“Một con đập chứa bùn đỏ và độc hại ở Brumadinho, thành phố thuộc bang Minas Gerais (Brazil), vừa sụp đổ và chôn sống hơn 150 người dân ngay lập tức.

Trần Bang shared a post.
10/2/2019

Cơ quan quản lý, giám sát Hồ chứa chất thải bo xít Tân Rai, Nhân cơ; và mỏ sắt, kim loại ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Yên Bái, Lào Cai, Cao Bằng… cần nhìn dưới đây.

“Một con đập chứa bùn đỏ và độc hại ở Brumadinho, thành phố thuộc bang Minas Gerais (Brazil), vừa sụp đổ và chôn sống hơn 150 người dân ngay lập tức.

Khi con đập chứa chất thải từ khu mỏ khai thác quặng sắt Córrego de Feijão của Tập đoàn khai khoáng Vale bị vỡ ra, 11,7 triệu mét khối bùn đỏ — đủ để lấp đầy 5.000 hồ bơ theo tiêu chuẩn Olympic — đã tràn xuống khi thị trấn bên dưới. Khi xảy ra, nó đã cuốn luôn cả quán cà phê của công ty này, nơi có hàng trăm công nhân đang tụ tập. Cơn sóng thần bùn độc tiếp tục chảy xa hơn 8km, tàn phá nhà cửa, văn phòng và con người.

Bên cứu hộ của chính phủ Brazil mất 2 đến 3 ngày mới tiếp cận được các nạn nhân.

Thực ra, đây là một thảm kịch được báo trước. Con đập trên dù đã không được sử dụng trong vòng 3 năm vừa qua, và theo Tập đoàn Vale, nó vừa được chứng thực là còn vững vàng vào tháng 9 năm ngoái, nhưng trong một báo cáo về tác động của môi trường phát hành năm 2015 cho thấy các công cụ đo lường và giám sát kiến trúc của đập này bị sai lệch.

Cách đây 3 năm, cũng một con đập tương tự bị vỡ ra ở thành phố Mariana, cách hiện trường hôm nay 120km, đã giết chết 19 người và gây ra thảm kịch môi trường tệ hại nhất trong lịch sử Brazil. Con đập đó cũng được xây dựng và hoạt động bởi Tập đoàn Vale và công ty khai khoáng đa quốc gia BHP kết hợp giữa Anh quốc và Australia.

Hiện có đến 88 đập chứa bùn khai khoáng ở Brazil được xây dựng cùng kiểu như con đập vừa bị vỡ — mà thực ra là những hồ chứa bùn khổng lồ được giữ lại bởi các bức tường cát và bồi tích không hơn không kém. Đáng kinh khủng hơn, có ít nhất 28 con đập đang nằm ở trên vùng cao, mà bên dưới là những thành phố có số dân từ 100.000 người trở lên.

Được biết chính phủ của tân tổng thống Brazil Jair Bolsonaro mới đắc cử thề sẽ xẻ rừng Amazon ra để cho các tập đoàn khai khoáng tiến vào đào bới và xây dựng mỏ, bởi vì gã này cho rằng Brazil có chủ quyền trên lá phổi lớn nhất hành tinh này, và phải phát triển bằng mọi giá vì lợi ích của dân Brazil trước hết – y hệt như phương châm “Amerika First” của Donald Trump vật.

Những gì đang xảy ra ở Brumadinho (Brazil) là lời cảnh cáo rất thực tế cho các đập chứa bùn đỏ từ khai thác quặng Bauxite ở Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắc Nông). Những quả bom chứa bùn độc này một ngày nào đó sẽ vỡ tung và đổ xuống vùng hạ lưu đồng bằng Nam bộ và Nam Trung bộ thông qua hệ thống sông ngòi. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, thường xuyên có những trận mưa rất lớn, nước vẫn có thể tràn qua đập, cuốn theo chất thải độc hại xuống những vùng đất, sông, suối ở hạ lưu, gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng.

Và dĩ nhiên, nguy cơ ấy là có thật, vì ở Việt Nam cũng đang xảy ra những yếu tố có hàm chứa các nguyên nhân từng gây ra thảm họa môi trường ở nhiều nơi trên toàn thế giới:

1. Động lực phát triển kinh tế bằng cách đào bới và khai thác nguồn tài nguyên ở trong lòng đất.

2. Sự kiêu ngạo về mặt công nghệ.

3. Chính phủ bị lũng đoạn bởi các tập đoàn kinh tế, còn người dân thì phớt lờ.

#hanhtinhtitanic

Nguồn tham khảo:

https://www.nytimes.com/…/americas/brazil-dam-collapse.html…

-0:09

1,357 Views

NHỮNG NÉT ĐẸP CỦA TIN MỪNG NGÀY TẾT

NHỮNG NÉT ĐẸP CỦA TIN MỪNG NGÀY TẾT

ĐTGM. Jos Ngô Quang Kiệt

Mùa Xuân đến làm đẹp đất trời.  Những cành đào đua nhau khoe sắc.  Những chồi non bụ bẫm nhú ra khỏi cành cây khô khẳng.  Chợ búa đông vui và đẹp đẽ với những hàng hoá đủ mọi loại.  Những tà áo mới tha thướt làm đẹp phố phường.  Trong khung cảnh vui tươi tấp nập ấy, khuôn mặt mọi người như rạng rỡ tươi cười.  Mùa Xuân đem đến nhiều vẻ đẹp.  Cao quý nhất là những nét đẹp văn hoá dân tộc đậm đà mầu sắc Tin Mừng.

Ngày Tết có nét đẹp của lòng biết ơn.  Năm hết Tết đến, người Việt nam thường nhớ đến công ơn của những người đã giúp đỡ mình trong năm qua.  Biết ơn là một nét đẹp văn hoá đáng trân trọng và cũng là một điều hợp lý.  Dòng sông lớn phải mang ơn những con suối nhỏ.  Hạt lúa phải nhớ ơn những hạt mưa, hạt nắng, hạt phân.  Ngày hôm nay phải biết ơn ngày hôm qua.  Thế hệ này phải nhớ ơn thế hệ trước.  Đời sống ta chịu ơn biết bao người.  Cảm nghiệm sâu xa chân lý này, nên mỗi dịp Tết đến, người Việt nam ta thường bày tỏ lòng biết ơn với ông bà, cha mẹ và các ân nhân.  Những món quà nho nhỏ nhưng thắm đượm tình nghĩa làm vui cả người nhận lẫn người cho.  Riêng với người Công giáo, bày tỏ lòng tri ân đối với Thiên chúa là một bổn phận không thể thiếu.  Vì Thiên chúa chính là tổ tiên đã sinh thành nên ta.  Vì Thiên chúa là ân nhân lớn nhất đời ta.  Chính Người đã ban cho ta món quà cao quý nhất: đó là sự sống.  Chính Người tiếp tục chăm sóc gìn giữ ta từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây.  Biết ơn là việc làm của lương tri, cổ võ cho một thế giới mới chan chứa tình người.  Biết ơn cũng là một giá trị đạo đức được Chúa Giêsu đề cao trong Tin Mừng.

Ngày Tết có nét đẹp của sự cho đi.  Ta gửi đi những cánh thiệp như những sứ giả của tình cảm yêu thương.  Ta gửi đi những lời cầu chúc như tâm tình mến yêu tha thiết dành cho nhau.  Ta sửa sang quét dọn nhà cửa để đón tiếp nhau.  Ta dành thời giờ viếng thăm nhau để xiết chặt thêm tình thân ái.  Ta ăn mặc tề chỉnh để tỏ lòng kính trọng nhau.  Ta nói năng tế nhị để làm vui lòng nhau.  Ta rộng rãi tặng tiền mừng tuổi cho con cháu.  Tóm lại, tất cả những gì ta làm trong ngày Tết đều vì người khác và cho người khác.  Đặc biệt trong lãnh vực ăn uống.  Ngày Tết, nhà nào cũng chuẩn bị sẵn đồ ăn thức uống cho gia đình, nhưng nhất là để mời khách.  Khách vào nhà bao giờ cũng được mời thưởng thức ấm chè mới, nếm kẹo bánh ngon.  Sự chiếu cố của khách làm vui lòng cho chủ.  Sự vui vẻ của người nhận là hạnh phúc của người cho.  Có niềm vui cho đi và có niềm vui lãnh nhận.  Những niềm vui ấy tạo cho ngày Tết một nét đẹp đầy mầu sắc Tin Mừng: nét đẹp của sự quên mình, của sự quảng đại cho đi, của sự khiêm tốn đón nhận, của tình liên đới.

