QUỶ ÁM VÀ BỆNH TÂM THẦN

QUỶ ÁM VÀ BỆNH TÂM THẦN

Lương Huỳnh Ngân, M.D

Trần Mỹ Duyệt, Ph.D

Bài viết sau đây là một chia sẻ vừa có tính cách riêng tư và cũng vừa có tính cách nghề nghiệp. Một người bạn, Lương Huỳnh Ngân, bác sỹ gia đình nhiều năm kinh nghiệm đã từng hành nghề tại Pháp và mới đây về hưu tại Việt Nam gửi tôi, với đề nghị cùng tôi chia sẻ thêm về đề tài:   

Quỷ ám hay bệnh tâm thần ?

Có một thời gian cộng đồng chúng tôi xôn xao vì chị H chia sẻ với anh chị em xin cầu nguyện cho gia đình chị. Vốn nhà chị được xây trên một miếng đất vùng ngoại ô Sài gòn khi xưa là một nghĩa địa. Bấy lâu nay chị chịu một tình cảnh vô cùng khổ sở.

Chồng chị nghiện rượu ngày nào cũng say xỉn, ăn nói bừa bãi. Điều tệ hại nhất là đứa con 14 tuổi của chị bị « Quỷ ám » . Mỗi lần chị lấy sách Thánh Kinh ra đọc là nó «quậy» phá la lớn tiếng, «bỏ ngay sách đó xuống »  …từ mấy tháng nay, giờ đến trường nó đi đâu chị cũng không biết. 

Gia đình tìm hết thầy này, thầy nọ làm phép, cầu nguyện trừ Quỷ nhưng vô hiệu. Anh chị em khuyến khích nhau cầu nguyện cho gia đình chị, xôn xao bàn tán.

Tuy ở xa nhưng tôi cũng đến thăm và với bản năng méo mó nghề nghiệp quan sát và hỏi tận tình từ đầu các hiện tượng.

Cách đây hơn hai năm cháu từng có những «cơn» ăn nói hồ đồ và nhất là bị nhà trường từ chối không nhận nữa.

Sau một thời gian được một bác sĩ tâm thần khi xưa làm việc tại bệnh viện chuyên khoa Biên Hoà chữa trị. Một thời gian theo thuốc tâm thần cháu được bình phục đi học bình thường trở lại, nhưng mỗi tháng phải lên Biên Hoà tái khám. Sau đó gia đình quá bận ngưng thuốc chữa trị. Cháu vẫn khoẻ đi học bình thường sau hai năm cháu mới có những phản ứng như nói trên.

Lúc bấy giờ gia đình không nghĩ đến tiền sử tâm thần. Trong lúc quá đau khổ vì, một đàng người chồng cũng gây rối. Đứa con gái lớn và mẹ mới nghiệm ra lý do nhà xây trên đất nghĩa địa, xin đây đó trừ Quỷ… 

Sau khi theo lời khuyên của tôi chị đem đứa trẻ trở lại Biên Hoà chữa trị vài tháng sau mọi chuyện đã ổn trong nhà và nhờ lời cầu nguyện của cộng đồng và sự bình an trở lại cho chị và đứa con gái lớn, chồng chị nay đã cai rượu, cả nhà giữ đạo sốt sắng như một gia đình Kitô hạnh phúc.

Tóm lại mỗi trường hợp khó phân biệt, người Công Giáo chúng ta có may mắn trong một giáo phận có một linh mục được Giám mục giao nhiệm vụ trừ Quỷ. Nên cố gắng tìm gặp, không phải nhất quyết để trừ Quỷ nhưng trước tiên xin giúp nhận định có phải bị Quỷ ám hay bệnh tâm thần. 

Tôi không phủ nhận có ma Quỷ và những người bị Quỷ ám. Nhất là Giáo hội ý thức điều đó cho nên thường trong giáo phận có linh muc trừ Quỷ. 

Tuy nhiên trước khi vị linh mục này can thiệp  thì biết bao nhiêu người, tiếc thay là tín hữu có những nhận định không dựa trên Giáo lý GHCG và Thánh Kinh : Sau khi chết không phải linh hồn con người muốn đi đâu thì đi, hiện về quấy nhiễu hay trợ giúp người thân !

Sau khi chết linh hồn con người chỉ có trong ba trạng thái : Sách Giáo Lý GH Công Giáo số 1022 nói rõ

– Mỗi người, ngay sau khi chết, lãnh nhận trong linh hồn bất tử của mình sự trả công muôn đời cho mình trong cuộc phán xét riêng, cuộc phán xét đó quy chiếu đời sống họ với Đức Kitô, để họ phải trải qua việc thanh luyện, hoặc họ được lập tức được vào hưởng phúc trên trời, hoặc họ lập tức luận phạt muôn đời.

 Có những trường hợp không dễ phân biệt hiện tượng do tâm lý rối loạn ; một hiện tượng tâm thần hay hay do thần dữ, hoặc Thần Linh tác động.

Tôi có một trải nghiệm khó quên sau một ngày tham dự với nhóm Thánh Linh Âu châu tổ chức tại Colmar một thành phố Pháp cạnh biên giới Đức : người thì té ngã khi linh mục trình hào quang Thánh Thể, người thì « nói tiếng lạ », người thì « cười như điên »  (Fou rire ) hay khóc không ngừng được…Tôi có học trong Đại Học y khoa một ít về thôi miên, nên thấy phương pháp hành sự khá giống.

Ra về tôi có hỏi một LM Dòng tên, ngài nói chung không nói về nhóm Thánh Linh, có một dấu hiệu rõ là thần dữ: khi đương sự nói thứ tiếng mà trước kia không bao giờ học. Thế nhưng có khi họ nói thứ tiếng mà cả mình cũng không hiểu thì khó biết !

Tôi vẫn hoang mang tự hỏi làm sao nhận định một hội đoàn, một phong trào hay một cá nhân nào dưới tác động của thần dữ hay không, cho đến khi có lời giải đáp của Đức Cố Giám Mục Mai Thanh Lương, từng có nhiệm vụ thiêng liêng tối cao đối với  người Việt ở nước ngoài. Ngài nói

« khi những người ấy hay tổ chức ấy làm cho chúng ta gần Chúa hơn là có dấu ấn của Chúa Thánh Thần,

còn ngược lại hãy cẩn thận !»

Thật vậy ranh giới giữa bệnh tâm thần và Quỷ ám rất mập mờ, nhưng sai lầm đáng tiếc thường  trong hướng bệnh tâm thần mà bó tay cho là Quỷ ám, trong lúc y khoa ngày nay có thể giúp nhiều bệnh nhân… ít nữa trong các nước văn minh.

Nói về tâm thần không thể không đề cập đến các bệnh tâm thần ở Việt nam. 

Người bác sĩ ở Pháp vốn có một chương trình đào tạo về bệnh tâm thần còn sơ đẳng đối với nghề bác sỉ đa khoa, còn ở VN thì không thể có tĩnh từ gì miêu tả sự yếu kém của đại đa số bác sĩ, được đào tạo bởi những bậc thầy chỉ tôn thờ duy vật chủ nghĩa. Tất nhiên là có một số bác sĩ giỏi về các phân khoa khác như phẫu thuật, chỉnh hình…

Cách đây 60 năm bọn trẻ quậy phá chúng tôi thường vào cuối « nhà thương » Cần thơ trêu chọc các bệnh nhân tâm thần bị nhốt như thú dữ, thì nay thấy cảnh ấy nhân lên gấp ngàn lần khi tôi đi cùng nhóm học viên lớp Giáo Lý Tân tòng Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn thỉnh thoảng lên cái gọi là «Bệnh Viện tâm thần»  gần Thủ Đức.

Hơn 1800 «bệnh nhân » bị nhốt trong hai khu nhà chỉ có khung sắt chung quanh làm tường. Đoàn Giáo Lý sinh được chia làm hai nhóm.

Một nhóm cắt tóc cạo râu những người giống như trong các phim về thời đồ đá ;

nhóm kia mang bao tay và dụng cụ sức ghẻ ngứa những người gần như trần truồng mình đầy ghẻ…

Các bạn biết trong cái «bệnh viện»  tâm thần cho 1.800 bệnh nhân ấy có bao nhiêu bác sĩ không ?

Thưa chỉ có người giám đốc có «bằng cấp» bác sĩ !

 Những gì tôi chia sẻ trên đây gần như chỉ là một biếm hoạ về ma Quỷ, anh chị và tôi xem ra ít khi phải đối diện.

Nhưng Thánh Phêrô cảnh giác hơn, có lời khuyên chúng ta : «Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma Quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé »  (1Pr5, 8)

Các chuyên gia về trừ Quỷ của Giáo Hội như cha Juan José Gallego, Dòng Đa Minh, cũng rất cảnh giác, cha là chuyên gia trừ Quỷ thuộc Tổng giáo phận Barcelona ở Tây Ban Nha.

Ngài nói kiêu căng ngạo mạn là tội mà ma Quỷ thích nhất, hình như chúng ta thường gặp hơn trong mọi cộng đồng, nhất là cộng đồng Kitô, thứ mà ma Quỷ ghét nhất.

Góp ý và nhận định

Anh Ngân mến,

 Đề tài chúng ta đang nêu lên đây là một đề tài phức tạp và tế nhị.

 Phức tạp vì nó liên quan đến hai ngành học đều mang đặc tính siêu hình gồm tâm linh học, và tâm thần học.

Phức tạp vì hễ một vấn đề nào khoa học không giải quyết được, hoặc không giải quyết đúng mức nó liền được chuyển qua cái nhìn tâm linh lệch lạc, cuồng tín, hay mê tín: điên loạn.

Nhưng theo quan niệm của người mình, hễ điên loạn, tâm thần thì dính dấp tới ma quỷ, và được gọi chung là quỷ nhập hay quỷ ám.

 Tế nhị vì khi phân tích, nhận định về đề tài này ít nhiều có đụng chạm đến tôn giáo, đến niềm tin.

Thêm vào đó, như anh nhận định về khả năng đào tạo, chuyên môn của những người mà hiện nay tại Việt Nam gọi là những bác sỹ tâm lý, bác sỹ tâm thần.

 Tuy nhiên, vì ích chung, chúng ta cũng nên một lần trao đổi với nhau với hy vọng khai quang phần nào cái nhìn về tâm lý, tâm thần, và hiện tượng thần linh.

QUỶ NHẬP

Trong thực tế có hiện tượng quỷ nhập không ?

Thưa có.  Thánh Kinh cũng viết về hiện tượng quỷ nhập (Mt 8:28-32, Mc 1:23-27, Mc 7:24-30, Lc 9:37-42).

 Theo thông thường, trong hiện tượng Quỷ nhập bao giờ cũng có hai yếu tố: yếu tố quỷ và yếu tố đối tượng của việc nhập hồn. Thánh Kinh đã trưng dẫn yếu tố con người và trong đó có trường hợp một đàn heo.

 Khi quỷ nhập vào một người, nó làm cho hành động nhân tính của người đó biến thái và bị sai khiến.

Thí dụ, la hét, cào cấu, xùi bọp mép, mắt long lanh, đỏ hoe. Hoặc nhảy vào lửa, nhảy xuống ao, nói năng thiếu kiểm soát, đôi khi nói tiếng lạ, nói những điều xem ra có vẻ tiên tri.

Nhưng sau những lúc như vậy, khi trở lại con người bình thường, người đó không còn nhớ gì những việc mình làm, những gì mình nói.

Trong tâm bệnh, hội chứng Tâm Thần Phân Liệt(schizophrenia) có thể được coi như một hội chứng liên quan đến quỷ ám.

Nó xảy ra khi bệnh nhân nói bằng những âm thanh khác lạ,hành động quái lạ, thiếu kiểm soát. Một người trước đó lịch sự, tử tế, nói năng khôn ngoan, bỗng trở nên hung dữ, ngôn từ thiếu kiểm soát, đôi khi lăng mạ và xúc phạm đến cả Thiên Chúa.

 Trong một số trường hợp, những người bị quỷ ám có thểnghe tiếng nói bảo họ giết người này người khác, hoặc làm một số hành động tội lỗi.

Những hành vi thiếu kiểm soát, những ước muốn không kiềm chế để hại chính cả mình

đều có trong những triệu chứng của Tâm Thần Phân Liệt.

 Nhưng rõ ràng nhất có thể nói về những người bị quỷ ámđó là những kẻ cuồng dâm, bạo dâm, và những hình thức dâm dục cuồng loạn, những người thờ Satan, những người tự nguyện tôn thờ Satan như các thầy bói toán, phù thủy, những người xử dụng bùa ngải, thư ếm… Tất cả họ là những môn đệ của Satan. 

 Quỷ ám có thể được biết tới qua nhiều hình thứ. Nhưng chính cốt của hành động quỷ ám là làm cho giảm giá trị, hoen ố, và phá hủy một cách tinh vi con người là tạo vật được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa. Đó là tất cả những gì mà Satan muốn làm: Chống lại Thiên Chúa qua con người là hình ảnh của Ngài.

 Tuy nhiên, những trường hợp quỷ ám lại xem ra đang gia tăng trong sinh hoạt tâm linh của nhiều người đang ở mức báo động.

Theo bác sỹ Valter Cascioli, phát ngôn viên của Hiệp Hội Quốc Tế Những Chuyên Gia Về Quỷ Ám (International Association of Exorcists, AIE), sau khi hiệp hội kết thúc phiên họp thuờng niên thứ 12 tại Roma từ 20- 25 tháng 10, 2014, những trường hợp quỷ ám đang gia tăng khắp mọi nơi. Điển hình là trò chơi cầu cơ.

 Vẫn theo ông, “Bất kỳ sự tham gia nào vào những điều huyền bí, dù là thụ động, vẫn có thể là một thảm họa và nên phải từ chối và tránh xa.”

 Giáo Lý Công Giáo, dậy rằng tất cả những hình thức bói toán nhằm biết vận mệnh tương lai, đều trái nghịch với lòng tôn kính và phó thác cho một mình Thiên Chúa. Những cách thực hành ma thuật hoặc phù thủy nhằm có một quyền hành bí ẩn đối với đồng loại, đều nghịch với đức thờ phượng như “Xem tử vi, coi chiêm tinh, xem chỉ tay, bói theo điềm hay xin xâm, dùng người ngoại cảm…” (Đoạn 2116 bản tiếng Anh (CCC) *  

BỆNH NHÂN TÂM THẦN

Là những người bị ảo tưởng, ảo giác, ảo ảnh làm lu mờ,giảm thiểu tư tưởng và ý chí tự do. Họ còn bị những triệu chứng như trầm cảm, chán nản, mất ý chí, thất vọng, tự kỷ, muốn tự tử… Tất cả những yếu tố ấy là căn tố dễ dàng cho việc quỷ ám.

Hoặc cũng có thể những bệnh nhân này bị nhầm tưởng và bị đối xử như quỷ ám.   

Sức khỏe tâm thần là gì?

Sức khỏe tâm thần thuộc về sức mạnh tâm lý và cảm xúccủa mỗi người. Có một sức khỏe tâm thần tốt sẽ giúp hướng dẫn cuộc sống hạnh phúc và những mối giây liên hệ tốt đẹp. Nó giúp con người nhận diện những dấu hiệu và khả năng thắng lướt những khó khăn trong khuôn mặt cuộc đời.

Sức khỏe tâm thần có thể ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm những biến cố cuộc đời và ảnh hưởng di truyền.

Tâm bệnh là gì?

 Tâm bệnh là một từ mang tính cách rộng bao gồm nhiều tình trạng khác nhau ảnh hưởng đến suy nghĩ và cảm tình của bệnh nhân. Nó cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng duy trì, điều hành thông qua từng ngày trong cuộc sống. Những yếu tố khác từng ảnh hưởng đến tâm bệnh gồm: 

 -genetics (di truyền)

-environment (môi trường)

-daily habits (thói quen hằng ngày)

-biology (Sinh học)

Y khoa trị liệu

Vì tâm thần là một căn bệnh như những căn bệnh thể lý, do đó, để trị liệu những căn bệnh về tâm thần, ít nhất có những loại thuốc sau:

 -Antidepressants.

-Anti-anxiety medications.

-Mood-stabilizing medications.

-Antipsychotic medications.

Mỗi loại thuốc được dùng để trị liệu một hội chứng tâm thần. Bệnh nhân có triệu chứng bực bội, khó chịu phải kê toa khác với bệnh nhân hốt hoảng, sợ hãi.

Tương tự bệnh nhân thay đổi tâm tính và thái độ phải có thuốc riêng khác với những bệnh nhân có những hội chứng muốn tự tử, nghe tiếng nói trong đầu bảo giết người này, người khác, tự nhận mình là tổng thống Hoa Kỳ, và được nói chuyện với Chúa, Phật…

Có những mũi thuốc giá hàng ngàn đô la khi cần phải chích cho bệnh nhân tâm thần. Trong các nước có ngành y khoa tân tiến, các bệnh tâm thần tuy chưa có đồng thuận 100% về nguyên nhân, nhưng đã có những phương pháp chữa trị hiệu quả cho nhiều bệnh.

 Vì thế, mỗi căn bệnh phải được chẩn đoán theo từng mức độ từ nhẹ, đến trung bình, và nghiêm trọng. Mỗi một liều lượng thuốc phải tuân theo sự theo dõi của bác sĩ tâm thần trên từng bệnh nhân. Hàng ngày bệnh nhân còn được theo dõi sức khỏe thể lý như cân đo sức nặng, áp huyết máu, và nhịp mạch tim để phù hợp với liều lượng thuốc.

Tóm lại, trong một bệnh viện tâm thần, ngoài các bác sỹ tâm thần còn có sự cộng tác tích cực trong phương pháp chữa trị hiệu quả cùng với các bác sỹ tâm lý, y tá, cán sự xã hội, và những y công làm thành một hội đồng trị liệu thường xuyên theo dõi bệnh nhân.

Bác sỹ Tâm Thần và Bác sỹ Tâm Lý

Bác sỹ Tâm Thần và Bác sỹ Tâm Lý khác nhau thế nào?

Bác sỹ Tâm Thần (Psychiatrist) là một y sỹ, một bác sỹ y khoa thực thụ với huấn luyện chuyên môn để ngăn ngừa, chẩn bệnh, và chữa trị các bệnh tâm thần. Những bác sỹ tâm thần là những nhà chuyên môn về tâm bệnh, hiểu rõ, cho toa chữa trịcác hội chứng tâm thần.

Các bác sỹ tâm thần cho toa, nhưng các bác sỹ tâm lý (psychologist) không cho toa.

Bác sỹ Tâm Lý (psychologist) là một nhà tâm lý học được huấn luyện, và đào luyện chuyên môn để thẩm định, cố vấn, và trị liệu các hội chứng về tâm lý. Họ có thể chuyên môn hơn về tâm lý. Trong khi trị liệu bệnh nhân, họ không được cho toa, nhưng có thể góp ý kiến với bác sỹ tâm thần về một bệnh nhân mà cả hai cùng chữa trị.

EM BÉ NÀY CÓ BỊ QUỶ ÁM HOẶC TÂM THẦN KHÔNG?

