Nhiều khi không cho xuất cảnh, trong lòng vẫn phơi phới niềm vui!

Image may contain: sky, airplane and outdoor
Hoang Le Thanh

Nhiều khi không cho xuất cảnh, trong lòng vẫn phơi phới niềm vui!

Mặc cả!

Mặc cả hay trả giá là một loại đàm phán trong đó khách hàng tranh luận về giá cả, bản chất chính xác của giao dịch với nhà cung cấp. Nếu việc mặc cả dẫn đến được thỏa thuận thành công về các điều khoản, giao dịch sẽ diễn ra.

Mặc cả là một chiến lược trả giá thay thế cho sự kiện thông thường là cố định.

Cách đây gần 4 năm, khi đó tôi đang chữa trị căn bệnh ung thư và vừa trải qua một cơn phẫu thuật quyết định sự sinh tử của số mệnh.

Vừa tái khám sau 1 tuần xuất viện. Tôi nhận giấy mời của An ninh Quận Hải Châu Đà Nẵng, yêu cầu tôi đến làm việc.

Họ sốt sắng đến nỗi, người bị bệnh ung thư gần chết cũng không thoát được, họ cũng không quên nhiệm vụ “bảo vệ an ninh tổ quốc” tàu cộng.

Một viên thiếu tá an ninh chờ sẵn và đón tôi từ ngoài cổng trụ sở công an quận.

Tôi bước chân vào…

Trong phòng có 4 người, Tất cả đều mặc đồ dân sự. Một đại tá, một thượng tá, một người có lẽ là thiếu tá và tôi (@Hoang Le Thanh).

Thời gian làm việc đã kéo dài qua nhiều tháng, dường như có thể kết luận được, viên thượng tá nhếch môi cười nữa miệng, hỏi tôi:

– Theo anh thì tội trạng của anh là bao nhiêu năm tù.

– Ba năm – tôi dức khoát, không cần suy nghĩ.

– Tại sao là 3 năm – viên thượng tá cười gằn, đứng lên vung tay chỉ vào tập hồ sơ và gằn giọng:

– Tội trạng nầy tối thiểu phải 12 năm.

Tôi bật cười về thái độ của viên thượng tá, ông ta tưởng như đưa một người vào tù là sự thành công lớn của ông ta.

Tôi nhớ lại một đoạn đời xưa cũ, trong một trường hợp tương tự, và căn bệnh hiện tại, liệu mình còn sống được bao lâu mà ở tù, tự nhiên tôi nở nụ cười thật tươi:

Chờ cho viên an ninh ngồi xuống, tôi nói:

– Tại sao phải là 12 năm, anh thừa biết là tôi cũng chẳng có tội chi. Nhưng theo luật pháp Việt Nam qui định là tôi có tội, anh ghi biên bản, anh kết tội nặng nề quá. Chỉ gạch bỏ một dòng, thậm chí vài chữ là tôi chỉ còn 6 năm là cùng.

Viên thượng tá liếc nhìn vị đại tá phó trưởng phòng – đang ngồi trầm ngâm – rồi quay lại tôi, ông nói:

– À! Nếu lãnh đạo châm chước cho anh tuổi già. Trong khung hình phạt sẽ là từ 6 năm đến 12 năm, chúng tôi không làm gì … quá, mà do … biên bản … những lời khai, …

Vẻ mặt vẫn bình thản, không đi vào tranh cãi, tôi nhỏ nhẹ:

– Vâng! Tôi ở tù rồi cũng ra, các anh cũng sẽ về hưu, chúng ta vẫn còn nhiều dịp ngồi nhâm nhi chén rượu hay ly trà… Tuổi già, tôi và các anh, không ai tránh khỏi bệnh hoạn, tôi và các anh cùng nằm chung một phòng bệnh, lại 2 giường bệnh sát nhau, còn có thể kể chuyện kỷ niệm cho nhau nghe: Rồi cuối cuộc đời, ai cũng trở về với đất, …

Một khoảng yên lặng nặng nề trôi qua, tôi chủ động lên tiếng trước:

– Cơ quan an ninh có quyền hạn quá cao, tòa án và viện kiểm sát sẽ nghe các anh. Tôi nghĩ các anh chỉ cần đề xuất tội danh của tôi: Chỉ khoảng 3 năm tù là được rồi.

Thời gian lại nặng nề trôi qua.

Tôi ra về, chuẩn bị vài bộ đồ, một cái mền mỏng, vài thứ vệ sinh cá nhân bỏ gọn trong một cái túi nhỏ và đi đó đây. ĐT vẫn mở để an ninh dễ dàng định vị.

Thời gian kéo dài, tôi chịu sự giám sát chặc chẽ.

Sau nầy, trong một lần gặp gỡ vị phó Trưởng phòng an ninh nói với tôi rằng: Ông ta đã lên tiếng, bảo đảm và đề xuất tôi cần sự giám sát chặt chẽ thay vì vào tù.

Đó là giai đoạn mà tôi thường xuyên tiếp các sĩ quan an ninh đến viếng thăm.

Trong lương tâm, các vị sĩ quan an ninh già đều biết tôi hoàn toàn vô tội, họ cũng không cần lấy tôi làm bước chân danh vọng hay thêm cấp chức hoặc tăng lương.

Tôi chỉ thiên về một mảng là chống Tàu cộng xâm lược. Tôi có tội (theo luật pháp hiện thời tại Việt Nam) là viết bài chân chất nêu lên đúng sự thật đau lòng và xót xa cho Tổ Quốc Việt Nam.