Ngày Tết có nét đẹp của sự đổi mới.  Thiên nhiên đổi mới với sự hồi sinh của cây cỏ.  Phố phường đổi mới với những căn nhà mới, với những gian hàng mới và với quần áo mới.  Hoà vào cái mới của đất trời, của xã hội, lòng người cũng nôn nao trong niềm hy vọng đổi mới bản thân và cuộc đời.  Ai cũng mong tống tiễn những điều xấu vào quá khứ.  Ai cũng mong đón nhận một tương lai tươi đẹp.  Niềm mong ước đổi mới được thể hiện qua những cố gắng giữ vẻ mặt tươi cười, không tức giận, không nói những lời thô tục, những điều rủi ro, nhưng chỉ nói những điều tốt đẹp, đối xử hoà nhã với mọi người trong những ngày Tết.  Phút giao thừa thật thiêng liêng.  Nó đánh dấu một khởi đầu mới.  Người ta tin rằng sống tốt đẹp những giây phút đầu tiên sẽ có ảnh hưởng tốt đến cả năm.  Nên mỗi dịp Tết là một lần khuyến khích ta cố gắng đổi mới đời sống, đổi mới bản thân.

Đổi mới đời sống là điều Chúa Giêsu tha thiết mong muốn nơi ta.  Người không ngừng mời gọi ta hãy từ bỏ con đường tội lỗi xưa cũ, bước vào con đường mới, con đường tự do, thánh thiện của con cái Thiên chúa.  Người không ngừng mời gọi ta trở thành bầu da mới để có thể chứa đựng thứ rượu mới là giáo lý của Người.  Ngày Tết chính là một cơ hội cho ta thực hành Lời Chúa dạy, tích cực đổi mới đời sống nên tốt đẹp hơn.

Với tất cả những nét đẹp trên đây, tinh thần ngày Tết cổ truyền dân tộc rất gần gũi với Tin Mừng.  Rõ ràng nét đẹp văn hoá Việt nam đã chất chứa những giá trị Tin Mừng.  Rõ ràng Tin Mừng đang đi vào cuộc sống của người Việt nam.

Vì thế, người Việt nam Công giáo không những có trách nhiệm gìn giữ những nét đẹp văn hoá của ngày Tết cổ truyền mà còn phải biến những nét đẹp ấy thành những trang Tin Mừng sống động.  Khi ta sống tâm tình biết ơn trong ngày Tết, đừng chỉ giữ hình thức bề ngoài hay chỉ chú ý tới khía cạnh vật chất.  Hãy có tâm tình biết ơn sâu xa.  Hãy nhìn thấy ơn Chúa ban qua mọi ân huệ nhận được.  Khi ta cho đi trong ngày Tết, đừng chỉ cho đi như một hình thức xã giao hay như một thói tục bắt buộc.  Hãy cho đi với tâm tình yêu mến, kính trọng thực sự.  Hãy đón tiếp khách thăm viếng như đón tiếp chính Chúa.  Khi ta muốn đổi mới đời sống, đừng chỉ giữ như một hình thức và không chỉ giữ trong những ngày Tết, nhưng duy trì sự cố gắng đổi mới trong suốt cả đời với quyết tâm thực sự đổi mới đời sống. 

Khi ta sống tinh thần Tin Mừng trong những phong tục ngày Tết, ta góp phần xây dựng một mùa Xuân mới, một mùa Xuân dân tộc, một mùa Xuân tình thương.  Mùa Xuân ấy sẽ vĩnh cửu vì sẽ dẫn đến mùa Xuân Nước Trời.

Lạy Đức Kitô là mùa Xuân đích thực, không bao giờ tàn úa, xin đổi mới tâm hồn con.  Amen!

ĐTGM. Jos Ngô Quang Kiệt

From: Langthangchieutim

TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở NƯỚC NAM

TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở NƯỚC NAM

Phạm Quỳnh

 Bàn thờ tổ tiên ngày Tết. Ảnh: Nam Phong.

Nhân loại gồm nhiều người chết hơn là người sống, Auguste Comte đã nói ở đâu đó như thế. Ở nước Nam câu nói ấy của nhà triết học thực chứng Pháp càng đúng hơn ở bất cứ nơi nào khác. Quả vậy, việc thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội của chúng ta. Nó đã trở thành một thứ giáo lý tôn giáo, và, theo một nghĩa nào đó, một tôn giáo quốc gia thực thụ. Nếu tôn giáo, đúng như ý nghĩa từ nguyên của nó đã chỉ rõ *, là mối liên kết tinh thần nối liền con người với những lực lượng siêu cảm, việc thờ cúng hay tôn giáo về những người đã chết là cách biểu hiện những mối quan hệ giữa thế giới những người đang sống với thế giới những người đã chết. Các mối quan hệ ấy rất nhiều và liên tục. Những người chết thường xuyên can dự vào cuộc sống của những người đang sống; họ hướng dẫn, chỉ đạo, che chở cho chúng ta, bảo hộ chúng ta, gợi hứng cho những ý tưởng và hành vi của chúng ta, có thể nói nhìn theo chúng ta, bằng những đôi mắt có thể xuyên suốt bóng tối của sự sống và sự chết và rất có thể chính bằng những đôi mắt ấy mà nhân loại có được một hình dung thoáng chốc nào đấy về tương lai và số phận của mình; tóm lại họ sống trong ký ức của chúng ta, trong mọi công việc của chúng ta, trong mong ước của chúng ta về một cuộc sống còn sống động hơn cả cuộc sống trên trần thế này.

Bản chất của những mối quan hệ làm nên một trong những hình thức sống động nhất trong tôn giáo của người nước Nam đó là gì? Tôn giáo về những người chết ấy dựa trên những nền tảng tín ngưỡng nào? Các biểu hiện nghi thức và thực hành của nó ra sao? Từ đó có thể nhận ra những bài học luân lý và triết học gì?

Khổng Tử, vốn là cả Socrate, Solon hay Lycurge cộng lại của Phương Đông, thường nói về các thần linh và các linh hồn. Quả là trong Luận Ngữ khi nói với các học trò của mình, đôi khi ông đã từ chối giải thích về bản chất của những điều ấy; ta đã biết câu trả lời của ông cho một học trò hỏi ông về vấn đề này: “Phục vụ người sống ngươi còn chưa biết cách, thì ta dạy ngươi cách phục vụ người chết làm gì?” – Nhưng chúng ta cũng lại biết rằng về chuyện này, ông luôn trung thành với các tín ngưỡng của Trung Hoa cổ đại, mà đặc biệt tác phẩm Kinh Lễ còn giữ lại cho chúng ta nhiều dấu vết. Theo các tín ngưỡng đó, con người có một cái phách và một cái hồn. Khi chết, phách tan hủy cùng với thể xác, còn hồn thì tách ra; nó bay lượn trong khoảng không và sống một cuộc sống độc lập, thuần khiết, bay bổng. Đấy là cuộc sống của các linh hồn, của các vong hồn hay các bậc tổ tiên đã quá cố. Như vậy họ không chết đi hoàn toàn: họ tiếp tục sống một đời sống siêu nhiên, tinh thần. Nhưng cuộc sống chừng có thể nhạt nhòa đi, tan biến mất trong cõi vô cùng đó, được làm cho trở nên hiện thực hơn, đầy hiệu lực hơn, có thể nói như vậy, bằng ký ức mà những người còn sống lưu giữ về họ, bằng việc thờ cúng mà những người sống có bổn phận phải làm tròn đối với họ. Như vậy đấy những người đã chết vẫn còn tham dự mãi vào cuộc sống của gia đình mình, con cháu mình. Người ta lại nhắc đến họ trong mọi dịp long trọng, như khi có người mới ra đời, trong dịp cưới xin, v.v…

Kinh Lễ viết: “Ba tháng sau lễ cưới, người vợ trẻ được giới thiệu với tổ tiên trước bàn thờ với lời khấn sau đây: – Đây là cô dâu mới đã bước vào gia đình chúng ta. – Rồi đến ngày đã chọn trước, cô dâng lễ vật lên trước bài vị tổ tiên, và từ nay cô trở thành thành viên trong gia đình chồng”. Lời bình còn nói thêm rằng nếu cô bị chết trước lễ ra mắt và lễ dâng lễ vật ấy, thì dù đã sống chung với chồng, cô vẫn chưa phải là vợ anh ta và thi hài cô được trả về nhà cha mẹ.

Kinh Lễ còn viết thêm: “Trong trường hợp một đứa con dược sinh ra khi người cha đã chết, quan tài người cha còn quàn ở nhà, người làm lễ cúng sau khi đã gọi tên ông ta ba lần sẽ báo với ông ta: – Một thị đã sinh ra một cậu con trai: tôi xin báo cho người được biết… Nếu người chết đã được an táng, thì đứa trẻ sơ sinh sẽ được đưa trình báo trước bài vị của ông ta…”.