Qua những chi tiết được nêu lên trong câu truyện, theo tôi ngoài việc chẩn đoán và trị liệu về tâm thần, em bé cũng cần được theo dõi về tình trạng tâm lý nữa. Có thể em bị những dấu hiệu của tâm thần khiến mẹ và chị em vội vã cho là bị quỷ ám.Hoặc cũng có thể ma quỷ lợi dụng những tâm lý bất ổn của em để ảnh hưởng đến những hoạt động của em.

Tôi đưa ra nhận xét này với lý luận là nếu bị Quỷ ám thì em phải được trừ Quỷ sao lại đưa đi bác sỹ tâm thần?

Và tại sao sau thời gian uống thuốc tâm thần thì em trở lạibình thường?…

Dù sao, tôi vẫn nghĩ rằng, trong những yếu tố bệnh lý hoặc quỷ ám của em có yếu tố tâm lý.

Ở tuổi 14, một em có những phản ứng nổi loạn bằng lời nói, hành động, và những tư tưởng chống đối là chuyện bình thường. Chống đối ở nhà, chống đối ở học đường.

Tôi không biết những người trong gia đình này đã hiểu được em bao nhiêu, đã dành bao nhiêu thời giờ với em, và đã làm gì hơn là nhồi nhét vào đầu em những lý thuyết và đạo lý Thánh Kinh vừa xa vời, vừa không dễ dàng chấp nhận với tuổi trẻ.

Nếu em bị khích động la lên “bỏ ngay sách đó xuốngkhông đủ điều kiện để kết luận em bị quỷ ám.

Ngoài ra còn có thêm yếu tố gia đình.

Hỏi rằng em đi đâu sau khi rời nhà?

Nếu bị quỷ ám thật, có thể em đi vào nghĩa địa. Cũng rất có thể đi theo bạn bè, bị dụ dỗ vào con đường hút sách, và tập tành lối sống thoát ly gia đình.

Những phản ứng này là chuyện thường xảy ra cho các em ở tuổi vị thành niên trước những khủng hoảng của gia đình.

Thêm vào đó là yếu tố thuốc. Các bệnh nhân tâm thần không khác gì những bệnh nhân cao máu, cao mỡ, tiểu đường. Họ cần được theo dõi và uống thuốc đều đặn.

Một bệnh nhân tâm thần nếu sau khi rời bệnh viện mà lơ là hoặc bỏ thuốc vài tuần là căn bệnh có thể tái phát. Bởi thế, các bệnh nhân này phải được thường xuyên theo dõi và uống thuốc theo lời khuyên của bác sỹ.

Cũng có thể, sau khi xuất viện, cần được trị liệu thêm với bác sỹ tâm lý.

Nhưng tôi đồng ý với anh, ở Việt Nam lúc này kiếm được một bác sỹ tâm thần và một bác sỹ tâm lý đúng nghĩa cũng giống như “mò kim đáy biển”. Các “bác sỹ” xã hội chủ nghĩa với khả năng huấn luyện, chuyên môn, nhất là kiến thức về y khoa rất yếu. Đây không biết có phải là hậu qủa của thuyết “hồng hơn chuyên” không?

Trong khi thẩm định những bệnh nhân được đi theo cha mẹ, họ hàng qua Mỹ với dạng “tâm thần” hoặc “tâm lý”, tôi cũng khám phá ra chân lý mà anh đã tìm thấy. Đọc những bản tường trình và tiểu sử bệnh lý cũng như căn bệnh được chẩn đoán, tôi thực sự không hiểu. Chữ nghĩa và tự vựng không chính xác, lẫn lộn giữa triệu chứng và bệnh lý.

Trong những trường hợp ấy, tôi phải làm lại từ đầu, còn những tờ giấy chứng nhận với chữ ký và con dấu của bác sỹ trưởng phòng, bác sỹ tâm thần, bác sỹ chuyện khoa gì gì chỉ để trong hồ sơ lưu.

Tóm lại qua trường hợp em 14 tuổi trên, cũng như những nhận xét của anh về thành phần bác sỹ, y tá hiện nay ở quê nhà càng làm tôi thâm tín điều này là những bệnh nhân (thể lý, tâm lý, tâm thần) nếu bị một bác sỹ yếu tay nghề, thiếu khả năng chuyên môn, nhất là vô lương tâm chẩn đoán thì chẳng khác gì bệnh nhân sẽ chết dần mòn với căn bệnh đó, cùng với sự chữa trị vô cảm của người được gọi là “bác sỹ”. 

_____

*

Trường Hợp Quỷ Ám Gia Tăng Vì Trò Chơi Cầu Cơ. Trần Mạnh Trác. Vietcatholic.net. 9/11/2014

From vuisongtrendoi

Vị bác sĩ và bài học về đạo đức

Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

Vị bác sĩ và bài học về đạo đức

Chủ Nhật, 04/11/2018 

Một bác sĩ vội vàng vào bệnh viện sau khi nhận được cuộc gọi cho một ca phẫu thuật khẩn cấp. Ông nhanh chóng thay trang phục và đi thẳng vào phòng cấp cứu.

Cha của cậu bé sẽ được mổ đang đứng đợi… Khi nhìn thấy ông, cha cậu bé hét lên:

– “Tại sao ông rất lâu ông mới đến vậy? Ông có biết rằng cuộc sống của con trai tôi đang gặp nguy hiểm không? Ông không có bất kỳ ý thức trách nhiệm nào à?”

Bác sĩ mỉm cười và nói:

– “Tôi xin lỗi, tôi không ở trong bệnh viện, tôi đã đi nhanh nhất có thể sau khi nhận được cuộc gọi. Và bây giờ, tôi muốn anh bình tĩnh lại để tôi có thể làm công việc của tôi …”

– “Bình tĩnh thế nào được nếu là con trai của ông đang nằm trong căn phòng này, ông sẽ bình tĩnh được không? Nếu con trai của ông sắp chết ông có bình tĩnh nổi không?” – Cha cậu bé nói một cách giận dữ.

Bác sĩ mỉm cười một lần nữa và trả lời:

– “Tôi sẽ nói lại những gì trong sách Thánh viết: ‘Chúng ta đến từ cát bụi và sẽ trở về cát bụi”… May Mắn là tên của Thiên Chúa… Các bác sĩ không thể kéo dài cuộc sống, hãy đi và cầu nguyện cho con trai của anh, chúng tôi sẽ làm những gì tốt nhất nhờ ân điển của Đức Chúa Trời”.

– “Đưa ra lời khuyên khi ông không quan tâm luôn dễ dàng như vậy” – Cha cậu bé nghĩ thầm.

Ca phẫu thuật mất khoảng vài tiếng đồng hồ, sau đó các bác sĩ bước ra khỏi phòng phẫu thuật với những nụ cười rạng rỡ.

– “Cám ơn Chúa, con trai của anh đã được cứu !”

Không chờ đợi câu trả lời của người cha, vị bác sĩ đã chạy như bay ra thang máy và không quên nói vọng lại: “Nếu anh có bất kỳ câu hỏi nào, hãy hỏi các y tá!”

– “Tại sao ông ta lại ngạo mạn thế chứ? Ông ta không thể chờ đợi một vài phút để tôi hỏi về tình trạng của con trai tôi sao?” – Cha cậu bé nói hằn học khi nhìn các y bác sĩ còn lại .

Một cô y tá trả lời với giọt nước mắt đang rơi trên khuôn mặt:

– “Con trai ông ấy qua đời hôm qua trong một tai nạn giao thông, và ông ấy đang bận mai táng cho con trai, khi chúng tôi gọi ông ấy tới bệnh viện… Ông ấy đã cứu được cuộc sống của con trai anh và bây giờ ông ấy lại chạy đi để hoàn thành nốt việc chôn cất con trai mình”.

Rất khó để có thể đánh giá được đạo đức của bất cứ ai… bởi vì ta chưa bao giờ biết cuộc sống của họ như thế nào và những gì họ đã và đang phải trải qua ra sao.

(Sưu tầm)

Đáng kinh ngạc: Tổng thống Donald Trump nói về ân sủng Chúa hùng hồn như một linh mục đang giảng đạo

Có thật Chúa cứu ông Donald Trump?

Khi phe CH vào nhà thở cầu nguyện  – tuyệt vọng vì 90  % TV Truyền hình, báo chí nói bà Hillary  chắc chắn thắng cử 2016 ?

Vợ chồng Bill Clinton đã dọn tiệc để đãi 300 quan khách ăn mừng thắng cứ .
Báo Newsweek cho phát hành thê gioi báo mới , với trang bìa :  Hillary Clinton , Nữ TT đầu tiên nước Mỹ

Đáng kinh ngạc: Tổng thống Donald Trump nói về ân sủng Chúa hùng hồn như một linh mục đang giảng đạo

YouTube player

Hãy chụp giùm tôi…

Binh Dang is with Huong Nguyen.

Bài thơ vạch mặt những người theo đóm ăn tàn được cộng sản gởi ra hải ngoại để đánh phá những cộng đồng người Việt tự do, và cũng để chiêu dụ những người nhẹ dạ quay về thần phục cộng sản dưới dạng Việt kiều yêu nước, mang tiền về VN làm ăn.

– Hãy chụp giùm tôi…

Đừng khoe tôi, hỡi người bạn tài hoa,
Những tấm ảnh mang ra từ địa ngục,
Nơi bạn mới về rong chơi hạnh phúc,
Dù bao người vẫn tủi nhục xót xa.

Đừng khoe tôi hình ảnh một quê nhà,
Mà bạn nghĩ đang trên đà “đổi mới”,
Những thành thị xưa hiền như bông bưởi,
Nay bỗng dưng rã rượi nét giang hồ..

Đừng khoe tôi những cảnh tượng xô bồ,
Những trụy lạc giờ vô phương cứu chữa.
Đất nước đã từ lâu không khói lửa,
Sao rạc rời hơn cả thuở chiến chinh.

Đừng khoe tôi những yến tiệc linh đình,
Những phố xá ngập phồn vinh giả tạo,
Nơi thiểu số tung tiền như xác pháo,
Khi dân nghèo không muỗng cháo cầm hơi.

Đừng khoe tôi cảnh tụ họp ăn chơi,
Của những kẻ đã một thời chui nhủi,
Bỏ tất cả, trong đêm dài thui thủi,
Ngược xuôi tìm đường hướng để vượt biên.

Đừng khoe tôi những con phố “bưng biền”,
Những quảng cáo, những mặt tiền nham nhở,
Những khách sạn ánh đèn màu rực rỡ,
Trơ trẽn bày, dụ dỗ khách phương xa.

Đừng khoe tôi chốn thờ phượng nguy nga,
Những dinh thự xa hoa nằm choán ngõ,
Những màu sắc lam, vàng, đen, tím, đỏ,
Đang uốn mình theo gió đón hương bay.

Đừng khoe tôi ảnh Hà Nội hôm nay,
Thành phố đã chết từ ngày tháng đó,
Khi bị ép khoác lên màu cờ đỏ,
Khi triệu người phải trốn bỏ vô Nam.

Đừng khoe tôi những cảnh tượng giàu sang,
Đã được bạn tóm càn vô ống kính,
Những hình ảnh mà kẻ thù toan tính,
Muốn tung ra để cố phỉnh gạt người.

—//—

Bạn thân ơi, sao không chụp giùm tôi,
Nỗi thống khổ của triệu người dân Việt,
Nửa thế kỷ trong ngục tù rên xiết,
Oán hờn kia dẫu chết chẳng hề tan.

Chụp giùm tôi đàn thiếu nữ Việt nam,
Thân trần trụi xếp hàng chờ được lựa,
Hay bầy trẻ mặt chưa phai mùi sữa,
Bị bán làm nô lệ ở phương xa.

Chụp giùm tôi đôi mắt mẹ, mắt cha,
Mà suối lệ chỉ còn là máu đỏ,
Khóc con cháu ra đi từ năm đó,
Biển dập vùi, đà tách ngõ u minh.

Chụp giùm tôi số phận những thương binh,
Đã vì nước quên mình trên chiến trận,
Mà giờ đây ôm hận, ở quê nhà
Tấm thân tàn lận đận giữa phong ba.

Chụp giùm tôi hình ảnh những cụ già,
Bọn đầu nậu gom ra đường hành khất,
Để đêm đến, nộp hết tiền góp nhặt,
Đổi chén cơm dầm nước mắt nuôi thân.

Chụp giùm tôi xác chết những ngư dân,
Bị Tàu giết bao lần trên biển rộng,
Hay những chiếc quan tài chưa kịp đóng,
Chở cha, anh lao động Mã Lai về.

Chụp giùm tôi thảm cảnh những dân quê,
Chịu đánh đập chán chê dù vô tội,
Hay cảnh những anh hùng không uốn gối,
Gánh đọa đày trong ngục tối bao la.

Chụp giùm tôi mốc biên giới Việt Hoa,
Lấn vào đất của ông cha để lại,
Hay lãnh thổ cao nguyên còn hoang dại,
Lũ sài lang hèn nhát lạy dâng Tàu.

Chụp giùm tôi những nghĩa địa buồn đau,
Chúng tàn phá, chẳng còn đâu bia mộ.
Kẻ sống sót đã đành cam chịu khổ,
Người chết sao cũng khốn khó trăm đường.

Hãy chụp giùm tôi hết những tang thương,
Hình ảnh thật một quê hương bất hạnh,
Nơi mà bạn, xưa đêm trường gió lạnh,
Đã căm hờn quyết mạnh dạn ra khơi.

Chiếc thuyền con, ca nước lã cầm hơi,
Mạng sống nhỏ đem phơi đầu sóng dữ.
Rồi tha phương sống đời lữ thứ…
Tháng năm dài, quá khứ cũng dần phai.

Lòng người chóng nguôi ngoai,
Có mấy ai còn nhớ !

Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: one or more people, people sitting, shoes and outdoor
Image may contain: outdoor
Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: one or more people, people standing and outdoor
+6

GIẤC MƠ HOANG ĐƯỜNG

GIẤC MƠ HOANG ĐƯỜNG

Khi đảng phái nào nắm lực lượng vũ trang thì tựa cá nhân trong tay có thanh kiếm. Chính vì thế, trong một đất nước dân chủ, người ta phi chính hóa lực lượng vũ trang, đồng thời tách rời đảng phái ra khỏi nhà nước bằng luật pháp.

Tại Hoa Kỳ, người sĩ quan cao cấp dù là tướng 4 hay 5 sao mà còn đang phục vụ quân đội, thì không thể là người của bất cứ một đảng phái nào. Muốn tham gia đảng phái để tranh cử, anh phải rời quân đội. Việc này người ta gọi là phi chính trị hoá quân đội. Còn tại Việt Nam, thì hoàn toàn ngược lại, từ người sĩ quan quèn như cấp uý cũng là đảng viên. Ta thử đặt câu hỏi, người cầm súng mà vừa là người của nhà nước vừa là người của đảng thì anh ta hành động cho ai? Cho quốc gia hay cho đảng? Và thực tế họ luôn hành động cho đảng. Với khẩu hiệu “còn đảng còn mình” đã chứng minh điều đó.

Nói thế để chúng ta thấy, chính trị hóa lực lượng vũ trang nó nguy hiểm như thế nào. Chính lực lượng này sẽ không vì quyền lợi quốc gia mà chỉ vì quyền lợi đảng. Chỉ có như thế, ĐCS mới tồn tại bất chấp toàn dân căm ghét nó.

Xã hội dân sự là một xã hội mà trong đó, người dân có quyền tự do thành lập các hiệp hội riêng cho mình và hoàn toàn ngoài tầm kiểm soát của ĐCS. Những hiệp hội này thường là để bảo vệ quyền lợi cho một tầng lớp nào đấy, mà bảo vệ quyền lợi thì dẫn đến những yêu sách. Mà một khi yêu sách không được đáp ứng thì mâu thuẫn được đẩy lên. Và từ đó, các hiệp hội này bước một bước nhẹ là chuyển thành tổ chức chính trị đối lập. Để giữ vị thế độc tài cai trị thì tất nhiên CS phải diệt mầm có khả bằng sinh ra đảng phái. Chính vì thế mà ĐCS tìm cách loại bỏ xã hội dân sự khỏi tay người dân. Bằng cách nào? Bằng cách là họ dựng lên những hiệp hội do ĐCS điều khiển và cấm hoàn toàn những hiệp hội tự phát theo nhu cầu thực tế nhân dân. Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, Hội Nông Dân, Liên Đoàn Lao Động vv..là những hiệp hội do ĐCS dựng lên ăn thuế dân nhưng để kiểm soát nhân dân.

Như vậy để an toàn cho chế độ, ĐCS đã Cộng Sản hoá lực lượng vũ trang để giữ chắc thanh gươm, và Cộng Sản hoá xã hội dân sự để diệt mầm đảng phái. Sẽ không bao giờ CS buông bỏ 2 chân trụ này. Và đặc biệt, hiện nay công cụ tuyên truyền của đảng đã thất bại thì Cộng Sản hóa vũ trang và xã hội dân sự là 2 cái phao vững chắc để cứu đảng khỏi lung lay.

Có người lạc quan khi tin rằng, khi Việt Nam ký hiệp định CPTPP thì ĐCS sẽ buông xã hội dân sự về tay nhân dân. Bởi vì trong hiệp định này có điều khoản ràng buộc quốc gia thành viên phải có công đoàn độc lập. Mà một khi chấp nhận công đoàn độc lập cũng có nghĩa là chấp nhận xã hội dân sự. Để xã hội dân sự thuộc về nhân dân, ĐCS không bao giờ chấp nhận vì nó là nơi nảy sinh đảng phái chính trị. Chỉ vì 1 điều khoản trong hiệp định CPTPP mà gởi lòng tin ĐCS thì như thế là không hiểu cộng sản.

Còn nhớ những ngày đầu giành chính quyền, ĐCS lực còn mỏng, lúc đó trong quốc hội và chính phủ lâm thời 1946 họ chấp nhận nhiều đảng phái tham gia. Thế nhưng về sau, họ đã loại bỏ hết và dựng lên Đảng Dân Chủ và Đảng Xã Hội làm chân gỗ để diễn vở kịch nhà nước đa đảng. Vở kịch rất vụn, vì ai chẳng biết ĐCS độc chiếm tất cả? Cho nên đến năm 1980 ĐCS ra bản hiến pháp thứ 3 khẳng định vai trò độc tôn của họ trong điều 4. Thế là đến năm 1988, 2 đảng chân gỗ kia bị CS cho giải tán vì hết vai trò.

Nói thế để chúng ta biết, CS rất giỏi trò gian trá. Có thể trong điều khoản của hiệp định CPTPP buộc phải có công đoàn độc lập. Nhưng những công đoàn độc lập ấy cũng được CS dựng lên làm chân gỗ để đóng kịch nhằm đối phó với quốc tế thì sao? ĐCS đã từng dựng lên các đảng chân gỗ thì việc dựng lên những công đoàn chân gỗ thì có gì khó? CS là vậy! Tin những cam kết của họ là một cái tin ngây thơ. Hiệp định Geneve nó cũng đạp, Hiệp định Paris nó cũng dẫm nát thì đã có ai làm gì nó? CS sẽ không phi chính trị hóa lực lượng vũ trang và nó cũng không trả xã hội dân sự tay nhân dân. Chắc chắn là vậy. Mong đợi CS làm thế là kẻ đang mơ giấc mơ hoang đường.