Trong một đất nước lên tiếng nói thể hiện lòng yêu nước không phải là chuyện dễ dàng.

Tới bây giờ, bãi Tư Chính – quyền chủ quyền, quyền tài phán của nước ta lại bị quân Tàu lăm le xâm chiếm, non sông gấm vóc của chúng ta lại bị tổn thất.

Uất ức và làm sao câm lặng !?.

Những ngày vừa qua, có cảm nhận dường như những người cao tuổi có phần … lặng lẽ!

Năm nay tuổi đã 70, có lẽ tôi thuộc về lớp người già. Mà sao trong lòng đầy đắng cay.

Hay là những người già cũng quá mệt mỏi, …

Hoang Le Thanh

Ảnh: Sáng 18/8, một góc của thành phố Melbourne (Úc), nhìn từ cửa sổ, lúc máy bay sắp hạ cánh, trong dịp đi lang thang nước Úc.

Tại sao Nàng Lu từ chức?

Image may contain: 1 person
Image may contain: plant
Image may contain: 1 person, text
Image may contain: 1 person, text
+8
Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

Tại sao Nàng Lu từ chức?

Bà Phan Thị Hồng Xuân, nay có biệt hiệu “Nàng Lu,” muốn mỗi căn nhà tại Sài Gòn phải đặt một cái lu hứng nước mưa. Không nhắm có nước dùng, mà để ngăn cảnh mỗi mùa mưa đường phố lại ngập lụt.

Bà Hồng Xuân “đề xuất” ý kiến này trong một phiên họp của Hội Đồng Nhân Dân. Bà kể rằng ở nông thôn trước sân mỗi nhà luôn có cái lu nước rất to để đựng nước. Cách nói năng của bà rõ ràng là giọng điệu một con người bụng đầy chữ nghĩa. Thay vì nói “cái lu dùng được nhiều việc, có thể chứa nước mưa” bà lại nói “cái lu có nhiều tính năng, trong đó có tính năng lưu trữ nước mưa.”

Lối nói văn hoa xứng đáng với các danh hiệu của bà: phó giáo sư, tiến sĩ, phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Hội Dân Tộc Học-Nhân Học Sài Gòn, và chủ tịch Hội Hữu Nghị Việt Nam-Đông Nam Á!

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, một người dân có thể sẽ phải đi mua lu về để chống lụt nếu “đề xuất” của bà Xuân được chấp thuận, đã đặt tên bà là Nàng Lu viết tám câu thơ lục bát:

Mỗi người Việt Nam đều là một thi sĩ. Trước chuyện Nàng Lu Chống Lụt bao nhiêu dân Thành Hồ đã xuất khẩu thành chương. Cho nên nhà thơ Nguyễn Tiến Tường tả những hậu quả của kế hoạch Dùng Lu Chống Lụt trong đời sống nhân dân như vầy:

“Chị Tiến” trong câu cuối nhắc đến tên bà Nguyễn Thị Kim Tiến, bộ trưởng Y Tế, người sẽ phải lo ngăn ngừa bệnh sốt rét nếu các con muỗi đến đẻ trứng trong những cái lu chống lụt của Chị Xuân. Trứng muỗi nở ra con loăng quăng, còn gọi là bọ gậy, Chị Tiến sẽ phải lo đi bắt những con bọ gậy của Nàng Lu.

Nhà thơ Nguyễn Tiến Tường quá lo xa. Theo đường lối của đảng thì bà Kim Tiến không cần phải đi săn bọ gậy. Nhân dân ta đã chiến thắng “Ba Đế Quốc Sừng Sỏ” như lời đồng chí Lê Duẩn nói, thì sá chi lũ muỗi!

Đảng Cộng Sản có tài làm nghị quyết. Gặp vấn đề nào khó khăn chỉ cần họp Trung Ương ra một cái nghị quyết là xong. Một hồi sau, thấy không có gì chạy, không ai cựa quậy, Đảng Ta chỉ cần làm một nghị quyết khác! Đó là con đường vinh quang tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội mà ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng quyết bảo vệ đến cùng!

Bà Hồng Xuân là người đã “đột xuất” sáng kiến Dùng Lu Chống Lụt thì bà cũng đủ thông minh để yêu cầu Hội Đồng Nhân Dân ra một cái nghị quyết “cấm muỗi không được sanh đẻ!” Nếu bà Kim Tiến muốn nhúng tay vào để phục vụ nhân dân thì bà có thể làm một kế hoạch “triệt sản” cho những con muỗi đực muỗi cái, không cho chúng sinh đẻ được nữa!

Nhưng nhân dân Sài Gòn không thấu triệt sáng kiến của bà Hồng Xuân, còn lời qua tiếng lại nhiều quá, cho nên bà đại biểu làm lẫy, dỗi, bỏ không chơi với họ nữa. Bà tuyên bố từ chức cho họ biết tay!

Sự thực đằng sau vụ bà Hồng Xuân từ chức còn nhiều “sự cố phức tạp.” Bởi vì bà Hồng Xuân còn là trưởng Khoa Đô Thị Học của Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn ở Sài Gòn. Đứng đầu môn Đô Thị Học, bà đang dạy dỗ sinh viên các phương pháp xử lý các vấn đề đô thị. Mai mốt các sinh viên này sẽ giữ trọng trách làm sao cho dân sống trong các thành phố được an toàn. Cho nên ý kiến của bà chắc phải “có cơ sở khoa học,” cần được triển khai nghiêm túc.

