Bị lừa mất $140,000 vì ‘quà tặng của quân nhân Mỹ’

 

Bị lừa mất $140,000 vì ‘quà tặng của quân nhân Mỹ’

Dù đã có nhiều lời cảnh báo, nhưng một số người vẫn trở thành nạn nhân của những trò lừa đảo qua mạng để mất đi những số tiền rất lớn. (Hình minh họa: Getty Images)

TRÀ VINH, Việt Nam (NV) – Với lời hứa hẹn sẽ nhận được một thùng quà trị giá hơn hàng triệu USD nhưng phải đưa tiền đóng lệ phí trước, hai người đàn ông ở Trà Vinh đã bị lừa mất khoảng $140,000, theo báo Người Lao Động.

Theo Người Lao Động, cuối năm 2017, anh Dương T.N, 38 tuổi, ở Trà Vinh, kết bạn qua mạng xã hội với một phụ nữ tên Cristina Francis, là “quân nhân Mỹ,” đang làm việc tại Baghdah.

“Nữ quân nhân Mỹ” này nói với anh N. rằng nếu để lại đó thì nhà nước sẽ thu hồi, còn gửi về Mỹ thì không hợp pháp nên cô ấy muốn gửi về Việt Nam cho anh N. giữ giùm và anh N. đồng ý, theo tường thuật của Người Lao Động.

Để tạo tin tưởng, người có tên Cristina Francis còn chụp hình một thùng hàng nói có giá trị hơn $4.5 USD có dán một phiếu ghi thông tin của anh N., với lời hứa sẽ đến nhận lại và cho anh N. 50% giá trị thùng hàng.

Cũng theo lời kể của anh N., một tuần sau anh N. nhận được cuộc gọi xưng là “nhân viên hải quan ở Nội Bài” yêu cầu anh đóng lệ phí hải quan $1,000 cho thùng hàng sẽ nhận và tiền phải chuyển vào tài khoản của người mang tên Huỳnh Thị Ngọc Diễm.

Anh N. làm theo yêu cầu. Tuy nhiên, sau hai ngày không nhận được thùng hàng, anh N. liên lạc với số điện thoại đã gọi mình thì người này nói thùng hàng có giá trị lớn nên phải đóng thêm $3,000 nữa mới lấy ra được nên anh N. đã chuyển thêm $3,000 vào tài khoản cho người tên Diễm nói trên.

Qua ngày hôm sau, người tự xưng là “nhân viên hải quan” lại gọi anh N. yêu cầu anh phải đóng thêm $6,000 nữa mới lấy được thùng hàng.

Sinh nghi, nên anh N. không chuyển mà nói với người tên Cristina Francis trả lại cho mình $4,000 đã chuyển nhưng người này lại kêu anh N. liên lạc với một ông tên Domingo Ahmed qua số điện thoại +22170493542 để nhận $50,000.

Anh N. liên lạc với số này thì người xưng Domingo Ahmed yêu cầu anh N. phải đóng $353 mới nhận được $50,000.

Lần này, anh N. không đóng mà viết đơn trình báo công an.

Tương tự, ông L.K.H, 62 tuổi, cũng ở Trà Vinh, cũng bị lừa với thủ đoạn như trên.

Theo lời ông H kể với Người Lao Động, qua Facebook, ông kết bạn với một người tên Michalle Wika, tự xưng là “quân nhân Mỹ,” đang làm việc tại Afghanistan cùng với cha của mình. Cha của người này là “trung tướng Mỹ” nhưng không may đã mất trong trận chiến, hiện người đó đang giữ gia tài của cha mình là $1.5 USD.

Người tên Michalle này nói sẽ gửi số tiền trên cho ông H. giữ hộ vì người này sắp ra quân, không mang theo được số tiền này về Mỹ.

“Quân nhân Mỹ” này hứa sẽ cho ông H. 30% số tiền trên, đồng thời nhờ ông H. giữ dùm số tiền còn lại đến khi người này xuất ngũ sẽ lấy số tiền đó để làm ăn sinh sống.

“Quân nhân Michalle Wika cũng gửi hình thùng hàng và đề nghị ông H. trước khi nhận hàng thì phải thanh toán lệ phí.

Tổng cộng ông H. đã phải trả đến 26 lần các khoản lệ phí với tổng số tiền lên tới 2.75 tỉ đồng (gần $135,000) nhưng vẫn chưa nhận được thùng hàng.

Nghĩ mình bị lừa, cuối cùng ông H. trình báo công an.

Công anh Trà Vinh đang tiến hành điều tra vụ việc này. (N.L)

Lần đầu tiên trong 25 năm APEC chấm dứt không một tuyên bố hợp tác.

Lần đầu tiên trong 25 năm APEC chấm dứt không một tuyên bố hợp tác.

TT Trump không dự. Phó TT Pence tố cáo Tàu chơi dơ thương mại lợi dụng Mỹ mấy chục năm qua.

Ban điều hành TT Trump đã đánh thuế lên $250 tỷ dollars hàng Tàu nhập Mỹ. Và thuế lên $200 tỷ hàng Tàu sẽ tăng lên 25% từ 10% vào tháng Một 2019.

Tàu đã đánh thuế lại $110 tỷ dollars hàng Mỹ vào Tàu. Nhưng sẽ không còn đũa để trả đũa nữa vì hàng Mỹ vào Tàu chỉ có $185 tỷ dollars.

The Trump administration has levied tariffs on $250 billion in Chinese products since July. The tariffs on $200 billion of those goods are set to increase to 25% from 10% on January 1, which would further escalate the conflict.

Nước Trời ở khúc giữa… ngay hôm nay

Nước Trời ở khúc giữa… ngay hôm nay

Lc 17,26-37; 2Ga 1,4-9

– Nước Trời đến lần thứ nhất như thế nào thì ai cũng biết cả rồi

– Nước Trời đến lần thứ hai thì cũng đã được nói trước rồi nhưng còn thực tế như thế nào thì chưa biết

– Phần đầu của Nước Trời cũng đến bất ngờ và phần cuối của Nước Trời cũng lại đến bất ngờ (chuyện ông Nô-ê và chuyện ông Lót) nên có cảm tưởng quá xa vời thế nào í ! Thôi lo phần giữa Nước Trời vậy !

