Võ Văn Thưởng, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Công Khế & Trần Huỳnh Duy Thức

Tưởng Năng Tiến

Câu chuyện ông Trần Huỳnh Duy Thức không chỉ cho thấy vấn đề tù nhân lương tâm, tình trạng vi phạm nhân quyền hoặc thân phận trí thức dưới chế độ cộng sản, mà còn cho thấy một vấn đề lớn hơn và có tính xã hội rộng hơn: vai trò và sự chọn lựa chỗ đứng của người trí thức. – Mạnh Kim

Trang Dân Luận vừa đăng tải một bài viết ngắn (“Tại Sao Báo Chí Chính Thống Không Có Một Dòng Nào Về Chuyện Trần Huỳnh Duy Thức Tuyệt Thực”) của nhà báo Nguyễn Công Khế, với phần kết luận – như sau:

“Còn một việc nữa, mấy hôm nay, râm rang trên mạng xã hội, và các cơ quan báo chí nước ngoài đang nói chuyện tù nhân chính trị Trần Huỳnh Duy Thức tuyệt thực 27 ngày có nguy cơ dẫn đến nguy hiểm tính mạng. THDT cũng được trên mạng xã hội và truyền thông nước ngoài đánh giá là một người có trí tuệ trong giới bất đồng chính kiến. Thế thì tại sao trước một tin tức như vậy, phía Nhà nước và báo chí chính thống không hề có một dòng nào, hoặc có việc đó, hay không có?

Tôi luôn nghĩ rằng, và luôn nhắc lại rằng, bài toán minh bạch thông tin sẽ giải quyết được rất nhiều vấn nạn trong xã hội ta, và từ đó mới loại được những tin giả, tin ‘bịa như thật’ trên mạng xã hội.

Và tôi cũng tin rằng, hai nhân vật chủ yếu nắm công tác tư tưởng hiện nay làm được việc này. Đó là ông Võ Văn Thưởng và ông Nguyễn Mạnh Hùng.”

Ngay bên dưới bài viết này là phản hồi của hai vị độc giả vô cùng nhanh nhảu:

Nguyễn PhươngSao nó tuyệt thực lâu vậy mà chưa chết nhỉ?

Đức CườngNó có dám tuyệt thực đéo đâu, nó lừa cho mấy thằng ngu hải ngoại tin để cho tiền nó mà.

Hai ông Nguyễn Phương và Đức Cường đã giúp cho người đọc lý giải được, phần nào, nỗi băn khoăn (“Tại Sao Báo Chí Chính Thống Không Có Một Dòng Nào Về Chuyện Trần Huỳnh Duy Thức Tuyệt Thực”) của nhà báo Nguyễn Công Khế. Ngoài những phản ứng kịp hời (thượng dẫn) còn có rất nhiều trang trang mạng, với vô số những bài viết có liên quan đến Trần Huỳnh Duy Thức:

– Diễn Đàn Dân Chủ: Màn Tuyệt Thực Làm Hàng Của Trần Huỳnh Duy Thức

– Tre Làng: Trần Huỳnh Duy Thức Bị Tố Tuyệt Thực Đểu

– Nền Dân Chủ: Tuyên bố tuyệt thực đến chết – Có phải Trần Huỳnh Duy Thức đang muốn đi Mỹ?

– Mõ Làng: Đám Ăn Theo Trò Tuyệt Thực Của Trần Huỳnh Duy Thức

– Việt Nam Mới: Trần Huỳnh Duy Thức Tung Tin Tuyệt Thực Để Làm Gì?

– Người Con Yêu Nước: Trần Huỳnh Duy Thức “tuyệt thực” và trò tung hứng của các nhà rận chủ

– Chống Luận Điệu Xuyên Tạc: Về vụ Trần Huỳnh Duy Thức tung tin tuyệt thực…

– Loa Phường: Trần Huỳnh Duy Thức Có Thực Sự Nhịn Đói

Giọng điệu, cũng như lời lẽ, của những cái “loa phường” kể trên (nghe) quen lắm, cũng y như cách ăn nói của đám dư luận viên thuộc Binh Đoàn 47 vậy thôi. Bởi vậy, hai ông ông Võ Văn Thưởng và Nguyễn Mạnh Hùng khó mà chối được rằng mình (hoàn toàn) vô can với cái thứ ngôn từ “đầu đường xó chợ” này.

Trong nhiều “trường hợp nhậy cảm,” nhà nước CHXHCNVN vẫn thường dùng “quần chúng tự phát” (hay đám dân phòng) vào việc “trị an,” thay vì lực lượng công an sắc phục. Tương tự, Ban Tuyên Giáo và Bộ Thông Tin đang xử dụng đám dân phòng trên mạng – thế cho báo chí chính thống – là điều hoàn nhất quán với đường lối và chính sách của Đảng hiện nay.

Có thể vì bận rộn công việc gia đình (vì phải xuất ngoại thường xuyên) ông Khế đã không nắm vững tình hình nên đặt vấn đề trật (lất). Trong khi Nguyễn Công Khế chất vấn “hai nhân vật chủ yếu nắm công tác tư tưởng hiện nay” thì dưới bài viết (thượng dẫn) của ông, cũng có vị độc giả nêu câu hỏi như sau:

Xuan Nguyen VanNguyễn công khế từ thằng chiêu hồi đến kẻ cơ hội nay trở thành kẻ biên chất. Không đủ tuổi và tư cách để chém gió về vấn đề dân chủ và minh bạch chính hắn môi giơi để Thằng Phước tặng sách cho nguyên chủ tịch nước rồi tung lên mang thực hiện cáo mượn oai hùm bị cựu chủ tịch nước nổi giận yêu cầu rỡ xuống không hiểu ông khế có thấy sấu hổ không?

Tôi hoàn toàn không biết chi về những chuyện lùm xùm (“tặng sách cho nguyên chủ tịch nước, cáo mượn oai hùm”) vừa dẫn. Lời than phiền của ông Nguyễn Văn Xuân chỉ khiến tôi chợt nhớ đến một trường hợp khác, một nghi vấn khác, theo như cách nhìn (khe khắt) của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn:

“Thế tại sao Nguyễn Khải lại viết Đi tìm cái Tôi đã mất? Theo tôi, trường hợp này cũng giống như Chế Lan Viên viết Di cảo thơ, và Tố Hữu tâm sự với Nhật Hoa Khanh. Thực chất cái việc các ông ‘cố ý làm nhòe khuôn mặt của mình’ như thế này là cốt để xếp hàng cả hai cửa.

Cửa cũ, các ông chẳng bao giờ từ. Còn nếu tình hình hình khác đi, có sự đánh giá khác đi, các ông đã có sẵn cục gạch của mình ở bên cửa mới (bạn đọc có sống ở Hà Nội thời bao cấp hẳn nhớ tâm trạng mỗi lần đi xếp hàng và không sao quên được những cục gạch mà có lần nào đó mình đã sử dụng).”

Tôi chả có sống “ở Hà Nội thời bao cấp” ngày nào cả nhưng vẫn thông cảm được cái “tâm trạng” xếp hàng hai cửa, nếu đúng, của một người ở hoàn cảnh (chân trong/chân ngoài) như ông Nguyễn Công Khế. Tôi cũng hoàn toàn chia sẻ mọi nỗi khó khăn, với hai ông Võ Văn Thưởng và Nguyễn Mạnh Hùng, nơi chốn quan trường của nước CHXHCNVN.

Nói một đằng làm một nẻo là chủ trương xuyên suốt của Đảng cầm quyền. Do đó, tuy tuyên bố là “tổ chức đối thoại” nhưng ông Trưởng Ban Tuyên Giáo và ông Bộ Trưởng Thông Tin Tuyên Truyền vẫn thản nhiên xua đám lâu la ra “đối thụi” bằng cái thứ ngôn ngữ của bọn đầu đường xó chợ.