Vì vậy Đảng Ủy Thành Hồ phải phải họp bất thường nghiên cứu thấu triệt kế hoạch của Nàng Lu. Các cán bộ lão thành cũng góp kiến nghị, lên án “Kế Hoạch Nàng Lu Chống Lụt” là “phí phạm tài sản xã hội chủ nghĩa!”

Tại sao lại phí phạm? Bởi vì, khi lên kế hoạch này thì những cái lu của chị Hồng Xuân sẽ chiếm mặt bằng cư ngụ của người dân đang chen chúc trong các diện tích nhỏ bé! Người ta dẫn chứng bằng mấy câu thơ của Nguyễn Tiến Tường:

Hơn nữa, các cán bộ lão thành còn thấy Kế Hoạch Nàng Lu phải dùng đến hàng triệu ngày lao động của cán bộ và nhân dân. Như thơ của Nguyễn Tiến Tường cho thấy:

Nhưng cuối cùng Nàng Lu phải từ chức vì một lý do khác hẳn. Thường Vụ Thành Hồ khám phá ra rằng kế hoạch Nàng Lu Chống Lụt đi ngược lại một chính sách lớn của đảng từ nhiều năm qua! Tức là đi ngược với con đường Tiến Lên Chủ nghĩa Xã hội! Lý do không được công bố vì không thể tiết lộ bí mật của đảng và an ninh quốc gia.

Nàng Lu làm đại biểu nhân dân mà nàng không biết rằng Đảng Ủy đã có chính sách biến đường phố biến thành con rạch cho dân chúng bơi thuyền, vì mục đích muốn giảm bớt nạn kẹt xe!

Thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc, đã ngăn ngừa nạn kẹt xe bằng cách mỗi ngày chỉ cho các xe có bảng số chẵn hay lẻ được chạy, ngày hôm sau dành cho xe có bảng số khác; nhờ vậy mà nạn kẹt xe được giảm bớt một nửa!

Đảng Ủy Thành Hồ thành vượt xa các đồng chí anh em Bắc Kinh: Trong những ngày mưa, xe cộ ở Sài Gòn hoàn toàn chết đứng. Nạn kẹt xe được giải quyết trăm phần trăm! Đó mới thiệt là đỉnh cao trí tuệ!

Ông Quán

Hàng ngàn giáo viên Hồng Kông biểu tình dưới trời mưa sấm sét

About this website

MOTTHEGIOI.VN
Dưới những cơn mưa và thỉnh thoảng có tiếng sấm sét, những người biểu tình Hồng Kông, bao gồm hàng ngàn giáo viên đã xuống đường vào thứ bảy hôm nay 17.8, bất chấp vài ngày trước đó đã có bạo lực khá đẫm máu với cảnh sát.

BI KỊCH THẬT SỰ CỦA TỘI LỖI

BI KỊCH THẬT SỰ CỦA TỘI LỖI

Bi kịch thật sự của tội lỗi thường là người bị tội lỗi chống lại, cuối cùng lại trở thành tội nhân, họ giáng xuống người khác điều mà họ từng phải gánh chịu.  Có những điều nghịch lý trong chúng ta, bằng cách nào đó khi chúng ta bị tội lỗi chống lại, chúng ta thường có khuynh hướng tiếp nhận tội lỗi, cùng với sự yếu đuối nơi tội lỗi phát ra, sau đó là cuộc chiến đấu để không hành động cùng một cách thức sai phạm như vậy.  Thắng lợi chủ yếu nhất của tội lỗi là lần đầu tiên bị tội lỗi chống lại, chúng ta thường trở thành những tội nhân.

Chúng ta hiểu điều này, ở dạng sơ đẳng nhất, họ bị ảnh hưởng từ những “nghi thức chào đón” tàn bạo nào đó (chào đón thành viên mới, sinh viên mới) mà họ đã trải qua.  Từ đội bóng trường cấp ba, liên đoàn trường cao đẳng đến một số trường huấn luyện quân sự nào đó, chúng ta thấy nghi thức chào đón tàn bạo được dùng như nghi lễ khởi đầu.  Điều thú vị là những người đã trải qua điều đó thường không thể chờ đến lúc họ giáng xuống người khác điều đó.  Đã chịu đựng những điều tàn bạo, bạo tàn sẽ nảy sinh trong họ.

Có một chân lý trong các trường tâm lý học cho rằng, mọi kẻ ngược đãi đều từng bị lạm dụng trước đó.  Hầu hết đều đúng vậy.  Những kẻ bắt nạt là những người đã bị bắt nạt, người tàn bạo đều đã từng là những nạn nhân, người ngoài cuộc gay gắt xa lánh (trong sự kiêu ngạo, chúng ta gọi họ là “kẻ thua cuộc”) chính là người đã bị loại trừ một cách cách bất công.  Điều gì tạo ra một người ngoài cuộc?  Việc gì làm nên một kẻ hung tàn?  Thực tế, điều gì tạo thành một kẻ giết người hàng loạt?  Phải có điều gì đó đã xảy ra với trái tim họ, khiến họ trở thành một chiến binh mệt mỏi cầm lấy khẩu súng tấn công, và bắt đầu bắn vào những đứa trẻ không nơi nương tựa?

