn đến mức họ không phân biệt được sự khác biệt giữa “phổ cập” và “tư thục”, nỗi sợ ấy khiến họ quên luôn rằng, chẳng riêng vùng sâu, vùng xa, các thành phố cũng đang có rất nhiều người nghèo. Nếu phổ cập giáo dục tới bậc trung học cơ sở là chủ trương chung thì thậm chí, hỗ trợ học phí cho học sinh tư thục theo mức học phí hệ công lập cũng là bình thường vì học sinh tư thục cũng là công dân, cũng là mầm non, tất cả công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Chẳng lẽ miễn học phí, hỗ trợ học phí như một thứ phúc lợi chung cho tất cả mầm non là “vi phạm nguyên tắc thị trường”?

***

Ngày 12 tháng 9, trong khi Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam nghe và cho ý kiến về Dự luật sửa Luật Giáo dục tại Hà Nội thì ở Quảng Trị, Hội đồng nhân dân tỉnh này triệu tập “cuộc họp bất thường” để… thông qua “Nghị quyết” về việc đặt tên cho công viên sẽ khánh thành vào ngày 15 tháng 9 tại thành phố Đông Hà là “Công viên Fidel” (diện tích 16 héc ta, có tượng đài Fidel Castro, tổng vốn đầu tư là 115 tỉ đồng – trong đó, công khố chi 30 tỉ, Quảng Trị đem công thổ ra đấu giá, kiếm thêm 85 tỉ nữa để bù vào cho đủ) (3).

Có một điểm cần lưu ý là sau khi Fidel Castro qua đời (tháng 12 năm 2016), chính quyền Cuba đã loan báo rộng rãi di nguyện của ông ta (đừng dựng tượng đài cũng đừng lấy tên ông ta đặt cho bất kỳ công trình công cộng nào) và tuyên bố sẽ thực hiện đúng di nguyện ấy. Tuy nhiên tại Việt Nam, hết Quảng Bình rồi tới Quảng Trị thi nhau tạc tượng, lập Khu tưởng niệm, xây Công viên tưởng nhớ… Fidel chỉ vì trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 9 năm 1973 – khi cuộc chiến giữa hai miền Nam, Bắc Việt Nam chưa kết thúc, Fidel từng bí mật đến Quảng Bình và đảo qua Quảng Trị vào ngày 15 tháng 9 năm 1973!

Trong bối cảnh ngân sách thâm hụt, chi nhiều hơn thu phải liên tục vay mượn đủ nguồn cả trong lẫn ngoài, nợ nần càng lúc càng cao, những Khu tưởng niệm, Công viên tưởng nhớ Fidel,… trở thành lý do hệ thống công quyền Việt Nam từ trung ương đến địa phương bị dân chúng Việt Nam chỉ trích kịch liệt (4).

Đó cũng là lý do ngày 12 tháng 9 vừa qua, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị phải tổ chức “cuộc họp bất thường” để… thông qua “Nghị quyết” về “Công viên Fidel”. Thông qua báo chí, ông Nguyễn Đức Chính, Chủ tịch tỉnh Quảng Trị phân bua, công trình xây dựng công viên khởi công từ 2015 để “phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí của nhân dân và hoàn thiện không gian đô thị”, tỉnh này chỉ nghĩ tới “Công viên Fidel” khi Fidel qua đời và đã xin Ban Bí thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN dựng tượng! Ông Chính nói thêm “Công viên Fidel” là… công viên đối ngoại của cả nước đối với Cuba chứ không riêng Quảng Trị!..

Nếu đặt thái độ, cách ứng xử của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam đối với những cổng chào, tháp biểu tượng, tượng đài, công viên, quảng trường, đủ loại dự án quốc gia trị giá hàng trăm tỉ, hàng ngàn tỉ, hàng chục ngàn tỉ, thậm chí hàng trăm ngàn tỉ… bên cạnh các chính sách về phúc lợi công cộng, ắt ai cũng thắc mắc, tại sao hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam luôn luôn dễ dãi tới mức khó hiểu đối với những kế hoạch đã biết chắc là không sinh lợi, chỉ tạo thêm nợ nần và ngược lại, xem xét chi li, bới tìm kỹ lưỡng, nêu ra hàng loạt băn khoăn cho ngân sách, công quỹ đối với những ý tưởng nhằm thực thi an sinh xã hội?

Giữa những thứ kiểu như “Công viên Fidel” với những chính sách như miễn học phí cho trẻ con theo học các bậc mầm non, bậc trung học cơ sở của hệ thống công lập, hỗ trợ học phí cho trẻ con phải học phổ cập, thứ nào hữu ích cho quốc gia, dân tộc, đáng bận tâm và phải nỗ lực thực hiện cho bằng được hơn? Tại sao tưởng nhớ – bày tỏ sự biết ơn Fidel có thể thôi thúc hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam mạnh mẽ tới mức, mạnh dạn mang cả công thổ ra đấu giá để có tiền hoàn tất “Công viên Fidel”, mà lại đắn đo, bàn ra tán vào chuyện tiếp sức cho trẻ con học hành? Đó là đặc thù của kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ư?

Chú thích

(1) https://thanhnien.vn/giao-duc/nhieu-truong-thanh-pho-dong-7-8-trieuthang-sao-phai-ho-tro-mien-hoc-phi-1002454.html

(2) https://thanhnien.vn/giao-duc/de-xuat-mien-hoc-phi-thcs-va-nghi-day-hoc-vao-thu-bay-991398.html?io_utm_social=fanpage

(3) https://news.zing.vn/quang-tri-co-cong-vien-hon-100-ty-mang-ten-lanh-tu-cuba-post876442.html

(4) https://www.voatiengviet.com/a/fidel-castro-tuong-dai-quang-binh/4532880.html

“Ta cho ra, một giòng thơ rất mát”

Suy Tư Chúa nhật thứ 24 thường niên năm B 16/9/2018

(Mc 8: 27-35)

Một hôm, Đức Giêsu và các môn đệ của Người đi tới các làng xã vùng Xêdarê Philípphê. Dọc đường, Người hỏi các môn đệ: “Người ta nói Thầy là ai?” Các ông đáp: “Họ bảo Thầy là ông Gioan Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó.” Người lại hỏi các ông: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? Ông Phêrô trả lời: Thầy là Đấng Kitô.” Đức Giêsu liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người.

Rồi Người bắt đầu dạy cho các ông biết Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày, sống lại. Người nói rõ điều đó, không úp mở. Ông Phêrô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người. Nhưng khi Đức Giêsu quay lại, nhìn thấy các môn đệ, Người trách ông Phêrô: “Xatan! lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”

Rồi Đức Giêsu gọi đám đông cùng với các môn đệ lại. Người nói với họ rằng: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống mình”. 

&   &   &

“Ta cho ra, một giòng thơ rất mát”

“Tới tinh khôi, và thanh sạch bằng gương”

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Giòng thơ tinh khôi/thanh sạch như gương lành người cho ra rất mát. Giòng thơ mát, là lời lẽ thân thương Chúa nhắn bảo ở trình thuật.

Trình thuật, nay thánh Máccô ghi lại tình tự Chúa nhắn bảo mọi người, ở mọi thời. Tình tự Ngài nhắn được giới khảo cổ tìm ra ở vùng Bắc Galilê và Êtruria năm 1998, nơi mà người thời nay gọi là Omrit. Các nhà khảo cổ đã tìm ra được đền thờ cao 24 mét có từ thời đế quốc La Mã hoành tráng, rất sống động. Cầu thang dẫn vào đền thờ, ở phía Đông, nơi mọi người tụ tập nguyện cầu Đấng cao sang, thần thánh.

Đền thờ này, do Hêrôđê xây để dân con mọi người phụng thờ thần Hoàng Augustus sống động. Nơi đây, người Hy Lạp gọi là đền Paneas được dựng xây để tưởng nhớ thần Pan của họ. Cũng tại chốn này, người Do thái đời sau gọi là đền đài phụng thờ Xêda Philíphê hầu nhớ đến vua cha của họ. Đền đài, do người Do thái kiểm soát rất chặt cốt làm vừa lòng Xêda. Hêrôđê là bạn thân của vua và coi vua này như thần linh sống động vẫn coi ngó mọi sự trên thế gian. Công cuộc dựng xây đền thờ, đã hoàn tất trước ngày Chúa giáng sinh, tức khởi đầu Công nguyên mới.

Đó là bối cảnh lịch sử, qua đó thánh Máccô thuật chuyện Chúa làm; đặc biệt hơn cả là ở chương 8 Tin Mừng do thánh nhân viết song song với chương 16 Tin Mừng của thánh Mátthêu. Chừng như, hôm ấy Chúa ra khỏi con đường Ngài vẫn đi để ghé viếng nơi này. Chừng như, hôm ấy là ngày nghỉ lễ để mọi người tưởng niệm thần hoàng của đế quốc. Cũng ở nơi này, thánh Phêrô lại đã tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống, một danh xưng do Augustus tạo ra để mừng đền thờ.

Sinh hoạt ở đền thờ, được kể lại như nội dung Tin Mừng do thánh sử Máccô đặt nơi miệng thủ lĩnh Phêrô để nói lên lời tuyên tín vào Đức Giêsu là Đấng Mêsia mà mọi người trông ngóng. Đặc trưng Tin Mừng thánh Máccô còn ở điểm, là: thánh nhân không thích viết về các đề tài như thế. Thành thử, thánh nhân mới đặt nơi Chúa cung cách bác bỏ điều mà người Do thái thường nhấn mạnh/đặt nặng.

Ở thánh Máccô, Đức Giêsu không chỉ đưa ra tính cách khích bác như thế, nhưng chính Ngài từng chỉnh sửa những điều mà Ngài bác bỏ theo cách rất rõ ràng. Ngài bác bỏ, bằng lời lẽ rất chắc nịch nên mới công khai khiển trách thánh Phêrô cứ lập đi lập lại những điều ra như thế. Cụm từ “khiển trách” thánh Máccô dùng, là để tả việc Chúa tấn công vào những gì cản trở đường lối Ngài chủ trương và coi đó là ác thần/sự dữ, rất Satăng.