+ Nước Trời nhìn thấy được đang lù lù trước mắt (hữu hình), đó là Giáo Hội, cộng đoàn… Nhiều người mơ ước một Nước Trời êm ả ngon lành, thế mà Nước Trời Giáo Hội này quá nhiều bất toàn, vì những con người cụ thể, bằng xương bằng thịt, rồi biết bao nhiêu chuyện vớ vẩn, làm cho nhiều người sốt ruột, rồi thất vọng. Luôn cần phải có cái nhìn của đức tin nhé !

Nước Trời trong tâm hồn thì không nhìn thấy được, nhưng cảm nhận một sức sống, ân ban Thánh Thần tác động, thành chứng nhân hùng hồn, tình yêu chứa chan tuyệt vời… Thánh Têrêsa Lisieux thấy điều đó trong kinh nghiệm bản thân : “Vị Thầy của các tiến sĩ dạy chúng ta không bằng những tiếng vang động. Tôi không hề nghe Người nói, song tôi biết Người ở trong linh hồn tôi.

Mọi lúc Người hằng hướng dẫn và cảm hứng cho tôi, và là vào đúng những lúc tôi cần, những ‘soi sáng’ mà cho tới đó tôi không hề thấy. Hầu hết không phải là những lúc cầu nguyện mà là khi tôi làm việc hằng ngày” (Truyện Một Tâm Hồn, chương 8).

Có được phần giữa Nước Trời rồvì “Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông” thì không còn bận tâm lo lắng tới những vấn đề thời giờ, lúc nào và nơi chốn, đang ở kia kìa hay đang ở đây này : “Lạy Chúa, ở đâu ?”. Người Pharisêu đã hỏi Chúa khi nào Nước Thiên Chúa đến (câu 20). Giờ đây, sau khi nghe Chúa cắt nghĩa, tò mò tự nhiên, các môn đệ cũng hỏi “Sẽ xẩy ra… ở đâu ?”.

Bận tâm chuyện xảy ra ở đâu lúc nào làm quên phéng ngay đi chuyện hoán cải, đổi mới con người ngay từ hôm nay, lúc này, phút giây hiện tại… cảm nghiệm ngọt ngào, gặp gỡ Chúa.

Trước sau gì rồi cũng gặp Chúa thì gặp Chúa ngay từ đời này đi cho cuộc sống vui tươi hạnh phúc tưng tửng. Luôn tỉnh thức đáp lại tiếng Chúa gọi : Này con đây đã sẵn sàng.

“Xác nằm đâu, diều hâu tụ đó”. Hồi nhỏ tôi nghe câu này thì được giải thích là có Chúa (Bí tích Thánh Thể) ở đâu thì tình yêu lôi cuốn hấp dẫn mọi người tìm đến.

Bây giờ lại nói danh từ Hy lạp có nghĩa phượng hoàng hay là diều hâu. Với bất cứ nghĩa nào, câu cách ngôn này cũng nói tớitính cách nhanh chóng : như chim chụp bắt mồi bất thần nhanh chóng thế nào thì việc Người đến lần thứ hai hay cuộc phán xét sau cùng sẽ bất thần và bất ngờ như vậy.

Về ngày và thời kỳ Chúa đến, anh em không cần ai viết cho anh  em. Vì chính anh  em đã biết rõ : ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm” (1Tx 5,1-2).

Hoặc giải thích (BPVCGK) nữa là những con chim ăn thịt hay xuất hiện trong những đoạn Cựu Ước về cuộc phán xét (Is 18,6 ; 34,15 ; Gr 7,33 ; 12,9 ; 15,3 ; Ed 39,17).

Đức Giêsu trả lời các môn đệ về nơi chốn : Ở đâu có xác, thì ở đó có diều hâu, nghĩa là cuộc phán xét xảy ra ở bất cứ nơi nào ; nói cách khác : không ai có thể thoát khỏi cuộc phán xét.

Vậy thì dấu hiệu đã sống Nước Trời ở khúc giữa ngay hôm này : “đây không phải là một điều răn mới tôi viết ra, nhưng là điều răn chúng ta đã có từ lúc khởi đầu- đó là : chúng ta phải yêu thương nhau. Yêu thương là sống theo các điều răn của Thiên Chúa. Như anh em đã được nghe từ lúc khởi đầu, điều răn này là : anh em phải sống trong tình thương”.

ÔTC

Edit  https://tramtubensuoi.blogspot.com/2018/11/nuoc-troi-o-khuc-giua-ngay-hom-nay.html

NẾU SỐNG CHỈ ĐỂ RỒI CHẾT…!

NẾU SỐNG CHỈ ĐỂ RỒI CHẾT…!

Cách đây hơn nửa thế kỷ, nhạc phẩm “60 Năm” của cố nhạc sĩ Y Vân ra đời đã thu hút sự quan tâm và mến mộ của rất nhiều người yêu âm nhạc.  Với những ngôn từ đơn giản và dòng nhạc Twist mới mẻ khá sôi động và lôi cuốn lúc bấy giờ, tác giả đã đưa vào lòng người những suy ngẫm đậm chất triết lý về sự mong manh, ngắn ngủi của kiếp người.  Ca khúc “60 Năm” phần nào diễn tả một sự thật trần trụi về sự sống – cái chết, cũng như thốt lên nỗi niềm nuối tiếc của kiếp nhân sinh: “Em ơi có bao nhiêu – 60 năm cuộc đời.  20 năm đầu – sung sướng không bao lâu.  20 năm sau – sầu thương cao vời vợi.  20 năm cuối – là bao.”