Bệnh tâm thần thường là một yếu tố, không nghi ngờ gì, nhưng có nhiều yếu tố khác mà phần lớn trong đó, chúng ta không đủ can đảm để thành thật đối diện.  Sự phán xét tức thời của chúng ta về thủ phạm của cuộc bắn phá hàng loạt, hay vụ khủng bố bom cách tự nhiên nhất thường thể hiện theo cách này: “Tôi hi vọng hắn bị thiêu trong địa ngục!”  Điều sai với phản ứng đó, là không hiểu rằng người ấy đã bị thiêu trong những địa ngục cá nhân, và hành động khủng khiếp này là một nỗ lực để thoát khỏi địa ngục hoặc ít nhất là đẩy nhiều người như ông cùng vào địa ngục.  Cái mà phần lớn các thủ phạm của bạo lực muốn làm là phá hủy thiên đường đối với những người khác, kể từ khi họ cảm thấy mình đã bị tước mất thiên đường một cách không công bằng.  Dĩ nhiên không phải lúc nào điều đó cũng đúng, vì bệnh tâm thần và mầu nhiệm tự do của con người cũng được sử dụng, nhưng nó đúng đủ để thách thức chúng ta tìm kiếm sự hiểu biết rõ ràng hơn về lý do tại sao có những người lại mang một trái tim gay gắt, bạo lực trong khi những người khác lại nhã nhặn, yêu thương.  Điều gì nắn đúc nên một trái tim?  Điều gì làm con người ta nên gay gắt hay nhã nhặn?

Tội lỗi và ân sủng hình thành nên tâm can con người, trước hết làm biến dạng và sau đó lại chữa lành.  Tội lỗi, những điều riêng của chúng ta không ít hơn những người khác, gây tổn thương người khác và bảo vệ chính mình khỏi những bệnh hoạn bên trong bởi vì chúng ta đã đổ lên người khác bệnh tật của chúng ta, làm người đó trở nên yếu đuối.  Ân sủng thì ngược lại.  Nó giải phóng người khác khỏi những đau yếu mà họ phải chịu đựng cách bất công, giúp họ từ gay gắt trở nên hiền hòa, xoa dịu tận gốc rễ những tổn thương của họ.

Vì vậy, chúng ta cần ngưng hành động phân cấp mọi người là “người chiến thắng” hay “người thua cuộc” như thể họ phải chịu trách nhiệm một mình về sự thành công hay thất bại của họ.  Không có nhiều Mẹ Têrêxa, tôi nghi ngờ đã bị lạm dụng cách tổn thương khi còn trẻ.  Không có nhiều Thánh Phanxicô đã chịu đựng sự nhạo báng làm suy nhược như những đứa trẻ nhỏ đã bị “ném đá” trên Facebook hay nhạo cười vì sự xuất hiện của chúng.  Sự tàn ác hay ân sủng như Leonard Cohen đưa ra, cả hai đều đến với chúng ta cách không xứng đáng.  Và sau đó chúng in dấu vào tâm lý và thậm chí cả cơ thể chúng ta nữa.  Làm thế nào chúng ta tự mang mình, hình dáng cơ thể chúng ta.  Làm thế nào chúng ta lan tỏa tinh thần, sự tự tin, nỗi xấu hổ, lòng quảng đại hay tính nhỏ nhen, khả năng thể hiện yêu thương hay sự kháng cự tình yêu, bao nhiêu lời chúc phúc, bao nhiêu điều chúc dữ của chúng ta… phụ thuộc rất nhiều vào ơn lành bất xứng hay sự nguyền rủa chúng ta đã lãnh nhận.  Điều đó thể hiện những ân sủng bất xứng hay những bạo tàn mà chúng ta đã trải qua.

Phải thú nhận rằng, điều này vẫn mang màu sắc của mầu nhiệm sự tự do của con người.  Một vài việc Mẹ Têrêxa làm xuất phát từ nền tảng việc lạm dụng, và một số điều Thánh Phanxicô đã chịu đựng tính bạo lực và bị bắt nạt khi còn là một đứa trẻ và chưa trở thành một trong hàng triệu người chữa lành thương tích, đã biến những tội lỗi của chính họ thành ân sủng chữa lành mạnh mẽ.  Đáng tiếc thay, họ là ngoại lệ chứ không phải thường lệ, và sự vĩ đại của họ, hơn bất kỳ điều gì khác, nằm trong những thành tựu đúng đắn đó.

Có nhiều thách thức đối với chúng ta trong vấn đề này: Trước hết, chúng ta không được để cảm xúc lôi kéo chúng ta vào việc xét đoán điều mà chúng ta mong muốn thấy ai đó bị “thiêu trong ngục.”  Thứ hai, chúng ta nên giảm bớt sự tự mãn, tính kiêu căng của mình đối với những người mà chúng ta gọi là “kẻ thua cuộc.”  Tiếp đến, chúng ta cần phải học biết rằng thử thách căn bản của nhân tính và tinh thần là không để người khác vì chúng ta mà phải chịu đựng những gì chúng ta đã trải qua do lỗi lầm và bạo lực mà một vài người nào đó đã gây ra cho chúng ta.  Cuối cùng, hiểu một cách sâu xa về những gì trong cuộc sống không dẫn chúng ta đến việc biết ơn một cách sâu sắc hơn đối với Chúa và với tất cả mọi người, những người xứng đáng cũng như không xứng đáng có tình yêu và khả năng thiên bẩm của chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

Người ta có thể ra rả chửi Mỹ, nhưng từ trong sâu thẳm, họ vẫn luôn thèm thuồng “giấc mơ Mỹ”.

Văn Lang is with Văn Lang.

Thật ngạc nhiên khi “Bà ngoại xì tin” Trang Lê viết cũng hay như chửi ở bài này:

Người ta có thể ra rả chửi Mỹ, có thể trong quá khứ đã từng tham gia “đánh cho Mỹ cút, nguỵ nhào”. Nhưng từ trong sâu thẳm, họ vẫn luôn thèm thuồng “giấc mơ Mỹ”.