Việc thờ cúng các linh hồn và tổ tiên đã quá cố đã tồn tại từ thời rất xa xưa, Khổng Tử trong Luận Ngữ kể rằng vua Vũ, một trong những vị vua đầu tiên nửa truyền thuyết nửa lịch sử của Trung Quốc vốn rất giản dị, đã tỏ ra cực kỳ phóng khoáng khi dâng lễ vật cúng các vong hồn. – Khổng Tử viết trong Trung Dung: “Vào mùa xuân và mùa thu, người xưa trang trí bàn thờ tổ tiên. Họ bày các đồ đồng mà tổ tiên đã sử dụng và các quần áo tổ tiên đã mặc. Họ dâng cúng các thức ăn và hoa trái theo mùa.”

Trên đây tôi đã nói rằng Khổng Tử tôn trọng tôn giáo cổ xưa đó, các tín ngưỡng xưa đó của nước Trung Hoa cổ đại, lại còn vì chúng hoàn toàn phù hợp với học thuyết của ông về sự bảo tồn xã hội cơ sở trên việc thờ phụng quá khứ và truyền thống.

Nhưng tự ông có tin ở sự tồn tại của linh hồn không? Ông có tin ở sự hiện diện thật sự của linh hồn trong các lễ cúng và trong việc khấn vái không?

Qua những lời nói của ông, bao giờ cũng rất thận trọng khi đề cập đến những chuyện siêu hình, ta có thể nghi ngờ.

Chúng ta đã thấy câu trả lời của ông với một người học trò hỏi ông về cái chết. Sau đây là lời ông nói với một người học trò khác hỏi ông về chữ “trí”: “Làm tròn các bổn phận của một con người; tôn kính các thần; ấy là trí”.

Tôn kính các thần, nhưng kính nhi viễn chi, thái độ của bậc hiền triết đối với thần thánh là như vậy.

Có thể các vong hồn và thần thánh là có thật; cũng có thể không có thật. Duy có một điều chắc chắn là ta tôn kính họ; hãy làm điều đó với tất cả sự thành tâm, không mê tín cũng chẳng nên cuồng tín, như là ta thực hiện một nghi thức đạo đức và xã hội rất quan trọng.

Nghi thức ấy, quả vậy, bắt nguồn từ đức hiếu đễ, trong hệ thống chính trị – đạo đức của Khổng Tử, vốn là nền tảng của mọi đức hạnh, cơ sở của tế bào gia đình, và do đó cũng là của xã hội và của đế chế..

Trong những điều kiện đó, cần phải tôn kính những người đã chết như thế nào, và trong tất cả những người đã chết những người gắn liền với ta nhất, tổ tiên của chúng ta?

Theo Kinh Lễ lời nói sau đây là của Khổng Tử: “Coi người chết như là đã chết rồi thì sẽ là vô nhân. Chẳng nên làm thế. Nhưng coi họ như những người đang sống thì sẽ là vô lý. Chẳng nên làm thế”.

Như vậy không nên coi người chết như đã chết rồi, có nghĩa là không chăm nom gì đến họ nữa, quên bẵng luôn đi; cũng chẳng nên coi họ như còn sống, nghĩa là tin là họ còn sống thật. Đúng ra, họ sống bằng ký ức của chúng ta, bằng sự sống động, tính nồng nhiệt của cái tình cảm mà chúng ta gọi là đức hiếu đễ, biết tôn kính những người đã cho ta sự sống và ý thức, khiến cho họ còn tồn tại mãi mãi, nuôi giữ ký ức về họ, truyền nối việc thờ cúng mãi mãi cho con cháu chúng ta, bằng cách đó tạo cho ta cái ảo tưởng, – một thức ảo tưởng tốt lành, – về sự nối tiếp, về tính vĩnh hằng, tóm lại về sự bất tử, trong cuộc tồn sinh thoáng chốc, trong cõi thế gian biến ảo này.

Phải hiểu tình cảm sâu sắc của bậc hiền triết như vậy đấy. Tôn trọng truyền thống và các nghi lễ, ông không muốn bày tỏ rõ ràng ý kiến về vấn đề này. Tư tưởng của ông hẳn là như vậy. Đối với ông, việc thờ cúng người chết là tôn kính ký ức về họ, cơ sở trên đức hiếu đễ và tình cảm về sự vĩnh hằng của gia đình và nòi giống. Chính trong tinh thần đó mà ngày nay nó còn được thực hiện trong phần lớn thế giới Phương Đông ở đấy nó là tôn giáo chính và là tín điều thần khải hay siêu nhiên quan trọng nhất.

 

 

                                                                                                                              Bàn thờ tổ tiên ngày Tết. Ảnh: Lâm Khang.

Việc thờ phụng này có nhiều nghi thức mà mô tả lại ở đây sẽ chẳng có ích gì. Vả chăng ta đều biết mỗi gia đình người nước Nam, dù giàu hay nghèo, đều có bàn thờ ông bà của mình, có thể là một ngôi đền tráng lệ hay một cái kệ đơn giản treo bên trên một chiếc chõng. Trên đó đặt bài vị của tất cả những người thân đã mất cho đến đời thứ năm. Những người này là đối tượng của các lễ cúng đặc biệt vào các ngày giỗ và tất cả các ngày lễ theo nghi thức trong năm. Những người khác, các vị tổ tiên xa hơn, được ghi tên trên một bài vị chung và được cúng chung vào những ngày lễ theo nghi thức vốn rất nhiều trong năm. Có hai ngày được đặc biệt dành cho những người đã mất: ngày 3 tháng 3 (thanh minh), ngày viếng mộ; ngày lễ của những người chết này chẳng có gì là tang tóc và diễn ra vào một trong những lúc thời tiết đẹp nhất trong năm khi:

Cỏ non xanh tận chân trời…

Ngày lễ của những người chết này, gọi là “tẩy mộ”, thường có kèm theo một lễ hội của những người sống, bởi ý tưởng về cái chết – và đây là điều đáng chú ý, – ở xứ sở này chẳng có gì là tang tóc:

Gần xa nô nức yến oanh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Ngổn ngang gò đống kéo lên…

Ngày thứ hai dành cho những người chết, là ngày rằm tháng 7. Đúng ra đây là một ngày lễ Phật giáo cúng các vong hồn, tất cả những người chết mà không có người nối dõi để thờ phụng. Bởi tai họa lớn nhất đối với một con người là biết rằng đến một ngày nào đó không còn ai thờ cúng mình, vì không có hậu duệ, và do vậy trở thành một linh hồn lang thang mà đức từ bi của nhà Phật dành cho một lễ cúng chung và vô danh tính.

Do vậy những người chết mà không có hậu duệ trực tiếp thuộc giới nam để tiếp tục thờ cúng, theo luật nước Nam được phép chọn một người bà con gần gọi là “người thừa tự”. Qua đấy ta thấy ý tưởng về việc thờ phụng trong tâm hồn người nước Nam sâu sắc đến dường nào.

Việc thờ cúng người chết chủ yếu là thờ cúng tổ tiên.

Khổng Tử nói rằng: “Dâng lễ vật cho những vong hồn không phải là người thân của mình là một việc xu nịnh”.

“Mỗi người, mỗi gia đình phải dâng lễ vật cho những người thân của mình, chứ không phải cho những người khác. Nếu có ai đó dâng lễ cúng cho những vong hồn chẳng hề liên quan gì đến mình, thì rõ ràng là để nhận được một ân huệ mà họ chẳng có quyền được hưởng: một sự chiếm đoạt lấy ân huệ đáng chê trách”. (Wieger).

Như vậy, về nguyên tắc, mỗi người chỉ thờ cúng tổ tiên đã mất của mình. Nhưng có những con người trong đời mình đã làm nhiều điều tốt cho đồng bào mình, có công ơn đối với làng xóm của mình, tỉnh mình, đối với cả nước; có những vị vua, những vị quan đã xây dựng nên vinh quang của quốc gia; những vị tướng lĩnh đã cứu nước khỏi ách ngoại xâm; những nhà trí thức lớn đã đem lại vinh dự cho quốc gia do trí thông minh và tài năng của mình; những người đàn ông hay phụ nữ đã hy sinh vì danh dự hay đức hạnh; những người đó được quyền để cho đồng bào mình nhớ ơn và thờ phụng. Vậy nên các làng thờ phụng họ như những vị thành hoàng của làng; các tỉnh quê hương họ, hay cả nước lập đền thờ ở những nơi nổi tiếng để ghi nhớ công ơn họ. Đấy cũng là một hình thức thờ cúng tổ tiên; không phải là những bậc tổ tiên riêng của ai nữa, mà là tổ tiên chung của làng, của tỉnh thành, của quốc gia; đấy là thờ phụng các vị thần bảo hộ của đất nước, và theo một nghĩa nào đó, đó là việc thờ phụng những con người vĩ đại, những người anh hùng, mà Carlyle hết sức ca ngợi.