Sống để rồi chết – đó là quy luật có phần nghiệt ngã, nhưng là quy luật bất di bất dịch không ai không phải ngang qua.  Chính tác giả Thánh vịnh cũng thốt lên mấy lời vừa như có tính khẳng định, lại vừa có chút nuối tiếc, thêm chút thắc mắc, nhưng cũng đầy ý khuyên răn: “Đời chúng con tàn tạ, kiếp sống thoảng qua, một tiếng thở dài.  Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục, mạnh giỏi chăng là được tám mươi, mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khó, cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.”  (Tv 90,9-10).

Như vậy, việc sinh ra của bất kỳ con người nào trên trái đất này đều đã sẵn mang một “bản án tử hình”.  Bản án ấy luôn treo lơ lửng trên đầu và không ai biết trước được thời điểm thi hành án.  Kẻ trẻ – người già, kẻ bệnh – người đang khỏe, kẻ đạo đức – người tội lỗi, kẻ quyền cao chức trọng – người thấp cổ bé họng, kẻ vui – người buồn… tất cả đều có thể ra đi bất cứ thời điểm nào dù muốn dù không.  Như thế, phải chăng cuộc sống quá ư vô nghĩa và hết sức phi lý như chủ nghĩa hư vô phương Tây trong thời đại của triết gia Nietzsche rao giảng mà chính triết gia đã mạnh mẽ tố cáo: Hư vô chủ nghĩa dạy người đời rằng: “Đời không đáng sống.  Tất cả mọi sự đều vô ích.  Thôi, cứ sống cho qua ngày.  Sống chờ đợi.  Chờ chết.”[1] 

Buông trôi.  Có thể gọi những người sống mà không quan tâm đến ý nghĩa cuộc đời, không tìm hiểu tại sao mình lại sống để rồi phải chết là những kẻ buông trôi.  Họ bước vào cuộc đời không lý do vì họ chẳng để ý gì đến lý do; và rồi họ kết thúc cuộc sống cũng chẳng cần hỏi tại sao.  Ấy vậy mà khi đang sống, họ vẫn lo “chạy”, thậm chí là cật lực chạy từ ngày này qua ngày khác để tích lũy, để thỏa mãn nhu cầu, để nở mày nở mặt với thiên hạ,… và rồi họ chết. 

Một số khác khá hơn thì cũng có suy nghĩ, có chất vấn bản thân, cũng tìm hiểu… nhưng rồi cũng chỉ biết “sống để rồi chết.”  Họ thấy đời sống thật sự vô nghĩa.  Bởi họ tin rằng chết là dấu chấm hết của cuộc sống, nên họ tìm cách đạt cho kỳ được tất cả mọi sự khi đang sống.  Tuy nhiên, chắc hẳn rằng chẳng ai – dù đạt được hay nếm hưởng được tất cả mọi sự trên đời có thể có hạnh phúc – khi biết rằng rồi đây mình sẽ chết và tin rằng thế là chấm hết.  Đó quả là điều hết sức phi lý.  Chết đối với họ là sự phi lý nhất, đau đớn nhất và đáng nguyền rủa nhất.  Cho nên, họ nếm hưởng mọi thứ luôn với một cảm giác nuối tiếc và đau khổ kèm theo.  Đó là cả một sự dày vò lớn lao cho đến tận cuối cuộc đời.

Thậm chí ngay cả những người cố gắng tìm ý nghĩa sống bằng tu tập nhân đức, bằng việc sống tốt, sống yêu thương, sống vui vẻ… để rồi cũng chỉ để chết thì đời sống vẫn hết sức phi lý, vô nghĩa.  Cứ cho là sống tốt sẽ chết đẹp; sống tốt sẽ lưu danh muôn thuở đi nữa, thì những người sống tốt cũng sẽ đi vào cõi hư vô chẳng khác chi bất cứ ai, kể cả những kẻ tàn ác, những bạo chúa,…  Bởi vì, nếu sống chỉ để mà chết, và chết là dấu chấm hết của con người ấy thì đời tưởng nhớ có được chi, đời tán tụng có thêm gì, hay đời thù ghét nguyền rủa cũng có mất mát chi.  Họ đâu bị ảnh hưởng gì từ đời nữa.

Những người vô thần lên tiếng phủ nhận các tôn giáo và cho rằng tôn giáo chỉ như thuốc phiện ru ngủ con người.  Họ chủ trương hay nói đúng hơn, họ tuyên truyền việc xây dựng một cuộc sống tươi đẹp ngay tại thế và chỉ trong khi tại thế chứ chết là chấm hết.  Tuy nhiên, nếu chết là chấm hết thì hạnh phúc tại thế, sự thụ hưởng tất cả nào còn có lợi ích gì đâu.  Rồi cũng đi vào cõi tiêu diệt.  Rồi cũng vào chốn hư vô.  Còn như tôn giáo: Nếu xét theo một nghĩa thế tục như những người vô thần gán ghép đi nữa, thì dẫu nó là liều thuốc phiện mê hoặc, xoa dịu cơn đau cho con người thì nó vẫn là loại thuốc tốt hơn loại thuốc mà ông tổ vô thần Karl Marx đã kê đơn.  Bởi lẽ, nếu tính toán lợi ích theo kiểu thế tục đi nữa thì như triết lý đặt cược của Blaise Pascal[2] cuối cùng vẫn chọn tôn giáo là phần mang lại lợi ích hơn, thực tiễn hơn và đảm bảo hơn. 

Sống để mà chết.  Nhưng, chọn chết như thế nào để sống ra làm sao mới là chuyện đáng bàn.  Socrates, triết gia Hy Lạp vĩ đại từng phát biểu: “Suy cho cùng, triết lý đích thực chỉ là một sự tập luyện, một sự đón trước cái chết.”[3]  Nghe một cách thoáng qua có vẻ như triết gia cũng đồng ý với bao người rằng “sống chỉ để mà chết.”  Tuy nhiên, xét câu nói đó trong toàn bộ triết lý của ông, cũng như nhìn vào cái cách mà ông đã sống và chết cho triết lý sống của mình, ta lại thấy việc hướng đến cái chết của Socrates mang một ý nghĩa khác.  Cái ý hướng của ông không giống như quan niệm của những người theo chủ nghĩa vô thần hay nhiều người khác nhắm tới.