Họ vẫn luôn bằng mọi cách vơ vét tiền bạc cho con cái sang Mỹ du học. Tìm cách mua một căn nhà ở Mỹ, tìm kiếm cho bản thân một tấm thẻ xanh để sang Mỹ, như thể một “ tấm vé vớt” lúc về già. 

Bởi vì sau những lời nói dối không ngượng mồm, thì tự trong thâm tâm, họ vẫn biết: CHỈ CÓ MỸ MỚI CHO HỌ CUỘC SỐNG THẬT SỰ BÌNH AN, NƠI MÀ THIÊN ĐƯỜNG HỌ ĐANG CA NGỢI, DÙ CÓ TIỀN MUÔN BẠC VẠN CŨNG KHÔNG THỂ MUA ĐƯỢC.

Phải. Dù có triệu triệu đô trong tài khoản, thì đến lúc trở bệnh ngặt nghèo, họ vẫn phải khăn gói quả mướp sang nước ngoài điều trị. Bởi vì ngay cả những bệnh viện quốc tế sang trọng bậc nhất với những gói chi phí đắt đỏ ở VN cũng không thể sánh lại trình độ và sự chuyên nghiệp của hệ thống y khoa nơi xứ tư bản giãy chết. Và chỉ khi đến đó, họ mới thật sự có được niềm tin để yên tâm chữa trị.

Dù gia đình họ có thuộc dạng dư ăn dư mặc, con em họ được gởi ở những trường học thuộc chuẩn QUỐC TẾ với mức học phí siêu cấp, thì họ vẫn dư biết rằng , hệ thống giáo dục tại chính các nước tư bản giãy chết mới thực sự tốt.

Dù luôn mồm dóc láo rằng VN ta là quốc gia bình an, nhưng họ vẫn mong muốn tuổi già của họ được thảnh thơi ở một nơi nào đó trên xứ sở tư bản giãy chết. Nơi mà con người , thậm chí ngay cả con vật, cũng luôn luôn được bảo vệ. Nơi mà mỗi buổi chiều tà, họ có thể thong dong đi dạo, ngắm mặt trời dần dần tắt nắng với niềm ung dung, chứ không phải thon thót sợ hãi bị một thằng xì ke xì cọt nào đó cầm ống chích vấy máu dí sau lưng để trấn lột tiền.

Những người cộng sản đều ngầm hiểu rằng: đất nước mà họ vấy máu tươi của chính đồng bào mình nhằm giành giật quyền cai trị, nó đã rệu rã và mục ruỗng lắm rồi.

Như một bầy kềnh kềnh tranh nhau ăn táp xác thối của con mồi, sau khi đẫy bụng và không còn gì để rỉa rói được nữa, nó sẽ vứt lại bộ xương sau lưng và chắp cánh bay đi…

(Trang Lê)

Hong Kong: Chính quyền Bắc Kinh không khoanh tay, liệu thế giới có khoanh tay?

“Chính quyền Bắc Kinh đã triển khai lực lượng đưa xe tăng và quân đội tới biên giới Hong Kong, gởi một thông điệp rõ ràng tới Hong Kong và thế giới là họ sẽ không khoanh tay ngôi nhìn dân Hong Kong tiếp tục biểu tình. Nếu công chúng trên thế giới cũng gởi một thông điệp mạnh mẽ rõ ràng như vậy tới chính quyền sở tại của họ và Bắc Kinh bằng cách cùng liên kết lên tiếng và xuống đường ủng hô Hong Kong thì có thể giúp dân Hong Kong tránh khỏi một Thiên An Môn phiên bản 2019.”
Liệu công chúng có khoanh tay ngồi chờ Hong Kong đổ máu để lên án, tưởng niệm và khóc thương?
Bình luận của Nhà báo Mạnh Kim với SBS Việt Ngữ.

TRUNG QUỐC – SỰ LỰA CHỌN KHÓ KHĂN TẠI HONGKONG!!!

TRUNG QUỐC – SỰ LỰA CHỌN KHÓ KHĂN TẠI HONGKONG!!!

Tập Cận Bình và Bộ chính trị Đảng Công sản Trung quốc đang đau đầu trước các lựa chọn tại Hongkong:

1- Nếu nhượng bộ dân Hongkong thì Tập Cận Bình sẽ mất mặt, uy tín cá nhân và uy tín của Đảng Cộng sản TQ đang dương dương tự đắc sẽ xuống đáy. Các phe phái chống đối Tập sẽ vin vào cớ này để gây áp lực khó, dễ cho quyền lực lãnh đạo suốt đời của Tập.

Với bản chất kiêu ngạo cộng sản thì việc Đảng cộng sản TQ nhượng bộ đám dân chúng chống đối hầu như là không bao giờ có trong lịch sử tồn tại của ĐCSTQ. Do vậy nếu Tập Cận Bình mà phá lệ này thì chẳng khác nào tự bội tro vào mặt. Còn nếu nhượng bộ Hongkong, chấp nhận bầu cử tự do, dân chủ thì HongKong sẽ thoát ra khỏi quĩ đạo độc tài của Trung Quốc. Các vùng khác như Đài Loan, Tây Tạng, Nội mông và nhiều vùng tự trị khác cũng sẽ nổi lên phản kháng đòi độc lập, Trung Quốc sẽ trở lên rối loạn. Cùng với các khó khăn kinh tế do cuộc chiến thượng mại với Mỹ đem lại thì nội bộ Đảng cộng sản TQ sẽ mất đoàn kết và phân hóa sâu sắc có khả năng dẫn tới sụp đổ chính quyền.