Việc thờ cúng người chết được hiểu và được thực hiện ở nước Nam là như vậy đấy. Do tầm quan trọng to lớn của nó về phương diện thiết chế gia đình và xã hội nước Nam, cùng những nghi thức tỉ mỉ kèm theo, nó đã thật sự trở thành một tôn giáo, tôn giáo của gia đình và nòi giống, tôn giáo của ký ức và lòng biết ơn. Quả thật đây là một tôn giáo hợp lý, logic, phù hợp với lý trí và tình cảm, ít mang tính chất thần bí nhất để thỏa mãn những tâm hồn sùng tín, và nhiều lý tính nhất để làm vừa lòng những đầu óc duy lý. Đấy là một thứ tôn giáo đầy tính triết học và người nước Nam lấy làm vinh dự đã thực hiện nó suốt bao thế kỷ dài.

(1930)

Chiếc bánh thứ nhất: Sống phút hiện tại

Hoa Kim Ngo shared a post.
Image may contain: 1 person, eyeglasses
An Nam Yakukohaiyo

Chiếc bánh thứ nhất: Sống phút hiện tại

Trích tác phẩm “Năm chiếc bánh và hai con cá” được Hồng Y Nguyễn Văn Thuận viết khi bị đưa đi tù cải tạo

Tên tôi là Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, người Việt Nam. Đối với người ngoại quốc tên tôi khó đọc, nên ở Tanjania, Nigeria, Đại Hàn, Đài Loan, các bạn trẻ gọi tôi là “Bác Francis” (Uncle Francis) hay đơn giản hơn nữa là “Francis!”

Đến 23-4-1975 tôi làm Giám mục đã được tám năm, tại Nha Trang, Trung phần Việt Nam, Giáo phận đầu tiên Tòa Thánh trao phó cho tôi. Tôi đã sống những ngày tháng hạnh phúc ở đó và Nha Trang vẫn chiếm một chỗ đặc biệt trong quả tim tôi. Ngày 23-4-1975, Đức Phaolô VI đã đặt tôi làm Tổng Giám mục phó Sàigòn. Khi cộng sản đến Sàigòn, họ đã bảo rằng: “Việc bổ nhiệm một Giám mục một tuần trước khi chúng tôi đến Sàigòn là một âm mưu giữa Vatican và đế quốc, nhằm tổ chức chống cộng sau này”.

Ba tháng sau, ngày 15-8-1975, tôi được mời vào Dinh Độc lập lúc 2 giờ chiều và bị bắt ở đó.

Đêm đó, trên đường dài 450 km, xe công an chở tôi về nơi quản thúc. Bao nhiêu tâm tình lẫn lộn trong đầu óc tôi: lo lắng có, cô đơn có, mệt mỏi có, sau mấy tháng căng thẳng…nhưng trong trí tôi, một quyết định sáng tỏ đã đánh tan mây mù. Tôi nhớ lời Đức Cha John Walsh, một Giám mục truyền giáo gốc Mỹ, đã nói lúc ngài được tự do sau 12 năm tù ở Trung cộng: “Tôi đã mất nữa đời người để chờ đợi”. Rất đúng! tất cả mọi tù nhân, trong đó có tôi, phút giây nào cũng mong đợi tự do. Suy nghĩ kỹ, trên chiếc xe Toyota trắng, tôi đã đặt cho mình một quyết định: “Tôi sẽ không chờ đợi. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy tình thương”.

Đây không phải là một cảm hứng đột xuất, nhưng là một xác tín đã ấp ủ suốt quãng đời mãi từ tiểu chủng viện: “Nếu tôi mất giờ đợi chờ, không làm gì hết, biết đâu những điều tôi đợi sẽ không bao giờ đến. Chỉ có một điều, dù không đợi cũng vẫn đến, đó là sự chết!”

Trong làng Cây Vông, nơi tôi bị quản thúc, ngày đêm có nhân viên an ninh chìm nổi theo dõi. Trong óc một tư tưởng không ngừng làm tôi xót xa, thao thức: “Giáo dân của tôi! một đoàn chiên hoang mang, giữa bao hiểm nguy, thách đố của một giai đoạn lịch sử mới. Làm sao tôi có thể gần gủi, liên lạc với họ, trong giai đoạn họ cần đến người mục tử nhất! Các nhà sách Công giáo bị đóng cửa, trường học Công giáo do Nhà nước quản lý, tôn giáo sẽ không còn được dạy dỗ trong các trường nữa; các linh mục, sư huynh, nữ tu có khả năng phải đi ra thôn quê, đi nông trường lao động, không được dạy học nữa! Sự xa lìa giáo dân là một cú “sốc” giày vò tan nát quả tim tôi.

Tôi không đợi chờ. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy tình thương. Nhưng làm thế nào?

Một đêm, một tia sáng đến với tôi: “Con hãy bắt chước thánh Phaolô. Khi ngài ở tù, không hoạt động tông đồ được, ngài đã viết thư cho các giáo đoàn. Đơn giản vậy mà con đi tìm đâu cho xa?”

Sáng hôm sau, vừa mới tinh sương, giữa tháng 10 năm 1975, tôi làm hiệu cho một cậu bé 7 tuổi, tên Quang, vừa đi lễ 5 giờ ra, trời còn mù và lạnh: “Quang! con về nói má con mua cho ông mấy “bloc” lịch cũ, ông cần dùng”. Chiều tối, chú bé mang lại mấy “bloc” lịch cũ. Thế là mỗi đêm trong tháng 10 và tháng 11, 1975, tôi đã đóng hết cửa, lấy giấy xi-măng dán bên trong và viết “Sứ điệp từ ngục tù” cho giáo dân của tôi, dưới ánh đèn dầu leo lét, mặc cho muỗi tha hồ đốt. Mỗi sáng thực sớm tôi trao cho bé Quang, mấy tờ lịch tôi đã viết sau lưng, mang về cho anh, chị của Quang chép lại kẻo mất. Nếu để trên bàn tôi, “ông An” (một giáo dân) thấy sẽ sinh tai họa. Đấy là đầu đuôi sách “Đường Hy Vọng”, sứ điệp lao tù thành hình là như thế. Hiện nay sách đã được xuất bản bằng tám thứ tiếng.

Chúa đã ban ơn cho tôi có nghị lực để tiếp tục làm việc, kể cả những lúc chán nản nhất. Tôi đã viết đêm ngày trong một tháng rưỡi, vì tôi sẽ bị “chuyển trại” và không có điều kiện hoàn tất được. Lúc viết đến số 1001 tôi quyết dừng lại, xem đây như công trình “nghìn lẻ một đêm”. Ngày 8-12-1975, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Tội, tôi đã tạ ơn Đức Mẹ cho tôi viết xong “Đường Hy Vọng” và trao trong tay Đức Mẹ gìn giữ, đó là của Đức Mẹ, nhờ ơn của Đức Mẹ, xin Đức Mẹ tiếp tục lo liệu. Đoán vậy mà không sai, đến ngày 18-3-1976, tôi bị đưa vào trại Phú Khánh, biệt giam vất vả nhất.

Năm 1980, lúc bị đưa ra quản thúc ở Giang Xá, Bắc Việt, tôi đã tiếp tục viết mỗi đêm trong bí mật cuốn thứ hai, “Đường Hy Vọng Dưới Anh Sáng Lời Chúa và Công Đồng Vatican II”, cuốn thứ ba, “Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng”.

Tôi không chờ đợi. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy yêu thương.

Trong Phúc âm, các Tông đồ muốn chọn con đường dễ nhất, khỏe nhất: “Xin Thầy cho dân chúng về, để họ mua thức ăn”…Nhưng Chúa Giêsu muốn hành động trong phút hiện tại: “Chính các con hãy cho họ ăn đi” (Lc 9, 1). Trên thánh giá, khi người ăn trộm thưa với Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, khi về thiên đàng xin Ngài nhớ đến tôi”. Chúa Giêsu đáp: “Hôm nay con sẽ ở cùng Ta trên nước thiên đàng” (Lc 23, 42-43). Trong tiếng “hôm nay” của Chúa Giêsu, tôi cảm thấy tất cả sự tha thứ, tất cả tình thương của Ngài.

Cha Maximiliano Kolbe sống tinh thần ấy khi ngài khuyên các tập sinh trong dòng: “Tất cả, tuyệt đối, không điều kiện”. Tôi đã nghe Đức Cha Helder Camara nói: “Cả cuộc đời là học yêu thương”. Một lần Mẹ Têrêxa Calcutta gửi thư cho tôi, Mẹ viết: “Điều quan trọng không phải là số công tác đã thực hiện nhưng là mức độ tình yêu ta đã để vào mỗi công việc”.