Việt Nam trong mắt Lý Quang Diệu

Việt Nam trong mắt Lý Quang Diệu

Cao Huy Huan…

Trong thế kỷ 21, có những điều mà trong thế kỷ trước không ai nghĩ rằng sẽ có nhiều thay đổi đến vậy. Giờ phút này, một công dân trẻ như tôi ngồi đây, viết những dòng chữ này thì đất nước Việt Nam, nơi tôi đang sống, làm tôi thất vọng về trình độ phát triển. Sáng nay tôi được đọc một bản nói rằng năng suất lao động của người Việt chỉ bằng 1/5 của người Malaysia, 2/5 của người Thái Lan và tệ hơn, chỉ bằng 1/15 của người Singapore.

Singapore, một đất nước nhỏ bé về diện tích, đang ám ảnh những công dân Việt Nam ở thế kỷ 21 này. Những khu dân cư, những trung tâm thương mại, những thành phố mới được xây dựng… tất cả đều được “ăn theo” mô hình và kỹ thuật của Singapore. Nhưng tại sao lại là Singapore? Chẳng phải những mô hình, những kỹ thuật đó Singapore cũng đã học tập từ những quốc gia phương Tây tiên tiến hay sao? Tại sao từ một làng chài kém phát triển trên bán đảo Malay, Singapore đã phát triển thành một quốc gia đứng thứ 2 ở châu Á về mức sống? Câu trả lời có thể dẫn đến nhiều nguyên nhân, nhưng căn nguyên nhất vẫn là yếu tố con người.

Lý Quang Diệu, nhân vật đã thay đổi và biến làng chài nhỏ bị dịch bệnh triền miên trở thành đất nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu của châu Á. Singapore là nơi mà những kiến trúc hiện đại cùng chung sống với thiên nhiên chan hòa, nơi cả thế giới ngưỡng mộ về chuẩn mực môi trường xanh sạch, nơi có làn sóng di dân ngược từ châu Âu sang châu Á. Nhưng trong những ngày đầu lập nước vào thập niên 60 thế kỉ trước, Lý Quang Diệu, thủ tướng đầu tiên của Singapore, đã từng nói “hy vọng là một lúc nào đó Singapore sẽ phát triển giống như Sài Gòn”. Thật đáng kinh ngạc khi có một thời chính nhà lãnh đạo của Singapore đã mơ tưởng và bị ám ảnh về sự phát triển của Sài Gòn.

Còn bây giờ thì sao? Sau hơn 30 năm, chính người Việt Nam đang thèm thuồng được như Singapore ngày nay. Sau khi Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam, chính Lý Quang Diệu, người từng có tuổi thơ sinh sống tại Biên Hòa, đã nắm ngay lấy cơ hội đó để biến thời cuộc thành lợi ích cho Singapore. Sau năm 1975, tất nhiên Mỹ và phương Tây đóng cửa với Việt Nam, mọi giao thương với châu Á đều dành cho đồng minh của họ. Singapore được Lý Quang Diệu phát triển thành cảng trung chuyển đường biển lớn nhất tại khu vực. Và đúng theo quy luật về thương mại – kinh tế, Singapore được thừa hưởng những đặc quyền của một cảng biển lớn, một cửa ngõ hướng vào Đông Nam Á và cả châu Á.

Lý Quang Diệu cho rằng, cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của những nước phi Cộng sản ở châu Á. Rõ ràng là trước khi tuyên bố như thế, Lý Quang Diệu đã nhanh chóng nắm lấy cái “tiền đề quan trọng” đó để biến Singapore từ một quốc gia non trẻ kém phát triển thành một đất nước giàu có. Lý Quang Diệu nhận định rằng, sau khi Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam, lập tức những đồng minh của Mỹ ở châu Á tranh thủ thời cơ để trở thành 4 con rồng châu Á, và sau này có thêm sự xuất hiện của 4 con hổ Đông Nam Á. Bốn con rồng được nói đến là Singapore, Nam Triều Tiên, Hong Kong và Đài Loan. Bốn con hổ là Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia. Vậy Việt Nam đã biến đi đâu trong bản đồ khu vực? Và lý do gì Việt Nam lại tụt hậu một cách nhanh chóng như vậy?

Lý Quang Diệu từng nói rằng lẽ ra vị trí số một ở châu Á phải là của Việt Nam. Theo ông, vị trí địa lý chiến lược, tài nguyên thiên nhiên phong phú là hai yếu tố hàng đầu có thể đưa Việt Nam trở thành người khổng lồ ở châu Á. Ông cho rằng, đất nước Singapore nhỏ bé với diện tích và dân số chỉ xấp xỉ Sài Gòn, hoàn toàn không có tài nguyên thiên nhiên, chỉ có một ít đất để xây dựng và ngay cả nước sinh hoạt cũng phải nhập từ nước bạn Malaysia, nhưng Singapore đã phát triển trở thành đất nước có GDP cao thứ hai ở châu Á chỉ sau Nhật Bản.

Lại nói đến Nhật Bản, Lý Quang Diệu cũng chỉ ra những bất lợi của quốc gia này, đó là một quốc gia bại trận sau Chiến tranh thế giới thứ hai, không giàu tài nguyên, quanh năm động đất và sóng thần, nhưng chỉ vài năm sau khi chiến tranh kết thúc, Nhật Bản là người khổng lồ châu Á. Lý Quang Diệu cho rằng, sự thành công của một quốc gia bao gồm ba yếu tố: điều kiện tự nhiên (vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên), con người và thời cơ. Trong đó, để có yếu tố thời cơ, thì yếu tố con người phải vững và nhanh nhạy. Lý Quang Diệu đánh giá rất cao điều kiện tự nhiên của Việt Nam, nhưng ông không đánh giá cao yếu tố con người trong sự phát triển chậm chạp này.

Tôi hay đọc các bài viết trong nước ca ngợi sự thông minh, tính cần cù, chịu khó của người Việt. Xin lỗi, tôi không thấy được sự thông minh và cần cù đó. Xin nhắc lại, năng suất làm việc của người Việt Nam chỉ bằng 1/15 của người Singapore, tức là một người Singapore làm việc bằng 15 người Việt Nam. Dân số Singapore là 5 triệu dân, dân số Việt Nam là hơn 90 triệu dân. Vậy tức là năng suất làm việc của 5 triệu dân Singapore chỉ mới bằng 75 triệu dân Việt Nam, thế nhưng GDP của Singapore là gần 300 tỷ USD, trong khi GDP của Việt Nam là khoảng 170 tỷ USD. Đó chỉ là một so sánh chung chung, chưa tính đến dân số ở độ tuổi lao động của hai quốc gia. Một khi yếu tố con người đã yếu kém như thế thì yếu tố cơ hội cũng sẽ chẳng có nhiều.

Lý Quang Diệu tiếc vì Việt Nam không biết trọng dụng người tài, ông nói rằng người tài ở Việt Nam đã định cư ở nước ngoài hết rồi. Tôi đồng tình với quan điểm này của Lý Quang Diệu. Tôi thường nghe nói về cậu bé thần đồng Đỗ Nhật Nam và cũng thường xem các video thi hùng biện tiếng Anh của em. Báo chí và truyền thông Việt Nam cũng hay đề cập đến em, nhưng tuyệt nhiên không thấy có một động thái nào của chính phủ Việt Nam dành cho Đỗ Nhật Nam. Phải chăng đối với chính phủ Việt Nam, cậu bé ấy không phải là nhân tài cần đầu tư và phát triển?

Chưa kể là trong một lần phát biểu về truyện tranh, cậu bé ấy đã bị những người lớn Việt Nam công kích, chỉ vì em không thích đọc truyện tranh mà chỉ thích đọc sách khoa học. Thật trớ trêu. Đỗ Nhật Nam chỉ là một trường hợp thần đồng được báo chí ưu ái, nhưng cũng bị chính phủ thờ ơ. Vậy còn những thần đồng thầm lặng khác ở cái đất nước hơn 90 triệu dân này thì sẽ nhận được hỗ trợ gì từ chính phủ? Trong mọi sự phát triển, yếu tố con người luôn tối quan trọng. Thật đáng tiếc.

Nói thế nào đi chăng nữa, Lý Quang Diệu cũng chỉ là người ngoài, không phải người Việt Nam. Thế nhưng những nhận định khách quan của ông cũng đáng để suy ngẫm về sự phát triển của một quốc gia nhiều thuận lợi như Việt Nam.

Tôi thường thấy Việt Nam rất tự hào về lực lượng lao động trẻ với giá nhân công rẻ của minh. Tôi cảm thấy đó là một điều đáng xấu hổ. Giá nhân công rẻ chẳng qua là do trình độ, tay nghề kém nên chẳng thể đòi hòi được trả công cao.

Gần đây, quốc gia láng giềng với GDP thấp hơn Việt Nam là Campuchia cũng đã tự chế tạo được xe hơi. Ngược lại, các doanh nghiệp Việt Nam chưa thể sản xuất nổi một con đinh vít chất lượng cao hay cái sạc pin, usb và ngay cả vỏ nhựa cho điện thoại di động.

Tất nhiên, Việt Nam đã đánh mất cơ hội gia công cho nhiều hãng xưởng, công ty nước ngoài. Việt Nam còn sẽ đánh mất nhiều cơ hội như thế cả về quy mô và số lượng nếu cứ tiếp tục tự hào với những cái thuộc về quá khứ và không nhận thức được một cách thấu đáo và nghiêm túc rằng mình đang ở đâu trên bản đồ khu vực và thế giới. Lý Quang Diệu nói phải mất 20 năm nữa Việt Nam mới bằng Malaysia, vậy thì 20 năm nữa Malaysia sẽ phát triển ra sao và mãi mãi người Việt Nam sẽ bị ám ảnh bởi sự thua kém của mình hay sao?

THẾ GIỚI KHÔNG CẦN ANH HÙNG – HO CẦN KỸ THUẬT & TAY NGHỀ GIỎI!!!

Image may contain: 1 person, text and closeup
Image may contain: 1 person, text

ĐỜI NGƯỜI LÀ GIẤC MỘNG.

Hoa Do shared a post.
Image may contain: one or more people, people standing and indoor
Hung Huynh

ĐỜI NGƯỜI LÀ GIẤC MỘNG.

Một nhà doanh nghiệp rất nổi tiếng, có thói quen rất lạ, cứ cách một thời gian, ông lại dẫn theo vợ con đến lò hỏa táng để xem. Có người không hiểu, hỏi ông nguyên do. Ông nói rằng, chỉ cần đến nơi hỏa táng, cái tâm nóng nảy sẽ rất mau chóng an tĩnh lại, thấy danh lợi tiền tài thật nhẹ nhàng.

Ở nơi hỏa táng này, không kể bạn là quan to, quý tộc, quyền cao chức trọng, uy danh hiển hách hay là một người dân bình thường, nghèo rớt mồng tơi không ai biết đến, cuối cùng đều sẽ phải đến đây, chung một tư thế nằm xuống bất động, sau đó bị đưa vào bên trong lò hỏa táng đang bốc cháy ngùn ngụt, khi trở ra lần nữa, thì chỉ là một chiếc hộp vuông nho nhỏ được bọc trong tấm khăn.

Khi đến chẳng mang theo thứ gì, khi đi chỉ như một làn khói. Ngẫm lại đời người thật đơn giản vậy! Vinh hoa phú quý rồi cũng thoáng qua theo ngày tháng, ân ái tình thù rồi cũng trở về với cát bụi.

Hôm nay chúng ta sống trong một thế giới đầy vật chất, dục vọng bởi những cám dỗ mê hoặc: quyền lực, địa vị, tiền bạc, mỹ sắc, ăn ngon mặc đẹp…, dễ làm cho con người trở nên ngông cuồng, ngạo mạn, đam mê và tư lợi.

Khi bạn cảm thấy hiện thực và ước mơ có sự chênh lệch, khi bạn cảm thấy không kiềm chế được tâm ân oán tình thù, hơn thua được mất , thủ đoạn với danh lợi, quyền thế mà mưu tính hại nhau…, sao bạn không thử đi đến nơi lò hỏa táng, nhìn ngắm thật kỹ nắm tro tàn, là cái còn lại của một kiếp người, rất có thể đó là người mà bạn mới vừa trò chuyện đầy ngưỡng mộ và say mê vài hôm trước… lúc đó bạn cảm thấy nhẹ nhàng hơn nhiều với những áp lực đang đè nặng nơi tâm hồn của bạn chỉ là cái phù hoa.

NGUYỄN HỌC

(St 1/11/2018)  

CHỌN LỰA CHÍNH TRỊ CỦA ÔNG NGÔ ĐÌNH NHU.

Image may contain: 2 people, people smiling, child, closeup and outdoor
No automatic alt text available.
Image may contain: outdoor and nature
Image may contain: outdoor
Image may contain: 2 people, text
Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng.

CHỌN LỰA CHÍNH TRỊ CỦA ÔNG NGÔ ĐÌNH NHU.

Hoà Giang Đỗ Hữu Nghiêm

Phần 2: Ngô Đình Nhu (1910-1963): Một nhà chiến lược

Đăng trên trang FB: Lm. Lê Ngọc Thanh

Những người làm việc và tìm hiểu kỹ lưỡng về ông Ngô Đình Nhu đều nhận thấy một điểm son trong cuộc đời chính trị của ông là tuy ông không hể nắm giữ một chức vụ quan trọng của quốc gia, nhưng hầu như cương lĩnh và tồ chức chính trị cơ bản của chế độ Việt Nam Cộng Hòa I (1954-1963) đều chủ yếu do ông dàn dựng ở cương vị làm cố vấn chính trị cho Thủ Tướng rồi Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Vì thế tìm hiều sự nghiệp của ông, người ta chú trọng nhiều đến những thành tựu chính trị hạ tầng trong việc hình thành các cấu trúc quốc gia của Việt Nam Cộng Hòa I: Chủ nghĩa nhân vị, chính đảng Cần lao Nhân vị và chính sách ấp chiến lược (khu trù mật, dinh diền, …).

Theo ý kiến ông Minh Võ, ông Cao Xuân Vĩ, dầu sao Võ Nguyên Giáp không thể sánh được với Ngô Đình Nhu. Còn Phạm Văn Đồng thì không đáng là học trò Ngô Đình Nhu.

Ông Cao Xuân Vĩ cho biết liền khi cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ ngày 19/12/1946. Lúc ấy ông Hồ và đại bộ phận Việt Minh chạy lên Việt Bắc kháng chiến thì nhóm ông gồm 36 trí thức và thanh niên sinh viên tranh đấu chạy vào khu Tư, vùng Thanh Nghê Tĩnh, để cùng với một số Việt Minh ôn hòa lập một phòng tuyến mới phi cộng sản chống thực dân và giúp dân mở mang về kinh tế và văn hóa. Có thể nói Liên Khu Tư lúc ấy như là một khu tự trị.

Mãi cuối năm 1953, Cao Xuân Vĩ vào Sài Gòn mới gặp lại Trần Chánh Thành và Ông Thành giới thiệu Cao Xuân Vĩ với ông Nhu. Ông Thành vào Sài Gòn năm 1952 cùng một lượt với phần lớn trong số 36 trí thức đã vào Liên Khu Tư để kháng chiến chống Pháp nhưng bất hợp tác với Việt Minh. Lúc gặp lại Cao Xuân Vĩ, thì ông Thành đang làm cho tờ báo Xã Hội của ông Nhu, đồng thời tập sự luật sư với Luật Sư Trương Đình Du.

Khi làm Cố Vấn, Ông Ngô Đình Nhu chỉ có một mình thiếu tá Phạm Thu Đường làm chánh văn phòng, thường được gọi là chánh văn phòng ông Cố Vấn. Và dưới quyền thiếu tá Đường chỉ có 5 nhân viên, hầu hết tự túc. Không có ngân khỏan nào dành cho ông Cố Vấn.

Và phải nói thực khó hiểu là chính chức Cố Vấn này cũng chẳng được một văn kiện nào bổ nhiệm hay quy định nhiệm vụ. Thực tế ông Nhu chỉ giúp việc cho riêng ông Diệm với tư cách là phụ tá cho Tổng Thống. Người ta thấy việc ông làm thì gọi ông là Cố Vấn vậy thôi. Vì thế ông không có quyền hạn và nhiệm vụ gì chính thức.

Chủ Nghĩa Nhân Vị Thời Việt Nam Cộng Hòa I (1954-1963).

1.

Theo GS Tôn Thất Thiện, những khảo sát bổ sung, công phu và nghiêm chỉnh về sau của Ông Nguyễn Ngọc Tấn góp phần làm sáng tỏ giai đoạn lịch sử 1954-1963, thời gian ông Diệm cầm quyền. Những khảo sát này làm rõ những điểm cơ bản của Chủ Nghĩa Nhân Vị Việt Nam Công Hòa I. Trong 40 năm qua, có những tác giả viết về Chủ Nghĩa Nhân Vị dưới khía cạnh khoa học, nhưng có lẽ chưa đánh giá về tầm quan trọng của nó như là một chủ thuyết chính trị, dù chủ thuyết này trong thực tế đã khai sanh ra chế độ Việt Nam Cộng Hòa I.

Đây quả đúng là một vấn đề lịch sử chưa được trình bày một cách có hệ thống trong thế kỷ qua. Chủ thuyết ấy cần được khảo luận, cân nhắc kỹ lưỡng, phê phán công bình, khách quan và bình thản, xác định những tiêu cực và tích cực trong quá trình thực hành để trả lại sự thật chính xác của giai đoạn lịch sử ngắn ngủi, nhưng oanh liệt của dân tộc Việt Nam, nhất là nhân dân sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa I (1954-1963).

2.

Người ta có thể đặt ra mấy vấn đề chính là:

– Mục đích của Chủ Nghĩa Nhân Vị.

– Bản chất Chủ Nghĩa Nhân Vị được hiểu thế nào?

– Chủ Nghĩa Nhân Vị được quan niệm làm cương lĩnh cách mạng quốc gia thế nào và thể hiện bằng các đường lối chính sách nào?

– Về triết học Chủ Nghĩa Nhân Vị có phải là một thuyết ngoại lai hay thế hiện đặc tính văn hoá Việt Nam?

Trả lời các câu hỏi trên là đặt nền tảng để thẩm định phẩm chất lãnh đạo và những đóng góp lịch sử của tổng thống Ngô Đình Diệm trong 9 năm cầm quyền…. Chương khảo luận của tác giả Hoàng Ngọc Tấn “Chủ Nghĩa Nhân Vị, Con Đường Mới, Con Đường Của Tiến Bộ” có nhiều dữ kiện, suy đoán, và phân tích tỉ mỉ, khiến người đọc phải đọc kỹ và nghiền ngẫm, khảo chứng từng chi tiết.

Luận đề này đề cập đến một số khía cạnh độc giả cần đặc biệt quan tâm.