Socrates đã không ngừng tìm kiếm sự thật của chính mình.  Triết gia đã cố công suốt cả cuộc đời tìm lời giải đáp cho cuộc sống của chính ông và của con người nói chung.  Chính việc đi tìm kiếm ý nghĩa sống chính là cách duy nhất mang lại ý nghĩa cho cuộc sống và sự tồn tại.  Để rồi, triết gia dám đối diện với cuộc sống, đối diện với cái chết hầu khám phá ra sự thật trần trụi của kiếp nhân sinh.  Từ đó, ông hướng đến cái chết và coi nó như là một cánh cửa mở ra một cuộc sống khác trọn vẹn, viên mãn và bất diệt.  Do đó, sống và chết trong thế giới phải làm sao là sự chuẩn bị tốt nhất cho cuộc sống sau cánh cửa sự chết.  Hay nói cách khác, việc sống và chết mà Socrates hướng tới mang một niềm hy vọng của sự sống lại, sự sống dồi dào, vĩnh cửu.

Với đức tin Kitô giáo, niềm hy vọng hay khát vọng mà những người như Socrates theo đuổi được giải thích trọn vẹn và thành toàn nơi Đức Kitô Phục sinh.  Quả thế, nói như thánh Phaolô khi rao giảng về Đấng Phục sinh thì“nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng.” (1Cr 15,14).  Chính sự kiện Phục sinh là câu trả lời đầy đủ nhất cho câu hỏi về ý nghĩa cuộc sống con người.

Chúa Kitô từ thượng giới đã hạ mình xuống làm người.  Ngài đã đi đến tận cùng của kiếp người để chạm đến nỗi đau đớn lớn nhất và khiến con người kinh sợ nhất là cái chết.  Qua đó, Ngài khơi dậy ngọn lửa của niềm hy vọng qua việc đánh bại tử thần và Phục sinh khải hoàn.  Ngài đã sống và cũng đã chết như một con người, nhưng Ngài đã Phục sinh để tiêu diệt hoàn toàn quyền thống trị của tử thần.  Nhờ sự chết và Phục sinh của Chúa Kitô mà chúng ta có thể hy vọng vào sự phục sinh của chính mình trong Ngài.  Với niềm hy vọng đó và với sự tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa, chúng ta có thể đối diện với cái sự thật trần trụi của kiếp người: Sống để mà chết.  Từ đó, chúng ta thực sự sống một cuộc sống ý nghĩa, hạnh phúc, hầu không dừng lại ở cái quy luật nghiệt ngã kia nhưng đi xa hơn trong niềm hy vọng: Sống để mà chết và chết để được Phục sinh trong Chúa Kitô.

Băng Tâm 

[1] Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, Hà Nội, Nxb. Văn Học, 2008, tr.138.
[2] Triết lý đặt cược của Pascal: Mặc định rằng con người đặt cược cuộc đời mình để xem Thiên Chúa hiện hữu hay không hiện hữu. Sẽ được hoặc mất (cả hai đều có giá trị vô hạn) phụ thuộc vào việc có niềm tin hay không, triết lý đặt cược của Pascal lập luận rằng một người có lý trí sẽ sống như thể Chúa thực sự hiện hữu, vì vậy mà tin Ngài. Còn nếu Chúa không hiện hữu, người ấy sẽ chẳng mất mát gì nhiều (một số lạc thú chóng qua, cuộc sống xa hoa ở trần gian, v.v…). Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Blaise_Pascal.
[3] Plato, Đối Thoại Socratic 1 (Dịch giả: Nguyễn Văn Khoa), Hà Nội, Nxb. Tri Thức, 2017, Phaedo (Về Linh Hồn), tr.288.

From: suyniemhangngay1 & NguyenNThu

Chuyện Vui Về Socrates

Chuyện Vui Về Socrates

 Tác giả : Cung Nhật Thành lược dịch

Trong xã hội cổ đại Hy Lạp, Socrates (469 – 399 B.C.) thường được xem là một học giả có kiến thức rộng rãi vì ông rất tự tin và khéo léo về sự hiểu biết của mình.

Một hôm có thân hữu đến gặp nhà học giả nổi tiếng và nói với ông như sau:
– Tôi vừa nghe chuyện về một nguời bạn của ông, Socrates, tôi kể cho ông nghe nhé?

Socrates trả lời ngay:
– Khoan, khoan đã, tôi không muốn nghe gì hết trước khi ông qua được cuộc trắc nghiệm nhỏ, tôi gọi nó là cuộc trắc nghiệm “Ba lần Gạn Lọc”…
– Ba Lần Gạn Lọc?

Socrates tiếp tục:
– Đúng vậy. Trước khi ông nói chuyện về người bạn của tôi cho tôi nghe, tốt nhất là nên thử trước… Đầu tiên là gạn lọc Sự Thật, những gì mà ông sắp nói cho tôi nghe có đúng hay không?
– Không đâu, thật sự là tôi chỉ mới nghe người ta nói thôi và….

– Được rồi, như thế ông không biết chắc là chuyện sắp nói đúng hay sai. Thôi mình sang phần hai với gạn lọc về Tốt và Xấu. Tôi tin là những gì ông sắp nói về bạn tôi đều tốt đẹp cả…có đúng không nào…
– Ngược lại là khác….