Làm sao yêu thương đến cao độ như thế trong mỗi phút hiện tại? Tôi nghĩ rằng tôi phải sống mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút như là giờ phút cuối cùng của đời tôi. Dẹp bỏ những gì là phụ thuộc, tập trung cả tâm hồn cho những gì là chính yếu. Mỗi lời nói, mỗi tư tưởng, mỗi cử chỉ, mỗi cú điện thoại, mỗi quyết định phải là “đẹp nhất” của đời tôi. Tôi phải dành cho mỗi người tình yêu của tôi, nụ cười của tôi: tôi phải lo sợ đánh mất một giây phút nào trong đời mình vì đã sống không ý nghĩa…

Tôi đã viết trong sách Đường Hy Vọng: “Con chỉ có một giây phút đẹp nhất: giây phút hiện tại (x Mt 6, 34; Gc 4, 13-15). Sống trong tình yêu Chúa cách trọn vẹn, đời con sẽ tuyệt đẹp nếu kết tinh bằng từng triệu giây phút đẹp nhất. Con thấy đơn sơ, không phải khó (ĐHV 997).

Các bạn trẻ thân mến, trong thời đại này, Chúa Giêsu cần đến các bạn. Đức Gioan Phaolô II tha thiết kêu gọi các bạn hãy đương đầu với những thách đố của thế giới hôm nay:

Chúng ta đang sống trong một giai đoạn đầy biến chuyển kinh khủng. Những lý thuyết được xem là đủ sức thi gan cùng tuế nguyệt nay đã đến lúc xế chiều. Trên hoàn cầu, cần phải phác họa lại ranh giới của nhiều quốc gia. Nhân loại tự cảm thấy mình rất lúng túng, hốt hoảng, lo lắng (Mt 9, 36). Nhưng lời Chúa không bao giờ qua đi; đọc lại lịch sử, chúng ta thấy bao nhiêu biến cố thăng trầm, đang lúc ấy lời Chúa đứng vững và chiếu sáng (Mt 24, 35). Đức tin của Hội thánh được xây dựng trên Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu thế độc nhất: hôm qua hôm nay và mãi mãi (Eb 13, 18).

(Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 2)

Cuồng tử, tại nơi quản thúc: Giang Xá, Bắc Việt
ngày 19-3-1980, Lễ Thánh Giuse.

DUY TRÌ DÂN CHỦ  VÌ SAO CỘNG SẢN RẤT SỢ DÂN CHỦ –

Hoa Kim Ngo shared a post.

Thông Luận: DUY TRÌ DÂN CHỦ 
VÌ SAO CỘNG SẢN RẤT SỢ DÂN CHỦ –

Để đảm bảo dân chủ trường tồn, cần gì? Cần một lãnh đạo có tinh thần dân chủ, cần người dân có tinh thần dân chủ, hay cần một thể chế chính trị đảm bảo dân chủ? Để hiểu sâu về vấn đề này xin hãy đào sâu những nền dân chủ trên thế giới hình thành như thế nào và nó duy trì ra sao?

See More

Image may contain: 2 people, people smiling, suit
THÔNG LUẬN
Political Organization
THÔNG LUẬN

DUY TRÌ DÂN CHỦ 
VÌ SAO CỘNG SẢN RẤT SỢ DÂN CHỦ –

Để đảm bảo dân chủ trường tồn, cần gì? Cần một lãnh đạo có tinh thần dân chủ, cần người dân có tinh thần dân chủ, hay cần một thể chế chính trị đảm bảo dân chủ? Để hiểu sâu về vấn đề này xin hãy đào sâu những nền dân chủ trên thế giới hình thành như thế nào và nó duy trì ra sao?

Nước Mỹ giành độc lập từ tay Anh Quốc ngày 04/07/1776. Và đến ngày 17/09/1786 thì bản Hiến pháp ra đời. Bản Hiến pháp này là một bản thiết kế nhà nước tam quyền phân lập theo mô hình nhà nước cộng hoà đầu tiên trên thế giới ra đời. Như vậy nhóm soạn thảo Hiến pháp phải là những người đã nhiễm tinh thần dân chủ từ Âu Châu. Nếu những con người lập quốc ấy, có máu độc tài, chắc chắn không có bản Hiến pháp ấy ra đời. Và nước Mỹ chắc chắn cũng loay hoay trong hàng thế kỷ nữa mới có dân chủ.

Nước Hàn Quốc những thập niên 80 của thế kỷ trước đã dân chủ hoá từng bước theo những cuộc biểu tình đòi yêu sách của người dân. Và đến cuối thập niên thì Hàn Quốc có dân chủ. Mỹ khởi sự nền dân chủ bằng chủ trương của các nhà lập quốc, còn Hàn Quốc là từ đòi hỏi toàn dân. Như vậy, qua 2 mô hình trên ta đều thấy có điểm chung, đấy là phải có con người dân chủ.

Từ sau khi độc lập đến nay, nước Mỹ chưa một lần rơi vào hoạ độc tài. Câu hỏi đặt ra là, nếu một người có máu độc tài làm tổng thống trong một bộ máy tam quyền phân lập đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, thì ông ta có lộng hành được không? Chính một thể chế chính trị phân quyền đã kiểm soát những việc làm độc đoán của tổng thống. Ví dụ, nếu tổng thống ban sắc lệnh vi hiến, tòa bảo hiến sẽ bác bỏ. Nếu tổng thống phạm tội, quốc hội sẽ luận tội để truất phế chức vụ tổng thống. Sau khi truất phế, tư pháp sẽ truy tố. Và Hàn Quốc từ 1990 đến nay, không ít tổng thống bị truy tố.

Cho nên, khi thiết lập nền dân chủ thì cần có con người dân chủ. Và khi duy trì dân chủ thì cần 2 yếu tố là nhà nước tam quyền phân lập đúng nghĩa và con người dân chủ. Chính 2 yếu tố này hội đủ, nó sẽ hoá giải tổng thống có máu độc tài. 2 yếu tố, con người và thể chế là cực kỳ quan trọng.
Đỗ Ngà
https://www.facebook.com/dongacanada

LÍNH CANH GÁC BIÊN GIỚI TỰ MỞ CỬA CHO XE VIỆN TRỢ ĐỒ ĂN THỨC UỐNG VÀO VENEZUELA

Hoa Kim Ngo and 3 others shared a link.
NGHIEPDOANBAOCHI.ORG
Sau một ngày được thuyết phục, những người lính canh gác biên giới đã tự động mở cánh cổng, chào đón những chuyến xe hàng viện trợ, đồ ăn, thức uống, thuốc men đầu tiên. Bỏ mặc lệnh cấm của Maduro&…

LÍNH CANH GÁC BIÊN GIỚI TỰ MỞ CỬA CHO XE VIỆN TRỢ ĐỒ ĂN THỨC UỐNG VÀO VENEZUELA

Sau một ngày được thuyết phục, những người lính canh gác biên giới đã tự động mở cánh cổng, chào đón những chuyến xe hàng viện trợ, đồ ăn, thức uống, thuốc men đầu tiên. Bỏ mặc lệnh cấm của Maduro… Đại diện Bộ Ngoại giao Venezuela cùng Cảnh sát Chỉ huy trưởng Colombia cũng có mặt để đốc thúc các chuyến xe… Tinh thần người dân đã phấn chấn trở lại…
Chị Đinh Duyên Anh, một người phụ nữ Việt Nam dành lời khen cho những người lính phản tỉnh ở Venezuela như sau: “Thật cảm động và khâm phục những ai đã thuyết phục được lính mở cửa biên giới. Chỉ có trái tim vì dân mới chạm được đến trái tim những người vì dân mà bất chấp thân và những lệnh cấm của chính phủ. Tuyệt vời!”

Hành động ngăn chặn hàng cứu trợ của tổng thống gian lận Maduro đã thất bại. Maduro từng cho chướng ngại vật chặn các tuyến đường huyết mạch, không cho hàng cứu trợ đến với dân đang đói.

Hàng rào được dựng lên theo lệnh của Maduro để ngăn không cho nhân dân Venezuela nhận viện trợ từ quốc tế

Không ai ngăn nổi sóng thần. Một khi nhân dân đã đồng lòng đứng dậy thì mệnh lệnh của ông tổng thống chỉ như nước đổ xuống lỗ. Nhà báo tự do Lê Dũng ở Hà Nội tuyên bố: “Thằng giặc độc tài Maduro đã thất bại, chỉ chờ chui cống ! ”

Tổng thống lâm thời Juan Guaidó trước đó đã có nước cờ cao tay, khi chủ động đàm phán với phía Trung Quốc – chủ nợ lớn nhất của Venezuela, đồng thời cũng được xem là tác nhân gây ra thảm họa sụp đổ của nền kinh tế nước này. Tân tổng thống Juan Guaidó hứa với Trung Quốc rằng các quyền lợi kinh tế, các món nợ, các hiệp định đã kí kết giữa hai bên sẽ được chính phủ chuyển tiếp đảm bảo. Trung Quốc thấy được nhiều hơn mất, vậy thì cũng làm ngơ cho đồng chí Maduro và chủ nghĩa cộng sản ở đất nước Mỹ-Latinh sụp đổ.