Chúa khuyến cáo thánh Phêrô không nên vội vã gọi Ngài là Mêsia ở chỗ đông người. Đổi lại, thánh Phêrô lại trách Chúa sao lại nói đến việc Ngài phải chết trong tay giới cầm quyền ở thế trần. Chúa khiển trách thánh Phêrô và coi thánh nhân như bị quyền lực xấu khống chế, tức là điều mà Ngài coi rất nặng như Satăng. Đây, chính là mặt trái bi kịch cuộc đời được thánh Máccô thường xuyên diễn tả.

Sau khi được Chúa cho biết về Vương Quốc Nước Trời, thánh Phêrô xem ra vẫn chưa hiểu rõ ý Thày muốn nói. Thánh nhân cứ nghĩ: Thày mình đã lầm đường nên cứ ám ảnh mãi về thần khí xấu hiện diện nơi Ngài. Diễn tả điều ấy một cách huỵch toẹt, là bản tánh của thánh nhân thiết thân gần gũi Chúa. Thế nên, thánh Phêrô còn bị coi là kẻ nghịch chống Thày cả về những chuyện quan yếu như thiên tính của Thày, nữa.

Lời thánh Phêrô nói không là lời thú nhận của đồ đệ cận thân với Chúa, cho bằng ngài chỉ muốn khích bác những gì Chúa đích thân mạc khải cho thánh nhân. Chẳng thế mà, khi các thánh sử viết về thánh Phêrô, ai cũng coi vị thủ lãnh các đồ đệ như thánh nhân chân phương, quê mùa, cục mịch. Nhưng ở đây, thánh Phêrô không chỉ có thế, mà còn tệ hơn nữa. Tệ, là bởi thánh nhân dám ra mặt chống lại đường đi/nước bước của Thày mình. Chống kích, cả bước mở đầu do Thày tỏ cho biết về ơn cứu độ. Chống đối, coi như xung khắc giữa Thày – trò, mà thôi. Và, theo các nhà chú giải, thì đặc trưng của Tin Mừng thánh Máccô hôm nay, là viết cho cộng đoàn tín-hữu ở Rôma từng liên kết mật thiết với thủ lãnh các tông đồ, là thánh nhân.

Vậy thì, vấn đề thánh sử Máccô đặt ra hôm nay là điểm nào? Nghiêm trọng ra sao?

Ở đây, thánh Máccô đặt nặng lên cảnh trí thấy tận mắt. Cảnh trí, là sự việc xảy ra ngay tại đền đài thờ kính hoàng đế Augustus, một “ngẫu tượng” của dân gian thời bấy giờ. Cũng ở đây, thánh Phêrô vẫn lớn tiếng tuyên xưng Thày mình là Đấng tốt lành và linh thánh hơn cả thần hoàng Augustus, tức bậc chủ quản được phụng thờ đang diễn tiến. Bằng vào thoả thuận mới, Đức Vua của mọi thần linh lãnh chúa cũng như thần hoàng Augustus, Đức Giêsu muốn sự việc ấy xảy đến, một cách cao sang, thật vô giá. Tức, vấn đề đặt ra là ý tưởng về Thiên Chúa Tối Cao quyền thế hơn mọi thần ở trần gian.

Vấn đề, còn hỏi rằng: Thiên Chúa đích thực có là Hoàng Thượng Cao Sang theo kiểu Augustus, hoặc vị nào khác cũng rất thần và rất linh không? Thật ra thì, có khác biệt ở đây là ở chỗ: Đức Vua của mọi thần vẫn kín đáo, nhân từ, tuy không uy lực nhưng vẫn bị khích bác, coi thường! Khác biệt còn ở điểm: trong khi thánh Phêrô có trong đầu loại hình thần tượng rất phàm tục, thì Thày Chí Ái vẫn qui về Đấng Chí Thánh đích thực là Chúa mọi thần linh, thánh ái. Và, mọi người ở dưới thế phải chọn lựa giữa hai vị. Hoặc, chọn Thiên Chúa là Đấng Chí Ái ở trên cao, hoặc thần linh ngẫu tượng ở dưới thế, rất phàm trần. Nếu không chọn, chẳng một ai hiểu biết tính thánh thiêng Chí ái của Đức Chúa.

Viết Tin Mừng, thánh Máccô là thánh sử ghi chép sự việc xảy đến với Chúa, rất ban đầu. Trong khi đó, thánh Mát-thêu và Luca khi viết Tin Mừng, lại đã có sẵn bản Tin Mừng của thánh Máccô ở trước mặt, để doãn lại sự việc theo quan điểm tư riêng của mỗi vị. Bởi lẽ, các thánh sử đi sau chỉ muốn doãn lại những gì đã được viết, nay thay đổi tình tiết hầu coi đó như một tuyên tín, chứ không muốn đưa ra một đối chọi tư tưởng, nơi trình thuật.

Hôm nay, Hội thánh Chúa cũng đã yên vị trên nền đá góc tường là Phêrô thánh nhân, cả về lời tuyên xưng của bậc trưởng thượng ở bên trên các vị lành thánh, ngẫu tượng đến cả sau này. Và, Hội thánh Chúa nay chọn cả hai cách để diễn tả thiên tính của Đức Giêsu đồng thời tuyên dương việc Chúa chấp nhận cái chết khổ nhục trên thập giá. Ở đây nữa, Đức Giêsu đã chiến thắng sự chết để Ngài trở nên cao cả và quyền thế hơn mọi thần linh/ngẫu tượng ở thế trần. Có làm thế, niềm tin vào Chúa sẽ là ví dụ cụ thể về sự thể nói lên rằng: Đức Giêsu là Đấng cao cả hơn mọi thần mọi tượng ở trần gian.

Làm như thế, Hội thánh cũng giống như thánh Phêrô khi xưa, tức cũng đối đầu với Chúa theo cách nghĩ suy của người phàm. Và, hôm nay nữa, Chúa lại cũng yêu cầu dân con mọi người hãy cố tìm cho ra diện mạo của Ngài qua người con bé bỏng, ở thế trần. Bởi, thiên tính của Chúa không như người đời nghĩ, vẫn không ngự trị ở chốn cao sang quyền quí, như thần tượng ngự ở cõi thế. Trái lại, Vua của mọi thần và tượng, chỉ ở với người bé bỏng, không quyền lực, chẳng cao sang, giàu có.

Chính vì thế, Chúa mới thách thức đấng bậc trị vì thế gian: “hãy phá huỷ đền thờ này đi, chỉ trong 3 ngày” Ngài sẽ dựng lại, rất y hệt. Nghe Ngài nói, hẳn dân con mọi người sẽ liên tưởng đến vấn đề mọi người đang gặp/vấp phải, là: cứ mải mê chạy theo những gì bề thế, uy nghi, lẫy lừng như đền thờ của Xêda Philíphê, rất Augustus. Bởi lẽ, tất cả sẽ phải bỏ ra nhiều hơn 3 ngày mới dựng được ngôi đền đích thực, tức sự việc ta đang sống. Bởi lẽ, ngay cả Chúa cũng thấy vấn đề xảy đến với Hội thánh và thế trần như đền đài cao sang, bề thế nhưng lại không mang tính nhân vị, nhân bản, giúp mọi người.

Thánh Phêrô khi xưa đã mất rất nhiều ngày mới nhận ra sự thật Chúa bày tỏ ở trên. Những tháng ngày, thánh nhân cứ ngang qua và rong ruổi rồi khích bác, chối bỏ hoặc đấu tranh. Những tháng ngày xảy đến với Hội thánh. Với người anh em đồng môn/đồng thuyền trước khi đi đến kết đoạn rất “hậu” là tin vào Chúa qua anh em; qua mọi người con nhỏ bé, ở trong đời. Một kết đoạn đắt giá cho thủ lãnh các đồ đệ, cả vào lúc đi theo Thày hoặc bắt chước Thày đặt chân xuống nước, suýt chết chìm.

Là bậc trưởng thượng từng đoan quyết: “bỏ Thày con bước theo ai?”thế mà vị thủ lãnh các đấng thánh vẫn theo, vẫn bước và thuần phục quyền lực thế gian, như Hội thánh hôm nay. Chính thánh nhân, được coi là đấng bậc hiền lành như “Đức Thánh Cha” vẫn “vô ngộ” như bao giờ, nhưng lại ngã quỵ nhiều hơn ai hết. Bởi thế nên, là người thường, ta dám nói mà không sợ sai lầm, rằng: thánh Phêrô là mẫu người điển hình cho những người vô cảm coi Chúa và thập giá như mối nhục, cho con người.           

Từ đó, câu hỏi cuối đặt ra cho mỗi người và mọi người, là:

Cho đến bao giờ, ta mới hiểu và biết rằng: Hội thánh sẽ không là và không thể là thoả hiệp nhượng bộ giữa hai nhân vật ở đầu mút, tức một Augustus rất cao cả và Đấng Thánh Hiền nhỏ bé tức Đức Chúa của ta?

Trong tâm tình chờ đợi một quyết định chọn lựa, cũng nên ngâm lại lời thơ vang trên, rằng:

            “Ta cho ra một giòng thơ rất mát,

            Tới tinh khôi và thanh sạch bằng hương.

            Trời như hớp phải hơi men ngan ngát,

            Đắm muôn ngôi tinh lạc xuống mười phương.”

            (Hàn Mặc Tử – Nguồn Thơm)

Giòng thơ đây/nguồn thơm ấy, vẫn là quyết định chọn Xêda hay Đức Chúa, hôm nay. Chọn, sự cao cả ở trần thế hay thương yêu hết mọi người. Đó chính là vấn đề của thời đại. Rất mai ngày.    

           Lm Kevin OShea DCCT biên soạn –

          Mai Tá lược dịch.