2- Nếu TQ đem quân đội vào Hongkong để đàn áp, gây ra một Thiên An Môn thứ hai thì TQ sẽ bị thế giới cô lập, nền kinh tế đang rệu rã của TQ sẽ bị Mỹ và phương tây cấm vận hoàn toàn, ngay lập tức. Mỹ sẽ mạnh tay cải tổ cái tổ chức WTO để đuổi cổ TQ ra khỏi tổ chức này để TQ không còn làm ăn buôn bán gì với thế giới nữa. Lụn bại về kinh tế vì bị cấm vận mọi mặt, cộng với chi phí lớn cho quân sự, anh ninh tại các vùng tự trị và Biển Đông sẽ kéo mức sống của 1,5 tỷ dân TQ rớt xuống mức thê thảm. Nội bộ phân hóa, kinh tế khủng hoảng, hơn một tỷ rưỡi người TQ sẽ có thể là chảo lửa nhấn chìm Đảng CSTQ, nguy cơ sụp đổ chính quyền còn cao hơn khả năng thứ nhất.

Thật là khó khăn cho Tập Cận Bình nếu cứ giữ nguyên thể chế chính trị độc tài hiện tại

3- Tuy vậy vẫn có lời giải tối ưu cho TQ để giải quyết mọi sự êm đẹp, hòa bình cho cả TQ và thế giới đó là: TQ phải chấp nhận từ bỏ chế độ độc tài, chấp nhận đa nguyên, dân chủ để tiến tới bầu cử tự do dân chủ như mô hình các nước văn minh, tiên tiến trên thế giới. Biện pháp êm đẹp này được ví như cho Tập Cận Bình & ĐCSTQ uống thuốc độc tự sát…
——–
FB: Cao Sơn HD

Image may contain: 1 person, outdoor
Image may contain: 1 person, crowd and outdoor

Cách mạng tháng Tám và ba điều xét lại

BAOTIENGDAN.COM
Cách mạng tháng Tám và ba điều xét lại Bởi AdminTD –
15/08/2019
Luật Khoa Võ Văn Quản 

Hơn 70 năm sau Cách mạng tháng Tám (August Revolution), bản chất của một trong những biến cố chính trị quan trọng nhất trong lịch sử đương đại Việt Nam vẫn tiếp tục còn trong vòng tranh cãi giữa sử gia, học giả cũng như những nhà quan sát.

Một số những người phản đối chế độ cộng sản khẳng định việc Việt Minh thành công trong việc biến mình trở thành gương mặt chính thức cho giới cách mạng yêu nước tại Việt Nam chỉ là một tai nạn lịch sử (historical incident). Số khác, cho rằng Việt Minh đã “cướp cạn” thành tích của nhiều nhóm chí sĩ yêu nước, các nhà dân tộc chủ nghĩa khác trong hoạt động tiếp quản chính quyền sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng lực lượng Đồng minh. Phần còn lại thừa nhận rằng sự yếu kém về năng lực, thiếu thốn đường lối và tính thống nhất của hầu hết các chính đảng còn lại tại Việt Nam thời điểm đó khiến cho nhiều nhà yêu nước, trí thức cũng như người dân Việt Nam không còn lựa chọn nào khác để vừa chống Nhật vừa chống Pháp. Tuy nhiên, họ cũng khẳng định Việt Minh “treo đầu dê bán thịt chó” khi che giấu thân phận và mục tiêu “cộng sản” của mình.

Ngược lại, các nhà sử gia cộng sản thì ca ngợi một cách khá ái kỷ tài năng lãnh đạo và sự ủng hộ nhất nhất một lòng của nhân dân Việt Nam dành cho Việt Minh và đảng Cộng sản.

Bài viết này không nhằm phê phán hay phủ nhận những thành công của Việt Minh trong việc chuẩn bị, vận động và lan tỏa danh tiếng của mình kể từ thời điểm Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, từ đó dẫn đến vai trò đầu tàu của họ trong Cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên, để có một cái nhìn tổng quát và trọn vẹn về lịch sử thời kỳ này hơn, tác giả xin giới thiệu tới bạn đọc Luật Khoa năm sự thật lịch sử từ các góc nhìn khác biệt, góp nhặt từ những nguồn khả tín khác nhau mà báo chí và tài liệu cách mạng Việt Nam thường sẽ không nhắc đến trong các tư liệu của họ.

1. Vai trò của tình báo Mỹ (OSS) trong sự “thành danh” của Việt Minh

Khi nhắc đến Việt Minh, một hội nhóm chính trị hoạt động để che giấu danh nghĩa của Đông Dương Cộng sản Đảng trước sự thù địch của nhiều chí sĩ và người dân tại Việt Nam, có lẽ ai cũng sẽ nghĩ đến người hậu thuẫn đằng sau của tổ chức này là Liên Xô hùng mạnh.

Tuy nhiên, thực tế là sự hỗ trợ của Liên Xô trước Cách mạng tháng Tám dành cho Việt Minh cực kỳ hạn chế. Trong thập niên 1930 – 1940, hầu hết những học trò ưu tú và cánh tay đắc lực nhất được Moscow đào tạo bài bản như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu… đều đã bị chính quyền thực dân Pháp xử tử. Dây nối cảm tình chính trị giữa Stalin với nhóm Marxist còn thoi thóp hoạt động tại Việt Nam không được như trước.