Trong một xã hội mà không có nhân cách người ta vẫn sống, thậm chí còn sống béo tốt hơn nên quí ông Võ Văn Thưởng, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Công Khế… có thể dùng mọi phương tiện để biện minh cho cứu cánh của mình. Điều an ủi là giữa lúc nhiễu nhương như hiện cảnh tổ quốc vẫn còn có những người từ chối sống béo tốt, và sẵn sàng hy sinh tính mệnh vì lẽ phải như ông Trần Huỳnh Duy Thức.

Nhà báo Mạnh Kim nhận xét:

“Ông Trần Huỳnh Duy Thức sẵn sàng chấp nhận cái chết đến, vì biết khó mà thuyết phục một nhà cầm quyền như Việt Nam biết thượng tôn pháp luật một cách đơn giản theo lẽ nhân loại văn minh.”.

Nếu chả may mà sự việc có xẩy ra bi thảm như vậy chăng nữa thì cái chết của ông cũng khiến cho đám thường dân được đỡ phần tủi hổ. Chúng tôi cảm thấy vô cùng yên ủi khi biết rằng dù quê hương rơi vào hoàn cảnh bi đát đến thế nào chăng nữa thì đất nước này vẫn còn có những vị nhân sĩ đáng kính, hết lòng vì dân tộc, chứ không chỉ thuần là một lũ trí thức trùm chăn hay một đám cơ hội ăn theo. 

Người Việt nhưng không phải Người Việt

Người Việt nhưng không phải Người Việt

Huy Phương

September 16, 2018

Tuổi trẻ Việt trên đại lộ Bolsa, Little Saigon, miền Nam California. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Câu nói này có khó hiểu hay không? Vì sao người Việt nhưng không phải là người Việt?

Đây là nhan đề một bài báo của Bác Sĩ Trần Văn Tích, một nhân sĩ ở Đức Quốc đã lên tiếng kêu gọi chính quyền và quần chúng địa phương xác định rõ ràng rằng cộng đồng tỵ nạn ra đi từ miền Nam Việt Nam không dính dáng gì đến những tội hình và tội hộ do người Việt gốc gác ở miền Bắc gây ra trên đất Đức.

Câu chuyện khởi đi từ một việc xảy ra cách đây vài năm tại một thành phố nhỏ, Andernach, nước Đức. Đó là câu chuyện về con mèo Mungo. Một người Việt tên Trần Quý, gốc gác từ miền Bắc Việt Nam, đã bắt một con mèo của một người cao niên hàng xóm, đốt nó bằng một ngọn đèn xì hiệu benson, để nhậu nó với nước mắm, nước cốt chanh, rau thơm và tỏi, vì “nhớ hương vị quê hương!”

Tin tức tai tiếng này được loan tải trên nhiều tờ báo cả tiếng Anh lẫn tiếng Đức ở Âu Châu. Đặc biệt trong trường hợp Trần Quý được ghi đầy đủ tên họ, không phải như những trường hợp khác tên của can phạm được viết tắt. Cả cộng đồng dân cư Andernach náo động. Hai bà hàng xóm của Trần Quý, Christina Sarwatka và Stephanie Jung kêu cứu với cảnh sát. Tất cả những con mèo ở Andernach đều bị “cấm trại” 100%. Ba mươi con mèo đã bị mất tích, người ta đồ chừng, chúng đã đi qua lò nướng của Trần Quý.

Một vết dơ vấy lên mặt thủ phạm hay lây lan qua chúng ta, và người Đức sẽ nhìn tất cả người Việt ở đây như thế nào?

Nhân danh Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại CHLB Đức, Bác Sĩ Trần Văn Tích đã viết thư cho Sở Cảnh Sát Andernach, trấn an giới chức công quyền địa phương là người tỵ nạn Việt Nam không có thói quen ăn thịt mèo và xin hai bà hàng xóm của gia đình thủ phạm giết con mèo Mungo nhận cho lời chia buồn và niềm tiếc nuối.

Trước năm 1975, nhiều sinh viên kỹ thuật miền Nam đi du học ở Tây Đức, là những thành phần chống Cộng nổi tiếng. Sau 1975, một số thuyền nhân vượt biên được vào tỵ nạn tại Đức Quốc, đương nhiên là những người không chấp nhận chế độ Cộng Sản.

Bắc Việt, thường chọn Đông Âu và Nga Xô để xuất ngoại. Sau khi Liên Xô sụp đổ, rất đông những người Việt của miền Bắc từ Nga đã di cư sang Đông Âu. Khi nước Đức thống nhất, người Việt gốc gác từ Miền Bắc đều xin định cư ở lại nước Đức.

Hiện nay, các quốc gia có nhiều người Việt định cư trên thế giới, như nước Đức, nửa quốc gia nửa Cộng Sản. Phần nửa Cộng Sản làm xấu mặt phần nửa quốc gia vì các nạn trộm cắp, băng đảng, trồng cần sa, buôn lậu…

Nhiều băng Bắc Việt đã trồng cần sa tại trại Atzendorf, tiểu bang Sachsen-Anhalt, thuộc lĩnh vực Đông Đức cũ, rửa tiền bất hợp pháp. Ngay cả Đại Sứ Việt cộng tại Thổ Nhĩ Kỳ, mang vào Đức gần hai chục ngàn Euro mà không khai báo.

Nhân viên Đại sứ quán Việt cộng nhập viện điều trị, phí tổn lên đến từ 10 đến 15,000 Euro, nhưng không chịu thanh toán.

Chỉ trong vòng ba năm trước ngày Phạm Thị Hoài lên tiếng về “nghề ăn cắp của người Việt tại Đức” (Tháng Bảy, 2015) mỗi năm cộng đồng 84,000 người Việt tại Đức, đã có 5,000 mang tội hình sự, trong đó đã có 1,000 vụ ăn cắp, còn tệ hơn người Tàu (11,000 người với 200 vụ ăn cắp mỗi năm.) Tại Đức băng đảng người Việt lộng hành, trong cuộc chiến giành thị trường thuốc lá lậu, đồng chí giết đồng chí, băng Ngọc Thiện “xử tử” sáu đối thủ trong một căn chung cư thì băng Quảng Bình đáp lễ bằng ba xác người vứt ngoài đường tàu. Thành phần chính của băng đảng là những “bộ đội anh hùng” súng ngắn giắt cạp quần.

Về chuyện người Việt ở Đức, bài báo “Người Việt ăn cắp ở Đức” của Phạm Thị Hoài đã gây chấn động. Ai cũng biết rằng người Việt được nói trong bài là người Việt mới, người Việt tiến bộ, người Việt XHCNVN. Phạm Thị Hoài kể rõ lai lịch của họ: họ gốc gác Nghệ an, Quảng bình; họ tụ tập sinh hoạt tại chợ Đồng Xuân Berlin.”

Ông Trần Văn Tích cho rằng: “Một số người Đức cũng hiểu như thế. Dẫu vậy, vấn đề thanh minh cho công luận Đức am tường sự thực vẫn thường cứ phải đặt ra.”

Trong thư gửi cho cộng đồng người Đức, Bác Sĩ Trần Văn Tích cũng xác định là Liên Hội Người Việt Tị Nạn tại Đức, không dính dáng gì đến Hội Liên Hiệp của người Bắc Việt tại Đức, trái lại vì biết rất rõ rằng đây là một tổ chức thống thuộc Đại sứ quán Việt cộng ở Berlin “nên chúng tôi, vì lý do an ninh bản thân, luôn luôn tìm cách xa lánh nó.”

Phải chăng vì luật pháp nước Đức quá nhẹ tay theo cách nói của Phạm Thị Hoài: “Xã hội càng yên, luật pháp càng hiền!” Luật pháp càng hiền thì người Việt “xã hội mới” ở Đức càng lộng! Trong khi người Việt ở Đức giàu có nhờ nghề thuốc lá lậu, thì bây giờ ở Anh, người Việt đua nhau trồng cần sa để mau làm giàu. Người Việt muốn làm giàu nhưng không thích cần cù làm việc, chỉ muốn đi đường tắt, hầu hết là con đường phi pháp.