“Biết bao nhiêu điều tôi muốn nói”

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 24 Thường niên năm B 17-9-2018

 “Biết bao nhiêu điều tôi muốn nói”

Nhưng cũng vậy mà thôi

Nhưng cũng vậy mà thôi.”

(Mai Anh Việt – Những điều tôi muốn nói với em) 

(1Phêrô 1: 14-15)

“Cũng vậy mà thôi”, phải chăng đây là lời quả quyết như đinh đóng cột? Thứ đinh đóng cột, thật khó gỡ. Huống hồ là “những điều tôi muốn nói”, nhưng không thành lời. 

Ở nhiều nơi, kể cả nhà Đạo, lại cũng có những sự-kiện qua đó nói lên một “tự sự” đã trở thành như “đinh đóng cột”, một khi đã thốt nên thành lời. Những lời được diễn tả ở thi-ca/âm nhạc có những tình tự kết thêm sau đây: 

“Rồi tôi sẽ qua đời.

Rồi em cũng quên lời.

Có bao nhiêu lần tay vuốt mắt.

Nghe thấy tận lòng đau.

Nghe thấy tận lòng đau.

Vì em đã qua cầu.

Còn tôi thức đêm sâu.

Những điều tôi muốn nói với em.

không gần như Sao với Đêm.

Không xa như vạt nắng bên thềm.

mà nằm giữa con tim. 

Những điều tôi muốn nói đã quên,

Như tình yêu không có tên.

Sẽ một lần tôi đứng bên bờ vực.

hoang mang bối rối không thật không hư.

Biết bao nhiêu điều tôi lỡ nói.

Thôi chớ ngại mà chi, chớ ngại mà chi.

Vì sông rẽ đôi giòng.

Sầu dâng sóng trong lòng.

Hãy nâng niu tình ta ốm yếu.

Cho đến tận đời sau, cho đến tận đời sau.

Ngày vui nối đêm buồn.

Hồn ta vẫn mưa tuôn. 

(Mai Anh Việt – bđd) 

Cuối cùng thì, “ngày vui nối đêm buồn” hiển nhiên là “hồn ta vẫn mưa tuôn”. Vâng. Hôm nay đây, mưa vẫn cứ tuôn, cứ đổ ở cuối chân trời nơi có giòng thi-ca, âm-nhạc; có cả những câu truyện kể rất đáng nể, để mọi người trong ta luôn tìm đến mà cảm kích. Những truyện để kể cho nhau nghe sau nhiều tháng ngày có những “ngày vui nối đêm buồn”, rất “mưa tuôn”. Và, cả đến“sầu dâng sóng trong lòng”, “mãi tận đời sau”, nữa đấy em.

Vâng. Đời người còn lắm truyện kể mới nghe qua đã thấy sầu buồn/lẻ bóng, rất như sau:

“Truyện rằng:

“Có một vị tiểu hòa thượng phụ trách quét dọn lá rụng trong chùa, mỗi ngày phải cần rất nhiều thời gian mới có thể quét xong. Một người nói với anh ta: “Ngươi hãy rung cái cây thật mạnh cho lá rụng xuống rồi hãy quét, như vậy ngày mai sẽ không phải quét nữa!”. Tiểu hòa thường nghe vậy thấy cũng có lý, liền cao hứng làm theo, nhưng ngày hôm sau lá lại vẫn rụng khắp sân chùa như cũ. Mặc cho người này hôm nay ra sức rung mạnh cây, ngày mai lá vẫn lại rụng xuống như vậy. 

Mọi việc đều không thể nóng lòng làm cho xong, làm tốt việc của ngày hôm nay, chính là có trách nhiệm với cuộc sống của mình vậy.” (Truyện kể trích thuật từ nhiều trang mạng, không đề tên). 

Thật ra thì, kể những câu truyện nói lên ý-nghĩa của “ngày vui nối đêm buồn” vẫn kéo theo nhiều chuỗi ngày dài cuộc đời người, trong đó mọi người đều mang mặc ít/nhiều tình thương yêu, ta trao cho nhau. Tình yêu ấy, có thể là “tình vui” hoặc “hận sầu” tùy hoàn cảnh của mỗi người và mọi người. Còn tình-tự đây, lại là đề-tài nóng bỏng ở con người được diễn tả suốt, không khi nào cạn tiệt hoặc lấm tấm vài nỗi đau. Tình vui hay sầu buồn, vẫn là những tình-tự được các đấng bậc nhà Đạo khắp nơi diễn tả qua trang giấy mà ta có gọi là những “bài suy niệm”/nhận định trải dài nhiều cây số, rất như sau:

 “Cuộc đời đâu chỉ mỗi vậy. Lại nữa, nếu người hỏi từng bôn ba sinh sống ở nơi có nền văn hoá đặt nặng trên lề luật và cấm kỵ, tưởng cũng nên có cái gì đó giúp người ấy trong cuộc lựa chọn thoả đáng ngõ hầu đưa thương yêu vào vị trí ưu tiên cao nhất. Và, khi người người tìm đặt ưu tiên cao nhất, thiết tưởng việc ấy sẽ là tình thương yêu, thôi. Bao lâu tình thương yêu tồn tại, thì ánh sáng của những tháng ngày đẹp trời sẽ kéo dài mãi và khi đó mọi người sẽ về lại nhà mình mà nghỉ ngơi, vui hưởng các thành quả hái gặt được. 

      Khi xưa, nhóm 138 học giả thuộc đạo Hồi từ 43 nước trên thế giới có thư ngỏ gửi cộng đồng tín hữu Đức Kitô vốn đề cập và đề nghị đưa tình thương yêu vào vị trí ưu tiên cao nhất cho hai Đạo. Và, các vị đã đồng thuận ký thư trên để tỏ bày rằng tình thương yêu vẫn là và phải là mẫu-số-chung cho sinh hoạt của hai Đạo.

 Mẫu-số-chung ấy, là nền tảng và mục tiêu để hai đạo đặt ra cho mình thực hiện. Mẫu-số-chung, là mẫu số rất chung về lòng mến Chúa và yêu người đồng loại, cả hai gộp lại làm một. Một mục tiêu, một điểm nhấn ngõ hầu ta phụng thờ chỉ một Chúa, thôi. Bởi, Ngài là Tình Yêu đích thật để ta biến nó thành hiện thực, với mọi người. Chính đó, là lòng mến mà tỏ ra với Chúa và với nhau để tôn vinh, kiến tạo cùng một chí hướng.

 Đức Chúa của Tình Yêu luôn đi bước trước trong sáng tạo và trao ban Tình Yêu cho ta theo cung cách cả hai Đạo đưa ra cho mọi người. Các học giả đạo Hồi ở trên lâu nay nới rộng vòng tay thân thương/hợp tác để cùng với cộng đoàn tín-hữu Chúa Kitô, coi đó như sáng kiến quả cảm, đặc biệt. 

Để phúc đáp, nhóm đối tác bên Đạo Chúa là các học giả từng đặt cơ sở ở đại học Yale, Hoa Kỳ cũng nới rộng vòng tay yêu thương của Đạo mình, với người anh em bên đó. Nhưng, trước khi hồi đáp bằng động thái thương yêu, các vị trong nhóm này đưa yêu cầu anh em bên đạo Hồi “hãy thứ tha cho các động thái mà tiền nhân mình đã xử sự trong quá khứ. 

Các đấng bậc nói trên cũng xin cộng đồng Hồi giáo và các vị trong tổ chức “Xót-Xa-Tình-Nên-Một” hãy thứ tha các lầm lỡ mà anh em Đạo Chúa đã mắc phạm. Điều mà tiền nhân khi xưa từng sơ xuất, người thời đó gọi là “Thánh chiến”, nay đổi lại bằng tên gọi rất mới và thời thượng là: “Chiến tranh chống khủng bố”, nhưng thực tế, chỉ nhắm vào người anh em bên Hồi giáo, mà thôi. Bằng cử chỉ này, các học giả bên Đạo Chúa đã xưng thú các lỗi lầm mình sai phạm với người anh em bên đạo Hồi và mong rằng những việc như thế sẽ không còn tái diễn nữa. 

Học giả Đạo Chúa công nhận rằng: ngay từ đầu, xung đột giữa hai đạo dù được gán cho cái tên rất thánh thiêng đi nữa, vẫn không mang tính đạo giáo và vẫn hàm ẩn một tầm kích chống phá thương yêu. Và, các vị còn công nhận rằng: các vấn đề gây ưu tư/trăn trở nhiều thời, đã tạo ảnh hưởng xấu lên phân nửa dân số thế giới. Và, các ngài còn khẳng định: sự việc này ảnh hưởng không ít lên viễn tượng hoà bình và công chính, cho thế giới. 

Từ đó, các học giả nói trên đã dùng mẫu-số-chung “yêu thương” với lời lẽ và nền tảng cho mọi hành xử để các vị này không còn đặt nặng tính cá biệt giữa hai đạo, mà chỉ tập trung lên điểm chung căn bản của đạo giáo. Bởi, cuối cùng thì: trọng tâm của mọi nhóm vẫn nhắm vào tình thương yêu trải dài đến mọi người. Thương yêu, là lòng mến Chúa, mến mộ Đạo và là sự cảm thông với hết mọi người bằng mẫu-số-chung của hai đạo. 

Thương yêu, là lòng sủng mộ ta có với Chúa và với người thường, bất kể người đó là ai? Họ theo tôn giáo nào? Về điểm này, hai nhóm đều cố lướt thắng hết mọi thứ, ngõ hầu đạt đến cùng đích là cảm thông yêu thương xoá bỏ mọi khác biệt dễ gây hận thù. Nhóm anh em bên Hồi giáo cũng nói đến tình thương yêu Đấng Thánh Vô Hạn luôn xót thương hết mọi người. 