Chính nghĩa bao giờ cũng thắng bạo tàn. Bà Maria Corina Machado dành cả tuổi thanh xuân để cứu trợ cho nhân dân velezuela tiếp tục sự nghiệp cách mạng không tiếng súng. Chàng trai trẻ Juan Guaidó- đại diện của bà Maria, đã giành chính quyền thông qua bầu cử, chứ không phải là đi ăn cướp chính quyền!. “Người ta có thể bẻ một cành hoa, nhưng không thể ngăn mùa xuân đến “, Juan Guaidó.

Dân tộc không biết tự cứu

Dân tộc không biết tự cứu

7-2-2019

Dân tộc Việt Nam đang bị nhốt trong cái lồng cai trị của ĐCS. Với số lượng lên đến 100 triệu người, lẽ ra dân tộc Việt Nam có sức mạnh vô biên, nhưng cuối cùng chỉ là bầy cừu ngoan ngoãn. Với sức mạnh đó, họ dư khả năng tự phá bỏ xiềng xích để giải thoát cho mình thay vì cầu thánh thần đến mở cho.

ĐCS như là cái lồng nhốt cả dân tộc này vào đấy. Nhân dân đói nghèo cũng bởi sự cai trị của ĐCS; doanh nghiệp chân chính bị o ép, bị làm khó bởi luật, bị vòi vĩnh tiền do hối lộ cũng bởi sự cai trị của ĐCS; cuộc sống người dân phải chịu vô số những rủi ro như tai nạn giao thông cao, chết vì ung thư nhiều, thuế má nặng nề vv.. Tất cả đều bởi sự cai trị của ĐCS mà ra cả. Đứng trước những khó khăn như thế, dân tộc nào sáng suốt họ đã chọn cách bày tỏ thái độ chính trị để đi đến giải quyết rốt ráo nguyên nhân làm cho 100 triệu người phải cơ cực, cuộc sống bất ổn. Nhưng dân tộc Việt Nam lại cầu thánh thần.

Cái tử huyệt của dân tộc Việt Nam là tính cá nhân đến cực đoan, nhưng tính tập thể thì gần như không có. Với người Việt, khi bị bế tắc, đa phần là họ cầu thánh thần chỉ ban riêng cho họ sự giàu có mà quên rằng, nếu đất nước thịnh vượng thì tất cả mọi người, trong đó có họ con cháu của họ sau này cũng được hưởng. Khi người Việt đứng vào tổ chức, họ nghĩ ngay đến cách đấu người này, đè người kia để họ ngoi lên, cho nên hầu hết các tổ chức hoặc không thể lớn mạnh, hoặc bị mục rữa và giải tán. Sức mạnh của một dân tộc không chỉ nằm ở sự thông minh mà con phụ thuộc vào tính hy sinh vì cộng đồng và tinh thần trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng đó, với tổ chức đó. Theo tôi, tính tổ chức cao quyết định thành công nhiều hơn sự thông minh tính toán lợi hại cho riêng mình. Thông minh kiểu như thế, nếu gộp lại thì chỉ là một cộng đồng yêu, chắc chắn là vậy.

Trăm triệu dân, nếu biết sức mạnh của mình và sử dụng đúng, thì đủ để bẻ gãy xiềng xích CS như bẻ củi mục. Nhưng cuối cùng thì hoàn toàn thất vọng, cả dân tộc chỉ biết quỳ lạy khóc lóc van xin thánh thần cởi xiềng xích cho mình. Với một dân tộc như thế, thánh thần nào cởi xích cho? Lúc đó thánh thần sẽ nói “các ngươi dư sức bẻ gãy xiềng xích sao lại cầu đến ta?”. Và chắc chắn, thánh thần sẽ để cho dân tộc ấy chết trong cái xiềng xích đó mà thôi.

Chuyện kể rằng, một anh chàng bị ngã xuống nước. Hoảng quá anh ta vẫy vùng la hét kiêu cứu, nhưng chẳng ai nghe thấy. Và cuối cùng anh ta chết chìm. Khi vớt anh ta lên, người ta lội xuống ao kéo anh ta vào bờ một cách dễ dàng, vì đơn giản, cái ao chỉ sâu đến vai. Vâng! Anh ta chết vì anh ta không hề biết, chính anh ta có thể tự cứu được mình. Dân tộc Việt Nam réo gọi thánh thần cầu cứu cho mình trong khi chính mình không biết tự cứu trong tường hợp như thế. Muốn được cứu, phải thay đổi nhận thức và tìm cách tự cứu, đó là bài toán cho dân tộc Việt Nam, không có cách giải khác.

NHỮNG AI ĐÃ PHẢN BỘI ÔNG CHA

NHỮNG AI ĐÃ PHẢN BỘI ÔNG CHA
– Nguyễn Đình Cống

“Ông cha của phần đông chúng ta đã theo Đảng Cộng sản , tôn sùng Chủ nghĩa Mác Lênin ( CNML ), làm CM để giành độc lập, mang tự do, dân chủ, hạnh phúc cho nhân dân. Nhiều người đã hy sinh xương máu. Thế mà giờ đây có một số người phê phán và đòi từ bỏ CNML, đòi xóa hoặc đổi tên đảng Cộng sản. Những người như vậy liệu có phản bội lại sự hy sinh của thế hệ ông cha, liệu có vi phạm vào đạo lý “ Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây”. Đó là vấn đề được nhiều bạn trẻ đặt ra yêu cầu giải đáp. Tôi viết để trả lời câu hỏi đó.

Tôi đọc sách “ Chủ nghĩa Lê nin” vào khoảng đầu năm 1945, lúc 9 tuổi, khi cán bộ Việt Minh Nguyễn Văn Đồng ( nay là trung tướng Đồng Sỹ Nguyên) đến vận động và giác ngộ cha tôi làm CM. Anh Đồng đã đem quyển sách đó cho cha tôi nghiên cứu, tôi vì tò mò mà đọc trộm và chỉ hiểu lơ mơ. Lớn lên tôi được học tập CNML khá nhiều, không những ở trong nước mà còn ở Liên xô. Quá trình nhận thức về CNML của tôi được chia thành 4 giai đoạn.

1- Từ 10 đến khoảng 30 tuổi là lúc chỉ biết tuyệt đối tin tưởng vào Đảng và Bác Hồ, cho rằng CNML là hoàn toàn đúng.
2- Từ khoảng 30 đến 50 tuổi ( 1966-1986) là giai đoạn có những nghi ngờ và suy nghĩ trước thực trạng có sự sai khác nhiều giữa lý thuyết và thực tế.
3-Từ khoảng 50 đến 70 tuổi ( 1986-2006 ) tôi để tâm nghiên cứu, tìm cách giải thích thực trạng của xã hội. Qua nghiên cứu tôi nhận ra sự sai lầm từ gốc của CNML, thấy rằng nó là tai họa cho cho nhân loại nói chung và cho dân tộc VN. Vì sợ bị quy kết, bị đàn áp mà tôi không dám công khai các ý kiến, chỉ thỉnh thoảng thì thầm trao đổi giữa những người bạn thân tín.
4- Từ trên 70 tuổi (từ năm 2006 trở đi ) tôi bớt dần và từ năm 2013 trở đi đã vượt qua được sự sợ hãi nên mới công khai viết một số bài phê phán và vận động từ bỏ CNML. Cũng là nhờ vào Internet.( tóm tắt 4 giai đoạn là : tin, nghi, sợ, vượt ).

Tiêu chuẩn để đánh giá một học thuyết chính trị là thực tế thu được khi áp dụng nó vào cuộc sống chứ không phải do suy luận. Giá trị thực của học thuyết nằm ở bản chất của nó, được xây dựng nên từ những luận cứ và luận chứng đầy đủ, minh bạch, chính xác, trung thực chứ không phải nó đúng vì đã có bao nhiêu người hy sinh xương máu cho nó, không phải dựa vào sự tuyên truyền dối trá, ngụy biện. Trong lịch sử có nhiều dẫn chứng về việc hàng triệu, hàng chục triệu người hy sinh để bảo vệ sự độc tài tàn bạo mà kẻ thống trị đưa ra sự vinh quang hão huyền để lừa bịp, thí dụ Tần Thủy Hoàng, Napôlêông, phát xít Hitle, Muxôlini ….