Thanh niên mới đến Đức hai tuần, chưa làm đơn xin tị nạn đã hành nghề ăn cắp. Bọn này ăn mặc rất sang chảnh nên, thay vì gọi tên theo căn cước của chúng, Phạm Thị Hoài đã gọi chúng là bằng tên những thương hiệu nổi tiếng là Nike, Dolce Gabbana…

Nói chung, di dân từ Bắc Việt vẫn xem nước Đức là chỗ béo bở để kiếm ăn, mặc dầu ăn nhờ ở đậu nơi này, lãnh trợ cấp, chúng vẫn gọi Đức là “Phát-Xít,” “bọn Đức lợn…”

Và gần đây vụ Bắc Việt dùng lối hành xử côn đồ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh trong một khách sạn ở Berlin, hồi tháng Tháng Bảy, 2017 đã là một giọt nước tràn ly. Ở xứ này, còn ai muốn làm người Việt Nam nữa!

Xin hãy nghe lời kết đau đớn của một người Việt Nam tử tế ở Đức tên Trần Văn Tích: “Một người Việt Nam chỉ không muốn làm người Việt Nam nữa mà cũng thật vất vả quá chừng!” (Huy Phương)

Lectio Divina

Lectio Divina

Đây là một phương pháp đọc Kinh Thánh năng động với lòng tin tưởng phó thác cách chân thành. Phương pháp này đã có từ xa xưa, khoảng năm 300 trước công nguyên. Người Do Thái đã dùng phương pháp này cầu nguyện từ thời đó và cho đến nay vẫn tồn tại.

Phương pháp này giúp Kitô hữu đi vào kho tàng phong phú của Lời Chúa,

nhờ đọc, hiểu và yêu mến Lời Chúa hơn,

và từ đó tìm cho đời mình một hướng đi hợp với tín lý Chúa Kitô.

Trong diễn văn ngày 16.09.2005 trước Hội Nghị Quốc Tế họp tại Rom về Kinh Thánh Trong Đời Sống Giáo Hội“ Đức Thánh Cha Benedicto XVI đã nói:

Tôi muốn đặc biệt nhắc lại và giới thiệu truyền thống lectio divina xa xưa: việc siêng năng đọc Kinh Thánh, có cầu nguyện kèm theo, thực hiện cuộc trò chuyện thân tình với Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta nghe nói khi đọc, và chúng ta đáp lại khi cầu nguyện với một tâm hồn cởi mở và tín nhiệm.

Cách thực hành này, nếu phát triển hữu hiệu, sẽ đem lại cho Giáo Hội một mùa Xuân thiêng liêng mới – tôi xác tín như vậy –

Vậy việc mục vụ Kinh Thánh phải đặc biệt nhấn mạnh đến lectio divina và khuyến khích, nhờ dùng những phương pháp mới đã được nghiên cứu kỹ càng và hoàn toàn thích hợp cho thời đại chúng ta. Chúng ta không bao giờ được quên rằng;

 Lời Chúa là ngọn đèn soi cho ta bước, là anh sáng chỉ đường cho ta đi (Tv, 118, 105)

Chúng ta “đọc Kinh Thánh có cầu nguyện kèm theo“ là để gặp gỡ Đức Kitô, một Đức Kitô đã chết, đã sống lại và đang sống với chúng ta.

Ngài sẽ biến đổi cuộc đời chúng ta trở nên mỗi ngày một giống Ngài hơn, qua tác động của Chúa Thánh Thần.

Lời Chúa là lương thực không thể thiếu của người Kitô hữu, thì Lectio Divina phải được so sánh như “bữa tiệc của Lời mà mỗi thực khách phải tự thưởng thức.

Để thưởng thức chúng ta phải tuân theo trình tự của việc ăn uống

như cắn vào (Lectio: đọc Lời Chúa), sau đó nhai (meditatio: suy gẫm)

thì mới có thể thưởng thức được bản chất của món ăn (oratio: cầu nguyện)

và cuối cùng món ăn được tiêu hóa và là một phần của cơ thể (comtemplatio: chiêm niệm).

Như thế Lectio Divina không phải là phương pháp học hỏi Thánh Kinh, nhưng mục tiêu của chúng ta là để gặp gỡ Chúa là Lời Hằng Sống cho mỗi Kitô hữu.

  1. Đọc Lời Chúa: Bạn hãy thắp lên một ngọn nến trước tượng Chúa, làm dấu Thánh Giá, nhắm mắt lại từ từ đi vào sự lắng đọng trong tâm hồn, thả lỏng thân xác.

Dâng một lời cầu nguyện, “xin Thần Khí Sự Thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn toàn” (Ga 16,13)

Bây giờ bạn hãy đọc Lời Chúa thật chậm, đọc chăm chú với tâm hồn khiêm nhường và tinh thần cầu nguyện,

đọc lại một lần nữa chậm hơn và câu nào, chữ nào đánh động thì hãy ngừng lại đó, bạn nhắc đi nhắc lại Lời vừa đánh động bạn để Lời Chúa thấm vào lòng.

  1. Suy gẫm: Lời Chúa đã thấm vào tâm hồn bạn. Bạn hãy đặt mình vào Lời Chúa, bạn đặt mình vào nhân vật đánh động bạn và hình dung sự việc, hoàn cảnh của thời gian, không gian đó, bạn phân tách các nhân vật từng hành động, từng thái độ, cử chỉ, từng câu nói, để hiểu chiều sâu của nhân vật và của bài Tin Mừng.

Bạn sẽ hỏi Chúa Giêsu đang nói gì với bạn, dạy bạn điều gì trong Lời Ngài

và bạn đã cảm nhận ra ý nghĩa câu tâm đắc của bạn giúp bạn tới một quyết định hay một lựa chọn cho cuộc sốngbạn.

Ngài sẽ làm cho bạn thành con người tự do và sống độnghơn

  1. Cầu nguyện: Dưới Ánh Sáng mà Lời Thiên Chúa đã chiếu soi cho bạn, bây giờ bạn hãy thưa chuyện với Chúa, bày tỏ nỗi lòngcủa bạn, những nỗi buồn, niềm vui bạn hãy giải bày hết với Chúa, những gì đang xảy ratrong đồi sống cá nhân hay của tập thể.

Ngài biết tất cả nên bạn cứ thoải mái thân thưa tất cả nỗi lòng của bạn. Bạn xin Ngài chữa lành những vết thương trong lòng bạn và ban ơn bình an cho bạn. Bạn xin Thần Khí Chúa nâng đỡ bạn để bạn được sống dồi dào với quyết định hay chọn lựa của bạn..

  1. Chiêm niệmChiêm niệm cho ta có cơ hội sống hiệp thông mật thiếtvới Thiên Chúa.

Bây giờ bạn nhắm mắt lại, tĩnh lặng tâm hồn để tậnhưởng sự hiện diện của Chúa.

Bạn đang ở trong vòng tay Ngài để Ngài yêu thương bạn.

Ngài đang sưởi ấm thể xác bạn và làn gió thiêng liêng của Ngài đang làm dịu mát tâm hồn mà bạn có thể tận hưởng lâu dài.

  1. Hành Động: Thần khí Chúa đang dẫn dắt bạn, soi sáng cho bạn. Bạn hãy xin Ngài ban thêm sức mạnh, để bạn thực hành ý Chúa. Ngài muốn con làm gì? Xin hãy chỉ tường tận cho con để trong đời sống, con sẽ làm vinh danh Ngài.

Cuối cùng, bạn hãy cầm bút lên ghi những cảm nghiệm của bạn về kỷ niệm êm đềm này với Thiên Chúa.