Không chỉ vậy, vào năm 1943, vì yêu cầu hợp lực với các quốc gia tư bản trong chiến tranh Thế giới thứ Hai, Stalin quyết định giải tán và ngừng tài trợ vô thời hạn cho các tổ chức thuộc Quốc tế Cộng sản (Comintern – mà Đông Dương Cộng sản Đảng là một tổ chức thành viên) như một động thái thiện chí ngoại giao, triệt tiêu những phản đối trong nội bộ cộng sản thế giới về việc hợp tác với hai quốc gia tư bản mà họ dốc sức phản diện hóa trước đây. Một cái giá quá rẻ đối với Stalin để nhận được sự hỗ trợ tài chính và quân sự thiết yếu từ phía Đồng minh.

Điều này khiến cho việc hợp tác với lực lượng có thiên hướng cộng sản tại Việt Nam không khó nuốt với chính quyền của Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt cho lắm. Ở chiều ngược lại, Việt Minh lại là số ít những tổ chức chính trị “thực chiến” tại Việt Nam tỏ ra rất thiện chí và muốn thân Mỹ. Việt Minh không chỉ giúp đỡ quân đội Đồng minh (mà chủ yếu là quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương) bằng cách gây rối (chứ khó lòng chiến đấu) với quân Nhật, họ còn giúp giải cứu và hỗ trợ một số phi công Hoa Kỳ có máy bay bị bắn rơi khi giao chiến với quân Nhật trong khu vực Đông Dương.

Vào tháng Bảy năm 1945, một nhóm đặc vụ của Văn phòng Chiến lược vụ Hoa Kỳ (American Office of Strategic Services – OSS), tiền thân của Cục Tình báo Trung ương (Central Intelligence Agency – CIA), nhảy dù xuống trụ sở đầu não của Việt Minh, tổ chức huấn luyện, đào tạo và trang bị cho lực lượng quân đội non trẻ vài chục người của tổ chức này. Thông tin còn ghi nhận rằng Hồ Chí Minh thời điểm đó đang ở giữa thời khắc sống chết do bệnh kiết lỵ và sốt rét hành hạ; và ông được cứu sống nhờ một sĩ quan y tế đi cùng OSS.

Khi Chiến tranh Thế giới thứ Hai kết thúc, Hồ Chí Minh và lực lượng chính trị dưới trướng ông có thể được xem là một đồng minh thân thiết của Hoa Kỳ tại Đông Dương.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, khi các đơn vị quân đội và lực lượng chính trị của Việt Minh tiến về Hà Nội, hộ tống họ không phải là các đại diện của Liên Xô, mà là các sĩ quan và đặc vụ OSS. Điều này khiến cho Việt Minh trở thành lực lượng chính trị Việt Nam duy nhất được một thành viên Đồng minh trung lập (Hoa Kỳ, mà không phải là Pháp hay Trung Hoa Dân Quốc) hậu thuẫn; nhờ vậy, họ càng trở thành một lực lượng chính trị có sức hút và dễ dàng được chấp nhận.

Sau đó, đặc vụ Archimedes Patti (1913–1998) được Hồ Chí Minh mời tư vấn và hỗ trợ soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập. Ông này vô cùng bất ngờ trước việc ông Hồ không hề có ý định nhắc đến xung đột xã hội hay đấu tranh giai cấp – những dấu hiệu cơ bản của một bản tuyên ngôn cộng sản. Nhờ đó, chính phủ lâm thời của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa càng có thêm nhiều cảm tình của Hoa Kỳ.

Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp chụp hình cùng các sĩ quan OSS. Ảnh: US Council on Foreign Relation.

Và trong thời điểm chuyển giao trật tự chính trị thế giới mà Hoa Kỳ tiếp quản vị trí thống lĩnh phương Tây của Vương Quốc Anh, sự ủng hộ của OSS càng khiến cho các tiếng nói phản đối Việt Minh trở nên rất ít giá trị và tính chính danh của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa càng được tăng cường.

2. Thành tích kém cỏi của đảng Cộng sản trước tháng Ba năm 1945 

Dù tự nhận là lực lượng duy nhất có năng lực lãnh đạo từ năm 1930 cho đến khi Cách mạng tháng Tám thành công, thật ra thành tích đấu tranh của Việt Minh và Đông Dương Cộng sản Đảng rất kém trong giai đoạn từ những năm 1941 đến tận tháng Ba năm 1945. Hiện tượng này có thể được lý giải bởi nhiều yếu tố từ khách quan cho đến chủ quan.

Về mặt chủ quan, hầu hết hệ thống chính trị cơ sở của Đông Dương Cộng sản Đảng của Việt Minh gần như đã bị tận diệt từ hai cuộc đàn áp trước đó: lần thứ nhất là giai đoạn 1925 – 1931, sau khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh thất bại; và tiếp đó là giai đoạn 1934 – 1936, sau khi chính phủ có xu hướng xã hội chủ nghĩa Mặt trận Bình Dân (Popular Front) ở Pháp sụp đổ và các hoạt động đàn áp chính trị ở thuộc địa được cho phép tiếp tục thực hiện.