Socrates ngắt lời ngay… “Ông muốn nói với tôi là bạn tôi có những chuyện không tốt nhưng ông lại không biết chắc chắn là chuyện ấy đúng hay sai phải không… Thôi thì mình sang phần chót, gạn lọc về Lợi Ích của câu chuyện. Chuyện ông sắp nói về bạn tôi cho tôi nghe liệu có ích lợi gì cho tôi không”
– Không, không chắc đâu…

Socrates lắc đầu và kết luận:
– Nếu chuyện ông sắp nói cho tôi nghe về bạn tôi không đúng, không tốt và cũng chẳng ích lợi gì cho tôi hết… Vậy ông nói với tôi làm gì cho phí thì giờ của cả hai?

Chuyện vui này cho chúng ta thấy tại sao Socrates có tiếng là học giả thông minh và khôn ngoan nhất trong cổ sử Hy Lạp. Socrates cũng nói cuộc sống là cần thiết nhưng cần thiết hơn nữa là phải sống như thế nào… và cuộc đời sẽ tốt đẹp hơn nếu chúng ta cố gắng sống tốt hơn với mọi người.

 Tác giả: Cung Nhật Thành lược dịch

Việt Nam dùng luật để khống chế xã hội dân sự

Cô Carol Nguyễn, Điều phối viên chương trình của Tổ chức BPSOS, một trong những tổ chức giúp Freedom Now, là một trong các diễn giả của buổi công bố báo cáo, hôm 16 tháng 11 nói rằng:

“Bất chấp những chỉ trích từ quốc tế này, Việt Nam tiếp tục gia tăng đàn áp tôn giáo với Luật tín ngưỡng, tôn giáo được sửa đổi và có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 nhằm gia tăng sự kiểm soát của Chính phủ lên các nhóm tôn giáo và dùng luật này để trừng mạnh mạnh tay những người mà họ cho là vi phạm luật tín ngưỡng. “

About this website

RFA.ORG
Hôm 16/11/2018, tổ chức Freedom Now công bố báo cáo về tình trạng chính quyền Việt Nam sử dụng luật như một vũ khí để khống chế, đàn áp Xã hội Dân sự.

Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên vừa được Đức thánh cha Phanxico bổ nhiệm làm tổng giám mục Hà Nội

Image may contain: 1 person, smiling

Pham Quang Long   

 

Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên, 58 tuổi, từ Hải Phòng, vừa được Đức thánh cha Phanxico bổ nhiệm làm tổng giám mục Hà Nội, theo thông báo của Phòng báo chí Toà thánh trưa nay thứ Bảy ngày 17/11/2018 giờ Roma.

Thông báo của TGP Hà Nội cho hay Đức tân Tổng Giám mục Giuse sẽ nhậm chức ngày 18/12/2018.

Thế À!

Câu Truyện Thiền Số 3: Thế À!

“Thiền sư Hakuin rất được mọi người trọng vọng kính nể vì phong cách đạo đức thánh thiện của ông.

Một ngày kia, có một người con gái trẻ đẹp nhà gần chùa của thiền sư bỗng bị chửa hoang. Người ta không biết cha đứa bé là ai. Bố mẹ cô gái vô cùng tức giận và xấu hổ nên đánh đập tra khảo cô con gái về lai lịch tình nhân của cộ Ban đầu cô con gái không chịu nói gì cả, nhưng sau cùng vì bị đánh đập dữ dội, cô tiết lộ đó là thiền sư Ha kuin.

Tin xấu đồn ra nhanh chóng. Cha mẹ cô gái giận dữ, đùng đùng lên chùa và mắng xối xả vào mặt Hakuin. Khi họ dứt lời, Hakuin chỉ thốt hai tiếng “Thế à!”

Sau khi đứa bé chào đời, gia đình cô gái mang đứa bé quẳng cho Hakuin nuôi. Trong thời này, Hakuin đã bị tai tiếng và nhiều người chê bai trách móc ông đủ điều; nhưng Hakuin vẫn thản nhiên như không, dường như câu chuyện kia chẳng có dính líu gì đến ông cả.

Hakuin chăm sóc đứa bé thật tử tế và bồng nó đi xin sữa khắp nơi.

Một năm sau, cô gái vì cảm thấy ray rứt hối hận nên đã thú thực với cha mẹ là người cha đứa bé không phải là Hakuin mà là một chàng thanh niên làm việc ở chợ cá. Cha mẹ cô ta vội chạy lên chùa dập đầu tạ lỗi với Hakuin và xin mang đứa bé về.

Thiền sư Hakuin vẫn thản nhiên như không, thốt lên hai tiếng “Thế à!”

BÀN VỀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN Ở VN

Christina Lê

BÀN VỀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN Ở VN

Chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay như một đám lục bình chỉ nổi bập bềnh trên mặt nước. Sự tồn tại của nó chỉ dựa vào sự trung thành của công an. Do đó, một mặt, đảng cộng sản đưa ra sự khuyến dụ đối với công an: “Còn đảng, còn mình”; mặt khác, họ ngoảnh mặt làm ngơ trước hai tệ nạn do công an gây ra: tham nhũng và trấn áp dân chúng một cách dã man.

Trước đây, trên thế giới, có 15 quốc gia chính thức theo chủ nghĩa cộng sản và 11 quốc gia tự nhận là cộng sản hoặc theo khuynh hướng cộng sản. Mười lăm quốc gia ở trên là: Albania, Bulgaria, Czechoslovakia, Đông Đức, Hungary, Mông Cổ, Ba Lan, Romania, Liên Xô, Yugoslavia, Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào và Việt Nam. Mười một quốc gia ở dưới là: Angola, Benin, Congo, Ethiopia, Mozambique, Zimbabwe, Grenada, Nicaragua, Campuchia, Afghanistan và Nam Yemen. Tổng cộng, từ hai bảng danh sách ấy, có cả thảy 26 nước cộng sản hoặc có khuynh hướng theo cộng sản. Từ đầu thập niên 1990, tất cả các chế độ cộng sản ấy đều lần lượt sụp đổ. Hiện nay, trên cả thế giới, chỉ còn năm nước mang nhãn hiệu cộng sản: Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào và Việt Nam.