Trong khi Đạo Chúa, dưới tầm nhìn của người Do thái, cũng nói nhiều về Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu, Đấng làm cho mặt trời toả sáng trên mọi thứ tốt/xấu. Ngài là Đấng làm cho mưa rơi trên đầu người công chính cũng như với kẻ bất lương, hoặc phân rẽ. Mưa vẫn rơi, cho cả thế giới đạo Hồi lẫn Đạo Chúa Kitô, suốt mọi thời. 

Cả hai bên đã tôn trọng lẫn nhau qua kinh nghiệm về Thiên-Chúa-Đầy-Yêu-Thương đã đi bước trước trong thương yêu loài người dù người đó có là nam hay nữ, già/trẻ, Công giáo hoặc Hồi giáo. Ta không thể nói được: mình tin Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu cho đến khi nào mình nhận ra rằng: mọi người đều được kéo gần lại với nhau bằng tình thương Ngài ban tặng cho ta, cùng một kiểu. Điều này sẽ cải biến ý tưởng về “người đồng loại”. 

Ta thương yêu người đồng loại như Chúa dạy là tất cả phải trở nên một, gộp lại. Không thể nói mình thật tình tin Chúa mà lại không thích những điều mà người đồng loại mình từng mong ước hoặc không thực thi bằng hành động những gì mình muốn cho người đồng loại sẽ có. 

Ngày 4/11/2008, một nhóm các lãnh đạo và thần-học-gia từ các nước Hồi giáo đến thăm thủ đô Rôma để đối thoại với thủ lãnh và thần-học-gia Công giáo về “Giới Lệnh” Chúa ban. Mỗi nhóm 24 vị đích thân hội kiến Đức đương kim Giáo Hoàng để tái lập mẫu-số-chung thương yêu từng lạc mất. Ngay ngày đầu, các ngài đã trao đổi về nền tảng của Giới Lệnh thương yêu theo truyền thống của hai bên. Các ngày sau đó, các đấng bậc cũng đã bàn về ý nghĩa phẩm cách con người, về việc tôn trọng phẩm giá đã nẩy mầm từ nền tảng thương yêu Chúa tạo cơ sở cho một hiệp nhất. 

Ngày cuối cùng, mở ra cho mọi người, cả chúng dân bên ngoài nhóm nữa. Tất cả như một, đều đã nguyện cầu để mọi người trở nên một trong tình Yêu-thương Chúa đề xuất. Đây là bước ngoặc lịch sử sẽ dẫn dắt cả hai đạo tiến xa và tiến mạnh đem hoà bình đến cho thế giới. Điều thú vị, là các thần-học-gia Công giáo cũng nhấn mạnh đến sự quan ngại về hành xử của tín đồ Đạo Chúa đối với người đồng loại, nói chung. Trong khi đó, các thần-học-gia đạo Hồi khi ấy tập trung nhiều vào Tình thương yêu đối với Chúa. 

Cách đây khoảng 150 năm, chức sắc nọ trong chính quyền Hoa Kỳ đến gặp anh Joseph, lãnh tụ nhóm Da Đỏ có tên là “Lỗ Mũi Xỏ” ở Hoa Kỳ. Chức sắc nói nhiều về lợi ích tặng cho người sắc tộc nếu họ chịu mở trường tại khu họ sinh sống. 

Ngay lúc ấy, trưởng tộc Joseph nói: “Chúng tôi thật chẳng muốn có trường học nào hết”. Khi được hỏi lý do tại sao như thế, thì trưởng tộc Joseph cho biết đơn giản chỉ vì: “Nếu làm thế, người Mỹ sẽ chỉ lo mỗi chuyện dạy dỗ con em chúng tôi cách xây nhà thờ/nhà thánh, thôi.” 

Chức sắc kia lại hỏi: “Vậy thì, các ông không muốn có nơi lo việc phụng thờ sao?” Câu trả lời cũng dễ hiểu: “Không! Chúng tôi không muốn nhà thờ! Tại sao ư? Thì, có nó bọn tôi cũng lại cãi nhau về Thượng Đế, mãi không dứt. Và chúng tôi chẳng muốn cãi vã về Thượng Đế, vì chỉ rành tranh cãi về những gì thuộc con người, thôi. Chúng tôi chẳng bao giờ muốn học biết các chuyện như thế hết!” 

Ai biết vi tính, hãy vào “Google” đánh chữ “linh thiêng” sẽ đọc hơn chục trang diễn tả từ ngữ này. Có trang nói về tuồng vọng cổ do Hương Lan đóng. Có trang về tính linh thiêng cao cả, của con người. Có trang đề cập đến cách sống mật thiết với Tình Yêu “thánh” rất thực. Sống mật thiết với Chúa gồm ba lãnh vực. thứ nhất, về bản chất kinh nghiệm, tức: bản chất của niềm tin đích thực, nơi con người. 

Thứ hai, gợi nhớ kinh nghiệm con người về tôn giáo diễn giải sự thể lâu nay gọi là triết lý/thần học khi nào con người tìm ra ngôn ngữ chung cho lãnh vực thứ nhất rồi, sẽ không cần gì nhiều cho hai lãnh vực kia. Tóm lại, chỉ một lĩnh vực duy nhất cần cho mọi người là ‘yêu thương người đồng loại’, thôi”. (Lm Kevin OShea DCCT biên soạn – Mai Tá lược dịch)  

Nói cho cùng. Kể cho hết, vẫn là động-thái của người viết cứ lan man chuyển tải nhiều ý-tưởng. Có ý-tưởng tuy ngắn gọn, nhưng đượm nhiều nghĩa. Lại cũng có những ý-tưởng xem ra dài dòng, lại cũng chẳng nói lên nhiều điều cần nói.

Thế mới biết, mọi người ở đời vẫn kể lại cho nhau nghe biết cái-gọi-là “dâu chỉ thời đại” rải rác đó đây, không làm sao hết. Dấu thời đại, đôi khi chỉ là những dấu hiệu rất rõ ràng  bật lên từ phía nhà Đạo. Cũng có lúc, vẫn chỉ là những gì mắt thấy tai nghe, rõ mồn một chẳng cần minh-xác vẫn có thể chấp-nhận cho mình, và cho người.

Thế mới hay, cuộc đời người còn có những động-thái hoặc tư-tưởng thời thượng khiến người trong cuộc không tài nào dửng dung hoặc bỏ qua một bên chẳng đoái hoài gì đến nó. Có một tư-tưởng từng được đấng bậc trên cao ở nhà Đạo, vẫn khuyên-răn/nhắc nhở mãi để mọi người khỏi quên, như sau:       

Đức Giáo Hoàng nhìn nhận “Chúng ta đã bỏ rơi các trẻ bé”. Trong một lá thư vừa được công bố với nội dung “thẳng thừng” khác thường, Đức Giáo Hoàng Phanxicô viết: 

“Một lần nữa ta nhìn nhận sự đau khổ mà nhiều trẻ vị thành niên đã phải chịu đựng sự lạm dụng tình dục, lạm dụng quyền lực và lạm dụng lương tâm mà một số đáng kể các giáo sĩ và những người được thánh hiến đã gây ra”.

 “Nhìn trở lại quá khứ, không một nỗ lực nào trong việc xin lỗi và hàn gắn sự tổn hại đã gây ra được coi là đủ. Còn nhìn về tương lai, mọi nỗ lực cần phải được dành ra để tạo một tình huống có thể đề phòng những trường hợp tương tự có thể xảy ra, thế nhưng đồng thời cũng phải đề phòng khả năng những hành động đó được bao che và kéo dài”.

 Lá thư do Đức Phanxicô viết cốt ý trả lời cho báo cáo của Đại Bồi Thẩm Đoàn ở Pennsylvia vừa được công bố với những chi tiết kinh hoàng cho thấy những lạm dụng tình dục khủng khiếp do một số giáo sĩ gây ra và được các giám mục che đậy. Báo cáo được dựa trên một số tài liệu nội bộ của 6 giáo phận tại Pennsylvania mà một số được coi là “tối mật” chỉ Đức Giám Mục mới được biết. Báo cáo cho biết – dựa trên bằng chứng có cơ sở – có trên 300 linh mục đã lạm dụng tình dục trên 1.000 trẻ vị thành niên. Một số bị chuốc rượu, bị sờ mó hoặc bị xâm phạm tiết hạnh.  

 Qua những cuộc gặp gỡ riêng với các nạn nhân mà Đức Phanxicô đã có chất liệu để viết lá thư này. Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh đến nhu cầu cấp bách là cần phải biết ai chịu trách nhiệm. Theo ngài đó là những người gây ra tội ác và những ai che đậy tội ác. Ông Greg Burke – giám đốc văn phòng báo chí Vatican – giải thích: “Đây không chỉ là vấn đề của Ái Nhĩ Lan, của Hoa Kỳ hay của Chí Lợi mà là của cả thế giới. Đức Phanxicô muốn gửi lá thư đó cho Dân Chúa, có nghĩa là cho mọi người. Điều cần để ý là Đức Phanxicô không chỉ gọi lạm-dụng tình-dục là tội lỗi mà thôi, nhưng còn coi là tội ác nữa”. 

 Trang mạng bishopaccountability.org – là một tổ chức bất vụ lợi tranh đấu cho các nạn nhân bị lạm dụng tình dục – cho biết các vụ kiện cáo liên quan đã làm các giáo phận và các Dòng Tu tại Hoa Kỳ tốn kém khoảng 3 tỷ mỹ kim. Cuộc khủng hoảng hiện nay là một thách đố nghiêm trọng cho triều đại của Đức Phanxicô trong khi Hồng Y Sean O’Malley ở Boston – cố vấn tối cao của Đức Phanxicô trong vấn đề lạm dụng tình dục – qua một thông báo nhận định rằng: “Người Công giáo đã mất kiên nhẫn với chúng tôi và xã hội dân sự đã mất niềm tin vào chúng tôi”.

 Tuần này, Đức Phanxicô sẽ đến Ái Nhĩ Lan tham dự Đại Hội Gia Đình Thế Giới. Còn nhớ, Giáo Hội Công Giáo tại đây vào năm 2009 đã trải qua một cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục nghiêm trong và dự trù Đức Phanxicô sẽ gặp một số nạn nhân trong cuộc tông du này.” (X. Dấu Chỉ Thời Đại ngày 21/8/2018, Vũ Nhuận chuyển ngữ). 