Đã có đầy đủ các chứng minh rằng CNML là sai lầm, chứa nhiều độc hại. Nó tồn tại được, mê hoặc được một số khá đông người trong một thời gian là dựa vào sự tuyên truyền dối trá, sự ngụy biện, sự hứa hẹn hão huyền. Và khi các đảng theo CNML đã nắm được chính quyền thì còn dùng thủ đoạn đàn áp của nền thống trị độc tài với lực lượng công an hùng hậu. Sự khủng bố, đàn áp nhân dân ở Campuchia, ở Trung quốc dưới chế độ cộng sản, sự sụp đổ của Liên xô và các nước XHCN Đông Âu là bằng chứng hùng hồn về sai lầm và tác hại của CNML.

Đảng CSVN được Nguyễn Ái Quốc thành lập năm 1930, tuy có liên quan đến CNML nhưng thực sự là dựa trên lòng yêu nước của nhân dân mà chủ yếu là của những người ưu tú để đánh đuổi thực dân, giành độc lập, chống áp bức chứ không phải để thực thi CNML bằng đấu tranh giai cấp và làm chuyên chính vô sản, càng không phải để xây dựng chế độ độc tài . Tiêu đề Việt nam Dân chủ Cộng hòa. Độc lập Tự do Hạnh phúc do Hồ Chí Minh nêu ra là một minh chứng.

Ông bà, cha mẹ, anh chị chúng ta hy sinh xương máu là vì lòng yêu nước, vì độc lập, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân, chứ không phải vì CNML, không phải để bảo vệ CNML. Kể cả nhiều đảng viên cộng sản, họ hy sinh, họ bất khuất cũng chính vì lòng yêu nước chứ không phải vì CNML. Khác với một số nước cộng sản khác, ở Việt nam CNML tồn tại được , ban đầu là nhờ bám vào lòng yêu nước của các thành phần ưu tú của dân tộc. Đảng CSVN phát triển được là dựa vào lòng yêu nước của phần đông nhân dân. Nhưng đến khi đã nắm được chính quyền thì ĐCS lại vì bảo vệ và thực thi ý thức hệ cộng sản mà đề cao chuyên chính vô sản, thâu tóm quyền lực, hình thành nên giai cấp thống trị mới với các nhóm lợi ích, với tệ tham nhũng, mua quan bán tước. ĐCSVN quốc hữu hóa toàn bộ ruộng đất, tạo điều kiện cho quan chức chiếm đoạt để làm giàu, tạo nên vô số dân oan, đàn áp các phong trào dân chủ, vu cáo để bỏ tù hàng ngàn, hàng vạn người bất đồng chính kiến, vay nợ nước ngoài, sử dụng tiền thuế của dân và tài sản quốc gia, chỉ dùng một phần để phát triển kinh tế và quản lý xã hội , còn phần lớn để làm những công trình xa hoa, lãng phí (có một số đắt nhất và mau hỏng nhất thế giới), tổ chức liên hoan tiệc tùng và tiêu xài lãng phí, một phần không nhỏ được chia nhau bỏ túi, tạo nên những nhà tư bản đỏ. Quan chức của Đảng to mồm rao giảng “ Nhà nước của dân, do dân, vì dân, xây dựng đời sống dân chủ, tự do, hạnh phúc…”, nhưng đó chỉ là khẩu hiệu, là lời nói suông, còn thực tế như thế nào thì mọi người đã biết rõ.

Như vậy có thể kết luận một cách chắc chắn : Những kẻ tham nhũng đang cầm quyền, đang mua quan bán chức, đang đàn áp dân chủ và tạo nên những oan trái cho dân, những kẻ đang thần phục, chịu lệ thuộc vào Trung Cộng, dâng đất đai, biển đảo cho chúng chính là bọn phản lại sự hy sinh xương máu của ông cha, phản lại mục tiêu cao đẹp của CM là tự do , hạnh phúc của toàn dân. Chúng nó luôn mồm cao giọng tuyên bố là kế tục sự nghiệp CM cứu nước của các bậc tiền bối, nhưng thực tế chúng nó đã phản bội lại lý tưởng ban đầu của các chiến sĩ cộng sản , chúng nó chiếm đoạt thành quả của dân tộc để làm giàu riêng. ĐCSVN hiện nay và ĐCSVN lúc thành lập là cùng tên nhưng bản chất không giống nhau, là hai đảng khác nhau xa. Ông cha chúng ta theo ĐCS là theo đảng trước đây chứ không theo đảng bây giờ.

Ông cha chúng ta vì lòng yêu nước, khi biết ĐCS được thành lập để làm CM giành độc lập, lại có lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thì vội tin, đi theo và sẵn sàng hy sinh vì đại nghĩa. Khi đã đi cùng ĐCS, họ bị tuyên truyền, bị nhồi sọ, bị lừa dối nên tin theo một chiều mà không thể biết được những độc hại của CNML, không biết được mặt trái và sự thâm độc của ĐCS. Nếu họ biết rõ , khi ĐCS nắm được chính quyền sẽ trở thành độc tài chuyên chính vô sản, rồi toàn bộ ruộng đất của tổ tiên để lại sẽ bị sung công, rồi con cháu của họ sẽ bị đảng khép vào vòng ý thức hệ thì chưa chắc họ đã tin và theo như thế. Như vậy phần đông trong số họ đã bị lừa dối, bị nhầm lẫn, phạm vào sai lầm “ đuổi hổ cửa trước, rước sói cửa sau”.

Khi biết ông cha đã nhầm đường, không lẽ chúng ta lại tiếp tục đi theo một cách mù quáng. Xin đừng ngộ nhận là ông cha đã hy sinh xương máu là nhằm tạo nên một chế độ độc tài như hiện nay. Làm con cháu mà không sửa được cái sai, cái nhầm của ông cha là loại ngu đần, tưởng là có hiếu nhưng thật ra là bất hiếu. Không sớm thì muộn, cách gì rồi dân tộc VN cũng giác ngộ ra chân lý và từ bỏ CNML, cách gì rồi chế độ cộng sản cũng sụp đổ hoàn toàn, càng kéo dài nó ngày nào là có tội với dân tộc, có tội với ông cha ngày đó. Như vậy những người phê phán và vận động từ bỏ CNML mới là người yêu nước, yêu dân thật sự, họ chống lại những giáo điều lạc hậu, chống lại sự toàn trị chuyên chính vô sản, chống lại bất công, tàn bạo và áp bức do ĐCS gây ra, họ thật sự vì tự do và hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy họ mới chính là những người tiếp bước sự nghiệp và nguyện vọng của ông cha. Còn về việc uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây thì đó là lòng chúng ta biết ơn, tưởng nhớ, kính cẩn thờ phụng ông cha và các liệt sĩ chứ không phải là việc nối tiếp và phát triển những sai lầm, không thể là việc tôn thờ những điều dối trá, những tội ác của những kẻ đã lừa dối họ và đang tiếp tục lừa dối chúng ta. Mong các bạn trẻ tỉnh táo, tự suy nghĩ bằng đầu óc của mình, dùng thực tế để kiểm chứng, đừng bị mắc vào vòng tuyên truyền lừa dối.”

Image may contain: 1 person, text

ĐIỀM

ĐIỀM

Đầu năm 2019 đánh dấu XHCN Venezuela đi đến những ngày cuối cùng của nó. Nhân dân đang dõi theo tình hình bên tận nửa vòng trái đất để tận mắt nhìn thấy cơn hấp hối của một mô hình chính trị gần giống với Việt Nam. Từ cái chết của XHCN nước này, người dân cũng hiểu rằng thế nào cái thể chế được gọi bằng cái tên dài ngoằn CHXHCNVN cũng sẽ đi đến thời điểm như vậy.

Nhìn cơn hấp hối của XHCN Venezuela, CSVN cũng sợ cho cái kết của của mình. ĐCSVN thừa biết, CHXHCNVN của họ cũng đang mang cùng một loại virus của kẻ sắp chết – XHCN Venezuela nên họ phát hoảng. Trên hàng loạt trang báo, Ban Tuyên Giáo cho đăng bài “Cảnh giác lợi dụng bất ổn ở Venezuela để xuyên tạc tình hình Việt Nam”, điều đó cho thấy CSVN họ sợ điềm báo cho chế độ.

Người CS ngày nay họ không không phải vô thần như cha ông họ, mà đã tin hơn tâm linh. Họ có lòng tham vô độ nhưng họ cũng muốn chính họ không phải gánh sự trừng phạt của trời đất. Chính vì thế, họ hay tìm đến đền chùa linh thiêng cầu khấn. Trước thềm Đại Hội 12, Nguyễn Tấn Dũng và Trần Bắc Hà sang tận Ấn Độ cầu phật. 6 tháng trước khi chết, Trần Đại Quang cũng đến chính ngôi chùa đó gục đầu vào bức tường cầu khấn. Và cuối cùng Trần Bắc Hà và Trần Đại Quang không thoát được quả báo, còn Nguyễn Tấn Dũng thì đang như ngồi trên đống lửa khi lò Nguyễn Phú Trọng dí sát vào mặt.