Những ghi nhận về khoảnh khắc thiêng liêng này sẽ giúp bạn sống dồi dào hơn với Đức Kitô, mỗi khi bạn đọc lại./-

Elisabeth Nguyễn

From KimBang Nguyen

CẦU NGUYỆN – HƠI THỞ CỦA ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU

CẦU NGUYỆN – HƠI THỞ CỦA ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU

 Cuộc sống luôn đặt con người vào những suy tư bất tận về ý nghĩa cuộc đời và các mối tương quan.  Những tâm tư sâu thẳm của con người, những vấn nạn gai góc cuộc đời, những trăn trở bế tắc về cuộc sống thường đưa đẩy người ta đến một hành vi đặc thù, điều mà người ta quen gọi là “cầu nguyện”.  Phải chăng cầu nguyện giúp họ giải quyết được tất cả những gì người ta cần?  Một tác giả thiêng liêng sau những trải nghiệm của mình về đời sống nội tâm đã phải thừa nhận rằng “Cầu nguyện là nhịp cầu nối kết cuộc sống vô thức với cuộc sống ý thức.  Cầu nguyện liên kết tâm trí ta với tâm hồn ta, ý chí với những đam mê của ta, khối óc với cái bụng ta.”[1]  Quả thế, cầu nguyện thực sự đưa ta đến một cảnh vực sâu xa hơn, là sống tương quan với Thượng Đế.  Kitô giáo mang trong mình mạc khải tuyệt hảo về cầu nguyện: sống tương quan thiết thân với Thiên Chúa.

Người ta thật khó có thể tìm ra một tôn giáo nào mà cầu nguyện không đóng một vai trò gì trong đời sống của họ.  Cầu nguyện được coi là mối dây liên kết giữa họ và Đấng Siêu Việt mà họ đang hướng tới.  Đối với người Kitô hữu, đời sống cầu nguyện được ví như hơi thở của cuộc sống hay là dòng máu chuyển lưu trong cơ thể.  Cầu nguyện là cách thế để hiện thực hoá tất cả chân lý đức tin đầy phong phú mà họ được lãnh nhận.  Sống trong tâm tình cầu nguyện là sống mật thiết với Thiên Chúa và được lớn lên trong tương quan với Người.  Vì thế, cầu nguyện không chỉ dừng lại ở nơi mình nhưng còn trải rộng mình ra với mọi chiều kích, mọi mối tương quan của cuộc sống.  Tương quan cốt yếu là với Thiên Chúa, Đấng đã thông chia cho con người tất cả và mời gọi họ đi vào mầu nhiệm của chính Người.  Dĩ nhiên, tác giả thiêng liêng đã dẫn trên đây không dừng lại ở khía cạnh tâm lý đơn thuần của con người, dẫu rằng đời sống con người nói chung và tinh thần của con người nói riêng gắn liền với niềm tin tôn giáo.  Quả thế: “Cầu nguyện là cách để cho Thần Khí trao ban sự sống xuyên thấu mọi ngóc ngách của hữu thể ta.  Cầu nguyện là công cụ Thiên Chúa dùng để làm cho ta nên toàn diện, hợp nhất và bình an.”  Như vậy, vai trò cầu nguyện là điều không còn bàn cãi.

“Địa hạt” của đời sống cầu nguyện là gì?  Đây là những câu hỏi thường nảy sinh trong những người đi vào đời sống cầu nguyện.  Lẽ thường, người ta đến với Thiên Chúa để nài xin những điều thuộc nhu cầu hiện tại của mình.  Nhưng vấn đề đặt ra là có hay không việc chúng ta đã quá thực dụng trong đời sống cầu nguyện?  Ít nhiều điều này gây nên bối rối khi ta đến với Thiên Chúa.  Dĩ nhiên, những điều rất thiết yếu đối với cuộc sống của họ là phần nào nói lên sự cậy dựa vào Thiên Chúa.  Nhưng nếu bản chất cầu nguyện là một sự thông truyền bản tính của Thiên Chúa cho ta, thì hành vi cầu nguyện cũng phải xuất phát từ chính con tim khát khao Ngài để trở nên giống Ngài.  Và vì thế, khi đi vào tương quan với Chúa trong cầu nguyện, những điều mà ta ao ước cũng nên thiện hảo hơn vì nhu cầu của ta liên kết với sự lôi cuốn của Người.  Vươn lên cùng Thiên Chúa trong cầu nguyện giúp kéo ta ra khỏi những bận tâm về chính mình, khuyến khích ta rời bỏ vùng đất quen thuộc, thách thức ta bước vào một thế giới mới, thế giới không thể bị gồm tóm trong những ranh giới nhỏ bé của tâm trí và tâm hồn ta.  Vì vậy, cầu nguyện, một mặt, là một cuộc phiêu lưu trong Thế giới của Thiên Chúa rộng lớn bát ngát vô tận, đầy thú vị và mới mẻ đang chờ đợi ta khám phá.  Chính trong sự kết hợp thâm sâu với Người, ta không chỉ được mạc khải để biết thêm về Thiên Chúa nhưng về chính mình nữa.  Mặc khác, bước vào một vùng đất rộng hơn với những trải nghiệm mới có nghĩa là đi vào mối tương quan sâu xa với Thiên Chúa với con người mới.  Khi đấy, việc cầu nguyện của ta cũng trở nên phong phú và dồi dào hơn.  Như vậy, “địa hạt” của cầu nguyện hay giới hạn của việc cầu xin không còn dừng lại ở những nhu cầu riêng ta nữa, nhưng trải rộng ra mọi chiều kích, mọi mối tương quan và mọi nhu cầu thiết thực khác.  “Địa hạt” của đời sống cầu nguyện sẽ là không biên giới.

Ở lại trong Đức Giêsu, đó là tất cả ý nghĩa của việc cầu nguyện (x. Ga 15).  Khẳng định này khởi đi từ kinh nghiệm kết hợp mật thiết với con người Đức Giêsu và cầu xin Người với bản tính Thiên Chúa hiện diện.  Lời cầu nguyện đích thực bao giờ cũng ôm trọn thế giới này chứ không phải chỉ nơi ta đang sống.  Quả vậy, hàng ngày chúng ta đối diện với biết bao những vấn đề mang tính nhân sinh mà thường là những nan đề (khủng bố, bất công…).  Tuy nhiên, chúng sẽ trở nên vô cùng nặng nề nếu như ta chỉ tìm sự an toàn cho mình mà không để cho Đức Kitô đi vào trong đó.  Cơ sở của điều này chính là sự nhập thể và nhập thế của Đức Giêsu – Con Thiên Chúa một cách trọn vẹn.  Người đã trải qua kiếp sống nhân sinh với những quy luật của một con người vì thế, Người đồng cảm với từng người và với những ưu tư trong cuộc sống.  Như vậy, cầu nguyện là kết hợp đời sống của mình với đời sống và giáo huấn của Đức Giêsu, chính là việc đi vào tương quan mật thiết với Thiên Chúa là Cha.  Vì Đức Giêsu một mặt mạc khải cho ta về Cha, mặt khác, Người chia sẻ cho ta kinh nghiệm gặp gỡ và sống tương quan với Người.

Kiếp sống làm người không ai có thể đứng ngoài kinh nghiệm về những ưu tư và trăn trở của cuộc sống hàng ngày trong các mối liên hệ của đời sống.  Sống tương quan với Thiên Chúa trong cầu nguyện có thể không làm giảm đi những khó nhọc thể xác và những vấn nạn của cuộc đời.  Tuy nhiên, sức mạnh vạn năng của cầu nguyện chính là được kết hợp với Thiên Chúa ngang qua tất cả những biến cố, biến những đau khổ và vấn nạn ấy trở nên những trải nghiệm có ý nghĩa trong cuộc đời.  Cầu nguyện giúp ta đi vào những biến cố với tâm thế của lòng cậy trông và tín thác vào Thiên Chúa Quan Phòng, Đấng luôn yêu thương và chăm sóc từng người.  “Địa hạt” của Người không phải giới hạn chỉ trong sự hạn hẹp của những nhu cầu trước mắt, nhưng đi xa hơn; Ngài mời gọi con người kết hiệp với Ngài trong vinh quang thực sự và bình an vĩnh cửu.  Cuộc sống của con người sẽ phong nhiêu là điều mà cầu nguyện (một đời sống thân thiết với Chúa) sẽ hứa hẹn.  Hãy cầu nguyện với cả con người mình, xuất phát từ trái tim chân thành, cởi mở… điều kỳ diệu của cuộc sống sẽ đến.

Joseph Trần Ngọc Huynh S.J

[1] Henry M.Nouwen.

From Langthangchieutim

Tổng thống nước Cộng hòa Croatia: Kollinda Grabar Kitarovics.