Tiếp theo sau các “dấu chỉ thời đại” ở trong Đạo, cũng nên trở về với lời Đấng Thánh Hiền từng bảo ban, hôm trước, rằng:

“Như những người con biết vâng phục,

anh chị em đừng chiều theo những đam mê trước kia,

lúc anh chị em còn mê muội.

Anh chị em hãy sống thánh thiện

trong cách ăn nết ở,

để nên giống Đấng Thánh

đã kêu gọi anh chị em,

vì có lời Kinh Thánh chép:

Hãy sống thánh thiện,

vì Ta là Đấng Thánh.”

(1Phêrô 1: 14-15)

Tuân-thủ những lời khuyên nhủ ở trên, ta hãy hiên-ngang ngẩng cao đầu mà hát lên những ca-từ của nhạc bản, lấy đó làm lợi thế để rồi tiến về phía trước mà hiện thực những điều từng quyết tâm. Những ca-từ đầy phấn-chấn, vẫn hát rằng:

“Những điều tôi muốn nói với em.

không gần như Sao với Đêm.

Không xa như vạt nắng bên thềm.

mà nằm giữa con tim.

 Những điều tôi muốn nói đã quên,

Như tình yêu không có tên.

Sẽ một lần tôi đứng bên bờ vực.

hoang mang bối rối không thật không hư.

Biết bao nhiêu điều tôi lỡ nói.

Thôi chớ ngại mà chi, chớ ngại mà chi.

Vì sông rẽ đôi giòng.

Sầu dâng sóng trong lòng.

Hãy nâng niu tình ta ốm yếu.

Cho đến tận đời sau, cho đến tận đời sau.

Ngày vui nối đêm buồn.

Hồn ta vẫn mưa tuôn. 

(Mai Anh Việt – bđd)

Hãy hát lên và hát mãi, những ca-từ buồn vui nhưng phản ánh cuộc đời người từng kinh qua các giai-đoạn vui buồn, hệt như thế. Hát xong rồi, bạn và tôi ta sẽ thấy đời cũng không đến nỗi tệ như nhiều người thường tưởng-tượng, cho riêng mình.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những tháng ngày  

Còn hát hoài, hát mãi

Những ca-từ

Rất như thế. 

Trần Huỳnh Duy Thức, người tự đốt mình thay vì đốt đền

Image may contain: 1 person, text
Image may contain: 2 people, people standing
Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: 1 person, text
Van Pham

Trần Huỳnh Duy Thức, người tự đốt mình thay vì đốt đền
Mặc Lâm

Hơn 10 ngày nay, đầu óc lúc nào cũng ám ảnh bởi một khuôn mặt chưa bao giờ gặp nhưng những đường nét khá đậm trên những bức ảnh của anh đã đi sâu vào trí nhớ tôi: Trần Huỳnh Duy Thức.

Như hàng trăm tù nhân lương tâm khác, Trần Huỳnh Duy Thức lâu lâu lại được người từng biết anh nhắc tới trên mạng xã hội. Nhắc tính cách, tài năng và ngay cả những thành công của anh trước khi bị bắt vì bị cáo buộc tội “Lật đổ chính quyền” với bản án 16 năm tù, mặc dù anh nhiều lần công khai nói rằng đây là một bản án vô căn cứ và áp đặt. Trần Huỳnh Duy Thức là một công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam như mọi công dân khác, vì vậy anh mặc nhiên được chia đều sự bất công của tòa án như bất cứ công dân nào dám bày tỏ chính kiến và phản biện những chính sách sai trái của nhà cầm quyền.

Chín năm sau ngày thụ án trong trại giam, ngày 14 tháng 8 năm 2018 Trần Huỳnh Duy Thức bắt đầu tuyệt thực để yêu cầu nhà cầm quyền trả tự do cho anh vô điều kiện, căn cứ theo Bộ luật Hình sự mới 2015/2017, cho phép anh miễn trách nhiệm thi hành án tù 7 năm còn lại. Yêu cầu của Trần Huỳnh Duy Thức dựa trên cơ sở luật pháp của Việt Nam, nhưng tiếc thay người cầm cán cân luật pháp ấy đang phải chờ sự quyết định của cấp trên, tức những người cao hơn luật pháp một bậc.

Họ chờ nhưng anh không chờ, 32 ngày liên tục nhịn đói trong nhà giam dưới hoàn cảnh khắc nghiệt mà không cần phải ở trong ấy mới biết. Trần Huỳnh Duy Thức như một con sư tử đá, im lặng nhưng mạnh mẽ đến đau lòng, anh chứng tỏ cho chế độ biết rằng không gì khuất phục được một người yêu nước như anh, mặc dù bị trói tay nhưng họ không thể trói ý chí và lòng ham muốn phục vụ đất nước của anh. Sự im lặng đầy tính cách ấy mặc dù không thấy chế độ phản ứng nhưng bên ngoài chấn song sắt giam cầm anh, người dân đã phản ứng.

Thêm rất nhiều bạn trẻ biết tới cái tên Trần Huỳnh Duy Thức với đầy đủ tiểu sử hoạt động của anh. Hàng ngàn người thay Avatar trên Facebook của họ bằng khuôn mặt của anh để nói lên sự lo lắng, thương yêu lẫn tin cậy. Hàng ngàn status đủ dạng từ ngắn tới dài, cùng chia sẻ sự cảm phục, yêu mến, chờ đợi và nhất là hồi hộp theo dõi kết quả sau cùng mà không ai muốn nhắc tới dù chỉ một lần: Cái chết.

Câu thường thấy nhất trên những status ấy cuối cùng rất giống nhau: Anh không thể chết.

Nhưng tính cách Trần Huỳnh Duy Thức có lẽ không ai thay đổi được ngoại trừ thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam. Anh không chờ đợi ở họ sự nhượng bộ vì dưới mắt họ anh chỉ là một công dân phản động, và phản động là một thuật ngữ đóng lại mọi cánh cửa văn minh nhất trong đó có dân chủ nhân quyền, điều mà anh bỏ cả mạng sống ra để tranh đấu. Cuộc cờ không thể xoay chuyển khiến nhiều người bi quan hơn, trong đó có gia đình anh, những người chung vai vác thập giá với anh trong gần mười năm nay. Rất đau lòng, nhưng anh nói với những người thân yêu của mình “Con yêu gia đình lắm nhưng con yêu đất nước Việt Nam hơn”.

Một câu nói có vẻ cường điệu đối với ai không tin vào bản lãnh của Trần Huỳnh Duy Thức nhưng 32 ngày trôi qua trong chốn âm u lạnh lẽo đầy chết chóc ấy anh đã chứng tỏ cho mọi người thấy hàm ý của mình.

Ở tuổi 52, tuổi của chín muồi mọi khát vọng, anh đánh đổi sự khao khát cháy bỏng của mình đối với đất nước bằng cái chết để chứng tỏ cho thế giới thấy, một lần nữa, chế độ này hoàn toàn không phải là một chế độ pháp trị và sự cô lập đến chết một con người yêu nước là chính sách nhất quán bảo vệ chế độ của họ.

Trần Huỳnh Duy Thức thừa khôn ngoan để biết rằng khó lòng họ nhượng bộ trước yêu sách hợp lý của mình, nhưng anh vẫn chấp nhận dấn thêm bước nữa như một phép thử trước những tội trạng mà chế độ áp đặt lên anh. Có lẽ thẳm sâu trong lòng anh vẫn tin rằng đây là lối thoát anh mở ra cho chế độ có cơ hội sửa sai để từ đó xóa bỏ dần những sai phạm mà họ đã gây ra trong hơn 70 năm qua. Nhưng cũng có lẽ, anh đánh giá sai sự kiêu ngạo cộng sản của họ, những người không bao giờ nhận sai lầm trong bất cứ hành động nào.

Viết đên đây tôi tự thấy lòng trống trải lạ thường. Tôi thấy anh trầm tư trong trại giam, thân thể gầy còm suy sụp. Tôi thấy anh đăm đắm nhìn ra ngoài song sắt như để nhắn đến những người biết anh: hãy vững tin vì không có gì cưỡng lại được bánh xe lịch sử.

Vâng, nhưng thưa anh, bánh xe lịch sử không phải khi nào cũng đúng lúc, nhất là lúc này, lúc mà hàng trăm tù nhân lương tâm không được ai cứu vớt, bảo vệ. Một Trần Huỳnh Duy Thức với hai bàn tay trắng khó lòng gây phản ứng nơi nhà cầm quyền. Họ còn đang bận rộn với những mục tiêu khác, những dự án khác, và nhất là những cách tránh né dư luận quần chúng khác.

Hà Nội vừa ra văn bản chính thức mong muốn người dân từ bỏ thói quen ăn thịt chó, góp phần đem lại hình ảnh văn minh cho thủ đô. Nhưng Hà Nội lại không ra văn bản để đem lại bộ mặt văn minh của đất nước thông qua sự tôn trọng quyền biểu đạt cũng như dân chủ nhân quyền của người dân mà cả thế giới đồng lòng theo đuổi.    

Giáo dục VN thất bại vì tư duy tiểu nông, bóc ngắn cắn dài’

Giáo dục VN thất bại vì tư duy tiểu nông, bóc ngắn cắn dài’

Từ nhiều ngày nay, mạng xã hội và truyền thông Việt Nam xôn xao về sách “Tiếng Việt 1-Công nghệ giáo dục”.

Trước bối cảnh những tranh cãi này, một nữ giảng viên ở Hà Nội bình luận với BBC rằng cải cách giáo dục của Việt Nam mấy chục năm nay thất bại “vì tư duy tiểu nông, vì bóc ngắn cắn dài”.