Mục Đích Của Chủ Nghĩa Nhân Vị

Trong tình hình chia cắt hai miền Bắc Nam dưới hai chế độ khác nhau vì ý thức hệ khác nhau. Miền Bắc theo ý thức hệ chủ nghĩa Cộng Sản, nên miền Nam muốn được đầu với chế độ chủ trương đấu tranh giai cấp theo chủ nghĩa Cộng sản, thì miền Nam cũng phải xây dựng xã hội theo một ý thức hệ ưu việt để đối kháng lại. Theo tác giả Nguyễn Đức Cung[23].

Ngày 8/1/1963, trong cuộc nói chuyện với học giới gồm nhiều học giả trí thức, giáo sư đại học, giáo sư trung học và cán bộ tại Trung Tâm Thị Nghè, Ông Ngô Đình Nhu xác định:

“… mình đánh nhau với Cộng Sản, bây giờ Cộng Sản nó đánh mình với một Ý thức hệ, mà chúng ta không có một ý thức hệ cứng rắn, rõ ràng trong tâm trí chúng ta để đối lại, để có lẽ sống mà đối phó với đảng Cộng Sản thì chúng ta sẽ bị ý thức hệ Cộng Sản lan tràn lung lạc…”

Ông nói tiếp:

“Muốn phục vụ con người trong xã hội, thì con người đó phải tiến, xã hội đó phải tiến. Nhưng xã hội chỉ tiến được với nhữhng con người ý thức nhiệm vụ. Cho nên, trên nguyên tắc, chúng ta phải nhìn nhận rằng cần phải có một ý thức hệ tiến bộ. Ý thức hệ chúng tôi chủ trương là ý thức hệ Nhân Vị.” (Nguyễn Văn Minh, sđd., t. 421).

Bản Chất Đích Thực Của Chủ Nghĩa Nhân Vị

3.

Về bản chất Nhân Vị, theo chính tài liệu ông Diệm giải thích:

Về Nhân Vị là gì:

Nhân và Vị là hai học thuyết Nho giáo. Nhân 仁 do chữ Nhân 人 và chữ Nhị 二 hợp thành (仁) có nghĩa là lòng thương người, đạo lý làm người; Vị 位 do chữ Nhân 人 và chữ Lập 立 hợp thành (位) có nghĩa là người có cái vị trí của họ, đứng giữa và ngang hàng với Trời và Đất. Hai chữ này kết hợp lại, diễn đạt ý tưởng nói về phẩm giá cao quí của con người và vị trí của con người trong cộng đồng nhân loại và trong vũ trụ.

Đó là tương quan chặt chẽ của ba yếu tố vũ trụ (Thiên Địa Nhân) trong triết lý Tam Tài truyền thống của Phương Đông.

Một cách giải thích khác tương tự như trên về Chủ Nghĩa Nhân Vị theo lối phân tích của Lm. Bửu Dưỡng:

“Nhân là người. Vị là thứ bậc. Nhân Vị là tính cách con người sống đầy đủ con người theo thứ bậc của mình. Theo nghĩa đó hai chữ nhân vị đầy đủ hơn chữ Personne Humaine của Pháp ngữ, vì hai chữ Personne Humaine nhấn mạnh đến ý nghĩa của chữ nhân mà ít chú trọng tới vị. Cần phải hiểu ý nghĩa đày đủ của hai chữ. Nhân là sống đầy đủ con người. Vị là sống đúng theo thứ bậc của mình trong những tương quan với người khác và vạn vật. Như vậy thì quan niệm về nhân vị tùy thuộc quan niệm về con người và quan niệm các tương quan.”

Theo cách nói của LM. Nguyễn Thái, đúng là phải trải qua kinh nghiệm ngàn năm dựng nước, giữ nước và cứu quốc, ông bà tổ tiên Việt Nam mới để lại cho con cháu cái bí quyết thành công qua thành ngữ “Thiên thời địa lợi nhân hòa”. Thành ngữ này dựa trên quan niệm của Khổng Tử lấy ra từ Kinh Dịch diễn tả tương quan hòa đồng biện chứng giữa Trời, Đất và Người, qua lý tưởng Thái Hòa. Được giáo dục bởi nền văn hóa Nho Giáo, hai anh em cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu đã hệ thống hóa tư tưởng nhân bản nho học lại thành một chủ thuyết lấy tên là “Chủ Nghĩa Nhân Vị”.

Trong bài phát biểu mới đây, nhân dịp tưởng niệm cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Lm. đã phát biểu:

“Sống với Nhân Vị là sống với lòng yêu thương như tổ tiên đã dạy: “Thương người như thể thương thân”. Chủ Nghĩa Nhân Vị là đạo lý làm người, là sống cho ra cái phẩm giá cao quý của con người. Đó là sống với chữ tâm của “Tiết trực tâm hư”, chữ tâm như cụ Nguyễn Du đã khuyên dạy: “Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.” Đó là phải biết đặt mình hòa hợp vào đúng vị trí của mình đối với Thiên Chúa [Trời] – Thiên; đối với Tổ Quốc, Quê Hương, Đất Nước – Địa; đối với Nhân Dân, Đồng Bào – Nhân.”

Ông Ngô Đình Nhu giải thích:

“Về tư tưởng Nhân vị có nhiều thứ. Có thứ họ căn cứ vào một tin ngưỡng hữu hình, một tin ngưỡng chắc chắn, căn bản. Có thứ lại nhuốm phần nào vô thức… Ý thức hệ Nhân vị chúng tôi chủ trương nó rất rộng rãi và không cần phải đi sâu vào các đạo giáo… Tất cả các đạo giáo, tất cả các triết lý khác, có thể cùng đi với chúng ta được trong ý thức hệ đó…”

Chủ Nghĩa Nhân Vị là một triết thuyết đề cao địa vị và phẩm giá của con người trong tương quan với vũ trụ, Trời và Đất, với người khác trong xã hội. Chủ nghĩa Nhân Vị cho rằng bản vị con người có một nhân phẩm tối thượng, nên mọi sinh hoạt trên đời đều được tập trung và phải là phương tiện qui hướng đến mục tiêu phục vụ con người. Chủ nghĩa Nhân Vị lấy Con người biết tu thân (vừa tĩnh vừa động) làm nền tảng để giải quyết các mâu thuẫn trong sinh hoạt của con người.

Nguồn Gốc Hình Thành Chủ Nghĩa Nhân Vị VNCH I

Về quá trình hình thành, chắc chắn khi học ở bên Pháp trong thập niên 1930 thanh niên Ngô Đình Nhu đã tiếp xúc với tư tưởng và có thể chính con người năng động của Emmanuel Mounier, nhưng một người sắc sảo như Ngô Đình Nhu không hấp thụ tư tưởng Chủ Nghĩa Nhân Vị một cách thụ động, nô lệ, ngoại lai, mà đã tinh chế cho phù hợp với văn hóa truyền thống Việt Nam. Chủ Nghĩa Nhân Vị của các ông Diệm, ông Nhu không thuần túy là Chủ Nghĩa Nhân Vị của Mounier, là của Công Giáo. Những lời phê bình này có thể chứa đựng một chủ đích chính trị nào đó, hay chưa tìm hiểu thấu đáo về Chủ Nghĩa Nhân Vị.

Trong số những người phê bình theo chủ đích chính trị có những người, theo Nguyễn Ngọc Tấn, như Nguyễn Thái. Trong tác phẩm “Is South Vietnam Viable?”, ông nói rằng ông Nhu đã say mê thuyết dân chủ xã hội dựa trên lòng bác ái và giá trị nhân bản mang danh “Personnalisme” của Emmanuel Mounier, và mối liên hệ của Chủ Nghĩa ấy với xã hội mà ông Nhu cổ võ chẳng có gì là mới mẻ, và “Personnalisme” cũng chẳng có gì xa lạ vì trong một trường phái triết học Pháp trong đó có Emmanuel Mounier và Jacques Maritain để hết mình cổ võ cho nó…

Thưc ra trên đời không có gì mới mẻ, nhưng mới mẻ là cách vận dụng nó có phù hợp vói thời đại không và được thời đại đó chấp nhận không?

Nhà sử học Robert Scigliano, sau khi nghiên cứu chủ nghĩa Nhân Vị Việt Nam Công Hòa I đã ghi lại:

“Chủ Nghĩa Nhân Vị nhấn mạnh đến sự điều hòa những ước vọng vật chất cũng như tinh thần của cá nhân với các nhu cầu của cộng đồng và các nhu cầu chính trị của quốc gia. Nó nhằm tìm kiếm một con đường trung dung giữa chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể mác-xít.”

Mới đây tác giả Jean-François Petit nghiên cứu quá trình hình thanh tư tưởng E. Mounier (1905-1950). Ông thấy Mounier là một trong những khuôn mặt trí thức Pháp thuộc thế kỷ XX. Theo J.F. Petit, căn cứ vào nhiều tài liệu ông viết, trong suốt quá trình suy tư và hành động, E. Mounier có xu hướng muốn dung hợp nhiều luồng tư tưởng triết học và thần học khác nhau. Mounier chịu tác động tư tưởng triết học từ Descartes, Pascal và Bergson, đồng thời quan điểm thần học từ linh mục Guerry.

Khi học tại Paris, ông tỏ ra thất vọng, vì ông không thành công xác định một nền giáo dục thiên về chủ nghĩa duy tâm và duy lý của Trường Đại Học Sorbonne và một nền thẩn học bị tác động do cuộc khủng hoảng duy tân hiên đại.

Luận đề của ông về triết thuyết thần bí thất bại. Vì thế ông chuyển hướng thiết lập một triết học riêng biệt, tách rời khỏi tư tưởng có màu sắc tôn giáo.

Nhưng khi đọc những tư tưởng của Péguy, ông chuyên chú đến các tương quan giữa yếu tố thiêng liêng và yếu tố trần thế. Sau cùng tiếp xúc gặp gỡ Landsberg, ông tỏ ra nhạy cảm thấy người ta phải dấn thân. Xu hướng hiện sinh ấy khiến ông từ chối nền thần học Kitô giáo. Từ đó nảy sinh ra quan niệm triết học về nhân vị và cộng đồng, có hơi hướng tư tưởng Augustin từ thế kỷ thứ tư thuộc Công nguyên.

Paul Ricoeur xem tư tưởng Mounier là dấu ấn triết học chuẩn mực, nhưng không phải là đối tượng nghiên cứu có hệ thống theo giác độ này, mạc dù tư tưởng Mounier có tầm ảnh hưởng lớn lao lên các lãnh vực triết học, thần học, chính trị và sư phạm. Công lao của tác giả J. L. Petit là xác định rõ nguồn gốc tư tưởng Mounier bằng nhiều văn bản chưa được xuất bản.

Theo quan điểm nghiên cứu của E. Miller khi tiếp xúc với nhiều người Việt Nam sau nau 30/4/1975, thì khi Ngô Đình Nhu từ Pháp về lại Đông Dương, ông say mê chủ nghĩa nhân vị, tin tưởng rằng tư tưởng của Mounier có thể vận dụng nhuần nhuyễn vào hoàn cảnh Việt Nam. Sau năm 1945, chủ nghĩa Nhân vị có thể là “con đường thứ ba” để phát triển xã hội là điều Ngô Đình Nhu gắn bó.

Trong nhãn quan Ngô Đình Nhu, tư tưởng Mounier bác bỏ cả chủ nghĩa tự do cũng như chủ nghĩa cộng sản là vấn đề chính trị cho Lực lượng thứ Ba do Ngô Đình Diệm đang đề xướng. Ngô Đình Nhu cảm thấy người anh của mình đang lĩnh hội tư tưởng của ông qua việc Ngô Đình Diệm nhận xét và bài viết trong giai đoạn này nhắc đến nhiều chi tiết của thuật ngữ chủ nghĩa Nhân vị.

Những nghiên cứu của E. Miller cũng xác định từ tháng 4 năm 1952, Ngô Đình Nhu phác thảo quan điểm về chủ nghĩa Nhân vị trong bài nói chuyện tại trường Võ Bị Đà Lạt vừa thành lập. Ông thừa nhận rằng khái niệm nhân vị ban đầu là một tư tưởng Công giáo, nhưng nhấn mạnh rằng nó mang tính thích hợp và hữu dụng phổ quát, đặc biệt là cho một đất nước bị chiến tranh tàn phá như Việt Nam.

Phát biểu với một cửa tọa mà đa số là những người không Công giáo có mặt trong cuộc nói chuyện này, ông tuyên bố rằng “… ưu-tư của người Công-giáo cũng chỉ như một tiếng dội đáp lại những nỗi ưu-tư ở tâm-hồn bất-mãn của các ông vậy.” Ông Nhu lập luận rằng, tất cả người Việt Nam thuộc mọi phe phái chính trị và tôn giáo, nên cùng nhau nhất trí bất thần và mãnh liệt” để bảo vệ nhân vị chống lại các thế lực đang đe doạ tiêu diệt nó.

Trong số những người chưa nghiên cứu đầy đủ về Mounier, có thể kể một nhà biên soạn nổi tiếng là ông Nguyễn Gia Kiểng. Gần đây, trong một bài phê phán ông Ngô Đình Diệm, ông viết:

“Nếu dựa trên những gì ông Nhu đã viết về chủ nghĩa nhân vị thì có thể nói là chính ông cũng chỉ hiếu lơ mơ Có lẽ ông đã du nhập chủ nghĩa nhân vị vào Việt Nam vì lý do là lúc đó nó được coi là giải pháp Thiên chúa giáo cho hòa bình Công giáo của thế giới. Nó có tham vọng là một vũ khí tư tưởng chống lại chủ nghĩa cộng sản. Trên thực tế, nó là một bước lùi lớn, gần như một sự đầu hàng, bởi vì nó phủ nhận cá nhân, cốt lõi của dân chủ”.

4,

Người ta có thể bác bỏ dễ dàng những luận điểm và nhận định sai lầm nặng nề cùng những phê phán hời hợt trên đây. Căn cứ vào những trích dẫn tuyên bố, phát biểu trực tiếp của các ông Diệm-Nhu, và nhiều khảo luận của học giả Việt Nam có uy tín, người ta chứng minh Chủ Nghĩa Nhân Vị là một lý thuyết chính trị mang một bản sắc dân tộc rõ rệt.

Hơn nữa nhiều học giả như Lương Kim Định, Nghiêm Xuân Hồng và Đinh Văn Khang với biện chứng mạch lạc rõ rệt, khẳng định Chủ Nghĩa Nhân Vị (Tâm linh, Đông phương) của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, bắt nguồn từ nền tảng văn hóa Việt Nam, không thể lầm lẫn với Personalisme của Mounier (Duy tâm Tây phương) được. Không còn nghi ngờ gì nữa, vì mọi việc đã được sáng tỏ và những nghiên cứu lịch sử cho phép ta kết luận Chủ Nghĩa Nhân Vị do hai ông Diệm-Nhu chủ xướng mang bản chất văn hóa và chính trị Việt Nam.

Theo dẫn chứng của tác giả Nguyễn Ngọc Tuấn, nhiều tuyên bố của ông Diệm và ông Nhu ở những hoàn cảnh khác nhau có thể minh chứng xác quyết sự thật đó, như:

– “Nhắm mắt bắt chước nước ngoài khác gì nhận trước sự bảo hộ của ngoại bang”

– “Chủ thuyết [Nhân Vị] đặt nền tảng trên quan niệm tôn trọng phẩm giá con người và đẩy mạnh sự phát triển đến mức độ cao nhất. Quan niệm này… ở ngay trong truyền thống dân gian Việt Nam.

– “Tôi phải nói ngay rằng: Chủ Thuyết Nhân Vị của tôi chẳng có dính dáng gì đến cái Nhân Vị Công Giáo đang được giảng dạy bởi các tổ chức Công Giáo tại miền Nam Việt Nam… Hiện nay cái học thuyết nhân vị mà tôi cổ võ là một nền dân chủ đấu tranh trong đó tự do không phải là một món quà của ông già Noel, nhưng mà là kết quả của một cuộc chinh phục bền bỉ và sáng suốt trong đời sống thực tế, không phải trong một khung cảnh lý tưởng, mà trong những điều kiện địa lý chính trị đã được định sẵn“.

Như thế, giải pháp Nhân Vị mà ông Diệm và ông Nhu đã cổ võ 40 năm về trước chính là mô hình xã hội dân chủ nhân vị đã được thể nghiệm ở miền Nam từ 1954 đến 1963, có mấy đặc điểm:

– Hoạch định một chính cương thống nhất, lấy chủ nghĩa nhân vị làm nền tảng, phù hợp với văn hóa Việt Nam làm căn bản hướng dẫn cả nước đi lên

– Định hướng dân chủ trên thượng tầng cấu trúc xã hội dân sự.

– Vận dụng một nền kinh tế thị trường có điều hòa uyển chuyển của một chính phủ nhắm đến phúc lợi từng cá nhân và cho chung cho cả cộng đồng xã hội.

– Thực hiện có điều tiết dần dần tính công bằng xã hội và nền dân chủ đa nguyên thực sự ở hạ tầng cơ sở qua các chính sách đất đai dinh diền, ấp chiến lược, khu trù mật.

– Kiến tạo hòa bình, ổn định, đoàn kết, trong tình trạng thực tế có hoạt động chính trị kết hợp với vũ trang của chế độ Cộng Sản miền Bắc Việt Nam lúc đó.

Chủ nghĩa Nhân Vị chỉ được thể nghiệm trong một thời gian ngắn ở Miền Nam Việt Nam, nhưng xét theo lý thuyết khoa học, Chủ Nghĩa Nhân Vị có một giá trị đóng góp lâu dài và quan trọng vào công cuộc phát triển con người nói chung và đặc biệt tại các quốc gia nghèo đói hiện nay.

Sử gia Henry Fairbanks tóm lược toàn sự thật lịch sử bằng lời lẽ khách quan, trong một bài báo tựa đề “The Enigma of Ngô Đình Diệm”, được đăng trong tờ Commonweal như sau:

“Ông Diệm tìm kiếm và khôi phục lại những giá trị cổ truyền làm nền tảng cho giải pháp canh tân xứ sở trong khi đó những người khác lại đi tìm những học thuyết ngoại lai… Dù sao đi nữa, Ông ta vẫn là một người có cái nhìn sâu sắc về tương lai. Cả thế giới này đều yêu mến các chiến sĩ dũng cảm và ai ai cũng phải nể trọng những kẻ đeo đưổi một lý tưởng cao cả nào đó. Ông Diệm ao ước thực hiện một nhà nước được xây dựng trên những giá trị cổ truyền tốt đẹp nhất của Á Châu và Tây Phương, những đặc điểm đúng đắn và khả thi nhất để phục vụ quyền lợi chung và tôn trọng nhân phẩm. Ông Diệm cho rằng Xã Hội Chủ Nghĩa và Tư Bản Chủ Nghĩa đều là những học thuyết cực đoan cần có một hình thức trung gian, một lực lượng đứng giữa, nhằm tổng hợp được những giá trị ưu tú nhất của cả hai để phục vụ cho lợi ích chung: Công bằng đối với người này là tự do của kẻ khác, cũng như loại bỏ độc tài toàn chế và tinh thần vô trách nhiệm của Chủ Nghĩa Cá Nhân.”