Hảo Võ Thị shared a post.
Image may contain: 1 person, smiling
Tran Ngoc Diep

GƯƠNG MẶT CHÍNH KHÁCH

Tổng thống nước Cộng hòa Croatia: Kollinda Grabar Kitarovics.
– Đã bán phi cơ riêng của tổng thống, bán 35 xe Mercedes Benz của văn phòng tổng thống đưa vào ngân sách quốc gia.
– Đã giảm 50% lương của mình và các bộ trưởng.
– Đã giảm 40% lương các đại sứ, các tổng lãnh sự quán.
– Đã xóa quỹ hưu trí dành riêng cho các đại biểu quốc hội.
– Biết và nói 7 ngoại ngữ và sống bình dị như tất cả mọi người.
– Từ khi bà giữ chức tổng thống, GDP của Croatia tăng 24%.
Một nữ chính khách xinh đẹp, trẻ trung, thông minh tài giỏi, tận tụy như một bà nội trợ hoàn hảo của chính Tổ quốc mình.
Ngưỡng mộ.

Về tính nhân văn

Giáo dục con người kiểu vô tôn giáo của cộng sản, chết là hết,  cho nên:
Thiếu vắng đời sống tâm linh, đời sống nội tâm của con người bị khô cằn, con người trở nên tham lam, vị kỷ, tàn bạo
David Le
Thấy bài viết này quá hay nên David Lee mạo mụội đăng lại lên đây cho các bạn đọc và tham khảo. Tuy bài này được đăng đã lâu, nhưng mình nghĩ có nhiều bạn chưa có cơ hội đọc.

18 Tháng 10 2006 – Cập nhật 13h34 GMT
Bài của thính giả Nguyễn Hoàng

Về tính nhân văn

Ông Fujiwara Masahiko, nhà nghiên cứu toán học Nhật, cho rằng trong xã hội, típ người đáng sợ là loại người thông minh nhưng không được giáo dục tính nhân văn [Kokka no Hinlkaku].

Ông đưa ra ví dụ: Đối với những người thiếu sự giáo dục về năng lực tình cảm (EQ) mà tin là mình thông minh thì một khi đã lập luận một vấn đề gì thì người đó hoàn toàn tự tin, thẳng đường mà tiến đến kết luận cuối cùng, không cần biết kết luận này sẽ gây ra những hệ luỵ gì, có ảnh hưởng đến những người xung quanh như thế nào.

Ông Bo Buringham, một nhà báo Mỹ nổi tiếng thì cho rằng không thể truyền thụ sự cảm thông hoặc sự quan tâm đến người khác cho những người không có phẩm chất nhân văn [Small Giant].
Vậy tính nhân văn hay phẩm chất nhân văn là gì? Và làm thế nào để có được phẩm chất này?

Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt, phẩm chất nhân văn là những giá trị và tính chất tốt đẹp thuộc về văn hóa con người trong sự phân biệt với con vật hoặc đồ vật.

Giáo dục hình thành nếp sống

Để có được phẩm chất này, đòi hỏi con người phải được sống và giáo dục trong môi trường hướng thiện, nơi cái tốt, sự tử tế, chu đáo, sự cảm thông trong cư xử với người khác được xã hội đánh giá cao, được xem trọng.
Ở mức độ cao hơn, không chỉ là cách hành xử giữa con người với con người mà còn là cách hành xử của con người với tự nhiên, với môi trường xung quanh.
Sống trong một xã hội xem trọng tính nhân văn thì cách hành xử của con người cũng phần nào được điều chỉnh tốt theo chuẩn mực đạo đức chung.
Nhưng sống trong xã hội mà cái ưu tiên nhất là nhằm bảo vệ hệ thống chính trị, bảo vệ đặc quyền đặc lợi của một tầng lớp nào đó thì việc gíá trị nhân văn bị hạ xuống hàng thứ yếu gần như là điều tất yếu.

Do bản tính vị kỷ, lại hay quên, nên con người nói chung cần được giáo dục, nhắc nhở, rèn luyện thường xuyên mới mong hình thành được nếp sống mang tính nhân văn.

Nếp sống này thể hiện từ những việc nhỏ nhặt nhất như biết quan tâm, nhường nhịn người khác, thấy vui khi làm người khác vui; hay làm việc trong tinh thần tôn trọng lợi ích của người như lợi ích của mình.

Đời sống tâm linh

Hệ thống pháp luật như một tấm khiên nhằm ngăn chặn những hành vi trái chuẩn mực chung của đạo đức, của xã hội, Còn trong vai trò giáo dục, nhắc nhở con người sống tốt, hợp đạo lý, có thể nói tôn giáo là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng đời sống tâm linh cho con người, cái nền tảng của tính nhân văn .

Nhưng ở những đất nước không may rơi vào hệ thống CSCN, với tham vọng muốn kiểm soát tư tưởng con người, bắt nó phát tirển chỉ theo một hướng duy nhất, hướng có lợi cho sự tồn tại của chế độ, Đảng cầm quyền ở các nước cộng sản nỗ lực triệt tiêu mọi ảnh hưởng tôn giáo.

Họ dựng nên một xã hội vô thần, thực chất là muốn thay thế tôn giáo bằng các giáo điều do họ tạo ra, nhằm mục đích quản lý, nhào nặn tư tưởng mọi người theo đúng một cái khuôn đã định sẵn: tất cả vì đặc quyền, đặc lợi của một ý thức hệ duy nhất, ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa.

Sự ngược đãi tôn giáo trước mắt giúp cho nhà cầm quyền cảm thấy được độc quyền trong lĩnh vực tư tưởng. Nhưng tác hại của nó về mặt xã hội, về tính người rất đáng kể.

Thiếu vắng đời sống tâm linh, đời sống nội tâm của con người bị khô cằn, con người trở nên tham lam, vị kỷ, tàn bạo. Khi cái tốt, sự tử tế, chu đáo, sự cảm thông trong ứng xử đối với người khác không được xem trọng, không được giáo dục, thì người ta biết làm gì hơn ngoài việc thủ lợi cho mình và chà đạp người khác.

Thính giả Nguyễn Hoàng viết cho BBCvietnamese.com

Thiên đình náo loạn: Bá ngọ sư ông bé cái nhầm

Thiên đình náo loạn: Bá ngọ sư ông bé cái nhầm

FB J.B Nguyễn Hữu Vinh

Tại Thiên đình, sáng nay 24/9/2018, một nhóm người lố nhố đứng chờ Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Một thanh niên xuất hiện, người quản lý hỏi:

– Anh tên là Trần Đại Quang?

– Vâng.

– Anh là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam?

– Không, tôi là kẻ giết người. Tôi giết con gái người tình già trong vụ việc ở vùng ven Hồ Chí Minh. Xét xử tử hình ngày 3/2/2015, Báo Lao động đã đưa tin các ông không đọc à?

– Vậy sao mày lên được đây? Tội mày phải đày xuống địa ngục cho quỷ xé thịt chứ lên đây được à?

– Vâng, tôi đã bị đày dưới địa ngục, nhưng bỗng dưng hôm qua thấy sạch hết tội lỗi và được đưa lên đây. Tôi hỏi lại thì mới biết có một đám sư hết sức đông đảo cầu siêu cho tôi . Nhờ đám đó mà tôi được siêu thoát đấy. Tôi chưa kịp về cảm ơn họ.

– Đâu có, người ta cầu siêu cho Chủ tịch nước Trần Đại Quang chứ đâu cầu cho mày? Nhố nhăng, mày định gian lận nơi cửa Thiên đình à?

– Thưa không, rõ ràng là họ cầu siêu cho tôi, sư ông còn réo tên tôi cả ngày hôm qua. Đúng tên tuổi, ngày sinh tháng đẻ mà. Tôi có biết thằng cha chủ tịch nước là thằng nào đâu.

Cả Thiên đình náo loạn, người nọ hỏi người kia, bộ phận lưu trữ tài liệu sổ sách và Nam Tào được kêu đến.

Nam Tào hỏi:

– Mày tên tuổi gì, sinh ngày tháng năm nào?