Giáo sư Hồ Ngọc Đại được báo Lao Động dẫn lời: “Sách “Tiếng Việt 1-Công nghệ giáo dục” của tôi có rất nhiều bài học ý nghĩa, nhân văn.”

Trong khi đó, mạng xã hội dấy lên quan ngại về những hệ lụy đối với học sinh sau mỗi lần cải cách, cải tiến sách giáo khoa.

‘Chỉ là khẩu hiệu’

Hôm 12/9, trả lời BBC, Tiến sĩ Nghiêm Thúy Hằng, khoa Đông Phương học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, cho biết: “Về chuyện cải cách giáo dục, tôi nhớ nhà toán học Hoàng Tụy từng nói: “Giáo dục Việt Nam có ba cục bướu lớn cần giải phẫu, đó là sách giáo khoa, nạn học thêm và nạn thi cử.”

“Cải cách giáo dục của Việt Nam mấy chục năm nay thất bại vì tư duy tiểu nông, vì bóc ngắn cắn dài cắt khúc cuốn chiếu, thiếu một người nhạc trưởng có tâm, có tầm, có uy tín và uy lực, dám chịu trách nhiệm, huy động được cả tài lực lẫn vật lực của chính phủ và của xã hội.”

“Cải cách thất bại còn vì không có được một hệ thống quản lý tận tâm, đồng tâm hiệp lực, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu như thời còn chiến tranh.”

“Câu “Giáo dục là quốc sách” bao năm qua chỉ là khẩu hiệu, không đi kèm với kế hoạch, tài chính tầm cỡ quốc gia và giám sát tương thích từ phía Chính phủ và Quốc hội, cơ quan quyền lực của dân.”

Tiếng Việt thời ‘Công nghệ giáo dục’

BBC: Dường như công luận đang chia làm hai phe và có vẻ chia rẽ trong những tranh luận về cải cách giáo dục Việt Nam. Bà có bình luận gì?

TS Nghiêm Thúy Hằng: Theo tôi, những tranh luận đó là vì họ đều yêu nước, là vì họ là những người cha, người mẹ có lương tâm, đều đau đáu muốn hướng tới tiến bộ xã hội, hướng tới phát triển, hướng tới công bằng, minh bạch và đều yêu trẻ em. Những thiên thần vô tội không nên và không thể tiếp tục bị đem ra làm vật hy sinh cho các tranh cãi liên miên về cải cách giáo dục và chương trình – sách giáo khoa hay các thử nghiệm cải cách thi cử, các chiến dịch dẹp vấn nạn học thêm suốt từ năm 1979, trải qua 3 lần Nghị quyết cải cách, tiêu tốn hàng tỷ đôla chưa tổng kết được hiệu quả cho đến nay.

Dư luận có vẻ gay gắt, không bên nào chịu bên nào, đó là vì họ đều có những cái lý riêng, nhưng cái lý của khoa học thì không thể mang “sự hài lòng của người học hay của cha mẹ người học”, “sự thành đạt của một số cá nhân tham gia thực nghiệm cải cách” ra biện minh mà cần có những công trình dùng các phương pháp khoa học khống chế được hết các biến lượng mới thực sự có được tiếng nói công tâm, khoa học về cải cách, được các bên đều hài lòng.

Cơ quan làm được việc này chỉ có Bộ Giáo dục dưới sự giám sát nghiêm minh của Chính phủ và của Quốc hội. Hy vọng những gì đã được sàng lọc, chứng minh qua thực tiễn sẽ tiếp tục trường tồn. Còn cái gì sai, chưa hoàn thiện thì phải được sửa, được hoàn thiện , mang thêm hơi thở thời đại kết hợp với hồn dân tộc, khí thiêng sông núi. Khoa học thực sự đòi hỏi tính tổng thể, sự hoàn thiện và đòi hỏi thực chứng.

Việc người dân khắp ba miền cũng như người Việt ở hải ngoại cùng lên tiếng về vấn đề giáo dục là tín hiệu đáng mừng, báo hiệu những thay đổi cơ bản vì Việt Nam vẫn tuyên bố là một thể chế của dân, do dân, vì dân.

Chính phủ và Quốc hội không thể và không được phép ngoảnh mặt lại với những vấn đề của đông đảo người dân, được dư luận người dân quan tâm.

BBC:Ở góc độ một giảng viên đại học, bà thấy, liệu sau những tranh cãi hiện tại thì đâu là giải pháp khiến người dân có thể yên tâm về việc học hành của con em họ?

TS Nghiêm Thúy Hằng: Tôi nghĩ giải pháp căn bản là phải có tổng công trình sư, có người nhạc trưởng xứng tầm không liên quan đến những cải cách thất bại từ trước đến nay để lấy lại niềm tin cho người dân, đồng thời huy động được các nguồn lực trí tuệ trong và ngoài nước.

Tôi tin, với những trí thực hàng đầu của Việt Nam, không ai cần lấy tiền để làm những việc mà họ cho là có ích, đóng góp được cho xã hội. Thời buổi bây giờ, người tài sống được bằng thực tài, không cần tiền, chỉ cần được làm và được ghi nhận, được đóng góp cho tiến bộ xã hội.

Nhưng kể cả như vậy thì cơ chế nào cho họ, độc quyền in ấn sách giáo khoa vẫn thuộc Bộ Giáo dục, dẫu có một chương trình nhiều bộ sách thì cơ chế nào cho họ tập hợp, phát huy và xuất bản, cả còi lẫn bóng vẫn nằm trong tay Bộ Giáo dục và Nhà xuất bản Giáo dục.

Nếu không làm được một bộ sách giáo khoa cho ra hồn, giải pháp khả thi là mua một bộ sách giáo khoa của Anh. Mỹ về cho cháu nào học được thì học mà không học được thì dịch ra tiếng Việt mà học, nước Nam Hàn sao chép sách của Nhật có sao đâu, Trung Quốc cũng sao chép nhiều sách của Anh, Mỹ.

Nói đến đây tôi lại rớt nước mắt vì một giai thoại về Giáo sư Tạ Quang Bửu, cựu Bộ trưởng Giáo dục lúc cuối đời: Ông chỉ cần được ăn hai quả chuối mỗi ngày thì đỡ run tay, nhưng đó vẫn là điều xa xỉ lúc cuối đời của vị cựu bộ trưởng thanh liêm được người dân kính trọng.

BBC: Nhìn vào tình hình giáo dục Việt Nam hiện tại, bà có lo ngại hoặc hy vọng gì? Bà có nghĩ rằng quan chức Bộ Giáo dục tiếp thu ý kiến phản hồi từ người dân,phụ huynh không?

TS Nghiêm Thúy Hằng: Tôi cũng như nhiều ông bố, bà mẹ ở Việt Nam hướng tới công bằng, minh bạch và tiến bộ xã hội và sẽ dấn thân, sát cánh bên nhau, bên cơ quan quyền lực của dân trong nỗ lực chung.

Tôi nghĩ Bộ trưởng Giáo dục Phùng Xuân Nhạ là người có trách nhiệm giải trình và đưa ra biện pháp rõ ràng trả lời cho Chính phủ mà ông đang phục vụ, nơi ông đang đại diện làm nhiệm vụ quản lý nhà nước.

Quốc hội là là nơi ông Nhạ phải giải trình và là nơi giám sát hiệu quả công việc, đánh giá bỏ phiếu tín nhiệm việc thực thi chức trách của ông, nhất là trong bối cảnh tháng 10/2018 sắp bỏ phiếu tín nhiệm giữa nhiệm kỳ.

Việc này diễn ra sau nhiều vụ việc chấn động, đe dọa tính công bằng, minh bạch về thi cử, điều làm nên giá trị cốt lõi của cả một thể chế.

Về phần mình, tôi tin vào phần thiện của mỗi con người và tin cả dân tộc Việt sẽ hướng tới những điều tốt đẹp, hướng tới đại đoàn kết dân tộc, hướng tới cái thiện, cái có lợi cho sự phát triển.

Theo tôi, không chỉ trong ngành giáo dục, bất cứ cá nhân nào cũng đều chỉ là một quả bầu quả bí trên giàn bầu bí, một con ốc nhỏ bé trong tiến trình vĩ đại đó mà thôi, thuận dòng thì sống mà ngược dòng thì sẽ chết, sẽ bị đào thải.

Giáo dục Hà Giang có ‘gian lận điểm thi’

Ưu tiên điểm thi đến mấy đời con cháu

BBC: Theo bà, vì sao Việt Nam nhìn chung học nhiều từ mô hình Trung Quốc trong các lĩnh vực, ngoại trừ giáo dục?

TS Nghiêm Thúy Hằng: Theo như tôi hiểu, tại Trung Quốc, người kiến trúc sư trưởng cho cải cách mở cửa và tiến trình “Dò đá qua sông” của Trung Quốc là Đặng Tiểu Bình. Người nhạc trưởng cho chính sách “Khoa giáo hưng quốc”, đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và khoa học kỹ thuật cũng là ông Đặng. Người tiếp nối với chính sách “Nhân tài cường quốc” là Hồ Cẩm Đào, Giang Trạch Dân, đằng sau đó là hàng trăm hàng ngàn tỷ đôla đổ vào giáo dục và công nghệ.

Trung Quốc họ tăng lương cho giáo viên gấp 10 lần trong vòng 10 năm đầu cải cách mở cửa, lương giáo sư Thanh Hoa cao hơn lương chủ tịch nước, các trường đại học thu hút tiến sĩ bằng các căn hộ từ 70 đến 180 m2 cho không hoặc bán rẻ, sắp xếp công việc cho người thân các tiến sĩ theo diện thu hút nhân tài, bỏ ra hàng núi tiền thu hút nhân tài từ nước ngoài về xây dựng đất nước trong kế hoạch Trường Thành và nhiều kế hoạch dài hơi khác.

Việt Nam mình làm thế được không? Tiền đâu mà làm khi nguồn lợi của đất nước chui vào túi của các nhóm lợi ích, đất nước thì oằn mình vì “nạn ăn chặn đến cả tiền chính sách của người chết”. Họ sẵn sàng ăn chặn cả đồng lương còm cõi của các nhà giáo nghèo, họ có xá gì chuyện ăn dỗ tiền sách vở của các cháu học sinh.