Sự điên đảo của xã hội hiện nay là thay vì đầu đội Trời, chân đạp đất, tay ôm lấy nhau trong tình người thái hòa thì người ta đảo lộn tất cả!

– Thiên là Trời cũng chẳng còn biết kính trọng nữa, mà:
“Tiền là tiên là Phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già.”

“Ông Trời hãy dẹp một bên, để cho nông hội tiến lên làm Trời!”

– Địa là quê hương, tổ quốc, đất nước, nhưng ngày nay thì:

“Tổ quốc với chẳng tổ cò
Nơi nào no ấm ta dò ta bay”.

– Còn Nhân (con người) với nhau thì coi nhau như lang sói, đầy đấu tranh, tham nhũng:

“Thanh cha, thanh mẹ, thanh dì
Hễ có phong bì thì lại thanh-kiu”.

So sánh với thực tại cá nhân và xã hội Việt Nam ngày nay, người ta mới thấy rõ hơn tính ưu việt của Chủ Nghĩa Nhân Vị lấy tương quan Trời Đất Người làm nền tảng xây dựng xã hội con người. Chủ Nghĩa ấy đối kháng rõ rệt với chủ nghĩa độc tài chuyên chính độc đảng toàn trị, không có dân chủ, không tôn trọng con người để xây dựng một xã hội thái hòa giữa Trời Đất và Người.

Không thể gọi chế độ ấy là Cộng Sản đích thực, vì đã hội nhập vào nền kinh tế thị trường tự do và đã chấp nhận tham gia xã hội pháp quyền dân sự, trong khi Đại Khối Cộng Sản từ Phương Tây đã tan rã. Đó là một toan tính ngoan ngạnh, dị hợm, chắp vá đầu Ngô mình Sở, một quái thai nẩy sinh giữa chế độ toàn trị độc đảng mà vẫn muốn sống trong thế giới dân chủ tự do chấp nhận kinh tế thị trường.

Chế độ xã hội ở cả Việt Nam ngày nay (sau 30/4/1975 đến nay) và ở một nửa nước tại Miền Bắc Việt Nam trước kia (1954-1975), người ta mất hướng đi chân chính, vì thiếu một chủ nghĩa nhân bản dân chủ chân chính:

– Chế độ chính trị thì do một đảng chuyên chính độc đoán, toàn trị, dù có phân biệt theo hình thức Tòa Án, Chủ Tịch nước, Thủ Tướng Chính Phủ, Chủ Tịch Quốc Hội, trong đó tất cả đều theo lệnh của Bộ Chính Trị đảng.

– Nền kinh tế thị trường, nhưng những người chủ chốt đều thuộc một đảng chuyên chính. Có phát triển nhưng là một nền kinh tế bất công, giàu sang nhờ đầu tư kinh doanh của các công ty liên doanh ngọai quốc.

– Xã hội suy đồi vì nền giáo dục khuôn sáo thiếu suy tư sáng tạo, vì tự do hôn nhân chân, nam nữ tự do giao du, tham nhũng, mãi dâm, xì ke, ma túy, HIV/AID tràn lan, ứng xử gian dối trong tương quan xã hội, các đoàn thể chỉ là phên dậu của một chính đảng được bầu cử theo cách sắp đặt trước của một đảng.

Và nhờ đó người ta muốn hiểu rõ và thương mến trân trọng chế độ Việt Nam Cộng Hòa I. Chủ Nghĩa Nhân Vị thời Việt Nam Cộng Hòa trước kia (1954-1963) và ngày nay ở trong cũng như ngoài nước (từ sau 30/4/1975 đến nay) đã và vẫn đang tiếp tục bị các lực lượng thù ghét xuyên tạc và có ý làm sai lệch tư tưởng chính thống thế nào là chủ nghĩa nhân vị.

Từ Chủ Nghĩa Nhân Vị Đến Đảng Cần Lao Nhân Vị

Chủ nghĩa nhân vị chính là nền tảng để xây dựng chế độ Việt Nam Cộng Hòa I. Muốn cho nhà Việt Nam bền vững, ngôi nhà đó cần có một nền tảng vữa chắc để xây những bộ phận khác. Làm việc gì cũng cần có trước có sau một cách hợp tình hợp lý và hài hòa. Bài diễn văn của Ngô Đình Nhu báo trước cho việc thiết lập hệ thống Đảng Cần Lao Nhân Vị để qui tụ, động viên và tổ chức nhân sự trong guồng máy Việt Nam Cộng Hòa.

Trong nghiên cứu E. Miller cũng thấy trật tự đo. Ngô Đình Nhu là một nhà tư tưởng và một nhà chiến lược. Ông thừa biết rằng phong trào của ông cần được tổ chức; tài năng thật sự của ông là thành lập xong, thì phải tổ chức. Chắc chắn ngay từ đầu thập niên 1950, Ngô Đình Nhu đã xây dựng cốt cán của một đảng chính trị mới, với nhóm người chạy khỏi Hà Nội vào khu tự trị Bùi Phát sau ngày 19/12/1946, mà sau này mới xuất hiện công khai với tên gọi Đảng Cần lao Nhân vị; nhưng thường chỉ gọi là vắn tắt “Cần Lao”.

Lúc đầu, tổ chức Cần Lao hoạt động trong vòng bí mật, và người ta hầu như không biết gì về những năm đầu tiên của nó. Đảng hoạt động theo lối mạng lưới chi bộ, đa số đảng viên được tuyển mộ chỉ biết danh tính của một số ít các đảng viên khác.

Sau năm 1954, đảng này chính thức tồn tại, nhưng đa số những hoạt động của nó vẫn chưa được làm sáng tỏ. Cuối cùng, đảng Cần Lao trở thành bộ phận quan trọng và nổi tiếng nhất trong bộ máy an ninh của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Nhưng trong những năm đầu của đảng, mục đích chính của Ngô Đình Nhu là vận động phong trào ủng hộ cuộc đấu tranh chính trị dân tộc chủ nghĩa mới do Ngô Đình Diệm lãnh đạo.

Việc đặt tên Cần Lao khiến người ta nghĩ chắc chắn Nhu quan tâm đến việc tổ chức lao động (lao động ở đây được hiểu bao gồm cả công nhân và những tá điền nghèo khổ), trong ý thức cạnh tranh với tổ chức lao động kiểu Lê-nin ở miền Bắc khi đó. Tổ chức này cũng có thể liên quan đến một số tư tưởng chỉ đạo phong trào công đoàn Pháp. Ông tán đồng khái niệm công đoàn: Công nhân được tổ chức thành nghiệp đoàn hay hiệp hội để bảo đảm quyền lợi của các thành viên không lệ thuộc vào quyền lợi của tư bản. E. Miller chú ý đến khía cạnh đặc biệt này: “Mặc dù Ngô Đình Nhu, trong những bài thuyết trình kín và công khai, thường hướng tới những yếu tố triết lý Nhân vị, nhưng cung cách và bản chất những nỗ lực tổ chức của ông bị những nguyên tắc của phong trào công đoàn ảnh hưởng sâu sắc”.

Về Đảng Cần Lao Nhân Vị, theo ông Cao Xuân Vĩ, hai người cùng với ông Nhu sáng lập ra đảng Cần Lao Nhân Vị là các ông Trần Quốc Bửu và Huỳnh Hữu Nghĩa. Ban đầu các ông không gọi tên đảng là Cần Lao mà gọi là đảng Công Nông, nhưng vì không muốn gợi ý về cái liên minh công nông của cộng sản, nên về sau các ông đổi ra là Cần Lao.

Còn vế Nhân Vị thì sau nữa mới thêm vào theo đề nghị của ông Nhu. Ông Bửu, chủ tịch Liên Đoàn Lao Công có kinh nghiệm về đấu tranh nghiệp đoàn, đã quen ông Nhu khi còn ở bên Pháp. Và ông Huỳnh Hữu Nghĩa một tín đồ Cao Đài, là cố vấn chính trị của tướng Trình Minh Thế. Ông Nghĩa đã giúp ông Nhu chinh phục được tướng Thế, chứ không phải như có người Mỹ cho rằng ông Nhu có được ông Thế là nhờ đại tá Edward Lansdale.

Ông Lansdale có can thiệp để quân của tướng Thế được hợp thức hóa và trả lương như Quân Đội Quốc Gia thì đúng. Người nào bảo Lansdale dùng tiền mua Tướng Thế là cố tình xuyên tạc để hạ úy tín của một vị tướng kiên cường anh dũng, thanh liêm mà anh em ông Diệm rất qúy trọng. Khi nghe tin tướng Thế tử trận Tổng Thống Diệm đã ngất xỉu. Điều này tướng Lansdale có ghi trong hồi ký. Văn phòng Tổng Bí Thư đảng Cần Lao cũng do một mình Thiếu Tá Phạm Thu Đường quán xuyến, kiêm nhiệm.

Tổ Chức Đoàn Ngũ Hóa Các Giới

Ngoài hệ thống nội bộ Đảng Cần Lao, trong ý đồ chiến lược đa diện của Ngô Đình Nhu, con có những tổ chức ngoại vị nhằm đoàn ngũ hóa các giới mà hai đoàn thể chính là Thanh Niên Cộng Hòa và Phụ Nữ Liên Đới nhằm thi hành thống nhất các đường lối chính sách theo hướng Chủ Nghĩa Nhân Vị.

Chủ trương như thể nhưng có nhiều lạm dụng hay khuyết nhược điểm trong các đơn vị địa phương và cá nhân dẫn dần đến mất hướng đi chính thống của chủ nghĩa và sa sút, trong khi có tổ chức Cộng Sản và những thành phần công dân không tán đồng chủ nghĩa nhân vị tiếp sức phá hoại một cách nào đó.

Khi làm Thủ Lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, thì ông Nhu chỉ thị cho anh em đoàn viên phải tự túc. Mọi đoàn viên đều tự nguyện và tự túc theo tinh thần cách mạng. Cho nên cũng chẳng có quyền lợi gì.

Về văn phòng dân biểu, ông cũng không có. Thực ra ông ấy rất ít đi họp Quốc Hội. Chỉ khi nào có vấn đề chính sách quan trọng như Ấp Chiến Lược chẳng hạn, hay vấn đề “Giáo Dục nhân bản”, vấn đề “kinh tế tư hữu cơ bản” v.v… thì ông mới tới trình bày mà thôi. Cho nên mọi thứ một mình ông cáng đáng. Ông Cao Xuân Vỹ thật phục sức làm việc của ông Nhu.

Ấp Chiến Lược, Hệ Thống Tổ Chức Hạ Tầng Đa Hiệu Của Xã Hội Nhất Là ở Nông Thôn.

Mục tiêu:

1/. Ông Nhu quan niệm chương trình Ấp Chiến Lược là một cuộc cách mạng xã hội và chính trị, chứ không phải chỉ là một chiến lược đối phó với xâm nhập và khủng bố của cộng sản mà thôi.

Ông thúc đẩy các tỉnh trưởng khai hóa người dân quê theo tinh thần tam túc, nghĩa là tự túc về tư tưởng, tự túc về tổ chức và tự túc về kỹ thuật, để có thể làm chủ cuộc đời mình, làm chủ được xã hội, không bị lệ thuộc vào bên ngoài, vào ngoại bang.

Nghiên cứu mới đây theo tác giả Nguyễn Văn Minh trình bày lại công thức tam giác tam túc của quân dân cán chính trong ấp chiến lược.

2/. Chính Ông Ngô Đình Nhu diễn giải tóm lược trong phương trình:

“Tam Túc + Tam Giác = Tam Nhân.

A. Tam Túc là:

1- Tự Túc Về Tư Tưởng là tự mình suy luận cân nhắc mà lựa chọn một chính nghĩa để phụng sự và một khi đã chọn rồi thì không còn lay chuyển nữa. Chính nghĩa đó là cuộc cách mạnh chính trị, xã hội, quân sự mà ta đang cụ thể hóa trong các Ấp Chiến Lược. Sau đó ta tự phát huy chính nghĩa trong tâm hồn, tự học tập và tự bồi dưỡng tinh thần của ta, không cần ai thôi thúc.

Tự túc về tinh thần về tư tưởng, thì tất nhiên trong mọi trường hợp khó khăn, ta vẫn vững tâm, hoặc dù có nội loạn ở thủ đô Sài Gòn chăng nữa, thì ta vẫn không bị hoang mang hay bị lung lạc. Tự túc về tư tưởng để phát huy và bành trướng chủ nghĩa.

Muốn được như vậy thì phải:

2- Tự Túc Về Tổ Chức Và Tiếp Liệu, là tự ta tìm tòi, phát huy sáng kiến để có nhiều nhân vật lực để hoạt động, không ỷ lại vào sự giúp đỡ của người khác. Chính phủ chỉ cần giúp ta một số vốn căn bản, dựa vào đó ta tìm cách biến cải thêm để hành động và mở rộng phạm vi hoạt động. Chẳng hạn hiện giờ ta thiếu kẽm gai để làm ấp chiến lược, thì ta cố gắng tìm vật liệu khả dĩ làm tê liệt cơ thể bất cứ ai động đến (như đồng bào Thượng đã làm trên Cao nguyên); hoặc dùng địa danh địa vật để lồng hệ thống bố phòng ấp chiến lược vào trong đó, đỡ cần đào hào hay rào kẽm gai.

Muốn thực hiện tự túc về tổ chức, thì cần phải:

3- Tự Túc Về Kỹ Thuật là phát huy khả năng chiến đấu, và khai thác, phát triển khả năng của nhân vật lực sẵn có đến tột mức 100%. Ba bộ phận của tam túc có liên hệ mật thiết với nhau; muốn tự túc về tổ chức mà không tự túc về kỹ thuật, thì tổ chức không thành; thiếu tự túc tư tưởng thì tất nhiên sẽ không có tự túc tổ chức và tự túc kỹ thuật.

Từ quan niệm tam túc sinh ra quan niệm tam giác.

B. Tam Giác là:

1- Cảnh Giác Về Sức Khỏe (thể xác), nghĩa là không được đau ốm. Do đó ta phải tránh tất cả những việc làm phương hại đến thân xác ta như đau ốm, tứ đổ tường. Bảo đảm sức khỏe thì mới bảo đảm được khả năng làm tròn nhiệm vụ.

2- Cảnh Giác Về Đạo Đức Và Tác Phong Đạo Đức, vì tác phong đạo đức là cốt yếu của cán bộ, thiếu tác phong đạo đức sẽ chi phối tu tưởng, sẽ biến khả năng làm việc thiện ra việc ác, chưa kể việc thất nhân tâm.

3- Cảnh Giác Về Trí Tuệ là phát huy óc sáng tạo, sáng tác khả năng chiến đấu của nhân vật lực sẵn có đến tột độ.

Vậy, không có sức khỏe, đau ốm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến óc sáng tạo và thu hẹp phạm vi hoạt động của đạo đức. Không có óc sáng tạo thì dù có sức khỏe, có đạo đức, cũng không có khả năng bồi bổ vào sự thiếu thốn nhân vật lực, là tình trạng của một nước chậm tiến. Có sức khỏe, có óc sáng tạo, nhưng không có đạo đức thì sức khỏe ấy, óc sang tạo ấy, sẽ phục vụ cho phi nghĩa, không phải cho chính nghĩa…”

3/. Ông để rất nhiều thì giờ đích thân soạn những bài thuyết trình có tính lý luận cao dành cho các cấp lãnh đạo chính phủ và cán bộ cao cấp, chỉ cho họ cách thức đưa những tư tưởng cao vào đầu óc thường dân qua những hình ảnh và ngôn ngữ bình dân dễ hiểu.

Mục đích của ông là tiến dần tới một xã hội có tổ chức cao, có đầy đủ các phương tiện truyền thông, giao tế, kinh tế, văn hóa cao trong đó mỗi con người, “mỗi nhân vị”, đều được quan tâm đồng đều, chứ không biến con người thanh những “cái đinh, con ốc” trong một guồng máy xã hội theo kiểu cộng sản.

Ông tin tưởng rằng phương pháp đó về lâu về dài sẽ làm cho CS phải đầu hàng. Chứ không phải chỉ dựa vào những hàng rào giây kẽm gai. Dĩ nhiên ban đầu thì việc rào ấp là cần thiết để giữ cho Ấp Chiến Lươc được an tòan trước sự phá hoại và tấn công của du kích CS. Quốc sách Ấp Chiến Lược mà thành công thì cộng sản sẽ thành cá bị tát ra khỏi ao, nằm trên đất.

4/. Về Ấp Chiến Lược chức Chủ Tịch ủy Ban Liên Bộ, theo ông Cao Xuân Vĩ, thì có chức này. Nhưng cũng chỉ là một thông tư của phủ Tổng Thống gửi đến các bộ, để việc ông chủ toạ các phiên họp Ủy Ban Liên Bộ được danh chính ngôn thuận.

Theo tác giả Nguyễn Đức Cung, người ta đọc thấy ông Nguyễn Bá Cẩn trình bày quan điểm về một vấn đề rất trọng yếu mà ông mệnh danh là Thế Cá Nước và Chiến Tranh Du Kích. Theo ông, ai cũng biết người dân miền Nam hiền hòa và chỉ muốn an phận sinh sống với mảnh ruộng, luống rau, khu vườn, ao cá của mình. Cho nên, chỉ cần tiêu diệt cán bộ cơ sở Cộng Sản thì người dân sẽ không còn bị khủng bố, không bị bắt buộc tham gia bất cứ điều gì kể cả hoạt động tiêu cực nhất là góp tiền. Vấn đề chỉ là tìm cá bắt ra khỏi nước.

Nhưng thực ra ông Nguyễn Bá Cẩn đã không nhận thức được giá trị của ấp chiến lược, khi tập trung dân vào trong ấp, thỉ tất cả những người ở ngoài ấp chính là những người hoạt động bảo vệ chủ nghĩa Cộng Sản và sinh sống với Cộng Sản.

Chính vì nhiều người miền nam chưa nhận thức được hết những kinh nghiệm về hiểm họa Cộng Sản trong chủ trương “tam cùng” và những điều giải thích về tam túc và tam giác nói trên trong tình thế đấu tranh với Cộng Sản. Chủ trương ấp chiến lược đã từng được áp dụng thành công ở Mã Lai trong việc tách lìa Cộng quân khỏi trà trộn vào trong dân để tồn tại bằng lương thực và khủng bố để được cưỡng bách che chở.

Nhưng chính ông mắc mưu tuyên truyền của Cộng Sản, dùng ngôn ngữ của chúng mà cho rằng “đệ nhất Cộng hòa lại làm ngược lại, tức là lùa dân vào Khu trù mật. Và khi Khu trù mật thất bại, thì lùa dân vào Ấp chiến lược. Ðệ nhị Cộng hòa cũng lùa dân vào Ấp Ðời Mới hay Ấp Tân Sinh, đại khái là một biến thể của Ấp chiến lược cũ.