– Tôi tên Trần Đại Quang, sinh ngày 12/10/1956 tại Hồ Chí Minh. Giết con gái người tình ngày 8.8.2013. Bị xét xử tử hình ngày 3/2/2015 tại Tòa án Hồ Chí Minh.

Nam Tào tra sổ một hồi lâu quay lại bảo:

– Bỏ mẹ, đúng là thằng này rồi, nó sinh ở Hồ Chí Minh, giết người ở Hồ Chí Minh và xử tử ở Hồ Chí Minh. Nó bị đày ở tầng địa ngục thứ 2, không được xét đặc xá.

Hôm qua 500 sư sãi tại Hồ Chí Minh cầu siêu cho Trần Đại Quang sinh ngày 12/10/1956 nên nó thoát tội được lên đây. Đúng nó rồi chứ không ai khác. Vào chỗ đi.

Đám đông nhao nhao hỏi:

– Vậy thì Chủ tịch nước của chúng tôi chờ từ sáng đến giờ đâu?

– Ở đây không có thằng nào là chủ tịch nước nhé. Chủ tịch ở đây gọi là Ngọc Hoàng nhé.

– Nhưng ông ta mới chết hôm 21/9 đây cơ mà. Trần Đại Quang cơ mà? Hôm qua hàng trăm sư sãi cầu siêu cho Chủ tịch cơ mà.

– À, Trần Đại Quang mới chết hôm 21/9 à? Sổ Nam Tào ghi rõ là nó sinh 12/10/1950. Vậy thì hôm qua bọn nó cầu siêu cho thằng kia, nó đúng tên và sinh đúng ngày 12 tháng 10 năm 1956, nó lại ở Hồ Chí Minh nên đám sư Hồ Chí Minh mới cầu siêu cho nó chứ.

Còn Trần Đại Quang sinh năm 1950 kia thì đang ở dưới tầng cuối của địa ngục. Tội của nó thì phải tập trung cả chục sư đoàn sư may ra mới cầu siêu nổi.

Thôi, giải tán, không được tập trung người trái phép nơi công cộng.

Chợt thấy nữ sĩ Hồ Xuân Hương đứng đằng xa ngâm lên câu thơ: Bá ngọ sư ông, bé cái nhầm.

Chỉ vẽ lại bản đồ Thủ Thiêm các quan chức đã chia nhau 12 tỷ USD

Chỉ vẽ lại bản đồ Thủ Thiêm các quan chức đã chia nhau 12 tỷ USD

Một người Pháp kể chuyện gặp một ông VN ở Thụy sĩ. Ông này quê mùa, ăn uống nhồm nhoàm, nói lớn như giữa chợ, trong một khách sạn sang trọng khiến mọi người khó chịu, nhưng khách sạn hết sức chiều chuộng. Vì là khách sộp, uống rượu đắt tiền như uống nước lã. Mua sắm loạn cào cào, thí dụ mua một cái đồng hồ Philippe Patek gần 200 ngàn dollars, như ta mua một ký khoai tây. Anh bạn hỏi: nghe nói VN là một xứ nghèo, tiền bạc đâu ra khủng khiếp như vậy? Rất khó giải thích cho những người bình thường chuyện VN.

Hồi Eltsine nắm quyền, tư hữu hoá nước Nga, bán đổ bán tháo các cơ sở quốc doanh cho bè đảng, người ta kể chuyện một ông mafia đỏ, mua được một khu thương mại, băng qua đường, bán lại cho người khác đang chờ sẵn, với giá gấp 100 lần giá mua. Và mua bằng tiền lèo, do ngân hàng… nhân dân, cũng là phe cánh ký giấy, hứa cho vay. Nghe chuyện, bán tín bán nghi, nghĩ chắc người ta cũng phóng đại đôi chút. Ngày nay, thấy VN còn bỏ xa chuyện làm ăn vặt ở Nga. Đúng là “top” thế giới, như các quan chức vẫn khoe khoang.

Nguyễn Văn Đua bị “tố” là đã ký một quyết định về quy hoạch Thủ Thiêm mà đã vượt quyền khi phủ nhận cả quyết định trước đó của thủ tướng chính phủ. (Hình: Youtube)

Lấy thí dụ Thủ Thiêm. Chỉ cần quen thằng vẽ bản đồ, mua vài mảnh đất (bà Ngân nói dân… hiến đất), hôm trước hôm sau có thể mua vài cái Philippe Patek tặng bạn bè.

Một thước vuông đất xây cất, gọi là đất đô thị, bồi thường 2 triệu đồng, bán giá thị trường 70 triệu, gấp 35 lần giá vốn. Một thước vuông đất nông nghiệp, mua 200 ngàn, bán 28 triệu, gần 150 lần giá vốn. Ngon nhất là được dân thương, “hiến” với giá nông nghiệp, bán với giá đô thị, 350 lần giá vốn.

Để so sánh, bạn để tiền trong quỹ tiết kiệm, mỗi năm lời trên dưới 1%. Đầu tư có thể lời hơn, 5 hay 6,7 % nhưng cũng có thể mất cả chì lẫn chài.

Chỉ vẽ lại bản đồ Thủ Thiêm các quan chức đã chia nhau 12 tỷ USD

Một tờ báo tính chỉ cần vẽ lại bản đồ, các quan chức Thủ Thiêm đã chia nhau 12.000.000.000 (12 tỷ) dollars. Bạn có tưởng tượng nổi 12 tỷ dollars mặt mũi nó như thế nào không? Chỉ tưởng tượng, chúng ta cũng không làm nổi, trong khi họ thực sự chia nhau. Có những người sống ở một thế giới khác với thế giới của người thường. Một xã hội thiên đường như vậy, quả thực rất đáng hy sinh hàng triệu sinh mạng để xây dựng và bảo vệ.

Một cuộc thăm dò cho biết đa số người Pháp không hình dung nổi một triệu Euros nó như thế nào. Nếu thăm dò ở VN, chắc con số đó rút xuống, còn 100 ngàn hay 10 ngàn dollars. Mười hai tỷ…

Tôi loay hoay tính mãi chưa ra: 12 tỷ dollars mua được bao nhiêu cái đồng hồ Philippe Patek. Chưa nói tới sửa được bao nhiêu cái trường học chuồng bò, mua được bao nhiêu sợi dây cho các cháu lội qua sông đi học.

(Nguồn FB Từ Thức)

LĂNG TẨM LÀM GÌ KHI BẢN THÂN LÀM TOÀN NHỮNG ĐIỀU Ô DANH?

LĂNG TẨM LÀM GÌ KHI BẢN THÂN LÀM TOÀN NHỮNG ĐIỀU Ô DANH?

Phong kiến là gì? Phong là phong tước, kiến là kiến địa. Từ phong kiến xuất phát từ đó. Thời kì sơ khai của xã hội loài người, khi một ông vua khai quốc lên ngôi, ông ta sẽ phong tước cho con cháu dòng họ và công thần. Đi kèm với phong tước sẽ là việc chia chác đất đai cho những người ấy, điều này người ta gọi là “phân phong”.

Việc chia chác này xem như mỗi người được phong sẽ là vua trên vùng đất của mình. Chính việc phân phong đó mà quyền lực của vua ở trung ương bị mất dần qua nhiều đời sau. Thế là một quốc gia to lớn và hùng mạnh ban đầu trở thành những quốc gia nhỏ và chúng đánh nhau liên miên. Thời kì nhà Chu trước Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa cổ đại là dạng nhà nước đó – nhà nước phong kiến phân quyền cát cứ. Loại phong kiến này đã đưa đất nước Trung Hoa bị xé nát thành từng mảnh nhỏ và kéo theo đó chiến tranh xâm chiếm suốt thời Xuân Thu – Chiến Quốc kéo dài hơn 500 năm.

Doanh Chính – Tần Thủy Hoàng là một ông vua nước Tần, chỉ là một nuớc trong rất nhiều nước thời Chiến Quốc. Ông ta có tài quân sự, đã đưa nước Tần thành một quốc gia thống nhất Trung Quốc kết thúc thời Chiến Quốc đầy chiến tranh loạn lạc. Đấy là công lớn đầu tiên của ông ta. Nhưng đó chưa phải là công lao to lớn duy nhất, ông ta còn có công xoá bỏ phong kiến phân quyền cát cứ thời Xuân Thu – Chiến Quốc và lập nên phong kiến tập quyền về sau. Thời ông chỉ có phong tước mà không kiến địa cho công thần và con cháu dòng họ. Tất cả không ai là vua con ở lãnh địa của mình, mà chỉ là thay vua quản một khu vực địa lý. Vua có thể bổ quan đi bất cứ nơi đâu chứ không phải quan là lãnh chúa ở một chỗ làm vua con như thời phong kiến phân quyền.

Từ chỗ xoá phong kiến phân quyền thiết lập phong kiến tập quyền, nước Trung Hoa mạnh lên và bắt đầu đi xâm chiếm lân bang để mở rộng bờ cõi thành nước Trung Hoa rộng lớn như hôm nay.

Tần Thủy Hoàng công lao lớn thế, nhưng ông ta rất tàn bạo. Bắt dân xây Vạn Lý Trường Thành và rất nhiều trong họ phải chết vì lao lực. Ông cũng nổi tiếng đốt sách và chôn sống những nho sĩ đương thời. Và người đời sau chỉ nhớ đến Tần Thủy Hoàng như ông vua bạo chúa mà quên đi công lao to lớn của ông ta. Mua danh ba vạn bán danh ba đồng, gây tiếng thơm cho hậu thế quả thật không dễ.

Sau nhà Tần sụp đổ, Trung Hoa loạn thời gian ngắn thì triều đại nhà Hán thay thế. Hán Cao Tổ – Lưu Bang cho xây dựng nhà nước Trung Hoa theo mô hình phong kiến tập quyền do Tần Thủy Hoàng sáng lập. Nhờ mô hình này mà nhà Hán tồn tại và phát triển hơn 400 năm (206TCN-220CN) đến thời Tam Quốc mới kết thúc. Thời cực thịnh, nhà Hán đã mở rộng và sáp nhập rất nhiều lãnh thổ về cho Trung Hoa, đến nỗi dân tộc Trung Hoa tự nhận mình là người Hán. Và tư tưởng đại Hán cũng từ đó mà hình thành. Tính đến nay, tư tưởng Đại Hán đã thấm vào dân tộc này hơn 2000 năm, nó cùng với hệ tư tưởng Khổng Giáo là thứ gần như không thể xoá được với người Trung Hoa. Ngày nay, hệ tư tưởng đó sẽ trói dân tộc Trung Hoa khó theo kịp văn minh và nó cũng là mối nguy cho khu vực.

Quay trở lại con người của Doanh Chính – Tần Thủy Hoàng. Rõ ràng ông ta là một tài năng kiệt xuất, vì bạo tàn xem thường mạng dân nên mọi công lao to lớn ấy bị người đời xem nhẹ. Và những thứ đó được Lưu Bang hưởng trọn. Cho dù ông ta – Tần Thủy Hoàng có cho xây lăng tẩm vĩ đại để mong người đời sau ghi nhớ công lao. Nhưng không! Người đời sau chỉ nhớ đến sự bạo tàn của ông ta mà thôi. Đó là lẽ thường.

Đấy là nói đến Tần Thủy Hoàng, người đầu tiên thống nhất Trung Hoa và xoá bỏ phong kiến phân quyền. Còn lãnh tụ CS thì sao? Chỉ là kẻ mang chủ thuyết lạc hậu để áp vào đất nước chả có công gì mà chỉ là tội đồ. Để mất một phần chủ quyền về tay ngoại bang làm lãnh thổ mà tổ tiên để lại bị thu hẹp. Gây chiến tranh tương tàn đẫm máu làm chết từ 2 – 4 triệu đồng bào cũng là tội ác. Một chế độ cai trị sau 1975 dù không chiến tranh nhưng rất hà khắc với nhân dân, ý đồ giáo dục ngu dân để trị, và liên tục nhượng lãnh thổ cho giặc. Duy trì sự đói nghèo và thù hằn những người đòi hỏi cải tổ chính trị cũng là điều đáng nguyền rủa. Như vậy có xây lăng tẩm to đùng thì thì dân cũng phỉ nhổ mà thôi. Đến đại công như Tần Thủy Hoàng còn không cứu nổi ô danh chứ đừng nói chẳng có công gì cho đất nước như mấy lãnh đạo CS.

Vua thời nay làm lăng mộ giữa cánh đồng lại còn to gấp 11 lần thời phong kiến

Thuong Phan and Ngo Trinh shared a post.
No automatic alt text available.
Image may contain: outdoor and nature

Hao Nguyen Dinh

“Theo một cán bộ xã Quang Thiện, khu vực dự kiến an táng thi hài cố Chủ tịch Trần Đại Quang trước đây là cánh đồng lúa của người dân nhưng đã được hợp thửa sau đó san ủi, đổ đất đá làm nền và trồng cây xanh từ mấy năm trước. Giáp với khu nghĩa trang này có một dòng sông nông giang nhỏ, nước trong xanh. Hai bờ sông (dài khoảng hơn 500 m) đã được kè đá hộc và làm ba cây cầu đá kiên cố bắc qua. Các tuyến đường gom bao quanh khu đất đều trải nhựa, lát vỉa hè bằng đá xanh. — Trích từ VN.Express.
— Với chiều dài là 500m,
— Chiều rộng bằng 1/4 chiều dài ( theo hình ảnh) sẽ là 125m.
— Diện tích khu lăng mộ là 62.000m2. Tức là 6.2 héc ta.( hình trên) Rộng gấp 11 lần diện tích lăng Khải Định là : 5.674m2.(hình dưới)
– Vua thời xưa lên tận núi làm lăng.
– Vua thời nay làm lăng mộ giữa cánh đồng lại còn to gấp 11 lần thời phong kiến

ĐỢI NƯỚC LŨ ĐẾN CHÂN, NHẢY SAO KỊP?

ĐỢI NƯỚC LŨ ĐẾN CHÂN, NHẢY SAO KỊP?

Đại ca Mẽo là người tử tế, sức mạnh toàn điện. Đại ca Chệch là tên lưu manh chuyên nghiệp, và cũng là một tay mới nổi. Thằng nhóc Việt luôn nịnh nọt đại ca Chệch nhằm tìm kiếm chỗ dựa. Đại ca Mẽo thấy nhóc Việt nghèo khó nên ưu ái. Nhưng Việt không biết trân trọng, hắn ngu ngốc nghe lời thằng lưu manh Chệch cầm dao găm thọc sườn Mẽo. Vì có võ, Mẽo phát hiện bợp tai Việt một cái cảnh cáo và đấm thằng lưu manh Chệch một phát trời giáng. Giờ tìm đâu ra sự ưu ái của Mẽo nữa hả Việt?

Đã bao nhiêu năm, Việt Nam đã buông lỏng cho doanh nghiệp Trung Cộng vào với rất nhiều ưu ái. Với dự án gọi thầu quốc tế vốn ngân sách Tàu trúng thầu đến trên 90% gói thầu EPC (thiết kế, cung cấp thiết bị, vật tư xây lắp). Điều này có nghĩa là những gói thầu công nghiệp, Trung Quốc đã trúng đến trên 90%. Như thế thì xem như nền sản xuất Việt Nam là bãi rác cho Tàu. Rất nhiều nhà máy, xí nghiệp vừa được xây lắp xong thì đắp chiếu chờ bán sắt vụn, bởi vì khâu lập dự án bọn họ không tính tới hiệu quả kinh tế mà chỉ tính đến phần lại quả để chia chác nên rước các cục nợ này về. Điều này làm cho ngân sách cạn kiệt, chính phủ tăng thuế dân bù vào cái hoang phí có tính phá hoại của đám làm kinh tế nhà nước. Đấy là hậu quả của vấn đề lệ thuộc kinh tế Trung Cộng theo định hướng chính trị của BCT.

Đã vậy, các doanh nghiệp Trung Quốc còn mượn đường Việt Nam để đi đường vòng xuất khẩu sang Mỹ tìm kiếm ưu đãi thuế. Nhưng Mỹ là Mỹ, một cường quốc kinh tế số 1 thế giới sao để nhóc con Việt Nam qua mặt? Thế là Mỹ áp thuế cao cho tất cả các mặt hàng mà họ nghi Trung Quốc mượn đường Việt Nam vào Mỹ. Điều này thể hiện một đường lối dại dột của thằng láu cá Việt Cộng. Một sự yếu kém trong quản lý vĩ mô của chính phủ ông Phúc. Kết quả, tất cả các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất mặt hàng cùng loại đều bị hoạ lây. Thế đường vào Mỹ ngày một khó khăn. Như vậy kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ có nguy cơ tóp lại làm giảm nguồn ngoại tệ chảy về Việt Nam. Điều nay kéo theo nhiều hệ lụy khác mà chính phủ bắt dân phải gánh.

Còn làm ăn với Trung Quốc được lợi gì? Có thể người Việt được hưởng hàng hóa rẻ bèo. Nhưng trong cái rẻ bèo ấy không có lợi. Vì sao?

Như ta biết, hàng công nghiệp của Tàu đã được chứng minh là xài không kinh tế. Chiếc xe Tàu mua thì rẻ, nhưng đi không an toàn, và tổng chi phí sửa chữa hết vòng đời sản phẩm có khi cao hơn xe Nhật cùng loại. Còn máy móc công nghiệp Tàu thì khỏi nói, Việt Nam nhận quả đắng rất nhiều. Cái rẻ bèo là cái nhìn thấy trước mắt, hậu quả về sau rất nặng nề. Như vậy, sự làm ăn với Trung Quốc cứ mở toang cho họ vào mà không dùng rào cản thuế hoặc các tiêu chuẩn khắc khe, sự quản lý chặc chẽ để chặn phần rác rến lại thì Việt Nam chẳng có lợi gì cả. Hãy buộc hàng Trung Cộng đúng tiêu chuẩn thì mới cho nhập vào và không được thả nổi. Việc này sẽ không khả thi, vì BCT đã chỉ đạo mở toang thì chính phủ cũng bó tay thôi.

Nói về hàng nông sản thì ngoài giá rẻ bèo, người Việt được gì? Chẳng được gì cả. Nông nghiệp nước nhà bị khốn khổ, kéo theo ngày càng phụ thuộc hàng Tàu. Khi nông nghiệp Việt không sống nổi trên đất Việt thì điều gì xảy ra? Việt Nam lại thành bãi rác tiêu thụ nông sản kém chất lượng và độc hại của Tàu mà thôi.

Chơi với Trung Cộng, không tự khắc khe thì hậu quả sẽ khó lường. Cho Tàu mượn đường xuất sang Mỹ thì bị Mỹ phạt, mở toang cửa cho Tàu thì Việt Nam cũng chết, nó giết cả công nghiệp và nông nghiệp Việt. Vậy nên, đứng giữa cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ mấy ông phải làm gì? Đã quá muộn rồi. Lẽ ra mấy ông nên chơi sòng phẳng với Tàu từ lâu thì nay không bị kẹt như vậy. Còn bây giờ không khéo, thằng Mỹ nó bợp tai thêm mấy cái vì dại dột làm tay sai cho Tàu thì hết đường gỡ. Giờ này mới nói đã muộn rồi anh Niểng.

Image may contain: 1 person

Cho đi là nhận lại.

 Cho đi là nhận lại.

Để thấy cuộc sống trên trần gian này tràn đầy ý nghĩa cao đẹp tình người, mỗi khi bạn có cơ hội được phục vụ tha nhân vô vụ lợi, bạn sẽ nhận lại nhiều được hơn những gì bạn đã cho đi. 

Câu chuyện bắt đầu từ một người nông dân nghèo tên Fleming ở Scotland. Một ngày nọ ông đang làm việc để nuôi gia đình thì bỗng nghe tiếng kêu cứu từ cái đầm lầy gần đó. Ông vội chạy đến nơi thì nhìn thấy một cậu bé bị sa lầy trong ao, sình ngập đến đầu. Cậu bé đang giãy giụa gào khóc. Người nông dân liền lập tức cứu cậu bé lên bờ.

Hôm sau, một cỗ xe sang trọng đi tới căn lều của Fleming. Một người đàn ông ăn mặc sang trọng bước ra, tự giới thiệu mình là Randolph Henry Spencer Churchill, cha của cậu bé được ông cứu sống ngày hôm qua.

Ông ta nói: “Tôi đến để cảm ơn và hậu tạ anh đã cứu mạng con trai tôi!”

Ông Fleming đáp: “Không có chi. Đây là chuyện nên làm và ông không cần phải hậu tạ, thưởng công. Tôi quyết không nhận đâu.”

Ngay lúc đó, cậu con trai khoảng 10 tuổi của Fleming bước vào lều. 

Ông nhà giàu hỏi: “Đây là con trai anh phải không?”.  “Vâng.”  Ông Fleming trả lời đầy vẻ tự hào.

Nhà quý tộc ân cần hỏi cậu bé: “Khi lớn lên, cháu muốn làm gì?” Cậu bé nhỏ nhẹ thưa: “Thưa ông, chắc cháu sẽ tiếp tục nghề làm ruộng của cha cháu.” Nhà quý tộc lại gặng hỏi: “Thế cháu không còn ước mơ nào lớn hơn nữa sao?”

Cậu bé im lặng cúi đầu một lúc rồi mới trả lời: “Dạ thưa ông, nhà cháu nghèo thế này thì cháu còn biết ước mơ điều gì nữa đây?”

Lại tiếp tục một câu hỏi chân tình: “Nhưng bác muốn biết, nếu cháu được phép mơ ước thì cháu sẽ ước mơ điều gì”

Và lần này cũng lại là một câu trả lời thật thà:  “Thưa ông, cháu muốn được đi học, cháu muốn trở thành một bác sĩ!”

Vậy thì cho phép tôi đề nghị như thế này anh Fleming: “Hãy để tôi chu cấp việc học cho con trai anh hệt như tôi đã lo cho con trai mình. Nếu con trai anh mà giống tính cha nó thì tôi tin rằng ngày sau này cậu ấy sẽ trở thành một người mà cả hai chúng ta đều hãnh diện.”

Ông Fleming nhà nghèo nghe vậy thì đồng ý.

Thế là từ đó cậu con trai của Fleming được theo học tại những trường danh tiếng và tốt nghiệp đại học Y khoa Stainte-Marie ở London. Nhờ có hoài bão lớn lao, không ngừng phấn đấu, cuối cùng tài năng của cậu cũng được cả thế giới công nhận. 

Cậu chính là bác sĩ lừng danh Alexander Fleming. 

Vào năm 1927, bác sĩ Alexander Fleming sáng chế ra thuốc kháng sinh Penicillin cứu mạng được không biết bao nhiêu người trên thế giới. Năm 1945, ông được trao giải Nobel về y học.

Vài năm sau, người con trai của ông được cứu sống khỏi đầm lầy ngày xưa bị bệnh viêm phổi. May nhờ  thuốc Pénicillin này đã cứu cậu thoát chết. Tên cậu là Winston Churchill. Sau này cậu trở thành một vĩ nhân, là người mà cả nước Anh đều tự hào và hãnh diện. Đó chính là Thủ tướng trứ danh của nước Anh — Thủ Tướng Winston Churchill.

Điều thú vị là Ngài Winston Churchill và bác sĩ tài danh Alexander Fleming là đôi bạn rất thân của nhau trong suốt cuộc đời. 

Bác sĩ Alexander Fleming mất năm 1955 tại London ở tuổi 74 và Thủ tướng Winston Churchill mất năm 1965 ở tuổi 91 tại London. Cả hai ông đều yên nghỉ trong cùng một nghĩa trang.

Điều này chứng minh rằng hành thiện nhất định sẽ gặp thiện báo. Tất cả những gì ta cho ra đều sẽ được nhận lại; những gì bạn đã cho, tặng cho người khác bằng cả trái tim thì nhất định sẽ không mất. 

S.T. 

From: ngocnga_12 & NguyenNThu