Chưa có dấu hiệu nào cho thấy chủ nghĩa cộng sản ở năm quốc gia này sẽ sụp đổ sớm. Trong năm nước, có ba nước có quan hệ chặt chẽ với nhau: Trung Quốc, Việt Nam và Lào. Có lẽ Lào chỉ thay đổi được thể chế chính trị nếu, trước đó, Việt Nam cũng thay đổi; và Việt Nam có lẽ chỉ thay đổi nếu trước đó Trung Quốc cũng thay đổi. Như vậy, quốc gia có khả năng châm ngòi cho bất cứ sự thay đổi lớn lao nào là Trung Quốc.

Tuy nhiên, ngay cả khi Trung Quốc và Việt Nam chưa thay đổi và chưa từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, giới nghiên cứu cũng phát hiện những dấu hiệu suy tàn âm thầm của chủ nghĩa cộng sản bên trong hai quốc gia này.

Ở đây, tôi chỉ tập trung vào Việt Nam.

Nhìn bề ngoài, chế độ cộng sản tại Việt Nam vẫn mạnh. Hai lực lượng nòng cốt nhất vẫn bảo vệ nó: công an và quân đội. Dân chúng khắp nơi bất mãn nhưng bất mãn nhất là nông dân, những người bị cướp đất hoặc quá nghèo khổ. Có điều nông dân chưa bao giờ đóng được vai trò gì trong các cuộc cách mạng dân chủ cả. Họ có thể thành công trong một số cuộc nổi dậy nhưng chỉ với một điều kiện: được lãnh đạo. Trong tình hình Việt Nam hiện nay, chưa có một tổ chức đối kháng nào ra đời, hy vọng nông dân làm được gì to lớn chỉ là một con số không. Ở thành thị, một số thanh niên và trí thức bắt đầu lên tiếng phê phán chính phủ nhưng, một, số này chưa đông; và hai, còn rất phân tán. Nói chung, trước mắt, đảng Cộng sản vẫn chưa gặp một sự nguy hiểm nào thật lớn.

Thế nhưng, nhìn sâu vào bên trong, chúng ta sẽ thấy quá trình mục rữa của chủ nghĩa cộng sản đã bắt đầu và càng ngày càng lớn. Như một căn bệnh ung thư bên trong một dáng người ngỡ chừng còn khỏe mạnh.

Sự mục rữa quan trọng nhất là về ý thức hệ.

Khác với tất cả các hình thức độc tài khác, chủ nghĩa cộng sản là một thứ độc tài có… lý thuyết, gắn liền với một ý thức hệ được xây dựng một cách có hệ thống và đầy vẻ khoa học. Thật ra, chủ nghĩa phát xít cũng có lý thuyết, chủ yếu dựa trên sức mạnh và tinh thần quốc gia, nhưng không phát triển thành một hệ thống chặt chẽ và có ảnh hưởng sâu rộng như chủ nghĩa cộng sản. Còn các chế độ độc tài ở Trung Đông chủ yếu gắn liền với tôn giáo cộng với truyền thống quân chủ kéo dài (thường được gọi là độc tài quốc vương, sultanistic authoritarianism) hơn là lý thuyết. Nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh: các chế độ cộng sản không thể tồn tại nếu không có nền tảng ý thức hệ đằng sau.

Ý thức hệ cộng sản một thời được xem là rất quyến rũ vì nó bao gồm cả hai kích thước: quốc gia và quốc tế. Ở bình diện quốc gia, nó hứa hẹn giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân; ở bình diện quốc tế, nó hứa hẹn giải phóng giai cấp vô sản và tạo nên sự bình đẳng và thịnh vượng chung cho toàn nhân loại. Ở bình diện thứ hai, chủ nghĩa cộng sản, gắn liền với một ước mơ không tưởng, rất gần với tôn giáo; ở bình diện thứ nhất, đối lập với chủ nghĩa thực dân, nó rất gần với chủ nghĩa quốc gia. Trên thực tế, hầu hết các nước cộng sản trước đây đều cổ vũ và khai thác tối đa tinh thần quốc gia trong cả quá trình giành chính quyền lẫn quá trình duy trí chế độ. Sự kết hợp giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc gia dễ thấy nhất là ở các nước thuộc địa và cựu thuộc địa như Việt Nam.

Sau năm 1991, tức sau khi chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, ý thức hệ cộng sản cũng bị phá sản theo. Thực trạng nghèo đói, bất công và áp bức dưới các chế độ cộng sản ấy đều bị vạch trần và phơi bày trước công luận. Sự hứa hẹn về một thiên đường trong tương lai không còn được ai tin nữa. Tính hệ thống trong chủ nghĩa Marx-Lenin cũng bị đổ vỡ. Nền tảng ý thức hệ của các chế độ cộng sản bị tan rã tạo thành một khoảng trống dưới chân chế độ.

Để khỏa lấp cái khoảng trống ấy, Trung Quốc sử dụng hai sự thay thế: chủ nghĩa Mao và Nho giáo (trong chủ trương tạo nên một xã hội hài hòa, dựa trên lòng trung thành). Việt Nam, vốn luôn luôn bắt chước Trung Quốc, không thể đi theo con đường ấy. Lý do đơn giản: Đề cao chủ nghĩa Mao là một điều nguy hiểm cả về phương diện đối nội lẫn đối ngoại; còn với Nho giáo, một là Việt Nam không am hiểu sâu; hai là, nó đầy vẻ… Tàu, rất dễ gây phản cảm trong quần chúng. Bế tắc, Việt Nam bèn tạo nên cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng ông Hồ Chí Minh lại không phải là một nhà lý thuyết. Ông chỉ là một người hành động. Ông viết nhiều, nhưng tất cả đều rất thô phác và đơn giản. Hơn nữa, ở Việt Nam hiện nay, cũng không có một người nào giỏi lý thuyết để từ những phát biểu sơ sài của Hồ Chí Minh xây dựng thành một hệ thống sâu sắc đủ để thuyết phục mọi người. Thành ra, cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn không trám được khoảng trống do sự sụp đổ của ý thức hệ Marx-Lenin gây ra. So với Trung Quốc, khoảng trống này ở Việt Nam lớn hơn gấp bội.