Thay vì bắt cá ra khỏi nước, ít tốn kém và không gây thiệt hại cho dân, hai nền Cộng hòa lại làm công việc tát nước. Mà nước là dân. Tát nước tức là di chuyển hàng trăm ngàn nhân dân vào khu trù mật và ấp chiến lược, quá ư tốn kém, quá ư phiền hà, gây vô số thiệt hại cùng xáo trộn đời sống người dân.”

5/. Thật ra, việc tập trung dân lập ấp là một kinh nghiệm lịch sử quý báu của tiền nhân trong lịch sử Việt Nam, lúc có chiến tranh.

Tác giả Nguyễn Đức Cung dẫn chứng kinh nghiệm quản lý người dân tộc thiểu số ở vùng Quảng Ngãi. Theo ông, năm 1863, Nguyễn Tấn cũng đã áp dụng kế sách đó góp phần chận đứng các cuộc tấn công của người Thượng vùng Ðá Vách, Quảng Ngãi.

Ðại Nam Thực Lục có ghi lại như sau:

Mới đặt chức Tiểu phủ sứ ở cơ Tĩnh man tỉnh Quảng Ngãi. Phàm các việc quan hệ đến sự phòng giữ dẹp giặc, thăng cử, chọn thải, lấy lương, gọi lính sát hạch, thì cùng bàn với chánh phó lãnh binh chuyên coi một nha mà tâu hoặc tư.

Lấy người hạt ấy là Nguyễn Tấn lãnh chức ấy. Tấn trước đây thự án sát Thái Nguyên, khi ấy quân thứ Thái Nguyên dần yên, nghe tin bọn ác man hung hăng, dâng sớ xin về bàn bạc để làm, trong 1, 2 năm có thể xong. Vua thấy giặc Man có phần cần cấp hơn, bèn y cho. Ðến đây, chuẩn cho thăng hàm thi độc sung lãnh chức ấy, cấp cho ấn quan phòng bằng ngà.

Tấn dâng bày phương lược: (nói: việc đánh giặc vỗ dân cần làm những việc khẩn cấp trước. Về 3 huyện mạn thượng du, phàm những dân ở linh tinh, tiếp gần với địa phận núi thì, tham chước theo lệ của Lạng Sơn đoàn kết các dân ở cõi ven một hay hai khu, đều đào hào đắp lũy, cổng ngõ cho bền vững. Nếu có lấn vào ruộng đất của ai thì trừ thuế cho.

Còn 1, 2 nhà nghèo, ở riêng một nơi hẻo lánh, thì khuyên người giàu quyên cấp cho dỡ nhà dời về trong khu; còn đất ở thì không cứ là đất công hay đất tư đều cho làm nhà để .Các viên phủ huyện phụ làm việc ấy, liệu nơi nào hơi đông người thì bắt đầu làm ngay, nơi nào điêu háo, thì phái quân đến phòng giữ ngăn chận, dần dần tiếp tục làm, để thư sức dân.

Theo người viết, việc so sánh kinh nghiệm ứng xử với người dân tộc thiểu số ở miền Đông Bắc Việt Nam thế kỷ XIX, rồi được vận dụng tại vùng Quảng Ngãi với nhóm dân tộc Đá Vách và việc khai lập làng ấp như ấp chiến lược và khu trù mật có phần khác biệt. Người dân tộc thiểu số bị phân biệt đối xử so với người dân tộc đa số, nên nguyên nhân chính của những cuộc giấy loạn cướp bóc của người dân tộc thiểu số Đá Vách là giành quyền được đối xử như người đa số.

Từ Trại Định Cư Đến Ấp Chiến Lược, hay Khu Trù M ật, Dinh Điền.

Cách đây chung quanh năm 1960, chế độ Cộng Hòa đã được khai sinh cùng với các quốc sách được ban hành chính thức, chủ yếu là ấp chiến lược hay khu trù mật hay dinh điền tùy theo địa phương và thời gian.

Nguồn gốc đầu tiên phát sinh từ việc thành lập Phủ Tổng Ủy Di Cư theo nghị định số 928-NV do Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ngày 17/9/1954. Phủ này có tầm quan trọng như một Bộ trong Chính Phủ và ông Ngô Ngọc Đối làm Tổng Úy Trưởng.. Trước ông Nguyễn Ngọc Đối (21/8/1954- 4/12/1954), còn có ông Nguyễn Văn Thoại (từ 10/8/1954 – 21/8/1954), và sau đó là Bs Phạm Văn Huyến (từ 4/12/1954 -17/5/1954), ông Bùi Văn Lương (từ 17.5.1955 về sau) làm Tổng ủy Trưởng.

Thực sự tổng số di dân được phân bố theo tôn giáo như sau: Tin Lành (1.041 người); Phật giáo: (182.817 người); Công giáo: (676.348 người), và khoảng (40.000) người Hoa cũng di cư vào Nam  900.206 người). Vì số di dân Công Giáo chiếm tỷ lệ nhiều đến 70% tổng số di dân từ miền Bắc xuống miền Nam, một Ủy Ban Hỗ Trợ Định Cư được rổ chức bên cạnh Phủ Tổng Ủy Di Cư. Giám Mục Phạm Ngọc Chi được bổ nhiệm điều hành.

Tổng số di dân từ miền Bắc có thể vào miền Nam là 875.478 người. Họ được chuyển đến Sài Gòn, Vũng Tàu hay Nha Trang và nhiều nơi khác tùy ý họ lựa chọn theo cá nhân hay theo các đoàn thể do các linh mục di cư hướng dẫn. Chủ yếu nhiều trại định cư về sau được tổ chức bố trí thành các ấp chiến lược hay khu trù mật hay dinh điền.

Linh mục Cao Văn Luận chú ý đến ý đồ chiến lược của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm lúc đó:

Ông (Ngô Đình Diệm) chú ý đặc biệt đến giá trị chiến lược và kinh tế của vùng cao nguyên và đặt kế hoạch đinh cư đồng bào di cư Nghệ Tĩnh Bình tại các vùng Ban Mê Thuột, Tuyên Đức, Đà Lạt, số người di cư được định cư khá sớm tại các trại như Hà Lan A, Hà Lan B, Đức Lập, Bình Giả, Phan Thiết, Tân Bình (Khánh Hòa), Cam Ranh… Tôi (LM Cao Văn Luận) có nghĩ đến cách hòa đồng dân di cư vào dân địa phương, nhưng không có dịp nói ra, và tôi cũng nhận thấy sự khó khăn quá lớn trong việc đó (t. 200).

Theo ông Trần Vinh, tới ngày 21 tháng 8, mỗi ban ngành đều có đại diện của Phủ Tổng Ủy Di Cư. Phủ Tổng ủy với 3 nhiệm vụ rõ rệt:

– Cứu trợ và di chuyển. 
– Kiểm soát và tiếp cư. 
– Giúp đỡ định cư.

Về phía tư nhân, ngay từ những ngày đầu, có nhiều đoàn thể cách mạng, hội đoàn Công giáo, Dòng Chúa Cứu Thế, Đại Chủng viện, v.v., lo tổ chức việc tiếp cư tại phi trường Tân Sơn Nhất và bến tầu Sài Gòn.

Mãi đến tháng 8 năm 1954, Giáo hội Công giáo thành lập Ủy Ban Hộ Trợ Định Cư do giám mục Phạm Ngọc Chi phụ trách. Văn phòng HTDC đặt cạnh nhà thờ Huyện Sĩ, Sài Gòn. Ủy ban cử các linh mục tới mỗi trại tạm cư và trại định cư làm đại diện.

Ủy ban giúp Phủ Tổng Ủy duy trì trật tự, an ninh; cấp phát, phân phối tiền bạc, thuốc men, vải vóc; phụ trách các hoạt động văn hóa, tinh thần. Ủy ban cũng vận động các tổ chức từ thiện quốc tế ủng hộ tinh thần, vật chất cho đồng bào di cư. Ủy ban còn bênh vực, tố cáo trước dư luận thế giới về những vụ việc Cộng Sản ngăn cản, bách hại những người muốn di cư đi tìm tự do.

Ngoài 2 tổ chức kể trên, còn có các tổ chức khác cũng tích cực tham gia giúp đỡ như:

– Văn Phòng Viện Trợ Công Giáo Hoa Kì do Mgr. Joseph Harnett phụ trách; 
– Văn Phòng Thanh Thương Hội Phi Luật Tân; 
– Rotary Club; 
– Hội Cứu Trợ Pháp; 
– Báo Figaro quyên giúp 35,000,000 quan Pháp (1955).

Tổ Chức Ấp Chiến Lược.

Thời gian từ đó đến nay đủ những nhiều đàm tiếu và nhận định khác nhau để có thể phê phán được các vấn đề của lịch sử. Theo Tiến sĩ Lâm Thanh Liêm, nguyên giáo sư kiêm trưởng ban Ðịa lý trường Ðại Học Văn khoa Sài gòn, giảng dậy tại các viện đại học Sài Gòn, Vạn Hạnh, Ðà Lạt, Huế, Cần Thơ, Minh Ðức trước năm 1975, “Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất Việt Nam (1954-1994)”, đã tổng hợp rõ về cơ cấu tổ chức và lợi thế của kế sách Khu trù mật như sau:

Khu Trù Mật là một cộng đồng nông nghiệp được chính quyền thành lập và tập trung thôn dân vào đấy sinh sống ở những địa phương nào chưa an toàn. Các thôn dân sinh sống trong những vùng hẻo lánh, xa cách các giao lộ, khó kiểm soát.

Trước mưu toan Miền Bắc dùng chiến tranh xâm lược Miền Nam, Tổng Thống Diệm quyết định tập trung thôn dân sinh sống rải rác vào Khu Trù Mật, để tiện tổ chức xây dựng và nâng cao, phát triển đời sống của họ, đồng thời bảo vệ họ, cô lập họ với Việt Cộng, giống như bắt cá khỏi nước mà du kích Cộng Sản vẫn thường bám vào dân để sinh sống. Thiếu dân và các nguồn lợi, quân dân cán chính có thể nhận diện được du kích mà loại trừ.

Mỗi KTM có khoảng 3.000 đến 3.500 dân, có hạ tầng cơ sở và các tiện ích giống như một thành phố.

Vì thế các KTM dọc theo biên giới hoặc xung quanh một thành phố lớn, để tạo một vành đai an ninh. Ðồng thời Khu Trù Mật cũng là đơn vị kinh tế, thị trường tiêu thụ các nông sản và các chế phẩm tiểu thủ công nghiệp. Chính phủ cấp phát cho mỗi gia đình định cư một mảnh đất 3.000m2, để xây cất một ngôi nhà (với vật liệu do chính quyền địa phương cung cấp), một chuồng heo và một chuồng gà. Mỗi gia đình có một mảnh vườn cây ăn trái hoặc một mảnh vườn rau để tự túc mưu sinh.

Về quân sự, bố phòng, KTM là những địa điểm chiến lược để bảo vệ dân chúng chống lại chiến tranh du kích xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Ngoài việc quản lý dân chúng, chính quyền địa phương còn được trang bị vũ khí cần thiết, để nếu cần, có thể biến KTM thành một tiền đồn, ngăn chặn đoàn quân Bắc Việt xâm nhập vào Nam.

Về kỹ thuật, KTM có vị trí được được chọn lựa kỹ lưỡng, có đủ các điều kiện phát triển thuận lợi, như đất đai phì nhiêu, gần các giao lộ và điện khí hóa.

Về hành chánh và xã hội, KTM có một chi nhánh bưu điện, cơ sở xã hội, (như một bảo sanh viện, một nhà trẻ) và văn hóa như các trường tiểu học và trung học đệ nhất cấp, một phòng thông tin, nhà thờ và chùa chiền.

Chính quyền có thể cải thiện điều kiện sinh sống của thôn dân: Việc tập trung dân cư cho phép chính phủ thực hiện nhiều công trình phục vụ nhân dân, ít đòi hỏi nhiều tư bản đầu tư hơn hình thức cư trú lẻ tẻ, rải rác (chẳng hạn như công tác thủy nông, điện khí hóa, xây cất trường học, nhà bảo sanh, v.v…).

Về kinh tế, KTM có các tiện ích thương nghiệp và dịch vụ (có chợ xây bằng gạch với các tiệm buôn bán); công nghiệp có các tiểu thủ công nghệ liên hệ với nền nông nghiệp địa phương; nông nghiệp, với diện tích đất trồng có thể mở rộng nhờ khẩn hoang thêm đất đai giúp các thế hệ trẻ tương lai tiền lên thành điền chủ:

Có Bao Nhiêu Ấp Chiến Lược Trên Lãnh Thổ VNCH

Ngoài các làng xã thôn ấp chiến lược địa phương, tổng số các địa điềm định cư có thể biến thành khu trù mật, hay ấp chiến lược, dinh diền hình dung như sau:

“Tính đến ngày 30 tháng 10 năm 1955 đã thành lập được 255 trại định cư (sau này còn thành lập thêm): 156 trại tại Nam phần, 65 trại tại Trung phần và 34 trại trên cao nguyên. Tổng số dân đi định cư là 596.031 người; số đồng bào di cư sống rải rắc các nơi là 140.039 người; gia đình binh sĩ là 125.393 người (những con số này có sai biệt chút ít giữa các bản thống kê, một phần cũng do số sinh tử mỗi ngày).

Ngân khoản dành cho chương trình di cư là 1.058.000.000$. Trong số đó 480 triệu dành để làm nhà sẵn cho đồng bào và 300 triệu cấp cho nơi nào đồng bào tự làm nhà lấy. Tại các trại có đợt phát tiền mặt cho mỗi đầu người 700$. Ngoài ra đồng bào còn được 124.813 dụng cụ canh nông; 681.585 kiện vải; 393.994 kg chỉ và 3.471 kg chì để làm chài lưới”.

Robert Scigliano 
[Robert Scigliano: Vietnam: Politics and Religion. Asian Survey, Vol. 4, No. 1, A Survey of Asia in 1963: Part I (Jan., 1964), pp. 666-673. This article consists of 8 page(s)],
Robert Scigliano là giáo sư tại trường Ðại Học Michigan, cho biết Cộng Sản Hà Nội chống lại chính sách khu trù mật. Thể chế này có tác dụng hữu hiệu là ngăn chận Cộng Sản xâm nhập vào nông thôn, vì được xây dựng ở các vùng chiến lược, như dọc theo một trục đường chính, một giao lộ trên bộ hay trên sông rạch gây trở ngại rất nhiều cho việc di chuyển của Cộng Sản.

Tác Giả Nguyễn Văn Châu, cựu Trung Tá, nguyên Giám đốc Nha Chiến Tranh Tâm lý, Bộ Quốc Phòng Trong cuốn “Ngô Ðình Diệm En 1963: Une Autre Paix Manquée” (Bản dịch Nguyễn Vy Khanh từ nguyên tác Pháp văn, Luận Án Sử Học, Trường Đại Học Paris VII, 1982. Bản tiếng Việt do nxb Xuân Thu, Nam Cali, 1989) cho rằng Khu Trù Mật do chính quyền sáng kiến bị chỉ trích vì chỉ nhắm vào những chuyện tiêu cực về nhân sự. Những dư luận chống lại quốc sách ấp chiến lược còn đi xa hơn nữa cho rằng chính quyền ép buộc dân bỏ làng mạc nhà cửa.

Ngày nay đọc Suzanne Labin, người ta rút ra được bài học lịch sử về chính sách ấp chiến lược. Bà là một nhà văn kiêm phân tích gia đã nhiều lần tới thăm Miền Nam Việt Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hòa I. Bà từng được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm tiếp kiến, và đã thuyết trình về chính trị tại Sài gòn. Trong cuốn “Vietnam: An Eye-Witness Account – Việt Nam: Tường Thuật Của Một Nhân Chứng Thấy Tận Mắt”, Suzanne Labin đã viết:

“Khi nhà Ngô bị lật đổ, có tám ngàn ấp chiến lược đã được thành lập xong và đang vận hành, với dự trù khoảng bốn ngàn ấp nữa cần thiết để bảo vệ cả nước. Nông dân sống rải rác dọc theo các con kênh, được yêu cầu dời chuyển để qui tụ lại thành nhiều làng, tập trung theo kiểu Âu châu. Mỗi làng được rào vững chắc bằng hàng rào kẽm gai hoặc hàng rào tre vót nhọn đàng sau có tăng cường hệ thống hào rộng, gài mìn để chận đứng Việt Cộng mò vào ban đêm. Trong ấp, mỗi gia đình đều được khuyến khích đào một hầm trú ấn ngay trước nhà họ.

Tại sao vậy? Khi Việt Cộng tấn công, trước đây người dân thường quá sợ nên nên chạy tứ tung gây trở ngại cho lực lượng bảo vệ nhiều khi bắn cả vào người nhà mình. Từ khi có hầm trú, người già và trẻ con cứ việc núp dưới hầm để xạ trường quang đãng cho lực lượng chiến đấu hành sự”.

“Người dân làng được đoàn ngũ hóa theo tuổi tác, giới tính, và tùy theo khả năng mà được giao cho một phần vụ đặc biệt: Lực lượng tự vệ và thanh niên cộng hòa là những đơn vị chiến đấu; những dân làng khỏe mạnh khác thì tham gia công tác phòng vệ, thanh thiếu niên thì vót chông. Người có nhiệm vụ chiến đấu được cấp vũ khí cá nhân mang luôn bên mình ngay cả khi ở nhà. Nhiều làng được trang bị thêm xe thiết giáp hoặc súng liên thanh. Máy truyền tin (hoặc điện thoại hữu tuyến) được cung cấp giúp cho các người bảo vệ ấp chiến lược có thể gọi ngay lực lượng chính quy đến một khi bị tấn công. Nhiệm vụ chính của làng là cầm chân kẻ thù, vô hiệu hóa chúng ngoài các vành đai của ấp, cố ngăn chúng không lủi mất vào rừng trong khi lực lượng chính quy kéo tới. Bấy giờ, Việt Cộng thấy quá khó khăn khi xâm nhập một vùng dân cư có phòng thủ và ngay cả rút lui cũng thấy nhiều trở ngại”.

Bà còn nhắc lại câu nói cô đọng của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm: Muốn nghiền nát quân thù cần chiếc búa có sức mạnh năng động dập trên đe ấp chiến lược. Ấp chiến lược tồn tại vì đã đưa lại nền tảng đa hiệu vững chắc cho tiến bộ kinh tế xã hội. Ấp chiến lược chính là tâm điểm cuộc cách mạng chính trị và xã hội.

Chính sách ấp chiến lược được thực hiện từ năm 1961 là một kế hoạch táo bạo nhất của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Kế hoạch ấy được Sir Robert Thompson cố vấn. Ông là chuyên viên về chiến thuật phản nổi dậy người Anh cùng với hai người bạn là Desmond Palmer và Dennis Duncanson.

Nhận định tổng quát về kết quả của chính sách ấp chiến lược, tác giả Nguyễn Văn Châu đã khẳng định trong luận án của ông:

– Quốc sách Ấp chiến lược sau hai năm đã ngăn chặn thành công. Việt Cộng không còn sống bám lén lút trong nhân dân.

– Vấn đề an ninh làng ấp được vững vàng hơn, quân đội chính quy quốc gia trở thành lực lượng hành quân chủ động.

– Du kích cộng sản chịu nhiều thất bại đáng kể, khiến cho chúng phải rơi vào thế bị động và chao đảo sau khi đã mất hạ tầng cơ sở.

– Tinh thần quân đội quốc gia lên cao, dân chúng được bảo vệ tốt hơn và du kích Việt Cộng càng ngày càng hồi chánh về đầu thú với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Trong một bài báo mới đây nhan đề “Bốn Mươi Năm Ngày Đảo Chính Chế Độ Ngô Ðình Ðiệm: Cái Nhìn Từ Hà Nội, Tạp chí Thông Luận số 174, tháng 10-2003.”, Bùi Tín, nguyên Phó chủ nhiệm Nhật báo Nhân Dân Chủ Nhật, cựu đại tá của Bộ Đội Bắc Việt đã phải xác nhận ưu thế của quốc sách ấp chiến lược đã gây cho lực lượng xâm lăng Cộng Sản nhiều khó khăn và thất bại trước đây, đã thẳng thắn bày tỏ rằng:

“Cùng với thời gian và sự tìm hiểu những tư liệu lịch sử, tôi thấy cần phải trả lại lẽ công bằng cho nhân vật lịch sử này… Tôi cho rằng ông Diệm là một nhân vật chính trị đặc sắc, có lòng yêu nước sâu sắc, có tính cương trực thanh liêm, nếp sống đạm bạc giản dị”. (Bùi Tín).

Bởi thế, những nhận xét của tác giả Nguyễn Bá Cẩn về khu trù mật, rồi ấp chiến lược như đã trích dẫn ở trên có phải là những quan điểm nông nổi chăng, hay là do một tư duy thiên kiến nào đó thúc đẩy ông viết nên những câu đáng lẽ cần được cân nhắc hơn, từ một người làm chính trị ở vào một trong những vị thế lãnh đạo Miền Nam trước đâỵ. Thực tế chính trị Miền Nam Việt Nam cho thấy sự lợi hại của quốc sách Khu trù mật qua sự chứng kiến không chỉ của dân Miền Nam mà cả rất nhiều giới ngoại quốc.

Trong cuốn “Nation That Refused to Starve: The Challenge of the New Vietnam , Tướng John W. O’Daniel, chỉ huy phái bộ Quân sự Mỹ đầu tiên, đã ca tụng chính sách tiếp cư chu đáo của Ông Ngô Ðình Diệm, thành công của các khu trù mật mà tiêu biểu là Cái Sắn, chương trình dinh điền ở Quảng Ðức, Ban Mê Thuột…

Chương trình cải cách điền địa thực hiện dưới thời Việt Nam Cộng Hòa I cho người nông dân cuộc sống bảo đảm tương lai với các con số sau đây:

Từ tháng 7 năm 1954 tới tháng 7 năm 1961 có tất cả 648.294 mẫu tây được phân phối lại cho nông dân, 301.923 mẫu tây đất nhà nước mua lại để phát cho nông dân. Một tổng cộng 950.217 mẫu tây mà chính quyền trưng mua lại của các đại điền chủ với giá 1.260.559.427 đồng. Trong khi đó các nông dân chủ điền mới chỉ phải trả 1.822.116 đồng vào năm 1961.

Nhiều tư liệu lịch sử khác xác nhận thành quả quốc sách ấp chiến lược, khu trù mật, dinh điền, và chương trình cải cách điền địa nói trên.

Tóm lại, Ấp chiến lược là một “quốc sách” của chính quyền Việt Nam Cộng hòa I sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam từ năm 1960 do chính quyền Ngô Đình Diệm đề xuất, đối phó hữu hiệu với Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam.

Quan điểm của Việt Nam Cộng hòa I về Ấp chiến lược là nhằm mục đích tách rời du kích Cộng Sản Việt Nam dưới chiêu bài Mặt trận Dân tộc Giải Phóng Việt Nam ra khỏi dân thường ở nông thôn. Dân chúng không phải sống trong vùng oanh kích tự do, hay “vùng xôi đậu”, loại trừ đối phương có cơ sở hoạt động “tam cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) trong dân chúng, dần dần cô lập hoàn toàn lực lượng du kích khỏi nông thôn.

Nhưng để chống lại chính sách đó, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam tuyên truyền đây là hình thức gom dân, nhốt dân, kìm kẹp dân hòng “tát nước bắt cá”. Kế hoạch ấp chiến lược khi được thực hiện tốt sẽ cô lập lực lượng vũ trang cộng sản không thể dựa vào dân, và dần dần Việt cộng bị tiêu diệt.

Ấp chiến lược tổ chức theo hình thức “tự quản, tự phòng và tự phát triển“. Quản lý ấp là một Ban Trị Sự, phòng thủ bảo vệ ấp là lực lượng Phòng Vệ Dân Sự, phối hợp với các đơn vị Thanh Niên, Thanh Nữ Cộng Hòa của ấp đó phụ trách.

Khi ấy, tất cả các ấp đều được bảo vệ bởi các rào cản kiên cố, mỗi ấp đều có một hoặc nhiều chòi canh tầm nhìn xa, các cổng ra vào được canh gác cẩn mật.

Ban ngày, người dân được tự do ra vào để làm ăn, tuy nhiên người lạ muốn vào ấp phải qua sự kiểm soát vô cùng chặt chẽ. Ban đêm, các cổng ra vào được đóng kín lại, nhưng các trường hợp cấp thiết của dân ở bên trong vẫn được giải quyết. Mọi trường hợp xâm nhập lén lút, bất hợp pháp từ bên ngoài vào đều bị phát hiện vì trong ấp có hệ thống báo động.

Ban đầu, Quốc sách Ấp chiến lược thực hiện hiệu quả, hoạt động của quân du kích cộng sản bị ngưng trệ. Tuy nhiên, trong khi thi hành thì nhiều viên chức lấy ngân sách Ấp chiến lược rồi bắt dân phải gánh chịu khoản này như phải nộp tiền, công sức và tre để làm hàng rào cho ấp. Vì thế, dân cảm thấy bị gom vào một chỗ sẽ làm xáo trộn một phần nào nếp sống cổ truyền nông thôn của họ. Vì thế, phía Cộng sản đã phát động phong trào “phá ấp chiến lược”.

Nguồn: Lm. Lê Ngọc Thanh
https://www.facebook.com/lengocthanh…/posts/328746787598948…

Tâm thế nô lệ (Phần 1)

Tâm thế nô lệ (Phần 1)

 

Mai V. Phạm

3-11-2018

Phần 1: Trump sẽ đánh sập Trung Quốc và Việt Nam có dân chủ: Ảo tưởng!

 “… cái bệnh ỷ lại đã ăn sâu vào trong xương tuỷ người nước ta, cơ hồ không gột rửa được nữa. … Ta đã vay mượn của người hàng xóm từ một điệu thơ nhỏ nhặt đến một đạo lý cao xa. Hồi xưa kia chúng ta là những người Tàu, gần đây chúng ta là những người Tây, chưa có một lúc nào chúng ta là những người Việt Nam cả.” (Lưu Trọng Lư, 1939)

Bài học thất bại của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) chẳng mấy ai nhớ cả. Nhiều người đổ lỗi vì Mỹ đã bỏ rơi VNCH, nên chế độ cộng sản mới thắng cuộc, nhưng khá ít người chất vấn tại sao Mỹ lại làm thế? Hoặc chúng ta rút được bài học quý giá gì cho con đường dân chủ từ thất bại của VNCH? Lực lượng nhân sự có khả năng và đạo đức chính trị sẽ quyết định vận mệnh của quốc gia hay chỉ cần lệ thuộc yếu tố nước ngoài?

Một số người trách móc Mỹ, thế mà sau hơn 40 năm, khá nhiều người, từ già tới trẻ, cậy mong Trump đánh Trung Quốc để Việt Nam thoát ách độc tài cộng sản.

Trump là “con buôn chính trị”. Mối quan tâm duy nhất của Trump là tiền bạc và quyền lực. Trump khoe khoang đánh thuế Trung Quốc bởi vì muốn chứng tỏ với cử tri, rằng Trump cứng rắn và muốn Trung Quốc phải nhượng bộ về thương mại. Mục đích tối hậu của Trump là muốn đạt được một thỏa thuận thương mại song phương với Trung Quốc, bởi Trump không chấp nhận TPP của Obama (TPP là hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương gồm 12 quốc gia, không có Trung Quốc, nhằm ngăn chặn tầm ảnh hưởng kinh tế và ngoại giao của Trung Quốc đối với khu vực Thái Bình Dương). Ngày đầu tiên nhậm chức, Trump tuyên bố hủy bỏ TPP, khiến chính quyền Trung Quốc vui mừng biết bao.

Kinh tế Mỹ và Châu Âu phụ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc. Chuyện đồng nhân dân tệ “mất giá” cũng là do Trung Quốc đã và đang điều chỉnh tỉ giá nhằm tránh thiệt hại cho nền kinh tế, chứ không phải là kết quả độc quyền từ việc Trump đánh thuế. Một trong những động cơ Trump đánh thuế Trung Quốc là nhằm giảm thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, mức thâm hụt thương mại Mỹ-Trung trong suốt 9 tháng đầu năm 2018 đã tăng liên tục. Trong tháng 9/2018, thâm hụt thương mại có mức cao kỷ lục mới là 40.2 tỉ đô, tăng 4.3% so với tháng 8/2018 và tăng 16.6% so với cùng kỳ tháng 9/2017. Nghĩa là số liệu thực tế phần nào chứng minh được cuộc chiến thương mại không hề mang lại kết quảnhư chính quyền Trump mong muốn.

Đồng thuận cơ bản của các chuyên gia Nobel kinh tế hàng đầu là trade war không có người thắng, cũng như thiệt hại lâu dài của nó đối với nền kinh tế toàn cầu.  Tập Cận Bình không sợ dân bị thiệt hại, than vãn. Ngược lại, Trump thì khác: các Thượng Nghị sĩ tại các bang Midwest vẫn đang kêu gọi Trump chấm dứt trade war vì nông dân ở những vùng này là nạn nhân chịu thiệt hại nặng nề nhất từ trade war.

Trump chỉ có thể khiến Trung Quốc thực sự lo lắng khi hợp tác với Nhật, EU và Canada. Đằng này, Trump tuyên bố EU là kẻ thù của Mỹ và tuyên chiến với đồng minh lâu năm, thì logic ở chỗ nào? Hôm 19/10, các nhà lãnh đạo châu Âu và châu Á họp mặt trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao Á-Âu đã thống nhất phải bảo vệ thương mại tự do và tuyên bố không ủng hộ chính sách thương mại của Trump. Đồng minh dân chủ là vũ khí chính nghĩa giúp Hoa Kỳ mạnh hơn, đặc biệt khiến các chế độ độc tài nể sợ. Trump tấn công đồng minh thân cận, nhưng liên tiếp ca ngợi lãnh đạo độc tài Tập Cận Bình và Putin, thì làm sao khiến độc tài lo sợ?

Hơn nữa, nền kinh tế Việt Nam hiện tại không chỉ dựa vào mỗi Trung Quốc, mà còn phụ thuộc khá lớn vào Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Singapore và các nước khác. Theo nhật báo Nikkei, Hội đồng Thương mại Mỹ (AmCham) đã thực hiện một cuộc khảo sát đối với các công ty Mỹ và Trung Quốc. Kết quả cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam đang hưởng lợi từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung. Chẳng hạn, công ty GoerTek của Trung Quốc, chuyên lắp ráp tai nghe không dây cho hãng Apple, đã thông báo cho các nhà cung cấp rằng, họ có ý định chuyển một số sản phẩm của mình sang Việt Nam. Công ty Zhejiang Hailide New Material của Trung Quốc – cũng đang đầu tư 155 triệu USD vào một nhà máy ở Việt Nam với mục tiêu hướng tới xuất khẩu sang Mỹ.

Hôm 1/1/2018, Trump cũng vừa hớn hở thông báo trên Twitter rằng, có cuộc điện đàm “rất tốt đẹp” với Tập Cận Bình. Trump cho biết, cuộc đàm phán thương mại “đang đạt được nhiều tiến bộ khả quan” và cuộc gặp giữa hai bên “đang được lên kế hoạch” tại Hội nghị thượng đỉnh G20 sắp tới tại Buenos Aires.

Kinh tế Trung Quốc sụp đổ không đồng nghĩa Việt Nam sẽ thoát khỏi độc tài CS

Giả sử, Trump khiến kinh tế Trung Quốc điêu đứng cũng không có nghĩa chế độ cộng sản Trung Quốc và Việt Nam mặc nhiên sụp đổ. Đúng là nền kinh tế suy sụp có thể khiến chế độ độc tài rơi vào khủng hoảng, nhưng cần nhấn mạnh rằng, cho dù kinh tế suy thoái và chế độ độc tài có lung lay, không có nghĩa là dân chủ sẽ đến với người dân Việt Nam.

Bắc Hàn và Venezuela là hai ví dụ điển hình. Kinh tế Venezuala gần như là một cái xác sống, gây ra tình trạng thiếu thốn lương thực, thuốc men, siêu lạm phát (giá tiêu dùng tăng 46.305% trong vòng 12 tháng) và xã hội loạn lạc. Hàng chục ngàn người Venezuela phải di tản sang các nước lân cận, trong khi nhiều người khác phải nhặt thức ăn trong các thùng rác để sinh tồn. Mặc dù đối mặt nền kinh tế suy thoái nghiêm trọng, nhưng chế độ độc tài của Kim Jong-un (Bắc Hàn) và Nicolás Maduro (Venezuela) vẫn ngang nhiên tồn tại. Nên nhớ, chế độ độc tài càng bị dồn vào đường cùng, chúng sẽ càng bóc lột và đàn áp dân khốc liệt để tồn tại. Và khi kinh tế khó khăn, nạn nhân chịu nhiều khốn khổ không phải là cán bộ đảng viên, mà là vô số dân nghèo.

Thay vì “ở ẩn” mong chờ kế hoạch ảo tưởng “Trump giải phóng Việt Nam”, người viết thiển nghĩ hãy dành thời gian và công sức cho hai công việc tối quan trọng: tri thức và tổ chức. Nâng cao kiến thức và tư tưởng chính trị đúng đắn là một hành trang không thể thiếu của những ai muốn dấn thân chính trị, ngoài lòng yêu nước không vụ lợi. Chính vì thế mà cách đây gần 100 năm, cụ Phan Châu Trinh đã nhắn nhủ đồng bào rằng, ‘vũ khí’ hiệu quả để giải thoát đất nước khỏi nô lệ và kém cỏi là “học hành, mở mang trí tuệ”: Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quý báu tặng cho đồng bào, là Chi Bằng Học.

Nhiều hơn nữa, giới trẻ và trí thức Việt Nam cần ý thức tầm quan trọng của việc đấu tranh có tổ chức. Như Cụ Phan Châu Trinh đã nói trong năm 1925: “Nay muốn một ngày kia nước Việt Nam được tự do độc lập, thì trước hết dân Việt Nam phải có đoàn thể đã”. Chúng ta luôn chê bai ĐCSVN, nhưng nên nhớ rằng CSVN luôn chấp nhận liên kết lại với nhau để tồn tại suốt từ năm 1945 cho đến nay. Nếu như ngày mai, chế độ cộng sản tuyên bố giải thể, thì tổ chức nào đủ lớn mạnh, đủ tầm vóc, khả năng chính trị lẫn đạo đức, sẵn sàng đảm nhận việc xây dựng một đất nước dân chủ – pháp trị, cũng như hòa giải sự chia rẽ và đố kỵ của dân tộc Việt Nam?

Các nước dân chủ giàu mạnh luôn có sự đóng góp rất lớn của các tổ chức từ dân sự đến chính trị. Không một quốc gia nào có nền dân chủ thực sự, mà không nhờ đến vai trò của các tổ chức, với sự tham gia đông đảo của tầng lớp tinh hoa. Úc, Pháp, Hoa Kỳ, Mông Cổ, hoặc các nước dân chủ Bắc Âu phát triển là nhờ nước khác giúp, hay do đất nước họ có sự dấn thân tham gia của tầng lớp trí thức tài đức?

Nếu nghĩ chế độ cộng sản VN sụp đổ vì kinh tế Trung Quốc suy thoái, là chúng ta đã quá xem thường đối thủ bằng suy nghĩ quá đơn giản. Hoa Kỳ cần một Trung Quốc ổn định và đây là một chính sách ngoại giao bắt đầu từ tháng 2/1972 khi tổng thống Nixon chính thức mở cửa và thúc đẩy ngoại giao với Mao Trạch Đông.

Ngoài biển Đông, Trung Quốc vẫn đang tiếp tục phát triển các cơ sở quân sự mà chẳng hề sợ ai. Tập Cận Bình đã học thuộc bài học sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản Liên Xô và tác nhân Gorbachev. Tập và đồng đảng sẽ chiến đấu tới mạng người Trung Quốc hoặc thậm chí người Việt Nam cuối cùng để duy trì quyền lực.

Tóm lại, người viết dự đoán rằng, Trump và Tập sẽ sớm ký một hiệp định thương mại song phương có lợi cho Trung-Mỹ. Nhưng Tập sẽ giả vờ chấp nhận tuyên bố nhượng bộ Trump để Trump có thể khoe khoang với cử tri Mỹ rằng, Trump đã giành được chiến thắng thương mại trước Trung Quốc. Tập Cận Bình cần Trump để bành trướng và Trump cũng cần Tập để mị dân và củng cố quyền lực.

Và trên hết, kẻ thù trực tiếp của dân tộc Việt Nam không phải là Trung Quốc, mà chính là đảng CSVN – đảng đã dối trá, lường gạt người dân Việt Nam, những người cùng “máu đỏ da vàng”, đã đưa đất nước ta vào chỗ tối tăm, bế tắt, nghèo nàn, lạc hậu… kể từ những năm 1945 cho đến nay.

Hiểm họa Trung Quốc không đáng sợ bằng hiểm họa cộng sản Việt Nam. Giặc ngoại xâm có thể chống được, còn chống giặc nội xâm khó khăn vô cùng. Trung Quốc không thể thôn tính Việt Nam nếu trong nội bộ đảng CSVN không có những kẻ nối giáo cho giặc.

Hãy có những nhận định đúng để có cái nhìn thực tế, cũng như đóng góp hữu hiệu hơn cho tiến trình dân chủ hóa đất nước.

Đạo đức xuống cấp xuất phát từ kinh tế?

Van H Pham

Khi bị chất vấn tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV sáng 30/10/2018 về vấn đề đạo đức xuống cấp, Bộ trưởng Văn hoá, Thể thao & Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện nói rằng sự xuống cấp của đạo đức xã hội xuất phát từ cái gốc, đó là kinh tế.

Phát biểu này của ông Nguyễn Ngọc Thiện gây nhiều tranh luận ngay sau đó và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhận xét đây là vấn đề thú vị để tranh luận, xem kinh tế đi trước hay đạo đức, văn hoá cần chú trọng đầu tiên.