Về mặt khách quan, thành viên chính thức của Việt Minh tại thời điểm chiến tranh kết thúc chỉ khoảng trên dưới 5.000 người trên toàn Việt Nam, và hoạt động mạnh mẽ – có tổ chức nhất chỉ trong phạm vi vùng rừng núi phía Bắc, gần biên giới Trung Quốc. Điều này khiến cho ảnh hưởng thực tế của Việt Minh lên đời sống chính trị của đa số người dân Việt Nam gần như là kiến và voi nếu so với tương quan của nhiều chính đảng và tổ chức tôn giáo – chính trị có tiếng nói khác như Cao Đài, Hòa Hảo hay Quốc Dân Đảng.

Tuy nhiên, cũng cần thừa nhận là kể từ khi Nhật đảo chính Pháp và nhu cầu hỗ trợ hậu cần của quân Nhật được tăng cường khiến nạn đói ở miền Bắc trở nên khốc liệt hơn, Việt Minh với các hoạt động kêu gọi đánh phá kho thóc, phản kháng vũ trang và xây dựng chính quyền tự quản địa phương dần trở thành một cái tên quen thuộc đối với nông thôn miền Bắc Việt Nam. Những khu vực mà nạn đói giết chết nhiều nông dân nhất như Nam Định, Thái Bình cũng là nơi mà sự ủng hộ dành cho Việt Minh lên cao nhất.

Việt Minh cũng nhận được điều kiện chính trị thuận lợi gián tiếp bởi sự thụ động của nhiều đảng phái chính trị ở miền Bắc trong việc thừa nhận và ứng phó với nạn đói lan rộng. Chính phủ Trần Trọng Kim thì không có động thái nào thiết thực trong việc xử lý công việc mà đáng lẽ họ phải làm.

3. Ám sát chính trị 

Trong môi trường đấu tranh chống thực dân và ngoại xâm, có lẽ một trong những điều mà người Việt Nam ít muốn làm nhất là giết chóc lẫn nhau. Tuy nhiên, với tư tưởng đấu tranh xã hội, và kẻ thù lớn nhất của các lực lượng cộng sản là kẻ thù giai cấp, Việt Minh là lực lượng thường xuyên ra tay ám sát và giở thủ đoạn chính trị tàn ác nhất nhắm vào những người cùng dòng máu, màu da với mình.

Theo ghi nhận của nhiều tài liệu được dẫn dưới đây, lệnh ám sát mà Việt Minh ký không chỉ dành cho những đối thủ chính trị trực tiếp, nguy hiểm, mà còn dành cho bất kỳ ai có ảnh hưởng chính trị nhưng dám lên tiếng chống đối mình.

Một trong ví dụ dễ nhớ nhất là Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi, anh trai cả trong gia đình của Ngô Đình Diệm, bị lực lượng Việt Minh ở Trung bộ ám sát ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công. Bản thân Ngô Đình Diệm, trong giai đoạn 1950 – 1953 cũng nằm trong danh sách ám sát sau khi ông này chính thức lên tiếng phản đối Pháp – chính quyền Bảo Đại và cả Việt Minh; từ đó đề xuất hình thành nên Lực lượng thứ Ba (The Third Force Movement) nhằm chống lại cả chủ nghĩa thực dân của Pháp và chủ nghĩa cộng sản của Việt Minh.

Trở lại năm 1945, trong công trình nghiên cứu “Urban Guerrilla Warfare” của giáo sư khoa học chính trị Anthony James Joes của Đại học Pennsylvania, ông khẳng định các nhà lãnh đạo của phong trào yêu nước và dân chủ dân tộc chủ nghĩa Việt Nam đã phải đối mặt với chiến thuật “chặt đầu rắn” rất hiệu quả do Trường Chinh vạch ra và giải thích trong tác phẩm có tên “Primer for Revolt”. Hiểu đơn giản là ám sát những nhà lãnh đạo phong trào yêu nước phi cộng sản (hoặc phi Stalinist?).

Ảnh chụp Tạ Thu Thâu bị cảnh sát Pháp bắt sau một cuộc biểu tình ở Paris. Ông là lãnh đạo cách mạng Việt Nam có tầm ảnh hưởng cho đến khi bị Việt Minh ám sát. Ảnh: Nguồn lưu trữ Préfecture de police – Pháp

Chiến thuật này đặc biệt được áp dụng mạnh mẽ và cực kỳ thường xuyên tại miền Nam Việt Nam sau 1945, nơi mà Việt Minh không có được sự ủng hộ lớn như tại miền Bắc và phải tranh giành ảnh hưởng với các tổ chức chính trị khác. Nạn nhân của chiến thuật này có thể kể đến Huỳnh Phú Sổ của đạo Hòa Hảo, các lãnh đạo quan trọng của Mặt trận Thống nhất Quốc gia, các lãnh đạo của phe Marxist theo chủ nghĩa Trotsky như Tạ Thu Thâu, Hình Thái Thông, Trần Văn Thạch, Trần Đình Minh, .v.

Ngay cả các học giả cộng sản thế giới cũng phải ghi nhận và lên án hành vi của Việt Minh; họ thường nhắc các cuộc thảm sát – thanh trừng sau Cách mạng tháng Tám là Stalinist Massacres” – Những cuộc thảm sát của phe thân Stalin.

***

Lịch sử đã diễn ra. Và Việt Minh được lịch sử lựa chọn là người chiến thắng của Cách mạng tháng Tám cũng như các cuộc đấu tranh nội bộ sau đó. Đó là điều không thể chối cãi. Tuy nhiên, hiểu rõ thêm về cách thức và nguồn gốc của những chiến thắng này là điều nên làm. Đến cuối cùng, lịch sử sẽ tái diễn.

Bạn đọc có thể đọc và kiểm chứng, tìm kiếm thêm thông tin tại các nguồn khả tín sau đây: