Bài học “láng giềng”

Bài học “láng giềng”

04:07 | Posted by bxvn

Trần Trung Đạo

Các nhà lãnh đạo quốc gia phân tích tương lai của một quốc gia dựa trên các điều kiện kinh tế chính trị quân sự đang diễn ra. Tuy nhiên, như lịch sử đã chứng minh, khi quyết định, phần lớn các lãnh đạo đều nhìn về quá khứ. Lý do, quá khứ đã được chứng nghiệm giúp cho họ yên tâm và xem đó như là nguồn bảo đảm cho quyết định của mình.

Lịch sử nhân loại để lại những bài học trong quá khứ không thể bỏ qua. Ba Lan là bài học xương máu nhất. Các diễn biến chính trị, quân sự đang diễn ra tại Á Châu cho thấy Tập Cận Bình “yêu” láng giềng Việt Nam cũng giống như Hitler từng “yêu” láng giềng Ba Lan.

Trong diễn văn đọc trước Quốc hội Đức ngày 21 tháng Năm, 1935, Hitler ca ngợi tình láng giềng giữa Đức và Ba Lan: “Chúng tôi công nhận, với sự hiểu biết và tình hữu nghị thắm thiết của những người Quốc Xã dành cho Ba Lan, quê hương của một dân tộc ý thức quốc gia. Quốc Xã Đức, và đặc biệt chính phủ Đức hiện nay, không có mong muốn nào hơn là sống trong điều kiện hòa bình, hữu nghị với tất cả các nước láng giềng”.

Nội dung tương tự, Tập Cận Bình ca ngợi tình láng giềng giữa Trung Cộng và Việt Nam khi phát biểu trước cái gọi là “Quốc hội Việt Nam” ngày 6 tháng 11, 2015: “Cổ nhân có câu “ngàn vàng chỉ để mua tình láng giềng”… Nhân dân hai nước Trung Quốc Việt Nam từ lâu đã là láng giềng, từ xưa tới nay đã có quan hệ qua lại mật thiết, gần đây còn có giao tình cùng chống giặc ngoại xâm, ngày nay có cùng chung sự nghiệp chấn hưng phồn vinh”.

Ngay cả trong lúc nói những câu ân cần dành cho láng giềng Ba Lan, Hitler đã có ý định xóa bỏ quốc gia này trong bản đồ thế giới.

Lúc 4:45 phút sáng Thứ Sáu ngày 1 tháng 9, 1939, Hitler tung một đạo quân lên đến 1,5 triệu người thuộc nhiều binh chủng và áp dụng chiến thuật tấn công chớp nhoáng để tấn công Ba Lan từ cả hai hướng Bắc và Nam. Chỉ riêng lục quân đã lên đến 54 sư đoàn. Quân đội Ba Lan cũng lên đến một triệu nhưng chống cự chưa được bốn tuần lễ. Thủ đô Warsaw đầu hàng ngày 27 tháng 9, 1939. Hơn năm triệu, trong tổng số ba mươi mốt triệu dân Ba Lan bị giết trong Thế Chiến Thứ Hai.

Tại sao Hitler đánh Ba Lan trước?

 

Các sử gia đưa ra nhiều lý do nhưng nếu chọn một lý do, phần lớn đồng ý lý do hàng đầu là không gian sinh tồn của một Hitler đang ôm mộng đế quốc. Ba Lan, ngoài ra còn giữ vị trí chiến lược như một vùng độn (buffer state) ở phía Đông, và để tấn công Liên Xô, Đức phải tấn công Ba Lan trước.

Theo sử gia Tadeusz Piotrowski, tại Obersalzberg ngày 22 tháng 8, tức chỉ một tuần lễ trước khi tấn công Ba Lan, Hitler chỉ thị cho các tư lịnh mặt trận: “Mục đích của chiến tranh là tiêu diệt khả năng vật chất của kẻ thù. Đó là lý do tôi đã chuẩn bị, hiện nay mới chỉ từ phía Đông, các đơn vị SS với các mệnh lệnh giết không thương xót hay khoan dung tất cả đàn ông, đàn bà, và trẻ em con cháu dòng dõi Ba Lan hay nói tiếng Ba Lan. Với cách duy nhất này chúng ta mới có thể có được một không gian sinh tồn mà chúng ta cần”.

Ba Lan là quốc gia duy nhất Hitler không cần lập một chế độ bù nhìn, thay vào đó bị cai trị trực tiếp và vô cùng hà khắc dưới bàn tay của Hans Frank, một luật sư riêng của Hitler được cử sang cai trị Ba Lan. Tội phạm chiến tranh này bị treo cổ tại Nuremberg ngày 16 tháng 10, 1946. Hitler còn chủ trương đồng hóa dân tộc Ba Lan trong đó có cả việc thay đổi họ tên, ngôn ngữ, lễ nghi nhà thờ và gần như mọi phương tiện thông tin.

Tại sao Ba Lan đầu hàng chỉ trong vòng bốn tuần lễ?

Các sử gia đưa ra nhiều lý do, nhưng nếu phải chọn một, có lẽ nên chọn lý do Ba Lan không chuẩn bị chiến tranh về mọi mặt ở một mức độ như Đức Quốc Xã.

Vũ khí quá lạc hậu, trông cậy các đồng minh ở xa, quân đội trên danh nghĩa có cả triệu quân nhưng động viên chỉ mỗi một ngày trước khi các chiến xa Đức vượt biên giới dù Hilter đã nuốt sống Tiệp từ tháng Giêng, 1939.

Không cần phải phân tích dài dòng, chỉ thay Việt Nam vào Ba Lan trong bài viết sẽ thấy hiểm họa Trung Cộng đang đè nặng trên đầu dân tộc Việt.

Những kẻ độc tài thời đại nào cũng giống nhau vì đều là những con người có lòng tham quyền lực không đáy. Dưới mắt họ không có con người mà chỉ có đất đai và của cải.

Nếu Hilter chỉ muốn dừng lại ở Áo và Tiệp, có lẽ bản đồ thế giới ngày nay đã khác.

Tương tự, Trung Cộng sau 40 năm bán sức lao động của bảy trăm triệu người Trung Hoa để tạo một lượng thặng dư tài sản khổng lồ để khắp nơi trên thế giới nhưng không dừng lại. Tập Cận Bình nuôi mộng bá chủ thế giới và sẽ xua đàn kiến đỏ Tàu Cộng tàn phá Việt Nam trong một ngày nào đó.

Những gì xảy ra ở Ba Lan sẽ xảy ra ở Việt Nam với một mức độ thảm khốc hơn nhiều trong tương lai.

Vậy câu hỏi đặt ra là phải làm gì?

Về mặt lý luận, người viết đã phân tích trong bài “Để thắng được Trung Cộng”, xin tóm tắt dưới đây:

  1. Việt Nam phải có dân chủ. Việt Nam phải có dân chủ mới bảo vệ được đất nước. Điều đó đúng nhưng cần phải nói thêm, dân chủ không chỉ giúp bảo vệ đất nước mà còn để thắng được Trung Cộng. Ngoài ra, dân chủ phải đến sớm, đừng đợi đến khi chiến tranh Á Châu bùng nổ, máu đổ, thây phơi mới đến.
  2. Vượt qua mọi bất đồng để tạo thế đoàn kết dân tộc. Một dân tộc chia rẽ không thắng được ai. Đây là thời điểm để xác định lại lòng yêu nước. Yêu nước ngày nay không phải là sản phẩm của chủ nghĩa dân tộc cực đoan hay bùa mê CS mà gắn liền với với quyền lợi sống còn của đất nước và hướng đi dân chủ nhân bản của thời đại. Chỉ có một Việt Nam đoàn kết dưới ngọn cờ dân chủ mới thật sự tập trung được sức mạnh tổng hợp của dân tộc và là nền tảng cho một quốc gia dân chủ thịnh vượng lâu dài.
  3. Chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia. Giống hệt vị trí của Ba Lan trước Thế chiến thứ Hai, Việt Nam hiện còn đang giữ vị trí chiến lược nhưng vì CSVN bám theo chân Tàu Cộng nên không chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia được. Mọi chính sách đối ngoại của CSN đều phải được Bắc Kinh chấp thuận và không được tự tiện đi ra ngoài chính sách đối ngoại toàn cầu của Trung Cộng.
  4. Ba Lan có liên minh quân sự với Anh và Pháp nhưng gần như không có sự hợp tác chiến lược cụ thể nào. Ngay cả sau khi tuyên chiến với Đức, các lãnh đạo Anh và Pháp vẫn còn tin vào một giải pháp chính trị hơn là một đương đầu trực tiếp bằng quân sự. Do dự là cha đẻ của mọi thất bại. Liên minh giữa Ba Lan với Anh, Pháp là những liên minh không đáng tin cậy và quốc gia nào có những liên minh không đáng tin cậy sẽ dễ bị tấn công hơn là các quốc gia có sự liên minh tin cậy.

Bốn điểm nêu trên, chọn lựa dân chủ là quan trọng nhất.

Tổng thống Harry Truman đã không mạnh dạn gởi hàng không mẫu hạm USS Franklin D. Roosevelt và hạm đội tháp tùng hùng hậu vào Địa Trung Hải để bảo vệ Thổ Nhĩ Kỳ trong xung đột Eo Biển Thổ năm 1946 và nhất là không ủng hộ Thổ vào NATO nếu Thổ không cam kết một nền dân chủ.

Yêu nước ngày nay đồng nghĩa với yêu dân chủ và mọi người Việt dù ở đâu hãy nỗ lực cho mục đích tối cần thiết và quan trọng này.

T.T.Đ.

Nguồn: FB Chính luận Trần Trung Đạo

Ai nói Mỹ phân biệt chủng tộc

No photo description available.

Kimtrong Lam

Ai nói Mỹ phân biệt chủng tộc

Các bạn xem đi cái hình ở dưới rồi biết ở Mỹ như thế nào

Ai mà nói Mỹ phân biệt chủng tộc là điên rồ rồi

Hàng năm con số người Da Đen giết Da Trắng gấp 10 lần người Da Trắng giết Da Đen lận

Vậy mà còn than phiền phân biệt cái gì. Người Da Đen giết người Á Châu và Châu Mỹ Latin gấp hàng trăm lần lận và rất cao

Nhưng tại sao bọn nhà báo cánh tả ở đâu khi mấy người này bị dân Da Đen giết khác màu

Dĩ nhiên báo cánh tả thích đổ thừa Trump và chính phủ Trump là phân biệt chủng tộc để họ chiến thắng vào tháng 11 năm 2020

Tất cả có giàn dựng chớ không phải khơi khơi đâu

Đây là đúng lúc thời gian chúng ta phải đòi hỏi dân Da Đen không được kỳ thị người dân tộc khác như Trắng, Vàng và Nâu… chớ không phải dân tộc khác kỳ thị da đen

Ở Mỹ ai tài giỏi thông minh đều được xử dụng bằng nhau và không có chuyện kỳ thị như mấy người tưởng. Vâng có kỳ thị nhưng đó là cá nhân thì ai ngăn chặng được và trăm triệu người cũng cái trứng thối chơ

Đã đến lúc chúng ta cần đấu tranh đòi hỏi quyền làm con người cho da vàng, trắng và nâu và yêu cầu người da đen đối xử công bằng và không phân biệt chủng tộc khác

Đừng có giả dối “Black Lives Matter”… Đồ tào lao và hãy nhìn lại cái lưng mình đi mấy chú da đen và các chú bớt làm hài đi.

HÀNH ĐỘNG CUỐI ĐỜI CỦA ÔNG VUA NỔI TIẾNG NÀY LÀ BÀI HỌC QUÝ GIÁ CHO TA

Image may contain: one or more people and text
Lm Trần Chính Trực

 

HÀNH ĐỘNG CUỐI ĐỜI CỦA ÔNG VUA NỔI TIẾNG NÀY LÀ BÀI HỌC QUÝ GIÁ CHO TA

Ước nguyện cuối cùng của Alexander Đại Đế.

Trong giờ phút lâm chung, Alexander Đại đế triệu tập các cận thần của mình, và nói với họ 3 điều ước cuối cùng của ông:

1. Hãy để các ngự y giỏi nhất khiêng quan tài của ta.

2. Hãy rải tài sản của ta, bao gồm tất cả tiền, vàng, kim cương, đá quý trên đường đến nghĩa trang.

3. Hãy để đôi bàn tay của ta được thả lỏng và để nó bên ngoài cho tất cả mọi người thấy.

Một trong những vị tướng của ông đã rất bất ngờ trước những yêu cầu bất thường này, nên đã yêu cầu Alexander giải thích. Alexander Đại đế đáp lại:

Ta muốn các ngự y giỏi nhất khiêng quan tài của ta để chứng minh rằng, khi đối mặt với cái chết, ngay cả những ngự y giỏi nhất trên thế giới cũng không có sức mạnh cải tử hoàn sinh.

Ta muốn rải hết tiền vàng trên đường, để muốn mọi người biết rằng, sự giàu có về vật chất có được trên Trái Đất này, thì sẽ phải ở lại Trái Đất.

Ta muốn bàn tay ta đung đưa trong gió, để muốn mọi người hiểu rằng, chúng ta đến với thế giới này bằng hai bàn tay trắng, thì chúng ta rời thế giới này cũng với hai bàn tay trắng.

Chúng ta sẽ không còn gì, sau khi tài sản quý giá nhất của chúng ta đã cạn kiệt, đó là SỨC KHOẺ và THỜI GIAN.

CÂU CHUYỆN NGỤ NGÔN

Một con chồn muốn vào một vườn nho, nhưng vườn nho lại được rào dậu rất cẩn thận. Tìm được một chỗ trống, nó muốn chui vào nhưng không thể được. Nó mới nghĩ ra một cách: nhịn đói để gầy bớt đi.

Sau mấy ngày nhịn ăn, con chồn chui qua lỗ hổng một cách dễ dàng. Nó vào được trong vườn nho. Sau khi ăn uống no nê được một thời gian, con chồn mới phát hiện mình đã quá mập, không thể chui qua lỗ hổng để thoát ra ngoài. Thế là nó phải tuyệt thực một lần nữa.

Thoát khỏi vườn nho, nó ngẫm nghĩ: “Hỡi vườn nho, vào trong nhà người để được gì. Bởi vì ta đã đi vào nơi đó với hai bàn tay trắng, thì cũng phải trở ra bằng trắng hai bàn tay”.

Chúng ta xuất hiện trong cuộc đời này với hai bàn tay trắng và tiếng khóc oa oa; và kết thúc cuộc đời này cũng trắng hai bàn tay, mà người ta thường gọi là nhắm mắt xuôi tay!

Bốn cảnh giới khó đắc nhất của đời người

Bốn cảnh giới khó đắc nhất của đời người

 1)Một là, đau mà không than: Thể hiện sự kiên cường trong nội tâm

Đại bàng đau thì cất tiếng kêu thảm thiết, nó sẽ không thể cất cánh giữa bầu trời cao xanh. Thỏ đau thì sẽ dừng lại kêu gào, có khi nó sẽ trở thành một bữa tối ngon lành. Có thể thấy rằng, nếu đau mà than vãn thì sẽ mất đi cơ hội được tôi luyện, quỹ đạo của đời người cũng theo đó mà đổi thay. Khi bị đau tức là cuộc đời đang cung cấp nền tảng thành công cho chúng ta.

“Đau mà không than”. Không than không phải là không đau, mà là dám đối mặt với nỗi đau buồn, niềm đau thương và sự đau đớn. Muốn làm được “Đau mà không than”, chúng ta cần có sự kiên cường để san bằng những khó khăn trở ngại. Chúng ta cần có trí huệ kiếp người để chống đỡ lại sóng gió trên đường đời. Kỳ thực, đau mà không than chỉ có thể bắt nguồn từ một nội tâm lạc quan, mạnh mẽ: “Sau khi mưa gió qua đi, ánh cầu vồng sẽ lung linh màu sắc”.

2)Hai là, cười mà không nói: Thể hiện sự khoáng đạt, tiêu diêu tự tại trong tâm hồn

Có những khi bạn phải đối mặt với những lời giễu cợt của bạn bè, cũng có khi bạn sẽ thấy bất lực vì bị người khác hiểu lầm. Nếu bạn cứ nhất quyết phải nhiều lời đôi co, giải thích, thanh minh với họ thì chỉ càng đẩy họ sang bên thái cực đối lập với bạn. Cái tâm của bạn cũng sẽ bị khuấy động, do đó loạn càng thêm loạn. Lúc này chi bằng chỉ cần giữ một nụ cười trên môi và để mặc cho người đời bàn luận đúng sai, tốt xấu.

Mỉm cười có sức mạnh dời một ngọn núi. Một nụ cười nhẹ nhàng đôi khi còn thắng cả thiên binh vạn mã hùng mạnh.

Người xưa có câu quân tử lúc nào cũng đường hoàng, chỉ có kẻ tiểu nhân mới thường sợ sệt. Đôi khi một nụ cười có thể làm tan chảy ân oán giữa đôi bên, có thể khiến những người xa xứ, tha hương nơi đất khách quê người cảm thấy ấm áp cả cõi lòng. Nở một nụ cười thật đơn giản nhưng lại thể hiện sự bình thản, an nhiên tự tại trong tâm hồn bạn và đạo lý làm người nơi thế gian.

Đời người khó tránh sẽ có lúc gặp phải những chuyện không vừa ý. Nếu chỉ oán trách không ngừng cũng chẳng ích chi, chỉ khiến lòng người càng thêm nặng nề, rối ren mà thôi. Lúc này chi bằng bạn hãy tĩnh tâm xuống mà suy ngẫm.

Sự trầm tĩnh như dòng nước chảy mãi không ngừng. Nó sẽ làm dịu nỗi đau đang bùng cháy trong tim bạn. Sức mạnh nội tâm này cũng sẽ lắng đọng thành một trải nghiệm, hun đúc thành một trí huệ ẩn sâu trong tim và thắp sáng tâm hồn. Khi gặp chuyện không vừa ý, chỉ cười mà không nói thể hiện tấm lòng bao dung của một người. Đó không chỉ là tố chất tốt đẹp có thể trấn tĩnh những dòng cảm xúc nông nổi, mà còn khiến bản thân mình không buột miệng nói ra những lời khiến người khác phải tổn thương.

3)Ba là, mê mà không mờ: Thể hiện của người trí huệ

Muốn không bị mê hoặc bởi những chuyện trên thế gian thì điều bạn cần chính là sự mạnh mẽ trong nội tâm. Cổ nhân có một câu rất hay rằng: “Buồn mà không thương cảm” (Ai nhi bất thương). Khi nhiều chuyện đau khổ ập tới, chúng ta có thể buồn bã. Đây cũng là những cảm xúc rất tự nhiên và cần thiết của con người. Nhưng khi buồn phiền bạn cũng đừng quên rằng luôn có một con mắt thứ 3 đang trông chừng tất cả. Chỉ cần giữ vững thiện lương trời xanh sẽ tự có an bài.

Nếu có thể coi nhẹ được mất trên thế gian, thì khi đột nhiên phải đối mặt với sự mất mát, bạn mới có thể không bị mê mờ. Có thể sức ảnh hưởng của thế giới bên ngoài quá mạnh mẽ, khiến bạn chìm đắm trong mớ cảm xúc hỗn độn mà không thể kiềm chế bản thân. Nhưng khi bạn có đủ trí huệ, một thời gian sau bạn sẽ dần dần học được cách cân bằng.

Tâm hồn con người có khả năng tự chữa lành vô cùng kỳ diệu. Mê mà không mờ là định lực tu luyện của kiếp người, còn mê muội và không thể kiểm soát bản thân sẽ làm tổn thương chính mình.

4)Bốn là, hoảng mà không loạn: Là sự tĩnh tại nhờ tu dưỡng

Khi đối mặt với vinh nhục, con người rất khó tránh khỏi sự bàng hoàng, thảng thốt. Tâm hoảng thì ắt sẽ động, mà trong động lại có tĩnh. Hoảng mà không loạn mới là vẻ đẹp khác biệt.

Cổ nhân có câu rằng: “Nếu gặp chuyện oan ức mà không kinh sợ, gặp chuyện uất hận mà không hoảng loạn, thì người này có thể đảm nhận trọng trách”. Đời người không thể tránh khỏi có những lúc bị oan khuất.

Nhưng “Gặp đại sự mà không loạn, gặp sóng lớn mà không mất đi thói quen thường hằng”. Đây là một tâm thái xử thế ung dung tự tại, giỏi ứng biến linh hoạt. Làm được vậy thì khi đại sự đến mới không hoảng không loạn, mới có thể trầm tĩnh và điềm đạm. Khi gặp chuyện quan trọng họ sẽ không lo lắng, mà vẫn giữ được tâm thái bình hòa.

Cảnh giới nhân sinh được đúc rút ra từ trong cuộc sống, được ngưng kết lại theo dòng chảy thời gian. Chỉ cần có mong muốn ngày càng hoàn thiện bản thân, luôn tiến về phía trước không mệt mỏi, thì bạn sẽ ngày càng trưởng thành.

Sẽ có một ngày, vào một buổi ban mai rực rỡ hay dưới bóng hoàng hôn êm đềm nào đó, ký ức thuở xưa của bạn sẽ mở ra. Bạn sẽ phát hiện ra rằng tất cả những hiểu lầm, những nỗi đau sớm đã tiêu tan theo cơn gió của ngày hôm qua tự bao giờ, chỉ còn lại nụ cười thật tươi trên trên khuôn mặt rạng ngời của bạn.

(S.T.)

From: Phi Phuong Nguyen

Trần truồng kêu oan với đoàn xe của đại biểu quốc hội | Tiếng Dân

About this website

BAOTIENGDAN.COM

Trần truồng kêu oan với đoàn xe của đại biểu quốc hội | Tiếng Dân

Trần truồng kêu oan với đoàn xe của đại biểu quốc hội Bởi AdminTD – 09/06/2020 Đoàn Bảo Châu 9-6-2020 Hôm qua trên trang “Phản đối BOT bẩn và yêu cầu minh bạch BOT” có clip, một đoàn dân oan với biểu ngữ. Họ kêu gào “quốc hội ơi……

Là một người đấu tranh cho dân chủ của một quốc gia nhược tiểu, ai trấn áp được kẻ thù truyền kiếp của đất nước tôi, thì tôi đều thích.

Tho Nguyen and 3 others shared a post.

Image may contain: one or more people and text

Huỳnh Thục VyFollow

Những người anti-Trump luôn cho rằng những người “Cầm Chuông” sở dĩ ủng hộ Trump vì nghĩ Trump có thể trấn áp Trung Cộng, rằng đó là tâm thế nô lệ, muốn Mỹ đánh TC thay cho VN, muốn người khác làm thay việc của mình..bla bla.

Một đế quốc khổng lồ như Trung Cộng, Việt Nam nhược tiểu có khả năng đối phó sao? Dù có muốn thừa nhận hay không, bàn cờ chính trị quốc tế đâu phải là nơi VN có thể có tiếng nói. Cha ông chỉ để lại cho chúng ta một dải đất hẹp bên bờ biển, không đủ rộng để trở thành nước lớn, mà lại đủ ngon để tên láng giềng khổng lồ thèm thuồng. Chúng ta không thể thay đổi thực tế đó, vậy thì chỉ có cách là nương theo địa chính trị quốc tế để tồn tại và phát triển, sự khôn ngoan của một nước nhược tiểu không thể giống sự không ngoan của một đế quốc. Chúng ta tự tôn thì cũng không thể tự huyễn hoặc mình đến mức đó chứ?!

Các anh chị chống Trump có thể cho tôi thấy cách nào để thoát Trung nếu Trung Cộng không bị bẻ gãy bởi một cường quốc như Hoa Kỳ? Xây dựng dân chủ, ủng hộ nhân quyền là việc chúng ta phải tự làm, tất nhiên. Còn việc thoát khỏi sự kiểm soát của một con quái vật khổng lồ là điều lực bất tòng tâm nếu không có một người khổng lồ như Hoa Kỳ trói tay bẻ cẳng nó, trong khi mà Đảng cộng sản VN gần cả thế kỷ nay đã “rước voi về giày mả tổ”. Việt Nam có thể nào có dân chủ nổi với một Trung Cộng đang hùng hổ nắm sợi dây buộc cổ VN, bất cứ khi nào cũng có thể thắt chặt sợi dây lấy mạng ấy??

Nếu Trung Cộng không bị đánh cho bại liệt trước thì nỗ lực hơn hiện tại gấp 10 lần thì tương lai của Hongkong cũng mong manh chứ đừng nói chi một Việt Nam ù lì vô cảm.

Trên bình diện cá nhân, tôi không thích Trump, một tay chơi khét tiếng. Nhưng Trump đâu phải là một người đàn ông bình thường, ông ta là Tổng Thống Mỹ mà. Tôi không thể thích hay không thích một TT Mỹ vì cá tính, mà vì chính sách và hành động của ông ta. Là một người có khuynh hướng bảo thủ, ủng hộ chủ nghĩa tự do kinh tế, tôi ủng hộ Trump cũng vì cùng xu hướng chính trị cánh hữu. Nhưng trên hết, là một người đấu tranh cho dân chủ của một quốc gia nhược tiểu, ai trấn áp được kẻ thù truyền kiếp của đất nước tôi, thì tôi đều thích. Ai nói tôi có tâm thế lệ thuộc nước lớn thì tôi chịu, tôi không hão huyền về thực lực của đất nước mình trong một thế giới đầy biến động như hiện nay.

Hai cội nguồn của chế độ toàn trị Trung Quốc: Cơ hội nào cho dân chủ?

Chế độ « cộng sản » Trung Quốc đang ngày càng trở thành mối đe dọa hàng đầu đối với nhiều xã hội. Từ dịch Covid-19 xuất phát từ Vũ Hán, dự án « Con đường tơ lụa mới », đến bành trướng quân sự trên biển… Nhưng với nhiều chuyên gia, đe dọa lớn nhất đến từ chế độ toàn trị Trung Quốc. Theo quan điểm này, chế độ toàn trị Trung Quốc là gốc rễ của vô số các hiểm họa đe dọa phần còn lại của thế giới, và đối với chính xã hội Trung Quốc.

Nhận diện cho đúng chế độ toàn trị hiện nay tại Trung Quốc là cơ sở cho phép các nền dân chủ có được đối sách đúng. Tuy nhiên, nhận diện đúng không phải là điều dễ. Do tính chất khép kín của chế độ này, do những đặc thù của nền văn hóa lâu đời của Trung Quốc. Khó nhận diện cũng có phần do thế đối đầu Mỹ – Trung hiện nay có xu hướng thổi bùng lên những mâu thuẫn mang tính quốc gia, vô hình chung đẩy lùi vấn đề mô hình xã hội – toàn trị, dân chủ hay độc tài – vào tuyến hai. Vấn đề chế độ chính trị có xu hướng được đơn giản hóa, để đáp ứng nhu cầu tuyên truyền trước mắt. Chỉ trích của nhiều chính trị gia các nước dân chủ tập trung vào tính chất « cộng sản » của chế độ chính trị hiện hành, mà coi nhẹ những gốc rễ của chế độ toàn trị trong chính truyền thống Trung Hoa nghìn năm.

Tuy nhiên, giới chuyên gia về Trung Quốc, về chính trị quốc tế, vẫn tiếp tục có các nghiên cứu. Học giả Mỹ Francis Fukuyama tháng 5/2020 vừa qua công bố bài phân tích : « What Kind of Regime Does China Have? » – tạm dịch : «Trung Quốc có chế độ kiểu gì? » (1), tìm cách giải mã các cội nguồn của chế độ toàn trị Trung Quốc, một số đặc điểm căn bản của mô hình chính trị Trung Quốc thời cộng sản, từ thời Mao, Đặng… cho đến Tập Cận Bình (2). Tác giả cũng đề xuất một triển vọng được coi là khả thi hơn cả cho sự trỗi dậy của dân chủ tại Trung Quốc. Sau đây, RFI tiếng Việt xin giới thiệu một số nét chính của bài phân tích.

***

CHẾ ĐỘ TOÀN TRỊ LÀ GÌ ?

Thuật ngữ « toàn trị » do hai nhà chính trị học Mỹ, Carl Friedrich và Zbigniew Brzezinski, chế tác ra vào những năm 1950, để chỉ các xã hội theo « mô hình Liên Xô » và « phát xít ». Carl Friedrich và Zbigniew Brzezinski phân biệt các chế độ « toàn trị » với các chế độ gọi là « độc đoán ». « Toàn trị » là các chế độ do một đảng duy nhất lãnh đạo, với một ý thức hệ bao trùm, sử dụng quyền lực công an trị để buộc mọi người dân trong xã hội phải trung thành tuyệt đối với ý thức hệ chính thống, với việc « kiểm soát chặt chẽ mọi khía cạnh riêng tư nhất của các thành viên trong xã hội ». Các chế độ này hy vọng « cắt đứt toàn bộ các liên hệ xã hội trước đó, để buộc tất cả mọi người phụ thuộc trực tiếp vào chính quyền ». Đảng thực thi vai trò « tẩy não » dân chúng một cách triệt để, « đến mức họ không còn nhận ra những xiềng xích cột họ vào Đảng ». Một hình tượng tiêu biểu cho thành công của chế độ toàn trị Xô Viết là nhân vật người thiếu niên Pavel Morozov, được lãnh tụ Staline nhiệt liệt biểu dương, do đã có công tố cáo cha mẹ mình với công an mật.

ĐÂU LÀ CỘI RỄ CỦA CHẾ ĐỘ TOÀN TRỊ TẠI TRUNG QUỐC HIỆN NAY ?

Học giả Mỹ Francis Fukuyama nhấn mạnh : xã hội Trung Quốc là « một trong những xã hội có lịch sử liên tục dài nhất thế giới, và có rất nhiều sự tiếp nối xuyên qua các triều đại, cho đến chế độ hiện nay ». Trung Quốc là « nền văn minh đầu tiên trên thế giới tạo lập ra một bộ máy Nhà nước mang tính hiện đại », tức một bộ máy Nhà nước được coi như vận hành độc lập với các quan hệ cá nhân, dù là với hoàng đế, với gia tộc hoàng đế hay với các thân hữu của hoàng đế. Một bộ máy Nhà nước vận hành theo các quy tắc riêng, tập quyền cao độ. Bộ máy này ra đời vào dưới triều đại nhà Tần, triều đại đầu tiên thống nhất các vương quốc tại khu vực trung tâm lãnh thổ Trung Quốc hiện nay (vào năm 221, trước Công nguyên). Thời Tần Thủy Hoàng chỉ tồn tại chưa đầy 20 năm, nhưng để lại các hệ quả vô cùng lớn trong xã hội Trung Hoa suốt hơn 2.000 năm sau. Triều đại nhà Hán, kéo dài hơn 4 thế kỷ sau đó, đã kế thừa phương thức tổ chức Nhà nước tập quyền của Tần Thủy Hoàng, và bổ sung vào đó vai trò hàng đầu của Khổng giáo, của tầng lớp quan lại theo Nho giáo, được phó thác sứ mạng lãnh đạo một trong các đế chế lớn nhất thế giới thời đó. Một đặc điểm tiêu biểu khác của chế độ chính trị thời Tần, rồi đến thời Hán, là : trong các đế chế hùng mạnh này tại Trung Hoa chưa bao giờ có các định chế chính trị mang tính đối trọng, như Nhà nước pháp quyền, hay trách nhiệm giải trình mang tính dân chủ (democratic accountability), mà chủ yếu dựa vào tầng lớp lãnh đạo điều hành đất nước, thông qua con đường « giáo dục ».

Bộ máy Nhà nước tập quyền và không có đối trọng, do một tầng lớp quan lại được tuyển chọn thông qua học vấn vận hành, đó là các đặc điểm tiêu biểu của nền chính trị Trung Hoa suốt 2.000 năm. Thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực là thách thức mà chính quyền Trung Hoa liên tục gặp phải. Hoàng đế phải sử dụng tầng lớp quan lại để điều hành bộ máy Nhà nước, nhưng ai kiểm soát bộ máy này, khi bộ máy bị hư hỏng? Tầng lớp hoạn quan đã được sử dụng làm nhiệm vụ này. Đến đời nhà Minh, lại phải lập ra cả một bộ phận riêng để kiểm soát các hoạn quan, do sự lộng hành của nhóm này. Vấn đề tương tự cũng đặt ra hiện nay, khi đảng Cộng Sản kiểm soát chính quyền, Ban Tổ Chức của Đảng kiểm soát Đảng. Và dưới thời Tập Cận Bình, đến lượt Ủy Ban Kỷ Luật Trung Ương được giao nhiệm vụ kiểm soát Ban Tổ Chức…

Tuy nhiên, nếu như có những điểm kế tục giữa phương thức cai trị của đảng Cộng Sản Trung Quốc hiện nay với các triều đại trước đây, thì cần phải nhấn mạnh là đảng Cộng Sản Trung Quốc đã kế tục truyền thống toàn trị thời Liên Xô của Staline, nhiều hơn bất cứ giai đoạn nào khác trong lịch sử Trung Hoa trước đó. Phương thức toàn trị Xô Viết, với hệ thống tuyên huấn, dân vận, trại cải tạo, trại tập trung, mạng lưới những tay chân của chế độ có mặt khắp nơi theo dõi dân chúng…, rút cục đã phá sản. Tuy nhiên, « tham vọng toàn trị không chết, tham vọng kiểm soát hoàn toàn người dân, từ tinh thần đến thể xác, đã được truyền từ đảng Cộng Sản Liên Xô sang đảng Cộng Sản Trung Quốc ».

Mao Trạch Đông đã tái tạo mô hình toàn trị Liên Xô bằng các phương tiện tương tự, với đỉnh điểm là cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Tuy nhiên, nỗ lực này rốt cục đã thất bại, buộc giới tinh hoa trong Đảng, chuyển hướng sang con đường hiện đại hoá theo kiểu tư bản. Theo Francis Fukuyama, lãnh đạo kế nhiệm Đặng Tiểu Bình đã bắt đầu giải thể Nhà nước toàn trị, để thay bằng « Nhà nước độc tài ».

CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ TRUNG QUỐC DƯỚI CÁC THỜI MAO, ĐẶNG VÀ TẬP, CÓ GÌ KHÁC, GÌ GIỐNG ?

Theo Francis Fukuyama, giai đoạn 1978 đến 2012, tức là từ khi Đặng Tiểu Bình khởi động « hiện đại hoá », cho đến khi Tập Cận Bình lên cầm quyền, là một giai đoạn mà người dân Trung Quốc được hưởng nhiều quyền tự do cá nhân, kinh doanh, đi lại tự do, bày tỏ quan điểm tự do… khác hẳn trước. Đảng giảm nhẹ sự can thiệp vào kinh tế và bộ máy Nhà nước… Nhiệm kỳ lãnh đạo cao cấp được giới hạn. Với việc Tập Cận Bình lên cầm quyền, bộ máy chính trị Trung Quốc có xu thế làm sống lại mô hình toàn trị thời Mao. Chủ nghĩa Mác-Lê theo tư tưởng Tập Cận Bình đã được đưa vào Hiến Pháp, được giảng dạy trong trường học. Bộ máy công an có thêm nhiều quyền lực chưa từng có. Đảng xâm nhập trở lại mọi mặt của đời sống. Nhiều bài hát của Hồng vệ binh thời Cách Mạng Văn Hoá được phổ biến trở lại. Đàn áp ở quy mô lớn, với hơn một triệu người Duy Ngô Nhĩ bị đưa vào các trại cải tạo….

Tuy nhiên, Francis Fukuyama cũng nhấn mạnh là, cho dù tham vọng kiểm soát trở lại theo kiểu toàn trị, « Tư tưởng Tập Cận Bình » cũng chỉ là một bản sao mờ nhạt của tư tưởng Mao, với cuốn Sách Đỏ nổi tiếng. Tập Cận Bình đã không đủ sức đưa ra một ý thức hệ mang tính nhất quán như Mao, đủ sức dấy lên niềm tin cuồng tín của hàng triệu người Trung Quốc. Nhưng ngược lại, chính quyền Tập Cận Bình lại có được các phương tiện công nghệ tinh vi, hùng hậu của kỷ nguyên công nghệ số, cho phép dễ dàng kiểm soát dân chúng, khác hẳn thời Mao hay Staline. Cũng khác với thời Mao, chủ yếu dựa vào đàn áp, đe dọa, giờ đây chính quyền thời Tập dựa nhiều hơn vào việc chiêu dụ được một tầng lớp trung lưu, dễ bảo nhờ các món lợi vật chất…

So sánh để nhìn ra các điểm giống giữa Mao, Đặng và Tập, học giả Mỹ Francis Fukuyama vừa lưu ý đến tính nối tiếp của nhiều truyền thống toàn trị trong xã hội Trung Hoa với chế độ toàn trị cộng sản hiện nay, nhưng cũng vừa nhấn mạnh đến tính mâu thuẫn giữa các truyền thống Trung Hoa. Chế độ cai trị tàn bạọ thời Tần, đặt cơ sở cho các chế độ toàn trị sau này, chỉ tồn tại được ít năm. Các triều đại Trung Hoa sau này trị nước một cách tinh vi hơn.

Francis Fukuyama chia ra hai mạch cai trị trong truyền thống Trung Quốc, gọi là « toàn trị » và « độc đoán » (như định nghĩa của Carl Friedrich và Zbigniew Brzezinski). Về toàn trị, Mao Trạch Đông và Tần Thủy Hoàng là trên cùng một mạch. Về chế độ « độc đoán » , theo tác giả, chính quyền Đặng Tiểu Bình hay Giang Trạch Dân gần với các triều đại Trung Quốc sau này hơn nhiều. Nhìn chung, theo Francis Fukuyama, di sản Mác-Lê thời Xô Viết (theo kiểu Staline), được đảng Cộng Sản Trung Quốc vận dụng, nằm trong thế xung đột sâu sắc với nhiều truyền thống bắt rễ tại Trung Quốc, trong đó có Khổng giáo, vốn nhấn mạnh nhiều đến các quan hệ con người.

NỀN CHÍNH TRỊ ĐCS LÃNH ĐẠO TẤT YẾU DẪN ĐẾN MỌI QUYỀN LỰC THÂU TÓM TRONG TAY MỘT LÃNH ĐẠO DUY NHẤT TẬP CẬN BÌNH ?

Theo Francis Fukuyama, thì việc Tập Cận Bình trở thành lãnh đạo Trung Quốc, với xu thế ngả sang toàn trị « không phải là điều không thể tránh khỏi ». Vào thời điểm Tập Cận Bình chưa trở thành lãnh đạo, trong giới tinh hoa Trung Quốc đã có nhiều người hy vọng là chế độ Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Tập sẽ vừa chống được nạn tham nhũng, vừa xác lập các cơ sở cho một xã hội Trung Quốc tự do hơn, trước khi họ hiểu ra.

Dù sao, chế độ Tập Cận Bình chưa phải đã áp đặt được lý tưởng toàn trị lên toàn bộ xã hội. Xã hội Trung Quốc hiện nay khác xa Bắc Triều Tiên. Lịch sử Trung Quốc cho thấy hai nỗ lực xây dựng xã hội toàn trị một cách tàn bạo dưới thời Tần Thủy Hoàng và Mao Trạch Đông không kéo dài. Việc dân chúng tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng hiện nay xuất phát từ « tự nguyện » do lợi ích được thỏa mãn, hơn là « do bị đe dọa ». Khả năng các công nghệ số kiểm soát dân chúng đến đâu cũng còn là vấn đề để ngỏ. « Tư tưởng Tập Cận Bình » hay « chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Hoa » cũng không hấp dẫn đến mức có nhiều người sẵn sàng chết cho lý tưởng, như thời Mao.

TRUNG QUỐC CÓ CƠ HỘI DÂN CHỦ HOÁ HAY KHÔNG, NẾU CÓ CON ĐƯỜNG NÀO KHẢ THI HƠN CẢ ?

Theo Francis Fukuyama, trước hết các nền dân chủ phương Tây phải nhận thức được là tại Trung Quốc, « có một chế độ toàn trị mới đang hình thành », giống như Liên Xô giữa thế kỷ XX, chứ không phải là « một chế độ tư bản theo phong cách độc đoán », như giai đoạn trước đó. Bởi tại Trung Quốc hiện nay, Nhà nước gần kiểm soát toàn bộ nền kinh tế, kể cả với các doanh nghiệp được gọi là « tư nhân », như Tencent hay Alibaba. Về mặt kinh tế, Hoa Kỳ và các nền dân chủ tự do cần phải dần dần rút các cơ sơ kinh tế khỏi Trung Quốc. Đại dịch Covid-19 cho thấy sự nguy hiểm của việc phụ thuộc vào Trung Quốc.

Riêng đối với Trung Quốc, trong tình hình hiện nay, khi bộ máy đàn áp của chế độ hiện hành là rất lớn, « rất ít có khả năng thay đổi sẽ diễn ra từ bên dưới, với một phong trào quần chúng rộng khắp ». Nếu như xảy ra, thay đổi chỉ có thể đến từ « bộ phận thượng tầng của ban lãnh đạo Đảng ». Cụ thể là những người bị ảnh hưởng do việc Tập lên nắm quyền. Cả một hệ thống vận hành từ hơn 30 năm, bị Tập Cận Bình thay thế, để về phần mình, trở thành lãnh đạo trọn đời.

Chế độ đa đảng, theo Francisco Fukuyama, sẽ không đến sớm với Trung Quốc, như tại Hàn Quốc và Đài Loan trong những 1980, « con đường thay đổi tối ưu tại Trung Quốc hiện nay là thông qua hệ thống pháp lý, giống như nhiều nước châu Âu trong thế kỷ XIX và XX ». Chuyển từ một Nhà nước pháp trị (rule by law) sang Nhà nước pháp quyền (rule of law), một Nhà nước chịu sự kiểm soát của luật pháp. Cần thiết lập các quy định rõ ràng áp dụng cho người dân thường, cho đến các quan chức cấp thấp hơn, rồi với cả chính bản thân Đảng. Việc thực thi quyền lực cần phải được khống chế, kiểm soát thực sự về mặt Hiến Pháp. Tư pháp phải có quyền tự trị rộng rãi. Người dân phải được có thêm quyền tự do, ít nhất là cũng giống như so với thời trước Tập Cận Bình.

Về phía Hoa Kỳ, học giả Francisco Fukuyama lưu ý là, cần nhớ rằng đối thủ của Mỹ hiện nay không phải là Trung Quốc, mà là đảng Cộng Sản Trung Quốc đang trên đường toàn trị hóa, hoàn toàn khác so với giai đoạn trước năm 2012. Và trước khi toan tính giúp Trung Quốc thay đổi, người Mỹ phải thay đổi chính nước Mỹ để xác lập trở lại vị trí của Hoa Kỳ, như « ngọn hải đăng của các giá trị dân chủ, tự do ».

GHI CHÚ

1 – Bài « What Kind of Regime Does China Have? » đăng tải trên tạp chí The American Interest, 18/05/2020.

2 – Trái ngược với quan điểm của Francis Fukuyama về chế độ toàn trị Trung Quốc, về sự đối lập giữa « giai đoạn Đặng Tiểu Bình » (từ 1978 đến 2012) với « giai đoạn Tập Cận Bình », nhiều chuyên gia cho rằng, trên thực tế thời kỳ Đặng Tiểu Bình, trong quan điểm của đảng Cộng Sản Trung Quốc tương tự với giai đoạn Kinh tế Mới, mà Lênin chủ trương, để tranh thủ kinh tế tư bản, và đây chỉ là một sự nhân nhượng mang tính sách lược, trước khi chế độ cộng sản chuyển sang giai đoạn toàn trị hoàn toàn. Trong tác phẩm mới đây, « Rouge vif » (2019), một chuyên gia về Trung Quốc người Pháp, Alice Ekman, đã chỉ ra « những ảo tưởng về một quá trình dân chủ hoá, nhờ tự do hoá kinh tế », theo chủ trương của Đặng Tiểu Bình.

 

Hai cội nguồn của chế độ toàn trị Trung Quốc: Cơ hội nào cho dân chủ?

Chế độ « cộng sản » Trung Quốc đang ngày càng trở thành mối đe dọa hàng đầu đối với nhiều xã hội. Từ dịch Covid-19 xuất phát từ Vũ Hán, dự án « Con đường tơ lụa mới », đến bành trướng quân sự trên bi…

Lòng tốt không cần đánh giá

Lòng tốt không cần đánh giá

Giám Đốc Walter đã chọn rất nhiều sinh viên từ các trường nghệ thuật để tham gia thử vai diễn, nhưng ông vẫn chưa tìm được người ông hài lòng.

Một ngày nọ, vì mục đích này, Walter đã đi đến ngoại ô phía tây của thành phố, ở đây ông bắt gặp một cậu bé đánh giày trong hàng chục người ở quảng trường nhà ga. Cậu bé hỏi: “Thưa ông, ông có cần đánh giày không?”

Walter nhìn xuống đôi giày ông vừa đánh bóng và lắc đầu từ chối. Ngay khi Walter quay đi, ông đột nhiên thấy cậu bé đuổi theo với khuôn mặt đỏ bừng, và ánh sáng hy vọng hiện lên trong mắt cậu bé: “Thưa ông, cháu đã không ăn gì cả ngày nay. Ông có thể cho cháu mượn tiền được không? Cháu sẽ cố gắng hết sức để đánh giày vào ngày mai và hứa sẽ trả lại tiền cho ông vào một tuần sau nữa!”

Walter nhìn cậu bé rách rưới và co rúm trước mặt, ông cảm thấy vô cùng đáng thương, ông lấy ra một vài đồng xu để vào tay cậu bé. Cậu bé nói cảm ơn ông rồi bước đi một cách nhanh chóng.

Walter lắc đầu, bởi trên đường phố những kẻ nói dối như vậy vô cùng phổ biến. Nửa tháng sau, Walter đã quên mọi thứ về việc cho vay tiền với cậu bé. Thật bất ngờ khi ông đi qua ga xe lửa phía tây ngoại ô thành phố một lần nữa, ông nhìn thấy dáng người gầy gò quen thuộc, cậu bé vẫy tay với ông và nói: “Thưa ông, xin vui lòng đợi ạ”

Cậu bé mướt mải mồ hôi, móc từ trong túi ra vài đồng xu và trao trả lại cho ông. Walter nhận ra rằng đây là cậu bé đánh giày đã mượn ông tiền lần trước.

Cậu bé thở hổn hển nói: “Thưa ông, cháu đã chờ đợi ông từ lâu và cuối cùng cháu có thể trả lại tiền cho ông rồi”. Walter nhìn những đồng xu dính mồ hôi ướt đẫm trên tay cậu bé, trái tim ông bỗng nhói lên.

Walter nhìn cậu bé trước mặt một lần nữa và đột nhiên ông thấy rằng cậu bé này phù hợp với nhân vật chính trong phim của ông. Walter nhét một vài đồng xu vào túi của cậu bé: “Tôi cho cháu như một món quà nhỏ chân thành, không cần phải trả lại tôi.”

Walter mỉm cười bí ẩn và nói: “Ngày mai cháu đến văn phòng đạo diễn của công ty phim ở trung tâm thành phố, tôi sẽ cho cháu một bất ngờ lớn.”

Sáng sớm hôm sau, người gác cửa nói với Walter rằng bên ngoài có một nhóm lớn trẻ em. Khi ông ra ngoài ông vô cùng ngạc nhiên, ông thấy cậu bé chạy lên đầy phấn khích và nói một cách ngây thơ, “Thưa ông, những đứa trẻ này giống như cháu không có cha mẹ, và họ cũng rất mong muốn có những điều ngạc nhiên!” Walter thực sự không ngờ tới một đứa trẻ nghèo và lang thang sẽ có một trái tim nhân hậu như vậy!

Qua nhiều lần quan sát và sàng lọc, Walter nhận thấy rằng trong số những đứa trẻ này, thực sự có một vài đứa thông minh hơn cậu bé, và phù hợp hơn với vai nhân vật chính trong kịch bản, nhưng cuối cùng ông vẫn chọn cậu bé và ký hợp đồng với cậu bé. Chỉ có một vài từ được viết trong cột lý do tuyển cậu bé: Sự tử tế không cần phải được đánh giá!

Bởi vì ông cảm thấy rằng cậu bé thật tốt bụng, khi cậu bé phải đối mặt với cuộc sống khó khăn, cậu bé vẫn vui vẻ chia sẻ hy vọng của mình với người khác, đây thực sự là tấm lòng nhân hậu, thuần khiết và vô tư.

Cậu bé được gọi là Vennischi de Oliveira. Dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Walter, Vennischi đã đóng thành công nhân vật chính của cậu bé trong vở kịch, và hãng phim của Walter đã giành được nhiều giải thưởng lớn bao gồm: Giải thưởng Gấu vàng của Liên hoan phim quốc tế Berlin.

Vài năm sau, Vinnischi cậu bé năm xưa, người đã trở thành chủ tịch của một công ty văn hóa điện ảnh và truyền hình, đã viết một cuốn tự truyện “Sự nghiệp diễn xuất của tôi.” Trên trang tiêu đề của cuốn sách là dòng chữ ký của Walter: Sự tử tế không cần phải được đánh giá.

Sau đây là đánh giá của ông về Vinnischi: “Đó là tấm lòng nhân hậu, anh ấy sẵn sàng trao cơ hội của mình cho những đứa trẻ khác, những cơ hội khiến người được nhận không bao giờ quên anh ấy.”

Thành công của một người không nhất thiết phải có năng khiếu hay hiểu biết nhiều, mà bởi anh ta có đủ thiện lương, tấm lòng nhân hậu và sự cố gắng.

(Sưu tầm)

From: Bác Sĩ van hanh phung  

Đọc lại “Trại súc vật” của George Orwell

Đọc lại “Trại súc vật” của George Orwell

 Blogger Thuận Nhân

 Trại súc vật của George Orwell là một tác phẩm nổi tiếng từng được tờ Time bình chọn là một trong 100 tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất, nằm thứ 31 trong danh sách các tác phẩm hiện đại hay nhất của thế kỷ 20, và nằm trong tuyển tập các tác phẩm lớn của thế giới phương Tây. Nó là một bức biếm họa sâu cay về những gì mà George Orwell cảm nhận được về Liên bang Xô Viết…

Tác phẩm Trại súc vật (Ảnh qua Pinterest)

Trại súc vật bắt đầu bằng việc một bầy súc vật không chịu nổi sự “bóc lột” của con người mà vùng lên làm cách mạng tạo phản, cuối cùng đã đuổi được con người và thành lập một “Trại súc vật” do mình làm chủ.

Nhưng không lâu sau đó, con heo lãnh tụ, kẻ dẫn đầu bầy động vật tiến hành “cách mạng”, lại được hưởng đặc quyền, một mình hưởng thụ sữa bò và táo. Khi các loài động vật khác, những kẻ từng ôm giữ ý niệm “tất cả các loài động vật đều bình đẳng như nhau” mà tham gia cách mạng, nghi ngờ con heo lãnh tụ, con heo phụ trách tuyên truyền đã giải thích rằng:

Chúng tôi ăn những thứ này mục đích duy nhất là phải giữ gìn sức khỏe cho chúng tôi. Toàn bộ việc quản lý và tổ chức công việc trong khu vườn đều dựa vào chúng tôi. Chúng tôi vì hạnh phúc của mọi người mà ngày đêm tận tâm tận lực. Do đó, điều này là vì các bạn, chúng tôi mới uống sữa bò và mới ăn táo. Các bạn có biết không, lỡ khi loài heo chúng ta mất chức, vậy chuyện gì sẽ xảy ra? Jones sẽ cuốn bụi mà quay trở lại! Đúng vậy Jones sẽ cuốn bụi mà quay trở lại! Quả thực, các đồng chí! Jones vốn là ông chủ của khu vườn, cũng là kẻ thống trị của ‘xã hội cũ’.

Một vài loài động vật cá biệt mơ hồ nhớ rằng khi Jones còn ở đây, tình hình cuộc sống của các loài động vật hầu như không kém hơn so với hiện tại. Nhưng theo sự tuyên truyền ngày qua ngày, nỗi sợ hãi Jones sẽ cuốn bụi mà quay trở lại đã ăn sâu vào đầu những loài động vật như một phản xạ có điều kiện. Vậy là lũ động vật không còn lời nào để nói về đặc quyền của heo. Rất nhanh, đặc quyền của heo càng ngày càng nhiều…

Lũ động vật nghe tuyên truyền. (Ảnh qua Pinterest)

Mặt khác, làm thế nào để đề phòng việc Jones lại cuốn bụi quay trở lại, đặc biệt là sự câu kết giữa kẻ đồ tể và Jones, phá hoại trang trại mà lũ động vật vận hành, đã trở thành một nội dung quan trọng trong cuộc sống thường nhật của các loài động vật. Đối mặt với “đại sự hàng đầu” như vậy, những bất mãn và ý kiến bất đồng khác đã trở thành chuyện vặt vãnh không quan trọng. Hơn nữa, luôn luôn “đề cao cảnh giác”, “chuẩn bị chiến đấu” đã trở thành một nội dung quan trọng bậc nhất vượt qua mọi điều trong cuộc sống xã hội. Bên cạnh đó, dưới sự điều động của con heo lãnh tụ, lũ động vật làm việc ngày càng chăm chỉ hơn, hứa hẹn cho một “cuộc sống tương lai dễ chịu”.

Cá biệt trong lũ động vật, có một con ngựa cần cù chăm chỉ, làm việc cho đến khi gục ngã. Thế là con heo lãnh tụ cử một chiếc xe kéo tới, nói là để đưa ngựa tới bệnh viện an dưỡng. Tuy nhiên, con lừa biết đọc lại phát hiện ra rằng đó là chiếc xe của một tay giết thịt. Vậy là con heo tuyên truyền phải vào cuộc, nói rằng chiếc xe đó đã được mua lại từ tay kẻ đồ tể, và rằng con ngựa sẽ được an dưỡng thích đáng.

Con ngựa làm việc đến gục ngã. (Ảnh qua Pinterest)

Một thời gian sau, con heo tuyên truyền công bố rằng con ngựa đã ra đi hạnh phúc trong bệnh viện, và lũ heo tổ chức một ngày lễ để tôn vinh con ngựa, cùng trại súc vật vinh quang, và khuyến khích các con vật khác noi gương con ngựa…
Nhưng sự thật là con ngựa đã bị bán cho kẻ đồ tể, để lũ heo có tiền mua rượu whisky.

Nhiều năm sau đó, trại súc vật ngày càng hoạt động tốt hơn, và thu được nguồn lợi nhiều hơn. Nhưng những gì được hứa hẹn như đèn điện, hệ thống sưởi, nước uống đều bị quên lãng. Con heo lãnh tụ đã khiến lũ động vật tin rằng sống một cuộc sống giản dị là điều hạnh phúc nhất. Những con heo bắt đầu bắt chước lối sống của người, đi bằng hai chân, mang theo roi da, mặc quần áo. Lý niệm “tất cả các loài động vật đều bình đẳng như nhau” được thay thế bằng lý niệm “tất cả các loài động vật đều bình đẳng như nhau, nhưng một số thì bình đẳng hơn những con khác”.

“Tất cả các loài động vật đều bình đẳng như nhau, nhưng một số thì bình đẳng hơn những con khác” (Ảnh qua cageyfilms.com)

Khi con heo lãnh tụ mở một bữa tiệc và mời những người nông dân ở địa phương tới, lũ động vật trong trại nhìn từ heo sang người, và chợt nhận ra rằng, chúng không còn phân biệt được heo và người nữa…
Mặc dù Trại súc vật vẫn còn thể hiện rõ những luyến tiếc về quan niệm bình đẳng xã hội không tưởng của tác giả, nhưng quả thật George Orwell đã thành công trong việc khắc họa bản chất triết học đấu tranh của kẻ thống trị chuyên chế một cách giàu hình tượng và sâu sắc.

“Thế lực thù địch” vô hình… (Ảnh qua illustrators.ru)

Thông qua hình tượng kẻ địch vô hình được tạo ra và lưu giữ mọi thời khắc trong đầu óc lũ động vật, thông qua việc cường điệu sự nguy hiểm của kẻ địch mọi lúc, cường điệu tính tất yếu của việc “đoàn kết nhất trí”, kẻ thống trị đã khiến lũ động vật phải “tạm thời nhẫn nhịn” tất cả sự bạo ngược. Lũ động vật ngây thơ tin rằng hành vi bạo lực này xuất phát từ một nguyện vọng bình đẳng tốt đẹp, và cuối cùng sẽ mang lại hạnh phúc cho mọi người.
Nhưng tất nhiên, người ta có nam có nữ, có giàu có nghèo, có sướng có khổ, có ngọt bùi có đắng cay, có chăm chỉ có lười biếng, có giỏi có kém, có cảm nhận khác nhau, có tính cách khác nhau, có hoàn cảnh khác nhau, vậy thì cuộc sống mới thật là phong phú và có hương vị. Cái gọi là nguyện vọng bình đẳng không tưởng bên trong nguồn tài nguyên có hạn là trái đất này, và thứ học thuyết đấu tranh luẩn quẩn kia, đều chỉ là ngụy biện lừa dối mà thôi…

Blogger Thuận Nhân

 
M.TRITHUCVN.ORG

Đọc lại “Trại súc vật” của George Orwell – Trí Thức VN

Trại súc vật của George Orwell là một tác phẩm nổi tiếng từng được tờ Time bình chọn là một trong 100 tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất…

Nền công nghiệp sau 1975 – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

Nền công nghiệp sau 1975 – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

• Nguyễn Hiến Lê

• Xí nghiệp quốc doanh nào cũng lỗ nặng. Người ta không hề tính sản xuất một hóa phẩm phí tổn mất bao nhiêu, bán ra được bao nhiêu, lời hay lỗ. Cứ việc sản xuất, lỗ cũng không sao, bán không được thì bắt dân tiêu thụ hoặc đổ đi.
Một kĩ sư ở Nga về đã trên mười năm, năm 1967 vào tham quan các xí nghiệp lớn miền Nam bảo tôi rằng cảm tưởng đầu tiên và mạnh nhất của ông ta là các xí nghiệp này chú trọng đến cái “profit” (lời) quá. Ông ta không hiểu nổi đó là một điều tự nhiên. Một cơ quan xuất bản, một tờ báo của chính quyền có lỗ cũng không sao, vì công việc đó có mục đích giáo dục quần chúng, không có tính cách thương mãi. Nhưng sản xuất một món hàng để xuất khẩu mà không tính lời, lỗ thì kinh tế làm sao đứng vững được.

Ngay như một tổ hợp vận tải trong nước mà lỗ hoài thì cũng phải dẹp tiệm, vì hết vốn, không có tiền mua xe mới để thay thế xe cũ.

Từ bia, nước ngọt, đến tôm cá, đồ hộp như khóm, màn trúc, quần áo may sẵn, đồ sơn mài… bất kì món gì, mới đầu phẩm còn kha khá, sau cứ mỗi ngày một tệ, bị ngoại quốc gởi trả về. Bia, nước ngọt có hồi bị trả về nhiều quá, bán cho công nhân viên không hết, tung ra bán cho dân, nhà nào cũng có một tuần lễ được mua một hai lần; kì cục nhất là đường thì thiếu cho dân dùng mà nước ngọt thì dân tha hồ uống.

Tôi hỏi một người bà con ở Hà Nội, họ bảo ở Bắc cũng vậy: công nghiệp mỗi ngày một xuống dốc. Những năm đầu (1955-1960), xe đạp chế tạo còn tốt, bây giờ tồi quá, dùng chưa đầy sáu tháng đã hư một vài bộ phận, lốp đã bể. Xe đạp là thứ cần thiết nhất, phổ thông nhất trong nước, mà như vậy thì những máy móc khác mới ra sao?

“Vua lốp” Nguyễn Văn Chẩn, một trong những cá nhân nổi bật với nhiều lần vào tù ra tội thời bấy giờ. (Ảnh bổ sung – Ảnh qua tienphong.vn)
Nguyên nhân rất nhiều: quản lí dở, thiếu kĩ thuật gia giỏi – những kĩ sư giỏi không được dùng hoặc phải ở dưới quyền một kẻ dốt, có tuổi đảng cao hơn; chương trình, kế hoạch không bao giờ thực hiện được đúng vì thiếu nguyên liệu, nhiên liệu, thiếu đủ thứ; vì các cơ quan không phối trí với nhau, chèn ép nhau là khác; vì chính sách làm chủ tập thể, máy móc không ai săn sóc, vật liệu không ai tiếc, tha hồ phí phạm, nhiều khi ăn cắp nữa; không có tinh thần trách nhiệm, ai cũng làm việc tà tà; lương ít quá, không đủ sống, mà siêng năng cũng chẳng được lợi gì, sáu năm mới lên một bực, lương tháng thêm mười đồng, mua được hai tô phở hay một kí đường.

Ngoài Bắc có câu: Làm thì đói, nói thì no, bò thì sướng, bướng thì chết.
Trong Nam lại thêm câu rằng: Làm cho lắm tắm không quần thay, làm lai rai ngày thay ba bộ.

Ðảng cộng sản là đảng của vô sản, của thợ thuyền, mà công nhân trong các xưởng tinh thần như vậy đó.

Lại còn cái này nữa: sở nào có việc nhờ sở khác giúp, muốn mau được việc, phải hối lộ sở đó; ngay sở công an cũng bị làm tiền. Việc thanh toán tiền nong giữa các sở với nhau rất bê bối! Sở thiếu nợ ỳ ra không chịu trả, sở chủ nợ không thu được, thiếu tiền, phải tạm ngưng hoạt động. Kiện ai?

Quyền của ngân hàng rất lớn. Cơ quan nào thu được bao nhiêu tiền cũng phải nộp ngân hàng, cần rút ra bao nhiêu cũng phải xin ngân hàng; mà ngân hàng có thể từ chối không phát hoặc lấy cớ là không đủ ngân khoản nên chưa phát. Vì vậy cơ quan nào cũng làm thân với ngân hàng, mua quà cáp tặng nhân viên ngân hàng, đãi đằng họ… Xứ nào, thời nào mà chẳng vậy: kẻ giữ tiền mới thực sự làm chủ.

Các công ti công tư hợp doanh cũng lỗ vì công với tư rất khó hợp tác với nhau: công làm chủ thì tư tà tà, mà công thì quản lí rất dở, kĩ thuật rất kém, nghi kị tư, bao nhiêu quyền lợi, ôm lấy trọn.

Công ti hợp doanh chỉ đứng được ít năm rồi cũng phải đóng cửa vì chính phủ cho số lời ít quá, thu thuế nặng quá, nhất là vì thiếu nguyên liệu, nhiên liệu. Như Công ti Giấy Bảo Lộc (trong đó tôi có ít cổ phần nhờ xin rút được tiền ngân hàng để giúp trong việc sản xuất) hoạt động được hai năm thì miền Bảo Lộc bị hạn chế điện, mỗi ngày máy chỉ chạy được 4 giờ buổi tối; rồi thiếu tre để làm bột giấy; chính phủ tự ý tăng giá tre bán cho công ti mà không cho tăng giá giấy bán cho chính phủ, rốt cuộc công ti lỗ nặng, phải tặng hết tài sản cho chính phủ (tôi cũng đã tặng cổ phần của tôi, trị giá hai triệu đồng cũ).

Các tổ hợp làm tiểu công nghệ của tư nhân như tổ hợp làm màn trúc, tranh sơn mài, đan áo, thêu, may áo… lây lất sống được là may, đa số phải ngưng hoạt động vì xuất khẩu không được, bán trong nước cũng không được.

Một ông bạn tôi mới cho hay chính quyền đã phải nhận rằng mức sản xuất của mình lúc này kém quá, có ngành chỉ được 5% ngành nào phát triển nhất cũng chỉ được 30% khả năng thôi. Thế thì biết đời kiếp nào mới xây dựng xong xã hội chủ nghĩa?

Ðã không sản xuất mà còn phá tài nguyên trong nước: phá rừng thông trên núi, rừng phi lao ở bờ biển, phá cả vườn cao su để lấy củi (bán ở Sài Gòn), dùng mìn và đồ rà điện để bắt cá lớn cá nhỏ trong sông rạch (cá linh còn nhỏ bằng đầu đũa mà đã bắt để bán ở Long Xuyên), bắn thú và chim, không có luật gì ngăn cấm cả. Làm chủ tập thể, nên không ai cấm ai được. Do đó nước mình trước kia tự hào là tiền rừng bạc bể mà nay đứng vào hàng mười nước nghèo nhất thế giới, có người nói hàng áp chót trên thế giới nữa. Lợi tức trung bình mỗi năm tính theo đầu người thì được 50 Mĩ kim, hai phần trăm của Nhật.

Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Tập 3)

Đăng lại từ Diễn Đàn Thế Kỷ (Diendantheky.net)

M.TRITHUCVN.NET

Công nghiệp mỗi ngày một xuống dốc. Những năm đầu (1955-1960), xe đạp chế tạo còn tốt, bây giờ tồi quá, dùng chưa đầy sáu tháng đã hư…

SỐNG YÊU THƯƠNG THEO KHUÔN MẪU CHÚA BA NGÔI

SỐNG YÊU THƯƠNG THEO KHUÔN MẪU CHÚA BA NGÔI

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm quan trọng nhất trong các mầu nhiệm của Đạo Công Giáo.  Bởi vì mầu nhiệm này là mẹ sinh ra các mầu nhiệm khác, nói cách khác, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm nguồn của mọi mầu nhiệm.

Khi nói đến mầu nhiệm, người ta cảm thấy không thể lý giải được theo sự hiểu biết tự nhiên, vì thế, nó đã trở nên rào cản và cớ vấp ngã cho những ai mong thỏa mãn sự hiếu tri và đang cố gắng đi tìm cho được lời giả đáp “Ba Ngôi Một Chúa”; hay “Một Chúa Ba Ngôi.”  Nhưng với những người có niềm tin, qua ánh sáng mặc khải soi chiếu, và luôn khao khát đi tìm ý nghĩa của nó, thì mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi không xa lạ, nhưng lại rất gần gũi, mặc dù cao siêu và vượt quá sức tưởng của con người.  Qua mầu nhiệm này, chúng ta khám phá được sự hiệp nhất, yêu thương nơi Thiên Chúa, và mỗi lần Giáo Hội cử hành mầu nhiệm này, Giáo Hội luôn mời gọi con cái mình yêu thương nhau theo khuôn mẫu của Ba Ngôi Thiên Chúa để được cứu độ.

  1. Bản chất Thiên Chúa là “Tình Yêu”

 Khi nhắc đến Thiên Chúa, hẳn mỗi chúng ta đều có một định nghĩa riêng về Người, tuy nhiên, thánh Gioan đã cho chúng ta biết một mặc khải rất quan trọng khi nói về Thiên Chúa, đó là: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8).

Khi nói đến tình yêu, chúng ta ai cũng hiểu rằng tình yêu thì không “đơn phương độc mã”, không ích kỷ cũng chẳng bon chen; không quy chiếu về mình mà luôn hướng tha.

Muốn có được tình yêu, ắt phải đón nhận.  Khi có cả hai chiều cho và nhận, thì tình yêu mới thực sự triển nở và ý nghĩa.  Như vậy, tình yêu phải có điểm xuất phát, điểm hội tụ và mức độ lan tỏa.

Khi diễn tả ý tưởng trên, thánh Âutinh đã ví: “Nguồn mạch chính là Chúa Cha, Người chính là điểm xuất phát tình yêu; Chúa Con chính là điểm hội tụ, là điểm quy chiếu của tình yêu; và Chúa Thánh Thần là sự liên lạc hai chiều, là mối dây liên kết của tình yêu và làm cho tình yêu được tỏa sáng.”

Trong lối diễn tả của thánh Âutinh cho thấy tình yêu được khởi đi từ Thiên Chúa Cha, đến với Chúa Con và qua Chúa Thánh Thần.  Thiên Chúa Cha vì yêu nên đã trao ban tất cả, ngay cả Người Con duy nhất của mình cho nhân loại.  Chúa Con đã hoàn toàn vâng phục Chúa Cha trọn vẹn đến nỗi bằng lòng chết trên thập giá để thực hiện ý định yêu thương của Chúa Cha cho nhân loại.  Chúa Thánh Thần là mối dây liên lạc, thông hiệp giữa Chúa Cha và Chúa Con nhờ tình yêu.  Như vậy, tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu hướng ra để làm cho lan tỏa.

Thiên Chúa không để dành tình yêu cho chính mình, cho riêng Cha, Con và Thánh Thần, nhưng chính là cho chúng ta, những tạo vật được dựng nên theo hình ảnh của Người, bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8); “… nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6).  Như vậy, Thiên Chúa là tình yêu.

  1. Thiên Chúa “yêu” đến cùng

 Tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện qua hành vi tự hiến của Thiên Chúa Cha: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một…” (Ga 3,16a).  Từ “đến nỗi” ở đây cho thấy Thiên Chúa yêu đến tột cùng, yêu “đến nỗi” không còn gì để diễn tả, để trao ban hơn được nữa, vì thế chỉ còn cách duy nhất là trao ban chính Con của mình đến để diễn tả tình yêu cho nhân loại bằng chính cái chết mà thôi.