Tham những và nhóm lợi ích nghiêm trọng tới mức Giáo sư Hồ Ngọc Đại gần đây còn phải thốt lên “Tiêu chuẩn cơ bản là chia tiền”. Phát ngôn này đúng hay sai, các đại biểu quốc hội và Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cần vào cuộc giúp người dân. Nếu không còn gì là tính công bằng, giá trị cốt lõi của thể chế Xã hội Chủ nghĩa và của thiết chế quyền lực nhân dân?

About this website

BBC.COM
Một nữ giảng viên ở Hà Nội nói với BBC rằng cải cách giáo dục của Việt Nam thất bại ‘vì tư duy tiểu nông, vì bóc ngắn cắn dài’.

CUỘC CHIẾN GIỮA ĐAVÍT & GÔLIÁT – CUỘC CHIẾN ĐỨC TIN

CUỘC CHIẾN GIỮA ĐAVÍT & GÔLIÁT – CUỘC CHIẾN ĐỨC TIN

Thiên Chúa của Israel là Thiên Chúa hằng sống.  Người khác với tượng thần của chư dân, bởi thần của chư dân là những vị thần hư vô, không tồn tại:

“Tượng thần chúng chỉ là vàng bạc,
Chỉ do tay người thế tạo thành:
Có mắt có miệng không nhìn không nói,
Có hai tai mà chẳng thể nghe chi
Không chút hơi thở nơi mồm, nơi miệng” (Tv 134(135),15-17)

Người là Thiên Chúa quyền năng tuyệt đối, trung tín, công minh và chính trực vô cùng, nhưng lại rất gần gũi với dân riêng Người.  Người luôn luôn đồng hành với dân, dẫn dắt dân thông qua các giao ước, giáo huấn và người đại diện, nhưng cũng sẵn sàng sửa phạt dân khi họ dám lìa xa Người mà đến với thần ngoại (x. Đnl 12,26-28).  Tuy nhiên, khi dân nhận ra những lỗi lầm của mình và tỏ lòng sám hối, Người lại tha thứ và cứu họ khỏi án phạt, vì Người là Đấng giàu lòng thương xót (x. Lc 1,50; Ep 2,4).

Hôm nay, dân Chúa đang gặp nạn bởi sự uy hiếp của quân Philitinh, một đội quân hùng mạnh hơn hẳn quân Israel cả về số lượng cũng như chất lượng (x. 1 Sm 13).  Hơn nữa, trong quân đội của Philitinh xuất hiện một gã khổng lồ Gôliát cao to, khỏe mạnh khác người, là sức mạnh và chỗ dựa tinh thần của quân Philitinh (x. 1 Sm 17,4-7), nhưng nó lại là nỗi khiếp sợ, hoang mang của quân Israel (x. 1 Sm 17,24).  Chính trong những tình thế mà sức mạnh dân Chúa cảm thấy bất lực trước các thế lực dân ngoại, thì Thiên Chúa đã ra tay uy quyền để cứu dân (x. 1 Sm 17,40-54).

Đavít, một cậu bé chăn cừu dễ thương lại chính là vũ khí sống động mà Thiên Chúa dùng để hạ nhục kẻ thù của dân Người.  Người đã không hành động một cách trực tiếp, mà hành động qua con người nhỏ bé được Thiên Chúa xức dầu thánh hiến (x. 1 Sm 16).  Trước một Gôliát khổng lồ đầu đội mũ chiến bằng đồng, toàn thân được trang bị bảo vệ bằng đồng, tay cầm giáo rất đáng sợ lại là một cậu bé chăn cừu Đavít nhỏ bé, tay cầm chiếc dây phóng đá và mấy hòn đá cuội nhỏ, đại diện cho quân đội Israel để giao đấu tay đôi với hắn (x. 1 Sm 17,40).  Dưới con mắt của bao người, chỉ cần tên Gôliát kia dậm chân một cái thì Đavít cũng khó mà đứng vững được, đúng là “lấy trứng chọi đá,” quả  là một cuộc chiến không cân xứng.

Giữa hai thế lực, một bên là sức mạnh con người được thể hiện tất cả ra bên ngoài với những võ trang hiện đại và tối tân qua hình ảnh Gôliát; bên còn lại là sức mạnh của Thần Minh được thể hiện qua sự nhỏ bé, yếu đuối của con người qua hình ảnh cậu bé Đavít.  Sức mạnh của Thần Minh thì tiềm tàng ở bên trong chứ không ở những gì mà con người nhìn thấy, sức mạnh ấy phải được nhìn dưới con mắt của đức tin, và nhờ đức tin thì sức mạnh ấy mới được thực hiện (x. 1 Sm 17,34-37).

Đavít nói với tên Gôliát: “Mày mang gươm, mang giáo, cầm lao mà đến với tao.  Còn tao, tao đến với mày nhân danh Đức Chúa các đạo binh là Thiên Chúa các hàng ngũ Israel mà mày thách thức” (1 Sm 17,45).  Đavít đã tuyên bố rõ ràng, cậu đến không phải là với sức mạnh của cậu hay của người Israel, nhưng đến với sức mạnh của một vị Thiên Chúa sống động đã chọn Israel là dân riêng Người.  Có thể nói những lời cậu vừa dõng dạc tuyên bố, đó là lời nói của một đức tin trọn vẹn, có thể lời đó không là gì với người Philitinh, và cũng chỉ như trò cười trước mặt Gôliát.  Thế nhưng, với Israel đó là chỗ cậy dựa vững chắc đối với họ, và qua đó Thiên Chúa cũng nhắc nhở cho dân về niềm tin, khi họ đang quên Đấng luôn đồng hành với họ và là Vua đích thực của họ.  Qua sự xuất hiện của Đavít, Thiên Chúa cho mọi người thấy rằng đây chính là cuộc chiến của Thiên Chúa để bảo vệ dân chứ không phải là của quân đội Israel (x. 1 Sm 17,47).

Cuộc chiến bắt đầu khi tên Gôliát mạnh mẽ xông lên tiến về phía Đavít, đây là lúc sức mạnh Thiên Chúa thể hiện, Đavít xông lên và dùng dây phóng ném chỉ một hòn đá nhỏ vào trán, khiến tên Gôliát ngã sấp mặt xuống đất ngay lập tức.  Sau đó, Đavít đã dùng chính gươm của hắn, mà chặt đầu hắn mang về Giêrusalem như cậu đã tuyên bố trước quân đội hai bên (x. 1 Sm 17,48-51).  Đavít đã làm những gì theo ý Chúa và đã thành công.  Vũ khí thô sơ như đồ chơi của trẻ em đó, Thiên Chúa đã dùng để cho sức mạnh của Người được thể hiện, sức mạnh của hòn đá và hướng đi của hòn đá hoàn toàn xuất phát từ Thiên Chúa, chứ không phải là Đavít.

Có thể nói ý Chúa thật nhiệm mầu, bởi Người đâu cần phải dùng đến Đavít, mà chỉ cần phán một lời thì cả Gôliát và quân Philitinh sẽ không còn trên mặt đất.  Thế nhưng, qua Đavít Thiên Chúa muốn nói với dân người cách riêng và toàn thể chư dân nói chung đó là, “những gì mà con người cho là mạnh mẽ thì đối với Chúa chẳng có là gì, và những gì mà con người cho là yếu đuối thì trước mặt Chúa đó quả là mạnh mẽ, khi con người biết đặt niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa” (1 Cr 1,26-30).  Kết quả, quân Philitinh đã tan tác như ong vỡ tổ và dân Israel được an toàn (x. 1 Sm 17,51).

Qua cuộc chiến tay đôi giữa Đavít và tên Gôliát, cho chúng ta có được một cảm nghiệm về đời sống đức tin ngay giữa lòng thế giới hôm nay.  Trước hết, hình ảnh về một Đavít thật yếu ớt và nhỏ bé trước mắt Gôliát cao to khỏe mạnh, như là hình ảnh của một dân Israel giữa muôn dân trên mặt đất, như là hình ảnh của Giáo Hội ngày nay đang trong hành trình tiến về quê trời giữa biết bao nhiêu là sóng gió và thử thách.  Còn Gôliát là một hình ảnh của các thế lực thù địch xung quanh như các học thuyết sai lạc, trào lưu xã hội bài trừ tôn giáo, bách hại…  Tuy nhiên, chúng ta được mời gọi hãy trung thành và can đảm trong đức tin qua Giáo Hội, vì chính Chúa Giêsu đã nói: “Giữa thế gian, các con sẽ phải đau khổ, nhưng hãy can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33).

Cách đặc biệt hơn khi nhìn vào chính con người của mỗi chúng ta, để thấy được cuộc chiến đấu giữa một Đavít và Gôliát vẫn diễn ra thường ngày trong con người của mình, giữa những chọn lựa, nhất là trong hành trình đức tin, như cảm nghiệm của Thánh Phaolô: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7,19).  Hình ảnh Đavít, tượng trưng cho con người chúng ta thật yếu đuối và mỏng manh giống như một “ngọn gió thoảng qua.”  Còn Gôliát cao to, khỏe mạnh tượng trưng các thế lực xấu vẫn hằng ngày tìm cách để cám dỗ và loại bỏ chúng ta, hầu làm cho chúng ta xa dần tình yêu của Thiên Chúa (x. 1 Pr 5,8).  Chính vì thế, chúng ta dù yếu đuối và mỏng manh, chúng ta cũng luôn phải chiến đấu và chiến đấu tới cùng để không bị các thế lực sự dữ thống trị chúng ta (x. 1 Pr 5,9).

Thế nhưng, để có thể chiến thắng được quân thù, tự sức chúng ta không thể, vì quân thù rất mạnh và mưu mô; chúng ta chỉ có thể chiến thắng khi chúng ta có vũ khí trong tay đó là đức tin.  Nếu chúng ta dùng đức tin để chiến đấu, thì không phải chúng ta chiến đấu, mà chính Thiên Chúa sẽ chiến đấu thay cho chúng ta, giống như hình ảnh Đavít năm xưa trước Gôliát, và chắc chắn chúng ta sẽ dành được chiến thắng (x. Ep 6,10-14).

Thiên Chúa luôn gần gũi với con người, còn về phía chúng ta, chúng ta có để cho Thiên Chúa ở gần và ở trong ta hay không?  Chúng ta có giống như Đavít làm theo ý Chúa trong chương trình của Người hay không?  Mỗi người chúng ta hãy mở lòng mình để cho ý Chúa được thể hiện, chính những lúc đó, chúng ta sẽ có được cảm nghiệm như Thánh Phaolô, “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Chúng ta hãy sống theo sự hướng dẫn dưới con mắt đức tin, để có thể nhận ra được những dấu chỉ của Thiên Chúa trong cuộc sống và trong vũ trụ.  Trong cuộc sống, đứng trước những sự dữ, đau khổ, bất công… và nhất là sự chết, nếu có không có đức tin, chắc chắn chúng ta cảm thấy thất vọng và buông xuôi mọi thứ (x. Rm 4,21).  Chỉ có trong đức tin, chúng ta mới tìm ra được ý nghĩa và lời giải đáp cho bản thân, cũng như người thân trong những trường hợp tưởng như là ngõ cụt (x. Ga 20,29).  Hơn nữa, nhờ đức tin, chúng ta sẽ có sức để chiến đấu vượt qua thử thách chông gai trong cuộc sống, vì “chính Chúa gìn giữ bạn khỏi lưới kẻ thù giăng, khỏi tai ương tàn khốc” (Tv 90[91], 3).

Trong vũ trụ này, với những thay đổi theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực, nhưng dù chúng ta phải đối diện với những thay đổi theo hướng nào đi nữa thì hãy xác tín rằng, Chúa chính là chủ của vũ trụ và Người đang hướng dẫn để đưa chúng đạt đến sự hoàn hảo.  Vì thế, dù là những điều nhỏ bé và tầm thường đang diễn ra trong vũ trụ thì cũng nằm trong ý định của Chúa.  Chính Chúa đang dùng những gì tầm thường ấy để thực hiện chương trình nhiệm mầu của Người.

Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa sống động, Người đã, đang và tiếp tục yêu thương ta, bởi Người là tình yêu (x. 1 Ga 4,16).  Người là khởi đầu và cũng là cùng đích của cuộc sống chúng ta (x. Kh 22,13).  Vì thế, dù trong hoàn cảnh khó khăn nào, chúng ta hãy luôn nhớ rằng Thiên Chúa luôn ở ngay bên ta và trong ta để giúp ta, nếu ta biết dành chỗ cho người (x. Tv 90(91)).  Hãy tín thác và dâng lên cho Người tất cả những vui buồn và khó khăn, để Người ban ơn và giúp ta vượt qua như Đavít xưa.  Hãy can đảm và dựa vào ơn Chúa, loại bỏ trong chúng ta những gì là ích kỷ hẹp hòi, những gì là tự kiêu, tự phụ… để luôn ngoan ngoãn trong Chúa.  Hãy tin tưởng rằng Thiên Chúa đang làm cho vũ trụ này đạt đến sự hoàn thiện qua sự cộng tác của mỗi người chúng ta.  Như thế, chúng ta sẽ luôn giữ được sự bình an trong cuộc sống, vì có Chúa luôn ở cùng.

John Phạm

From Langthangchieutim

Trần Huỳnh Duy Thức: Cho trọn mối tình

Tin Mừng Cho Người Nghèo
Hôm nay (13.09) là ngày thứ ba mươi mốt anh Trần Huỳnh Duy Thức tuyệt thực trong tù để đòi quyền làm người cho mọi người, cho người dân Việt, đòi nhà cầm quyền cộng sản phải thượng tôn pháp luật, dù đó là pháp luật của nhà cầm quyền cộng sản, vô pháp và vô luân.

Anh, cũng giống bao tù nhân lương tâm khác vẫn chứng minh sự vô tội của mình và kiên trì đấu tranh cho công lý, cho quyền làm người, cho tiếng nói bảo vệ môi trường, cho tương lai của dân tộc và sự sống còn của quốc gia.

Anh đem sinh mạng quý giá duy nhất của mình thách thức nhà cầm quyền, không phải là một ván bài sinh tử vì những giá trị hơn thua, nhưng là những giá trị thuộc về chân lý hay giả trá, tồn tại hoặc tiêu vong.

Anh như người lính canh, canh gác, để đến thời đến buổi, thức tỉnh nhận thức xã hội. Thời đấy là thời nào, anh không biết, nhưng anh vẫn trung kiên với niềm tin và hy vọng, chân lý tất thắng gian tà, sự thật tất thắng giả trá.

Anh, như ngọn hải đăng, tiêu tốn năng lượng chính mình, chẳng để cho mình, nhưng cho tha nhân; dùng sinh mạng mình như nguồn năng lượng thắp sáng niềm tin vào chân lý cho dân tộc đang lạc lối hoang mang, giữa phong ba mù mịt của thứ “định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Vì chân lý và lòng yêu quê hương, anh tích tụ được sức mạnh, giúp anh kiên trì và kiên trung như một vị ngôn sứ, cảnh báo những tai họa, báo trước cho tương lai.

Hôm nay là ngày thứ ba mươi mốt, anh Trần Huỳnh Duy Thức tuyệt thực trong tù, cùng với những tù nhân lương tâm khá, vẫn kiên trì đấu tranh cho công lý, cho công bằng xã hội và cho tương lai nước Việt.

Anh là nguồn cảm hứng cho bao người đấu tranh cho dân chủ cho tự do, trong và ngoài nước, vẫn kiên cường song hành cùng anh trên chiến tuyến, bao người vẫn kiên trì cùng với anh lên tiếng bảo vệ môi trường vì sự an toàn của toàn dân tộc, bao người đã cống hiến tuổi xuân và mạng sống vì tương lai của quê hương, và bao người hôm nay dấn thân đòi minh bạch hóa những vấn đề mà nhà cầm quyền cộng sản cố che dấu và bao biện.

Anh và những người ấy liên kết lại, không phải là tạo nên những tổ chức chống đối, phá hoại và bất mãn, nhưng anh, nhờ anh và những con người yêu dân chủ và quyền con người thắp sáng ngọn lửa, thức tỉnh nhận thức của một xã hội tăm tối vì sợ hãi và yếu nhược, phản tỉnh toàn xã hội phải quan tâm tới những vấn đề chính trị đã, đang và sẽ xảy ra cho mình, vì đó chính là vận mệnh của mình, với cái giá không hề rẻ, với sự hy sinh không hề nhỏ, là chính sự sống của bản thân, hạnh phúc của gia đình và tương lai của dân tộc.

Rất nhiều người dường như thất vọng về tính hiệu quả của những cuộc biểu tình phản kháng, biểu dương ý chí của người dân; có những người chán nản vì đại đa số còn vô cảm trong những việc xảy ra cho chính mình, ù lỳ trong nếp nghĩ an thân và sống cam phận, và coi những người đấu tranh “là phá bĩnh nồi cơm”.

Vẫn còn đó rất nhiều người vì kém hiểu biết, sợ hãi và ích kỷ, lảng tránh những vấn đề chính trị, là những vấn đề quyết định đến từng đồng xu của họ, trong những sinh hoạt trong đời sống, với những vấn đề nhỏ nhoi trong gia đình của họ. Vịn cớ phải lo cơm áo gạo tiền, chỉ lo chu toàn bổn phận với gia đình, mà quên rằng nước mất thì nhà tan, cuộc sống không chỉ là có thế. Họ không biết rằng họ sẽ phải lo “cày cuốc” đến bở hơi tai thêm gấp nhiều lần, để giải quyết những vấn đề liên quan trực tiếp và gián tiếp đến miếng cơm, manh áo của họ, đến sự an nguy của gia đình họ, nhất là sự im lặng của họ là nguồn năng lượng nuôi dưỡng cái thể chế độc tài tham nhũng đang bóc lột, đang đầu độc họ, đang giết chết họ.

Trần Huỳnh Duy Thức chẳng dám nghĩ mình là đấng cứu rỗi dân tộc, nhưng sự dấn thân và hy sinh của anh là sức mạnh và nguồn cảm hứng cho hàng triệu con người phải đặt mình tự vấn, cho hàng triệu con tim tha thiết với quyền làm người cùng một nhịp đập, cho những sự đấu tranh phản kháng rải rác của những người yêu quê hương dân tộc hội tụ lại, trở thành một tinh thần bất khuất của dân tộc Việt.

Nhờ sự hy sinh cao cả của anh, sự thay đổi nhận thức xã hội sẽ phát sinh những chuyển động xã hội, từ đó có thể tiến tới chỗ thay đổi cơ chế chính trị, nhưng sự thay đổi này nhanh hay chậm tùy theo nhận thức của từng người. Một con én không phải là mùa xuân, mà chỉ báo hiệu mùa xuân.

Không biết sau ngày thứ ba mươi mốt tuyệt thực, Trần Huỳnh Duy Thức sẽ ra sao và nhà cầm quyền cộng sản có động thái gì, nhưng bên anh còn có hàng triệu người vẫn quan tâm, vẫn cầu nguyện cho anh được thêm sức mạnh, được bình an trong tâm hồn. Vì thế anh hãy kiên vững để vượt qua. Chúng tôi bên anh!

Lm. Giuse Ngô Văn Kha, DCCT

TINMUNGCHONGUOINGHEO.COM
Thái Hà (14.09.2018) – Hôm nay (13.09) là ngày thứ ba mươi mốt anh Trần Huỳnh Duy Thức tuyệt thực trong tù để đòi quyền làm người cho mọi người, cho người d…