Mất ý thức hệ cộng sản, chính quyền Việt Nam chỉ còn đứng trên một chân: chủ nghĩa quốc gia.

Nhưng cái chân này cũng rất èo uột nếu không muốn nói là đã lung lay, thậm chí, gãy đổ.

Trên nguyên tắc, Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước rất cao. Bao nhiêu chế độ ra đời từ giữa thế kỷ 20 đến nay đều muốn khai thác và tận dụng lòng yêu nước ấy. Tuy nhiên, với chế độ cộng sản hiện nay, việc khai thác vốn tài sản này gặp rất nhiều khó khăn. Lý do là lòng yêu nước bao giờ cũng gắn liền với sự căm thù. Không ai có thể thấy rõ được lòng yêu nước trừ phi đối diện với một kẻ thù nào đó của đất nước. Hai kẻ thù chính của Việt Nam, trong lịch sử mấy ngàn năm, là Trung Quốc; và gần đây nhất, là Mỹ. Nhưng Việt Nam lại không dám nói quá nhiều về hai kẻ thù này. Với Mỹ, họ cần cả về phương diện kinh tế lẫn phương diện chiến lược. Đề cao truyền thống chống Mỹ, do đó, là điều rất nguy hiểm. Đề cao truyền thống chống Trung Quốc lại càng nguy hiểm hơn: Trung Quốc có thể đánh hoặc ít nhất đe dọa VIệt Nam bất cứ lúc nào.

Bởi vậy, Việt Nam, một mặt, phải hạ giọng khi nói về truyền thống chống Mỹ và phải né tránh việc nhắc nhở đến truyền thống chống Trung Quốc. Hai hành động này có lợi về phương diện đối ngoại nhưng lại có tác hại nghiêm trọng về phương diện đối nội: chính quyền hiện ra, dưới mắt dân chúng, như những kẻ hèn, hèn nhát và hèn hạ. Từ một chế độ được xây dựng trên thành tích chống ngoại xâm, chế độ cộng sản tại Việt Nam lại bị xem như những kẻ bán nước, hoặc bán nước dần dần bằng cách hết nhượng bộ điều này sang nhượng bộ điều khác trước sự uy hiếp của Trung Quốc.

Trước sự sụp đổ của cả hai nền móng, ý thức hệ cộng sản và chủ nghĩa quốc gia, đảng Cộng sản Việt Nam bèn chuyển sang một nền tảng khác: kinh tế với phương châm ổn định và phát triển. Nội dung chính của phương châm này là: Điều cần nhất đối với Việt Nam hiện nay là phát triển để theo kịp các quốc gia khác trong khu vực cũng như, một cách gián tiếp (không được nói công khai), đủ sức để đương đầu với Trung Quốc. Nhưng để phát triển, cần nhất là phải ổn định về chính trị, nghĩa là sẽ không có thay đổi về thể chế và cũng không chấp nhận đa đảng.

Phương châm ấy, thật ra, là một sự bịp bợm: Nó chuyển vấn đề từ chính trị sang kinh tế với lý luận: nếu vấn đề quan trọng nhất của Việt Nam hiện nay là vấn đề kinh tế thì mọi biện pháp sửa đổi sẽ chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế. Với lập luận này, chính quyền có thể trì hoãn mọi yêu cầu cải cách chính trị.

Tuy nhiên, nó hoàn toàn không thuyết phục, bởi, ai cũng thấy, lãnh vực kinh tế là mặt mạnh nhất của chủ nghĩa tư bản và cũng là mặt yếu nhất của chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản. Tất cả các quốc gia dân chủ ở Tây phương đều có hai đặc điểm nổi bật: về chính trị, rất ổn định và hai, về kinh tế, rất phát triển. Ở Việt Nam, người ta cố thu hẹp phạm vi so sánh: các cơ quan truyền thông chính thống chủ yếu tập trung vào các nước Đông Nam Á, đặc biệt Thái Lan với một thông điệp chính: đa đảng như Thái Lan thì lúc nào cũng bị khủng hoảng. Nhưng ở đây lại có hai vấn đề: Một, dù liên tục khủng hoảng về chính trị, nền kinh tế của Thái Lan vẫn tiếp tục phát triển, hơn hẳn Việt Nam; hai, ngày nay, do xu hướng toàn cầu hóa, tầm nhìn của dân chúng rộng rãi hơn nhiều; chính quyền không thể thu hẹp mãi tầm nhìn của họ vào tấm gương của Thái Lan được.

Về phương diện lý luận, chiêu bài ổn định và phát triển, do đó, không đứng vững. Về phương diện thực tế, những sự phá sản của các đại công ty quốc doanh và đặc biệt, khối nợ nần chồng chất của Việt Nam khiến dân chúng càng ngày càng thấy rõ vấn đề: các chính sách kinh tế của Việt Nam không hứa hẹn một sự phát triển nào cả, nếu không muốn nói, ngược lại, chỉ lún sâu vào chỗ bế tắc.

Thành ra, có thể nói, tất cả các nền tảng chế độ cộng sản Việt Nam muốn nương tựa, từ chủ nghĩa Marx-Lenin đến chủ nghĩa quốc gia và lập luận ổn định để phát triển, đều lần lượt sụp đổ. Chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay như một đám lục bình chỉ nổi bập bềnh trên mặt nước. Sự tồn tại của nó chỉ dựa vào sự trung thành của công an. Do đó, một mặt, đảng cộng sản đưa ra sự khuyến dụ đối với công an: “Còn đảng, còn mình”; mặt khác, họ ngoảnh mặt làm ngơ trước hai tệ nạn do công an gây ra: tham nhũng và trấn áp dân chúng một cách dã man. Nhưng chính sách này chỉ càng ngày càng biến công an thành một đám kiêu binh và càng ngày càng đẩy công an cũng như chính quyền trở thành xa lạ với dân chúng. Sự xa lạ này càng kéo dài và càng trầm trọng, đến một lúc nào đó, trở thành đối nghịch với quần chúng.