Tại sao Thiên Chúa lại trao ban Con Một?  Thưa! “…để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16b).  Như vậy, Tình yêu chân chính là mong sao người mình yêu được hạnh phúc hơn cả bản thân mình.  Thật vậy, Thiên Chúa yêu thế gian cách tuyệt đối và mong sao cho chúng ta được hưởng niềm hạnh phúc tuyệt đối là được vào ở trong tình yêu của Thiên Chúa.  Bởi vì: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” Ga 3,17).

  1. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi mời gọi ta sống yêu thương

Qua mầu nhiệm yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi, mỗi người chúng ta được mời gọi sống yêu thương, hiệp nhất như Thiên Chúa là tình yêu.  Không yêu thương nhau, chúng ta vẫn mãi là người xa lạ với mầu nhiệm này, bởi vì mầu nhiệm này là mầu nhiệm tình yêu, muốn hiểu được thì phải yêu.  Nói như thánh Gioan: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8), nên “Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa” (1Ga 4,8).

Vì thế, trong đời sống gia đình, mỗi người hãy yêu thương nhau.  Chồng phải yêu thương vợ như Đức Kitô yêu thương Hội Thánh, và như Hội Thánh phục tùng Đức Kitô thế nào, thì người vợ cũng phục tùng chồng mình trong mọi sự như vậy.  Sự xuất hiện của người con trong đời sống hôn nhân chính là kết quả của tình yêu giữa vợ và chồng, vì thế, như một điều kiện cần để được hạnh phúc, con cái hãy yêu mến cha mẹ mình, và tỏ lòng thảo hiếu với cha mẹ để đáng được hưởng sự chúc lành của Thiên Chúa.

Tình yêu ấy lại không chỉ dừng lại với chính người thân của mình, mà còn phải hướng ra xa, rộng lớn hơn tới hết mọi người, kể cả yêu kẻ thù của mình nữa.

Như vậy, để tình yêu có giá trị, cần phải có sự hy sinh, quên mình và phục vụ lẫn nhau.  Yêu nhau mà không chấp nhận hy sinh, gian khổ vì nhau và với nhau, thì chưa phải là tình yêu thật sự.

Khi yêu như thế, tình yêu của vợ chồng và con cái cũng như với tha nhân đang phỏng chiếu tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi trong cuộc sống thực tại của mình.

Muốn giữ được tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa nơi mình, người Kitô hữu phải luôn ý thức mình thuộc về Thiên Chúa, khi thuộc về Người, thì ta cũng sẽ trở nên những người có: “… lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại.  Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau” Cl 3,12-13).

Mong sao, mỗi khi chúng ta đặt tay lên trán, trên ngực và ngang vai, để tuyên xưng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, thì cũng là lúc chúng ta nhớ đến bản chất của mầu nhiệm này là tình yêu; đồng thời, chúng ta cũng xin Chúa ban cho chúng ta được sống trong tình yêu đó của Thiên Chúa để “… đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2 Cr 13,13), hầu chúng ta cùng mạnh dạn tuyên xưng: “Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước vô cùng và bây giờ và hằng có và đời đời chẳng cùng. Amen”.

Jos. Vinc. Ngọc Biển

Dân chủ Pháp trị ở Mỹ

Dân chủ Pháp trị ở Mỹ

Bởi  AdminTD

06/06/2020

Lê Minh Nguyên

Nga là một đất nước, được cấu tạo bởi các yếu tố như dân tộc, lãnh thổ, chính quyền.

Liên Xô là một quốc gia ý thức hệ, nó trừu tượng, được cấu tạo bởi chủ nghĩa cộng sản, tức một quốc gia hiện hữu bằng niềm tin vào một hệ tư tưởng. Khi người ta không còn tin vào hệ tư tưởng này nữa thì nó sụp đổ.

Mỹ là một quốc gia được xây dựng bằng Hiến Pháp. Không có Hiến Pháp sẽ không có nước Mỹ, mà có thể có đến vài chục nước khác nhau cho một vùng Bắc Mỹ đa chủng tộc.

Hiến Pháp là nơi gom góp các giá trị cao đẹp của con người để thể chế hoá thành Dân Chủ Pháp Trị (Democracy and The Rule OF Law). Thể chế này gồm có hai yếu tố cốt lõi là Dân Chủ và Pháp Trị. Nếu một trong hai yếu tố này, hoặc cả hai yếu tố cùng bị sứt mẻ thì chất liệu xã hội (social fabrics) của quốc gia “hợp chủng quốc” sẽ bị rạn nứt, dễ trở thành bán độc tài hay độc tài hoặc vỡ nhỏ ra.

Yếu tố Dân Chủ mà nét chính yếu là niềm tin vào sự bầu cử tự do, trong sáng và công bằng. Nếu niềm tin này bị sứt mẻ, như có sự gian lận, có sự can thiệp của ngoại bang, hay có sự tìm cách hạn chế cơ hội bỏ phiếu của công dân (voters supression)… thì niềm tin vào trụ cột này sẽ bị lung lay, luật chơi bị vi phạm, và thay vào bằng sức mạnh cùng thủ đoạn bẩn dơ, theo đó là sự xuất hiện của những chính khách độc tài.

Yếu tố Pháp Trị mà nét chính yếu là niềm tin vào một xã hội có công lý (social justice), vào nữ thần công lý bịt mắt cầm cân, nam-nữ, mạnh-yếu, nghèo-giàu, sang-hèn đều bình đẳng trước pháp luật. Nếu niềm tin này bị thiếu vắng hay bị xiêu vẹo như sự kỳ thị chủng tộc có hệ thống (systemic racism), sự phân bổ tài sản quốc gia (taxation) không đồng đều, tạo nên khoảng cách chênh lệch giàu-nghèo quá lớn… thì chất liệu xã hội (social fabrics) bị mục rữa, nguy cơ chia rẽ đất nước và các bất ổn dễ xảy ra.

Trong cuốn sách nổi tiếng Trại Súc Vật (Animal Farm) của ông George Orwell mà trong đó các loài thú khác nhau nổi dậy chống người chủ độc tài, với hy vọng xảy dựng một xã hội bình đẳng, tự do và hạnh phúc. Những tưởng là thành công, nhưng mục đích đẹp đẽ này đã bị phản bội, trại bị rơi trở lại vào độc tài bởi heo Napoleon.

Để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, các con thú cùng nhau làm ra một hệ thống giá trị gồm 7 điều răn của Thú Cầm Chủ Nghĩa:

  1. Bất cứ thứ gì đi bằng hai chân là kẻ thù.
    2. Bất cứ thứ gì đi bằng bốn chân, hoặc có cánh, là bạn.
    3. Không thú nào được mặc quần áo.
    4. Không thú nào được ngủ trên giường.
    5. Không thú nào được uống rượu.
    6. Không thú nào được giết thú nào.
    7. Tất cả các con thú đều bình đẳng.

Nhưng sau đó, heo Napoleon muốn làm độc tài nên thay đổi điều răn số 7 thành “Tất cả các con thú đều bình đẳng, nhưng có một số thú bình đẳng hơn những con thú khác”. Còn cái khẩu hiệu “Bốn chân tốt, hai chân xấu” cũng được đổi thành “Bốn chân tốt, hai chân tốt hơn” để heo Napoleon liên minh với người.

Ông Orwell ở Anh là người chỉ trích sự độc tài của ông Stalin và quyển sách này ông muốn châm biếm Stalin.

Ảnh minh họa. Nguồn: Politics In Pink

Nước Mỹ, tất cả các viên chức làm việc cho chính quyền, dù là dân sự hay quân sự đều phải thề trung thành và bảo vệ Hiến Pháp, chứ không phải trung thành và bảo vệ lãnh đạo. Với cấp trên, nhất là trong quân đội mà cấp trên cao nhất là tổng tư lệnh tức tổng thống, họ thề tuân thượng lệnh (hợp pháp). Nếu lệnh bất hợp pháp mà họ vẫn thi hành thì họ phải chịu trách nhiệm cá nhân và có thể bị toà án buộc tội phải ngồi tù.

Dân Chủ Pháp Trị ở Mỹ đòi hỏi người làm việc trong chinh quyền trung thành với một hệ thống giá trị chứ không phải với một cá nhân nào dù người đó ở địa vị cao đến đâu, và không để hệ thống giá trị này bị tương nhượng. Tất cả đều phải đứng dưới Hiến Pháp và Luật Pháp.

Ở Việt Nam, giai cấp đảng viên đứng trên hiến pháp và luật pháp, chỉ khi nào bị khai trừ thì luật pháp mới đụng tới được. Luật pháp họ làm ra là để áp dụng cho dân chứ không phải cho họ. Luật pháp của họ là công cụ để cai trị và họ đặt cho nó một cái tên mỹ miều là Nhà Nước Pháp Quyền (Rule BY Law).

Với 244 năm từ ngày lập quốc, nước Mỹ đã trải qua rất nhiều thử thách cho thể chế Dân Chủ Pháp Trị. Trong thời gian qua đã có khá nhiều dư luận phê bình chế độ tổng thống của Mỹ, thậm chí còn tiên đoán rằng nó sẽ sụp đổ. Nhưng lửa không nóng không thử được vàng. Chỉ có những thử thách lớn mới làm cho Dân Chủ Pháp Trị Mỹ được vững chắc hơn và hoàn hảo hơn. Bởi vì Dân Chủ Pháp Trị nó tạo ra một nền văn hoá chính trị thấm sâu vào máu huyết của toàn dân. Nó trở thành một lề lối sống.

Sóng gió rồi cũng sẽ qua, một chương lịch sử sẽ đóng lại, nhưng quyển sách Dân Chủ Pháp Trị có nguồn cảm hứng từ Hiến Pháp sẽ tiếp tục được viết mãi theo dòng thời gian cùng các thế hệ nối tiếp mở ra về phía trước, vẫn là những trang giấy trắng đợi chờ những nét tinh hoa và những chở chuyên đầy sáng tạo.

Nước Mỹ vẫn là thành phố trên đỉnh đồi, Dân Chủ Pháp Trị vẫn là thể chế tốt nhất cho con người để mưu cầu hạnh phúc.