Pháp Quyền XHCN của CSVN là thứ luật mà ai có tiền cũng đều có thể hối lộ để CS bẻ cong luật. Nhưng luật trời không thế, ai đã gieo nhân nào thì kẻ ấy phải nhận ngay cái quả từ nhân mà chính họ đã gieo. Tưởng luật trời giống luật CS nên họ hối lộ, cầu khẩn, và kết quả là đã thất bại.

Ông Nguyễn Phú Trọng là người cuồng chủ thuyết CS và trung thành tuyệt đối với chủ tuyết ấy, nhưng ông ta không phải vô thần mà cũng tin vào tâm linh. Đã 75 tuổi, ông ta thừa trí tuệ và thừa kinh nghiệm để chiêm nghiệm lại quy luật của trời. Trước khi đi đến một biến cố lớn, trời thường có mang đến những dấu hiệu báo trước hoặc qua lời một con người nào đó tiên đoán đúng thời điểm xảy ra biến cố. Ở trời Tây người ta gọi đó là “tiên tri”, trời Đông người ta gọi đó là ” điềm”. Nếu tin ở tâm linh ắt hẳn ông Trọng cũng tin vào điềm.

Không biết cơn hấp hối của XHCN Venezuela có phải là điềm cho Việt Nam hay không, nhưng sao thấy cách hành động của Ban Tuyên Giáo dường như CSVN đang rất sợ những điềm báo cho họ.

Giờ phút giao thừa, Nguyễn Phú Trọng đọc lời chúc tết với thần thái nhìn rất vô hồn. Không biết đó có phải là điềm cho một cuộc sóng gió ĐCS không? Nếu đúng thì nhân dân vui sướng lắm.

— Đỗ Ngà —

DONGA.BLOG
Do Nga, Đỗ Ngà, Đỗ Văn Ngà, Facebooker Do Nga, Facebooker Do Van Nga, Do Van Nga, freedom, Vietnam

Thờ cha kính mẹ

Thờ cha kính mẹ (6.2.19–TT Tuần 4 TN Mồng Hai Tết Nguyên đán) Lời Chúa: Mt 15, 1-6. Bấy giờ có mấy người Pharisêu và mấy kinh sư từ Giêrusalem đến gặp Ðức Giêsu và nói rằng: “Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa?” Người trả lời: “Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa? Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: ‘Ai nói với cha mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy, không phải thờ cha kính mẹ nữa’. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà hủy bỏ lời Thiên Chúa.” S.N.:

Giáo Hội dành Mồng Hai Tết để kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ.

Người Công Giáo thường bị coi là bỏ rơi việc thờ cúng ông bà tổ tiên, như thế họ có thể bị coi là bất hiếu.

Thật ra thảo kính cha mẹ là điều răn thứ bốn Thiên Chúa đòi chúng ta phải giữ.Cha Đắc Lộ trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày (1651) cho rằng thảo kính cha mẹ gồm bốn phần, đó là yêu mến, kính sợ, chịu lụy và giúp đỡ.Cha còn ghi nhận một tập tục đặc biệt vào thời đó.

Ngày Mồng Một Tết, người dân và cả những quan lớn, sau khi theo vua chúa đi tế Nam Giao về, “ai nấy về nhà mà lạy cha mẹ ông bà ông vải.” Vào năm 1625, các thừa sai cho phép cúng giỗ các vị đã khuất.Trong các gia đình, ngoài bàn thờ kính Chúa, còn có “bàn thờ” tổ tiên. Thật ra, người Công Giáo nhớ đến người quá cố không qua những nghi lễ giỗ chạp hàng năm, cho bằng qua việc cầu nguyện và dâng lễ hàng ngày.Nhà Vua tế Trời ở đàn Nam Giao, nhà sư thờ Phật tại Chùa, các bậc chức sắc trong làng xã thờ Thành Hoàng tại đình làng, còn việc cầu nguyện, cúng giỗ tổ tiên được cử hành tại gia đình, nơi người sống và người đã qua đời vẫn thông hiệp với nhau chặt chẽ.Trong bài TM hôm nay Đức Giêsu bênh vực quyền lợi của cha mẹ.Ngài đòi người ta phải giữ điều răn thứ tư của Thiên Chúa…

ST

    Tình Yêu Là Sức Mạnh Vạn Năng

 Tình Yêu Là Sức Mạnh Vạn Năng

    Ngày 30 Tháng Giêng cách đây đúng 40 năm, Mahatma Gandhi, người cha già của dân tộc Ấn Ðộ đã vĩnh viễn ngã gục sau mấy nhát gươm của một thanh niên Ấn Giáo quá khích.

    Hôm đó, như thường lệ, Gandhi được hai người cháu dìu đi cầu nguyện. Cả một đám đông đang đi theo đằng sau Ngài. Bỗng nhiên, một thanh niên từ trong đám đông sấn tới đâm bổ vào Người của vị cha già dân tộc. Ba nhát gươm đâm xới xả vào một thân thể khô gầy vì không biết bao nhiêu hy sinh cho đất nước.

    Thinh lặng bao chùm lấy đám đông. Người ta chỉ còn nghe được hai tiếng từ miệng của vị thánh “Rama, Rama” nghĩa là “Chúa ơi, Chúa ơi”. Với một cố gắng cuối cùng, Ngài giơ hai tay lên, đan lại trong một cử chỉ cầu nguyện và tha thứ, rồi ngã gục.

    Người thanh niên Ấn Giáo quá khích đã sát hại Gandhi vì anh không thể chấp nhận được sự kiện Gandhi bày tỏ lòng quảng đại yêu thương ngay cả với những người Hồi Giáo.

    400 triệu người  Ấn Ðộ đã than khóc và để tang cho vị cha già của dân tộc. Không khí buồn thảm cũng bao trùm khắp thế giới. Mọi người đều cảm nhận rằng ngày hôm đó trái đất trở nên cằn cỗi, nghèo nàn hơn, bởi vì đã mất đi một người con vĩ đại, một người con đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho tổ quốc mà không cần dùng đến khí giới của bạo động và hận thù. Chính Ngài đã từng nói: Tình Yêu là sức mạnh khiêm tốn nhất, nhưng cũng là sức mạnh vạn năng mà thế giới đang có.

    Tình Yêu là sức mạnh khiêm tốn nhất, nhưng cũng là sức mạnh vạn năng mà thế giới đang có trong tay.

    Chiến tranh và không biết bao nhiêu vấn đề mà thế giới ngày nay đang phải giải quyết, dường như thế giới chỉ muốn giải quyết bằng bạo động, bằng vũ khí giết người. Sức mạnh vạn năng mà thế giới đang có trong tay là tình yêu, chỉ có một số ít người đang dùng đến.

    Mục sư Luther King, người da đen, đang sử dụng khí giới của tình yêu. Ông đã ngã gục, nhưng hàng triệu người da đen được đứng lên làm người như người da trắng. Giám mục Desmond Tutu, người Nam Phi da đen cũng đang đi theo vết chân của Gandhi và Luther King. Mẹ Têrêxa thành Calcutta cũng đang dùng khí giới của tình thương để cho những người không nhà không cửa, những người hấp hối đầu đường xó chợ được sống và chết như những con người.

    Tất cả những mẫu gương trên đây chỉ là những phản ánh của một tình yêu trọn vẹn hơn, đó là tình yêu của Ðấng đã chịu chết cho người mình yêu. Chính Ngài đã nói: Khi nào Ta chịu treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo tất cả mọi người về với Ta.

    Người Kitô chúng ta đang ở trong sức kéo ấy. Ngài đã cho chúng ta được sát nhập vào thân thể của Ngài và truyền cho chúng ta chính sức sống của Ngài. Người Kitô chỉ có thể là người Kitô khi họ sống bằng chính Sức Sống và Tình Yêu của Ngài

    Trích sách Lẽ Sống

From: hnkimnga & NguyenNThu

Vợ công dân Mỹ gốc Việt đang bị Hà Nội giam giữ, được mời nghe TT Trump đọc Thông điệp Liên bang

Dân biểu Katie Porter trong một trả lời phỏng vấn của Đài ABC News cho biết qua việc mời bà Helen Nguyễn đến nghe Tổng thống Trump đọc Thông điệp Liên bang, bà đang muốn chuyển đến Việt Nam một tín hiệu mạnh mẽ rằng Ông Michael Phương Minh Nguyễn là một công dân Hoa Kỳ, một thành viên trong cộng đồng mà phía Việt Nam giam giữ

About this website

 

RFA.ORG
Bà Helen Nguyen, phu nhân của ông Michael Phương Minh Nguyễn, người bị phía Việt Nam giam giữ kể từ tháng 7 năm ngoái đến nay, là khách của dân biểu Katie Porter đến tại thủ đô Washington D.C. để cùng các thành viên Quốc Hội Mỹ và Tối Cao …