Nhà nghiên cứu xã hội học, Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương, hiện công tác tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam nói rằng bà cũng có nghe ông Bộ trưởng nói câu đó và theo bà thì “có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức lắm, kinh tế chỉ là một phần thôi. Chẳng hạn như không có điều kiện ăn học thì ảnh hưởng đến nhận thức, giáo dục và đạo đức.”

“Đạo đức” là một từ dùng nói lên tính cách và giá trị của một con người với các quy tắc ứng xử phù hợp trong gia đình và xã hội, hợp với đạo lý và phong tục của cộng đồng. Những thành ngữ như “Giàu đổi bạn, sang đổi vợ” hay “Phú quý sinh lễ nghĩa” liệu có nói lên sự liên hệ giữa kinh tế và đạo đức hay không?

Giáo dục đóng vai trò quyết định

Theo một giảng viên tại trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. HCM thì lễ nghĩa ở đây không phải là đạo đức. Đạo đức xuống cấp không phải vì kinh tế, nếu có thì chỉ chiếm một phần rất nhỏ vì ngày xưa nghèo đói vẫn lễ nghĩa hơn bây giờ rất nhiều.

Theo tôi nghĩ thì đạo đức xuống cấp như bây giờ thì điều đầu tiên là do giáo dục. Thứ hai là do các chính sách, cách thi hành luật pháp không nghiêm minh. – Một giảng viên Đại học SPKT

Ông nhận định “Kinh tế chỉ đóng một phần rất nhỏ. Ngày xưa còn nghèo đói hơn bây giờ rất nhiều nhưng người ta vẫn kính trên nhường dưới. Ra đường có va quẹt xe cũng nhường nhịn nhau chứ có đâu như bây giờ. Theo tôi nghĩ thì đạo đức xuống cấp như bây giờ thì điều đầu tiên là do giáo dục. Không giáo dục được cho con người có bản lĩnh để giữ vững bản thân trước những cám dỗ, ảnh hưởng bên ngoài và cách hành xử trong xã hội. Thứ hai là do các chính sách, cách thi hành luật pháp không nghiêm minh.”

Cô Trần Thanh Mai, sinh viên trường Đại học Sư Phạm TP. HCM thì đưa ra nhận định rằng một đất nước có nền kinh tế mạnh không có nghĩa đạo đức xã hội ở mức cao. Cô dẫn chứng Trung Quốc là nước có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới nhưng đạo đức xã hội ở Trung Quốc lại có rất nhiều vấn đề. Cô giải thích thêm:

“Vì nền giáo dục của Trung Quốc trọng kiến thức mà không trọng dạy kỹ năng sống, và đạo đức cho học sinh. Thế mới thấy giáo dục mới chính là yếu tố quyết định đạo đức con người. Song, yếu tố kinh tế vẫn có vai trò nhất định trong việc hình thành đạo đức con người, rộng hơn là đạo đức xã hội.”

Đề nghị của Bộ trưởng Văn Hóa

Khi ông Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện nói rằng đạo đức xã hội xuống cấp xuất phát từ cái gốc kinh tế, ông cũng không quên nói thêm rằng “Nếu giải quyết vấn đề này mà bỏ lĩnh vực kinh tế sang một bên thì không được. Gốc rễ là do kinh tế, tồn tại xã hội cũng là do cái gốc là kinh tế”.

Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương thật sự không hiểu ý ông Bộ trưởng khi ông đề cập đến kinh tế khi giải quyết vấn đề trên, bởi nếu ông Thiện là Bộ trưởng về mảng kinh tế hay mảng luật pháp thì có thể hiểu được ông muốn điều chỉnh cách quản lý về kinh tế hay những luật liên quan đến kinh tế. Nhưng đằng này ông Nguyễn Ngọc Thiện lại là Bộ trưởng về văn hóa thì định làm gì bên kinh tế?

“Tôi nghĩ ông Bộ trưởng thừa hiểu câu chuyện nó là thế nào, chắc ý ông ấy muốn nói về việc chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Khi mở cửa hơn về kinh tế thì kéo theo những hành xử, hành vi của con người cũng cởi mở hơn. Cái xấu cái tốt dễ dàng bộc lộ” – Bà nói thêm.

Thực tiễn lịch sử, đã cho thấy thời gian qua, nhiều lãnh đạo chú tâm làm kinh tế, giáo dục về kinh tế mà bỏ quên giáo dục về đạo đức con người. Làm kinh tế cũng chẳng tới đâu, để rồi cái mà chúng ta đang thấy là một xã hội kém về kinh tế yếu về đạo đức. – Trần Thanh Mai

Với cái nhìn của một sinh viên ngành sư phạm về hiện thực xã hội, cô Trần Thanh Mai lấy ví dụ nền kinh tế bao cấp của miền Bắc Việt Nam trước đây nằm ở mức kém phát triển, kéo theo đó là đời sống nhân dân khổ cực, nảy sinh ra nhiều tệ nạn.

Với thực tế xã hội hiện nay, cô Thanh Mai nhận xét rằng: “Rất nhiều lãnh đạo hiện nay đang nhìn vấn đề một cách phiến diện dẫn đến những quyết sách sai lầm. Thực tiễn lịch sử, đã cho thấy thời gian qua, nhiều lãnh đạo chú tâm làm kinh tế, giáo dục về kinh tế mà bỏ quên giáo dục về đạo đức con người. Làm kinh tế cũng chẳng tới đâu, để rồi cái mà chúng ta đang thấy là một xã hội kém về kinh tế yếu về đạo đức.”

Không phải đến bây giờ vấn đề đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng mới được đặt ra. Năm 2014, trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra nghị quyết số 33 với mục tiêu xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.

Với câu nói của Bộ trưởng Văn hoá, Thể thao & Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện rằng sự xuống cấp của đạo đức xã hội xuất phát từ cái gốc, đó là kinh tế, vị giảng viên trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. HCM nhấn mạnh: “Có nhiều lý do nhưng rõ ràng không phải xuất phát từ kinh tế như ông Bộ trưởng nói. Một Bộ trưởng mà phát biểu như vậy thì rõ ràng là không đủ tầm để làm Bộ trưởng.”

About this website

RFA.ORG
Bộ trưởng Văn hoá, Thể thao & Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện nói rằng sự xuống cấp của đạo đức xã hội xuất phát từ cái gốc, đó là kinh tế.

Vì sao đạo đức xuống cấp?

 Lý tưởng giáo dục th ời VNCH là: Nhân bản, Khoa học và Khai phóng. Trong hai mươi năm từ 1955 đến 1975, nền giáo dục đó đã đào tạo biết bao nhân tài phục vụ đất nước, trong sạch ngay thẳng, thành thực. Bằng cấp thời đó đi đến nước nào cũng được công nhận tương đương. Còn bây giờ hơn 43 năm thì ra sao? Tại sao? Ai cũng biết rõ rồi mà không dám nhìn nhận. Phải nhìn nhận cái sai của mình mới biết đường mà sửa đổi. Chính chế độ chính trị tạo nên tình trạng đạo đức xuống cấp ngày hôm nay. Bằng cấp thì đi đến nước nào cũng không ai công nhận. Tại sao?Ai cũng biết điều đó.

Vì sao đạo đức xuống cấp?

Võ Xuân Sơn

  • Thứ Năm, 01/11/2018 14.0k Lượt Xem
  • Câu trả lời của bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện về vấn đề đạo đức xuống cấp tạo ra một làn sóng phản đối và chê bai ông. Nhưng trên một góc độ khác, cả câu hỏi của các đại biểu Quốc hội, và câu trả lời của bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện đều khẳng định, đạo đức xã hội ta xuống cấp.

7 người trẻ chết do sốc thuốc trong một “lễ hội âm nhạc” tổ chức tại Hà Nội, tháng 9/2018. (Ảnh: FB)

Mấy ngày nay, rất nhiều người lý giải nguyên nhân đạo đức xuống cấp. Rất nhiều vấn đề cụ thể được nêu ra. Nhưng theo tôi, đó chỉ là cái ngọn. Chúng ta cần nói đến một nguyên nhân sâu xa hơn, gốc rễ hơn, mà có vẻ như nhiều người còn né tránh, không muốn đụng đến.

Từ 73 năm qua, đất nước chúng ta được dẫn dắt bởi một chủ thuyết, ban đầu ở một vùng, rồi lan rộng ra toàn miền Bắc, và 43 năm nay là cả nước. Trước đó, đội ngũ dẫn dắt đã khéo léo giương cao ngọn cờ dân tộc dân chủ, nên lôi kéo được nhiều trí thức, nhân sĩ yêu nước đi theo mình. Tuy nhiên, càng về sau, đội ngũ dẫn dắt này càng xa rời dân tộc dân chủ, hướng tới một mục tiêu không có thật. Nói cho đúng, đó là một mục tiêu được vẽ ra. Cả dân tộc đều bị dẫn dắt đi theo một mục tiêu vẽ.

Từ cấu trúc thượng tầng cao nhất của xã hội, chúng ta đã không có một phương hướng phát triển cụ thể, thì việc cái xã hội này mất phương hướng là chuyện rất bình thường, dễ hiểu. Sự mất phương hướng không chỉ ở các tầng lớp nhân dân, quần chúng, mà ở ngay các quan chức cao cấp.

Sự mất phương hướng của các quan chức cao cấp thể hiện như trường hợp ông Nguyễn Ngọc Thiện. Ông Thiện đã không biết phương hướng nào để trả lời, vì phương hướng của ông phụ thuộc vào cái gật đầu của cấp trên của ông, nên ông đổ cho kinh tế. Sự mất phương hướng thể hiện rõ nét nhất ở Bộ Giáo dục và Đào tạo. Họ cải cách, cải tiến xà quần, làm cho mọi thứ rối tung lên.

Trong tất cả các Bộ trưởng, cũng đã có vài người xác định được phương hướng cần phải đi, như Bộ trưởng Lê Huy Ngọ, hay Bộ trưởng Bùi Quang Vinh. Nhưng, họ lại bị cấp trên truất quyền điều hành, hoặc họ tự thấy không được quyền đi đúng hướng, nên họ chủ động rút lui.

Cũng có Bộ trưởng xác định được phương hướng, và quyết tâm đi theo phương hướng đó, nhưng dư luận lại không cho. Trong cái mớ hỗn độn vô phương hướng, không mấy ai có đủ khả năng nhìn nhận ra phương hướng cần phải có. Đó là trường hợp của Bộ trưởng Bộ Y tế hiện nay. Thật trớ trêu, khi bà chấp nhận xuôi tay, thì tỷ lệ ủng hộ bà ở Quốc hội lại tăng lên đáng kể.

Ở cấp điều hành, sự mất phương hướng khiến cho các thành viên điều hành không dám tự quyết. Đồng thời, việc mất phương hướng làm cho việc định hướng chủ trương chính sách trở nên khó khăn, dẫn đến sự lợi dụng và lũng đoạn chính sách cho các mục tiêu mang lại lợi ích cho một nhóm người, tạo ra bất công xã hội. Từ đó, hình thành những tập đoàn tham nhũng bao gồm cả những thành viên cao cấp nhất trong bộ máy điều hành.

Việc mất phương hướng ở cấp điều hành dẫn đến việc toàn bộ bộ máy bị rối loạn, phải áp dụng các biện pháp trái với quy luật hòng duy trì sự ổn định, duy trì quyền lực của bộ máy điều hành. Từ đó dẫn đến những chính sách nặng về trấn áp, thiếu nhân văn, vô đạo đức. Đó là cuộc cải cách ruộng đất, đó là những cuộc cải tạo công thương nghiệp đẫm nước mắt và cả máu, ở cả hai miền Nam Bắc.

Những chính sách nặng về trấn áp, thiếu tính nhân văn, và vô đạo đức không chỉ phá hỏng nền kinh tế, mà còn làm sụp đổ các nền tảng đạo đức xã hội.

Trong khi các thành viên cấp cao của bộ máy điều hành nói dối không ngượng miệng, ngụy biện, đánh tráo khái niệm một cách cực kỳ trơ trẽn, vô liêm sỉ, thì những thành viên cấp thấp của bộ máy lại sẵn sàng hành hung dã man người biểu tình, đánh chết người trong các đồn công an, sử dụng bạo lực tấn công những người không cùng chính kiến, hoặc viết ra những lời thóa mạ tục tĩu trên mạng xã hội…

Khi các nền tảng đạo đức không còn, các chuẩn mực đạo đức bị phá vỡ, thì từ cấp cao nhất đến cấp thấp hơn trong bộ máy điều hành đều tập trung tìm cách vơ vét cho mình, bất chấp liêm sỉ, bất chấp khả năng sinh tồn và sự an nguy của đồng bào, của xã hội, và của dân tộc.

Rồi cứ như thế, các tác động từ bộ máy điều hành lan rộng ra, làm băng hoại đạo đức của toàn xã hội.

Theo Facebook BS Võ Xuân Sơn 

Hạnh phúc trong đời, đơn giản chỉ thế này thôi…

Hạnh phúc trong đời, đơn giản chỉ thế này thôi…

Nếu chúng ta bỏ tiền ra mua niềm vui, thì trái lại sẽ thống khổ nhiều hơn. Bởi vì niềm vui là báu vật vô giá…

Có câu chuyện kể rằng hàng ngày thiền sư Vân Chiếu đều dạy các đệ tử phải vui vẻ, vui vẻ tham thiền ngộ Đạo, vui vẻ đối diện với nỗi thống khổ và thất bại.

Một hôm, thiền sư đổ bệnh, ngày ngày nằm trên giường kêu khổ. Vô tình sư trụ trì đi qua nghe thấy, bèn đi đến hỏi thiền sư:

– Tại sao ngài lại kêu khổ?

Thiền sư Vân Chiếu nói:

– Bị bệnh đau đớn rất khổ.

Sư trụ trì ngơ ngác không hiểu bèn hỏi tiếp:

– Có lần ngài bị ngã xuống sông, bị ngạt nước sắp chết mà ngài vẫn không kêu khổ, tại sao bây giờ lại kêu?

Thiền sư Vân Chiếu trả lời:

– Lần ngã xuống sông đó rất vui vẻ, bây giờ rất thống khổ. Vậy ta nên kêu khổ hay là kêu vui thích đây?

Trên con đường đời của con người, niềm vui và thống khổ có thể cùng song hành, cũng có thể lần lượt thay thế nhau.

Trước niềm vui và nỗi thống khổ, chúng ta lựa chọn tâm thái như thế nào?

Trong cuộc đời luôn có 2 mặt vui và khổ, trong khổ có vui, trong vui có khổ. Khổ tức là vui, mà vui cũng là khổ.

Trên thực tế, vào thời đại kinh tế phát triển nhanh chóng như hiện nay thì con người càng ngày càng oán trách cuộc sống. Mọi người thường ngày đều hay nói ‘cần phải vui vẻ’, nhưng nét mặt lại lộ ra vẻ buồn đau khổ sở.

Hàng ngày, mọi người vẫn thường nói, điều kiện sống tốt hơn trước kia rất nhiều, nhưng lòng lại than thở địa vị mình không cao bằng quan chức, học thức mình không rộng bằng học giả, tiền bạc mình không nhiều bằng đại gia, danh tiếng mình không lớn bằng siêu sao điện ảnh, ca nhạc.

Hàng ngày, vẫn thấy mọi người nói, đất nước khá hơn thời bao cấp rất nhiều, nhưng lại bày tỏ ở quê không bằng ở phố, ở phố nhỏ không bằng ở Thủ đô, ở trong nước không bằng ở nước ngoài, ở Châu Á không bằng Âu, Mỹ.

Dường như, ai ai cũng thấy mình khổ. Có lẽ phải làm tổng thống, phải trở thành tỷ phú đô la, phải là danh nhân thế giới mới vui vẻ, mới hạnh phúc?

Niềm vui rốt cuộc là gì? Niềm vui như cánh bướm, nếu bạn thò tay ra bắt thì nó sẽ bay mất. Nhưng nếu bạn ngồi xuống, tĩnh lặng ngắm trông thì nó vẫn ở lại bên bạn.

Còn nhớ có lần họp lớp phổ thông. Một bạn học nữ vừa bước vào phòng đã xơi xơi kể khổ với mọi người:

– Chồng tôi chỉ là người làm công bình thường, không những lương thấp lại còn thường xuyên phải làm thêm giờ, đi công trình.

– Tôi công việc vất vả, về nhà còn bị mẹ chồng lườm nguýt. Con cái lại nghịch ngợm không nghe lời, học hành sa sút.

– Cha mẹ tôi đã già rồi, nhưng lại hay cãi nhau với hàng xóm láng giềng…

Nhưng thực tế, chồng cô ấy là trưởng phòng của công ty điện lực, nắm quyền hành trong tay, hàng ngày đi làm có xe riêng đưa đón. Còn cô bạn thì chẳng làm gì, cả ngày tụ tập chuyện phiếm… Còn đứa con của họ học ở trường quốc tế, toàn con em quý tộc. Cha mẹ cô nghỉ hưu, đều có lương đủ sống, ở nhà nghỉ ngơi.

Nhưng tại sao cô ấy vẫn cứ kêu khổ? Có lẽ cô thực sự có nhiều chuyện phiền não khiến cô khổ sở xuôi ngược cả ngày.

Đương nhiên niềm vui và thống khổ đều cùng tồn tại trong cuộc sống mỗi người, quan trọng là chúng ta làm thế nào để biến đổi nó, lĩnh ngộ nó, đối đãi với nó từ góc độ nào.

Nếu chúng ta cứ một mực chạy đây chạy đó, tìm niềm vui ở chỗ này, chỗ kia, thì chúng ta chẳng thể nào tìm được niềm vui thực sự.

Bởi vì niềm vui ở khắp nơi, không nên cố ý đi tìm. Bởi vì niềm vui là sự sẻ chia. Có cho đi niềm vui thì mới nhận về hạnh phúc.

 

Nếu chúng ta bỏ tiền ra mua niềm vui, thì trái lại sẽ thống khổ nhiều hơn. Bởi vì niềm vui là báu vật vô giá.

Nếu chúng ta muốn ngồi nhàn rỗi để niềm vui tìm đến phục vụ mình, thì chúng ta chỉ đợi chờ trong vô vọng. Bởi vì niềm vui không thể mời đến được.

Nếu chung ta chia niềm vui thành cấp bậc, thì chúng ta sẽ không vui bằng người khác. Bởi vì niềm vui chính là niềm vui, chứ không có vui nhất.

Nếu chúng ta chia sẻ niềm vui nhỏ nhỏ với mỗi người chúng ta gặp hàng ngày, thì những niềm vui nho nhỏ đó lại quay trở lại với chúng ta, trở thành một niềm vui lớn.

“Vui vẻ mãi mãi” chỉ là câu chuyện cổ tích. Nhưng “đơn giản chính là niềm vui” lại là những câu chuyện xảy xung quanh chúng ta mỗi ngày.

Người ít ham muốn, sống giản đơn, thì đi đâu, đến đâu, làm gì cũng tìm thấy niềm vui thực sự.

Theo Mạng Trí Bi

Nam Phương biên dịch

From: ngocnga_12 & NguyenNThu