Một nhà nước được xây dựng trên một đám kiêu binh, trong thời đại ngày nay, không hứa hẹn bất cứ một tương lai nào cả.

(Nguyễn Hưng Quốc)

CHÚNG TA SẼ NGHE VÀ NHÌN TRÊN THIÊN ĐÀNG

CHÚNG TA SẼ NGHE VÀ NHÌN TRÊN THIÊN ĐÀNG

Charles E. Miller

Ludwig Van Beethoven là một tác giả vĩ đại của mọi thời.  Trong lúc ông vẫn còn đang tạo ra những kiệt tác thì ông cảm thấy mình dần dần mất đi thính giác, ông không còn nghe thấy.  Sau khi ông đã trở thành hoàn toàn điếc, ông sáng tác ra bản giao hưởng số 9.  Ông đã không nghe một nốt nào.  Một số người nào đó nói những thiên tài thì bất tử bởi vì công trình của họ.  Họ tin rằng Beethoven đang sống trong âm nhạc của mình.  Shakespeare thì ở trong vở kịch của mình, và Edison ở trong phát minh của mình.  Beethoven biết tốt hơn.  Khi ông sắp chết, ông nói: “Tôi sẽ nghe nhạc ở trên trời.”  Ông ta nói rất đúng.

Chúng tôi tin rằng Beethoven bây giờ đang nghe, không chỉ nghe những tác phẩm của chính mình, nhưng là âm nhạc của vị thầy vĩ đại là chính Thiên Chúa của ông.  Beethoven đã được đặc ân hiệp nhất với các thiên thần và các thánh để ca bài ca vui mừng vô tận.  Shakespeare biết rằng tất cả những lời trong tác phẩm của ông chỉ là một tiếng vang mờ nhạt với Lời đời đời được nói bởi Cha trong cõi đời đời.  Lời đó chính là Con Thiên Chúa.  Edison liều lĩnh phát minh ra ánh đèn điện nhưng bây giờ ông đã tắm trong ánh sáng rực rỡ của thị kiến vinh phúc.  Bây giờ ông hiểu rằng chân lý trong sách bài đọc từ sách Đanien.  Nền tảng của sách đó là dân Israel đã bị chiếm đóng bởi Syrie, họ cố áp đặt trên người Do Thái một ngôn ngữ ngoại quốc, một nền văn hóa và tôn giáo ngoại quốc.  Nhiều người Do Thái đã chọn lấy cái chết hơn là bị bắt cầm tù.  Tác giả của sách đã hiến tặng môt sứ điệp hy vọng cho những người sống sót bởi tuyên bố: “Người khôn ngoan sẽ chiếu sáng… những người đó sẽ được dẫn tới sự công chính và những người công chính sẽ chiếu sáng như những vì sao mãi mãi.”  Sự phát minh của Edison ngay cả khi nó phát triển nó cũng chỉ là mờ nhạt khi so với ánh sáng của sự sống đời đời, đặc ân lớn lao của Đức Kitô đã ban xuống khi Ngài đến một lần nữa, Ngài đến lần thứ hai khi Ngài Phục Sinh từ cõi chết sống lại.

Shakespeare sẽ không bao giờ tưởng tượng ra cảnh Đức Kitô, Con Thiên Chúa sẽ đến trong đám mây với quyền năng lớn lao và vinh quang, cũng không bao giờ tìm thấy đủ từ ngữ để miêu tả sự kiện ấy.  Và cả chúng ta cũng như thế nữa.  Chúng ta đã hầu như không hiểu lời của những từ ngữ mà trong bài Phúc Âm ngày hôm nay.  Đó là tất cả những gì mà chúng ta muốn trở nên hay cả khi nó xảy ra chỉ có Cha trên trời mới biết được.

Trong lúc chúng ta không giống như những người Israel đang chịu đau khổ trên miền đất của mình bởi sự chiếm đóng của người Syrie.  Chúng ta đang bị bao quanh bởi đạo quân văn hóa của sự chết, đạo quân này gây chiến tranh trên giá trị và nhân phẩm của đời sống con người.  Nó tấn công con người khi họ rất dễ tổn thương: khi chúng bắt đầu đời sống trong dạ mẹ, và khi gần chấm dứt cuộc sống trong tuổi già.  Họ loại bỏ những người hầu như cần tới sự giàu có của quê hương chúng ta để cho họ được sống sót: là những kẻ không nhà, những kẻ đói ăn, những kẻ lãnh trợ cấp, và những dân nhập cư.

Trong lúc chúng ta vẫn trung thành với đức tin Công Giáo và những giáo huấn giá trị của Giáo Hội, chúng ta không phải chết đau khổ; ít nhất cũng là như thế.  Nhưng chúng ta bị nguy hiểm khi cho phép chính mình bị ảnh hưởng một cách tinh tế, bởi những giá trị thế tục như là ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, sự tham lam.  Để kháng cự lại những ảnh hưởng này, chúng ta phải suy niệm về lời hứa sự sống đời đời cho những kẻ còn giữ được lòng trung thành.  Chúng ta sẽ nhớ rằng bí tích Thánh Thể là một lời nài xin và một lời hứa của sự sống đời đời sẽ là động cơ thúc đẩy chúng ta trung thành mãi mãi.  Đức Kitô sẽ làm viên mãn những lời của bài đọc ngày hôm nay: “Những ai được dẫn tới sự công chính sẽ chiếu sáng như những vì sao trên trời.”  Bên cạnh sự chiếu sáng như những vì sao chúng ta sẽ nghe thấy và sẽ nhìn thấy chính Thiên Chúa.

 Charles E. Miller

Trích trong “Mở Ra Những Kho Tàng”  

From Langthangchieutim